BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Posts Tagged ‘Nhạc vàng’

Yêu nhạc vàng: Máu và nước mắt / Nhạc: đỏ, xanh, vàng, đen, …

Posted by adminbasam on 12/08/2010

Yêu nhạc vàng: Máu và nước mắt

Nguyễn Tuấn Ngọc

 

Với nhiều người Hà Nội, ‘vụ án Phan Thắng Toán và đồng bọn bị xét xử về tội truyền bá văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa đế quốc, tuyên truyền phản cách mạng và chống lại các chính sách pháp luật của nhà nước’, họ vẫn chưa quên được.

Người đàn ông Nguyễn Văn Lộc năm xưa trong vụ án này bây giờ là chủ quán Lộc Vàng tại ven đường Hồ Tây (Hà Nội).
Hồi đó anh Lộc và những người bạn vì quá mê nhạc tiền chiến nên đã thành lập nhóm nhạc để tụ tập hát nhạc của Văn Cao, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Đặng Thế Phong,…và các nhạc sỹ miền Nam như Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng…

Ngày 27/3/1968, nhóm nhạc anh bị bắt và tạm giam ở Hỏa Lò 3 năm. Vào các ngày 6,7,8 tháng 1 năm 1971 Tòa án nhân dân Hà Nội mở phiên toà xét xử gồm 7 thành viên. Tòa tuyên án Toán ‘xồm’ 15 năm tù, Nguyễn Văn Đắc 12 năm tù, anh Lộc 10 năm tù… sau khi hiệp định Paris được ký kết, anh Lộc được giảm án xuống còn 8 năm tù. Năm 1976 anh ra tù.

Anh Lộc thương nhất là anh Toán ‘xồm’ ra tù, mất hết tất cả, không nơi nương tựa, sống nhờ cậy bàn bè và sau đó anh nằm chết ở vệ đường vào năm 1994.

Ra tù anh Lộc đi làm phụ hồ, nhưng tình yêu nhạc vàng, nhạc tiền chiến không hề nguội lạnh.

Anh quyết định mở quán Lộc vàng để hát dòng nhạc một thời được coi là ‘phản động’, nhưng anh coi đó là những tác phẩm quý hơn vàng. Bây giờ quán luôn đông khách và hằng đêm 3, 5, 7 dòng nhạc này vẫn cất vang với giọng hát đã đi qua âm nhạc Việt Nam với biết bao khổ đau. Máu và nước mắt.

Khi nhắc đến người vợ mình, anh Lộc đã khóc. Người vợ đã mất vào năm 2002 và để lại cho anh 2 đứa con tiếp tục theo nghiệp âm nhạc. Người vợ đã yêu anh trước khi anh bị bắt và chờ đợi anh trong 8 năm ngồi tù để cưới anh. Anh Lộc nói anh phải đi vào Quy Nhơn để làm thuê kiếm tiền về cưới vợ. Anh nói không bao giờ anh gặp lại được một người phụ nữ như thế: hy sinh cả cuộc đời cho một người đàn ông như anh. Anh coi vợ anh là ‘ người hùng’.

Vợ anh luôn thích anh hát bài ‘Niệm khúc cuối’ của Ngô Thụy Miên, và bây giờ anh không thể hát được bài hát đó nữa, vì khi anh cất lên thì anh lại vỡ òa khóc nức nở.

Tôi chưa nghe người nào hát nhạc phẩm ‘Gửi Người Em Gái’ của Đoàn Chuẩn- Từ Linh hay bằng anh. Một giọng hát quá trữ tình và sâu lắng. Anh đã hát đúng bản gốc của tác phẩm này, vì anh cho biết nhạc phẩm đang được thu âm và hát lại bây giờ đã bị thay lời quá nhiều, nhất cả khi các ca sỹ hải ngoại hát.

Hàng ngày, người đàn ông này vẫn hát lại những ca khúc cũ của một dòng nhạc đã đi qua bầu trời văn nghệ Việt Nam với biết bao trầm luân. Nó cũng giống như số phận của anh Lộc khi trót mang kiếp cầm ca.

Tôi tự hỏi trong đám văn nghệ tào lao và khoe mẽ trên truyền thông hôm nay, có mấy ai có được phẩm giá và đam mê âm nhạc như anh Lộc?

(Người Việt / blog Face Book Nguyễn Tuấn Ngọc)

—————————-

 

Nhạc: đỏ, xanh, vàng, đen, …

Nguyễn Hữu Vinh

 

Đó là về 4 “dòng” ca khúc ở ta một thời mà không biết có nên tự hào rằng chẳng có nước nào trên thế giới lại có được sự phong phú theo cái lối đó. Sự “phong phú” vương vấn hình ảnh “nồi da xáo thịt” (mà lại vương vào trong thơ ca mới đau chứ). Thiết nghĩ không thể không nói, chúng ta cứ tránh né mãi, tránh né nhiều chuyện quá, làm sao mở rộng cửa mà “ra biển lớn” được.

1. Mở cuốn Từ điển tiếng Việt thì chỉ duy nhất nhạc vàng được cắt nghĩa, là thứ “nhạc bi lụy“[1]. Nghe không ổn. Bực mình mua một quyển đời mới hơn, thì được “cập nhật” một nghĩa mới nữa là “có giai điệu buồn“[2]. Nghe càng tệ (dễ lẫn với cả nhạc … “đỏ” chứ chả chơi – như cái bài “Hồn tử sĩ” chẳng hạn, lễ tang các vị cấp cao là đều cử hành); mà dẫu có phải bổ sung thêm rằng khái niệm đó chỉ “sống” có một thời – thời chiến tranh 1954-1975, chủ yếu được các nhạc sĩ phía Nam sáng tác, thì cũng vẫn không thể đầy đủ cho cái sự “phức tạp” của nó. Vì nếu đi vào phân tích cái chất nhạc rất đặc biệt không lẫn đi đâu được của thể loại này thì phải giành cho các nhà chuyên môn.

2. Còn khái niệm nhạc đỏ, có lẽ là trong dân gian, để nói tới thứ nhạc có lời ca ngợi đất nước, “tăng gia sản xuất”, cách mạng, đảng, lãnh tụ, có yêu đương cũng gắn với lao động, chiến đấu … và tất tật những gì minh chứng rằng chế độ ta tươi đẹp; mà nhạc điệu thì đương nhiên là phải phù hợp với lời rồi, vui cùng vui, buồn cùng buồn (vẫn phải là điệu buồn bi tráng). Nhưng cẩn thận hơn, giở lại cuốn Từ điển đời mới, thì đã có thêm khái niệm nhạc đỏ, là “nhạc thường có âm điệu sôi nổi, mạnh mẽ, có nội dung ca ngợi tinh thần chiến đấu bảo vệ tổ quốc“2. Đơn giản thế là cùng. Thật là tiếc cho các nhà từ điển học dày công biên soạn cả chục năm !

3. Thế còn nhạc xanh ? Cái tên này cũng trong dân gian thôi, có lẽ đó là thứ nhạc về tình yêu đôi lứa, “mây gió trăng hoa” … linh tinh, mà lời ca không “động” tới những gì thuộc về … nhạc đỏ, nét nhạc cũng không có cái “bi lụy” đặc thù như nhạc vàng. Vậy mà một thời cũng ít nhiều bị “hạn chế”, vì dễ làm sao lãng tư tưởng cách mạng trong thanh niên, những người lính ra trận.

4. Nhạc đen ? Quả tình đây là khái niệm mà người viết bài này mạo muội đưa ra để chỉ tất cả những ca khúc chưa được các nhà quản lý “duyệt” cho … “sinh” hoặc “phục sinh”. Nên tới tận hôm nay, sau hơn 30 năm chiến tranh kết thúc mà ta vẫn chưa được thưởng thức hàng chục ngàn ca khúc – những đứa con tinh thần của các nhạc sĩ tài năng như Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, … – vì chúng vẫn đang nằm trong “bóng tối”. Nhưng vẫn phải nói cho rõ vì sao có những hai loại muốn được “sinh” và “phục sinh”. Đó chính là những ca khúc của các nhạc sĩ sống dưới chế độ Sài Gòn trong khoảng những năm 1954-1975 (cần “phục sinh”) và các nhạc sĩ ở hải ngoại sau 1975 (cần “sinh” … trong nước).

5. Nhưng, có chia như vậy mà thấy vẫn không ổn. Vì cũng có thể có người bảo: đã gọi là “đen” thì phải là thứ “phản động”. Còn không “phản động”, nhưng có “vấn đề”, chưa được duyệt thì phải gọi là “xám” chứ.Và như vậy thì phải có tới năm, bảy “dòng” nhạc chứ chả chơi. Người khác lại cãi: phân loại kiểu đó là kiểu”chính trị”, phi nghệ thuật … Càng rắc rối hơn nếu như có một nhạc sĩ hải ngoại nào đó (nhất là diện có lý lịch “xấu”) lại nổi hứng sáng tác một bài hát cực kỳ “đỏ” vào, thì không biết liệu có được … duyệt, đưa vào danh sách nhạc đỏ để lưu hành trong nước không ? Chưa hết ! Lại có người muốn phát hành cái đĩa CD gồm những ca khúc thuộc diện “đen”, “xám” nhưng người ta lại chơi nhạc không lời thôi (không hát) thì sao ? Cái “phản động” là nó ở trong lời ca chứ có phải do điệu nhạc đâu. Còn nếu sợ có tên bài “mang nội dung phản động” thì người ta chọn những bài có tên “không phản động” thì sao ? v.v.. Chà … quá là rối rắm phải không quý vị ? Nếu có nhiều kẻ thích sinh sự như kẻ viết bài này thì chắc các “quan văn hóa” phải xin bỏ hết chế độ kiểm duyệt đi mất. Mà không rõ cái chế độ kiểm duyệt của ta có cái “ba-rem” gì không, như lối chấm bài văn bao năm nay mà nhà văn Nguyên Ngọc [3] vừa mới “than Trời” ấy ? Giả sử có “ba-rem”, thì liệu có được xây dựng nên một cách nghiêm cẩn, chí ít bởi các nhà chuyên môn về âm nhạc, chứ không phải được tuỳ ý quyết định chỉ bằng vài ba cán bộ quản lý ? Còn nếu không có thì đã rõ là trong lĩnh vực âm nhạc này còn đáng phải “đổi mới” không thua gì là chuyện giáo dục ấy chứ. Chẳng nói đâu xa, như trong điện ảnh, cách nay hơn 20 năm, bộ phim tài liệu Hà Nội trong mắt ai đã phải “lên” đến các cấp cao nhất của Đảng và Nhà nước để quyết định có được công chiếu hay không.

6. Còn nếu có ý thức nghiên cứu mang tính học thuật, lịch sử, gạt sang một bên những thiên kiến chính trị, thì không thể bỏ qua bất cứ thể loại âm nhạc nào nêu trên. Cùng với nhiều hiện tượng văn hóa khác, âm nhạc hiện đại của nước ta đã có bước nhảy vọt khác thường chỉ trong khoảng nửa thế kỷ, do chịu ảnh hưởng của trào lưu âm nhạc phương Tây, nhưng lại vẫn hòa quyện rất rõ với âm hưởng nhạc dân tộc. Ví như nhạc vàng, không biết đã có ai đi sâu nghiên cứu về nét gần gũi của nó với nhạc cải lương (đơn giản, dễ hát, âm điệu buồn phương Nam, nhưng không phải lúc nào cũng “uỷ mị”, hoặc thậm chí có “uỷ mị” nhưng lại thấy yêu đời hơn) ? Hay với nhạc đỏ, khó lý giải được vì sao trong đó có rất nhiều ca khúc tuy chất “chính trị” rất “nặng”, nhưng chất “nghệ thuật” vẫn cao, từ giai điệu cho tới hòa âm không khác gì những bản aria (có khi lại đầy chất dân tộc, vừa “tây” vừa rất “ta” nữa) mà lời ca cũng rất thơ. Nó đã đóng vai trò là một công cụ tuyên truyền rất mạnh. Càng khó lý giải hơn (?) khi chỉ sau năm 1975 không lâu, hầu như vắng bóng những ca khúc có được “đẳng cấp” nghệ thuật như vậy; nhiều nhạc sĩ cố công sáng tác phục vụ công tác tuyên truyền nhưng vẫn chẳng thể nào có được tác phẩm đáng để “đi vào lịch sử”. Một ví dụ dễ thấy là đợt vận động sáng tác quốc ca cách đây hơn 20 năm chẳng hạn, đủ các điều kiện thuận lợi, các giải thưởng chờ đón, thế mà chẳng có được bản nào sánh nổi với bản Tiến quân ca. Phải chăng đã có một “cơ duyên” lịch sử không bao giờ được lặp lại, khi mà cùng lúc, một thế hệ những nhạc sĩ, họa sĩ, nhà văn, thơ … Việt Nam phát lộ tài năng bởi tiếp thu nền văn minh, dân chủ phương Tây đồng thời hồ hởi với công cuộc giải phóng dân tộc nên đã có biết bao tác phẩm nghệ thuật “để đời” đến vậy (không phải chỉ trong âm nhạc) ?

Nhạc “ta” ít được nghiên cứu, tìm con đường phát triển hợp lý cho nó trong thời kỳ mới, trong khi những thể loại âm nhạc hàn lâm một thời dày công đào tạo, giờ không dễ tiếp tục theo lối đó; còn những “bài ca đi cùng năm tháng”, tuy giá trị nghệ thuật khá cao nhưng mang nhiều dấu ấn lịch sử, chính trị không thể cứ “ca” mãi. Tác động của âm nhạc lên đời sống tinh thần của mỗi con người Việt Nam ta là rất lớn chỉ trong một thế kỷ qua, thời tiền chiến, rồi thời chiến nó mang những ý nghĩa khác hẳn với thời nay. Không thể không suy nghĩ khi mà những giá trị đạo đức đang băng hoại nghiêm trọng đều có phần tác động không nhỏ bởi lối tư duy thực dụng coi thường giá trị thẩm mỹ (trong âm nhạc, hội họa, kiến trúc, sân khấu, điện ảnh …) qua hệ thống giáo dục, qua phương tiện thông tin tuyên truyền, hoạt động văn hóa nghệ thuật.

Thế mới càng thông cảm với giới trẻ ngày nay cứ bị người già khó chịu vì hát hỏng nhạc tây chán lại thêm những trò break-dance, hip-hop … , có hát nhạc đỏ thì có khi nó lại xuyên tạc đi. Có thể vì chúng nhảy nhót hát hò mà không biết “quán triệt” như người lớn - “chẳng có chính chị, chính em gì sất”. Nhưng cũng chớ nên nghĩ rằng chúng không cảm thấy hẫng hụt, cô đơn khi cứ phải “xài đồ ngoại” mãi như vậy.

[1] Từ điển Tiếng Việt, 1997, Trung tâm Từ điển học

[2] Từ điển tiếng Việt, 2007, Trung tâm Từ điển học

[3] Tia Sáng, số 18/2007, Gỡ sao đây ?

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2010, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Văn hóa, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | Leave a Comment »

 
%d bloggers like this: