BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Posts Tagged ‘Đài Loan’

2084. QUAN HỆ QUÂN SỰ MỸ-ĐÀI LOAN TRONG BỐI CẢNH MỸ QUAY TRỞ LẠI CHÂU Á-THÁI BÌNH DƯƠNG

Posted by adminbasam on 31/10/2013

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Chủ Nhật, ngày 27/10/2013

(Tạp chí Bình luận Trung Quốc”, Trung Quốc, số 2/2013)

Chiến lược Mỹ quay lại châu Á – Thái Bình Dương hoặc “tái cân bằng” có thể khái quát thành “Bốn nội dung một điểm chốt”. Bốn nội dung là “tái cân bằng” giữa các khu vực trên thế giới, tức “tái cân bằng” từ khu vực châu Á – Thái Bình và Trung Đông đến châu Âu, “tái cân bằng” khu vực Đông Á, bao gồm “tái cân bằng” khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á; tái cân bằng mức độ quan tâm giữa vấn đề trong và ngoài nước, tức “tái cân bằng” giữa chủ nghĩa quốc tế và chủ nghĩa biệt lập; “tái cân bằng” biện pháp chiến lược, tức “tái cân bằng” lợi ích giữa quân sự và kinh tế và ngoại giao.  Đọc tiếp »

Đăng trong Quan hệ quốc tế, Quân sự | Tagged: , , , | Phản hồi đã bị khóa

2082. ĐÀI LOAN VỚI GIẤC MƠ THỐNG NHẤT CỦA TRUNG QUỐC

Posted by adminbasam on 29/10/2013

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Chủ Nhật, ngày 27/10/2013

TTXVN (New York 25/10)

Trong một bài viết đăng trên số ra mới nhất, tạp chí “Chính trị thế giới” nhận định rằng vì nhiều lý do khác nhau, Trung Quốc chưa thể thực hiện được ước mơ thu Đài Loan về một mối. Dưới đây là nội dung bài bảo: Nằm cách xa hai cực kinh tế chính của thế giới là Mỹ và Liên minh châu Âu, Đài Loan nằm ở Đông Á, và vẫn được người Bồ Đào Nha ở thế kỷ 16 gọi là “Hòn đảo xinh đẹp”.  Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ quốc tế, Trung Quốc | Tagged: , , , , | Phản hồi đã bị khóa

2018. TÁI CÂN BẰNG HƯỚNG TỚI CHÂU Á VỚI MỘT NƯỚC TRUNG QƯÓC BẤT AN

Posted by adminbasam on 07/09/2013

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Chủ Nhật, ngày 1/9/2013

(The Washington QuarterlyMùa Xuân 2013)

Khi Tổng thống Hoa Kỳ Obama bước vào nhiệm kỳ hai của mình, việc tiếp tục chuyển sự quan tâm và các nguồn lực của Hoa Kỳ sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Trong khi nhiều người ở khu vực hoan nghênh cam kết đã được đổi mới này, “sự xoay trục” của nước Hoa Kỳ sang châu Á đã gây ra những quan ngại ngày càng tăng ở Trung Quốc về những ý định của Hoa Kỳ. Những nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm mở rộng tư thế các lực lượng quân sự Hoa Kỳ ở châu Á, củng cố các mối quan hệ an ninh với các đồng minh và đối tác, và tăng cường vai trò của các thể chế khu vực được nhiều người ở Bắc Kinh nhìn nhận như là trực tiếp nhằm vào việc kiềm chế sự nổi lên của Trung Quốc và là một nguyên nhân chính dẫn đến sự bất ổn trong khu vực và làm cho môi trường chiến lược của Trung Quốc xấu đi.

Đọc tiếp »

Đăng trong Quan hệ quốc tế, Trung Quốc | Tagged: , , , , , , , , | Phản hồi đã bị khóa

1751. VIỆT NAM, TRUNG QUỐC VÀ XUNG ĐỘT Ở BIỂN ĐÔNG NAM Á

Posted by adminbasam on 02/05/2013

Jonathan London and Vũ Quang Việt [i]

Soạn cho Hội nghị Quốc tế về biển Đông, 27-28/4/2013

Đại học Phạm văn Đồng, Quảng Ngãi, Việt Nam

Người dịch: Huỳnh Phan

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị | Tagged: , , , , , , , , , , | 86 phản hồi »

739. Có ngăn được cuộc tỉ thí quân sự ở Biển Đông?

Posted by adminbasam on 18/02/2012

“Mỹ cũng đã gửi đi tín hiệu tích cực về việc có thể cho phép bán vũ khí cho Việt Nam trong tương lai, nhưng chỉ với điều kiện nếu như hồ sơ nhân quyền của Việt Nam được cải thiện *“.

Tuần Việt Nam

Có ngăn được cuộc tỉ thí quân sự ở Biển Đông?

Tác giả: Sarinna Areethamsirikul

Bài đã được xuất bản: 18-2-2012

Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, các quốc gia ASEAN nhận ra rằng họ đang quá dễ bị tổn thương trước các cú sốc và khủng hoảng bởi gây ra bởi dòng vốn lưu thông tự do và thị trường phi kiểm soát, vốn là chính sách cơ bản của cái gọi là Đồng thuận Washington.

“Công thức” chính sách kinh tế một kích cỡ vừa cho tất cả hướng đến thị trường tự do dựa theo Đồng thuận Washington được áp đặt một cách gượng ép vào các nền kinh tế đang phát triển thông qua viện trợ và vốn vay của Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF).
.

Trong suốt cuộc khủng hoảng, chính quyền Clinton quyết không nhúng tay vào vụ việc, nhưng Trung Quốc đã tự nguyện can thiệp và lần đầu tiên nhận lấy quyết định lãnh đạo quốc tế trong nỗ lực kiểm soát cuộc khủng hoảng khu vực lần này. Từ khi đó, quyền lực của Trung Quốc ngày càng tăng ở châu Á. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, Trung Quốc cũng đã ra sức đáp ứng các yêu cầu của nhiều khu vực khác nhau trên thế giới với vai trò như một nhà giao dịch và nhà tài chính lớn. Điều này do đó được coi là một sự thách thức đối với vai trò của Mỹ, WB và IMF.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , , , | 17 phản hồi »

707. NHỮNG THÁCH THỨC CỦA TRUNG QUỐC TRONG NĂM 2012 – Phần 1

Posted by adminbasam on 10/02/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆTNAM

NHỮNG THÁCH THỨC CỦA TRUNG QUỐC TRONG NĂM 2012

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ năm, ngày 9/2/2012

(phần 1)

TTXVN (Angiê 5/2)

Năm Rồng mang đến điềm g

Trung Quốc vừa bước vào năm Rồng 2012, song như nhà báo Sébastien Le Belzic nhận xét trên tạp chí “Statafrik”, những người mang tin dữ đến đã thấy đó là biểu tượng của khủng hoảng và cũng là dấu hiệu rõ nét về sự phát triển một nước Trung Quốc hiếu chiến.

Chỉ cần lang thang trong các con ngõ nhỏ chạy dọc theo các ngôi chùa ở Bắc Kinh cũng đủ để thấy tử vi quan trọng như thế nào trong cuộc sống đời thường của người dân Trung Quốc. Ở nước này, không phải Đảng Cộng sản quyết định được tất cả, cũng phải tính tới phong thủy, con số, chiêm tinh, điềm tốt điềm gở nữa… Trong khi đó, Trung Quốc bước vào năm Rồng, vốn là một biểu tượng mạnh mẽ trong huyền thoại Trung Hoa từ ngày 23/1.

Đọc tiếp »

Đăng trong Trung Quốc | Tagged: , , , , , , , , , , , , , | 9 phản hồi »

186. Ràng buộc Trung Quốc về Biển Đông

Posted by adminbasam on 16/07/2011

The Jakarta Post

Ràng buộc Trung Quốc về Biển Đông

Bambang Hartadi Nugroho

Ngày 14-7-2011

Hồi tháng 6, vấn đề Biển Đông một lần nữa lại thu hút sự chú ý của công chúng. Những tuyên bố chồng lấn về một vùng biển nằm ở phía nam Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giữa 6 nước – Việt Nam, Brunei, Malaysia, Philippines, Trung Quốc và Đài Loan – đã trở thành một mối quan tâm chiến lược hệ trọng, bởi vì nó dính líu đến một cường quốc đang lên trong khu vực vốn có thái độ và những ý định vẫn còn trong bóng tối mặc dù đã trải qua nhiều năm tương tác với cộng đồng quốc tế. 

Làm cho mọi thứ trở nên phức tạp, cuộc xung đột gần như sẽ là một thanh nam châm hút Mỹ vào với tư cách là một cường quốc thế giới. 

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , , , , | 11 phản hồi »

161. LÀM SỐNG LẠI CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI GÂY HẤN, TRUNG QUỐC ĐANG CƯỠI TRÊN LƯNG HỔ

Posted by adminbasam on 07/07/2011

Foreign Policy

LÀM SỐNG LẠI CHÍNH SÁCH

ĐỐI NGOẠI GÂY HẤN,  TRUNG QUỐC

ĐANG CƯỠI TRÊN LƯNG HỔ   

Dan Blumenthal

Đăng trên tạp chí của Viện AEI số tháng 4/2011
Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , , | 11 phản hồi »

160. NGUY CƠ XUNG ĐỘT TRÊN BIỂN ĐÔNG VÀ LẬP TRƯỜNG CỦA ÔXTRÂYLIA

Posted by adminbasam on 06/07/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

NGUY CƠ XUNG ĐỘT TRÊN BIỂN ĐÔNG

VÀ LẬP TRƯỜNG CỦA ÔXTRÂYLIA

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Hai, ngày 4/7/2011

TTXVN (Xítni 29/6)

Viện nghiên cứu chính sách quốc tế Lowy, có trụ sở tại Xítni (Ôxtrâylia), đã cảnh báo rằng những va chạm trên biển gần đây liên quan đến Trung Quốc có thể dẫn tới chiến tranh ở châu Á, đồng thời tiềm ẩn khả năng lôi kéo sự can dự của Mỹ và các cường quốc khác. Trong một báo cáo công bố ngày 28/6, hai tác giả Rory Medcalf và Raoul Heinrichs chỉ rõ cách hành xử mạo hiểm của quân đội Trung Quốc ở biển Hoa Nam (biển Đông) và biển Hoa Đông, cùng với nhu cầu năng lượng to lớn của nước này cũng như thái độ ngày càng quyết đoán của Bắc Kinh, đã làm gia tăng nguy cơ nổ ra một cuộc xung đột vũ trang.
Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , | 9 phản hồi »

145. Hoa Kỳ cần tiến lên và chơi trò chơi tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc

Posted by adminbasam on 01/07/2011

Wall Street Journal

Chơi bi-a trên biển Đông

Hoa Kỳ cần tiến lên và chơi trò chơi tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc

Michael Auslin

30-06-2011

Trên Biển Đông, Trung Quốc đang chơi bi-a, trong khi Mỹ đang chơi trò chơi như là Cướp Cờ (Capture the Flag). Đối với Bắc Kinh, mục tiêu là đánh những quả bóng bi-a khác văng ra khỏi bàn, để chính nó điều khiển. Trong khi đó, Washington cố gắng giữ không cho Bắc Kinh cướp được lá cờ về quyền bá chủ khu vực.

Các nhà hoạch định chính sách Mỹ cần nhận ra rằng, họ đang chơi một trò chơi khác với trò chơi của Trung Quốc và cần điều chỉnh chiến lược của Mỹ. Trong khi chuyển sang chơi bi-a là quá khiêu khích đối với Washington, nếu xu hướng này tiếp tục, chẳng bao lâu sau, Mỹ có thể thấy chính mình ở đằng sau tám trái bóng, không có nhiều lựa chọn trong việc giữ vai trò ổn định trong khu vực.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , | 18 phản hồi »

132. TƯƠNG LAI CỦA LỤC ĐỊA Á-ÂU Ở BIỂN ĐÔNG

Posted by adminbasam on 24/06/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

TƯƠNG LAI CỦA LỤC ĐỊA Á-ÂU Ở BIỂN ĐÔNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Hai, ngày 20/06/2011

TTXVN (Angiê 12/6)

Mạng tin “Địa chính trị” mới đây đăng bài nghiên cứu về biển Đông của tác giả Jure Vujic, luật sư, nhà địa chính trị, nhà văn mang hai quốc tịch Pháp và Croátia như sau:

Trong những thập kỷ tới, nước nào có sức mạnh sẽ giành được bá quyền tại khu vực này, đồng thời sẽ tạo được ảnh hưởng lên các dân tộc và hai khu vực kinh tế giàu nhất và sinh lời nhất thế giới là Tây Âu và Đông Nam Á.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , | 5 phản hồi »

106. Việt Nam bắt đầu quan tâm đến sự giúp đỡ của các nước khác

Posted by adminbasam on 14/06/2011

The Diplomate

Việt Nam bắt đầu quan tâm đến

sự giúp đỡ của các nước khác

Jason Miks

Ngày 12 tháng 6 năm  2011

Việt Nam đã nhận ra rõ hơn một chút cái mối nguy hiểm nằm trong vụ cãi nhau đang diễn ra khi nước này đang kêu gọi Mỹ và các nước khác can thiệp nhằm giúp tìm ra một cách giải quyết nào đó.

Đề nghị này xuất hiện sau khi một số hành động đối đầu thù địch xảy ra trong vài tuần qua ở Biển Hoa Nam [Biển Đông], một khu vực mà hai nước cũng như một vài nước Đông Nam Á khác đang tranh giành nhau kịch liệt. Brunei, Cam-pu-chia, Indonesia, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Thái Lan cũng tuyên bố khẳng định chủ quyền đối với một phần của khu vực này, song những tuyên bố của Việt Nam về sự quấy nhiễu của tàu Trung Quốc mới khiến báo chí đưa tin tức rầm rộ.

Hôm Thứ Năm tuần trước, Việt Nam tuyên bố rằng tàu của Trung Quốc lại một lần nữa xâm phạm lãnh thổ của nước này và cáo buộc Trung Quốc cố tình định cắt đứt cáp của tàu do PetroVietnam thuê. Lần cãi cọ nhau này khác hẳn với lần thứ nhất – như tôi đã nhận xét, Việt Nam hồi năm ngoái đã tức giận vì Trung Quốc nhiều lần bắt giữ ngư dân đang đánh bắt cá ở gần Quần đảo Hoàng Sa có tranh chấp mà Việt Nam tuyên bố là họ có chủ quyền.

Hãng tin Reuters đã có một viết rất rõ về thứ tự thời gian những sự kiện căng thẳng xảy ra gần đây và bây giờ Reuter nên bổ sung sự kiện mới mẻ ấy là Việt Nam đang kêu gọi sự can thiệp của cộng đồng quốc tế. Tờ Bloomberg hôm nay đã dẫn lời phát ngôn viên Nguyễn Phương Nga của bộ ngoại giao nói rằng:

“Duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải là mối quan tâm chung của các nước trong và ngoài khu vực …Mọi nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông đều được hoan nghênh.”

Dĩ nhiên là Bắc Kinh sẽ ghét cay ghét đắng điều này, trước nay Bắc Kinh đều ra sức ngăn cản sự tham gia của các nước ở bên ngoài trong những tranh chấp lãnh thổ [giữa Trung Quốc với một nước khác]. Trung Quốc quả thực đã tức giận khi ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton hồi tháng Bảy năm ngoái đã đề nghị rằng Mỹ có thể là một bên trung gian.

Việt Nam vừa khẳng định họ sẽ tiến hành tập trận hải quân vào ngày mai và trong lúc đó thì họ đã tỏ ra khoan dung đối với những cuộc biểu tình hiếm hoi của hàng trăm người đang phẫn nộ khi thấy Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam. Huy Dương [Dương Danh Huy] ở Việt Nam trong một bài viết trong tuần này đã nêu ý kiến rằng cách tốt nhất để Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác đối phó với điều họ đang nhận ra như là một nước Trung Quốc hống hách đó là họ phải hợp tác với nhau.

Liệu Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác có làm được như vậy hay không? Minxin Pei có một bài viết đáng lưu ý về vấn đề tranh chấp chủ quyền cho tới nay – và Trung Quốc nên làm gì để xoa dịu căng thẳng. Nhưng tôi cũng đã hỏi nhà quan sát Trần Hữu Dũng, một giáo sư kinh tế học tại Đại học Wrigh ở Dayton thuộc bang Ohio, về quan điểm của ông.

“Hầu hết những ai chú ý tới cán cân sức mạnh ở Đông Nam Á đều đồng ý rằng cách duy nhất cho Việt Nam hoặc bất cứ một quốc gia riêng biệt nào trong khu vực để đẩy lùi Trung Quốc là tập hợp lại thành một nhóm”, ông nói với tôi như vậy. “Nhưng điều đó sẽ có nghĩa là Việt Nam buộc phải thừa nhận rằng họ mặt khác sẽ phải công nhận lợi ích của các nước khác trong khu vực. Lợi ích của các nước khác có khi lại khác với lợi ích của Việt Nam. Cho tới nay thì Việt Nam chưa hề đưa ra một chính sách khu vực rõ ràng, dài hạn trong đó bao gồm những cân nhắc nói trên.”

Tôi cũng hỏi ông về quan điểm của ông về những căng thẳng gần đây giữa Trung Quốc và Việt Nam và ông lạc quan ra sao về việc những vụ cãi nhau om xòm trong tương lai có thể được giải quyết một cách ôn hòa.

“ Căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc có nguyên nhân sâu xa từ cách đây hàng ngàn năm và không có lý do nào để kỳ vọng rằng nó sẽ chấm dứt vĩnh viễn. Song điều này không có nghĩa là hai nước không thể chung sống hòa bình trong một thời gian dài,” ông nói. “Sự chung sống hòa bình này không chỉ tùy thuộc vào cách ứng xử của chính phủ Trung Quốc mà còn tùy thuộc vào họ nhận thức ra sao về sự nhu nhược của lãnh đạo Việt Nam. Sự cố gần đây nhất có thể được coi là một phép thử vai trò lãnh đạo nói trên.

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , , , , , | 12 phản hồi »

100. Những hồi trống lệnh xung trận? Căng thẳng đang dâng cao ở Biển Đông

Posted by adminbasam on 12/06/2011

TIME

Những hồi trống lệnh xung trận?

Căng thẳng đang dâng cao ở Biển Hoa Nam

Austin Ramzy

Ngày 10 tháng 6 năm 2011
Những tranh chấp ở Biển Hoa Nam [Biển Đông] thường gây ra cảm tưởng về sự lặp lại những chuyện giống hệt trong quá khứ. Điều này đặc biệt đúng với trường hợp xảy ra trong tuần này khi Việt Nam cáo buộc một chiếc tàu của Trung Quốc đã cố ý cắt đứt cáp thăm dò của một chiếc tàu khảo sát địa chấn đang làm việc cho tập đoàn dầu khí quốc gia PetroVietnam. Việt Nam nói rằng sự cố hôm mồng 9 tháng 6 đã xảy ra trong phạm vi thềm lục địa 200 hải lý mà Việt Nam có các quyền lợi về kinh tế căn cứ theo Công ước năm 1982 của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.  

Trung Quốc đáp lại rằng Việt Nam đã khiêu khích các tàu đánh cá của Trung Quốc đang đánh bắt tại vùng biển mà họ đã làm ăn “từ nhiều thế hệ nay”, theo lời của một tuyên bố bằng văn bản của phát ngôn viên Hồng Lỗi của bộ ngoại giao Trung Quốc. Tàu của Việt Nam trong lúc đuổi các thuyền đánh cá của Trung Quốc đã khiến một chiếc thuyền bị mắc vào mạng cáp được kéo từ chiếc tàu khảo sát của PetroVietnam, phát ngôn viên họ Hồng này đã nói. Hồng Lỗi cáo buộc Việt Nam đang gây nguy hiểm tới cuộc sống của ngư dân Trung Quốc và tuyên bố rằng hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam đã “xâm phạm một cách thô thiển” chủ quyền của Trung Quốc.

Nếu như sự cố ẩu đả nói trên nghe có vẻ quen thuộc thì đó là bởi vì sự cố đó có lý do chính đáng của nó. Chính phủ Việt Nam nói rằng một tàu tuần dương của Trung Quốc hôm 26 tháng 5 đã cắt đứt cáp thăm dò của một chiếc tàu thăm dò khác của Việt Nam. Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam đã than phiền về sự cố này tại cuộc gặp thượng đỉnh về an ninh Shangri-la ở Singapore vào tuần trước. Các cuộc phản đối đã được tổ chức tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và mấy ngày gần đây thì nhiều trang web của Việt Nam và Trung Quốc được cho là đã bị các hacker tấn công và để lại trên giao diện của trang chủ những thông điệp khích động tinh thần dân tộc.

Từ trước tới nay thì Việt Nam và Trung Quốc đã từng có vô số những cuộc đụng độ để tranh giành sự kiểm soát đối với Biển Hoa Nam. Năm 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực đuổi Việt Nam ra khỏi Quần Đảo Hoàng Sa ở phía bắc [của Biển Hoa Nam]. Còn năm 1988 thì hai bên đã đụng độ vũ trang ở Quần đảo Trường Sa ở phía nam là nơi cho đến nay nhiều nước vẫn đang tuyên bố khẳng định chủ quyền đối với một phần quần đảo này. Brunei, Trung Quốc, Malaysia, Philippine, Đài Loan và Việt Nam tất tật đều tuyên bố có chủ quyền đối với ít nhất một phần nào đó của Biển Hoa Nam. Vùng biển này có những vỉa địa chất chứa nhiều dầu mỏ và khí thiên nhiên và đồng thời còn là một tuyến đường dành cho một phần quan trọng hàng hóa được vận chuyển bằng đường biển của toàn thế giới.

Những căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippine liên quan đến những tuyên bố chủ quyền tranh chấp ở Biển Hoa Nam cũng lên đến đỉnh điểm trong những tuần lễ gần đây. Philippine mới đây đã than phiền về việc tàu hải quân Trung Quốc ở vùng biển tranh chấp và Philippine đã cử máy bay quân sự tới một khu vực có tên là Bãi Đá Rong [Reed Bank] hồi tháng Ba sau khi tàu chiến của Trung Quốc quấy nhiễu một tàu khảo sát của Philippine. Hôm Thứ Năm tuần trước, đại sứ Trung Quốc tại Philippine Lưu Kiến Siêu [Liu Jianchao] đã cảnh báo các nước trong khu vực hãy ngừng công việc tìm kiếm nguồn tài nguyên dưới đáy biển “tại những khu vực mà Trung Quốc tuyên bố có chủ quyền” và phủ nhận việc Trung Quốc quấy nhiễu tàu của Philippine. Ông ta nói rằng các hoạt động của Trung Quốc ở vùng biển này là “phù hợp với việc thực thi quyền tài phán của chúng tôi,” hãng thông tấn Associated Press đã đưa tin như vậy.

Hồi năm 2002 các nước có tuyên bố chủ quyền đã đồng ý giải quyết tranh chấp một cách hòa bình về Biển Hoa Nam. Nhưng kể từ dạo đó đến nay hầu như không có sự tiến triển nào. Ngoại trưởng Hillary Clinton năm ngoái đã nói rằng Mỹ sẽ giúp đỡ với vai trò trung gian trong các cuộc đàm phán. Tuyên bố này đã làm Trung Quốc tức giận vì Trung Quốc muốn các cuộc đàm phán chỉ giới hạn trong các bên có tranh chấp với nhau. Thế nhưng phát biểu của Clinton có lẽ đã làm cho một số nước trở nên mạnh dạn đứng lên chống lại Trung Quốc, cụ thể là Việt Nam. Tại cuộc gặp thượng đỉnh Shangri-La, bộ trưởng quốc phòng sắp từ nhiệm của Mỹ  là Robert Gates đã bày tỏ mối quan ngại về tình hình căng thẳng đang dâng cao ở Biển Hoa Nam và rằng nếu không có những thỏa thuận tiếp tục được xúc tiến giữa các bên tuyên bố chủ quyền thì những tranh chấp chắc chắn sẽ tiếp tục kéo dài. “Tôi cho rằng nếu không có luật đi đường và nếu không có những cách tiếp cận được thỏa thuận với nhau để giải quyết những vấn đề này [tranh chấp] thì sự đụng độ chắc chắn sẽ xảy ra, ” ông Gates nói.

Người dịch: Hiền Ba
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Ghi chú: khi bài dịch này lên trang thì đã có 127 phản hồi trên bài gốc. Mời bấm vào tên tờ báo (TIME), trên đầu bài để truy cập.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Khối XHCN sụp đổ, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , , , , , , , | 9 phản hồi »

96. DƯ LUẬN XUNG QUANH CUỘC TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG

Posted by adminbasam on 10/06/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

DƯ LUẬN XUNG QUANH CUỘC

TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG

Thứ Năm, ngày 09/06/2011

TTXVN (Luân Đôn 6/6)

Liên quan đến  cuộc tranh chấp trên Biển Đông, “Tạp chí Á-Âu” tháng 5/2011 đăng bài phân tích của Robert Beckman, Giám đốc Trung tâm Luật Quốc tế, giáo sư tại Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Xinhgapo, đồng thời là chuyên viên nghiên cứu cao cấp tại trường Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (RSIS) thuộc Đại học Công nghệ Nanyang. Tác giả cho rằng cuộc tranh cãi về quyền khai thác tài nguyên quanh quần đảo Trường Sa đã biến thành một cuộc tranh cãi pháp lý. Vấn đề đặt ra là đối tượng tranh chấp là “hòn đảo” hay chỉ là “bãi đá”? Bởi “hòn đảo” thì được hưởng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa, nhưng “bãi đá” thì không. Dưới đây là nội dung bài viết:

Chủ quyền, toàn bộ hoặc một phần, đối với quần đảo Trường Sa trên biển Đông là đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc, Malaixia, Philippin, Việt Nam, Brunây và Đài Loan. Công hàm ngoại giao tháng 4/2011 do Philippin và Trung Quốc nộp lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã đặt nền móng cho một vụ tranh chấp giữa một số nước thuộc ASEAN (Malaixia, Philippin và Việt Nam) và Trung Quốc, liên quan đến chủ quyền pháp lý đối với các bãi đá tạo thành quần đảo Trường Sa.

Vấn đề quan trọng nhất được đưa ra là: Nước nào có quyền thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên trong và dưới các vùng biển xung quanh quần đảo này? Mặc dù đối tượng tranh chấp cuối cùng là tài nguyên thiên nhieê, nhưng cuộc tranh chấp này được dựng lên như một cuộc tranh cãi về pháp lý về nhận thức đối với Điều 121 Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS).

Các định nghĩa pháp lý

Điều 121 quy định rằng một hòn đảo – được định nghĩa là “một khu vực đất tự nhiên nhô lên trên mặt nước khi thuỷ triều lên” – về nguyên tắc có thể tạo ra các vùng lãnh hải giống như đất liền. Chúng bao gồm vùng lãnh hải trong bán kính 12 hải lý, vùng EEZ trong bán kính 200 hải lý và một thềm lục địa. Một số cấu thành của quần đảo Trường Sa do các nước đang chiếm đóng không đáp ứng được định nghĩa của một hòn đảo. Chúng hoặc bị ngập dưới nước khi thuỷ triều lên, hoặc nhô trên mặt nước khi thuỷ triều lên là nhờ được cải tạo hoặc do các cấu trúc nhân tạo. Các bãi đá này thậm chí không được hưởng vùng lãnh hải 12 hải lý.

Đoạn 3 của Điều 121 trong UNCLOS đã tạo ra một ngoại lệ cho một số loại đảo bằng cách nói rằng “các bãi đá mà không thể tự nó duy trì sự sinh sống hoặc đời sống kinh tế của con người” sẽ không có vùng EEZ hay thềm lục địa. Nhiều bãi đá trong quần đảo Trường Sa có thể nằm trong nhóm này và do đó chỉ được vùng lãnh hải 12 hải lý.

Lý lẽ của Malaixia, Việt Nam và Trung Quốc

Công hàm của Philippin gửi lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc hôm 5/4/2011 và của Trung Quốc hôm 14/4/2011 là những văn bản mới nhất trong một loạt công hàm liên quan đến Thoả thuận chung giữa Malaixia và Việt Nam được hai nước trình lên Uỷ ban ranh giới Thềm lục địa của Liên hợp quốc vào ngày 6/5/2009. Trong thoả thuận chung này, Malaixia và Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với một thềm lục địa vượt ra ngoài giới hạn 200 hải lý của vùng EEZ mà họ tuyên bố trên biển Đông.

Ngày 7/5/2009, Trung Quốc phản ứng bằng cách gửi công hàm nói rằng nước này có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Trường Sa và các vùng biển liền kề. Trung Quốc cũng khẳng định chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng biển “liên quan” trên Biển Đông, kèm theo là bản đồ đường “lưỡi bò” 9 đoạn do nước này đưa ra.

Phản ứng của Philippin và sự đáp trả của Trung Quốc

Philippin phản ứng bằng cách gửi công hàm ngoại giao vào ngày 4/4/2011, trong đó nói rằng UNCLOS không cung cấp cơ sở pháp lý cho bất cứ sự đòi hỏi nào về chủ quyền và quyền tài phán trên vùng biển “liên quan” (và các đáy biển và lòng đất) nằm trong đường “9 đoạn” phía ngoài các vùng biển được coi là “liền kề” với các hòn đảo theo định nghĩa tại Điều 121 của UNCLOS. Mặc dù ngôn ngữ thể hiện trong công hàm không rõ ràng, nhưng dường như nó hàm ý Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền và quyền tài phán đối với bất kỳ nguồn tài nguyên nào nằm trong vùng “lưỡi bò” và nằm ngoài vùng biển liền kề với các đảo của nước này.

Ngày 14/4/2011, phản ứng với công hàm của Philippin, Trung Quốc nhắc lại quan điểm lâu nay là nước này có chủ quyền không thể tranh cãi đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa và vùng biển liền kề. Trung Quốc cũng khẳng định chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng nước liên quan, cũng như đáy biển và lòng đất phía dưới. Tuy nhiên, nước này không đề cập đến bản đồ “9 đoạn”, và tuyên bố (lần đầu tiên) rằng quần đảo này được hưởng quyền lãnh hải, vùng EEZ và thềm lục địa. Đây có thể là một động thái quan trọng bởi Trung Quốc dường như đã nêu rõ đòi hỏi của mình và dùng UNCLOS để bảo vệ lý lẽ.

Hòn đảo hay bãi đá?

Trong cuộc tranh chấp về các quần đảo và bãi đá, các nước ASEAN sẽ tiếp tục giữ quan điểm rằng họ có chủ quyền và quyền tài phán đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên ở trong và dưới các vùng nước thuộc quần đảo Trường Sa. Đòi hỏi của họ dựa trên quyền đối với 200 hải lý vùng EEZ tính từ các đường cơ sở thuộc lãnh thổ đất liền hoặc quần đảo của họ. Họ sẽ không đòi hỏi vùng EEZ từ bất kỳ cấu thành nào của quần đảo Trường Sa, và sẽ nhất quán rằng không một cấu thành nào thuộc diện tranh chấp được coi là “hòn đảo”, và những “hòn đảo” đó trên thực tế chỉ là bãi đá.

Chiến lược này sẽ mang lại cho các quốc gia tranh chấp thuộc ASEAN chủ quyền không thể tranh cãi để thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên ở trong và phía dưới của hầu hết các vùng nước thuộc quần đảo Trường Sa. Họ sẽ chỉ không có chủ quyền và quyền tài phán để khai thác tài nguyên thuộc bán kính 12 hải lý liền kề các đảo, chừng nào cuộc tranh chấp vẫn chưa được phán quyết.

Để bảo vệ lợi ích của mình, Trung Quốc sẽ phải duy trì quan điểm là ít nhất một số bãi đá thuộc Trường Sa được tính là “đảo” để được hưởng vùng EEZ và thềm lục địa. Quan điểm này sẽ tạo ra một vùng chồng lấn đáng kể giữa vùng EEZ của quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đòi chủ quyền với vùng EEZ và/hoặc thềm lục địa mở rộng mà các quốc gia tranh chấp thuộc ASEAN có quyền tính từ đường cơ sở của lãnh thổ hay quần đảo của họ.

Trung Quốc sẽ phải đối mặt với một thách thức là trước đây nước này đã có quan điểm về thế nào là đảo và thế nào là bãi đá. Trong các cuộc tranh luận tại Liên hợp quốc liên quan đến cuộc tranh chấp giữa nước này với Nhật Bản về chủ quyền đảo Okinotorishima, Trung Quốc lập luận rằng các đảo nhỏ, ở xa, không có người ở không được trao vùng EEZ hay thềm lục địa. Các quốc gia ASEAN có thể sẽ nói rằng lập luận này của Trung Quốc cũng nên áp dụng đối với các đảo nhỏ trong quần đảo Trường Sa.

***

(Đài RFA 31/5)

Trong vụ tàu hải giám của Trung Quốc vi phạm thềm lục địa Việt Nam, yếu tố pháp lý nào có thể được Việt Nam áp dụng để chống lại hành động mà báo chí gọi là ngang ngược này? Mặc Lâm phỏng vấn Thạc sĩ Hoàng Việt, hiện giảng dạy môn luật quốc tế tại Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh để tìm câu trả lời, nội dung như sau:

Mối đe doạ quân sự

-                           Thưa Thạc sĩ qua việc tàu hải giám của Trung Quốc xâm phạm thềm lục địa Việt Nam và cắt cáp của tàu Bình Minh, theo các quy định của luật pháp quốc tế, thạc sĩ nhận định sự việc này như thế nào?

+ Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên trong Công ước của LHQ về Luật biển và như vậy theo luật pháp quốc tế trong công ước quy định là tất cả các thành viên đều phải có nghĩa vụ tôn trọng công ước.

Công ước quy định rõ ràng các quốc gia ven biển có quyền khai thác và thăm dò khai thác các tài nguyên ở vùng thềm lục địa của mình. Đó là quyền đương nhiên được hưởng theo đúng tinh thần Công ước.

-                           Xin Thạc sĩ nói thêm một số chi tiết về Công ước của LHQ về luật biển và điều khoản áp dụng trong trường hợp này như thế nào?

+  Điều 279 trong Công ước của LHQ về luật biển năm 1982 quy định nếu có tranh chấp thì phải sử dụng biện pháp hoà bình. Ngay điều 2 và điều 33 trong hiến chương LHQ cũng quy định các tranh chấp phải giải quyết bằng hoà bình. Như vậy, có thể khẳng định rằng Trung Quốc đã vi phạm Công ước của LHQ về luật biển năm 1982 và gián tiếp vi phạm Hiến chương LHQ. Thêm nữa Trung Quốc cũng vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông tức là DOC năm 2002 mà Trung Quốc và các nước ASEAN đã ký kết. DOC có quy định rằng các nước phải tự kiềm chế, không được gây những điều phức tạp và không sử dụng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực đối với các bên khác. Trong trường hợp như vậy, hành vi bao vây, và cắt cáp của Trung Quốc có thể nói là đe doạ quân sự.

-                           Thạc sĩ vừa nhắc tới Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước ASEAN. Nếu đem DOC ra chứng minh cho hành động này của Trung Quốc là vi phạm thì chúng ta sẽ được lợi thế gì với các nước trong khối?

+  Tôi nghĩ rằng nếu Việt Nam đưa DOC ra thì sẽ có bằng chứng cho thấy thái độ của Trung Quốc như thế nào. Ở đây cũng phải nói rõ thêm là DOC không ràng buộc về mặt pháp lý, tuy nhiên lại tạo dư luận rất lớn ở tính chính đáng của vấn đề. Nếu Việt Nam nêu ra vấn đề này thì cho thấy dù Trung Quốc luôn đưa ra quan điểm muốn dùng biện pháp hoà bình và thân thiện với tất cả các nước khác, nhưng hành động vừa rồi cho thấy hoàn toàn không giống những gì họ nói. Điều này có thể cảnh tỉnh các nước ASEAN và sẽ giúp các nước ASEAN nhận ra vấn đề trong việc giải quyết tranh chấp biển Đông với Trung Quốc như thế nào.

Kiện ra toà án quốc tế không là chuyện đơn giản?

-                           Mới đây người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc là bà Khương Du đã tuyên bố tàu hải giám của họ chỉ thực hiện những nhiệm vụ bình thường. Ý của bà này muốn nói tới đường lưỡi bò mà Trung Quốc tự đặt ra vào năm 2009 để nguỵ biện cho hành động của tàu hải giám. Trong trường hợp này thì Việt Nam phải đối phó như thế nào?

+  Để đối phó, chúng ta phải phản đối trên tất cả các diễn đàn mà chúng ta có thể làm được. Trước đây tôi cũng đã đưa ra đề nghị là chúng ta phải nên nghĩ tới chuyện kiện ra toà án quốc tế. Nhưng phải nói thêm rằng việc kiện ra toà sẽ có những vấn đề khó khăn.

Thứ nhất, khi ra toà thì chúng ta sẽ kiện ra Toà án Quốc tế về luật biển theo công ước 1982. Toà án này trực tiếp giải quyết những tranh chấp về những điều, những quy định trong luật biển. Hoặc là Việt Nam có thể đưa ra một toà án trọng tài nào đó để họ có biện pháp phân xử. Thế nhưng cái khó nhất là Trung Quốc vẫn đang từ chối việc ra toà án quốc tế, mà các toà án quốc tế nói chung đều phải có sự chấp thuận của cả hai bên, cho nên đấy là điều khó. Vì vậy, chúng ta phải tìm mọi diễn đàn để đưa vấn đề này ra và kéo dư luận quốc tế vào phản đối vấn đề đó.

-                           Nếu Trung Quốc cương quyết không chịu tham gia phiên toà thì Việt Nam còn có cách nào khác để đánh động với các nhà làm luật quốc tế?

+  Hiện bây giờ điều đó chưa thể xảy ra! Bởi vì Trung Quốc đã khước từ khi bị đưa ra toà án. Thứ hai, nếu đem ra Hội đồng Bảo an có lẽ Việt Nam có thể đánh động cho Hội đồng Bảo an, nhưng điều này cũng khó vì Trung Quốc là thành viên thường trực nên họ sẽ phủ quyết. Tuy nhiên ở đây vấn đề quan trọng nhất là gì? Đó là công luận thế giới. Toàn bộ công luận thế giới và những người yêu chuộng hoà bình, công bằng công lý sẽ nhận biết được vấn đề và đấy cũng là một sức mạnh rất lớn.

-                           Một lần nữa xin cám ơn Thạc sĩ Hoàng Việt đã trả lời phỏng vấn của chúng tôi.

***

(Đài Ôxtrâylia 3/6)

Nhằm tìm hiểu thêm những diễn biến mới nhất về tình hình ở Biển Đông, Đài Ôxtrâylia cũng đã có cuộc phỏng vấn Thạc sĩ Hoàng Việt. Sau đây là nội dung chi tiết:

-                           Những hành động mới đây của Trung Quốc cho thấy có vẻ họ muốn bước thêm một bước dài trong tranh chấp ở biển Đông. Thạc sĩ nhận định thế nào về điều này?

+  Những hành động của Trung Quốc gây căng thẳng trên biển Đông vừa rồi không phải là ngẫu nhiên mà nằm trong một chuỗi hành động được tính toán từ rất lâu của họ. Với tham vọng vươn ra đại dương, Trung Quốc đã hình dung ra hai chuỗi đảo chính, trong đó biển Đông nằm trong chuỗi đảo số 1, như là cửa ngõ để Trung Quốc có thể vươn ra chuỗi đảo số 2, dần dần thống trị Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Để độc chiếm biển Đông, họ đưa ra “đường lưỡi bò”, công khai từ năm 2009 và nhanh chóng bị hầu hết các nước trong khu vực biển Đông phản đối, chỉ ra sự vô lý của nó. Thiếu cơ sở pháp lý, nhưng Trung Quốc vẫn cứ muốn dùng sức mạnh quân sự của mình để duy trì “đường lưỡi bò” trên thực tiễn.

Mới đây, sau chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt đến hai nước Inđônêxia và Philippin, không rõ là các bên có trao đổi gì không, nhưng hành động của Trung Quốc bắt đầu cứng rắn hơn rất nhiều. Năm 1992, Trung Quốc từng cấp phép cho một công ty của Mỹ khai thác dầu ở bãi Tư Chính, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam, nhưng phải rút khi Việt Nam phản đối mạnh. Thì đến bây giờ, vụ tàu Bình Minh cũng gần giống như thế, vì nơi tàu bị cắt cáp cũng nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam, mà theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 thì Việt Nam có toàn quyền khảo sát, thăm dò, khai thác các tài nguyên.

-                           Bước đi kế tiếp của Trung Quốc có thể là gì, thưa ông?

+  Một điều phía Việt Nam cần cẩn trọng là Trung Quốc, sau những hành động xâm lấn, có thể đưa ra cái bẫy “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Thế nhưng lại cùng khai thác ở ngay trong thềm lục địa, trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam mà hiển nhiên mình phải có toàn quyền khai thác. Đặc biệt là hiện tại Việt Nam và Trung Quốc lại đang đàm phán ở cấp thứ trưởng ngoại giao về nguyên tắc giải quyết chung đối với tranh chấp trên biển. Tôi nghĩ các hành động hung hăng của Trung Quốc có lẽ sẽ còn tiếp diễn rất nhiều, đây mới chỉ là khúc dạo đầu thôi.

-                           Ông đánh giá thế nào về những phản ứng của nhà nước Việt Nam trước các động thái của Trung Quốc mấy ngày qua?

+  Tôi nghĩ phản ứng của nhà nước Việt Nam rất kịp thời và cũng thẳng thắn. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga còn tuyên bố hải quân Việt Nam sẽ làm tất cả để bảo vệ chủ quyền. Điều này tôi rất đồng ý, chúng ta không muốn sử dụng biện pháp chiến tranh nhưng chúng ta phải bằng mọi cách bảo vệ cái gì thuộc về chúng ta. Tuy nhiên, Việt Nam trong vụ tàu Bình Minh cũng có chút bị động. Chúng ta nên nhận thức rằn hành động của Trung Quốc là nằm trong một chuỗi tính toán như thế và cần chủ động hơn trong cách đối phó.

-                           Theo dõi các động thái của Việt Nam thì có vẻ có một sự thay đổi lớn trong phản ứng với Trung Quốc, chẳng hạn như báo chí được phép đưa tin rộng rãi hơn?

+  Cũng không hẳn là thay đổi lớn mà là đã đến lúc không thể không làm được. Nếu không lên tiếng thì mọi chuyện sẽ trôi qua, sẽ thành tiền lệ, Trung Quốc sẽ tiếp tục lấn tới. Khi sự xâm phạm của Trung Quốc ở mức nghiêm trọng như vậy thì buộc phía Việt Nam phải có phản ứng mạnh thôi.

-                           Theo ông, Việt Nam cần có thêm những bước đi nào nữa trong việc đối phó với các hành động gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông?

+  Trước mắt là Việt Nam phải có những động thái để kêu gọi cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước ASEAN. Các nước ASEAN mà cùng lên tiếng mạnh thì có lẽ thái độ của Trung Quốc cũng sẽ thay đổi. Bởi nếu cứ để diễn biến thế này, Trung Quốc vẫn cố tình tiếp tục như thế và Việt Nam bằng mọi giá bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán của mình thì tương lai về một cuộc xung đột quân sự là điều khó tránh. Mà chiến tranh thì chẳng bên nào có lợi, kể cả Trung Quốc.

Đồng thời, một điều rất quan trọng bây giờ là Việt Nam phải nhanh chóng ban hành luật biển, phải luật hoá, quy định rõ những vùng biển nào của ta và cách hành xử để khi bị xâm phạm thì lực lượng cảnh sát biển sẽ dễ xử lý. Luật biển Việt Nam soạn thảo đến 13 năm nay vẫn chưa đưa ra Quốc hội để thông qua, trong khi các quốc gia khác xung quanh đã có cả rồi.

-                           Theo báo Sài Gòn Tiếp thị, mới đây tại Quảng Ngãi đã có xã thành lập đội dân quân biển chia nhóm hoạt động trên các tàu đánh cá, có thể “độc lập chiến đấu” trong một số tình huống. Theo ông, điều này có nên không?

+  Khó lắm, cái này phải nghiên cứu kỹ lại. Nó có thể gây nguy hiểm thêm cho ngư dân. Khi bị bắt, ngư dân không có súng có thể còn được đối xử bình thường, có súng thì có khi lại bị quy cho là hải tặc, làm mọi chuyện phức tạp hơn. Còn tàu cá cảu ngư dân thì không thể nào mà so sánh với các tàu hải giám hay tàu quân sự trang bị hiện đại của Trung Quốc được.

-                           Thưa ông, liệu chúng ta có thể nói tình hình căng thẳng Biển Đông đã bước sang một giai đoạn mới gay cấn hơn không?

+  Như tôi đã nói thì các hành động hung hăng của Trung Quốc có lẽ sẽ còn tiếp diễn phức tạp hơn nữa. Từ đầu năm, tôi đã tiên lượng rằng khả năng khoảng tháng 5 thể nào cũng căng thẳng, vì hàng năm Trung Quốc vẫn đưa ra lệnh cấm đánh bắt cá ở biển Đông từ ngày 16/5. Năm nào các hành động của Trung Quốc cũng thường bắt đầu gia tăng vào tháng 5, gây nên căng thẳng dai dẳng giữa hai bên. Những hành động của Trung Quốc chắc chắn không phải là cuối cùng, đó chỉ là những hành động nối tiếp có tính toán trong một chuỗi các hành động của Trung Quốc để làm cho các quốc gia khác công nhận “đường lưỡi bò” họ đưa ra. Tình hình sẽ còn căng thẳng hơn nữa.

***

Tình hình tại vùng Biển Đông trong thời gian gần đây đã trở nên sôi động, đặc biệt từ ngày 26/5 khi các tàu hải giám Trung Quốc phá hoại thiết bị của tàu thăm dò dầu khí Việt Nam. Sự việc này diễn ra cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý và cách đảo Hải Nam Trung Quốc khoảng 600 hải lý. Mới đây, tin cho biết hải quân Trung Quốc đã dùng súng uy hiếp ngư dân Việt Nam hoạt động tại vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Phát ngôn viên hai nước đều đã lên tiếng khẳng định chủ quyền tại những khu vực tranh chấp. Những sự việc nghiêm trọng vừa qua đã trở thành đề tài nóng bỏng đựơc dư luận và giới truyền thông trong và ngoài nước theo dõi sát sao và bình luận. Đài Ôxtrâylia đã có cuộc phỏng vấn Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam, xung quanh vấn đề Biển Đông.

-                           Thưa giáo sư, tại sao tình hình trong vùng Biển Đông lại đột nhiên trở nên căng thẳng trong thời gian gần đây?

+  Trung Quốc đã thực hiện ba hành động khiến tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng. Ngày 2/3, các tàu tuần tiễu Trung Quốc ra lệnh cho một tàu thăm dò địa chấn Philippin phải rời vùng biển quanh khu vực ‘bãi Cỏ Rong’ (Reed Bank). Trong tháng Năm vừa qua, nhà cầm quyền đại phương Trung Quốc lại đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trong khu vực Biển Đông. Lệnh này đã giúp ngư dân Trung Quốc ngày càng lấn lướt khi họ tiến vào đánh bắt thuỷ sản trong các ngư trường truyền thống của Việt Nam. Ngày 26/5 các tàu hải giám Trung Quốc tiến lại gần một tàu thăm dò dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) và cố tình cắt đứt dây cáp chìm dùng để vẽ bản đồ khu vực. Phía Trung Quốc cũng ra lệnh tàu Việt Nam phải rời khu vực này. Những động thái này của Trung Quốc diễn ra sâu trong Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Việt Nam và ở ngoài khơi thành phố Nha Trang.

Các hành động của Trung Quốc khiến Philippin và Việt Nam phản đối. Trung Quốc phản ứng lại bằng cách tuyên bố nước này vẫn chỉ thực hiện các thẩm quyền ‘bình thường’ của mình khi ‘quản lý’ vùng biển mà Trung Quốc cho là thuộc lãnh hải của họ.

-                           Thưa Giáo sư, liệu tình hình có thể tồi tệ hơn hay không?

+  Tình hình có thể tồi tệ hơn nếu Trung Quốc tiếp tục hung hãn khẳng định chủ quyền bằng cách sử dụng vũ lực chống lại các tàu thăm dò không có vũ trang. Cho tới nay Trung Quốc vẫn sử dụng các tàu hải giám dân sự thay vì dùng chiến hạm. Philippin hoặc Việt Nam có thể sẽ phái tàu bảo vệ đi kèm các tàu của mình. Điều này sẽ khiến tình hình trở nên phức tạp hơn.

-                           Việt Nam phải làm gì để giải quyết tình hình này?

+  Việt Nam đã gửi kháng thư tới Đại sứ quán Trung Quốc. Trước tiên, Việt Nam phải tiếp tục phản đối các hành động của Trung Quốc và công khai hoá vấn đề này. Đồng thời, Việt Nam phải hối thúc Trung Quốc mở một cuộc họp cấp cao với giới lãnh đạo Bắc Kinh để tìm phương cách ngăn những vụ việc tương tự có thể tiếp tục xảy ra hoặc ngăn chặn không để cuộc tranh chấp leo thang. Thứ hai là Việt Nam phải tìm kiếm sự hậu thuẫn từ phía Inđônêxia, Chủ tịch hiện thời của ASEAN. Mục đích là để quốc gia này lãnh đạo các thành viên ASEAN hình thành một lập trường thống nhất đối với Trung Quốc trong những phiên họp sắp diễn ra trong năm nay. Thứ ba là Việt Nam phải vận động những quốc gia hàng hải khác như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Ôxtrâylia để họ hậu thuẫn về mặt ngoại giao. Thứ tư là Việt Nam phải yêu cầu mở các cuộc hội đàm với các quốc gia hàng hải thân hữu để bàn về vấn đề duy trì chủ quyền đối với Vùng Đặc quyền Kinh tế của những nước này. Thứ năm là Việt Nam phải cải thiện tàu bè để tạo thuận lợi cho việc thông tin, liên lạc giữa các tàu thăm dò dầu khí và các nhà chức trách trong lĩnh vực hải quân và không quân. Mục đích của việc này nhằm hộ tống tàu tuần tra và yểm trợ bằng không quân cho các tàu dò tìm dầu khí của Việt Nam nếu như những tàu này bị tàu hải giám Trung Quốc đe doạ.

-                           Việt Nam có thể được ASEAN giúp đỡ để giải quyết tình hìn hay không, thưa ông?

+  Năm 2010, ASEAN và Trung Quốc đã xét duyệt Nhóm Công tác Hỗn hợp để thực thi bản ‘Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc’ (DOC). Mặc dù DOC đã được Trung Quốc và ASEAN ký hồi năm 2002, nhưng văn kiện này chưa bao giờ được thi hành. ASEAN đang hối thúc Trung Quốc tạo thêm điều kiện để bản quy tắc ứng xử có hiệu lực hơn. Tất cả những vấn đề này không có tiến triển và chỉ dậm chân tại chỗ.

Việt Nam phải cùng với Philippin và những quốc gia duyên hải khác hối thúc Trung Quốc thực hiện thêm các biện pháp để vấn đề này tiến triển. Điều mà ASEAN có thể làm là cố tìm ra được những động thái hành xử mà các bên liên quan có thể chấp nhận được và đưa ra những biện pháp để xây dựng niềm tin. Cuộc xung đột về lãnh thổ và chuỷ quyền chỉ có thể được giải quyết bởi các quốc gia có liên quan trực tiếp hoặc với sự đồng ý của những nước này và nhờ quốc tế làm trọng tài phân xử.

-                           Thế còn Mỹ thì sao? Việt Nam có thể được Mỹ giúp đỡ trong vấn đề này chứ, thưa Giáo sư?

+  Mỹ không theo phe nào trong vấn đề xung đột chủ quyền lãnh thổ. Vì vậy, tôi cho là Mỹ sẽ không trực tiếp can dự vào vấn đề song phương giữa Trung Quốc với Việt Nam. Mỹ đã chính thức đề nghị góp phần vào việc giải quyết cuộc tranh chấp. Tuy nhiên, phía Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị và xem đó như là sự can thiệp từ bên ngoài. Đại sứ Mỹ tại Philippin đã lên tiếng kêu gọi các bên hãy tự kiềm chế và giải quyết vấn đề một cách hoà bình.

Mỹ sẽ bảo vệ quyền an toàn và tự do hàng hải trong hải phận quốc tế. Tuy nhiên những hành động của Trung Quốc không đe doạ những khu vực này. Mỹ cũng sẽ chống lại bất kỳ nước nào khác muốn thiết lập quyền bá chủ tại Biển Đông.

Việt Nam không thể thực sự trông mong Mỹ giúp đỡ. Việt Nam không phải là nước ký hiệp ước đồng minh với Mỹ như Philippin, cũng không phải là đối tác chiến lược với Mỹ như Xinhgapo. Mặc dù Việt Nam đã đánh tiếng muốn đẩy mạnh công cuộc hợp tác quốc phòng với Mỹ, nhưng Mỹ quan ngại sẽ bị ‘lừa phỉnh’ trong cuộc tranh chấp song phương giữa Việt Nam với Trung Quốc.

Việt Nam đang gặp khó khăn vì đã nhượng bộ và chiều theo ý Trung Quốc trong thời gian quá dài trong khi đó họ lại do dự và miễn cưỡng trong việc phát triển mối quan hệ quốc phòng với Mỹ. Nếu như những mối quan hệ này được phát triển từ khoảng một thập niên qua thì giờ Việt Nam đã ở vị trí tốt hơn để hợp tác với Mỹ trong vấn đề này.

-                           Thưa Giáo sư, trong trường hợp xấu nhất nếu bùng nổ chiến tranh thì chính phủ Việt Nam sẽ trông cậy vào đâu để tiến hành chiến tranh và để được giúp đỡ?

+  Trong trường hợp đó thì trước tiên Việt Nam chỉ có thể trông cậy vào chính mình để bảo vệ quyền lợi của mình. Bên cạnh đó, ASEAN và cộng đồng quốc tế sẽ ngay lập tức chú ý tới Biển Đông nếu bất kỳ cuộc xung đột vũ trang nào xảy ra. Hai bên trong cuộc xung đột sẽ chịu áp lực rất lớn để ngừng giao tranh. Nếu Trung Quốc sử dụng vũ lực, uy tín nước này sẽ bị phương hại đồng thời ảnh hưởng chính trị của Bắc Kinh sẽ bị suy giảm. Ngoài ra, các quốc gia chính trong khu vực sẽ xích lại gần hơn với Mỹ và các đồng minh của nước này.

-                           Theo ông, người dân Việt Nam nghĩ gì về cách giải quyết vấn đề Biển Đông và biên giới của chính phủ nước này?

+  Biển Đông là vấn đề rất nhạy cảm ở Việt Nam. Kể từ cuối năm 2007, tinh thần dân tộc chống Trung Quốc của người dân Việt Nam bùng phát khi Trung Quốc thành lập huyện Tam Sa và về vấn đề khai thác bô xít. Trách nhiệm hành chính của huyện Tam Sa này bao trùm các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Trung Sa (Maclesfield Bank) . Quyền lợi thương mại của người dân và các ngành nghề ở Việt Nam liên quan tới việc đánh bắt hải sản bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Một số bộ phận trong giới trí thức ủng hộ chủ trương cho rằng chính phủ phải tỏ ra cứng rắn hơn trong việc đối phó với các yêu sách của Trung Quốc. Tinh thần chống Trung Quốc cũng xuất hiện trong một số bộ phận của giới truyền thông và các blogger. Công luận nay rõ ràng đang tạo áp lực và đòi chính quyền phải có lập trường cứng rắn hơn đối với Trung Quốc.

-                           Nhìn chung, người dân Việt Nam nghĩ gì về việc Chính phủ Việt Nam quan hệ với Trung Quốc?

+  Việt Nam và Trung Quốc đã bình thường hoá quan hệ hồi năm 1991. Từ đó tới nay, chính phủ và Đảng Cộng sản hai nước đã phát triển mối quan hệ sâu rộng. Đường biên giới trên đất liền đã được phân định và nay vùng biên giới hai nước đã biến đổi từ khu vực đối đầu thành khu vực hợp tác. Thương mại giữa biên giới hai nước đã phát triển mạnh có lợi cho người tiêu dùng Việt Nam. Vịnh Bắc Bộ đã được phân ranh giới và hai nước đã hợp tác với nhau trong vấn đề ngư nghiệp. Chính phủ hai nước tiếp tục tổ chức các cuộc thảo luận cấp chuyên gia để bàn về vấn đề Vịnh Bắc Bộ và những nguyên tắc dàn xếp các cuộc tranh chấp hàng hải. Từ xa xưa, người dân Việt Nam đã nhận thức rằng Trung Quốc là quốc gia láng giềng và dù muốn hay không thì họ vẫn phải chấp nhận thực tế đó.

Tuy nhiên, hiện nay có một số vấn đề khiến nhiều người lo ngại như mức thâm hụt thương mại giữa hai nước lên tới 13 tỷ USD nghiêng về phía có lợi cho Trung Quốc, việc Trung Quốc hiện đại hoá quân đội, việc công nhân Trung Quốc nhập cư bất hợp pháp vào Việt Nam, việc đầu tư của Trung Quốc ví dụ trong vấn đề bô xít và môi trường, hoặc việc Trung Quốc sách nhiễu ngư dân Việt Nam.

Thật khó có thể khái quát hoá suy nghĩ của người dân Việt về việc chính phủ nước này quan hệ với Trung Quốc. Lý do là vì ở Việt Nam không có các cuộc thăm dò dư luận. Tuy nhiên, rõ ràng một bộ phận lớn trong giới có học và những người hoạt động trong các ngành nghề liên quan tới đánh bắt hải sản muốn thấy chính phủ cương quyết hơn trong việc đối phó với Trung Quốc. Một số người trong hàng ngũ trí thức ở Việt Nam muốn hải quân Việt Nam được tăng cường thêm sức mạnh để có thể bảo vệ chủ quyền. Chính phủ Việt Nam đã phần nào đáp ứng đòi hỏi của người dân qua việc cho phép giới truyền thông loan tải thêm thông tin về quan hệ với Trung Quốc. Tuy nhiên, quan hệ giữa hai nước cần phải được giải quyết một cách khéo léo theo phương thức ngoại giao và đừng để bị ảnh hưởng bởi những xúc cảm nhất thời.

***

(Đài RFI 4/6)

Những hành động khiêu khích của Trung Quốc trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam diễn ra ngay trước thời điểm Đối thoại An ninh châu Á – Thái Bình Dương Shangri-La bắt đầu tại Xinhgapo. Ý đồ của Trung Quốc như thế nào, và liệu cục diện sẽ ra sao nếu tình hình tiếp tục căng thẳng? Giáo sư Chính trị học Nguyễn Mạnh Hùng, Đại học George Mason, Virginia, Mỹ đã trao đổi với RFI Việt ngữ về vấn đề này như sau:

-                           Giáo sư có nhận định thế nào về việc tàu hải giám Trung Quốc đã cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 ngay trên vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam? Đây có phải là một hành động khiêu khích vì Trung Quốc cho rằng Mỹ sẽ không phản ứng mạnh?

+  Đây là một hành động Trung Quốc gia tăng áp lực với Việt Nam, một hành động thăm dò.

-                           Một sự hiện diện thường xuyên ở Biển Đông liệu có nằm trong lợi ích của Mỹ không?

+  Mỹ là một cường quốc hải quân. Mỹ đã tuyên bố rất nhiều lần rằng Biển Đông là một vùng quan trọng đối với Mỹ, và họ rất quan tâm đến sự tự do lưu thông trên đường biển, an ninh hàng hải. Vì thế, Mỹ dĩ nhiên cần có sự hiện diện ở Biển Đông.

-                           Nhưng trong vụ quần đảo Sensaku giữa Trung Quốc và Nhật Bản trước đây, Mỹ đã có phản ứng cứng rắn.

+  Quần đảo Sensaku là chuyện khác. Quần đảo đó đã bị Nhật Bản chiếm và khai thác dầu ở đó. Trường hợp này, Mỹ phản ứng rất mạnh vì Nhật Bản là đồng minh quan trọng nhất của Mỹ ở vùng châu Á-Thái Bình Dương.

-                           Cả Mỹ và Trung đều coi trọng cuộc Đối thoại An ninh châu Á – Thái Bình Dương lần này, với sự hiện diện của hai vị Bộ trưởng Quốc phòng là Robert Gates và Lương Quang Liệt.

+  Lần này, Mỹ đã cử một phái đoàn rất hùng hậu đến hội nghị. Lần trước, tại hội nghị này, phái đoàn Trung Quốc đã bị đặt vào tình trạng bị áp đảo khi các quốc gia Đông Nam Á lên tiếng về vấn đề Biển Đông và Mỹ cũng lên tiếng về vấn đề này. Vì thế, lần này họ đã cử một phái đoàn quan trọng hơn với sự tham gia của Bộ Quốc phòng. Chính ông Gates đã phàn nàn rằng sự gây hấn là do quân đội chứ không phải do chủ trương của các nhà lãnh đạo Trung Quốc.

-                           Qua việc nhấn mạnh đến đối thoại hoà bình mới đây, thái độ của Mỹ trong hội nghị lần này không được mạnh mẽ lắm phải không?

+  Không, lập trường này đã có từ cuộc Đối thoại Shangri-La lần trước đến cuộc họp của các nước ASEAN sau đó. Lập trường của Mỹ cho đến nay vẫn là quan tâm đến những tranh chấp của Biển Đông, quan tâm đến tự do hàng hải của Biển Đông, và trong những tranh chấp giữa các quốc gia đó thì Mỹ không đứng về phía nào cả, nhưng Mỹ muốn những tranh chấp đó được giải quyết hoà bình. Lần trước, bà Hillary Clinton có nói Mỹ sẵn sàng đứng ra làm trung gian hoà giải nếu cần. Lập trường này đến bây giờ vẫn thế.

-                           Trung Quốc luôn đòi đối thoại song phương. Liệu những tiếng nói như của Việt Nam và Philippin có lạc lõng không?

+  Thật ra, Trung Quốc muốn đàm phán song phương để có thể “chia để trị”, nhưng Trung Quốc cũng đã nói rằng nếu có đa phương thì Trung Quốc cũng sẽ tham dự. Về phía Việt Nam thì lập trường rõ ràng rằng có những vấn đề song phương thì giải quyết song phương, ví dụ như Hoàng Sa chẳng hạn, còn những vấn đề đa phương thì phải có sự tham dự của các quốc gia khác như vấn đề Trường Sa. Lập trường đó là lập trường của các quốc gia ASEAN, có sự hợp tác giữa Malaixia, Việt Nam và Philippin. Nhưng ta có thể thấy rằng Trung Quốc thì tìm cách “chia để trị” nên Trung Quốc nhắm voà Philippin và Philippin yếu nhất, lập trường cũng không vững chắc.

-                           Inđônêxia là nước Hồi giáo đông dân nhất thế giới, có lẽ tại Đông Nam Á, Mỹ chú trọng quan hệ với Inđônêxia hơn là với Việt Nam  phải không?

+  Mỗi nước có một điểm quan trọng đặc biệt, Inđônêxia là nước Hồi giáo lớn, nên Mỹ chú trọng quan hệ với họ, sau một thời gian căng thẳng, bây giờ quan hệ giữa hai nước đã trở lại bình thường. Về phần Việt Nam, Việt Nam có một vị trí chiến lược rất đặc biệt bởi vì gần ngay Trung Quốc.

-                           Có phải vì đã tương đối rảnh tay hơn ở Irắc và Ápganixtan nên gần đây Mỹ quan tâm đến vùng Đông Nam Á nhiều hơn không?

+  Mỹ bắt đầu chú trọng Đông Nam Á từ cuối thời của Tổng thống Bush và đến thời Tổng thống Obama đã có những tín hiệu và hành động rõ rệt hơn. Gần đây, Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates có nói rõ dù có cắt giảm ngân sách thì sự quan tâm đến Biển Đông cũng không thay đổi.

-                           Liệu Việt Nam có thể trông đợi vào sự hỗ trợ của Mỹ không?

+  Về vấn đề Biển Đông thì giữa Việt Nam và Mỹ có mối quan tâm chiến lược chung. Việt nam quan tâm đến vấn đề bị Trung Quốc lấn lướt trên Biển Đông, còn Mỹ thì không muốn Trung Quốc biến Biển Đông thành cái hồ của Trung Quốc. Nếu Trung Quốc chế ngự được Việt Nam thì triển vọng đấy nhiều hơn. Vì thế, hai bên có quyền lợi chung như vậy, còn việc giúp đỡ đến đâu thì tuỳ thuộc quyền lợi của hai bên, tuỳ thuộc cả vào thái độ của Trung Quốc.

-                           Bây giờ, đặt giả thiết nếu Trung Quốc tấn công Việt Nam thì phản ứng sẽ như thế nào?

+  Nếu xảy ra như vậy thì Mỹ chưa chắc sẽ can thiệp bằng quân sự, chỉ có thể lớn tiếng phản đối, các nước Đông Nam Á cũng vậy. Nếu Trung Quốc làm việc đó thì nền ngoại giao của Trung Quốc trong Đông Nam Á sẽ bị ảnh hưởng, thiệt hại rất nhiều, sẽ bị lên án trên toàn thế giới.

-                           Dù hải quân Trung Quốc có mạnh hơn, chiếm đựơc các đảo của Việt Nam đi nữa thì theo giáo sư, đó là một hành động “lợi bất cập hại” phải không?

+  Điều đó còn tuỳ vào sự tính toán của Trung Quốc, nếu Trung Quốc chiếm hiết đảo thì Việt Nam thiệt hại rất lớn về mọi phương diện. Việc chiếm đảo của Trung Quốc chắc chắn sẽ gây mâu thuẫn và bộ mặt của Trung Quốc trên thế giới với khẩu hiệu “Phát triển hoà bình” không còn được người ta tin tưởng nữa, và các quốc gia Đông Nam Á chắc chắn sẽ ngày càng nghiêng về Mỹ để chống lại Trung Quốc. Vậy là, có thể Trung Quốc sẽ thắng lợi về quân sự nhưng thiệt hại về ngoại giao, chính trị, và có thể là cả kinh tế nữa.

-                           Bên cạnh việc củng cố sự hiện diện của quân đội ở Đông Nam Á thì Mỹ có thể nghĩ đến việc hỗ trợ các nước nhỏ trong vùng để tự vệ không?

+  Vào tháng 7/2009, trong cuộc thuyết trình trước quốc hội, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ, cũng như Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đều nói rằng đang tìm cách tăng cường liên lạc đối tác về phương diện chiến lược với các quốc gia Đông Nam Á. Chúng ta thấy rằng quan hệ đã được tăng cường rất nhiều.

-                           Trong sự kiện Biển Đông vừa rồi, có vẻ là Việt Nam bị cô lập phải không?

+  Tôi không nghĩ Việt Nam bị cô lập. Trong sự kiện vừa rồi, Việt Nam là nạn nhân, các quốc gia đều nghĩ Trung Quốc có thể đe doạ Việt Nam thì cũng có thể đe doạ mình vì vậy khối ASEAN chắc chắn phải lên tiếng, Mỹ chắc chắn phải có phản ứng./.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Tagged: , , , , , , , , , | 3 phản hồi »

Tại sao Trung Quốc lại cần Bin Laden

Posted by adminbasam on 28/05/2011

The Diplomat

Tại sao Trung Quốc lại cần Bin Laden

Frank Ching

Ngày 26 tháng 5 năm 2011

 

Vụ ngày 11 tháng 9 [nước Mỹ bị khủng bố] đã khiến Mỹ sao nhãng khỏi sự trỗi dậy của Trung Quốc. Nếu không có vụ tấn công ngày 11 tháng 9 [không tặc cho máy bay đâm vào tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại quốc tế ở New York] thì Trung Quốc có lẽ sẽ không thể có được một vị trí như ngày hôm nay, Frank Ching nói.

Sau cuộc tấn công khủng bố nhằm vào nước Mỹ vào hôm 11 tháng 9 năm 2001 người ta thường nghe thấy câu “mọi thứ đều đã thay đổi”. Giờ đây sau khi sự việc đã lắng xuống sau khi Osama bin Laden bị giết thì có lẽ đây là thời điểm thích hợp để đánh giá lại mọi chuyện chỉ để xem thử thế giới đã thực sự thay đổi như thế nào.

Song hễ người ta định làm chuyện này thì y như rằng điều có thể nhìn thấy rõ là trong khi nhìn từ điểm đứng của nước Mỹ thì mọi chuyện đã trở nên tồi tệ đi nhưng nhìn từ điểm đứng của Trung Quốc thì vụ tấn công nước Mỹ lại là một chuyện không may mà lại hóa may.

Sau khi Liên bang Sô Viết sụp đổ, chính quyền của George W. Bush vào tháng 1 năm 2001 đã coi Trung Quốc như là kẻ thù tiếp theo. Chính quyền mới nhậm chức này của Mỹ có ý định tăng cường mối quan hệ với các đồng minh ở châu Á, nhất là Nhật Bản và Hàn Quốc đồng thời ủng hộ vị thế chính trị và quân sự của Đài Loan.

Bản thân ông Bush đã từng phản đối chính sách xây dựng quan hệ chiến lược với Trung Quốc dưới thời của Clinton, ông gọi Bắc Kinh là một đối thủ chiến lược chứ không phải là một đối tác chiến lược.

Khi thứ trưởng ngoại giao Mỹ Richard Armitage bắt đầu thực hiện chuyến thăm châu Á đầu tiên để thảo luận các kế hoạch của Mỹ nhằm xây dựng và triển khai hệ thống tên lửa phòng thủ thì ông tới Nhật Bản, Hàn Quốc và cố tình bỏ qua Trung Quốc. Việc tới thăm Trung Quốc đã được giao cho một người ở cấp thấp hơn của ông đó là James Kelly, trợ lý phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương.

Nhưng vụ đâm nhau giữa một chiếc máy bay do thám EP-3 của Mỹ với một chiếc máy bay tiêm kích của Trung Quốc làm viên phi công của Trung Quốc thiệt mạng hôm 1 tháng 4 năm 2001 đã gây ra một cuộc khủng hoảng sớm hơn dự kiến và làm cho quan hệ Trung-Mỹ càng giảm sút hơn nữa.

Chiếc máy bay nói trên của Mỹ hôm đó đã hạ cánh khẩn cấp xuống đảo Hải Nam và phi hành đoàn 24 người đã bị bắt giữ. Ở Mỹ, những dải ruy-băng màu vàng đã được quấn quanh những thân cây làm người ta nhớ lại vụ bắt giữ con tin Mỹ ở Iran [yellow ribbons are tied to trees là thành ngữ Mỹ hàm ý sự mong đợi những người thân sẽ được trở về nhà an toàn]. Tình hình càng trở nên xấu đi khi Kelly tuyên bố trước Tiểu ban Đối ngoại của Hạ viện rằng “những sự kiện gần đây đã đặt vấn đề nghi ngờ nước Mỹ đang đứng ở đâu trong quan hệ với Trung Quốc và chúng ta muốn đi tới đâu.”

10 ngày sau khi phi hành đoàn được thả, ông Bush đã quyết định một thỏa thuận lớn về bán vũ khí cho Đài Loan với đề xuất bán trang thiết bị trị giá nhiều tỉ đô la – hợp đồng mua bán vũ khí lớn nhất kể từ khi tổng thống Bush Cha quyết định bán máy bay F-16 cho Đài Loan. Hợp đồng mới này bao gồm các tàu ngầm chạy bằng diesel mà Mỹ trước đó chưa bao giờ chào bán cho Đài Loan.

Trung Quốc đã đưa ra một phản đối mạnh mẽ vụ mua bán này. Song, nhiều ngày sau đó vào dịp kỷ niệm 100 ngày ông nhậm chức, ông Bush đã nói trong một cuộc trả lời phỏng vấn của chương trinh Good Morning America rằng nước Mỹ sẽ “làm bất cứ điều gì để giúp Đài Loan tự vệ” chống lại Trung Quốc – một cam kết thậm chí còn đi xa hơn cả Đạo luật Quan hệ với Đài Loan [Taiwan Relations Act được Quốc hội Mỹ thông qua năm 1979 sau khi Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Đạo luật này thừa nhận quan hệ ngoại giao không chính thức (de facto) giữa Mỹ và Đài Loan và Viện Hoa Kỳ ở Đài Loan có cấp ngang [không chính thức] với một đại sứ quán Mỹ].

Sau đó một tháng, tháng 6 năm 2001, chính quyền của ông Bush đã cấp chiếu kháng quá cảnh cho tổng thống Đài Loan Trần Thủy Biển [Chen Shui-bian], điều này đã vượt quá những điều khoản hạn chế được qui định dưới thời của chính quyền Clinton. Quả thực, ông Trần đã được cho phép quá cảnh Mỹ trên đường đi tới thăm một số nước ở châu Mỹ La Tinh và trên đường trở về Đài Loan, đầu tiên là lưu lại New York hai đêm rồi sau đó là ghé qua Huston một đêm.

Trong khi chính quyền của Cliton trước đó đã cố gắng giữ cho những chuyến viếng thăm của Đài Loan càng mang tính chất phi chính thức bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu thì chính quyền của ông Bush lại khuyến khích các nghị sĩ Quốc hội gặp gỡ lãnh đạo của Đài Loan với lý lẽ là việc gặp gỡ các nguyên thủ nước ngoài sẽ giúp “thúc đẩy những lợi ích quốc gia của Mỹ.”

Hầu như chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi mà vào thời điểm đó Trung Quốc càng lúc càng trở nên lo lắng về những ý đồ của Mỹ.

Một bài báo trên tờ Washington Post số ra ngày 22 tháng 6 năm 2001 viết rằng “giới lãnh đạo Trung Quốc ngày càng lo ngại rằng Washington và Bắc Kinh đang đi đến một sự đối đầu khi Trung Quốc nổi lên như là một cường quốc kinh tế và quân sự ở châu Á.”

Bài báo này dẫn cả các quan chức và nhà phân tích của Trung Quốc lẫn Mỹ cho thấy mối lo ngại rằng “những thay đổi trong thái độ của cả hai quốc gia dường như đang cho thấy dấu hiệu của một sự hạ quân bài để xem ai thắng ai thua.”

Một số phái viên của Trung Quốc, trong đó có thứ trưởng ngoại giao Chu Văn Chủng  [Zhou Wenzhong], đã được Chủ tịch Giang Trạch Dân phái đi để trấn an Mỹ rằng lãnh đạo Trung Quốc muốn ngăn ngừa mọi xung đột có thể xảy ra trong tương lai.

Giữa lúc mọi chuyện đang diễn ra trên nền tảng như vậy thì vào buổi sáng ngày 11 tháng 9 năm 2001 những tên khủng bố al-Quaeda đã bắt cóc bốn chiếc máy bay dân dụng và cho đâm vào Trung tâm thương mại quốc tế ở New York và trụ sở Bộ Quốc phòng ở Washington D.C. 

Nhìn từ viễn cảnh này thì cuộc tấn công của bin Laden là một cơ hội trời cho đối với Trung Quốc, một cơ hội đã được ông Giang Trạch Dân lập tức chộp lấy luôn. Nhà lãnh đạo Trung Quốc này đã ngay lập tức bày tỏ sự cảm thông và ủng hộ dành cho ông Bush tiếp theo một cú điện đàm với ông Bush.

Tổng thống Mỹ nhanh chóng nắm lấy bàn tay thân thiện do Trung Quốc giơ ra, điều này đã tạo ra một bước ngoạt ấn tượng trong quan hệ Mỹ-Trung. Vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 vào nước Mỹ quả thực đã làm thay đổi căn bản toàn bộ cách nhìn toàn cục của chính quyền Bush.

Do vụ tấn công này mà chính quyền Bush không còn tập trung sự chú ý vào Trung Quốc như là kẻ thù tiếp theo [Liên Xô]. Thay vì thế, chính quyền Bush đã chuyển sự chú ý tới các hoạt động của các nhóm Hồi giáo cực đoan và al-Quaeda trên khắp thế giới. Sự thật là, sẽ không phải là quá đáng nêu nói rằng Trung Quốc đã chịu một món nợ biết ơn sâu nặng đối với Osama bin Laden.

Sau vụ tấn công ngày 11 tháng 9, Mỹ bắt đầu phát động các cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq mà cho đến nay đã tiêu tốn hơn một nghìn tỉ đô la và lấy đi sinh mạng của 6000 binh lính.

Trong lúc Washington tập trung sự chú ý vào Trung Đông và Afghanistan thì Trung Quốc tập trung vào phát triển kinh tế và vun đắp mối quan hệ với các quốc gia trên khắp thế giới, nhiều nước trong số đó trước đây đã bị Mỹ bỏ quên.

Từ năm 2001 đến 2010, nền kinh tế của Trung Quốc đã tăng trưởng gấp bốn lần. Nền kinh tế Trung Quốc được kỳ vọng sẽ bắt kịp nền kinh tế Mỹ trong tương lai có thể dự đoán được và đang trở thành một nền kinh tế dẫn đầu toàn thế giới đóng góp hơn 20% GDP của thế giới – cao hơn mức đóng góp của nước Mỹ.

Hôm nay, nền kinh tế Trung Quốc đã vươn ra toàn cầu. Trong khi trước đây nước Mỹ từng có ảnh hưởng lớn ở châu Á thì nay Trung Quốc chứ không phải Mỹ đang là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và Ấn Độ – ba đồng minh quân sự số một của Mỹ.

Ở Đông Nam Á, Trung Quốc đang là đối tác thương mại lớn nhất của các nước ASEAN, ngoài ra Trung Quốc cũng là đối tác thương mại lớn nhất của châu Phi. Ở châu Mỹ La Tinh, nước Mỹ vẫn là đối tác thương mại quan trọng, song ngay cả ở đây Trung Quốc cũng đang có ảnh hưởng ngày càng gia tăng và hiện nay Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của  Brazil và Chi-lê.

Nước Mỹ, trái lại, đã trải qua một thập niên không dễ dàng. Mặc dù ông Bush hồi năm 2002 có nói rằng nước Mỹ “đang có được một vị trí sức mạnh quân sự và tầm ảnh hưởng kinh tế và chính trị không nước nào sánh kịp’, nhưng hôm nay thì khắp nơi người ta đều nhận ra rằng đất nước này đang ở trong tình trạng đi xuống.

Giữa tháng trước, Ngân hàng Thế giới đã dự đoán rằng đồng đô la Mỹ sẽ mất vị trí thống trị trong nền kinh tế toàn cầu vào năm 2025 với đồng euro và đồng nhân dân tệ đang tự xác lập địa vị bình đẳng trong một hệ thống tài chính “đa tiền tệ” mới xuất hiện.

Sau khi bin Laden bị giết, Bộ Ngoại giao Trung Quốc được đề nghị cho ý kiến bình luận. Họ đã trả lời là Trung Quốc coi việc bắn chết thủ lĩnh của al-Quaeda “là một sự kiện quan trọng và sự phát triển tích cực trong chiến dịch chống khủng bố của toàn thế giới.”

Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc dĩ nhiên không bình luận rằng bin Laden đã có một đóng góp đáng kể cho an ninh và tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong 10 năm qua. Nhưng nói cho đúng sự thật thì Trung Quốc không thể có được như ngày hôm nay nếu không có bin Laden.

Frank Ching là người đã khai trương văn phòng của The Wall Street Journal tại Trung Quốc vào năm 1979. Hiện tại ông làm việc tại Hồng Kong và thường xuyên viết cho một chuyên mục những vấn đề của Trung Quốc [cho The Wall Street Journal]. Ông cũng viết cho các báo như Foreign Affairs, Foreign Policy, World Policy Journal, China Quarterly, Current History và the Washington Quarterly. Có thể theo dõi các bài viết của ông tại địa chỉ sau đây trên Twitter: @FrankChing1

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2011, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Đăng trong Quan hệ quốc tế, Trung Quốc | Tagged: , , , , , | Leave a Comment »

Đài Loan phản đối VN cấp thị thực ghi ĐL là một tỉnh của TQ / Trung Quốc phản đối VN bầu cử ở các đảo tranh chấp

Posted by adminbasam on 11/05/2011

TAIPEI TIMES

Kháng nghị được đưa ra sau khi Việt Nam cấp visa ghi

(Đài Loan là một) “Tỉnh của Trung Hoa”

Shih Hsiu-chuan  /  Phóng viên bản báo

Ngày 11-5-2011

 

Đài Bắc đã gửi kháng nghị tới Việt Nam và yêu cầu cải chính sau khi một nhà lập pháp cung cấp một bản sao thẻ cư trú tạm thời do Việt Nam cấp cho một người Đài Loan trên đó ghi “tỉnh Đài Loan của Trung Hoa,” Bộ Ngoại giao cho biết hôm qua.

“Bộ đã nói chuyện qua điện thoại với Nguyễn Bá Cự, giám đốc Cơ quan Kinh tế và Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc để biểu lộ mối quan ngại nghiêm trọng của chính phủ và phản đối về vấn đề đó,” phát ngôn viên chính phủ Chương Thi Bình nói với phóng viên các báo.

Khi chất vấn thủ tướng Ngô Đôn Nghĩa tại Viện Lập pháp, nghị sĩ Đảng Dân chủ Tiến bộ Trần Đình Phi đã chìa ra bản sao một tài liệu và cho  biết: “các visa của Việt Nam cấp cho người Đài Loan ghi Đài Loan là một tỉnh của Trung Hoa.”

Sau đó mới biết tài liệu do bà Trần nhắc tới là loại “visa cho người lao động” được một người Đài Loan đang làm việc ở Việt Nam cung cấp cho bà, đó đúng là tấm thẻ cư trú tạm thời trên đó các chữ “Tỉnh Đài Loan Trung Hoa” được đóng lên khoảng trống giành cho người nộp đơn xin visa ghi quốc tịch hoặc số hộ chiếu của mình.

Tấm thẻ cư trú tạm thời được cấp ngày 12 tháng 12 năm 2008 có giá trị trong ba năm.

Bà Trần nói người có thẻ này mới đầu không chú ý các chữ “Tỉnh Đài Loan Trung Hoa”  khi ông ta đi đổi visa năm 2008, nhưng ông nhớ chắc chắn rằng phần ghi quốc tịch của ông trong visa cấp trước đó là “Công hòa Trung Hoa”.

“Ông nói rằng, sau khi nhận ra chỗ thay đổi khác đi, ông đã hỏi nhà chức trách Việt Nam, và câu trả lời là “thay đồi gì thì đã được Bộ Ngoại giao Đài Loan đồng ý cả”.

Bộ Ngoại giao Đài Loan không thừa nhận những điều vin vào đó để buộc tội Bộ.

Bà Chương nói rằng Bộ Ngoại giao đã được Cơ quan Kinh tế và Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc cho biết rằng các visa do phía Việt Nam cấp cho người mang hộ chiếu “Cộng hòa Trung Hoa” chỉ có chữ “Đài Loan” thôi, còn các giấy chứng nhận miễn trừ (visa) cấp cho vợ con họ nhưng là công dân Việt Nam thì mới dùng các chữ “Tỉnh Đài Loan Trung Hoa” để chỉ quốc tịch.

Bộ Ngoại giao cũng yêu cầu cải chính các giấy chứng nhận miễn trừ (visa) này nữa, bà Trần nói.

Chiều qua, bộ Ngoại giao Đài Loan đã tiếp một quan chức Việt Nam, nhưng chi tiết cuộc gặp đã không được đưa ra trong cuộc họp báo.

———————–


Hãng thông tấn Đức Deutsch Press Agentur

Bản tin châu Á-Thái Bình Dương

Trung Quốc phản đối Việt Nam bầu cử ở các đảo tranh chấp

10 tháng Năm 2011

Bắc Kinh – Hôm thứ Ba, Trung Quốc nói Việt Nam đã “xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Trung Hoa” khi bầu cử đại biểu trên các hòn đảo tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông)

“Trung Quốc có chủ quyền không bàn cãi đối với các đảo Nam Sa [tên do TQ đặt cho quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam] và vùng lãnh hải quanh các đảo này.” phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trương Du nói với các phóng viên.   

Jiang đã trả lời về cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân mới đây trên các hòn đảo vẫn được quốc tế biết đến dưới tên gọi quần đảo Spratlys.

“Bất kỳ hành động đơn phương của bất kỳ quốc gia nào trên các đảo Nam Sa đều là phi pháp và không có giá trị”, bà Trương nói.

Bà ta nói cuộc bầu cử cũng vi phạm tinh thần bản quy ước ứng xử ở Biển Đông ký năm 2002 có chữ ký của Trung Hoa và 10 nước trong khối ASEAN.

Trong những cuộc thương thuyết tại Hà Nội hồi tháng trước, hai quốc gia đã đồng ý ký một văn kiện sơ khởi những nguyên tắc cơ bản giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở vùng Biển Đông, các phương tiện truyền thông của Việt Nam cho biết.    

Không có hạn định nào hoặc chi tiết nào được đưa ra về bản thỏa thuận này, việc được xem như là một đột phá bế tắc giữa hai quốc gia.

Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Philippin và Brunei đều đưa ra những đòi hỏi đụng chạm nhau về những bộ phận khác nhau trên Biển Nam trung Hoa (Biển Đông). Ai ai cũng nghĩ rằng các đảo tranh chấp và các vùng nước bao qnanh chúng đều giàu tài nguyên cá và các nguồn khoáng sản. Khối ASEAN gồm có các nước Indonesia, Malaysia, Philippin, Singapore, Thailand, Brunei, Myanmar, Cambodia và Việt Nam.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2011, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Đăng trong Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Tagged: | Leave a Comment »

 
%d bloggers like this: