BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Hiến pháp’ Category

2910. Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?

Posted by adminbasam on 30/08/2014

Hoàng Xuân Phú

29-08-2014

Vậy là  đã được Quốc hội khóa XIII thông qua vào ngày 28/11/2013 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2014. Nếu coi là “Hiến pháp mới”, thì e rằng ăn quá non nên gạo còn sống sượng. Còn nếu gọi là “Hiến pháp sửa đổi”, thì có lẽ hâm quá đà nên cơm cũ đã cháy khê.

Dù muốn hay không, Hiến pháp 2013 cũng chi phối cuộc sống của Nhân dân ta và sự phát triển của Dân tộc ta trong thời gian tới. Do đó, thay vì ca ngợi ngất trời hay chê bai triệt để, nên tìm hiểu những biến đổi về nội dung của Hiến pháp, để đoán biết hệ quả mà phòng xa hay tận dụng, đồng thời để thấy rõ hơn tâm và tầm của bộ máy lập hiến.  Theo tinh thần ấy, bài này trao đổi về hệ quả của một số thay đổi trong Hiến pháp 2013.

Phần 1 nhận diện mấy nội dung vốn tồn tại trong Hiến pháp 1992, nay bị Hiến pháp buông rơi, mặc dù vẫn còn cần thiết. Chẳng hạn:

-       Đòi hỏi “Các cơ quan Nhà nước… đơn vị vũ trang nhân dân… phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật”;

-       Qui định trách nhiệm của công an nhân dân là phải “bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân;

-       Cam kết “Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ”.

Phần 2 điểm mặt ba thay đổi theo hướng tiến bộ liên quan đến quyền sau song sắt, mà những người dính vòng lao lí nên biết để đấu tranh đòi thực hiện.

Phần 3 đề cập đến hiện tượng rộ nở thuật ngữ “công khai” trong Hiến pháp 2013. Đáng lưu ý là hai khoản hiến định mà công dân quan tâm đến vận nước nên tận dụng, đó là:

-       Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác… phải được sử dụng… công khai” (Khoản 1 Điều 55 Hiến pháp 2013),

-       Quốc hội họp công khai” (Khoản 1 Điều 83 Hiến pháp 2013).

Phần 4 cảnh báo nguy cơ quyền con người và quyền công dân có thể bị khước từ hay cản trở bởi mệnh đề: “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” – Một mối họa chỉ tương xứng với chính trường hoang dã và xa lạ với nhà nước pháp quyền đích thực. Buồn thay, căn cứ vào nguyên tắc lập hiến và lập pháp, thì mưu mô đó thuộc loại mánh lới bất thành.

Phần 5 phân tích sai lầm tai hại trong việc dùng Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 để hiến định khả năng hạn chế quyền con người và quyền công dân. Sơ sẩy khi hiến định quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở” tại Điều 22 Hiến pháp 2013 là ví dụ điển hình, cho thấy có những thay đổi chưa chắc đã phản ánh đúng dụng ý của tác giả. Do đó, thay vì ghi nhận một số thể hiện có vẻ tiến bộ trong Hiến pháp 2013, ta lại phải băn khoăn với câu hỏi: Thực ra họ sửa nhầm hay đổi thiệt?

  1. Hiến pháp buông rơi

Chẳng nhất thiết và cũng chẳng thể ghi hết mọi điều quan trọng vào Hiến pháp. Nhưng khi Lời nói đầu khẳng định rằngHiến pháp 2013 “kế thừa… Hiến pháp năm 1992″, thì việc nó buông rơi một số nội dung vẫn còn hợp lý và cần thiết của Hiến pháp 1992 có thể bắt nguồn từ dụng ý sâu xa, mà ta không thể làm ngơ.

  1. 1.

Lạm dụng quyền lực là xu hướng mang tính bản năng của thế lực cầm quyền. Do đó, với tư cách là công cụ pháp lý cơ bản để điều khiển hoạt động của Nhà nước, một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Hiến pháp phải là kiểm soát và kiềm chế bộ máy Nhà nước. Trong hoàn cảnh nhà cầm quyền hay hành động bất chấp Hiến pháp và pháp luật, thì khoản hiến định sau đây tại Điều 12 Hiến pháp 1992 là rất cần thiết:

Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phảinghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật.”

Tiếc rằng, như đã trao đổi ở bài “Uẩn khúc trong Điều 4 Hiến pháp”, khi liệt kê những đối tượng phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật”, cả Hiến pháp 1992 lẫn Hiến pháp 2013 đều chừa lại thế lực “siêu nhà nước”, cần phải kiềm chế nhất, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN). Điều ấy cũng phi lý như chỉ nhìn nhận cái “nhà” (“nhà ngói” thay vì“nhà nước”) từ “trần giả” trở xuống và cố tình bỏ qua cái “nóc”, rồi khi bị “dột” thì lại giả vờ ngu ngơ “không rõ nước rơi từ đâu”. Đáng tiếc hơn nữa, đòi hỏi Các cơ quan Nhà nước… đơn vị vũ trang nhân dân… phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật (trong Hiến pháp 1992) đã bị bỏ rơi, và được nới lỏng trong Hiến pháp 2013 như sau:

“Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.” (Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp 2013)

Điều tệ hại là, sau khi cố tình bỏ đi chữ “phải”, điều khoản trên không còn thể hiện trách nhiệm hiến định, bắt buộc Nhà nước phải thực hiện, mà trở thành mệnh đề khẳng định, công chứng cho một trạng thái phi thực tế, như thể nó đã mặc nhiên tồn tại. Hơn nữa, cho dù hiểu đó là một yêu cầu, thì các cơ quan Nhà nước “muốn theo” hay “theo được” bao nhiêu thì “theo”, không nhất thiết phải “chấp hành”, càng không cần phải “nghiêm chỉnh”. Vậy là tấm gương xấu của Điều 4 dành cho ĐCSVN đã phản chiếu sang Điều 8 dành cho các cơ quan Nhà nước.

Vốn dĩ đã quen hành động bất chấp pháp luật, nay được Hiến pháp “giải thoát” khỏi nghĩa vụ “nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật”, thì các “con trời” sẽ còn lộng hành đến mức nào nữa?

Từ lúc Hiến pháp 2013 có hiệu lực, các vụ tử vong trong khi hoặc sau khi “làm việc” với công an diễn ra dồn dập hơn, mặc dù “đang xét xử 5 công an… đánh chết anh Ngô Thanh Kiều” (vào ngày 13/5/2013 tại Phú Yên). Nếu không cóthương tích đầy mình làm bằng chứng, như trường hợp Huỳnh Nghĩa (39 tuổi, ở tỉnh Đắk Nông, chỉ vì bị nghi là hái trộm hạt tiêu mà tử vong sau khi “làm việc” với công an vào ngày 13/2/2014), thì lý do tử vong được công bố “đương nhiên” là do “tự tử”. Chẳng hạn, Huỳnh Nhất Trung (20 tuổi, ở tỉnh Bình Định) “treo cổ tự tử chết trong nhà tạm giữ công an huyện Vân Canh” vào tối 11/3/2014. Sáu ngày sau (tức 17/3/2014), Bùi Thị Hương (42 tuổi) “được công an phường Tân Đồng (thị xã Đồng Xoài, Bình Phước) mời lên trụ sở làm việc vì nghi ngờ liên quan đến việc đem đi bán 2 chỉ vàng giả… chết trong tư thế treo cổ bằng áo gió trên cửa phòng tạm giữ hành chính.”

Phải chăng, sự gia tăng tử vong do “làm việc” với công an là hệ quả của việc Hiến pháp 2013 bỏ rơi đòi hỏi “Các cơ quan Nhà nước… đơn vị vũ trang nhân dân… phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật”?

  1. 2.

Vốn dĩ, Hiến pháp 1992 quy định về lực lượng công an như sau:

Điều 47  Nhà nước xây dựng công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, dựa vào nhân dân và làm nòng cốt cho phong trào nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội,bảo đảm sự ổn định chính trị và các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản xã hội chủ nghĩa, đấu tranh phòng ngừa và chống các loại tội phạm.

Điều này được “đơn giản hóa” đáng kể trong Hiến pháp 2013 như sau:

Điều 67  Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm.”

Vậy là, khi đã được nuôi no đủ, có vũ khí tối tân, thậm chí sắp được trang bị cả máy bay, tàu thủy, thì cũng qua cái thời hiến định “công an nhân dân” phải “dựa vào nhân dân”. Đồng thời, Hiến pháp 2013 cũng “giải phóng” công an khỏi trách nhiệm “bảo đảm… các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản xã hội chủ nghĩa.

Thực ra, thiên hạ vẫn thường chứng kiến công an xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, còn chuyện công an “bảo đảm” các quyền đó thì nghe giống như cổ tích. Cho nên, có lẽ sẽ trung thực hơn nếu xóa bỏ chuyện hoang đường ấy ra khỏi Hiến pháp.

Nhưng tại sao lại “giải phóng” lực lượng công an khỏi cả trách nhiệm bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, trong khi họ sống và hành nghề bằng tiền của Nhân dân? Đừng ngụy biện rằng nội dung ấy đã chứa đựng trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm”. Bởi vì nhiệm vụ còn sót lại này cũng đã từng tồn tại song song trong Hiến pháp 1992 cùng với nội dung vừa bị bỏ rơi. Hơn nữa, đối với những tay súng“chỉ biết còn Đảng, còn mình” (xem Ảnh 1) thì trật tự, an toàn xã hội” trước hết là sự an toàn của lãnh đạocủa chế độ,và “chống tội phạm” trước hết là chống những người mà giới cầm quyền không ưa nên quy kết là “thù địch”.

H1Ảnh 1: “CÔNG AN NHÂN DÂN CHỈ BIẾT CÒN ĐẢNG, CÒN MÌNH” (Nguồn: Internet)

Nếu có biểu tình, dù chỉ lác đác mươi người thực thi quyền hiến định và chỉ nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo hay phản đối tham nhũng, thì họ cũng coi đó là hành động đe dọa sự an toàn của chế độ, và ngay lập tức huy động lực lượng đông đảo để giải tán, thậm chí để đàn áp. Còn nếu tính mạng và tài sản của Nhân dân bị đe dọa, thì điều động lực lượng“mỏng” và can thiệp “thận trọng” đến mức… trật tự xã hội ngày càng thêm hỗn loạn. Viết như vậy, bởi tin rằng: Nếu thực sự muốn thì lực lượng công an thừa sức để điều tra và khống chế nhiều tệ nạn xã hội đang hoành hành.

Thay vì bảo vệ, họ lại cư xử với nạn nhân như với kẻ thù của chế độ. Họ đang tâm xả đạn như mưa vào nhà dân, để mở đường cướp tài sản hợp pháp của dân, như đã diễn ra ở Tiên Lãng ngày 5/1/2012. Coi người dân như hình nộm để tập bắn, nên gọi cuộc xả đạn về phía người dân là “diễn tập”, và cao hứng tự ca rằng “không có cuộc diễn tập nào thành công bằng cuộc diễn tập lần này. Rồi còn công khai tuyên bố rằng: “Tôi nghĩ là rất hay, có thể viết thành sách… rất là đẹp, đâm ra không có gì phải phàn nàn về cái chuyện ấy cả.” Cứ tưởng, hành động và phát ngôn như vậy trong Nhà nước của Nhân dân thì bị cách chức, thậm chí bị loại khỏi ngành công an và bị truy tố trước pháp luật. Ai dè sau một thời gian ngắn còn được vinh danh bởi quân hàm Thiếu tướng.

Chưa đầy năm tháng sau trận xả đạn ở Tiên Lãng, vào ngày 24/4/2012, họ lại điên cuồng đánh đập dã man cả hai phóng viên Đài tiếng nói Việt Nam đến tác nghiệp ở Văn Giang, vì tưởng đó là dân đen, dám đứng nhìn bầy quân cướp đất.

Những hành động ngạo ngược hại dân diễn ra nơi nơi, nhiều không kể xiết… Khi còn hiến định trách nhiệm “bảo đảm… các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân” mà họ còn hành động như vậy, thì rồi đây sẽ còn tệ hại đến mức nào nữa?

  1. 3.

Hiến pháp 1992 quy định về quyền bầu cử và ứng cử như sau:

Điều 54  Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.”

Điều này được viết lại trong Hiến pháp 2013 như sau:

Điều 27  Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.”

Nghĩa là bỏ đi mệnh đề không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú”, vốn dĩ đã xuất hiện tại Điều 23 Hiến pháp 1959, sau đó được tiếp tục duy trì trongĐiều 57 Hiến pháp 1980 và Điều 54 Hiến pháp 1992.

Thuở còn quy định không phân biệt… thành phần xã hội…” thì đã rất phân biệt, đến mức khó lòng tự ứng cự nếukhông thuộc “thành phần xã hội” được bộ máy cầm quyền lựa chọn và đề cử. Vậy thì rồi đây sẽ ra sao?

  1. 4.

Về quyền khiếu nại, tố cáoĐiều 74 Hiến pháp 1992 quy định:

“Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.”

“Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh.”

Nội dung trên được thay bằng một câu gọn lỏn như sau trong Điều 30 Hiến pháp 2013:

“Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo.”

Nghĩa là đòi hỏi “xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định” và “kịp thời xử lý nghiêm minh” bị loại bỏ ra khỏi Hiến pháp 2013. Để thấy rằng việc loại bỏ này không phải là vô tình, hay do các tác giả của Hiến pháp 2013 muốn lược bớt tất cả các ràng buộc về thời gian, chỉ cần lưu ý rằng quy định những người bị chất vấn “có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời hạn luật định” tại Điều 98 Hiến pháp 1992 vẫn được bảo lưu nguyên vẹn tại Điều 80 Hiến pháp 2013.

Bấy lâu nay, khiếu nại, tố cáo của công dân hay bị ngâm tôm quá lâu, khiến nhiều người phải lang thang khiếu kiện suốt chục năm trời. Rồi đây, khi ràng buộc về thời gian xử lý đã bị xóa khỏi Hiến pháp, thì người dân sẽ phải mòn mỏi chờ đợi thêm bao lâu nữa?

  1. 5.

Đáng lưu ý là quy định

“Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ”

tại Điều 70 Hiến pháp 1992 đã bị loại bỏ ra khỏi điều hiến định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp 2013 (tức là Điều 24). Tại sao lại như vậy? Chẳng nhẽ quy định ấy không còn cần thiết trong chế độ đã từng diễn ra phong trào đập phá đền chùa nhân danh chống mê tín dị đoan? Hay là để tránh mâu thuẫn với thực tế chiếm đất tôn giáo vẫn xảy ra đó đây?

Mấy vị Hòa thượng, Thượng tọa, Linh mục… trong Quốc hội có đấu tranh đòi bảo lưu điều hiến định bảo hộ nơi thờ tự hay không? Hay vì quá mải lo thực hiện sứ mạng bảo vệ chế độ, mà quên mất vai trò phải đóng trong Quốc hội, là đại diện và bảo vệ tín ngưỡng, tôn giáo?

Điều đáng lo ngại là: Liệu việc chiếm đất của các cơ sở tôn giáo có gia tăng sau khi xóa bỏ hiến định “nơi thờ tự… được pháp luật bảo hộ” hay không?

  1. Quyền sau song sắt

Một trong những tên gọi trớ trêu nhất trong tiếng Việt thời nay là “cơ quan bảo vệ pháp luật”, vì chính các cơ quan đó lại hay vi phạm pháp luật nhất. Vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn chỉ là một ví dụ điển hình trong muôn vàn vụ việc, đã và đang xảy ra thường xuyên trên mọi miền Tổ quốc. Tại sao nhân danh bảo vệ pháp luật mà lại vi phạm pháp luật như vậy? Chắc hẳn, pháp luật chỉ là thứ mà họ vin vào, chứ không phải là cơ sở pháp lý mà họ tôn trọng và tuân theo khi thao túng quyền lực.

  1. 1.

Những người bị bắt, bị giam “thân cô thế cô” trong chốn ngục tù, dù “đúng người đúng tội” cũng rất cần được luật sư bảo vệ và trợ giúp pháp lý. Nếu bị bắt oan thì lại càng cần luật sư bênh vực. Thế nhưng, bộ máy điều tra, giam giữ thường cô lập nghi can, bị can, bị cáo, không cho họ có điều kiện lựa chọn và tiếp xúc với luật sư, đặng dễ bề tra hỏi, ép cung, dàn dựng… Thậm chí, nhiều người bị ép buộc phải khước từ luật sư do người nhà đứng ra mời và chấp nhận luật sư do bên điều tra áp đặt, nên dù có bào chữa cũng bằng… âm.

 

Về “quyền bào chữa”, Hiến pháp 1992 quy định như sau, trong khuôn khổ hiến định trách nhiệm của Tòa án:

Điều 132  Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình…”

Như vậy, Hiến pháp 1992 chỉ đề cập đến “quyền bào chữa của bị cáo, tức là của “người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử” (theo định nghĩa tại Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự). Nếu Hiến pháp chẳng hề đề cập tới “quyền bào chữa” thì có thể cũng chẳng hề chi, nhưng khi đề cập một cách không đầy đủ thì lại trở thành tai hại, vì có thể tạo ra cách nghĩ sai lầm là người bị bắt, người bị tạm giam giữ (theo định nghĩa tại Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự) và bị can (tức là “người đã bị khởi tố về hình sự” – theo định nghĩa tại Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự) không có “quyền bào chữa”.

Tuy nhiên, hạn chế của Hiến pháp 1992 không phải là lý do duy nhất khiến “quyền bào chữa” của “người bị tạm giữ, bị can” bị xâm phạm tràn lan. Bởi vì Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định rõ ràng rằng:

Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.”

“Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này.”

Hạn chế kể trên của Hiến pháp 1992 được khắc phục một phần bởi Khoản 7 Điều 103 Hiến pháp 2013, trong khuôn khổ hiến định trách nhiệm của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân:

“Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm.”

(Tức là ngoài “bị cáo” thì thêm đối tượng “bị can” cũng được bảo đảm “quyền bào chữa”.) Và nó được khắc phục nhiều hơn bởi Khoản 4 Điều 31 Hiến pháp 2013, trong khuôn khổ hiến định quyền con người:

Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.”

Như vậy, theo quy định của Hiến pháp 2013, kể từ khi “bị bắt” đến khi “bị xét xử”, mọi người đều “có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”.

Có điều, một khi đã đề cập đến quyền con người trong vòng lao lí, thì Hiến pháp viết như vậy vẫn chưa đầy đủ. Từ “bào chữa” khiến người ta chỉ chú tâm vào việc “bênh vực cho đương sự trước tòa án”, tức là khi xét xử, và cùng lắm là mở rộng ra lúc điều tra, khi công an thẩm vấn đối tượng để xác định tội phạm. Nhưng lúc ở sau song sắt, ngoài giờ hỏi cung hay xét xử, dù trước khi ra tòa hay đang thi hành án, thì đương sự vẫn cần được luật sư trợ giúp và bảo vệ trước sự cư xử trái pháp luật của bộ máy điều tra và giam giữ. Vậy nên cần sửa lại Khoản 4 Điều 31 Hiến pháp 2013, bằng cách bổ sung thêm thời gian “thi hành án” cũng như “quyền được luật sư bảo vệ và trợ giúp pháp lý”, đại loại có thể viết như sau:

“Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, hoặc thi hành án có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa, có quyền được luật sư bảo vệ và trợ giúp pháp lý.”

  1. 2.

Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013 hiến định:

“Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luậtnghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.”

 

Vốn dĩ, quy định “xét xử độc lập” và “chỉ tuân theo pháp luật” đã có trong Điều 130 Hiến pháp 1992, song khoản hiến định đó tỏ ra vô dụng trên thực tế. Các thẩm phán vẫn hay bị các loại cấp trên chi phối.

 

Nay có thêm quy định “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử”, liệu nó có thể góp phần kích hoạt lòng tự trọng của các thế lực quen thói lộng quyền và đánh thức lương tâm nghề nghiệp của các thẩm phán quen phán xử theo lệnh trên hay không?

Ít nhất, về mặt pháp lý, các thẩm phán không thể biện hộ cho hành vi uốn cong cán cân công lý để xử sai, và các tầng thượng cấp không thể chối tội nếu bất chấp Hiến pháp để can thiệp vào việc xét xử của tòa án. Và họ không thể dùng pháp luật hiện hành để gỡ tội khi đứng trước vành móng ngựa trong chế độ kế tiếp.

  1. 3.

Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 hiến định:

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm.”

“Nguyên tắc tranh tụng” là gì? Trong bài “Bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa, cơ sở hình thành phán quyết của Tòa án”, Tiến sĩ Nguyễn Sơn – Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao – đã giải thích:

Tranh tụng trong tố tụng hình sự: là sự tranh luận của bên buộc tội và bên bào chữa, dựa trên những chứng cứ được đưa ra trước phiên tòa do các bên thu thập theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là cơ sở để Tòa án ra phán quyết có hiệu lực thi hành, nhằm bảo vệ các quyền cơ bản của con người.”

Khi viết “là cơ sở…”, chứ không phải “là một trong những cơ sở…”, thì có nghĩa đó là “cơ sở duy nhất”. Tức là: Khi phán quyết, Tòa án phải dựa và chỉ được dựa trên kết quả tranh luận trước tòa giữa bên buộc tội và bên bào chữa.Không được khăng khăng bám vào những chứng cứ hay lời khai nhận do bên điều tra và công tố đưa ra, bất chấp lập luận của bên bào chữa. Càng không thể phán quyết theo “bản án bỏ túi”, được thế lực nào đó ấn định từ trước khi diễn ra tranh luận tại phiên tòa.

Hệ quả của Điều 103 Hiến pháp 2013 là: Những thẩm phán chân chính có thêm cơ sở pháp lý để phán xử tử tế, theo đúng lương tâm nghề nghiệp. Còn những thẩm phán bù nhìn thì mất bớt đường biện hộ cho bản lĩnh kém cỏi và hành động vô lương của mình. Số phận dân oan sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào việc họ có được thẩm phán chân chính xét xử và được luật sư đủ tài năng bào chữa hay không.

  1. Rộ nở“công khai”

Một trong những nét đặc biệt trong Hiến pháp 2013 là từ “công khai” đột nhiên “nở rộ”. Từ này vốn chỉ xuất hiện hai lần trongHiến pháp 1946 và đúng một lần trong mỗi bản Hiến pháp 1959Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992. Nhưng nó xuất hiện đến 7 lần trong Hiến pháp 2013.

  1. 1.

Về cơ bản, đó là một triệu chứng tốt. Nhưng đôi khi, ý nghĩa của từ “công khai” lại khá khó hiểu, chẳng hạn:

“Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.”  (Khoản 2 Điều 28 Hiến pháp 2013)

“Công khai… trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” có nghĩa là thế nào? Nếu công dân “kiến nghị” về vấn đề gì đó, thì cứ việc lặng lẽ mà “tiếp nhận”, xem xét và giải quyết nghiêm túc, rồi “phản hồi” trực tiếp cho người có kiến nghị. Như vậy đã có thể coi là đủ. Có nhất thiết phải “công khai”, công bố với thiên hạ, rằng ông nọ bà kia kiến nghị cái ấy,nhưng chẳng được chấp thuận vì lý do nào đấy, khiến người đó bị cười chê, hay không? Đặc biệt, khi công dân muốn kiến nghị, tố cáo một cách kín đáo về hành vi tham nhũng của quan chức, thì có nên “công khai” cho tham quan biết để trả thù hay không?

Và đây nữa:

Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phảicông khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật.” (Khoản 3 Điều 54 Hiến pháp 2013)

Tại sao lại đưa ra đòi hỏi “phải công khai” (khi đã có yêu cầu “minh bạch”) trong hoàn cảnh này? Nếu không hiến định “công khai”, thì người dân có thể chấp nhận để cho việc thu hồi đất” diễn ra kín đáo, vụng trộm hay không? Và “phải công khai” đến mức độ nào? Điều mà người dân muốn biết là danh tính của các thế lực nấp sau “việc thu hồi đất” để chia chác lợi lộc, vậy thì có định “công khai” về chúng hay không?

  1. 2.

Có một yêu cầu “công khai” đã trở thành kinh điển, đó là:

Tòa án nhân dân xét xử công khai. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín.” (Khoản 3 Điều 103 Hiến pháp 2013)

Nội dung Tòa án nhân dân xét xử công khai” đã xuất hiện trong tất cả các hiến pháp của chế độ này, tại Điều 67 Hiến pháp 1946Điều 101 Hiến pháp 1959Điều 133 Hiến pháp 1980 và Điều 131 Hiến pháp 1992. Tiếc rằng, cái đòi hỏi chính đáng đó đã trở thành hiện thân của sự dối trá trắng trợn. Tuyên bố là “xét xử công khai”, nhưng lại tung ra lực lượng dày đặc để ngăn cấm những người quan tâm tiếp cận khu vực xử án, đến mức cả bố mẹ, anh chị em ruột của bị cáo cũng không được vào phòng xét xử. Thực tế đó diễn ra triền miên, ngang nhiên… Ấy vậy mà các cấp lãnh đạo vẫn cứ làm ngơ, như thể không hề hay biết. Trớ trêu hơn, với tư cách “đại biểu cao nhất của Nhân dân”, “thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp” và “giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” (Điều 69 Hiến pháp 2013), đại biểu Quốc hội vẫn bỏ qua, không đòi hỏi Thủ tướng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Công an (là những chức vụ do Quốc hội “bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm” hoặc “phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức” theo quyền hạn được hiến định tại Điều 84 Hiến pháp 1992 và Điều 70 Hiến pháp 2013) ra lệnh thuộc hạ chấm dứt cái tệ nạn vi hiến, phi pháp ngang nhiên ấy.

Lần này, bên cạnh đòi hỏi “xét xử công khai” trong khuôn khổ hiến định trách nhiệm của tòa án, Hiến pháp 2013 còn bổ sung thêm quy định “xét xử công khai” vào quyền con người, là “được… xét xử công khai”:

Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai.” (Khoản 2 Điều 31 Hiến pháp 2013)

Hy vọng rằng, khi được nhấn mạnh đến hai lần trong Hiến pháp, nhà cầm quyền sẽ không tiếp tục coi quy định “xét xử công khai” như một trò đùa pháp lý. Và người dân cũng ý thức rõ hơn quyền hiến định của mình, để mà cương quyết đấu tranh, đòi nhà cầm quyền phải tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh.

  1. 3.

Đòi hỏi “công khai” mới mẻ sau đây kéo theo một hệ quả quan trọng:

Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật.” (Khoản 1 Điều 55 Hiến pháp 2013)

Có nghĩa là từ nay, các cơ quan Nhà nước phải “công khai” mọi khoản chi tiêu thuộc “ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý”.

Cơ sở chính đáng của quy định này là: Tiền bạc và của cải mà Nhà nước đứng ra quản lý chính là của Nhân dân, nênNhân dân có quyền biết và phải biết để giám sát xem Nhà nước chi tiêu có hợp lý hay không. Biết để còn can thiệp, hay ngăn chặn trong trường hợp cần thiết, chứ không phải biết chỉ để mà tức… Vì thế, Nhân dân phải biết đủ sớm, chứ không phải đợi đến lúc mọi chuyện trôi qua, khi tiền bạc, của cải của Nhân dân đã “không cánh mà bay”, và thủ phạm đã “hạ cánh an toàn”… Quy định phải được sử dụng… công khai” cần được hiểu là phải “công khai” từ trước khi “sử dụng”, tức là từ khi lập kế hoạch “sử dụng”. Điều đó cũng giống như việc người điều khiển phương tiện giao thông phải có tín hiệu báo hướng rẽ từ trước khi rẽ, chứ không phải rẽ xong rồi mới phát tín hiệu rẽ. Muộn nhất thì cũng phải “công khai” trong khi đang “sử dụng”, chứ không thể đợi đến lúc xong xuôi hay sau một thời gian thì mới “công khai”.

Cần phải nhấn mạnh, rằng Điều 55 Hiến pháp 2013 quy định phải “công khai” tất cả các khoản chi tiêu đó, không có ngoại lệ. Nghĩa là phải “công khai” cả các khoản chi cho đảng cầm quyền, cũng như chi cho bộ máy quốc phòng và bộ máy an ninh

Hệ quả hiển nhiên là: Không được coi những thông tin ấy là “bí mật Nhà nước” và không được phép đóng dấu “mật” hay “tuyệt mật” lên các tài liệu liên quan, bởi vì như vậy là vi hiến. Hơn thế nữa, không được kết tội những công dân lưu trữ hay công bố tài liệu liên quan là “chiếm đoạt bí mật Nhà nước” hay “làm lộ bí mật Nhà nước”(theo Điều 263 Bộ luật hình sự).

  1. 4.

Với việc thông qua Hiến pháp 2013, Quốc hội đã tự dành cho mình một cam kết “công khai”, đó là:

Quốc hội họp công khai. Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội, Quốc hội quyết định họp kín.” (Khoản 1 Điều 83 Hiến pháp 2013)

Việc hiến định Quốc hội họp công khai” không phải là ngoại lệ hiếm hoi, mà là thông lệ khá phổ biến trong hiến pháp của các nước trên thế giới, ví dụ như Hiến pháp Ba Lan (Điều 113), Hiến pháp Bỉ (Điều 47), Hiến pháp Bồ Đào Nha (Điều 116), Hiến pháp Đan Mạch (Điều 49), Hiến pháp Đức (Điều 42), Hiến pháp Hungari (Chương Nhà nước, Điều 5), Hiến pháp Hy Lạp(Điều 66), Hiến pháp Na Uy (Điều 84), Hiến pháp Nhật (Điều 57), Hiến pháp Pháp (Điều 33), Hiến pháp Thụy Điển (Chương 4, Điều 9)…

Ở Việt Nam, nội dung Quốc hội họp công khai” đã xuất hiện trong Hiến pháp 1946 (Điều thứ 30), nhưng nó bị thủ tiêu trong ba bản hiến pháp kế tiếp (từ năm 1959), để rồi sau 54 năm mới lại được tái hiện trong Hiến pháp 2013.

Quốc hội họp công khai” có nghĩa là thế nào? Có thể tìm thấy câu trả lời rõ ràng ngay trong Hiến pháp 1946 của chính chế độ này:

Điều thứ 30  Nghị viện họp công khaicông chúng được vào nghe. Các báo chí được phép thuật lại các cuộc thảo luận và quyết nghị của Nghị viện. Trong những trường hợp đặc biệt, Nghị viện có thể quyết nghị họp kín.”

Vâng, đặc điểm tối thiểu của “họp công khai” là “công chúng được vào nghe”

Hiển nhiên phải là như vậy! Vì “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân”, do Nhân dân bầu ra, để thay mặt Nhân dân đóng vai trò “cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” trong đất nước mà “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”, nên tất nhiên Nhân dân có quyền chứng kiến “cơ quan đại biểu” của mình họp hành, hoạt động như thế nào.

Nếu muốn thì công chúng phải được chứng kiến trực tiếp. Tức là “vào nghe” trực tiếp ngay trong phòng họp của Quốc hội, chứ không phải gián tiếp, qua thông tin tường thuật của tivi, đài, báo, đã bị biến dạng qua lăng kính chủ quan của nhà báo và bị bóp méo bởi cái gọi là “định hướng tuyên truyền”. Kể cả xem “truyền hình trực tiếp” trong phòng cách biệt (với phòng họp Quốc hội) hay qua chương trình TV cũng không phải là “chứng kiến trực tiếp”, vì tín hiệu truyền hình có thể “bị trục trặc” đúng những lúc gay cấn, hay ống kính ghi hình có thể bị quay lệch khỏi hướng đáng quan tâm.

Để công chúng có thể “vào nghe” trực tiếp thì phòng họp của Quốc hội phải được thiết kế và xây dựng tương ứng, có đủ chỗ cho công chúng “vào nghe”. Một hình mẫu có thể tham khảo là phòng họp của Quốc hội CHLB Đức, trong đó 6 khán đài với khoảng 430 chỗ ngồi (chưa kể chỗ đứng) được dành cho công chúng, khách và nhà báo, để họ có thể trực tiếp chứng kiến toàn cảnh phiên họp công khai của Quốc hội (xem Ảnh 2). Đương nhiên, công chúng phải tiến hành đăng ký và đợi đến lượt mình; còn Quốc hội thì phải có hướng dẫn cụ thể và cung cấp công cụ đăng ký trực tuyến để công chúng có thể đăng ký thuận lợi.

Liệu Nhà Quốc hội Việt Nam đang được xây dựng có phù hợp với tinh thần “Quốc hội họp công khai” (nghĩa là có chỗ cho công chúng “vào nghe”) hay không? Nếu không phù hợp, thì nhân dịp đề nghị bổ sung hơn 2.000 tỷ đồng cho Dự án Nhà Quốc hội, với lý do “thiết kế công trình Nhà Quốc hội được điều chỉnh theo hướng điều chỉnh lại công năng cho phù hợp với yêu cầu sử dụng mới”, phải nhanh chóng tạo dựng thêm chỗ cho công chúng “vào nghe”. Nếu phớt lờ, không chịu hiệu chỉnh theo tinh thần của Hiến pháp mới được thông qua, thì những người chịu trách nhiệm xây dựng Nhà Quốc hội và điều khiển các cuộc họp Quốc hội trong tương lai sẽ bị coi là vi phạm Hiến pháp.

Điều đáng lo hơn là liệu những người lãnh đạo Quốc hội đã thực tâm chấp nhận việc “Quốc hội họp công khai” hay chưa? Vốn dĩ, nhân danh “bảo vệ an ninh”, họ có thể chặn cả đường giao thông công cộng, ngăn không cho dân chúng đi qua khu vực mà Quốc hội họp. Thậm chí, họ từng ngang nhiên đưa ra lệnh cấm: “Phóng viên không được phỏng vấn và chụp ảnh đại biểu Quốc hội trong khu vực sảnh trước của hội trường – nơi đại biểu Quốc hội giải lao”. Phóng viên của báo chí chính thống, vừa thực hiện nhiệm vụ của bộ máy tuyên truyền “lề đảng” và thực thi quyền tự do báo chí, vừa đáp ứng yêu cầu truyền tải thông tin để cử tri cả nước theo dõi và giám sát hoạt động của Quốc hội, mà còn bị cản trở thô bạo như vậy, thì làm sao người lao động chân quê có thể len vào chốn “Quốc hội họp công khai”?

Đây là một trong những thử thách đầu tiên đối với Quốc hội sau khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực. Người dân có thể kiểm nghiệm thái độ tôn trọng và chấp hành Hiến pháp của chính bản thân Quốc hội, bằng cách sớm đăng ký tham gia chứng kiến trực tiếp các cuộc “họp công khai” của Quốc hội. Để tránh ngụy biện về hoàn cảnh chật chội, do chưa xây xong Nhà Quốc hội mới, có thể viết thẳng vào đăng ký rằng sẵn sàng đứng nghe hoặc mang theo ghế xếp để ngồi nghe.

Nếu Quốc hội viện cớ quanh co, không chịu thi hành cái điều khoản hiến định có thể dễ dàng thực hiện ngay lập tức, chẳng bị ai cản trở ngoài chính bản thân, thì chứng tỏ họ coi Hiến pháp vừa thông qua chỉ là trò đùa. Và nếu cơ quan lập hiến nhìn nhận như vậy thì đừng có hy vọng hão huyền vào sự tôn trọng Hiến pháp của bộ máy cầm quyền.

Ngược lại, nếu Quốc hội thực sự chấp nhận để người dân nào “vào nghe” các cuộc họp được hiến định là “công khai”, thì đó là một tín hiệu tốt, chứng tỏ Quốc hội cũng muốn xây dựng nhà nước pháp quyền.

  1. Mánh lới bất thành

Trong Hiến pháp 2013, có ba điều hiến định về quyền công dân được kèm theo câu “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” hay “… do luật định”, đó là:

Điều 23  Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

Điều 25  Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình.Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

Điều 27  Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.

Câu kèm theo đó mang dụng ý gì?

  1. 1.

Để trả lời câu hỏi trên, ta điểm lại quá trình thay đổi, biến dạng của điều hiến định về quyền “tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” qua các đời Hiến pháp của chế độ này.

Trong hai bản hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959), các quyền công dân thuộc thể loại này được hiến định một cách vô điều kiện, không bị hạn chế (xem Phụ lục I). Có lẽ, đó là biểu hiện của thế hệ cầm quyền mới thoát thân từ cương vị bị trịchưa kịp lĩnh hội đầy đủ kỹ năng quản lý xã hội, và cũng chưa bị nhiễm nặng “hội chứng cầm quyền”.

Hiến pháp thứ ba được thông qua vào năm 1980, giữa lúc đất nước đã thống nhất dưới sự lãnh đạo độc quyền của ĐCSVN. Trên đỉnh cao quyền lực, nhà cầm quyền không cần lấy lòng dân chúng như thời kỳ còn phải tranh chấp, nên một số quyền tự do của công dân trong Hiến pháp 1980 được hiến định kèm theo ràng buộc:

Điều 67  Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình,phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân.

Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó.

Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.”

Tức là “các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình” của công dân phải “phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân”, trong đó “lợi ích của chủ nghĩa xã hội” chiếm vị trí hàng đầu, còn “lợi ích của nhân dân” chỉ đứng hạng hai. Cả hai loại lợi ích đó và cái gọi là “lợi ích của Nhà nước” đều trừu tượng, nên dễ quy chụp những hành động của dân chúng mà nhà cầm quyền không thích là “không phù hợp” hay “xâm phạm”các lợi ích đó.

Hiến pháp thứ tư – Hiến pháp 1992 – ra đời vào lúc Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở châu Âu đã sụp đổ đồng loạt,“chủ nghĩa xã hội” trở nên tai tiếng. Vì vậy, các nhà lập hiến Việt Nam đã xóa bỏ điều kiện “phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội” và thay bằng ràng buộc “theo quy định của pháp luật”:

Điều 69  Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”

Việc đột nhiên hủy bỏ nội dung “Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó” (vốn có trong Điều 67 Hiến pháp 1980 và Điều 25 Hiến pháp 1959) cho thấy: Ngay từ khi ban hành Hiến pháp 1992 nhà cầm quyền đã không muốn chấp nhận người dân thực thi các quyền hiến định ấy. Trên thực tế, họ đã dựa vào điều kiện “theo quy định của pháp luật” để “câu giờ”, cố tình không ban hành các luật liên quan, để lập luận rằng: Khi chưa có pháp luật quy định cụ thể thì chưa thể hành động “theo quy định của pháp luật”.

Nguy hiểm tiềm tàng của thuật ngữ “theo quy định của pháp luật” ẩn chứa trong không gian bao la của cái gọi là “pháp luật”. Theo Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 172008/QH12, thì trong “Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật” không chỉ có Hiến pháp và các luật, mà còn có cả “Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân”. Hơn nữa, Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân số 31/2004/QH11 cho phép

“Hội đồng nhân dân ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong những trường hợp… quyết định những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp…”

và cho phép

“Uỷ ban nhân dân ban hành văn bản quy phạm pháp luật… để thi hành Hiến pháp…”

Như vậy, cả Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp phường, xã cũng có thể viện cớ hiến định để hạn chế quyền công dân. Vì Hiến pháp không quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, nên khó chỉ ra một cách trực tiếp rằng các hành vi sai trái hạn chế quyền công dân của các cơ quan đó là vi hiến.

Trong khi trì hoãn hơn nửa thế kỷ, cố tình không ban hành luật để bảo đảm thực hiện các quyền hiến định, thì nhà cầm quyền lại sinh ra một số nghị định và thông tư để hạn chế quyền tự do của công dân. Điển hình là cặp Nghị định số 38/2005/NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA nhằm ngăn cấm thực thi quyền hội họp, biểu tình, và cặp Nghị định số 136/2006/NĐ-CP và Thông tư số 04/2010/TT-TTCP nhằm cản trở khiếu nại có nhiều người tham gia. Song bài Lực cản Nhà nước pháp quyền đã chỉ ra rằng các nghị định và thông tư đó vi phạm Hiến pháp và luật.

Như đã khẳng định trong bài “Quyền biểu tình của công dân”Chừng nào chưa có “quy định của pháp luật”, thì chừng ấy chưa có hạn chế đối với quyền biểu tình, nên công dân có quyền biểu tình một cách hoàn toàn tự do, theo đúng tinh thần của Hiến pháp 1992, không phải đợi đến lúc có Luật biểu tình hay một văn bản tương tự.

Sau mấy phương án dự thảo nhằm khắc phục tình trạng đuối lý (xem Phụ lục II), cuối cùng Hiến pháp 2013 (Điều 25)quy định:

“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình.”

Mệnh đề “theo quy định của pháp luật” (trong Điều 69 Hiến pháp 1992) được xóa đi, không phải vì sự hào phóng đột biến, mà để thay bằng câu sau:

Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

Nghĩa là vẫn bảo lưu khả năng thao túng bao la của cái gọi là “pháp luật”. Đáng nói hơn, là ba chữ “việc thực hiện” được huy động vào cuộc. Để làm gì?

Một mặt, mục tiêu đặt ra chỉ là sửa đổi chứ không phải viết mới Hiến pháp, nên những chỗ thực sự cần thiết mới được sửa, nghĩa là thay đổi kể trên không thể vô tình, mà chắc đầy dụng ý. Mặt khác, bộ máy đương quyền càng tỏ ra ngu ngơ và gắn bó với đồng chí phương bắc bao nhiêu, thì lại càng ranh mãnh và đối kháng với Dân ta bấy nhiêu, cho nên chẳng ngạc nhiên khi năng lực sáng tạo của nhà cầm quyền lại được huy động để đối phó với Dân ta. Vì thuật ngữ “theo quy định của pháp luật” vẫn chưa đủ thuyết phục, nên nay thay nó bằng mệnh đề “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”, hẳn là để nhấn mạnh rằng “các quyền này” chỉ được “thực hiện” khi có “pháp luật quy định”.

Với mánh lới mới mẻ này, một bức tường pháp lý vững chắc hơn trước được dựng lên vô thời hạn để cản công dân đến với quyền tự do. Nếu sau này bất đắc dĩ phải để công dân “thực hiện” quyền nào đó, thì họ sẽ dùng pháp luật để hạn chế đáng kể quyền ấy.

Đó có lẽ cũng là chìa khóa để giải mã thâm ý của Điều 23 (về quyền tự do đi lại và cư trú, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước) và Điều 27 (về quyền bầu cử và ứng cử) trong Hiếp pháp 2013.

  1. 2.

Nếu đấng sinh thành ra Hiến pháp 2013 nghĩ như vậy, thì đấy chỉ là ý muốn chủ quan của họ.

Không thể trì hoãn mãi mãi việc ban hành các luật liên quan. Chớ viện cớ thiếu thời gian hay thiếu kinh phí. Gần 70 năm đã trôi qua kể từ khi chế độ này ra đời, chẳng nhẽ vẫn chưa đủ thời gian để làm các luật bảo đảm thực thi quyền công dân hay sao? Bỏ hàng núi tiền của Nhân dân nuôi béo tham nhũng thì được, chẳng nhẽ trích một phần nhỏ kinh phí để làm luật lại không được hay sao? Hơn nữa, nhiều người sẵn sàng cùng nhau viết luật, và có đủ khả năng hoàn thành sản phẩm với chất lượng tốt trong thời gian ngắn. Chỉ cần Quốc hội chân thành đề nghị, thì họ sẽ ra tay. Nếu quả thật Quốc hội thiếu tiền, thì họ sẵn sàng làm không công, giống như bỏ công viết những bài như thế này.

Trong một thể chế xưng danh “Nhà nước pháp quyền” (Điều 2 Hiến pháp 2013) thì đảng cầm quyền cũng phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Một khi đã hiến định rằng “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” và “Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị” (Điều 16 Hiến pháp 2013), thì không thể đòi hỏi các tổ chức và cá nhân khác phải thực hiện những điều mà đảng cầm quyền và các đảng viên của nó không cần thực hiện.

Nếu đòi hỏi các tổ chức khác phải đăng ký và chỉ được hoạt động sau khi được cấp phép, thì sẽ vấp phải các câu hỏi sau đây: ĐCSVN đã làm thủ tục đăng ký thành lập khi nào? Đã được chính quyền thời đó cấp phép hay chưa? Cho đến nay, Luật quy định quyền lập hội, ban hành bởi Sắc lệnh số 102/SL-L004 do Chủ tịch Quốc hội Hồ Chí Minh ký ngày 20/5/1957, vẫn còn nguyên hiệu lực, và nó được lấy làm căn cứ cho Nghị định số 33/2012/NĐ-CP, mới được ký vào ngày 13/4/2012. Sắc lệnh này quy định:

Điều 4. Những hội đã thành lập trước ngày ban hành luật này và đã hoạt động trong vùng tạm bị chiếm trong thời kỳ kháng chiến, nay muốn tiếp tục hoạt động, đều phải xin phép lại.”

Rõ ràng, ĐCSVN là “hội đã thành lập trước ngày ban hành luật này” và “đã hoạt động trong vùng tạm bị chiếm trong thời kỳ kháng chiến”. Vậy thì, sau ngày 20/5/1957, ĐCSVN đã làm thủ tục “xin phép lại” hay chưa?

Điều 4 Hiến pháp 2013 quy định:

“Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”

Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”

Cho đến tận bây giờ, Hiến pháp vẫn chưa xác định nhiệm vụ và quyền hạn của “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, trong khi hiến định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Hiến pháp và pháp luật cũng chưa hề ban hành “khuôn khổ” hoạt động của đảng. Song ĐCSVN không hề chờ đợi, mà vẫn ngang nhiên “hoạt động”. Vậy thì tại sao lại không chấp nhận cho công dân thực thi các quyền hiến định, mà đòi họ phải chờ đợi, đến khi có “pháp luật quy định” thì mới được “thực hiện các quyền này”?

  1. 3.

Như đã viết ở trên, các quyền công dân tại Điều 23Điều 25 và Điều 27 được hiến định không kèm theo ràng buộc, chẳng phải vì hào phóng bất thường, mà do dự định dùng luật và các văn bản dưới luật để “siết lại”. Tiếc thay, hiện trạng của Hiến pháp 2013 không cho phép bất kỳ ai triển khai ý đồ “siết lại” nữa. Vì sao?

Nguyên tắc sơ đẳng trong kỹ thuật lập hiến và lập pháp là: Luật và các văn bản dưới luật chỉ có thể hạn chế một quyền hiến định nào đó, nếu Hiến pháp cho phép hạn chế đích danh quyền ấy. Ví dụ, Hiến pháp CHLB Đức quy định như sau:

Điều 5

(1) Mọi người có quyền tự do phát biểu và phổ biến quan điểm của mình bằng lời nói, chữ viết và hình ảnh, và tự do tìm hiểu thông tin từ các nguồn có thể truy cập phổ thông. Tự do báo chí và tự do thông tin được đảm bảo. Không được kiểm duyệt.

(2) Những quyền này bị hạn chế bởi quy định trong các luật phổ quát, bởi quy định của Luật bảo vệ thanh thiếu niên, và bởi quyền được bảo vệ danh dự cá nhân…”

 “Điều 8

(1) Mọi người Đức đều có quyền tụ họp một cách hòa bình và không mang theo vũ khí, mà không cần phải trình báo hay được chuẩn y.

(2) Đối với các cuộc tụ họp ngoài trời, quyền này có thể bị hạn chế bằng luật hoặc trên cơ sở của một luật.”

Nguyên tắc sơ đẳng đó không phải là quá xa lạ với các nhà lập hiến Việt Nam. Có điều, lẽ ra phải được trình bày một cách rõ ràng và chính xác, Hiến pháp Việt Nam lại bị lây nhiễm cái ngôn ngữ của chính trường hoang vắng lòng trung thực: Khi nói thẳng thì không thật, còn sự thật thì lại bị úp mở, trình bày quanh co… Thay vì viết rõ là “quyền… có thể bị hạn chế bằng pháp luật”, thì lại che dấu sau thuật ngữ “có quyền… theo quy định của pháp luật”.

Trong Hiến pháp 1992, cụm từ “theo quy định của pháp luật” đã được viết kèm theo một số quyền công dân, đó là:

-       Quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân (Điều 54);

-       Quyền tự do kinh doanh (Điều 57);

-       Quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp (Điều 63);

-       Quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước (Điều 68);

-       Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền hội họp, lập hội, biểu tình (Điều 69).

Và quyền xây dựng nhà ở thì được gắn với điều kiện “theo quy hoạch và pháp luật” (Điều 62). Viết như vậy có nghĩa là có thể dùng pháp luật để hạn chế các quyền ấy.

Hiến pháp 2013 bỏ hiến định về quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp, đồng thời bỏ hiến định về quyền xây dựng nhà ở của công dân. Quyền tự do kinh doanh được hiến định đơn giản và rõ ràng hơn:

Điều 33  Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.”

Đây cũng là một cách hiến định, rằng có thể ban hành pháp luật để hạn chế quyền tự do kinh doanh.

Cách hiến định này cũng “tế nhị” như thuật ngữ “trái luật” trong hai ngữ cảnh sau đây:

“Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.” (Điều 19 Hiến pháp 2013)

“Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.” (Điều 21 Hiến pháp 2013)

Ngụ ý là: Có thể ban hành luật để “tước đoạt tính mạng” của ai đó và cho phép một số đối tượng được quyền “bóc mở, kiểm soát, thu giữ… thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”.

Rõ ràng là Hiến pháp 2013 không lãng quên nguyên tắc lập hiếnĐể có thể hạn chế một quyền hiến định bằng luật hay văn bản dưới luật, thì trước hết phải hiến định về khả năng hạn chế ấy. Vậy mà Hiến pháp 2013 lại hiến định mấy quyền một cách vô điều kiện tại Điều 23Điều 25 và Điều 27, không kèm theo hạn chế và cũng không có hiến định về khả năng hạn chế các quyền ấy bằng pháp luật.

Mệnh đề “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” được kèm theo chỉ cho phép ban hành pháp luật để hướng dẫn cách “thực hiện”, mà kết quả cuối cùng phải là người dân được “thực hiện” các quyền đó. Luật và các văn bản dưới luật không được phép gây khó dễ, nhằm cản trở hay tạo cớ ngăn cấm “thực hiện”, vì như vậy là vi phạm Hiến pháp 2013.

Có thể một số vị sẽ cố lập luận, rằng mệnh đề “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” chứa đựng khả năng dùng pháp luật để hạn chế hay khước từ “việc thực hiện các quyền này”. Song họ sẽ vấp phải câu hỏi: Tại sao không viết thẳng, viết rõ dự định hạn chế hay khước từ ấy trong Hiến pháp? Cố tình mập mờ để đánh lừa ai?

Khoản 1 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 12/2008/QH12 quy định:

“Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.”

Theo đó, nếu nhà cầm quyền dự định dùng pháp luật để hạn chế một quyền hiến định nào đó, thì phải trình bày dự định ấy trong Hiến pháp một cách “rõ ràng, dễ hiểu”, chẳng hạn: “Quyền này có thể bị hạn chế bằng pháp luật.”

Hiến pháp đích thực phải được viết một cách trung thực. Hiến pháp dành cho toàn thể Nhân dân, nên nó phải được “diễn đạt… rõ ràng, dễ hiểu” đến mức dân thường cũng có thể hiểu để thi hành. Không được vận dụng kỹ năng lập lờ lươn lẹo từ chính trường vào Hiến pháp nhằm đánh lừa người dân.

Có lẽ các nhà lập hiến CHXHCN Việt Nam chẳng có ý định đi xa đến mức chấp nhận những quyền con người, quyền công dân hoàn toàn “bao la”, không hề bị hạn chế. Nhưng “bút sa gà chết”, câu chữ mà họ sử dụng trong Hiến pháp 2013 chỉ cho phép kết luận như trên.

  1. Sai lầm tai hại

Điều gì khiến các nhà lập hiến sơ suất như vậy? Hẳn là do chủ quan, quá ỷ lại vào khả năng thao túng của Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013, quy định rằng:

“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”

Ý đồ và hệ quả của nước cờ lạ lẫm này là gì?

  1. 1.

Vốn dĩ, nội dung của điều khoản trên được thể hiện trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 2/1/2013) tại Khoản 2 Điều 15 như sau:

“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng.”

Bài “Teo dần quyền con người trong Hiến pháp” đã phê phán khoản dự thảo này và chỉ rõ: Danh sách “lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng” rộng đến mức có thể bao trùm mọi hoàn cảnh thông thường. Cho nên, nhà cầm quyền luôn có thể viện dẫn những lý do đó, nhằm giới hạn quyền con người và quyền công dân. Và bất cứ lúc nào họ muốn thì đều quan niệm là “trường hợp cần thiết”. Vì vậy, việc nhét chữ chỉ vào điều khoản ấy chẳng hề có tác dụng hạn chế phạm vi hành động của giới cầm quyền, mà cốt để ngụy trang, che đậy mục đích hiến định hóa việc chính quyền có thể giới hạn quyền con người và quyền công dân. Hơn nữa, dự thảo không hề đề cập ai và cấp nào có quyền giới hạn. Điều đó mở đường cho bộ máy cầm quyền các cấp có thể can thiệp tùy tiện vào quyền con người và quyền công dân.

  1. 2.

Để khắc phục nguy cơ tùy tiện, các nhà lập hiến đã bổ sung thêm ràng buộc “chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật vào Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013. Điều kiện này kéo theo hệ quả gì?

Trước kia, bài Lực cản Nhà nước pháp quyền đã dựa vào nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ được hiến định tạiĐiều 112 Hiến pháp 1992 để chỉ ra tính vi hiến của Nghị định số 38/2005/NĐ-CP và Nghị định số 136/2006/NĐ-CP. Vì Hiến pháp không quy định nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy nhà nước từ cấp bộ và tỉnh thành trở xuống, nên không thể sử dụng cách lập luận này để chỉ ra tính vi hiến của văn bản pháp quy do các cấp dưới ban hành.

Nhưng bây giờ thì việc chứng minh tính vi hiến trở nên đơn giản hơn. Theo Điều 14 Hiến pháp 2013, ngoài Hiến pháp, chỉluật mới được hạn chế quyền con người, quyền công dân. Có nghĩa là: Tất cả các nghị quyết, pháp lệnh, lệnh, quyết định, nghị định, thông tư… đều trở nên vi hiến nếu chúng hạn chế quyền con người, quyền công dân. Chẳng hạn như các văn bản hạn chế quyền hội họp, biểu tình (Nghị định số 38/2005/NĐ-CP), hạn chế quyền khiếu nại, tố cáo (Nghị định 136/2006/NĐ-CP), hạn chế quyền lập hội (Quyết định 97/2009QĐ-TTgNghị định 45/2010/NĐ-CPNghị định 33/2012/NĐ-CP), hay hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin trên mạng internet (Nghị định 72/2013/NĐ-CP)…

Đáng lưu ý là: Giữa thời buổi bộ máy cầm quyền đã tha hóa, phạm trù “công vụ” thường bị lạm dụng để ngụy trang cho những hành động xấu xa và thuật ngữ “chống người thi hành công vụ” hay bị lạm dụng để vu khống dân lành, thì Chính phủ lại mới ban hành Nghị định 208/2013/NĐ-CP, trong đấy cho phép:

“… người thi hành công vụ được nổ súng để phòng vệ chính đáng, tấn côngkhống chế, bắt giữ người có hành vi chống người thi hành công vụ.”

Có nghĩa là nghị định này cho phép người thi hành công vụ xâm phạm “quyền bất khả xâm phạm về thân thể” (hiến định tại Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp 2013), thậm chí có thể “tước bỏ tính mạng”  “quyền sống (hiến định tại Điều 19 Hiến pháp 2013) của người dân trong một số trường hợp. Như vậy là vi phạm Điều 14 Hiến pháp 2013.

Nghị định 208/2013/NĐ-CP có quy ước:

“Việc nổ súng trong khi thi hành nhiệm vụ được thực hiện theo quy định tại Điều 22 Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”

Nhưng pháp lệnh không phải là luật, nên việc Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 cho phép “nổ súng” vào người dân cũng là trái với quy định của Điều 14 Hiến pháp 2013. Do đó, viện dẫn pháp lệnh đó không có tác dụng cải thiện tình trạng vi hiến của Nghị định 208/2013/NĐ-CP.

Điều nghiêm trọng là: Nghị định 208/2013/NĐ-CP được ban hành vào ngày 17/12/2013, tức là 19 ngày sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp 2013, và nó có hiệu lực từ ngày 1/2/2014, tức là một tháng sau khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực. Như vậy, việc ban hành Nghị định 208/2013/NĐ-CP rõ ràng là một hành vi vi phạm Hiến pháp 2013 trong thế chủ động, không phải bị động như những nghị định đã được ban hành từ trước khi Hiến pháp 2013 được thông qua. Vì sao Chính phủ lại hành động bất chấp Hiến pháp như vậy? Quốc hội định “xử lý” thế nào đối với “hành vi vi phạm Hiến pháp” đó của Chính phủ?

  1. 3.

Như đã viết trong phần 5.1, khi được đưa vào dự thảo, mục đích nguyên thủy của Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 lànhằm hiến định khả năng hạn chế các quyền con người, quyền công dân. Song họ đã đi sai nước cờ, chọn nhầm cách thể hiện.

Với cách viết như hiện nay, họ mới thể hiện điều kiện cần, là nếu được phép hạn chế thì “chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật. Nó chưa thể hiện được điều kiện đủ cho việc hạn chế quyền con người, quyền công dân, tức làchưa hề cho phép ban hành luật để hạn chế các quyền ấy.

Những ai đã lĩnh hội kiến thức ở trường phổ thông đều phân biệt được giữa “điều kiện cần” và “điều kiện đủ”, và đều hiểu rằng “chỉ có thể…” không có nghĩa là “có thể…”. Ví dụ: Chắc mọi người đều đồng ý là chỉ có thể làm Chủ tịch Quốc hội nếu không mù chữ”. Nhưng như vậy không có nghĩa là thừa nhận mệnh đề “có thể làm Chủ tịch Quốc hội nếu không mù chữ”.

Để thể hiện “điều kiện cần và đủ”, lẽ ra phải viết thêm vào Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 một từ “có thể” nữa, chẳng hạn:

“Quyền con người, quyền công dân có thể và chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”

  1. 4.

Nhưng đấy chỉ là xét về lô-gíc ngôn ngữ thuần túy. Còn về mặt pháp lý, thì không thể hiến định như vậy. Bởi lẽ, nếu chấp nhận việc hiến định một cách chung chung, thì có thể thay điều khoản trên bằng một câu còn tổng quát hơn nữa, đó là:

“Mọi quy định của Hiến pháp đều có thể thay đổi trong trường hợp cần thiết.”

Và khi đó Hiến pháp cũng trở nên vô dụng, chẳng cần tốn công bàn luận về nó làm gì nữa.

Khoản 2 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 12/2008/QH12 viết rõ:

“Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định trực tiếp nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung chung.

Trong Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013, phạm trù “quyền con người, quyền công dân” quá chung chung và các “nội dung cần điều chỉnh” không hề được “quy định trực tiếp”. Chùm “lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” cũng quá chung chung, bao la đến mức có thể quy chụp mọi hoàn cảnh. Khi nhà cầm quyền muốn, thì tất nhiên họ coi đó là “trường hợp cần thiết”. Cho nên, nếu hiến định như vậy, thì bất cứ quyền con người và quyền công dân nào cũng có thể bị chà đạp một cách “hợp pháp”.

Có thể ai đó sẽ ngụy biện, rằng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới phải phù hợp với Hiến pháp, còn Hiến pháp không cần phải phù hợp với luật ấy. Đừng quên, rằng khi viết và thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, thì Hiến pháp 1992 vẫn còn có hiệu lực, và Khoản 2 Điều 5 Luật số 12/2008/QH12 hoàn toàn hợp hiến, nên họ vẫn phải tuân theo.Nội dung Dự thảo sửa đổi Hiến pháp có thể không cần phải tuân theo luật, nhưng hành vi của những người viết và thông qua Dự thảo thì vẫn phải tuân theo luật hiện hành.

Thế nào mới có thể coi là “quy định trực tiếp nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung chung”? Thông thường, trong điều hiến định về quyền nào đó thì cần quy định luôn hoàn cảnh và hình thức có thể hạn chế quyền ấy – Như vậy là“trực tiếp” nhất. Nếu có một hoàn cảnh cần phải hạn chế một số quyền khác nhau, thì có thể sinh ra một điều hiến định cho hoàn cảnh ấy, nhưng trong đó phải nêu đích danh các quyền cần phải hạn chế một cách cụ thể (tức là “không quy định chung chung”). Như vậy mới là “quy định trực tiếp nội dung cần điều chỉnh”.

Một ví dụ minh họa là Điều 17a Hiến pháp CHLB Đức. Khoản 2 của điều này viết rằng:

“Các luật phục vụ mục tiêu quốc phòng và bảo vệ thường dân có thể quy định hạn chế quyền cơ bản về tự do cư trú, đi lại (Điều 11) và bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 13).”

Ở đây, hoàn cảnh “có thể quy định hạn chế quyền cơ bản” được viết cụ thể là “phục vụ mục tiêu quốc phòng và bảo vệ thường dân”. Hình thức, phương tiện hạn chế được quy định cụ thể là “luật”“Nội dung cần điều chỉnh” được quy định cụ thể là “quyền cơ bản về tự do cư trú, đi lại (Điều 11) và quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 13)” – Nghĩa là không chỉ nêu đích danh quyền bị hạn chế, mà còn phải viết rõ là quyền đó được quy định ở điều nào của Hiến pháp. Như thế mới có thể coi là “quy định trực tiếp”, “không quy định chung chung”.

Trong thể chế Cộng hòaNhà nước phải là “của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”, và đương nhiên Hiến pháp cũng phải là “của Nhân dân” và “vì Nhân dân”, bất kể nó “do” ai viết ra và “do” ai thông qua. Vì vậy, nhiệm vụ của Hiến pháp là hạn chế sự tùy tiện của bộ máy Nhà nước, để bảo vệ Nhân dân, bảo vệ quyền con người và quyền công dân, chứ không phải là khống chế Nhân dân, hạn chế quyền con người và quyền công dân, để bảo vệ Nhà nước và để bộ máy ấy dễ hành xử tùy tiện.

Tóm lại, không thể biến báo Điều 14 Hiến pháp 2013, hay tạo mới một điều khoản duy nhất, để hiến định khả năng hạn chế tất cả các quyền con người và quyền công dân một cách chung chung! Do đó, không tồn tại khả năng hợp hiến nào để nhà cầm quyền có thể hạn chế các quyền được hiến định tại Điều 23Điều 25 và Điều 27 của Hiến pháp 2013.

  1. 5.

Để ý thức rõ hơn hậu quả tai hại của nước cờ lập hiến sai lầm, hãy xem xét điều khoản hiến định về “quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở”.

Vốn dĩ, Điều 71 Hiến pháp 1980 quy định:

“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.

Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. Việc khám xét chỗ ở phải do đại diện cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành, theo quy định của pháp luật.”

Sau đó, Điều 73 Hiến pháp 1992 bỏ bớt câu thứ ba và chỉ giữ lại hai câu đầu:

Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.

Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.

Nghĩa là cả hai Hiến pháp “tiền nhiệm” đều “trừ trường hợp được pháp luật cho phép” ra khỏi phạm trù “Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý”.

Nhưng bây giờ mệnh đề “trừ trường hợp được pháp luật cho phép” bị xóa khỏi Hiến pháp 2013:

Điều 22  

  1. Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp.
  2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.
  3. Việc khám xét chỗ ở doluậtđịnh.”

Như vậy, Hiến pháp 2013 quy định dứt khoát rằng: “Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.” Và không hề loại trừ bất cứ trường hợp nào.

Hệ quả pháp lý của Khoản 3 Điều 22 chỉ là: “Việc khám xét chỗ ở” phải “do luật định”, tức là phải dùng luật, chứ không được dùng các văn bản dưới luật, như nghị định, thông tư…, để quy định việc khám xét chỗ ở. Khoản 3 không hề hạn chế hay phủ định Khoản 2, nghĩa là không hề cho phép ban hành luật quy định “việc khám xét chỗ ở” của bất kỳ người nào trong trường hợp “không được người đó đồng ý”.

Vậy thì nhà cầm quyền sẽ làm thế nào khi cần khám xét chỗ ở của nghi can nhưng “không được người đó đồng ý”?

Trong tiếng Việt thì “không ai…” có nghĩa là “không người nào…”, kể cả công an và các loại “tay chân” của họ. Cho đến nay, họ thường cho người đóng vai “quần chúng bức xúc”hay giả dạng “côn đồ tự phát”, thậm chí huy động cả côn đồ đích thực, để đàn áp công dân thực thi các quyền hiến định. Bây giờ, khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực, nếu cần khám xét chỗ ở của đối tượng nào đấy nhưng “không được người đó đồng ý”, chẳng nhẽ lại bắt con người đóng con vật hay sao? Hay tự phủ định tư cách “người” của mình? Hay ngang nhiên hành động bất chấp Hiến pháp?

Ai cũng biết cái thông lệ được thừa nhận khắp thế giới, là bộ máy công an, cảnh sát phải được Hiến pháp và luật cho phép khám xét chỗ ở trong một số trường hợp cần thiết, cho dù chủ nhân có đồng ý hay không. Vậy mà, thông qua câu chữ đã thể hiện trong Hiến pháp 2013, Quốc hội khóa XIII đã tước bỏ mất khả năng khám xét hợp lý ấy. Buồn thay…

*

*     *

Những điều đã trao đổi trong bài này dựa trên tư duy và lô-gíc thông thường, dưới giả thiết là nhà cầm quyền thực tâm tôn trọng và chấp hành Hiến pháp. Tiếc rằng, bằng hành động thực tế, họ thường xuyên phủ định giả thiết đó. Hiển nhiên, nếu nhà cầm quyền chỉ coi Hiến pháp là một thứ “tập làm văn”, thì mọi suy luận về hệ quả của nó đối với thực tế cuộc sống là hoàn toàn vô nghĩa.

Đọc những điều mà ta đã và sẽ còn tiếp tục rút ra, chắc hẳn nhiều vị đại biểu Quốc hội giật mình, khi thấy rõ hơn hình hài cái Hiến pháp mà mình đã tắc trách nhấn nút “tán thành” lúc mới hiểu lõm bõm. Ngược lại, có thể một số vị đã trực tiếp tham gia viết và chỉnh sửa dự thảo Hiến pháp sẽ phản ứng và quả quyết rằng họ nghĩ hoàn toàn khác. Nhưng đối với văn bản Hiến pháp thì các tác giả nghĩ ra sao chỉ là chuyện phụ, điều quyết định là họ đã viết như thế nào. Bởi không phải cái tư duy quanh co hay ý đồ mập mờ của phía lập hiến, mà chính câu chữ, lời văn được thể hiện trong Hiến pháp mới xác định nội dung hiến định. Do đó, dù tuân theo nguyên tắc khách quan, ta chỉ cần dựa trên thực trạng văn bản Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua và đang có hiệu lực để suy luận, chứ không phải lệ thuộc vào những gì đã diễn ra trong đầu của thế lực cầm quyền và quân sư của họ.

Có lẽ do ỷ thế lập pháp, nên chủ quan mà đi sai nước cờ lập hiến. Bây giờ biết tính sao đây? Vừa thông qua Hiến pháp 2013 với sự tán thành gần như tuyệt đốichẳng nhẽ bây giờ Quốc hội lại đem nó ra mà tẩy xóa? Đã quả quyết rằngHiến pháp 2013 thể hiện được ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, ý Đảng hợp với lòng dân”, thì bây giờ Quốc hội có quyền bất chấp “nguyện vọng của Nhân dân” và “lòng dân” để sửa chữa nó hay không?

Trước sự cố ngoài ý muốn kiểu này, thông thường có ba cách xử lý như sau.

(1)  Quân tử nhất ngôn: Đành chấp nhận hậu quả do sai lầm của chính mình gây ra, thực hiện đúng văn bản Hiến pháp mà mình đã ban hành, dù trái ý và bất lợi cho nhà cầm quyền.

(2)  Kiên định & trung thực: Không muốn rời bỏ ý định vốn có, nên thẳng thắn thừa nhận sai lầm, xin lỗi và xin phép Nhân dân cho sửa chữa các lỗi đã phạm phải, để Hiến pháp thể hiện đúng ý định của thế lực cầm quyền, dù nó mới được thông qua, còn chưa ráo mực.

(3)  Ù lì bất chấp: Không chịu thừa nhận sai lầm, mà vẫn hành động theo ý mình, bất chấp hiện trạng của văn bản Hiến pháp.

Không hiểu Quốc hội (với tư cách cơ quan lập hiến) và thế lực thực quyền (điều khiển hành vi của Quốc hội) sẽ chọn cách nào?

* * * * * * * * * *

Phụ lục I

Điểm chung trong hai bản hiến pháp đầu tiên của chế độ này là một số quyền công dân được hiến định một cách đơn giản, vô điều kiện, không bị hạn chếHiến pháp 1946 quy định như sau:

Điều thứ 10

Công dân Việt Nam có quyền:

- Tự do ngôn luận

- Tự do xuất bản

- Tự do tổ chức và hội họp

- Tự do tín ngưỡng

- Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.”

Mười ba năm sau, Hiến pháp 1959 sửa lại thành:

Điều 25  Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó.”

Phụ lục II

Trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 2/1/2013)Điều 69 Hiến pháp 1992 đã được sửa lại như sau:

Điều 26  Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”

Điều gì thay đổi ở đây? Như đã phân tích trong bài “Teo dần quyền con người trong Hiến pháp”, họ xóa đi hai chữ “có quyền” trước đoạn “được thông tin” và trước đoạn “hội họp, lập hội, biểu tình”. Đồng thời, dùng chữ “được” (vốn dĩ chỉ là một thành phần của từ “được thông tin”) thay cho hai chữ “có quyền” ấy. Để làm gì? Để xóa bỏ những quyền cơ bản đó của công dân. Từ chỗ công dân luôn “có quyền” (kể cả khi không có luật hoặc chưa có luật liên quan), bây giờ bị tước“quyền”, và “quyền” bị hạ cấp xuống thành những thứ “được” ban phát. Mà “được… theo quy định của pháp luật” thì cũng có nghĩa là “chỉ được… theo quy định của pháp luật”. Tức là công dân “chỉ được” ban phát nếu nhà cầm quyền đã ban hành “quy định của pháp luật”. Khi nhà cầm quyền chưa muốn, lờ đi việc ban hành “quy định của pháp luật”, thì người dân sẽ không được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”. Qua đó ta thấy, nhà cầm quyền vẫn duy trì ý chí cản trở công dân thực thi các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền thông tin, quyền hội họp, lập hội, biểu tình.

Cuối cùng, trong Hiến pháp 2013 mới được thông qua, các tác giả đã bỏ từ “được” và thay nó bằng từ “tiếp cận”:

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình.” (Điều 25)

Như vậy là cụm từ “Công dân có quyền” ở đầu câu không còn bị chữ “được” chặn đường, mà có thể tác động liên thông tới tận từ “biểu tình” ở cuối câu.

Ngày 29 tháng 8 năm 2014

Cùng tác giả:

Đảng và Nhân dân – Vị thế bị tráo

Uẩn khúc trong Điều 4 Hiến pháp

Rủi cho Phương Uyên – May cho Dimitrov

Quốc hiệu nào hội tụ lòng Dân?

Chỗ đứng của Nhân dân trong Hiến pháp

Teo dần quyền con người trong Hiến pháp

Hai tử huyệt của chế độ

Bài học tồn vong từ thảm họa

Lực cản Nhà nước pháp quyền

Một số khía cạnh hình sự của vụ án Tiên Lãng – Hải Phòng

Nhân vụ Tiên Lãng bàn về công vụ

Quyền biểu tình của công dân

Phiêu lưu điện hạt nhân

Về huyền thoại điện hạt nhân giá rẻ

Mạn bàn về an toàn điện hạt nhân

 

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

2901. MỘT VẤN NẠN CỦA NỀN TƯ PHÁP – GIẢI QUYẾT ÁN KÉO DÀI

Posted by adminbasam on 27/08/2014

LS Ngô Ngọc Trai

26-08-2014

H1Trong những vụ án có thời gian giải quyết kéo dài như vụ Hàn Đức Long ở Bắc Giang (9 năm) hay vụ án Lê Bá Mai ở Bình Phước (10 năm) bị cáo phải chịu khổ là đương nhiên rồi. Nhưng phía gia đình bị hại cũng phải gánh chịu sự đau đớn kéo dài khi vết thương lòng không khép miệng mà cứ bị moi khoét ra mãi.

Đó là minh chứng rõ ràng cho thấy ngành tư pháp đang tồn tại một tệ trạng xấu là nhiều vụ án cứ giải quyết kéo dài mãi không có điểm dừng.

Chưa xử đã trả hồ sơ

Theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự hiện tại, tòa án sau nghiên cứu hồ sơ nếu thấy chưa đủ căn cứ để kết tội thì trả lại và yêu cầu điều tra bổ sung. Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng CSVN | 2 Comments »

2858. Tôi đã bị buộc tội hoạt động “bí mật” như thế nào?

Posted by adminbasam on 13/08/2014

LS Lê Công Định

12-08-2014

H1Vừa rồi một người bạn của tôi, đảng viên ĐCSVN, hỏi vì sao ngày xưa tôi dùng chi cả 7 điện thoại, đến nỗi khi bị bắt phía công an bày lên bàn chụp hình tất cả. Câu hỏi này tôi cũng thường nghe nhiều từ lúc ra tù. Nhân đây xin kể sự thật. Cho đến tháng 6/2009 tôi có hai số điện thoại, một cho giao dịch công việc và một cho quan hệ bạn bè, nên chỉ dùng 2 máy điện thoại mà thôi. Khi công an ập vào bắt tôi và khám xét văn phòng làm việc, họ lục tung các tủ đựng đồ đạc cá nhân của tôi và lôi ra mọi thứ, trong đó có 5 điện thoại đã hư mà tôi không còn sử dụng nữa.

Tôi giải thích đó là các điện thoại hư và không có sim bên trong, họ mở ra kiểm tra và cũng biết tình trạng như thế. Tuy nhiên, sau đó một người trong số họ bỗng dưng bày hết cả 7 điện thoại lên bàn và yêu cầu tôi ngồi yên phía sau. Tôi chưa kịp suy nghĩ mục đích của hành động đó, thì một người cầm máy ảnh từ ngoài cửa phòng bước vào chụp nhanh một tấm hình. Đến lúc ra tù tôi mới thấy bức ảnh này xuất hiện khắp nơi trên mạng như một bằng chứng rằng tôi đã có nhiều hoạt động bí mật, không đường đường chính chính, nên mới sử dụng cùng lúc nhiều điện thoại như vậy. Quả là khôi hài! Nghe tôi kể, người bạn đảng viên ĐCSVN lắc đầu, kết luận: “Nhà sản lắm chiêu trò quá! Tôi cũng thuộc nhà sản nhưng không nghĩ ra nổi mấy trò đó!”

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng CSVN | 1 Comment »

2820. Tuyên bố báo chí về chuyến thăm Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng

Posted by adminbasam on 01/08/2014

United Nation Human Rights

Heiner Bielefeldt

StatementVietnameseVersion31July2014-page-001
Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Tôn giáo, Đảng CSVN | 6 Comments »

2819. Kết quả của việc tranh đấu độc lập cho Đoàn Luật sư TP.HCM: LS Nguyễn Đăng Trừng bị khai trừ khỏi đảng

Posted by adminbasam on 31/07/2014

Tuổi Trẻ

Khai trừ Đảng ông Nguyễn Đăng Trừng

31/07/2014 18:53 (GMT + 7)

H1TTO – Ban thường vụ Thành ủy TP.HCM vừa có thông báo kết luận về thi hành kỷ luật đảng viên Nguyễn Đăng Trừng (bí thư Đảng đoàn, Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP.HCM).

Theo đó, Ban thường vụ Thành ủy TP quyết định thi hành kỷ luật đối với ông Trừng bằng hình thức khai trừ.

Theo kết luận trên, từ năm 2012, trong lãnh đạo, điều hành hoạt động của Đảng đoàn, ông Trừng đã có khuyết điểm, vi phạm, trong đó có việc thực hiện công tác phân công, bổ nhiệm, đề bạt một số cán bộ tại Đoàn Luật sư TP vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ của Đảng, vi phạm qui chế làm việc của Đảng đoàn; chỉ đạo chuẩn bị nhân sự Đại hội Đoàn Luật sư TP nhiệm kỳ VI (2013 – 2018) không đúng qui trình, thiếu công khai, minh bạch; phong cách lãnh đạo thiếu dân chủ, độc đoán, gia trưởng… Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng CSVN | 10 Comments »

2804. Vấn nạn bức cung nhục hình ở Việt Nam

Posted by adminbasam on 27/07/2014

BBC – Việt Ngữ

Luật sư Ngô Ngọc Trai

Bài tham gia Diễn đàn BBC Tiếng Việt

27-07-2014

H1

Ông Nguyễn Thanh Chấn đã phải chịu oan ức trong nhiều năm

Trong vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn, ông này đã phải khai nhận một tội mà mình không hề phạm. Vậy ông Chấn có phải đã bị bức cung nhục hình hay không, và có câu hỏi là lấy đâu ra chứng cứ chứng minh hành vi bức cung nhục hình?

Quy định của luật

Hiện chưa có con số thống kê cụ thể nhưng có thể hình dung số lượng các vụ án có tình trạng bức cung nhục hình ở Việt Nam là vô cùng lớn. Số trường hợp bị nhục hình thì không dám chắc nhưng nạn bức cung có khả năng xảy ra ở 100% các vụ án.

Vấn nạn bức cung phổ biến lớn rộng như thế không phải do một vài sai phạm nghiệp vụ mà nó có nguyên nhân từ chính sự cho phép của luật. Điều này có vẻ vô lý, luật nào cho phép được bức cung? Nhưng sự thực đúng là như thế.

Bộ Luật Tố tụng Hình sự đã quy định nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục hình, tức là chỉ chấp nhận những lời khai tự nguyện. Nếu bị cáo không tự nguyện khai báo thì thôi, không được sử dụng bất kỳ thủ pháp nghiệp vụ nào buộc người ta phải khai, vì luật cấm mọi hình thức truy bức.

Nhưng Bộ Luật Hình sự lại có điều luật xử phạt tù đối với hành vi từ chối khai báo, theo đó Điều 308 quy định về tội từ chối khai báo đã viết rằng: “Người nào từ chối khai báo hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể bị phạt tù từ ba tháng đến một năm”.

Lý do chính đáng ở đây là gì? Để tự bảo vệ tính mệnh và tự do của mình có phải là một lý do chính đáng không? Trường hợp nào mà bị cáo chẳng có lý do chính đáng là tự bảo vệ mình? Như thế thì trường hợp nào bị cáo cũng phải có quyền từ chối khai báo chứ?

Tại sao bị cáo lại phải nói ra những điều mà nó chính là chứng cứ để người ta kết tội lại mình? Có ai là người tự nguyện trong việc này?

Dọa nạt bỏ tù người ta nếu không chịu tự nguyện khai báo, đó chẳng phải là một hình thức bức cung thì là gì?

Như thế, chính quy định của luật đã tạo ra tình trạng bức cung nhục hình. Quy định như thế đã tạo cho điều tra viên tính hợp pháp về mặt luật pháp để bức cung, và giải thoát cho họ mặc cảm tội lỗi về mặt đạo đức nếu có. Và đó là lý do vì sao vấn nạn bức cung phổ biến ở hầu như 100% các vụ án.

Vấn đề của năng lực

Bí cáo Dương Chí Dũng cũng từng tố cáo trước Tòa mình bị bức cung

Bí cáo Dương Chí Dũng cũng từng tố cáo trước Tòa mình bị bức cung

Quy định của luật lệch lạc như thế không phải nhà làm luật không biết, mà họ có lý do để duy trì điểm mâu thuẫn vô lý đó.

Sự vô lý của luật thực ra là hệ quả phản ánh thực tế năng lực thực thi pháp luật của hệ thống tư pháp Việt Nam. Về mặt nghiệp vụ nếu không buộc được bị can khai báo thì điều tra viên không có đủ khả năng để xét đoán sự việc và điều tra nghi phạm.

Hoạt động điều tra là lần theo manh mối dấu vết tội phạm, mà muốn làm được điều này thì phải có khả năng xét đoán, ngoài ra cần có trang thiết bị máy móc hiện đại phục vụ cho công tác điều tra.

Nhưng ở Việt Nam thì cả hai vấn đề này đều thiếu, điều tra viên thì kém năng lực, thế mạnh chủ yếu dựa vào việc áp chế người khác, thể hiện qua việc bắt bớ giam cầm, bức cung nhục hình buộc phải khai nhận. Về mặt trang thiết bị máy móc thì có lẽ cũng còn thiếu sự đầu tư nhất định.

Vì tình hình thực tế như vậy cho nên khi soạn luật người ta đã lần lựa đưa vào hay bỏ ra các quy định như thế nào để phù hợp với năng lực thực tế của cơ quan điều tra.

Tức là nhà làm luật đã không được tự do thoải mái đứng hẳn về phía các chế định pháp lý văn minh tiến bộ.

Hệ quả là có những quy định luật mang tính nửa vời, vừa tỏ ra tiến bộ, nhưng xét kỹ lại là lổng hổng.

Tại sao luật không quy định bị cáo được quyền giữ im lặng và chỉ đồng ý khai báo khi có sự tham gia của luật sư bào chữa, như vậy sẽ đảm bảo tiệt nọc tình trạng bức cung nhục hình? Mà lại chỉ quy định nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục hình, trong khi cả hai lối quy định cũng chỉ nhằm một mục đích là đảm bảo những lời khai phải là tự nguyện?

 

Đây là một chế định pháp lý văn minh tiến bộ để bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân, không thể không đưa vào luật. Nhưng các nhà làm luật đã sử dụng xảo thuật để vừa tỏ ra tôn trọng chân giá trị vừa tìm cách đáp ứng đòi hỏi thực tế của hoạt động điều tra trong khi giải thoát cho mình khỏi mặc cảm tội lỗi ở khâu làm luật.

Các nhà soạn luật hẳn đã tự biện minh rằng, chúng tôi đã quy định nghiêm cấm mọi hình thức bức cung nhục hình rồi, còn thực hiện như thế nào là do thực tế và đó là trách nhiệm của cơ quan điều tra.

Họ đã bỏ qua tình hình thực tế về điều kiện giam giữ người và quy trình làm việc không bị giám sát của cơ quan điều tra. Thực tế như vậy cộng hưởng với quy định lập lờ nửa vời của luật đã dẫn đến vấn nạn bức cung nhục hình phổ biến rộng khắp.

Cho nên vấn nạn bức cung nhục hình phải giải quyết ở khâu soạn luật chứ không chỉ giải quyết ở khâu thực thi pháp luật.

Các nhà soạn luật cũng tìm cách để xoa dịu hậu quả của tình trạng bức cung nhục hình bằng cách đưa vào chế định rằng nếu thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải sẽ được đánh giá là tình tiết giảm nhẹ để giảm mức án cho bị cáo.

Việc này cũng giúp lấp liếm đi tình trạng bức cung của cơ quan điều tra. Có những vụ án bị cáo ban đầu chối bay chối biến, sau khi bị bức cung nhục hình thì đã khai nhận hành vi phạm tội, đến khi xét xử lại được đánh giá là thành khẩn khai báo và được giảm án.

Biết bao nhiêu vụ án đã như vậy, nhưng chẳng mấy ai thắc mắc là vì đâu bị cáo thay đổi lời khai từ chối tội sang nhận tội.

Vấn đề niềm tin

Vấn nạn bức cung nhục hình không chỉ phản ánh năng lực trình độ của cán bộ điều tra mà nó còn phản ánh nhận thức lệch lạc của những người giải quyết án, bao gồm cả kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư.

Ở Việt Nam lâu nay người ta đặt rất nặng vấn đề chứng cứ và yêu cầu việc xử án phải theo chứng cứ. Nhận thức này xem qua thì cho đó là lối làm việc khách quan khoa học đảm bảo tính chắc chắn và thực ra thì việc đòi hỏi phải có chứng cứ là tốt và đương nhiên.

Nhưng nó sẽ là sai lầm nếu coi chứng cứ là vấn đề duy nhất khi giải quyết một vụ án.

Trong vụ oan sai của ông Nguyễn Thanh Chấn, khi nêu ra vấn đề cần xử lý các điều tra viên về tội bức cung nhục hình thì có ý kiến thắc mắc là lấy đâu ra chứng cứ chứng minh việc bức cung nhục hình?

Đây thực ra là một nhận thức sai lệch nghiêm trọng của không chỉ người dân mà cả các chuyên gia về luật, mà từ đó góp phần tạo nên vấn nạn bức cung nhục hình.

Chúng ta biết rằng chứng cứ nhằm để chứng minh, chứng minh nhằm để thuyết phục, vậy nếu sự việc đã đủ sức thuyết phục rồi, sự thật đã hiển nhiên rồi thì không cần phải chứng minh nữa và không cần chứng cứ.

Ông Chấn nếu không bị bức cung nhục hình thì tại sao lại nhận một tội mà mình không hề phạm? Mà cái tội đó nào có nhẹ nhàng gì, nếu bố ông Chấn không phải là liệt sĩ nên ông Chấn được giảm án thì có lẽ ông đã bị tử hình rồi.

Việc ông Chấn bị bức cung nhục hình là điều không còn có thể tranh cãi nữa.

Mặc dù không hề có chứng cứ nhưng chúng ta có thể xác quyết bằng niềm tin.

Niềm tin nội tâm

Trong lĩnh vực tư pháp có một khái niệm là “niềm tin nội tâm”. Niềm tin này là cơ sở xét đoán của mọi người tham gia vào hoạt động xét xử. Cả điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư đều phải dựa vào niềm tin nội tâm để xét đoán sự việc.

Bởi vì tất cả những người này dù thế nào đi nữa thì họ cũng không phải là bị cáo, họ không thể chắc chắn bị cáo có phải là hung thủ hay không. Cho nên khi quy kết buộc tội hay bào chữa gỡ tội chỉ có thể dựa vào niềm tin nội tâm.

Niềm tin nội tâm được tạo thành từ những hiểu biết về vụ án thông qua các tài liệu chứng cứ, qua nghiên cứu hiện trường, hồ sơ vụ án, thông tin về nhân thân bị cáo …

Ở Việt Nam lâu nay, khi xét xử người ta ít sử dụng đến niềm tin nội tâm, và khái niệm niềm tin nội tâm chỉ nằm gọn hạn hẹp trong các nghiên cứu về học thuật. Lý do có lẽ vì niềm tin là thành tố có tính tôn giáo trong khi chính thể hiện tại là vô thần.

Thay vì xét xử dựa vào niềm tin nội tâm trong đó chứng cứ chỉ là một thành tố tạo thành (ngoài chứng cứ còn cần trình độ kinh nghiệm để tạo nên niềm tin xét đoán), việc xét xử hiện nay đặt nặng vào chứng cứ, chứng cứ thế nào không quan trọng, miễn là phải có chứng cứ.

Nếu giải quyết án cứ phải có chứng cứ rõ ràng thì chỉ cần một người phán quyết là đủ, cần gì phải hội đồng nhiều người, và cũng chỉ cần một lần xét xử là được cần gì phải qua hai cấp?

Cái lối xét xử đặt nặng chứng cứ mà không dựa vào niềm tin nội tâm sẽ không lý giải được là dựa vào đâu mà người ta có thể tuyên án trong khi vụ án có cả chứng cứ kết tội và chứng cứ gỡ tội.

Vì nhận thức như thế nên trong lối làm việc người ta phải tìm ra bằng được chứng cứ. Luật cũng phụ họa cho việc này khi bỏ qua đòi hỏi về tính khách quan đã quy định lời khai của bị can cũng là chứng cứ.

Và khi gặp khó khăn trong các lối điều tra khác thì dễ dàng nhất là tiến hành bắt giam bức cung buộc bị can phải khai báo.

Đó là lý do vì sao tình trạng bức cung nhục hình tràn lan như hiện nay.

Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn của luật sư Ngô Ngọc Trai, Giám đốc Công ty luật Công chính từ Hà Nội.

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 4 Comments »

2799. Toà án VN ‘không nhân danh công lý’

Posted by adminbasam on 26/07/2014

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 5 Comments »

2717. Xung đột giữa Đoàn Luật sư TP.HCM và Liên Đoàn Luật sư Việt Nam

Posted by adminbasam on 28/06/2014

 

H1 Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật | 12 Comments »

2595. Hiến pháp và giải pháp cho vụ dàn khoan

Posted by adminbasam on 28/05/2014

Luật sư Ngô Ngọc Trai

28-05-2014

Hành động ngang ngược của Trung Quốc cắm dàn khoan trên vùng biển do Việt Nam quản lý đã làm sao nhãng sự quan tâm của dân chúng đến việc triển khai thi thành Hiến pháp sửa đổi.

Dàn khoan và Hiến pháp đều là những vấn đề ảnh hưởng to lớn đến sự đi lên của đất nước. Tuy không mấy liên quan nhưng việc diễn giải triển khai Hiến pháp theo hướng nào sẽ tạo động lực hoặc kìm hãm đất nước phát triển, từ đó mà có được hay không lời giải lối ra cho những vụ dàn khoan về sau. Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Chủ quyền đất nước, Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | 9 Comments »

2590. Có phải bản chất của xã hội dân sự là “khoảng đệm” và phi chính trị?

Posted by adminbasam on 26/05/2014

Boxit Vietnam

Tống Văn Công

26-05-2014

Phóng sự “Đe dọa từ phương Bắc và xã hội dân sự Việt Nam” của ký giả Trọng Thành (RFI ngày 21-5-2014) có nhiều thông tin bổ ích và nhận định sắc sảo. Để hiểu xã hội dân sự là gì, tại sao xã hội dân sự lại hệ trọng đến vậy, và những gì làm nên xã hội dân sự Việt Nam, tác giả đã mời nhà nghiên cứu Lữ Phương giải đáp một cách rất ngắn gọn, rành mạch và dễ hiểu. Đặc biệt tác giả quan tâm một số nhận định rất hệ trọng trong bài “Những ước vọng của một người dân” của Tiến sĩ Phạm Gia Minh:

“Ở Việt Nam xã hội dân sự đang bị chính trị hóa bởi cả hai phía – Nhà nước thì quản lý chặt chẽ một hệ thống các cấp Hội và Hiệp Hội nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị đề ra, trong khi đó phong trào tự phát trong dân thành lập các tổ chức như Diễn đàn xã hội dân sự, Hội các bloger, Hội dân oan… nhìn chung cũng mang nặng màu sắc chính trị và bầu không khí chung là nghi kỵ và đối đầu nhau một cách không đáng có”. Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật | 4 Comments »

2589. TS. Nguyễn Quang A: “TRÁI TIM NHẦM CHỖ ĐỂ TRÊN ĐẦU”

Posted by adminbasam on 26/05/2014

Dân Quyền

Nguyễn Quang A

26-05-2014

Không đứa trẻ Việt Nam nào không biết câu đánh giá “trái tim nhầm chỗ để trên đầu” về sai lầm của Mỵ Châu và vua cha đã dẫn đến thảm họa cho dân tộc. Đó là một nét hay trong văn hóa Việt Nam: chúng ta biết tự phê phán mình. Và tư duy phê phán ấy phải được nuôi dưỡng, khuyến khích để tạo nên sức mạnh của dân tộc này.

Đáng tiếc chế độ toàn trị đã tìm mọi cách hủy diệt tư duy phê phán và trong cái tội tầy đình này với dân tộc thì cảnh sát tư tưởng đứng ở vị trí hàng đầu. Cảnh sát thông thường cung cấp cho dân chúng những dịch vụ thiết yếu: buộc thực thi pháp luật, trật tự, sự bình yên, trấn áp tội phạm; để đổi lại nhân dân phải đóng thuế để nuôi lực lượng đó và trong bất cứ chế độ nào đều cần đến cảnh sát. Tuy vậy, cảnh sát tư tưởng, lực lượng phản động nhất, phản dân tộc và dân chủ nhất chỉ tồn tại trong các chế độ độc tài và nó không mang lại bất cứ giá trị nào cho xã hội ngoài sự hủy hoại và sự đồi bại. Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Chủ quyền đất nước, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 4 Comments »

NGUYỄN HỮU VINH BỊ BẮT, NHƯNG BA SÀM THÌ KHÔNG!

Posted by adminbasam on 09/05/2014

H00“Trung Quốc rồi sẽ đánh Việt Nam. Nhưng dù chiến tranh hay hòa bình, vẫn có một mạch ngầm luôn luôn chảy, đó là mạch ngầm khai dân trí”.

Anh Ba Sàm (Nguyễn Hữu Vinh) đã nói với chúng tôi như vậy từ bốn năm trước, khi trang Ba Sàm bắt đầu là một “điểm nóng chính trị” trong cộng đồng mạng, và anh rất ý thức được rằng mình đang phải đối mặt với nguy hiểm.

Thành lập từ ngày 9-9-2007, blog Ba Sàm đã đi cùng với mạch ngầm khai dân trí mà nhiều thế hệ người Việt Nam đã và đang đi, đồng thời tận dụng tối đa các tiện ích của Internet để mang tri thức đến cho mọi người. Từ những bài báo và bài dịch đầu tiên của Nguyễn Hữu Vinh trên blog Yahoo!360, cho đến sau này là các bài điểm tin trên hệ thống WordPress và sự đóng góp bài vở của rất nhiều biên tập viên, cộng tác viên, Ba Sàm đã mở ra một không gian báo chí tự do hơn, cởi mở hơn, nơi tri thức và sự tử tế được trân trọng và thúc đẩy hàng ngày.

Đọc tiếp »

Posted in Báo chí, Biển Đông/TS-HS, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật | 66 Comments »

2506. Bản lên tiếng của MLBVN về việc blogger Anh Ba Sàm – Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thuý bị bắt khẩn cấp

Posted by adminbasam on 06/05/2014

Mạng Lưới Blogger Việt Nam

 

H1

Vào ngày 5 tháng 5 năm 2014, Cơ quan An ninh điều tra (CQANĐT) thuộc Bộ Công an đã thực hiện lệnh khám xét và bắt khẩn cấp đối với hai công dân là ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy. Trong đó, ông Nguyễn Hữu Vinh là một blogger nổi tiếng được nhiều người biết đến với tên gọi Anh Ba Sàm và là người sáng lập trang web basam.info đã đóng góp rất nhiều cho Tự do Ngôn luận tại Việt Nam.

Trước hành vi bắt người dựa trên sự suy diễn và áp dụng tùy tiện Điều luật 258 như trên, Mạng lưới Blogger Việt Nam (MLBVN) có những nhận định như sau:

1. Nếu ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy bị bắt với lý do “đã có hành vi đăng tải các bài viết trên mạng Internet nội dung xấu, thông tin sai lệch làm giảm uy tín, mất lòng tin trong nhân dân về cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công dân” thì:

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

2461. MẤY SUY NGHĨ VỀ TÌNH HÌNH, NHIỆM VỤ HIỆN NAY

Posted by News on 28/03/2014

Lê Hồng Hà

Việc phân tích tình hình đất nước và tìm con đường tiến lên là một vấn đề cực kỳ phức tạp, khó khăn, đòi hỏi một sự tổng hợp và đóng góp của hàng trăm ngàn người. Đây chỉ là một sự tham gia nhỏ nhoi vào công việc chung đó mà thôi. Dù sao thì đó cũng là 1 sự phản biện.

 ***

I

 1. Nhờ sự phát huy truyền thống cứu nước của cha ông ta trong lịch sử, mà nhân dân ta đã tiến hành Cách mạng Tháng 8 và giải phóng đất nước thành công. Đó là công lao vĩ đại của nhân dân ta, có sự đóng góp quan trọng của các nhà yêu nước, đặc biệt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Chúng ta phải biết ơn nhân dân, các nhà yêu nước, đặc biệt là Đảng Cộng sản dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh.

 

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Khối XHCN sụp đổ, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | 1 Comment »

2252. LS NGÔ NGỌC TRAI: KIẾN NGHỊ THỨ 2 VỀ CẢI CÁCH THỂ CHẾ

Posted by adminbasam on 20/01/2014

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

——–o0o——–

Nam Định, ngày 20 tháng 1 năm 2014

KIẾN NGHỊ THỨ 2 VỀ CẢI CÁCH THỂ CHẾ

(Nâng cao năng lực giám sát và tính chuyên trách của đại biểu Hội đồng nhân dân để chống tham nhũng và xây dựng đất nước)

Kính gửi:

- TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

- CHỦ TỊCH NƯỚC TRƯƠNG TẤN SANG

- CHỦ TỊCH QUỐC HỘI NGUYỄN SINH HÙNG

- THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ NGUYỄN TẤN DŨNG

- CÁC ỦY VIÊN TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

- CÁC ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẢ NƯỚC

 

I/ NGƯỜI KIẾN NGHỊ

Tôi là: Ngô Ngọc Trai
Trưởng Văn phòng luật sư Ngô Ngọc Trai và Cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh Nam Định

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Phản hồi đã bị khóa

2249. Hiến pháp – Thông điệp – Thực tế

Posted by adminbasam on 20/01/2014

Phạm Đình Trọng

20-01-2014

1. Ngay ngày đầu năm 2014, một tình huống bi hài đã diễn ra trong đời sống xã hội Việt Nam.

1.1.2014, ngày đầu tiên thực thi Hiến pháp 2013, một Hiến pháp lạm phát cao nhất những mỹ từ về Nhân dân. “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân… Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân…” (Điều 2). Nhân dân được mơn trớn, vuốt ve, đề cao đến mức tất cả danh từ chung “nhân dân” trong Hiếp pháp 2013 đều được đặc cách viết hoa.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | Phản hồi đã bị khóa

2135. Tuyên bố về Hiến pháp sửa đổi

Posted by adminbasam on 30/11/2013

Quốc hội khóa XIII, tại kỳ họp thứ 6, ngày 28-11-2013 đã thông qua và ra nghị quyết thực hiện bản Hiến pháp vẫn giữ nội dung cơ bản của thể chế chính trị như Hiến pháp 1992, mặc dù đã nhận được yêu cầu của nhiều người nặng lòng vì nước đòi dừng việc thông qua Hiến pháp sửa đổi, trả quyền hiến định cho nhân dân. Quốc hội khóa XIII đã thông qua một bản hiến pháp thể chế hóa cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), coi thường nguyện vọng của đông đảo nhân dân muốn xây dựng một hiến pháp làm nền tảng cho một chế độ dân chủ với nhà nước pháp quyền thật sự của dân, do dân và vì dân.  Như vậy, Quốc hội khóa XIII đã tự chứng tỏ không đại diện cho nhân dân và phải chịu trách nhiệm trước lịch sử và dân tộc; hiến pháp này không thật sự là hiến pháp của nhân dân và người dân có thể sử dụng quyền bất tuân dân sự của mình.

Đọc tiếp »

Posted in Hiến pháp | Phản hồi đã bị khóa

2133. Việt Nam ơi, đừng tuyệt vọng!

Posted by adminbasam on 29/11/2013

29-11-2013

Ở khắp Việt Nam và trên toàn thế giới những người quan tâm đến Việt Nam hiện đang cố hiểu ý nghĩa (hay sự vô nghĩa) của các sự kiện diễn ra hôm Thứ Năm, khi Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (và Đảng Cộng sản cầm quyền) chính thức phê chuẩn hiến pháp được sửa đổi sau hơn một năm tranh luận với mức độ công khai trước nay chưa từng thấy về các ưu điểm và khiếm khuyết của một hiến pháp vẫn giữ nguyên hiện trạng. Ngay lúc này có thể có ba nhận định rất thích hợp như sau.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | Phản hồi đã bị khóa

2129. NGÀY MAI QUỐC HỘI TỰ THÚ TRƯỚC DÂN

Posted by adminbasam on 27/11/2013

Phạm Đình Trọng

Từ lâu người dân Việt Nam đã thừa biết Quốc hội này là của ai. Nhưng hàng ngày cả hệ thống truyền thông đông đảo với công suất cực lớn của Nhà nước Cộng sản Việt Nam, những quan chức của Đảng và Nhà nước Cộng sản Việt Nam, những ông bà nghị sĩ của Quốc hội Việt Nam vẫn rổn rảng, vẫn véo von, vẫn ào ạt, cấp tập, xối xả rằng Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhân Dân, Quốc hội thể hiện ý chí và nguyện vọng của Nhân Dân. Thực chất có đúng như vậy không, ngày mai, thứ năm, 28.11.2013, Quốc hội sẽ phải tự thú trước Nhân Dân, trước lịch sử khi những ông nghị, bà nghị biểu quyết quyết định số phận bản Hiến pháp năm 2013.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: , | Phản hồi đã bị khóa

2122. Hiến pháp, khoa học, lợi ích và thực tế: Phần IV- Hiến pháp 2013 và xã hội dân sự

Posted by adminbasam on 22/11/2013

TS Nguyễn Sỹ Phương – CHLB Đức

(Tiếp theo Phần I - Phần IIPhần III)

*Phần IV- Hiến pháp 2013 và xã hội dân sự

I) Khoa học về xã hội dân sự. Lịch sử xã hội dân sự được coi khởi đầu từ hiệp hội anh em “La Court de Bonne Compagnie“  thành lập năm 1413 ở Anh.  Ngày nay, khái niệm đó dùng để chỉ các hội đoàn, các phong trào, các hoạt động của người dân, có các dấu hiệu đặc trưng: – Tự nguyện, từ tâm; – Không vì lợi ích riêng cá nhân; – Không do nhà nước hay đảng phái tổ chức điều khiển; – Không khép kín trong quan hệ gia đình. Nếu đối chiếu với học thuyết Mác về mô hình nhà nước cộng sản tương lai không còn đóng vai trò “thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác“, mà chỉ là “những tổ chức công dân tự quản“, thì xã hội dân sự hiện nay đúng với tính chất tự quản đó. Xã hội dân sự còn được các nhà  xã hội học mô hình hoá thành khoảng không gian công cộng nằm giữa 3 thành tố: 1- Nhà nước, hoạt động bằng quyền lực, hành xử bởi lợi ích và trách nhiệm pháp lý chi phối. Vì lợi ích và trách nhiệm đó, người ta có thể bắn vào đoàn biểu tình; nghiền họ bằng xích xe tăng như vụ Thiên An Môn 1989; tra tấn bức cung nhục hình nghi phạm, miễn để hoàn thành trách nhiệm. 2- Thị trường, hoạt động bằng trao đổi hàng hoá, nhằm lợi ích kinh tế. Thậm chí “lãi suất 300% thắt cổ họ cũng sẵn sàng – Các Mác“. 3- Gia đình, hoạt động bằng tình cảm riêng tư, bị chi phối bởi động cơ “một giọt máu đào hơn ao nước lã“. Nếu thể hiện bằng hình ảnh sẽ cho ta một hình tròn lớn XÃ HỘI, trong đó có 3 hình tròn nội tiếp với hình tròn lớn và ngoại tiếp với nhau. Ba hình tròn nội tiếp đó là nhà nước, thị trường và gia đình. Khoảng giữa 3 hình tròn chính là xã hội dân sự.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Hiến pháp | Phản hồi đã bị khóa

2115. TS Cù Huy Hà Vũ góp ý cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992

Posted by adminbasam on 17/11/2013

Kính gửi Qúy Báo,

Ngày 4/10/2013, công dân Cù Huy Hà Vũ đã thông báo cho vợ là Ls Nguyễn Thị Dương Hà biết: Thực hiện chủ trương của Quốc Hội và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hưởng ứng phong trào Lấy ý kiến cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 của Trại giam số 5 Bộ Công an – Yên Định – Thanh Hóa, ngày 30/9/2013, công dân Cù Huy Hà Vũ đã gửi bài góp ý Sửa đổi Hiến pháp 1992 tới Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 qua đường Bưu điện của Trại giam số 5 Bộ Công an.

Đọc tiếp »

Posted in Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | Tagged: , | Phản hồi đã bị khóa

2112. Kính báo

Posted by adminbasam on 17/11/2013

Sáng ngày 15 tháng 11 năm 2013, trên nhiều trang mạng trong và ngoài nước đồng loạt phát đi Lời kêu gọi dừng thông qua Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2013) với 165 người ký tên. Cũng ngay trong buổi sáng 15-11, TS Nguyễn Quang A thay mặt 165 người, gửi đến ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng toàn văn Lời kêu gọi kèm theo đầy đủ danh sách, mong muốn thông qua ông Chủ tịch kịp thời thông báo tới tất cả các vị đại biểu Quốc hội đang họp tại Hà Nội.

Đọc tiếp »

Posted in Hiến pháp | Tagged: , , | Phản hồi đã bị khóa

2110. LỜI KÊU GỌI DỪNG VIỆC THÔNG QUA DỰ THẢO HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM NĂM 1992 (SỬA ĐỔI 2013)

Posted by adminbasam on 16/11/2013

Kính gửi Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII,

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, như đang được thảo luận và chuẩn bị thông qua tại Kỳ họp thứ 6 của Quốc hội khóa XIII, về cơ bản vẫn như Hiến pháp hiện hành, thậm chí có một số điểm còn thụt lùi hơn trước. Điều đó có nghĩa là vẫn duy trì một nền tảng pháp lý lỗi thời của thể chế toàn trị, là nguồn gốc đã gây ra cho đất nước và nhân dân rất nhiều thảm họa, đặc biệt là cuộc khủng hoảng trầm trọng về chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội mà cả nước đang lâm vào và vẫn chưa có lối thoát.

Đọc tiếp »

Posted in Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , | Phản hồi đã bị khóa

2105. Hiến pháp, khoa học, lợi ích và thực tế: Phần II- Chế độ chính trị nhìn dưới góc độ khoa học và lợi ích

Posted by adminbasam on 13/11/2013

TS Nguyễn Sỹ Phương – CHLB Đức

(Tiếp theo Phần I)

Phần II-  Chế độ chính trị nhìn dưới góc độ khoa học và lợi ích

I) Nhìn dưới góc độ khoa học chính trị. Với lời mở đầu và chương I Chế độ chính trị gồm 13 điều, Dự thảo Hiến pháp nước ta năm 1992 sửa đổi năm 2013 (HPSD 2013), tương tự  Hiến pháp các nước khối XHCN, như Hiến pháp Liên Xô sửa năm 1990, Hiến pháp CHDC Đức sửa năm 1974, Hiến pháp Trung Quốc sửa năm 2004, Hiến pháp Triều Tiên sửa năm 1993, Hiến pháp Cu Ba sửa năm 2002…, đều dựa trên tiền đề Nhà nước XHCN (xem Phần I, mục II, điểm 1).

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Hiến pháp | Phản hồi đã bị khóa

2103. THƯ GỬI ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TP. HỒ CHÍ MINH ĐANG THAM DỰ KỲ HỌP QUỐC HỘI LẦN THỨ 6

Posted by adminbasam on 12/11/2013

Kính thưa quý‎ vị đại biểu!

Chúng tôi, một số trí thức, nhân sĩ, cử tri của thành phố Hồ Chí Minh trân trọng gửi đến quý vị kiến nghị sau đây :

1. Qua theo dõi thông tin về kỳ họp Quôc hội với những trao đổi thảo luận và những ý kiến phát biểu tại diễn đàn cũng như một số kết luận của đoàn chủ tịch về nội dung bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp và Luật Đất đai, chúng tôi biết được rằng, một số đại biểu của thành phố ta đã có cố gắng trình bày một số ý kiến và đòi hỏi bức xúc của cử tri thành phố, chúng tôi đánh giá cao những cố gắng đó mà phát biểu của đại biểu Trương Trọng Nghĩa, đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm là những ví dụ cụ thể. Đọc tiếp »

Posted in Hiến pháp, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , | Phản hồi đã bị khóa

2093. Bảng vàng thành tích oanh liệt 80 năm của “đảng ta”

Posted by adminbasam on 06/11/2013

Diễn đàn Xã hội Dân sự

06-11-2013

(VÀI LỜI NHẮN GỬI ĐẠI BIỂU “CUỐC” HỘI HOÀNG ĐĂNG QUANG) *

Một độc giả

NHỮNG “THÀNH TỰU” VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CSVN 80 NĂM QUA SỰ THẬT LÀ NHƯ THẾ NÀO? ĐẢNG CSVN CÓ THẬT SỰ XỨNG ĐÁNG ĐỂ NGƯỜI DÂN “CHỌN MẶT GỬI VÀNG”(MẶC ĐỊNH VÔ HẠN LÀ NGƯỜI LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC) KHÔNG? Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Hiến pháp, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , | Phản hồi đã bị khóa

Hiến pháp, khoa học, lợi ích và thực tế: Phần I- Thước đo nào cho một văn bản Hiến pháp?

Posted by adminbasam on 05/11/2013

TS Nguyễn Sỹ Phương – CHLB Đức

04-11-2013

*Phần I- Thước đo nào cho một văn bản Hiến pháp ?

Một con sói xuống uống nước phía thượng nguồn, nhác thấy một con cừu uống nước phía hạ nguồn liền quát, sao mày dám làm đục dòng nước ta uống, ta sẽ ăn thịt mày. Câu chuyện ngụ ngôn chân lý thuộc về kẻ mạnh của phương Tây trên cho một hình ảnh giữa khoa học (ở đây là quy luật dòng chảy) và cách thức xử sự đối với khoa học đó tùy thuộc lợi ích sử dụng nó (ăn thịt con cừu). Khác với loài vật chỉ hành động bản năng theo lợi ích, loài người có  ý thức, lợi ích chỉ mới là điều kiện cần đạt tới, muốn thành công phải bảo đảm khoa học tức điều kiện đủ, không thể bất chấp khoa học như sói coi nước chảy ngược được. Hậu hoạ có thể rút ra từ câu chuyện cổ tích “Bộ quần áo mới của Hoàng đế“. Để đạt được lợi ích buộc ai cũng phải thừa nhận bộ quần áo mới, Hoàng Đế dựa vào “học thuyết“, chỉ những ai trung thành hoặc không trễ nại mới có thể nhìn thấy nó. Học thuyết đó bị phá sản làm lợi ích bộ quần áo mới cũng mất nốt, khi trẻ em vốn không bị chi phối bởi lợi ích nào cả, trông thấy, reo lên, “Hoàng Đế cởi truồng“ bác bỏ học thuyết trên. Ý nghĩa câu chuyện này còn minh chứng cho nguyên lý, thực tế là thước đo của khoa học, chứ không phải quyền lực hay lợi ích. Thừa nhận khoa học, nhưng sử dụng nó không tính kỹ tới tương quan lợi ích đạt được chắc chắn thất bại. Thuyết tương đối Einstein tới nay được cho là đúng, nhưng công thức tính vận tốc, quãng đường, thời gian của nó thực tế không dùng, ngoại trừ nghiên cứu khoa học, bởi vô nghĩa. 

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | Phản hồi đã bị khóa

2010. KHÔNG TRUNG THỰC TRONG ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP

Posted by adminbasam on 01/09/2013

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

LỜI THƯA. Khi bắt đầu viết, bài này có tựa Đảng Cộng Sản Việt Nam Với Lợi Ích Dân Tộc Việt Nam. Mới gõ phím được hơn trang, người viết được đọc bài Uẩn Khúc Trong Điều 4 Hiến Pháp, thấy giáo sư Hoàng Xuân Phú đã soi rọi rất tinh tế, chính xác xảo thuật ngôn từ mà những người soạn thảo HP (Hiến pháp) đã sử dụng giúp ĐCSVN (đảng Cộng sản Việt Nam) không bị ràng buộc vào bất kì điều nào của HP để ĐCSVN điềm nhiên đứng ngoài và đứng trên HP.

Bài viết của tôi, tập trung chỉ ra điều 4 HP ghi: ĐCSVN .  .  . đại biểu trung thành lợi ích của cả dân tộc Việt Nam là hoàn toàn không đúng sự thật. Trong lịch sử hoạt động, ĐCSVN luôn luôn thí bỏ lợi ích dân tộc thiết thực để theo đuổi lợi ích giai cấp hư vô của đảng.

Bài viết của giáo sư Hoàng Xuân Phú chỉ ra sự khuất tất trong xảo thuật ngôn từ của điều 4 và trong toàn HP. Bài viết của tôi chỉ ra sự thiếu trung thực của điều 4 HP. Hai bài là hai vế đối về sự bất minh của điều 4 HP. Vì thế tôi thấy cần thay đổi tựa bài để là một vế song hành về ý tứ với bài của giáo sư Hoàng Xuân Phú.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | Phản hồi đã bị khóa

1878. GÓP Ý TIẾP VỀ HIẾN PHÁP VÀ LUẬT ĐẤT ĐAI

Posted by adminbasam on 04/07/2013

BoxitVietNam

Kính gửi Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Đồng kính gửi: – Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 5 vừa qua đã quyết định tiếp tục tiếp nhận ý kiến nhân dân để hoàn thiện Dự thảo sửa đổi Hiến pháp và Luật đất đai trình Quốc hội xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 6 vào cuối năm nay.

Chúng tôi, những người soạn thảo và ký kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp (thường được gọi tắt là Kiến nghị 72 vì mang chữ ký trực tiếp của 72 người) đã có bản phản đối dự thảo sửa đổi Hiến pháp trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 5 (gửi tới Quốc hội ngày 3-6-2013), nay cùng một số người khác có ý kiến tiếp như sau:

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp | Tagged: , | 72 Comments »

1642. GS PHAN ĐÌNH DIỆU GÓP Ý VỀ DỰ THẢO HIẾN PHÁP NGÀY 12-03-1992

Posted by adminbasam on 24/02/2013

GÓP Ý KIẾN VỀ DỰ THẢO HIẾN PHÁP

Phát biểu của ông Phan Đình Diệu tại Hội nghị ủy ban Trung ương Mặt trận Tồ quốc Việt nam ngày 12 tháng 3 năm 1992.

Kính thưa Đoàn chủ tịch,

Kính thưa tất cả các vị đại biều,

Tôi xin phép có một số ý kiến tham gia cuộc thảo luận kỳ này – tức là về dự thảo Hiến pháp.

Ý KIẾN THỨ NHẤT: Chúng ta đang sống trong một tình hình mà đất nước và thế giới có rất nhiều vấn đề cần được nhận thức và lý giải một cách tỉnh táo. Về những khó khăn của đất nước, tôi xin không phải nói lại. Nhưng vấn đề cốt lõi là hiện nay đất nước đòi hỏi gì? Theo tôi nghĩ, cái lớn nhất mà đất nước đòi hỏi là phải phát huy được tất cả mọi năng lực của tất cả các thành viên cùa dân tộc trong tinh thần đoàn kết, hòa hợp, tự cường để đưa đất nước thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng và tiến kịp với thế giới. Phải trên cơ sở phát huy thật sự mọi năng lực của dân tộc thì mới có thể tận dụng được những thành tựu của thế giới hiện đại, tận dụng được những khả năng hợp tác với bên ngoài, và do đó, mới có thể sử dụng được mọi thuận lợi để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, có cuộc sống no ấm hạnh phúc trong cộng đồng thế giới đang bước sang một giai đoạn văn minh mới.

Đọc tiếp »

Posted in Hiến pháp, Pháp luật, Sửa đổi Hiến pháp | 121 Comments »

1641. Vì sao cần kiến nghị sửa đổi hiến pháp?

Posted by adminbasam on 24/02/2013

Vì sao cần kiến nghị sửa đổi hiến pháp?

(Nhân sự kiện Kiến nghị Hiến pháp của sinh viên – cựu sinh viên Luật)

Nguyễn Anh Tuấn (*)

24-02-2013

Vì sao các kiến nghị về Hiến pháp lại nở rộ thời gian qua? Phải chăng những người tham gia kiến nghị ngây thơ về chính trị? Không. Hoàn toàn không. Họ thừa hiểu nhà cầm quyền sẽ phớt lờ ý kiến của họ. Nhưng họ vẫn làm, vì hơn ai hết, họ hiểu rằng, điều cần hơn cho xã hội Việt Nam lúc này và mai sau là sự lan tỏa của tinh thần hợp hiến (đặc trưng bởi sự chế ước quyền lực nhà nước bằng pháp luật, tập quán, và các giá trị xã hội), chứ không phải một bản Hiến pháp thành văn, ngay cả với những câu chữ tuyên xưng dân chủ, tự do.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Sửa đổi Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | 58 Comments »

1628. Sửa đổi Hiến pháp: Mấy điều nghĩ ngợi

Posted by adminbasam on 20/02/2013

Bản kiến nghị bẩy điểm, tập trung một số vấn đề quan trọng, với nhiều đề xuất cụ thể do 72 người đề xướng, đến nay đã có trên bốn ngàn người ký tên hưởng ứng, sau khi trao tận tay Ban soạn thảo, cũng không nhận được phản hồi tích cực hơn … Hiện nay ý kiến xây dựng Hiến pháp không nhiều, đó là điều đáng buồn, vì vậy càng cần trân trọng người góp ý kiến.”

Cùng viết Hiến pháp

Sửa đổi Hiến pháp: Mấy điều nghĩ ngợi

Ngày 20 – 2 – 2013

Bùi Đức Lại *

1- Chắc không có nhiều nước như Việt Nam, chỉ trong gần 70 năm, tính riêng trong không gian tồn tại của một nhà nước liên tục, khởi đầu từ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đến nay, đã có 4 bản Hiến pháp chính thức và hai lần bổ sung sửa đổi.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | 36 Comments »

1626. Sửa Hiến pháp chứ không phải xây Hầm trú ẩn

Posted by adminbasam on 20/02/2013

FB Osin

Sửa Hiến pháp chứ không phải xây Hầm trú ẩn

Huy Đức

20-02-2013

Nếu tôi là Chủ tịch Ủy ban sửa đổi Hiếp pháp 1992 tôi sẽ đề nghị ngưng lại cho đến khi trong Đảng thực sự biết rõ mình muốn duy trì mô hình đảng chủ lập hiến như hiện nay hay muốn thiết lập ở Việt Nam một nền cộng hòa thật sự.

Các nhà nước quân chủ phải lập hiến khi nhà vua bị các tôn giáo, lãnh chúa… buộc phải chia sẻ quyền lực. Các nhà nước đảng chủ phải lập hiến vì muốn tạo ra cái vỏ bọc cộng hòa cho sự toàn trị của mình. Nếu Đảng cộng sản Việt Nam muốn tiếp tục chế độ chính trị như hiện nay thì cách khôn ngoan nhất là cứ giữ Hiếp pháp 1992 vì nó vẫn đang làm tốt vai trò “phông màn” cho Đảng.

Đọc tiếp »

Posted in Hiến pháp, Pháp luật, Sửa đổi Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | 132 Comments »

1624. Thư ngỏ của ông Nguyễn Trung gửi Quốc hội, Chính phủ và ĐCSVN về sửa đổi Hiến pháp

Posted by adminbasam on 20/02/2013

Thư ngỏ

 Hà Nội, ngày 19-02-2013

Kính gửi

-        Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam,

-        Toàn thể Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt nam,

-        Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Kính thưa,

Tôi là Nguyễn Trung, 78 tuổi, trú tại 10(60A) ngõ 45A, phố Võng Thị, phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội. Với tư cách là một trong những người tham gia Kiến nghị của 72 nhân sỹ trí thức về việc sửa đổi Hiến pháp [1] (gọi tắt: Kiến nghị 72),  xin được phép trình bầy một số suy nghĩ của tôi liên quan đến việc sửa đổi Hiến pháp đang được lấy ý kiến nhân dân cả nước

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Quan hệ Việt-Trung | 245 Comments »

1621. THÔNG BÁO của Nhóm “Kiến nghị 72″

Posted by adminbasam on 18/02/2013

    Ngày 18 tháng 2 năm 2013

THÔNG BÁO

của Nhóm soạn thảo và ký đầu tiên Kiến nghị 72

      về công văn trả lời của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp | 318 Comments »

1617. Chỗ đứng của Nhân dân trong Hiến pháp

Posted by adminbasam on 17/02/2013

Blog Hoàng Xuân Phú

Chỗ đứng của Nhân dân trong Hiến pháp

Hoàng Xuân Phú

Hội chợ Leipzig trở thành hội chợ hàng mẫu đầu tiên trên Thế giới vào năm 1895. Đối với Cộng hòa Dân chủ Đức(CHDC Đức, tức Đông Đức xã hội chủ nghĩa, 1949 – 1990), Hội chợ Leipzig là một trong những nơi giao tiếp quốc tế quan trọng nhất. Chính quyền Đông Đức coi hội chợ này là nơi trưng bày thành quả kinh tế và chính trị của CHDC Đức. Nhân dân Đông Đức tận dụng hội chợ này để tiếp xúc với kỹ thuật và văn hóa của các nước tư bản phát triển. Hàng năm, khoảng 600.000 người đổ về hai kỳ hội chợ, được tổ chức vào tháng ba và tháng chín. Trong hơn mười năm sống ở Leipzig, tôi đã từng hòa mình vào dòng người ấy, thăm khoảng 20 kỳ hội chợ, mỗi kỳ dành ra khoảng 3 ngày, và đã học được bao điều mới lạ, trong đó có nhiều kiến thức về công nghệ.

Tại hội chợ hàng mẫu, người ta không bán hàng, mà chỉ trưng bày hàng mẫu, để các doanh nhân xem xét, trao đổi và ký kết hợp đồng. Các nhà trưng bày thường phân phát tài liệu quảng cáo, được in rất đẹp. Người đi xem, nhất là cánh trẻ, thấy đâu đông cũng xếp hàng, mọi người lấy cái gì thì mình cũng vơ cái đó. Nhiều khi đến tối mới có thời gian để đọc, mới biết thành quả kiếm được trong ngày là gì. Và tất nhiên là phần lớn số tài liệu xa lạ đó được bàn giao cho thùng rác.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp | 41 Comments »

1612. ‘Cần có luật về sự lãnh đạo của Đảng’

Posted by adminbasam on 15/02/2013

Theo ông Vũ Mão, vấn đề mấu chốt nhất của việc sửa Hiến pháp là xác định mối quan hệ quyền lực giữa Đảng và các cơ quan nhà nước, giữa Đảng và người dân.

 “Tôi nhất trí việc trước khi dự thảo trở thành Hiến pháp chính thức phải để cho người dân phúc quyết. Dù chúng ta chưa chủ trương nhưng bây giờ làm vẫn là chưa muộn và có thể làm được.”

VNExpress

‘Cần có luật về sự lãnh đạo của Đảng’

Thứ sáu, 15/2/2013, 08:00 GMT+7

Nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Vũ Mão cho rằng, việc có luật về sự lãnh đạo của Đảng là phù hợp với tư duy về nhà nước pháp quyền. Đảng vẫn giữ quyền lãnh đạo nhưng không làm thay Quốc hội, không làm thay Chính phủ.

- Ủy ban sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã xác định tới 9 nội dung cơ bản của việc sửa đổi. Theo ông, vấn đề mấu chốt nhất là gì?

- Việc đưa ra được 9 nội dung cơ bản của việc sửa đổi là một cố gắng lớn của Uỷ ban. Nhiều nội dung đã được nghiên cứu công phu, có lập luận rõ ràng, chắc chắn sẽ được ủng hộ cao như Điều 54 về sự bình đẳng của các thành phần kinh tế.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp | 97 Comments »

1609. GIẢI TRÌNH ĐỂ MONG TRÁNH SỰ HIỂU LẦM

Posted by adminbasam on 13/02/2013

GIẢI TRÌNH ĐỂ MONG TRÁNH SỰ HIỂU LẦM

 Kính gửi:  – Trang mạng Anh Ba Sàm

- Các giáo sư chủ trương trang “Cùng viết Hiến pháp”. *

Tôi là Dương Phi Anh.

Tôi là người trực tiềp biên tập bản “dự thảo Hiến pháp” mà thực tế tôi gọi là “Tập viết dự thảo Hiến pháp”.

Đọc tiếp »

Posted in Hiến pháp | 44 Comments »

1607. Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực

Posted by adminbasam on 11/02/2013

“Không phải Quốc hội, không phải Chủ tịch nước, Chính phủ hay Tòa án cho dân quyền này, quyền kia. Chính nhân dân trao cho các cơ quan này quyền lực và họ có trách nhiệm thực thi nó phù hợp với ý chí của nhân dân được thể hiện trong Hiến pháp.”

“Đảng với tư cách là lực lượng chính trị lãnh đạo xã hội cũng phải đảm bảo để quyền phúc quyết của nhân dân được thực hiện. Giữa phúc quyết và lấy ý kiến nhân dân có sự khác nhau rất lớn về mức độ đảm bảo dân chủ, sự thượng tôn vai trò của nhân dân.”

Tiền phong

Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực

05:31 | 11/02/2013

TP – “Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực, cả quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế. Không một ông vua, không một chính phủ nào có thể tồn tại nếu không có dân”- GS.TS Lê Hồng Hạnh, Viện trưởng Viện Khoa học Pháp lý trao đổi nhân việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | 126 Comments »

1605. Tâm nguyện cho một năm mới

Posted by adminbasam on 10/02/2013

FB Tuấn Khanh (*)

Tâm nguyện cho một năm mới

09-02-2013

H2Tôi quyết định chọn những giờ phút thiêng liêng nhất của sự chuyển giao cũ-mới, để tự mình ký tên vào danh sách những người ủng hộ việc sửa đổi hiến pháp 1992, như một lời chúc cho nhân dân và quê hương của mình. Cầu mong cho mọi thứ sẽ như một cuộc sang mùa êm ả, đem lại hạnh phúc, tự do, dân chủ cho đất nước Việt Nam đã quá nhiều khổ đau này.

Có những người bạn của tôi đã hỏi rằng “liệu ký vào đó có ích gì, và liệu có thay đổi gì không, hoặc đó chỉ là một màn kịch?”. Tôi không thể trả lời hết những thắc mắc đó. Thật ra đó là những suy tư có thật – đáng trân trọng – của những người đã sống, đã cảm nhận và lo âu về xã hội của chúng ta, nhiều năm nay, đặc biệt là với người Việt ở miền Nam Việt Nam, từ sau 1975.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Sửa đổi Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | 45 Comments »

1603. Sự biến hóa của Dân Chủ và Độc tài trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Posted by adminbasam on 09/02/2013

Đôi lời: Bài viết sắc sảo này đã được chúng tôi điểm hôm qua, 8/2/2013 trên trang Cùng viết Hiến pháp. Theo đề nghị của tác giả, cũng để thuận tiện hơn cho độc giả theo dõi và bình luận (vì trên trang Cùng viết Hiến pháp không có mục phản hồi), chúng tôi xin đăng toàn văn ở đây.

Sự biến hóa của Dân Chủ và Độc tài trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

 (Thư ngỏ gửi Giáo sư Vật lý Đàm Thanh Sơn, Đại học Chicago)

Lời mở đầu

      Tại Đại học danh tiếng Chicago có hai giáo sư người Việt nổi tiếng, nhà Toán học Ngô Bảo Châu và Nhà Vật lý lý thuyết Đàm Thanh Sơn, đó là niềm tự hào của bao người dân Việt. Chúng tôi lại càng thêm trân trọng Giáo sư Đàm Thanh  Sơn, khi Giáo sư đã thành tâm góp ý cho Dự thảo hiến pháp sửa đổi 1992 và cũng không ngần ngại khi phản ứng với ban dự thảo về sự cắt xén ý kiến của  giáo sư. Thái độ rõ ràng như thế là quá đủ chứng tỏ phẩm cách một trí thức nên những dòng dưới đây chúng tôi hoàn toàn không bàn về việc này nữa. Chúng tôi e ngại rằng, nếu không viết thư ngỏ này cho Giáo sư, thì ngay những lời lẽ thể hiện sự thành tâm góp ý của Giáo sư cũng có thể được sử dụng cho một mục đích nào đó khác hơn.Và như thế thì tai hại khôn lường không chỉ cho danh tiếng của giáo sư mà còn là hậu họa cho dân,cho nước. Vì lý do đó , một nhóm nhỏ nhà khoa học, chuyên gia về Ngôn ngữ, Toán,Vật lý, Điện tử…đều là những người hâm mộ và yêu mến Giáo sư, đã đọc kỹ ý kiến của Giáo sư, và ủy nhiệm tôi thay mặt cả nhóm gửi thư ngỏ này đến Giáo sư và mọi người quan tâm. Thư ngỏ này gồm hai phần. Phần đầu là nói về phép biến hóa Dân chủ- Chuyên chính (Độc tài) trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Nội dung phần này là ghi lại ý kiến của nhiều chuyên gia nói trên phân tích , luận giải. Còn tôi chỉ là người biên tập lại. Phần sau, Vĩ thanh, là chút ý kiến của riêng tôi , một nhà báo, chia sẻ với Giáo sư.

Nhà báo Trần Định, Nguyên PV, BTV chính VNP-TTXVN, Nghệ sĩ Nhiếp ảnh

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | 65 Comments »

1601. CẢI CÁCH HIẾN PHÁP ĐÃ TỚI ĐIỂM GIỚI HẠN, CÁC PHÁI Ở TRUNG QUỐC DIỄN RA CUỘC CHIẾN CÙ CƯA

Posted by adminbasam on 08/02/2013

Cáo lỗi: Do sai sót kỹ thuật khi thao tác, nên bài này bị xóa mất, chúng tôi phải đăng lại, tuy nhiên không còn những phản hồi cũ. Thành thật xin lỗi độc giả.


“Vào cuối năm ngoái, 72 vị trí thức đã cùng ký tên vào một bản kiến nghị do giáo sư Trương Thiên Phàm ở Đại học Bắc Kinh soạn thảo … họ hy vọng cải cách Hiến pháp sẽ là chủ đề cốt lõi trong cải cách của Trung Quốc …”

bbc.co.uk

CẢI CÁCH HIẾN PHÁP ĐÃ TỚI ĐIỂM GIỚI HẠN, CÁC PHÁI Ở TRUNG QUỐC DIỄN RA CUỘC CHIẾN CÙ CƯA 

4.2.2013

Người dịch:  XYZ

Tin từ New York Times” Mỹ ngày 4.2, được sự khích lệ bởi bài nói của nhà lãnh đạo mới kế nhiệm Tập Cận Bình, cùng sự rớt đài của cựu Bí thư thành ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai, phái cải cách của Trung Quốc gần đây tích cực hoạt động, kêu gọi Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCS TQ) thực thi Hiến pháp,học giả Mỹ cho rằng, đây là kết quả của sự ngẩng đầu có ý thức của người dân Trung Quốc.

Đọc tiếp »

Posted in Hiến pháp, Trung Quốc | 3 Comments »

1600. Hiến pháp, những “trò khỉ” và chuyện góp ý hay không

Posted by adminbasam on 08/02/2013

Đồng Phụng Việt

Hiến pháp, những “trò khỉ” và chuyện góp ý hay không

08-02-2013H1

Đồng Phụng Việt:  “Kiến nghị 72” cũng có thể sẽ tiếp tục vào sọt rác như nhiều kiến nghị khác nhưng với mình, tất cả các kiến nghị đã bị Đảng xem như rác đều có giá trị. Nó là hình thức nhắc nhở Đảng một cách công khai và rất đường hoàng rằng, càng ngày, càng nhiều nhân sĩ, trí thức, công chúng thuộc đủ mọi vùng, miền, thành phần xã hội, tôn giáo, kể cả cán bộ, Đảng viên của Đảng, không đồng tình với những việc Đảng làm. Rằng các hình thức trấn áp không còn hiệu quả nữa. Rằng tất cả các trò bịp bợm sẽ bị vô hiệu hóa, sẽ trở thành phản tác dụng và tất nhiên, “mỡ nó” sẽ được dùng để “rán nó”…

Năm 2013 khởi đầu bằng một sự kiện mà tới bây giờ vẫn còn rất “nóng”, đó là chuyện Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 của Đảng, công bố “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992” để công chúng góp ý.

Xét về tính chất thì đây là một “sinh hoạt chính trị” do Đảng đề xướng và thực tế cho thấy là đến giờ, Đảng đã đạt được một số “thành quả nhất định” từ đợt “sinh hoạt chính trị” này.

Nhiều blogger, facebooker đã nêu ý kiến, thảo luận về các góp ý cho “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992”. Trong đó, đáng chú ý nhất là “Kiến nghị về Sửa đổi Hiến pháp” do 72 nhân sĩ, trí thức khởi xướng (ở đây, mình xin tạm gọi là “Kiến nghị 72”).

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | 164 Comments »

1599. Vì sao tôi ký?

Posted by adminbasam on 07/02/2013

Blog Trần Đức Tuấn

Vì sao tôi ký?

Trần Đức Tuấn, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao

Cuối cùng, tôi cũng đã góp “một viên gạch?” vào một sự kiện hết sức có ý nghĩa đối với Quốc gia, đó là vừa gửi mail ký tên ủng hộ Bản kiến nghị do 72 nhân sỹ, trí thức khởi xướng. Một việc làm ý nghĩa nhất mà tôi làm được cho đất nước đến thời điểm hiện nay. Với nội dung bức thư như sau:

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các nhân sỹ, trí thức đã nghĩ cho tương lai dân tộc, nhân dân, đứng lên khởi xướng bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp đầy ý nghĩa. Qua nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, tôi đánh giá rất cao chất lượng của Bản kiến nghị và Bản hiến pháp mẫu do các nhân sỹ, trí thức soạn thảo. Tôi thấy bản Hiến pháp mẫu này có giá trị không thua kém gì những bản Hiến pháp của các nước dân chủ trên thế giới như Mỹ, Pháp, Đức…

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp | 44 Comments »

1594. Trao bản Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992

Posted by adminbasam on 05/02/2013

Đại diện những người ký tên “Bản Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992″ trao Kiến nghị cho Ủy ban sửa đổi Hiến pháp

Hồi 10h sáng thứ Hai 4-2-2013, một phái đoàn gồm 15 nhân sĩ trí thức, đại diện cho 72 người đầu tiên trực tiếp ký tên và hàng ngàn đồng bào đã tham gia ký tên vào bản “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992”, đã đến Địa điểm tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân tại 37 Hùng Vương, Hà Nội, để trao bản Kiến nghị cho Ủy ban.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | 427 Comments »

1590. Điều 4 mới là vấn đề của mọi vấn đề

Posted by adminbasam on 02/02/2013

Kính gửi: Các thành viên khởi xướng và Ban biên tập trang Cùng viết Hiến pháp,

Hôm nay, tôi nhận được email của một người bạn giới thiệu về trang web do các Giáo sư có uy tín khởi xướng và biên tập, như GS Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn, Nguyễn Đăng Dung. Tôi rất vui.

Tuy nhiên, có thể do mới khởi xướng nên bài viết cũng chưa nhiều, nhưng những bài viết chỉ được đăng dưới lăng kính một chiều (bởi các bài hiện nay đăng trên Cùng viết Hiến pháp) chỉ là các bài viết trên các báo đã bị kiểm duyệt (Việt nam đứng vị trí 172/179 về tự do báo chí). Việc kiểm duyệt báo chí do Ban tuyên giáo trung ương Đảng, thì nói chung những bài viết này cũng chỉ nằm trong giới hạn ý chí của Đảng.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | 134 Comments »

1586. Cựu chủ tịch Quốc hội bàn chuyện sửa Hiến pháp

Posted by adminbasam on 01/02/2013

Đôi lời: Một bài phỏng vấn hơn hai năm trước của TuanVietNam với cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, nhưng rất phù hợp với tình hình hiện tại, khi “Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992” kêu gọi toàn dân tích cực góp ý sửa đổi Hiến pháp. Và đây là ý kiến của một “công dân loại I”, đã nêu lên rất nhiều điểm mà đông đảo người dân quan tâm.

TuanVietNam

Cựu chủ tịch Quốc hội bàn chuyện sửa Hiến pháp

Thu Hà

16-06-2010

NguyenVaAnNếu nhân dân được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì đây là một cơ hội to lớn do ta tạo ra để thúc đẩy mạnh mẽ và toàn diện công cuộc đổi mới đất nước – Cựu Chủ tịch QH Nguyễn Văn An.

LTSTuần Việt Nam xin giới thiệu lại cuộc trò chuyện với cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An về việc tu chính Hiến pháp 1992 sắp tới.

- Thưa ông, tại phiên Thảo luận ở hội trường về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011 và điều chỉnh chương trình 2010 hôm 9/6, hầu hết các ĐBQH phát biểu đều đề nghị sửa ngay một số điều của Hiến pháp 1992. Từng đảm nhiệm trọng trách người đứng đầu cơ quan lập pháp, ông chia sẻ sự quan tâm như thế nào về vấn đề này?

Cựu Chủ tịch  QH Nguyễn Văn An: Tôi rất quan tâm, vì sửa đổi Hiến pháp là một sự kiện trọng đại của toàn dân. Tôi vừa hy vọng, lại cũng vừa lo, vừa băn khoăn trăn trở, vì không biết sửa đổi lần này có đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân không?

Dân phúc quyết

- Vì sao ông có tâm trạng như vậy?

Tôi có tâm trạng như vậy là do kinh nghiệm cuộc sống mách bảo. Sửa đổi Hiến pháp là một cơ hội sinh hoạt chính trị dân chủ sâu rộng trong toàn dân, toàn dân có được hưởng quyền lợi và làm nghĩa vụ tham gia ý kiến và phúc quyết hay không?

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Sửa đổi Hiến pháp, Đảng/Nhà nước | 63 Comments »

 
%d bloggers like this: