BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘TQ xâm lược '79’ Category

2494. TƯỞNG NIỆM BA NGÀY LỊCH SỬ 19-1-1974, 17-2-1979, 14-3-1988

Posted by adminbasam on 06/04/2014

Diễn đàn

Cao Huy Thuần

Thưa Quý Thầy, Quý anh, chị, em, cháu,

Buổi đại lễ hôm nay, chùa Khuông Việt đã chuẩn bị tổ chức từ hơn cả tháng rồi. Thư mời đã được gởi đi từ đầu tháng trước. Hôm qua, đọc báo, chúng tôi tưởng chừng như chưa làm mà tiếng vang đã dội thấu bên nhà. Vô cùng hân hoan, chúng tôi được nghe loan báo một buổi lễ cầu siêu sẽ được tổ chức tại Trường Sa, trong tinh thần mà chúng ta đã sửa soạn, đã công bố trên mạng, và đang thực hiện ngày hôm nay. Bên nhà tiếp nối chúng ta, mong sẽ còn những bước tiếp nối nữa để xiển dương tinh thần mà chúng ta đã khơi dậy. Tinh thần đó là gì ?

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Dân chủ/Nhân Quyền, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , | Leave a Comment »

2492. Chí ít sẽ có tám mươi triệu người Việt Nam…

Posted by adminbasam on 23/03/2014

Nguyễn Nguyên Bình

Từ cuối năm 2013, với phong cách làm việc luôn tỏ ra có kế hoạch chu đáo,và với truyền thống cực kỳ coi trọng các việc lễ lạt tốn kém, các vị lãnh đạo anh minh của Việt Nam ta đã sớm ban hành một loạt văn bản quy định về tổ chức các ngày lễ lớn trong hai năm 2014- 2015.(Chỉ thị 31- CTTW; Quyết định 158/QĐ – TTg; Hướng dẫn số 108- HD/ BTGTW…vì trong 2 năm này có rất nhiều ngày kỉ niệm thuộc loại ‘năm chẵn’, tức những năm mà số năm có đuôi là số 0 và những năm có đuôi là số 5- điều này không có gì lạ, trước nay vẫn vậy). Văn bản mang tên“ Chỉ thị 31- CTTW ngày 25-12-2013 của Bộ chính trị” là văn bản quyền uy nhất, đã ‘phê minh chỉ thượng’ rõ ràng những ngày được kỉ niệm lớn ấy: trừ ngày giỗ tổ Hùng Vương thì không kể năm chẵn lẻ, còn lại là: 70 năm CM tháng 8 và Quốc khánh; 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ; 40 năm giải phóng Miền Nam; 100 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh; 85 năm thành lập Đảng CSVN; 125 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; 60 năm giải phóng Thủ đô; 70 năm thành lập Quân đội và 25 năm ngày Quốc phòng toàn dân; 70 năm thành lâp CAND và 10 năm ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc; 60 năm ngày ký hiệp định Giơ ne vơ lập lại hòa bình ở VN; 55 năm ngày mở đường HCM; 75 năm Khởi nghĩ Nam Kỳ; 85 năm Xô viết Nghệ Tĩnh; 110 năm ngày sinh TBT Trần Phú; 100 năm ngày sinh đại tướng Nguyễn Chí Thanh.  

Đọc tiếp »

Posted in Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , | 3 Comments »

2450. Tranh chấp Biển Đông và vai trò của Việt Nam

Posted by adminbasam on 12/03/2014

Diễn Đàn

THÁI VĂN CẦU

Năm 2014 đánh dấu hai sự kiện lớn trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc : Kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, khiến 74 chiến sĩ Quân đội Việt Nam Cộng hoà hy sinh, và kỷ niệm 35 năm ngày Trung Quốc tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược chống Việt Nam.

Ngày 14 tháng 3 năm nay cũng đánh dấu 26 năm ngày Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm đảo Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa, khiến 64 chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh.

Qua nguồn tư liệu do nhà nước Việt Nam phổ biến công khai sau cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc và qua đối chiếu với nguồn tư liệu độc lập để kiểm chứng, ba điểm mốc thời gian của năm 1974, 1979, và 1988 phản ánh các mắt xích trong một chiến lược lâu dài, nhất quán, của Trung Quốc nhắm vào Việt Nam : Bắt đầu từ thập niên 1950 cho đến ngày nay, bằng những mưu đồ, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt khác nhau, thay đổi tùy tình huống, Trung Quốc luôn luôn muốn kiềm chế Việt Nam, giữ Việt Nam ở vị thế nước yếu kém, lệ thuộc vào Trung Quốc.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

2417. Sống hài hòa hay nhu nhược với TQ?

Posted by adminbasam on 06/03/2014

RFA – Đài Á Châu Tự Do

05-03-2014

Thanh Quang, phóng viên RFA

1Trong thời gian gần đây, giữa lúc Bắc Kinh ngày càng lấn áp VN về hầu như mọi mặt, nhất là liên quan vấn đề lãnh hải, lãnh thổ, thì phản ứng của phía cầm quyền trong nước bị công luận cáo giác là “ hèn với giặc, ác với dân”. Nhưng vấn đề là cư xử yếu hèn với phương Bắc liệu họ có “tha” cho mình không?

Mong chút tình ‘hữu nghị’?

Trong mối quan hệ Việt-Trung lâu nay, diễn biến bất lợi dồn dập về phía VN có lẽ khiến không ít người liên tưởng tới, cách nay ít lâu, khi lên tiếng trước cử tọa qua diễn văn đáp từ trong buổi lễ nhận chức GS Danh dự trường Đại học Y khoa Hà Nội, giáo sư Thạch Nguyễn, chuyên gia nỗi tiếng về tim mạch của Hoa Kỳ, từng công tác lâu năm tại Á Châu, nhất là ở TQ, có lưu ý rằng “Không phải cứ qụy lụy, hạ mình luồn cúi thì người Trung Quốc sẽ ban thêm cho chút tình ‘hữu nghị’ và cơ hội ‘hợp tác’ đâu”.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Dân chủ/Nhân Quyền, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , | Phản hồi đã bị khóa

2382. Do hiểu không thấu nên tôi mới hỏi

Posted by adminbasam on 24/02/2014

Thiện Tùng

Người ta thường nói “Đám tang đừng bắt người ta cười, đám cưới đừng buộc người ta khóc”. Là người tử tế thì không được cười trước nỗi đau của đồng loại, cười hay khóc phải cho đúng chỗ. 

Thật không hiểu nổi, ngày 17/02/1979,  dưới sự chỉ huy của 68 tướng, 600 ngàn quân Trung Quốc tràn sang 6 tỉnh biên giới phía bắc nước ta cướp của giết người, quân và dân địa phương quyết chiến với địch, tiếng súng vang dậy một góc trời, hàng mấy chục ngàn chiến sĩ và đồng bào ta đã ngã xuống. Thế mà, mãi đến ngày 4/3/1979 – tức 15 ngày sau, Trung ương Đảng mới ra lời kêu gọi quân đội và nhân dân tử chiến với quân Trung quốc. Trung ương Đảng vừa ra lời kêu gọi thì sau đó chỉ 1 ngày –  5/3/1979, TQ tuyên bố rút quân. Lãnh đạo giải thích thế nào về sự chậm trễ ấy ?.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , | Phản hồi đã bị khóa

2379. Đảng lãng quên, dân chẳng bao giờ!

Posted by adminbasam on 24/02/2014

Trần Nhơn

Kỷ niệm trang sử đen biên giới,(1)

Nhiều bức tranh tối sáng gam màu.

Đảng lo: “làm thế nào có lợi”,(2)

Nhân dân sôi sục chống Ba Tàu!

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | Phản hồi đã bị khóa

2369. TƯƠNG LAI ĐẢNG VÀ CHẾ ĐỘ ĐÃ ĐẶT TRÊN BÀN CÂN

Posted by adminbasam on 21/02/2014

Phạm Trần

Tương lai chính trị của Đảng và Nhà nước Cộng sản Việt Nam đã được  đặt lên bàn cân để do lường sự mất còn của chế độ sau biến cố Trung Cộng tăng cường kiểm soát Biển Đông.

Chuyện này xẩy ra vào đúng thời điểm kỷ niệm 40 năm ngày quân Trung Cộng cưỡng chiếm các đảo còn lại phía Tây nam quần đảo Hoàng Sa ngày 19/01/1974, khi ấy thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam Cộng Hòa và vào lúc Khóa đảng XI chuẩn bị tổ chức các Đại hội đảng địa phương vào giữa nhiệm kỳ để chọn nhân sự cho Đại hội tòan quốc Khóa đảng XII diễn ra vào đầu năm 2016.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , , , , | Phản hồi đã bị khóa

2365. Ý nghĩa của lợi ích cao nhất là gì?

Posted by adminbasam on 21/02/2014

RFA – Đài Á Châu Tự Do

20-02-2014

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

Có lợi cho đất nước?

1Sáng hôm qua (19/2) Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định trong cuộc họp với Trung ương MTTQ Việt Nam rằng Đảng, Nhà nước, chính phủ Việt Nam không quên xương máu chiến sĩ đồng bào hy sinh tại cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 với Trung Quốc nhưng các cuộc kỷ niệm phải tính sao cho có lợi cho đất nước nhất.

Ba ngày sau khi cuộc tưởng niệm cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc do nhân sĩ và đông đảo người dân tại Hà Nội tổ chức bị phá bỉnh bởi dư luận viên và vũ viên tại tượng đài Lý Thái Tổ, ngày 19 tháng Hai Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố trước cuộc họp của Trung ương MTTQ Việt Nam rằng Đảng, Nhà nước và Chính phủ sẽ không quên xương máu đồng bào chiến sĩ trong cuộc chiến này.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , , , | Phản hồi đã bị khóa

2358. Thủ tướng: Chiến tranh biên giới không bị lãng quên

Posted by adminbasam on 20/02/2014

VietnamNet

19/02/2014 21:32

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân VN không bao giờ quên công lao của chiến sĩ, đồng bào trong chiến tranh biên giới phía Bắc 1979.
o
Thủ tướng phát biểu tại hội nghị thực hiện quy chế phối hợp giữa Chính phủ và UB trung ương MTTQ Việt Nam chiều nay 19/2. ‘Chiến tranh biên giới phía Bắc’ được đề cập tại hội nghị khi có ý kiến từ các thành viên của các hội đồng tư vấn MTTQ nêu xung quanh dấu mốc sự kiện này tròn 35 năm.
o

Posted in Chính trị, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , | Phản hồi đã bị khóa

2357. SAO LẠI GIỖ CHÚNG TÔI BẰNG BÀI KHIÊU VŨ : “TRUNG QUỐC CHÍNH NGHĨA” ?

Posted by adminbasam on 20/02/2014

Trần Mạnh Hảo

 

Nếu không có ngày 17-02-1979

Nếu không có cuộc xâm lăng của sáu mươi vạn quân Tàu xâm lược

Sáu vạn người Việt chúng tôi đâu đã bỏ mình

Sao nhà nước mới 35 năm đã vội quên cuộc chiến tranh tàn khốc

Quên thắp nhang, quên tưởng niệm đồng bào chiến sĩ đã hi sinh…

  Đọc tiếp »

Posted in TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | Phản hồi đã bị khóa

2354. SÀI GÒN KỈ NIỆM 35 NĂM ĐÁNH THẮNG QUÂN TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC

Posted by adminbasam on 19/02/2014

Phạm Đình Trọng

Sự kiện đau thương và hùng tráng diễn ra từ ngày 17.2.1979: Trung Quốc bất ngờ phát động cuộc chiến tranh chống Việt Nam, kéo đại quân tràn qua toàn dải biên giới nước ta bắn giết dân ta và quân dân ta đã anh dũng đánh trả quân xâm lược, biến chiến thuật cướp đất bằng biển người thành biển xác, biển máu quân xâm lược.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , | Phản hồi đã bị khóa

2349. SÀI GÒN TƯỞNG NIỆM NGÀY CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC PHƯƠNG BẮC

Posted by adminbasam on 18/02/2014

Huỳnh Ngọc Chênh

1Đúng 11 giờ sáng ngày 18.2.2014, hơn 25 nhân sĩ trí thức và khoảng 40 nhân viên an ninh cùng có mặt tại tượng đài Trần Hưng Đạo tại công trường Mê Linh quận 1 Sài Gòn để cử hành lễ tưởng niệm ngày nhân dân Việt Nam đứng lên chống chiến tranh xâm lược của bọn bành trướng Bắc Kinh tại biên giới phía Bắc cách đây 35 năm.

Các vòng hoa và các khẩu hiệu được mọi người tự giác mang đến được đặt dưới chân tượng đài Trần Hưng Đạo, vị anh hùng dân tộc đã nhiều lần lãnh đạo nhân dân đánh tan quân xâm lược phương Bắc. Buổi lễ bắt đầu bằng bài diễn văn ứng khẩu của giáo sư Tương Lai:

Thưa các bạn

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | Phản hồi đã bị khóa

2348. 35 NĂM! HÃY NHẢY MÚA ĂN MỪNG…

Posted by adminbasam on 18/02/2014

Trần Mạnh Hảo

(TMH ứng tác ngay trên máy vi tính khi xem đoạn video cảnh công an bày đặt khiêu vũ trước tượng đài vua Lý Thái Tổ để át đi hình ảnh người biểu tình dâng hoa kỷ niệm ngày 60 vạn quân Trung Quốc tấn công dọc biên giới Việt Trung 35 năm trước làm sáu vạn chiến sĩ đồng bào ta hi sinh : đốt sạch, phá sạch, giết sạch làng mạc đô thị dọc biên giới Việt Trung)

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | Phản hồi đã bị khóa

2347. GÓP Ý VỚI 74 NHÂN SĨ TRÍ THỨC VỀ “LỜI KÊU GỌI”

Posted by adminbasam on 18/02/2014

Nguyễn Hùng

Qua những lời viết của những cái loa đại diện cho đảng cộng sản Việt Nam tại Hà Nội Ba Đình trên các trang mạng xã hội, toàn dân Việt Nam không còn mảy may một chút hy vọng nào từ đảng cộng sản Việt Nam, từ tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, chủ tịch nước Trương Tấn Sang, chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng, thủ tuớng Nguyễn Tấn Dũng,16 nhân vật trong bộ chính trị có tên Việt mà lòng dạ Tàu khựa, và hơn 2 trăm quỹ viên tại Ba Đình. Bọn bán nước cầu thân, cầu tiền.
Các nước trên thế giới, cả bên thắng trận và bại trận,  hằng năm đều tổ chức trọng thể lễ tượng niệm nạn nhân và chiến sĩ đã chết trong hai trận thế chiến 1914-18 và 1939-45.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , | Phản hồi đã bị khóa

2344. VƯỢT TRÊN PHỨC CẢM MƯỜI BẢY THÁNG HAI

Posted by adminbasam on 17/02/2014

Đinh Hoàng Thắng

Để hóa giải cả hai thái cực, tâm lý yếm thế lẫn thái độ khinh suất trong quan hệ với Trung Quốc, phải vượt qua được phức cảm tự ti lẫn tự tôn. Phép giải bùa cần được bạch hóa. Giải bùa và bạch hóa là phương tiện trui rèn khối đoàn kết và thúc đẩy công cuộc hội nhập nhằm bảo vệ/xây dựng đất nước.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: | Phản hồi đã bị khóa

2343. Có phải chỉ cần “bình yên” nên hạ nhục hàng chục ngàn liệt sĩ?

Posted by adminbasam on 17/02/2014

Đồng Phụng Việt

Đảng CSVN không tưởng niệm, tri ân những người đã chết vì bảo vệ lãnh thổ và cả vì sự tồn tại của chính mình là bất nghĩa.

Ngăn chặn những người khác tưởng niệm, tri ân những người đã chết vì bảo vệ xứ sở của họ là bất nhân.

Tệ đến mức không thể tưởng tượng là chọn hình thức ca hát, nhảy múa hưởng ứng “năm văn minh, trật tự đô thị” để hóa giải chuyện tưởng niệm tri ân. Làm như thế là cố tình hạ nhục những người vị quốc vong thân. Đó là bất lễ, bất tín.

Không thể tìm được từ để diễn đạt cho đúng ý!

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Phản hồi đã bị khóa

2341. PHỎNG VẤN NHÀ VĂN SỬ GIA HOÀNG QUỐC HẢI NHÂN 35 NĂM NGÀY CHỐNG TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC (17-2 -1979)

Posted by adminbasam on 16/02/2014

Nhật Tuấn

Bộ “Tám triều vua Lý” gồm 4 tập: Thiền sư dựng nước, Con ngựa nhà Phật, Bình Bắc dẹp Nam, Con đường định mệnh – viết về nhà Lý từ khi khởi nghiệp đến khi kết thúc (1009–1225) trải dài 216 năm trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Bộ “Bão táp triều Trần” gồm 4 tập: Bão táp cung đình, Thăng Long nổi giận, Huyền Trân Công chúa, Vương triều sụp đổ – được xuất bản lần đầu cả bộ năm 2003 và đã được tái bản nhiều lần. Lần tái bản này, bộ tiểu thuyết được bổ sung thêm hai tập mới là Đuổi quân Mông – ThátHuyết chiến Bạch Đằng – Với việc thêm 2 tập mới, bộ sách trở nên liền mạch từ khi nhà Trần ra đời cho đến khi kết thúc sứ mệnh lịch sử 175 năm tồn tại.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Phản hồi đã bị khóa

2339. Vong quốc nô nhảy bài…Vong quốc vũ !

Posted by adminbasam on 16/02/2014

Thái Hữu Tình

Mười bảy tháng hai năm bảy chín

Sáu mươi vạn quân Tàu giày xéo Bắc biên cương

Có viên tướng Cộng sản ngang nhiên làm nội ứng

Dạy rằng Trung quốc tốt với ta

Báo động quá làm chi

Hãy ăn ngủ bình thường, súng ống cất vào kho! (1)

Một ngày sau, giặc đến!

H1 Đọc tiếp »

Posted in TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , | Phản hồi đã bị khóa

2330. LỜI KÊU GỌI

Posted by adminbasam on 14/02/2014

Bauxite Việt Nam

NHÂN KỶ NIỆM 35 NĂM ĐÁNH TAN CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC TRÊN BIÊN GIỚI PHÍA BẮC NƯỚC TA 17.2.1979

Ngày này cách đây 35 năm, hơn 60 vạn quân xâm lược Trung Quốc bất ngờ tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta, tàn sát dân ta cực kỳ dã man theo cách bao đời ông cha chúng từng làm. Chúng đốt sạch, giết sạch. Các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn và một số thị trấn khác bị san phẳng. Tội ác của chúng quả là “trúc rừng không ghi hết tội, nước biển không rửa sạch mùi” như Nguyễn Trãi đã phẫn nộ lên án quân xâm lược nhà Minh phương Bắc cách đây hơn năm thế kỷ.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: , , , , , | Phản hồi đã bị khóa

2328. Quyết không sợ Trung Quốc

Posted by adminbasam on 13/02/2014

 Trần Đình Bá

Vào những ngày này cách đây 35 năm vào rạng sáng ngày 17/2/1979 Trung Quốc đã bất ngờ mang 60 vạn quân tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía Bắc của chúng ta. Tuy bị bất ngờ lực lượng mỏng nhưng quân và dân ta đã chiến đấu kiên cường, chặn đứng nhiều mũi tiến công của quân xâm lược. Tại xã Hoàng Tung huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng, lực lượng dân quân đã bao vây bắt sống một đại đội quân xâm lược Trung Quốc. Trong cuộc chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979, hàng vạn cán bộ chiến sĩ và dồng bào ta đã hy sinh, nhiều ngàn người mang thương tật suốt đời để bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc. Bài viết này như một nén tâm nhang gửi đến linh hồn các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống trên các vùng biên cương của Tổ quốc cách đây 35 năm, mà hình như trong 35 năm ấy, nhiều người muốn lãng quên cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vĩ đại này. Phải chăng họ sợ Trung Quốc. Còn nhân dân ta quyết không sợ Trung Quốc.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: , , , , | Phản hồi đã bị khóa

2322. Thông báo: Về việc kỷ niệm Ngày Biên Giới Việt Nam 17/2

Posted by adminbasam on 12/02/2014

No-U FC

Kính thưa đồng bào!

Cách đây đúng 35 năm, ngày 17/2/1979, Trung Quốc đã nổ súng tấn công trên toàn tuyến biên giới phía bắc; giết hại, làm bị thương hơn 60,000 binh lính và dân thường Việt Nam.

Cuộc chiến này nằm trong một âm mưu thôn tính nước ta, từ việc xâm chiếm Hoàng Sa trước đó tới xâm chiếm đảo Gạc Ma – Trường Sa sau này, rồi tuyên bố về đường lưỡi bò phi lý trên Biển Đông hiện nay.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , | Phản hồi đã bị khóa

2315. Lại nhớ ngày 17-2-1979

Posted by adminbasam on 11/02/2014

Võ Văn Tạo

Cuối 1978 – đầu 1979, tin tức chính thống trên đài, báo và truyền miệng trong dân về việc Trung Quốc gây hấn, xâm lấn, sát hại  quân và dân ta, cướp phá dọc biên giới Việt – Trung làm nhiều người nặng lòng suy tư. Là bộ đội chuyển ngành về học tại Đại học Ngoại thương Hà Nội, tôi cũng rất băn khoăn, không thể lý giải vì sao một nước XHCN, do đảng cộng sản cầm quyền, lại gây chiến với Việt Nam – tiền đồn vinh quang của cả khối XHCN?

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: , , , , | Phản hồi đã bị khóa

2021. Thư trao đổi giữa ông Mai Thái Lĩnh và Ban quản trị báo Giáo dục Việt Nam

Posted by adminbasam on 08/09/2013

Đôi lời: Sau khi trang Boxit Việt Nam đăng bài Sự thật về Thác Bản Giốc: ai là người nhận thức sai lầm? của ông Mai Thái Lĩnh, phản hồi bài phỏng vấn TS Trần Công Trục trên báo Giáo dục Việt Nam, một độc giả của trang Ba Sàm đã chủ động liên lạc với báo Giáo dục VN để giới thiệu bài viết của ông Mai Thái Lĩnh. Rất nhanh chóng, báo Giáo dục VN và ông Mai Thái Lĩnh đã có thư trao đổi.

.

Được sự đồng ý của báo Giáo dục VN và theo thiện ý của ông Mai Thái Lĩnh, chúng tôi xin đăng tải những ý kiến trao đổi này. Thiết nghĩ đây cũng là một tín hiệu tốt cho sự đối thoại thẳng thắn, minh bạch, cần được khích lệ, nhất là giữa báo giới với mạng xã hội, lại liên quan tới một vấn đề rất hệ trọng của đất nước.

.

Bổ sung, 9/9/2013: Thư trả lời báo Giáo dục VN của ông Mai Thái Lĩnh (xem cuối bài).  10/9/2013: 2025. TS Trần Công Trục trả lời ông Mai Thái Lĩnh về thác Bản Giốc.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: , | Phản hồi đã bị khóa

1897. Kỷ niệm ngày 27/7, ngậm ngùi nhớ ngày 17/2

Posted by adminbasam on 17/07/2013

Hữu Quả,  nguyên phóng viên biên tập qua các thời kỳ: VNTTX, TTXGP, TTXVN.

Năm nay, kỷ niệm lần thứ 66, ngày TBLS (27/71947 – 27/72013). Theo truyền thống uống nước nhớ nguồn, mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc; Mặc dầu là năm lẻ, nhưng các địa phương và nhân dân ta khắp nơi trong cả nước, vẫn có các hoạt động thiết thực, đầy tình nghĩa, tri ân và tôn vinh những người con đã hy sinh tính mạng và một phần xương máu của mình; Chiến đấu bảo vệ quê hương, cho đất nước được độc lập, tự do; Cho nhân dân được hưởng bình yên, hạnh phúc.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | 10 Comments »

1633. SUY NGẪM DƯỚI CHÂN TƯỢNG ĐỨC THÁNH TRẦN

Posted by adminbasam on 22/02/2013

SUY NGẪM  DƯỚI CHÂN TƯỢNG ĐỨC THÁNH TRẦN 

Tương Lai

 Vẫn bức tượng uy nghi và trầm mặc gần bến Bạch Đằng quận I ấy mà sao hôm nay lại có sức lay động lòng người đến vậy. Chọn nơi đây, dưới chân tượng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, một lựa chọn tối ưu để dâng hoa tưởng niệm những người đã hy sinh trong cuộc chiến đấu chống xâm lược cách nay 34 năm. Ngày ấy, 17.2.1979 hơn sáu chục vạn quân xâm lược đồng loạt tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | 94 Comments »

1632. Bọn bành trướng Bắc Kinh xuyên tạc & kỷ niệm ngày xâm lược 6 tỉnh Biên giới của Việt Nam

Posted by adminbasam on 22/02/2013

Đôi lời: Có lẽ đây là cái tát, là câu trả lời rõ nhất, vạch mặt những kẻ vẫn tìm mọi lý lẽ để biện minh rằng phải giữ hòa bình ổn định, tình “hữu hảo”, “16 chữ vàng, 4 tốt” hòng lấp liếm cho ý đồ rắp tâm bán nước, làm tay sai cho Trung Cộng qua hành động đàn áp, ngăn cấm những người yêu nước khi họ tự tổ chức lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ Việt Nam đã hy sinh trong Chiến tranh Biên giới 1979 chống quân Trung Quốc xâm lược, cũng như những quyết định ngấm ngầm bịt miệng, tự bịt miệng báo chí không được đưa tin, bài mỗi khi tới ngày 17-2 hàng năm.

Bài 1:

Phượng Hoàng

NGÀY 17.2.1979 NỔ SÚNG MỞ MÀN CUỘC CHIẾN PHẢN KÍCH TỰ VỆ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

17.2.2013

Nguồn:  Nhân Dân Nhật báo

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | 190 Comments »

1620. Dưới làn đạn Trung Quốc ở Lạng Sơn

Posted by adminbasam on 17/02/2013

Dưới làn đạn Trung Quốc ở Lạng Sơn

( Trích quyển “ĐỜI, hay chuyện về những người tù của tôi”, bản thảo năm 2000-2001, của Hồ ngọc Nhuận )

…Lại nhớ hồi đầu năm 1979, khi tôi ra dự hội nghị Trung Ương Mặt Trân Tổ Quốc ở Hà Nội rồi xin đi Lạng Sơn, vô trung tâm thị xã, để chụp mấy tấm hình. Đạn Trung Quốc bắn ào ào, xối xả phía trên đầu mà tôi cứ tỉnh bơ lo bấm máy ảnh: tôi cứ tưởng đạn của phía mình, làm như với đạn phía mình thì không chết! Nếu không có một lính trinh sát của ta bị thương, ngoắc xe tôi lại đưa anh ra ngoài, chắc tôi đã ở lại thị xã lâu hơn. Để rồi biết đâu đã chẳng nằm lại như anh Takano, phóng viên báo Cờ Đỏ của đảng Cộng sản Nhật Bản?

Mấy tấm hình đăng báo, khi tôi về lại Sài Gòn, và bài tôi khóc Takano trên Tin Sáng, làm tôi không nhớ, sau lúc thoát khỏi lửa đạn ở Lạng Sơn, tôi có nghĩ lại mà giựt mình hay không.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | 21 Comments »

1615. Đội du kích ba lần đánh thắng quân xâm lược Trung Quốc

Posted by adminbasam on 16/02/2013

Thanh niên

Đội du kích ba lần đánh thắng quân xâm lược

16/02/2013 14:00

Nhà thơ Thanh Thảo

Vào những năm đầu thập niên 80 thế kỷ trước, Tả Ván (thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang) không lúc nào yên ổn. Phía bên kia biên giới người ta luôn khiêu khích, gây chuyện. Và từ năm 1980 tới 1984, đã ba lần Trung Quốc xua quân tràn qua biên giới thuộc địa phận Tả Ván.

Bắt đầu từ một ước muốn… ẩm thực: được ăn món bột ngô đồ danh tiếng của người H’Mông mà lâu nay mới nghe tên chứ chưa thấy. Nhưng rồi tôi đã được “ăn” một món còn ngon hơn cả mèn mén ở cái bản nhỏ bé ấy.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | 14 Comments »

1614. LỜI KÊU GỌI NHÂN NGÀY 17 THÁNG 2

Posted by adminbasam on 16/02/2013

LỜI KÊU GỌI NHÂN NGÀY 17 tháng 2

 

Ngày 17-2-1979 là ngày quân xâm lược Trung Quốc theo lệnh của Đặng Tiểu Bình, trắng trợn trở mặt, phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979. Chúng đã huy động 9 quân đoàn chủ lực và các đơn vị binh chủng phụ trợ khác ước tính hơn nửa triệu quân với hơn 500 xe tăng, hơn 2000  khẩu pháo, tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, sát hại dân lành, đốt phá nhà cửa, cầu, đường, cướp bóc tài sản. Quân và dân ta đã ngoan cường chiến đấu,  chống trả quyết liệt, đánh những đòn quyết định buộc chúng phải tuyên bố rút quân, kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược nhục nhã, hàng chục ngàn chiến sĩ ta đã dũng cảm hy sinh.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Chiến tranh VN, Dân chủ/Nhân Quyền, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | 168 Comments »

1536. Kẻ thù nào đã giết anh Lê Đình Chinh 35 năm trước ở Biên giới phía Bắc?

Posted by adminbasam on 06/01/2013

Chiều nay, hàng loạt báo đưa tin về việc cải táng hài cốt của anh, Anh hùng liệt sĩ đầu tiên trong cuộc Chiến tranh Biên giới phía Bắc 1978-1979 chống bọn Trung Quốc xâm lược.

Câu hỏi trên đặt ra dành cho các báo, tưởng như ngô nghê, nhưng lại là thực.

Còn người trả lời cuối cùng phải là các vị ở Ban Tuyên giáo TƯ: Có hay không chuyện cấm các báo nhắc tới hai chữ “Trung Quốc” khi nói về người Anh hùng mà thế hệ trẻ đã và đang học tập tấm gương, nhưng lại không được biết kẻ nào đã giết anh?

Chỉ còn 40 ngày nữa là đến ngày tưởng niệm 34 năm trước đồng bào, chiến sĩ ta đã hy sinh trong cuộc chiến đấu chống lại bọn bành trướng Trung Quốc xâm lược 6 tỉnh biên giới phía Bắc. Phải chăng đây là món quà sớm của các vị gửi tới cho chúng? 

Trước tiên xin mời đọc bản tin trên VNExpress:

Anh hùng liệt sĩ 35 năm nằm lại biên giới phía Bắc

Sáng 6/1, hài cốt của anh hùng liệt sĩ Lê Đình Chinh đã được đưa về an táng tại quê hương Thanh Hóa, sau 35 năm nằm xuống khi đang chiến đấu chống quân xâm lược từ bên kia biên giới.

Đọc tiếp »

Posted in Báo chí, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | 166 Comments »

1494. Lẫn lộn bạn/ thù, tù mù chiến lược

Posted by adminbasam on 24/12/2012

Blog Trần Kinh Nghị

Lẫn lộn bạn/ thù, tù mù chiến lược

24-12-2012

Như thường lệ trong những ngày tháng 12 này cả nước lại tái hiện không khí thời chiến tranh chống Mĩ. Âu đó cũng là lẽ bình thường, quên sao được tội ác giặc ngoại xâm!. Nhưng điều không bình thường là có một cuộc xâm lược khác không được nhắc đến, đó là những cuộc chiến lớn nhỏ do Trung Quốc gây ra từ biên giới Tây Nam lên biên giới phía Bắc và ngoài Biển Đông kể từ sau khi “Mĩ cút, ngụy nhào” đến nay vẫn chưa dứt. Người Việt Nam bình thường ai cũng nhận thấy điều vô lý này. Song điều không bình thường là ai cũng im lặng hoặc nếu có ai thắc mắc, sẽ được trả lời rằng đó là sách lược mềm dẻo, khôn khéo của ta!

H1

Dòng chữ trên một bia tưởng niệm chiến tranh biên giới bị đục bỏ

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Chiến tranh VN, TQ xâm lược '79, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước | 114 Comments »

913. QUAN HỆ VIỆT-TRUNG VÀ MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC MỚI CỦA VIỆT NAM

Posted by adminbasam on 22/04/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆTNAM

QUAN HỆ VIỆT-TRUNG VÀ MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC MỚI CỦA VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ sáu, ngày 20/4/2012

TTXVN (Oasinhtơn 16/4)

Giáo sư  Marvin Ott, chuyên gia về Đông Nam Á tại Trung tâm Woodrow Wilson, Mỹ, có bài viết đăng trên trang mạng của Trung tâm với nhan đ “Thế khó của Việt Nam trước Trung Quốc: hướng đi trong môi trường chiến lược mới”. Sau đây là nội dung bài viết:

Mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc là một phép thử về thách thức chiến lược mà Việt Nam phải đối mặt trên nền tảng lịch sử lâu dài. Việc nối lại quan hệ với Mỹ và gia nhập ASEAN là những biểu hiện của sự khéo léo về ngoại giao của Việt Nam.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Quan hệ Việt-Trung, Quân sự, TQ xâm lược '79 | 54 Comments »

740. Một nén hương cho ngày 17/2/1979

Posted by adminbasam on 18/02/2012

Nhà báo Huy Đức: “… tại thôn Tổng Chúp … quân Trung Quốc đã giết 43 người gồm 23 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. 10 người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.”

Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: “… do sức ép của Trung Quốc đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam, và họ vẫn thường đưa ra “16 chữ vàng” rồi thì hữu tình , hữu nghị, rồi thì “4 tốt” để mà mê hoặc lãnh đạo chúng tôi để không làm gì cả.”

Đài Á châu Tự do – RFA

Một nén hương cho ngày 17/2/1979

 Định Nguyên, thông tín viên RFA

2012-02-17

Mời nghe audio

Trong lịch sử cận đại, Việt Nam được biết đến như là một quốc được gia hình thành bằng những cuộc chiến đẫm máu.

Nhưng chính nó lại lãng quên phũ phàng một cuộc chiến rất ngắn ngủi nhưng khốc liệt, dã man và đầy kịch tính  đã xảy ra giữa những người đã từng là đồng chí với nhau,đó là cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979. Định Nguyên điểm lại sự kiện đau buồn này qua bài tường trình sau:

Sự lãng quên vô tình?

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: , , | 57 Comments »

738. Nhân kỷ niệm 33 năm đánh đuổi quân Trung Quốc xâm lược: Trò chuyện với nhà văn Hoàng Quốc Hải

Posted by adminbasam on 17/02/2012

Nhân kỷ niệm 33 năm đánh đuổi quân Trung Quốc xâm lược:

Trò chuyện với nhà văn Hoàng Quốc Hải

Nhà văn Nhật Tuấn thực hiện

Có thể nói nhà văn Hoàng Quốc Hải là con người của lịch sử. Từ năm 1993, bộ tiểu thuyết lịch sử gồm 4 tập: “Bão táp cung đình”, “Huyền Trân công chúa”, “Thăng Long nổi giận” và “Vương triều sụp đổ” của ông đã ra mắt độc giả. Bộ tiểu thuyết đã được trao giải “Bùi Xuân Phái – vì tình yêu Hà Nội” (2008). Tiếp theo ông viết thêm hai tập: “Đuổi quân Mông – Thát” (chống giặc Nguyên – Mông lần I) và “Huyết chiến Bạch Đằng” (chống giặc Nguyên – Mông lần thứ III) làm thành bộ “Bão táp triều Trần” gồm 6 tập (2.928 trang in khổ 14,15 x 20,5cm).

Tiếp theo nhà Trần, ròng rã 20 năm trời ông lại lội dòng lịch sử về nhà Lý với bộ tiểu thuyết 4 tập: “Thiền sư dựng nước”, “Con ngựa nhà Phật”, “Bình bắc dẹp nam”, “Con đường định mệnh” dày 3.514 trang in khổ 14,5 x 20,5cm.

Cho dù ngược dòng lịch sử, ông vẫn đau đáu lo đến vận nước hôm nay và mai sau. Nhân kỷ niệm 33 năm ngày Trung Quốc tấn công biên giới VN (17-2-1979/17-2-2012) tôi có cuộc trò chuyện với ông về chủ đề này.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | 36 Comments »

737. Đánh dấu 33 năm ngày quân TQ xâm lăng 6 tỉnh biên giới, Tô Huy Rứa sang thăm 6 ngày để “Củng cố quan hệ”

Posted by adminbasam on 17/02/2012

VOV News

Củng cố quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung

Cập nhật lúc: 7:22 PM, 16/02/2012

(VOV) – Quan hệ Việt-Trung có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc xây dựng đất nước của mỗi nước; đối với hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.

Nhận lời mời của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, thăm và làm việc tại Trung Quốc từ ngày 14-20/2.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | 104 Comments »

732. ĐẠI GIẢI MẬT CON SỐ THƯƠNG VONG CỦA HAI BÊN TRONG CHIẾN TRANH TRUNG-VIỆT NĂM 1979

Posted by adminbasam on 16/02/2012

.BTV: 33 năm trước, vào ngày 17 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc đã xua quân tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta. Cuộc chiến khốc liệt này đã cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người lính Việt Nam, những người đã xả thân bảo vệ Tổ Quốc, cũng như của rất nhiều thường dân vô tội ở biên giới phía Bắc. Hôm nay, xin quý độc giả hãy giành những giây phút tưởng niệm, để nhớ đến những người lính Việt Nam đã anh dũng ngã xuống, hy sinh thân mình bảo vệ mảnh đất thân yêu mà chúng ta đang sống hôm nay. Cũng  không quên những người dân vô tội sống dọc các tỉnh biên giới, đã bị Trung Quốc giết hại 33 năm trước.

Liên quan đến cuộc chiến này, chúng tôi xin giới thiệu 2 tài liệu để độc giả tham khảo: Một tài liệu nói về con số thương vong của hai phía Việt – Trung và một tài liệu khác, nói về vai trò của Liên Xô liên quan đến cuộc chiến này. Đây là 2 tài liệu do phía Trung Quốc đưa ra, nên những từ ngữ sử dụng trong bài, chúng tôi xin được giữ nguyên văn.

————-

China.com

ĐẠI GIẢI MẬT CON SỐ THƯƠNG VONG CỦA HAI BÊN TRONG CHIẾN TRANH TRUNG-VIỆT NĂM 1979

Vạn Lý Hải Cương

Người dịch: Quốc Thanh

27-9-2009

Ẩn số về thương vong của hai bên trong Chiến tranh Trung-Việt năm 1979

Về con số thương vong của hai bên Trung-Việt trong “Trận chiến phản kích tự vệ với Việt Nam” năm 1979, báo Lao Động của Việt Nam hồi năm đó nói, đã tiêu diệt hơn 3 vạn Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc; báo Giải Phóng quân của ta cho biết, quân ta thương vong 4.000 người, tiêu diệt 70.000 quân địch.

Theo ghi chép trong hồ sơ mật về trận chiến phản kích tự vệ với Việt Nam năm 1979 đã được giải mật từ lâu: con số thương vong của quân ta là hơn 27.000 người, trong đó, số sĩ quan binh lính chết trận là hơn 6.000, binh lính bị thương là hơn 21.000 người.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | 183 Comments »

731. Báo Trung Quốc: Vai trò của Liên Xô trong cuộc chiến biên giới Việt – Trung

Posted by adminbasam on 16/02/2012

Mạng Sina

Vài tình tiết bí mật được tiết lộ trong tài liệu nội bộ về cuộc chiến phản kích tự vệ với Việt Nam năm 1979

Tác giả: Triệu Cấp Báo

Người dịch: Quốc Thanh

30-5-2011

Trong các bài viết về cuộc chiến với Việt Nam, hiện đa số đều nói đến vai trò rất lớn của Đặng Tiểu Bình, đương nhiên, vì ông ta là Phó Chủ tịch Quân ủy khi đó, nhưng cuộc chiến với Việt Nam là quyết định tập thể của trung ương, chứ không phải chỉ có mỗi một mình ông Đặng. Đồng chí Trần Vân cũng có vai trò rất lớn khi đó. Ngày ấy tôi đang học cao trung, có cha làm trong Bộ Tuyên truyền Thị ủy, hàng ngày cũng được đọc các bản báo cáo chiến trận. Năm 1980, tôi được đọc một bản tư liệu nội bộ của trung ương, tổng kết về cuộc chiến lần này. Vẫn còn nhớ một vài nội dung như sau:

I. Cuộc chiến biên giới lần này là cuộc chiến với bên ngoài, lần đầu tiên không có Mao Chủ tịch kể từ ngày lập quốc

Chiến tranh biên giới liên quan đến đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, hết sức phức tạp, nhiều cuộc chiến biên giới kể từ ngày lập quốc đến nay đều dưới sự chỉ huy trực tiếp của Mao Chủ tịch, cho nên, [cuộc chiến lần này] trong tình trạng không có Mao Chủ tịch, liệu có thể vượt qua thử thách, giành được thắng lợi hay không, đây là vấn đề lớn mà rất nhiều người thời ấy đã phải trăn trở. Vì thế, phải làm cho tốt khâu chuẩn bị tư tưởng. Đồng thời, quân đội nhiều năm chưa đánh trận, sức chiến đấu chẳng còn được bao nhiêu, đó cũng là điều đáng nghi vấn.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | 22 Comments »

378. Viết nhân ngày Quốc khánh Trung Cộng (1/10): Đã đến lúc phải xóa món nợ ân oán giang hồ!

Posted by adminbasam on 26/09/2011

Bauxite Việt Nam

Viết nhân ngày Quốc khánh Trung Cộng (1/10):

Đã đến lúc phải xóa món nợ ân oán giang hồ!

Vũ Cao Đàm

Tôi nảy ý định viết ra ý tưởng này từ lúc đọc lại bài khai bút đầu năm của anh Bút Chẳng Tà, trong đó có nhắc đến ngày Trung Cộng khởi chiến, tấn công quân đội Việt Nam Cộng hòa để xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa. Bài viết đưa lên mặt báo Bauxite Việt Namtrong khi trên trang mạng của Trung Cộng vẫn còn nhan nhản những bài chửi bới với giọng điệu của một kẻ cả vô giáo dục nhằm vào “Bọn Việt Nam vong ân bội nghĩa”, và kêu gào phải giết bọn “Việt Nam lòng lang dạ sói”, lấy máu “giặc Việt” để làm lễ tế thần cho trận chiến thu hồi Nam Sa.

Trong khi đó thì chúng ta lại vẫn thường nghe một số quan chức, và cả bạn bè, cố gắng phân trần, rằng nhân dân Việt Nam “Không bao giờ quên ơn Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Cộng”, làm như đây là món nợ truyền kiếp, mà người Việt chúng ta phải đời đời khắc cốt ghi xương.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | 74 Comments »

105. TBT Lê Duẩn: về tập đoàn phản động Trung Quốc chống Việt Nam

Posted by adminbasam on 14/06/2011

Đôi lời: Để hiểu thêm thực chất mối quan hệ Việt-Trung trong mấy chục năm nay, không còn chút mơ hồ nào nữa, đặc biệt trước rất nhiều hành động gây hấn trắng trợn của Trung Quốc trong thời gian gần đây, xin giới thiệu một tư liệu cá nhân nho nhỏ của cố TBT Lê Duẩn khi sinh thời, và một bản dịch từ tư liệu nước ngoài, bài phát biểu của ông về “tập đoàn phản động Trung Quốc”, cùng với đoạn trích Hiến pháp 1980 liên quan tới Trung Quốc.

1) Đây là bản chụp vài dòng bút ký cá nhân, như tự dặn với riêng mình, của cố Tổng bí thư BCHTW ĐCSVN Lê Duẩn năm 1978, một năm trước khi Trung Quốc đưa quân tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc VN, được lưu trữ trong kho tư liệu riêng của gia đình ông. Đoạn này đề cập tới quan hệ với Trung Quốc.

Ông viết: “Phải xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Muốn có hạnh phúc cho nhân dân phải giàu mạnh và hùng cường. Đó là vì vị trí lịch sử và địa dư của Việt Nam. Không thể khác được. Vì chúng ta ở bên cạnh một nước mà lịch sử của nước đó chưa ra khỏi cuộc sống người ăn thịt người”.

Không nghi ngờ gì nữa, đó là ám chỉ tới người láng giềng Trung Quốc, đất nước với lịch sử từng có tập tục “người ăn thịt người” mà chính Văn hào Lỗ  Tấn đã đề cập tới nhiều lần trong tiểu thuyết Nhật ký người điên. (Mời xem thêm: Ăn thịt đồng loại – Wikipedia). Đương nhiên, qua nội dung này và bài phát biểu của ông, cũng như Lời nói đầu trong bản Hiến pháp 1980, sự đánh giá đó không phải với tuyệt đại bộ phận người dân Trung Quốc.

Cũng không có gì khác biệt trong tinh thần của nội dung trên với quan điểm cứng rắn của vị lãnh đạo cao nhất trong Đảng CSVN trong suốt một thời gian dài đối với nhà cầm quyền Trung Quốc.

Như bao nhiêu bậc quân vương khác, không thể tránh được những mặt yếu, mạnh, hay, dở trong lúc trị vì, nhưng riêng cách nhìn và thái độ đối với người láng giềng phương Bắc, cố TBT Lê  Duẩn là vị lãnh đạo kiên quyết và rõ ràng nhất, như bao nhiêu thế hệ ông cha đã từng răn dạy.

2)  HIẾN PHÁP  NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM NĂM 1980, Lời nói đầu (Trích): “Vừa trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng, đồng bào ta thiết tha mong muốn có hoà bình để xây dựng Tổ quốc, nhưng lại phải đương đầu với bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng ở Cam- pu-chia. Phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân ta đã giành được thắng lợi oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống bọn phản động Cam-pu-chia ở biên giới Tây Nam và chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình.”

3) Bài phát biểu của đồng chí Lê Duẩn về tập đoàn phản động Trung Quốc chống Việt Nam:

(Trích): “Trước khi chúng tôi ra về, Mao gặp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi xuống trò chuyện với chúng tôi và cuối cùng ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn nói cho các đồng chí biết điều này. Tôi sẽ là chủ tịch của 500 triệu nông dân đang thiếu đất, và tôi sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á“. Đặng Tiểu Bình cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Chủ yếu là vì nông dân nghèo, trong tình cảnh khó khăn cùng cực!”

Khi chúng tôi ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Đó anh thấy đó, âm mưu chiếm nước ta và Đông Nam Á. Bây giờ đã rõ rồi“. Họ dám tuyên bố điều đó như thế. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Đúng là không lúc nào họ không nghĩ đến đánh Việt Nam!

Tôi sẽ nói với các đồng chí nhiều hơn để các đồng chí có thể thấy thêm về tầm quan trọng quân sự trong vấn đề này.

Mao hỏi tôi: Ở Lào, có bao nhiêu cây số vuông đất?
Tôi trả lời: Khoảng 200.000 cây số vuông.

Mao hỏi: Dân số của họ bao nhiêu?
Tôi trả lời: Khoảng 3 triệu!

Mao nói: Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật mà!
Mao hỏi: Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?
Tôi trả lời: Khoảng 500.000 cây số vuông.
Mao hỏi: Có bao nhiêu người?
Tôi trả lời: Khoảng 40 triệu!
Mao nói: Lạy Chúa! Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông, nhưng có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái Lan!

 Đối với Việt Nam, họ không dám nói về việc đưa người tới theo cách này. Tuy nhiên, ông ta (Mao) nói với tôi: “Đồng chí, có đúng là người của các đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta hỏi: “Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta nói: “Và quân Minh nữa, phải không?” Tôi nói: “Đúng, và cả các ông nữa. Tôi đánh các ông luôn. Các ông có biết điều đó không?

Tôi đã nói với Mao Trạch Đông như thế. Ông ta nói: “Có, có!” Ông ta muốn chiếm Lào, cả Thái Lan, cũng như muốn chiếm tất cả các nước Đông Nam Á. Đưa người dân đến sống ở đó. Quan điểm đó thật là phức tạp.”

CWIHP

Bài phát biểu của Lê Duẩn năm 1979

Người dịch: Ngọc Thu 

Mô tả: Bài phát biểu của đồng chí Lê Duẩn về tập đoàn phản động Trung Quốc chống Việt Nam.

 Nguồn: Thư viện Quân đội Nhân dân, Hà Nội. Tài liệu do Christopher Goscha có được và dịch cho CWIHP.

Nói chung, sau khi chúng ta đánh bại Mỹ, không đế quốc nào dám đánh chúng ta nữa. Chỉ có những người nghĩ rằng họ vẫn có thể đánh chúng ta và dám đánh chúng ta là những kẻ phản động Trung Quốc. Nhưng người dân Trung Quốc hoàn toàn không muốn thế. Tôi không biết những kẻ phản động Trung Quốc này sẽ tiếp tục tồn tại thêm bao lâu nữa. Tuy nhiên, miễn là họ tồn tại, thì họ sẽ tấn công chúng ta như họ vừa thực hiện (nghĩa là đầu năm 1979).

Nếu chiến tranh đến từ phương Bắc, thì  các tỉnh [Bắc Trung Bộ] Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa sẽ trở thành cơ sở cho toàn bộ đất nước. Các tỉnh này tốt nhất, là các căn cứ mạnh nhất, tốt nhất và hiệu quả nhất. Vì nếu vùng đồng bằng [Bắc Bộ] tiếp tục là vùng liên tục căng thẳng, thì tình hình sẽ rất phức tạp. Vấn đề không đơn giản chút nào. Nếu không phải là người Việt Nam, thì sẽ không có người nào đánh Mỹ, bởi vì lúc Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, cả thế giới còn lại đều sợ Mỹ …

Mặc dù Trung Quốc đã giúp [Bắc] Triều Tiên chỉ với mục đích bảo vệ sườn phía Bắc của họ. Sau khi cuộc chiến kết thúc [ở Triều Tiên] và khi áp lực lên Việt Nam, ông ta (chỗ này hình như nói đến Chu Ân Lai khi đoạn văn sau đó cho thấy vậy) nói rằng, nếu Việt Nam tiếp tục chiến đấu, thì sẽ phải tự lo liệu. Ông ta sẽ không giúp thêm nữa và gây áp lực với chúng ta để ngừng chiến đấu.

Khi chúng ta ký Hiệp Định Geneva, rõ ràng là Chu Ân Lai đã chia đất nước ta làm hai [phần]. Sau khi nước ta bị chia thành hai miền Nam – Bắc như thế, một lần nữa ông ta gây sức ép lên chúng ta, không được làm gì đối với miền Nam Việt Nam. Họ ngăn cấm chúng ta đứng lên [chống lại Việt Nam Cộng hòa do Mỹ hậu thuẫn]. [Nhưng] họ, [người Trung Quốc,] không thể làm gì để ngăn cản chúng ta.

Khi chúng ta ở miền Nam và chuẩn bị chiến tranh du kích ngay sau khi ký Hiệp định Geneva, Mao Trạch Đông đã nói với Đại hội Đảng của chúng ta rằng, ngay lập tức, chúng ta phải buộc Lào chuyển hai tỉnh đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu không, người Mỹ sẽ tiêu diệt hai tỉnh này, một tình huống rất nguy hiểm [theo cái nhìn của Trung Quốc]! Ngay lập tức, Việt Nam đã phải làm việc với người Mỹ [liên quan đến vấn đề này]. Mao đã bức hiếp chúng ta bằng cách này và chúng ta đã phải làm điều đó.
Sau đó, khi hai tỉnh này đã được chuyển cho Viêng Chăn, những tên phản động [Lào]  ngay lập tức bắt giữ Souphanouvong (Chủ tịch Lào từ năm 1975-1986). Lào có hai tiểu đoàn bị bao vây lúc đó. Hơn nữa, họ vẫn chưa sẵn sàng chiến đấu. Sau đó, một tiểu đoàn đã có thể thoát khỏi sự [bao vây]. Lúc đó, tôi đưa ra quan điểm của tôi là, Lào phải được phép tiến hành chiến tranh du kích. Tôi mời Trung Quốc đến và thảo luận về vấn đề này với chúng ta. Tôi nói với họ: “Các đồng chí, nếu các đồng chí tiếp tục gây áp lực với Lào bằng cách này, thì lực lượng của họ sẽ hoàn toàn tan rã. Bây giờ họ phải được phép tiến hành chiến tranh du kích“.

Trương Văn Thiên (Zhang Wentian), người trước đó là Tổng Thư ký [Đảng Cộng sản Trung Quốc] và sử dụng bút danh Lạc Phú, trả lời tôi: “Vâng, các đồng chí, điều các đồng chí nói đúng. Hãy để chúng tôi cho phép tiểu đoàn đó của Lào đảm nhiệm chiến tranh du kích“.

Ngay lập tức, tôi hỏi Trương Văn Thiên: “Các đồng chí, nếu các đồng chí cho phép Lào gánh vác chiến tranh du kích, thì không có gì phải sợ việc phát động chiến tranh du kích ở miền Nam Việt Nam. Điều gì làm cho các đồng chí sợ đến nỗi các đồng chí ngăn cản hành động như thế?”

Ông ta [Trương Văn Thiên] đã nói: “Không có gì phải sợ!”

Trương Văn Thiên đã nói thế. Tuy nhiên, Ho Wei, Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam lúc đó, đã ngồi ở đó và nghe điều đã nói. Ngay lập tức, ông ta điện cho Trung Quốc (báo cáo điều Lê Duẩn và Trương Văn Thiên đã nói). Ngay lập tức, Mao trả lời: “Việt Nam không thể phát động chiến tranh du kích ở miền Nam. Việt Nam phải nằm chờ trong một thời gian dài!” Chúng ta rất nghèo. Làm sao chúng ta có thể đánh Mỹ nếu không có Trung Quốc làm căn cứ hậu tập? Nên chúng ta phải nghe theo họ, đúng không?

Tuy nhiên, chúng ta đã không đồng ý. Chúng ta đã bí mật tiếp tục phát triển lực lượng. Khi [Ngô Đình] Diệm kéo lê máy chém khắp miền Nam Việt Nam, chúng ta đã ban hành lệnh thành lập lực lượng quần chúng để chống lại lệnh đã được lập và nắm quyền [từ chính phủ Diệm]. Chúng ta đã không chú ý [đến Trung Quốc].

Khi cuộc nổi dậy giành chính quyền bắt đầu, chúng tôi đi Trung Quốc để gặp Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình. Đặng Tiểu Bình đã nói với tôi: “Đồng chí, bây giờ sai lầm của đồng chí đã xảy ra rồi, đồng chí chỉ nên đánh ở mức trung đội trở xuống“. Đó là áp lực mà họ đã áp đặt lên chúng ta.

Tôi nói [với Trung Quốc]: “Vâng, vâng! tôi sẽ làm điều đó. Tôi sẽ chỉ chiến đấu ở mức một trung đội trở xuống“.

Sau khi chúng ta chiến đấu và Trung Quốc nhận ra rằng chúng ta có thể chiến đấu hiệu quả, đột nhiên Mao có suy nghĩ mới. Ông ta nói rằng, vì Mỹ đánh chúng ta, ông ta sẽ đưa quân đội [Trung Quốc] đến giúp chúng ta xây dựng đường xá. Mục tiêu chính của ông ta là tìm hiểu tình hình đất nước ta để sau này ông ta có thể tấn công chúng ta và từ đó mở rộng xuống khu vực Đông Nam Á. Không có lý do nào khác.

Chúng tôi biết rõ ý đồ này, nhưng phải cho phép họ (sự xâm nhập của quân đội Trung Quốc). Thôi thì cũng được. Nhưng họ quyết định đưa quân vào. Tôi yêu cầu họ chỉ gửi người, nhưng quân lính của họ đã đến cùng với súng đạn. Tôi cũng phải chịu điều này.
Sau đó, ông ta (Mao Trạch Đông) bắt chúng ta phải nhận 20.000 quân của ông ta đến xây một con đường từ Nghệ Tĩnh vào Nam Bộ (thuật ngữ tiếng Việt chỉ miền Nam Việt Nam). Tôi từ chối. Họ tiếp tục yêu cầu nhưng tôi không nhượng bộ. Họ gây áp lực với tôi cho quân của họ vào nhưng tôi đã không chấp thuận. Họ tiếp tục gây sức ép nhưng tôi vẫn không chịu.

Tôi đưa ra những ví dụ này để các đồng chí thấy họ có âm mưu cướp nước ta từ lâu và âm mưu đó ác độc như thế nào.

- Sau khi Mỹ đưa hàng trăm ngàn quân vào miền Nam Việt Nam, chúng ta đã phát động cuộc tổng tấn công vào năm 1968 để buộc họ giảm leo thang. Để đánh bại Hoa Kỳ, một điều cần phải biết là làm thế nào để họ từ từ giảm leo thang. Đó là chiến lược của chúng ta. Chúng ta chiến đấu chống một kẻ thù lớn, kẻ thù với dân số 200 triệu người và thống trị thế giới. Nếu chúng ta không thể làm cho họ giảm leo thang từng bước, thì chúng ta sẽ thất bại và không thể tiêu diệt kẻ thù. Chúng ta phải đấu tranh để làm nhụt ý chí họ để buộc họ phải đi đến bàn đàm phán với chúng ta mà không cho phép họ đưa thêm quân.
Đến lúc họ muốn thương lượng với chúng ta, Ho Wei đã viết một bức thư cho chúng tôi, nói rằng: “Các ông không thể ngồi xuống đàm phán với Hoa Kỳ. Các ông phải đưa quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam để đánh với họ“. Ông ta gây áp lực với chúng tôi cách này, làm cho chúng tôi bối rối vô cùng. Đây không phải là vấn đề hoàn toàn đơn giản. Rất là mệt mỏi mỗi khi tình huống như thế phát sinh [với Trung Quốc].

Chúng tôi quyết định không thực hiện cách đó (nói đến lời khuyên của Hồ Wei không đàm phán với Hoa Kỳ). Chúng tôi phải ngồi xuống ở Paris. Chúng tôi phải làm cho họ (Mỹ) giảm leo thang để đánh bại họ. Trong thời gian đó, Trung Quốc đã thông báo [với Mỹ]: “Nếu các ông không tấn công tôi, tôi sẽ không tấn công các ông. Nhưng rất nhiều quân lính mà các ông muốn đưa vào Việt Nam, tùy các ông“. Trung Quốc nhất trí điều này và đã gây áp lực với chúng tôi bằng cách đó.

Họ (Trung Quốc) đã trao đổi nhiều với Mỹ và ép buộc chúng ta phục vụ như là một con bài để mặc cả theo cách này. Khi người Mỹ nhận ra rằng họ đã thua trận, ngay lập tức, họ sử dụng Trung Quốc để [tạo điều kiện] rút quân [ở miền Nam Việt Nam]. Nixon và Kissinger đã đến Trung Quốc để thảo luận vấn đề này.

- Trước khi Nixon đi Trung Quốc, [mục đích chuyến đi của ông ta là] giải quyết vấn đề Việt Nam bằng cách đó, để phục vụ lợi ích của Mỹ và giảm bớt thất bại của Mỹ, cũng như cùng lúc cho phép ông ta lôi kéo Trung Quốc về phía Mỹ. Chu Ân Lai đã đến gặp tôi. Chu Ân Lai nói với tôi: “Lúc này, Nixon đến gặp tôi chủ yếu là thảo luận về vấn đề Việt Nam, do vậy tôi phải đến gặp đồng chí để thảo luận điều đó với đồng chí“.

Tôi trả lời: “Đồng chí, đồng chí có thể nói bất cứ điều gì đồng chí thích, nhưng tôi không nghe theo đồng chí. Đồng chí là người Trung Quốc, tôi là người Việt. Việt Nam là của tôi (đất nước của tôi), hoàn toàn không phải của các đồng chí. Các đồng chí không có quyền nói [về vấn đề Việt Nam] và các đồng chí không có quyền thảo luận [các vấn đề đó với Mỹ]. Hôm nay, các đồng chí, chính tôi sẽ nói với các đồng chí điều mà thậm chí tôi chưa hề nói với Bộ Chính trị, rằng đồng chí đã nêu ra vấn đề nghiêm trọng và vì thế tôi phải nói:

- Năm 1954, khi chúng tôi giành chiến thắng tại Điện Biên Phủ, tôi đã ở [tỉnh] Hậu Nghĩa. Bác Hồ đã điện nói với tôi rằng, tôi phải vào miền Nam để tập hợp [các lực lượng ở đó] và nói chuyện với đồng bào miền Nam [về vấn đề này]. Tôi đi bằng xe tải vào miền Nam. Trên đường đi, đồng bào ra chào đón tôi vì họ nghĩ rằng chúng tôi đã giành chiến thắng. Đau đớn vô cùng! Nhìn đồng bào miền Nam, tôi đã khóc. Vì sau đó, Hoa Kỳ sẽ đến và tàn sát [người dân] một cách khủng khiếp.

Khi vừa tới miền Nam, ngay lập tức, tôi đã điện cho Bác Hồ để xin ở lại [miền Nam] và không trở lại miền Bắc để tôi có thể đánh thêm mười năm nữa hoặc hơn. Đồng chí đã gây khó khăn cho tôi như thế này (muốn nói đến vai trò của Chu Ân Lai trong việc chia cắt Việt Nam tại Geneva năm 1954), đồng chí có biết không“?

Chu Ân Lai nói: “Tôi xin lỗi đồng chí. Tôi đã sai. Điều đó tôi sai” (muốn nói đến sự chia cắt Việt Nam tại Geneva). Sau khi Nixon rời khỏi Trung Quốc, một lần nữa, ông ta (Chu Ân Lai) đến Việt Nam để hỏi tôi về một số vấn đề liên quan đến cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, ngay lập tức, tôi nói với Chu Ân Lai: “Nixon đã gặp các đồng chí rồi. Chẳng bao lâu nữa, họ (Hoa Kỳ) sẽ tấn công chúng tôi thậm chí còn mạnh hơn“.

Tôi hoàn toàn không sợ. Cả hai (Mỹ và Trung Quốc) đã thương lượng với nhau để đánh tôi mạnh hơn. Ông ta (Chu Ân Lai) đã không bác bỏ quan điểm này là vô căn cứ và chỉ nói rằng: “Tôi sẽ gửi thêm súng đạn cho các đồng chí“.

Sau đó ông ta (Chu Ân Lai) nói (về mối lo ngại âm mưu bí mật Trung – Mỹ): “Không có điều đó“. Tuy nhiên, hai bên đã thảo luận làm thế nào để đánh chúng ta mạnh hơn, gồm các cuộc tấn công bằng bom B-52 và phong tỏa cảng Hải Phòng. Rõ ràng là như thế.
– Nếu Liên Xô và Trung Quốc đã không mâu thuẫn với nhau, thì Hoa Kỳ không thể tấn công chúng ta quyết liệt như họ đã tấn công. Khi hai [cường quốc Trung Quốc và Liên Xô] xung đột, người Mỹ đã không bị [phe đối lập là khối xã hội chủ nghĩa] cản trở. Mặc dù Việt Nam có thể thống nhất và đoàn kết với cả Trung Quốc lẫn Liên Xô, để đạt được điều này rất phức tạp, lúc đó chúng ta phải dựa vào Trung Quốc nhiều thứ. Lúc đó, hàng năm Trung Quốc cung cấp viện trợ 500.000 tấn thực phẩm, cũng như súng ống, đạn dược, tiền bạc, chưa kể đến viện trợ đô la. Liên Xô cũng đã giúp bằng cách này. Nếu chúng ta không thể làm điều đó (đoàn kết và thống nhất với Trung Quốc và Liên Xô), mọi thứ sẽ rất nguy hiểm.

Mỗi năm tôi đã phải đi Trung Quốc hai lần để nói chuyện với họ (lãnh đạo Trung Quốc) về [các sự kiện] ở miền Nam Việt Nam. Về phía Liên Xô, tôi không phải nói gì cả (về tình hình ở miền Nam Việt Nam). Tôi chỉ nói một cách chung chung. Khi giao thiệp với Trung Quốc, tôi đã phải nói rằng cả hai [nước] đang đánh Mỹ. Tôi đã đi một mình. Tôi phải có mặt về vấn đề này. Tôi đã đến đó và nói chuyện với họ nhiều lần bằng cách này, mục đích chính là để xây dựng quan hệ gần gũi hơn giữa hai bên (nghĩa là Trung Quốc và Việt Nam). Chính xác là vào thời điểm đó Trung Quốc gây áp lực với chúng ta để xa lánh Liên Xô, cấm chúng ta không được đi với Liên Xô.

Họ đã làm rất căng. Đặng Tiểu Bình, cùng với Khang Sinh đã đến và nói với tôi: “Đồng chí, tôi sẽ giúp đồng chí vài tỷ [có lẽ là nhân dân tệ] mỗi năm. Đồng chí không thể nhận bất cứ thứ gì từ Liên Xô“.

Tôi không đồng ý điều này. Tôi nói: “Không, chúng ta phải đoàn kết và thống nhất với toàn bộ phe [xã hội chủ nghĩa]“.

Năm 1963, khi Khrushchev phạm sai lầm, ngay lập tức [Trung Quốc] ban hành một tuyên bố 25 điểm và mời đảng chúng ta đến cho ý kiến . Anh Trường Chinh và tôi đã đi cùng với một số anh em khác. Trong cuộc thảo luận, họ (Trung Quốc) lắng nghe chúng tôi đến, hình như là điểm thứ 10, nhưng khi đến điểm “không từ bỏ phe xã hội chủ nghĩa”, họ đã không nghe… Đặng Tiểu Bình nói: “Tôi chịu trách nhiệm về tài liệu của chính tôi, tôi muốn nghe ý kiến ​​của các đồng chí, nhưng tôi không chấp nhận quan điểm này của các đồng chí“.

Trước khi chúng tôi ra về, Mao gặp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi xuống trò chuyện với chúng tôi và cuối cùng ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn nói cho các đồng chí biết điều này. Tôi sẽ là chủ tịch của 500 triệu nông dân đang thiếu đất, và tôi sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á“. Đặng Tiểu Bình cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Chủ yếu là vì nông dân nghèo, trong tình cảnh khó khăn cùng cực!”

Khi chúng tôi ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Đó anh thấy đó, âm mưu chiếm nước ta và Đông Nam Á. Bây giờ đã rõ rồi“. Họ dám tuyên bố điều đó như thế. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Đúng là không lúc nào họ không nghĩ đến đánh Việt Nam!

Tôi sẽ nói với các đồng chí nhiều hơn để các đồng chí có thể thấy thêm về tầm quan trọng quân sự trong vấn đề này.

Mao hỏi tôi: Ở Lào, có bao nhiêu cây số vuông đất?
Tôi trả lời: Khoảng 200.000 cây số vuông.

Mao hỏi: Dân số của họ bao nhiêu?
Tôi trả lời: Khoảng 3 triệu!

Mao nói: Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật mà!
Mao hỏi: Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?
Tôi trả lời: Khoảng 500.000 cây số vuông.
Mao hỏi: Có bao nhiêu người?
Tôi trả lời: Khoảng 40 triệu!
Mao nói: Lạy Chúa! Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông, nhưng có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái Lan!

Đối với Việt Nam, họ không dám nói về việc đưa người tới theo cách này. Tuy nhiên, ông ta (Mao) nói với tôi: “Đồng chí, có đúng là người của các đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta hỏi: “Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta nói: “Và quân Minh nữa, phải không?” Tôi nói: “Đúng, và cả các ông nữa. Tôi đánh các ông luôn. Các ông có biết điều đó không?

Tôi đã nói với Mao Trạch Đông như thế. Ông ta nói: “Có, có!” Ông ta muốn chiếm Lào, cả Thái Lan, cũng như muốn chiếm tất cả các nước Đông Nam Á. Đưa người dân đến sống ở đó. Quan điểm đó thật là phức tạp.

Trong quá khứ (nói đến vấn đề có thể xuất phát từ mối đe dọa của Trung Quốc trong thời gian này), chúng ta đã chuẩn bị rất nhiều, không phải là chúng ta không chuẩn bị. Nếu chúng ta không chuẩn bị, tình hình gần đây sẽ rất nguy hiểm. Không phải là vấn đề đơn giản.

Mười năm trước, tôi đã triệu tập các anh em trong quân đội đến gặp tôi. Tôi nói với họ rằng Liên Xô và Mỹ mâu thuẫn với nhau. Đối với Trung Quốc, họ đã bắt tay với đế quốc Mỹ. Trong tình hình căng thẳng này, các đồng chí phải nghiên cứu vấn đề này ngay lập tức. Tôi sợ rằng quân đội không hiểu ý tôi, nên tôi nói với họ rằng, không có cách nào khác để hiểu vấn đề này. Nhưng họ vẫn thấy khó hiểu. Hoàn toàn không dễ. Nhưng tôi không thể nói bằng cách nào khác. Và tôi đã không cho phép những kẻ khác túm lấy tôi.

Khi tôi đến Liên Xô, Liên Xô cũng làm khó tôi về Trung Quốc. Liên Xô đã triệu tập một cuộc họp gồm 80 đảng [cộng sản] để hỗ trợ Việt Nam, nhưng Việt Nam không tham dự hội nghị này, vì [buổi họp này] không chỉ đơn giản chỉ nhằm giúp Việt Nam, mà còn có mục đích lên án Trung Quốc. Nên Việt Nam đã không đi.

Liên Xô nói: “Bây giờ các đồng chí bỏ rơi chủ nghĩa quốc tế [hay] là cái gì? Tại sao các đồng chí làm điều này?” Tôi nói: “Tôi hoàn toàn không bỏ rơi chủ nghĩa quốc tế. Tôi không bao giờ làm điều này. Tuy nhiên, để là người quốc tế, trước tiên phải đánh bại Mỹ. Và nếu một nước muốn đánh bại Mỹ, thì phải có sự thống nhất và đoàn kết với Trung Quốc. Nếu tôi đến hội nghị này, thì Trung Quốc sẽ gây nhiều khó khăn lớn với chúng tôi. Các đồng chí, hãy hiểu cho tôi“.

Tại Trung Quốc cũng có nhiều ý kiến và tranh luận ​​khác nhau. Chu Ân Lai đồng ý việc hình thành một mặt trận với Liên Xô để chống Mỹ. Một lần, khi tôi đi Liên Xô để dự lễ kỷ niệm quốc gia, tôi có đọc một bức điện Trung Quốc gửi sang Liên Xô, nói rằng: “Bất cứ khi nào có ai đó tấn công Liên Xô, thì Trung Quốc sẽ đứng bên cạnh các bạn“. Đó là vì đã có một hiệp ước hữu nghị giữa Liên Xô và Trung Quốc từ thời trước đó (tháng 2 năm 1950).

Ngồi cạnh Chu Ân Lai, tôi hỏi ông ta: “Trong bức điện gửi đến Liên Xô gần đây, đồng chí đồng ý thành lập một mặt trận với Liên Xô, nhưng tại sao các đồng chí không thành lập một mặt trận chống Mỹ?” Chu Ân Lai nói: “Chúng tôi có thể thành lập mặt trận chống Mỹ. Tôi chia sẻ quan điểm đó. Các đồng chí, tôi sẽ thành lập một mặt trận với các đồng chí [Việt Nam]“. Bành Chân cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Quan điểm này cực kỳ chính xác!” Nhưng khi vấn đề được thảo luận tại Thượng Hải, Mao nói là không thể và hủy bỏ nó. Các đồng chí thấy nó phức tạp như thế nào.

Mặc dù Chu Ân Lai giữ vững một số quan điểm này, ông ta dù sao cũng đồng ý xây dựng một mặt trận và [ông ta] đã giúp Việt Nam rất nhiều. Cám ơn ông ta rằng tôi có thể hiểu [nhiều về những gì đang diễn ra ở Trung Quốc]. Nếu không thì sẽ rất nguy hiểm. Có lần, ông ta nói với tôi: “Tôi đang làm hết sức mình để tồn tại ở đây, sử dụng Li Chiang tích lũy và hỗ trợ cho các đồng chí“. Thì ra vậy (tức là Chu Ân Lai đã sử dụng Li Chiang, để giúp người Việt Nam). Có nghĩa là, không có Chu Ân Lai, điều này sẽ hoàn toàn không thể xảy ra. Tôi đang mắc nợ ông ta.

Tuy nhiên, không đúng để nói rằng các lãnh đạo khác của Trung Quốc hoàn toàn chia sẻ quan điểm của Chu Ân Lai. Họ khác nhau nhiều thứ. Phải nói rằng, người kiên quyết nhất là người có tinh thần Đại Hán và là người muốn chiếm Đông Nam Á, đó chính là Mao Trạch Đông. Tất cả các chính sách [của Trung Quốc] đều nằm trong tay ông ta.

Điều tương tự cũng áp dụng đối với các nhà lãnh đạo hiện tại của Trung Quốc. Tuy nhiên, chúng ta không biết tương lai sẽ ra sao, [sự thật của vấn đề là] họ đã tấn công chúng ta. Trong quá khứ, Đặng Tiểu Bình đã làm hai điều mà hiện đang bị đảo lộn. Đó là, khi chúng ta giành chiến thắng ở miền Nam Việt Nam, nhiều [lãnh đạo] Trung Quốc không hài lòng. Tuy nhiên, dù sao Đặng Tiểu Bình cũng chúc mừng chúng ta. Vì lý do này, ngay lập tức ông ta đã bị những người khác xem như là người theo chủ nghĩa xét lại.

Khi tôi đi Trung Quốc lần cuối, tôi dẫn đầu phái đoàn và tôi đã gặp phái đoàn Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình đứng đầu. Khi nói về vấn đề lãnh thổ, gồm cả việc thảo luận về một số hòn đảo, tôi nói: “Hai đất nước chúng ta ở gần nhau, Có một số vùng lãnh thổ của chúng ta vẫn chưa được xác định rõ ràng. Hai bên nên thành lập các cơ quan để xem xét vấn đề này. Các đồng chí, làm ơn đồng ý với tôi [về vấn đề này]”. Ông ta (Đặng Tiểu Bình) đồng ý, nhưng sau khi làm như vậy, ngay lập tức ông ta bị nhóm lãnh đạo khác xem như là người theo chủ nghĩa xét lại.

Nhưng bây giờ ông ta (Đặng Tiểu Bình) điên rồi. Bởi vì ông ta muốn cho mọi người thấy rằng ông ta không phải là người theo chủ nghĩa xét lại, cho nên ông ta đã tấn công Việt Nam mạnh hơn. Ông ta để cho họ tiếp tục tấn công Việt Nam.

Sau khi đánh bại Mỹ, chúng ta giữ lại hơn một triệu quân, các đồng chí lãnh đạo Liên Xô hỏi chúng tôi: “Các đồng chí định đánh với ai mà giữ lại một đội quân thường trực lớn như vậy?” Tôi nói: “Sau này, các đồng chí sẽ hiểu“. Lý do duy nhất chúng ta giữ quân đội thường trực như thế là vì mối đe dọa của Trung Quốc đối với Việt Nam. Nếu không có [một mối đe dọa như thế], thì điều này (quân đội thường trực lớn) sẽ không cần. Gần đây, bị tấn công trên hai mặt trận, [chúng ta có thể thấy rằng] rất nguy hiểm nếu chúng ta đã không được duy trì một đội quân lớn.

(B) (Ý nghĩa của chữ “B” này trong văn bản gốc không rõ ràng) – Sau Đệ nhị Thế chiến, tất cả mọi người tin rằng tên sen đầm quốc tế là đế quốc Mỹ. Họ có thể tiếp quản và bắt nạt cả thế giới. Tất cả các nước, gồm các nước lớn đều sợ Mỹ. Chỉ có Việt Nam là không sợ Mỹ.

Tôi hiểu vấn đề này vì công việc đã dạy tôi. Người đầu tiên sợ [Mỹ] là Mao Trạch Đông. Ông ta nói với tôi, đó là, Việt Nam và Lào, rằng: “Ngay lập tức, các ông phải chuyển giao hai tỉnh của Lào đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu các ông không làm như vậy, thì Mỹ sẽ sử dụng điều đó làm lý do tấn công. Đó là mối nguy lớn”. Về phía Việt Nam, chúng tôi đã nói: “Chúng ta phải chiến đấu chống Mỹ để giải phóng miền Nam Việt Nam“. Ông ta (Mao) nói: “Các ông không thể làm điều đó. Miền Nam Việt Nam phải nằm đợi trong một thời gian dài, đợi một đời, 5-10 đời hoặc thậm chí 20 đời kể từ bây giờ. Các ông không thể đánh Mỹ. Đánh Mỹ là nguy hiểm“. Mao Trạch Đông đã sợ Mỹ đến mức độ đó…

Nhưng Việt Nam không sợ. Việt Nam đã tiếp tục chiến đấu. Nếu Việt Nam không đánh Mỹ thì miền Nam Việt Nam sẽ không được giải phóng. Một đất nước chưa được giải phóng sẽ vẫn là một đất nước lệ thuộc. Không ai có được độc lập nếu chỉ có một nửa đất nước được tự do. Không có được độc lập cho đến năm 1975, đất nước chúng ta cuối cùng có được độc lập hoàn toàn. Có độc lập, tự do sẽ đến. Tự do phải là tự do cho cả nước Việt Nam …

Engels đã nói về chiến tranh nhân dân. Sau đó, Liên Xô, Trung Quốc và chính chúng ta cũng đã nói [về vấn đề này]. Tuy nhiên, ba nước rất khác về nội dung [chiến tranh nhân dân]. Không đúng là chỉ vì các bạn có hàng triệu người, thì các bạn có thể làm bất cứ điều gì các bạn muốn. Trung Quốc cũng nói đến chiến tranh nhân dân, tuy nhiên, [họ cho rằng] “khi kẻ thù tiến lên, thì chúng ta phải rút lui“. Nói cách khác, phòng thủ là chính, và chiến tranh được chia thành ba giai đoạn, vùng nông thôn được sử dụng để bao vây thành thị, trong khi [các lực lượng chính] chỉ ở lại trong rừng núi… Người Trung Quốc ở thế phòng thủ và rất yếu [trong Đệ nhị Thế chiến]. Ngay cả với 400 triệu người đọ sức với quân đội Nhật Bản có 300.000 – 400.000 quân, Trung Quốc vẫn không thể đánh bại họ.

Tôi phải lặp lại điều này như thế, vì trước khi Trung Quốc gửi cố vấn cho chúng ta, một số anh em Việt Nam chúng ta không hiểu. Họ nghĩ rằng [Trung Quốc] rất có khả năng. Nhưng họ không có kỹ năng và do đó chúng ta đã không làm theo [những lời khuyên của Trung Quốc].

Năm 1952, tôi rời miền Bắc sang Trung Quốc vì tôi bị bệnh và cần điều trị. Đây là lần đầu tiên tôi đi nước ngoài. Tôi đặt câu hỏi cho họ (Trung Quốc) và thấy nhiều điều rất lạ. Có những khu vực [đã bị] quân Nhật chiếm đóng, mỗi khu có dân số khoảng 50 triệu người, nhưng không có lấy một chiến binh du kích…

Khi tôi từ Trung Quốc trở về, tôi đã gặp Bác [Hồ]. Bác hỏi tôi:

- Đây là lần đầu tiên chú đi ra nước ngoài, phải không?

Vâng, đây là lần đầu tiên tôi đi ra nước ngoài.

- Chú đã thấy gì?

Tôi thấy hai điều: Việt Nam rất dũng cảm và họ (Trung Quốc) không dũng cảm chút nào.
Tôi hiểu điều này kể từ ngày đó. Chúng ta (Việt Nam) hoàn toàn khác với họ. Lòng can đảm vốn có trong con người Việt Nam và do đó chúng ta chưa bao giờ có một chiến lược phòng thủ. Mọi người dân chiến đấu.

Gần đây, họ (Trung Quốc) đã mang hàng trăm ngàn quân vào xâm chiếm nước ta. Hầu hết, chúng ta đã sử dụng lực lượng dân quân và quân đội trong vùng để tấn công họ. Chúng ta không ở thế thủ và do đó họ phải lùi bước. Họ không thể quét sạch dù một trung đội Việt Nam, trong khi chúng ta đã xóa sổ vài trung đoàn và hàng chục tiểu đoàn của họ. Có được như vậy là vì chiến lược tấn công của chúng ta.

Đế quốc Mỹ đã đánh với chúng ta trong một cuộc chiến dài. Họ rất mạnh, nhưng họ đã thua. Nhưng có một yếu tố đặc biệt, đó là những mâu thuẫn gay gắt giữa Trung Quốc và Liên Xô. [Vì điều này], họ đã tấn công chúng ta mạnh như thế.

… Việt Nam đã chiến đấu chống Mỹ, và đã chiến đấu rất quyết liệt, nhưng chúng ta biết rằng Hoa Kỳ là một nước rất lớn, khả năng tích lũy hơn 10 triệu quân và đưa tất cả các loại vũ khí được xem là mạnh của họ vào để đánh chúng ta. Vì vậy, chúng ta đã phải chiến đấu trong một thời gian dài để làm cho cho họ giảm leo thang. Chúng ta là những người có thể làm được điều đó, Trung Quốc thì không thể. Khi quân đội Mỹ tấn công Quong Tre (Quảng Trị?), ngay lập tức Bộ Chính trị ra lệnh đưa quân đội vào chiến đấu. Chúng ta không sợ.

Sau đó tôi đi Trung Quốc gặp Chu Ân Lai. Ông ta nói với tôi: “Điều đó (cuộc tấn công vào Quảng Trị) có lẽ là chưa từng có, có một không hai. Chỉ có một [cơ hội] trên đời này, không có cơ hội thứ hai. Không ai dám làm những điều các đồng chí đã làm“.

… Chu Ân Lai là người đứng đầu Bộ Tham mưu. Ông ta dám nói, ông ta thẳng thắn hơn. Ông ta nói với tôi: “Nếu tôi biết trước cái cách mà các đồng chí sử dụng, chúng tôi không cần Vạn lý Trường chinh“.

Vạn lý Trường chinh là gì? Vào đầu cuộc hành quân có 300.000 quân, đến cuối Vạn lý Trường chinh chỉ còn 30.000 quân. 270.000 người đã chết. Thực sự ngu ngốc khi thực hiện cách này. Nói như vậy để các đồng chí biết chúng ta đang đi trước họ như thế nào. Trong tương lai không xa, nếu chúng ta chiến đấu chống lại Trung Quốc, chúng ta chắc chắn sẽ giành chiến thắng … Tuy nhiên, sự thật là nếu một nước khác [không phải Việt Nam] chiến đấu chống lại Trung Quốc, không rõ họ có giành được chiến thắng như thế này không (như Việt Nam).

… Nếu Trung Quốc và Liên Xô thống nhất với nhau, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta hay không. Nếu hai nước thống nhất và liên kết với nhau để giúp chúng ta, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta cái cách mà họ đã đánh. Họ sẽ do dự ngay từ đầu. Họ sẽ do dự như thời Kennedy. Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô, tất cả đã giúp Lào và ngay lập tức Mỹ ký một hiệp ước với Lào. Họ không dám gửi quân Mỹ sang Lào, họ để cho Đảng [Nhân dân Cách mạng] Lào tham gia chính phủ ngay lập tức. Họ không dám tấn công Lào nữa.

Sau đó, khi hai nước [Liên Xô và Trung Quốc] xung đột với nhau, Mỹ được [Trung Quốc] thông báo là họ có thể tiến tới và tấn công Việt Nam mà không sợ. Đừng sợ [sự trả đũa của Trung Quốc]. Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông đã nói với Mỹ: “Nếu các ông không tấn công tôi, thì tôi sẽ không tấn công các ông. Các ông có thể đưa nhiều quân vào miền Nam Việt Nam mà các ông muốn. Tùy các ông“.

… Hiện tại, chúng ta có biên giới với một nước rất mạnh, một nước với ý đồ bành trướng mà nếu muốn được thực hiện, phải bắt đầu với một cuộc xâm lược Việt Nam. Vì vậy, chúng ta phải chung vai gánh vác, vai trò lịch sử khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta chưa bao giờ trốn tránh trách nhiệm lịch sử. Trước đây, Việt Nam đã thực hiện nhiệm vụ của mình, và lần này Việt Nam xác định không cho phép họ bành trướng. Việt Nam giữ độc lập riêng mình và làm như vậy cũng là để bảo vệ nền độc lập của các nước Đông Nam Á. Việt Nam kiên quyết không để Trung Quốc thực hiện âm mưu bành trướng. Trận đánh gần đây [với Trung Quốc] chỉ là vòng một. Hiện họ vẫn còn chuẩn bị nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, bất kể họ chuẩn bị đến mức độ nào, Việt Nam cũng sẽ thắng …

Tiến hành chiến tranh không phải là đi bộ thong thả trong rừng. Gửi một triệu quân vào cuộc chiến chống lại một nước ở bên ngoài liên quan đến vô số khó khăn. Gần đây họ đưa 500.000 – 600.000 binh lính để đánh chúng ta, nhưng họ đã không có thiết bị vận tải đầy đủ để cung cấp lương thực cho quân đội của họ. Trung Quốc hiện đang chuẩn bị 3,5 triệu quân, nhưng họ phải để lại một nửa số quân đó ở biên giới [Trung-Xô] để ngăn chặn Liên Xô. Vì lý do đó, nếu họ đưa 1 hoặc 2 triệu quân vào để đánh chúng ta, chúng ta sẽ không sợ bất cứ điều gì. Chúng ta chỉ có 600.000 quân tham gia, và trong tương lai gần, nếu chúng ta phải đánh với 2 triệu quân, sẽ không có vấn đề gì cả. Chúng ta không sợ.

Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta biết cách đánh. Nếu họ đưa 1 triệu quân, họ sẽ chỉ giành được một chỗ đứng ở miền Bắc. Đi xuống vùng trung du, vùng đồng bằng và Hà Nội và thậm chí xuống dưới sẽ khó khăn hơn nữa.

Các đồng chí, như các đồng chí biết, bọn Hitler tấn công quyết liệt theo cách này, nhưng khi họ (Đức Quốc xã) đến Leningrad, họ không thể vào được. Với thành phố, người dân và các công trình phòng thủ, không thể nào thực hiện các cuộc tấn công hiệu quả chống lại mỗi người và mọi người. Thậm chí đánh trong hai, ba hoặc bốn năm, họ vẫn không thể vào. Mỗi làng ở đó (ở miền Bắc) thì giống như thế. Đường lối của chúng ta là: mỗi huyện là một pháo đài, mỗi tỉnh là một chiến trường. Chúng ta sẽ chiến đấu và họ sẽ không thể nào vào được cả.

Tuy nhiên, không bao giờ đủ khi chỉ đánh kẻ thù ở tiền tuyến. Phải có một đội quân hậu tập trực tiếp mạnh mẽ. Sau trận đánh gần đây kết thúc, chúng tôi đánh giá rằng, trong tương lai không xa, chúng ta phải đưa thêm vài triệu người đến mặt trận phía Bắc. Nhưng kẻ thù đến từ phía bắc, hậu phương trực tiếp cho cả nước phải là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh … Hậu phương trực tiếp bảo vệ thủ đô phải là Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Chúng ta có đủ người. Chúng ta có thể đánh chúng bằng nhiều cách … Chúng ta có thể sử dụng 2-3 quân đoàn để giánh một cú mạnh vào chúng, sẽ làm cho chúng lảo đảo, trong khi chúng ta tiếp tục giữ đất của chúng ta. Để đạt được mục đích này, mỗi người lính phải là một người lính thực và mỗi đội phải là một đội hình thực sự.

- Bây giờ đã đánh xong một trận rồi, chúng ta không nên chủ quan. Chủ quan và đánh giá thấp kẻ thù là sai lầm, nhưng thiếu tự tin cũng sai. Chúng ta không chủ quan, chúng ta không đánh giá thấp kẻ thù. Nhưng chúng ta cũng tự tin và vững tin vào chiến thắng của chúng ta. Chúng ta cần phải có cả hai điều này.

- Bây giờ Trung Quốc có âm mưu đánh [chúng ta] để mở rộng xuống phía Nam. Nhưng trong thời đại hiện nay họ không thể đánh và dọn dẹp một cách dễ dàng. Trung Quốc chỉ đánh Việt Nam có vài ngày mà cả thế giới đã hét lên: “Không được đụng đến Việt Nam“! Thời đại hiện nay không giống như thời xưa. Trong những ngày này, không chỉ có chúng ta và họ (muốn nói Trung Quốc). Bây giờ cả thế giới đang gắn chặt với nhau. Loài người vẫn chưa hoàn toàn đi vào giai đoạn xã hội chủ nghĩa, nhưng đây là lúc mọi người đều muốn độc lập và tự do. [Ngay cả] trên các đảo nhỏ, người dân cũng muốn độc lập, tự do.

Cả nhân loại hiện nay như thế. Điều đó là rất khác với thời xưa. Thời đó, người dân chưa nhận thức rõ những điều này. Do đó, câu của Bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là một ý tưởng của thời đại hiện nay. Đụng đến Việt Nam là đụng đến nhân loại và xâm phạm độc lập, tự do … Việt Nam là một quốc gia tượng trưng cho độc lập và tự do.

- Khi phải chiến đấu chống Mỹ, anh em chúng ta trong Bộ Chính trị đã thảo luận với nhau về vấn đề này, cân nhắc liệu chúng ta có dám đánh Mỹ hay không. Tất cả đều đồng ý đánh. Bộ Chính trị đã bày tỏ quyết tâm: để chiến đấu chống Mỹ, chúng ta không sợ Mỹ. Tất cả đều đồng tâm. Khi tất cả đã đồng ý đánh Mỹ, không sợ Mỹ, chúng ta cũng không sợ Liên Xô. Tất cả đều đồng ý. Chúng ta cũng không sợ Trung Quốc. Tất cả đều đồng ý. Nếu chúng ta không sợ ba điều này, chúng ta có thể đánh Mỹ. Đó là cách chúng tôi đã thực hiện trong Bộ Chính trị hồi đó.

Mặc dù Bộ Chính trị đã gặp và tổ chức các buổi thảo luận như thế và mọi người đồng lòng, sau này có một người đã nói với một đồng chí điều mà tôi đã nói. Đồng chí đó đặt câu hỏi cho Bộ Chính trị, hỏi lý do gì mà Anh Ba một lần nữa lại nói rằng, nếu chúng ta muốn đánh Mỹ, thì chúng ta không nên sợ Trung Quốc? Tại sao anh ấy phải nói như vậy nữa?

Lúc đó, anh Nguyễn Chí Thanh, người đã bị nghi là có cảm tình với Trung Quốc, đứng lên và nói: “Kính thưa Bộ Chính trị và kính thưa Bác Hồ, lời phát biểu của anh Ba là đúng. Phải nói như thế (ý nói không cần phải sợ Trung Quốc), vì họ (Trung Quốc) gây rắc rối cho chúng ta nhiều điều. Họ chặn chúng ta ở chỗ này, rồi họ trói tay chúng ta ở chỗ kia. Họ không cho chúng ta đánh…

Trong khi chúng ta đánh ở miền Nam Việt Nam, Đặng Tiểu Bình quy định rằng tôi chỉ có thể đánh ở mức trung đội trở xuống và không được đánh ở mức cao hơn. Ông ta (Đặng Tiểu Bình) nói: “Ở miền Nam, do các ông phạm sai lầm về việc đã khởi động đánh trước, các ông chỉ nên đánh ở mức trung đội trở xuống, không được đánh ở mức cao hơn“. Họ gây áp lực lên chúng ta như thế.

- Chúng ta không sợ ai cả. Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta có lẽ phải. Chúng ta không sợ ngay cả anh trai của chúng ta. Chúng ta cũng không sợ bạn bè của chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta không sợ kẻ thù của chúng ta. Chúng ta đã đánh họ rồi. Chúng ta là con người, chúng ta không sợ bất cứ ai. Chúng ta độc lập. Cả thế giới biết chúng ta độc lập.

Chúng ta phải có một quân đội mạnh mẽ, bởi vì đất nước chúng ta đang bị đe dọa và bị bắt nạt … Không thể khác được. Nếu không, thì sẽ nguy hiểm vô cùng, nhưng đất nước chúng ta nghèo.

- Chúng ta có một quân đội mạnh, điều đó không có cách nào làm nhụt chí chúng ta. Có một số chính sách của Trung Quốc đối với chúng ta: xâm lược và chiếm đóng nước ta, tìm cách làm suy yếu chúng ta về kinh tế và làm cho điều kiện sống của chúng ta khó khăn. Vì những lý do này, để chống lại Trung Quốc, trước hết, chúng ta phải, không những chiến đấu, mà còn làm cho chúng ta mạnh mẽ hơn. Để đạt được mục đích này, theo tôi, quân đội của chúng ta không nên là một lực lượng lãng phí nguồn lực của nhà nước, mà nên là một lực lượng sản xuất mạnh mẽ. Khi kẻ thù đến, họ (những người lính) cầm súng ngay lập tức. Khi không có kẻ thù, thì họ sẽ sản xuất đàng hoàng. Họ sẽ là biểu tượng tốt nhất và cao nhất trong sản xuất, sản xuất nhiều hơn bất cứ người nào khác. Dĩ nhiên, đó không phải là một câu chuyện mới …

- Hiện nay, trên vai quân đội của chúng ta đang gánh vác một nhiệm vụ lịch sử: bảo vệ độc lập và tự do của chúng ta, trong khi cùng lúc bảo vệ hòa bình và độc lập trên toàn thế giới. Nếu chính sách bành trướng của bè lũ phản động Trung Quốc không thể thực hiện được nữa, sẽ là lợi ích của cả thế giới. Việt Nam có thể làm điều này. Việt Nam có 50 triệu người rồi. Việt Nam có những người bạn Lào và Campuchia và có địa thế vững chắc. Việt Nam có phe [XHCN] và tất cả nhân loại đứng về phía ta. Rõ ràng là chúng ta có thể làm điều này.

… Các đồng chí có biết người nào trong đảng chúng ta, trong nhân dân của chúng ta, nghi chúng ta sẽ thua Trung Quốc? Dĩ nhiên là không có ai cả. Nhưng chúng ta phải duy trì các mối quan hệ bạn bè của chúng ta. Chúng ta không muốn hận thù dân tộc. Tôi lặp lại: tôi nói điều này bởi vì tôi chưa bao giờ cảm thấy căm thù Trung Quốc. Tôi không cảm thấy như thế. Đó là họ đánh chúng ta.

Hôm nay tôi cũng muốn các đồng chí biết rằng trong thế giới này, người đã bảo vệ Trung Quốc là chính tôi! Đó là sự thật. Tại sao vậy? Bởi vì trong hội nghị tháng 6 năm 1960 tại Bucharest, 60 đảng đứng lên chống lại Trung Quốc, nhưng chỉ có mình tôi là người bảo vệ Trung Quốc. Việt Nam chúng ta là thế. Tôi sẽ tiếp tục lặp lại điều này: Tuy họ cư xử tồi tệ, chúng ta biết rằng người của họ là bạn của chúng ta. Về phía chúng ta, chúng ta không cảm thấy xấu hổ với Trung Quốc. Tuy nhiên, âm mưu của một số lãnh đạo (Trung Quốc) là một vấn đề khác. Chúng ta coi họ chỉ là một bè lũ. Chúng ta không nói tới đất nước họ. Chúng ta không nói người dân Trung Quốc xấu với chúng ta. Chúng ta nói bè lũ phản động Bắc Kinh. Tôi nói lại điều này một lần nữa một cách nghiêm túc như thế.

Vì vậy, chúng ta hãy kiểm soát tình hình chặt chẽ, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, và không bao giờ nới lỏng sự cảnh giác. Về mối quan hệ với Trung Quốc cũng vậy. Tôi tin rằng trong 50 năm, hoặc thậm chí trong 100 năm, chủ nghĩa xã hội có thể thành công, và lúc đó chúng ta sẽ không bị vấn đề này nữa. Nhưng sẽ mất một thời gian [dài] như thế. Vì vậy, chúng ta phải chuẩn bị và sẵn sàng trên mọi phương diện.

Hiện nay, chắc chắn không ai còn nghi ngờ nữa. Nhưng cách đây năm năm, tôi dám chắc rằng [không có] đồng chí nào nghi ngờ Trung Quốc có thể đánh chúng ta. Nhưng có. Đó là vì các đồng chí [này] không có kiến ​​thức về vấn đề này. Nhưng đó không phải là trường hợp của chúng tôi (Lê Duẩn và ban lãnh đạo). Chúng ta biết rằng Trung Quốc đã và đang tấn công chúng ta [cách nay] mười năm hoặc hơn. Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên [về cuộc tấn công của Trung Quốc vào tháng 1 năm 1979].

Nguồn: Wilson Center

Posted in Chính trị, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Tagged: | 130 Comments »

76:Trung Quốc bị ám ảnh bởi những mối liên hệ với Khmer Đỏ

Posted by adminbasam on 22/02/2009

ASIA TIMES

Trung Quốc bị ám ảnh


bởi những mối liên hệ


với Khmer Đỏ

Antoaneta Bezlova

Ngày 21-2-2009


BẮC KINH – Những bí mật đáng kinh sợ về các ký ức đã bị che dấu của Trung Quốc đang tràn về. Kỷ niệm lần thứ 30 cuộc chiến ngắn ngủi mà đẫm máu với Việt Nam có thể đã và đang qua đi mà không có  dấu hiệu hay hàng chữ gì ghi nhận, song thực tế rằng ngày 17 tháng Hai cũng được xem là ngày khởi đầu cho phiên tòa dành cho kẻ tra tấn có chức vụ cao nhất của chế độ Khmer Đỏ ghê tởm ở Cambodia.

Vai trò của Trung Quốc trong quá khứ đẫm máu ở Cambodia giờ đây ít được nói ra và đó là cái cách mà Bắc Kinh, Hà Nội và Phnom Penh – cả ba đều đang có khuynh hướng tập trung vào thương mại và phát triển – ưa thích như thế.

Khi Việt Nam lật đổ chế độ Khmer Đỏ của Pol Pot vào năm 1979, Bắc Kinh đã quá tức giận bởi những gì mà họ nhìn thấy như một sự thách thức ở sân sau của họ do bởi một đảng chính trị mà họ đã giúp thành lập nên, TQ đã ra lệnh một cuộc tấn công để “dạy cho Việt Nam một bài học” và giữ cho Pol Pot được tại vị.

Trong suốt thời gian nắm quyền lực của mình từ 1975-1979, Pol Pot đã mưu toan tái tạo cuộc cải cách điền địa không tưởng của Mao Trạch Đông, song cuộc thí nghiệm nầy đã để lại một đất nước Cambodia đầy thương tích với một phần tư dân số – khoảng 1,7 triệu người – đã chết.


Mặc dù biết rõ những hành động tàn bạo mà chế độ này đã phạm phải, song Bắc Kinh đã về phe với Khmer Đỏ qua cuộc xâm chiếm của Việt Nam vào Cambodia và đã phát động một cuộc tấn công quy mô chống lại Việt Nam dọc theo đường biên giới của hai nước.

Cuộc xung đột biên giới kéo dài một tháng đã làm chết đi khoảng 20.000 tới 60.000 nhân mạng, nhưng lại không có hoạt động kỷ niệm nào đã được tổ chức vào dịp kỷ niệm 30 năm này ở cả Bắc Kinh và Hà Nội.

Khi phiên tòa dành cho điều tra viên cao cấp nhất của Khmer Đỏ là ông Kaing Guek Eav, còn được gọi là Duch, được mở tại Phnom Penh, Trung Quốc đã tìm cách hạ thấp vai trò của họ trong việc hổ trợ cho chính quyền Pol Pot.

“Nhưng mọi người đều biết, chính phủ Kamphuchea Dân chủ đã có một ghế hợp pháp tại Liên hiệp quốc, và trước đó (trước năm 1978) đã thiết lập những mối quan hệ rộng rãi với hơn 70 quốc gia khác,” nữ phát ngôn viên bộ ngoại giao Jiang Yu đã nói tại một cuộc họp báo thường kỳ, với ám chỉ cựu chính phủ Khmer Đỏ trước đây.


Ông Duch đang được đưa ra tòa về các tội hình chống lại loài người. Dưới sự cai quản của y, trong vai trò là sĩ quan chỉ huy trại tù S-21 khét tiếng, khoảng 14.000 người đã bị tra tấn và bị đưa tới cái chết của họ trong những cánh-đồng-giết-người bên ngoài thủ đô Phnom Penh. (Mời xem bài Trial and error in Cambodia, ngày 18-2-2009.)


“Trung Quốc đang nợ những người dân Cambodia một lời xin lỗi,” đó là nhận xét của Lao Mong Hay, cựu giám đốc Viện nghiên cứu về Xã hội Dân chủ Khmer ở Phnom Penh và hiện nay là một nhà nghiên cứu lão thành của Ủy ban Nhân quyền Á châu tại Hong Kong. “Trung Quốc đã giúp Khmer Đỏ từ trước khi chế độ này lên nắm được quyền lực và TQ đã tiếp tục đóng góp những trợ giúp của họ thậm chí sau khi Pol Pot nắm được quyền lực mà không cần quan tâm gì tới những gì đang xảy ra cho dân chúng Cambodia.”


Theo ông Mong Hay, Trung Quốc đã cho Kambodia Dân chủ 1 tỉ đô la trước năm 1979 và một tỉ đô la khác nữa sau 1979 để chiến đấu chống lại cuộc xâm chiếm của Việt Nam.


Trung Quốc thường nhắc nhở Nhật Bản phải “đối diện” với lịch sử, họ nhấn mạnh rằng thái độ không xin lỗi của Tokyo liên hệ tới những quan điểm chính trị của chủ nghĩa xâm lược trong quá khứ đang cản trở các sự tiến bộ về các mối quan hệ với những nước láng giềng của Nhật. Thế nhưng khi được áp dụng vào quá khứ của chính Trung Quốc, những bản chất sai lầm có tính toán (của TQ) trong lịch sử đã được vứt bỏ đi như là không liên quan tới những phát triển hiện tại và tương lai.


“Trung Quốc và Việt Nam đã có một thời kỳ không vui trong quá khứ của họ,” bà Jiang Yu nói với các phóng viên. “Thế nhưng điều quan trọng là các nhà lãnh đạo và nhân dân cả hai nước đều có một ước muốn lớn lao và nhất trí để cùng nhau tạo nên một tương lai tươi sáng. Lịch sử đã đạt được những kết luận của nó rồi,” bà bổ sung thêm.


Khmer Đỏ là một bản sao của chế độ Mao-ít, ông Mong Hay nhận xét, và bất cứ cuộc điều tra nào vào trong những thành tích của nó cũng có thể phơi bày ra ánh sáng những lỗi lầm trầm trọng thuộc về lịch sử của chính bản thân của Trung Quốc. “Chế độ cộng sản Trung Quốc vẫn chưa tính đến những nỗi đau khổ đã gây ra cho chính nhân dân của họ trong suốt nhiều năm trời của các phong trào chính trị và khủng bố đàn áp,” ông nói thêm.


Trong thời gian cầm quyền của Mao, Trung Quốc đã trang bị vũ khí và huấn luyện cho những nhóm phiến quân tại hầu hết các quốc gia Đông nam Á, bao gồm Indonesia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Cambodia, ngay cả khi TQ đã nuôi dưỡng các mối quan hệ đầm ấm với các chính phủ đương quyền ở các quốc gia này.

Sự trợ giúp hào phóng của Bắc Kinh đối với các đội quân cách mạng trên khắp Á châu đã nổi lên trong thời gian diễn ra cuộc Cách mạng Văn hóa khi sự kình địch của Trung Quốc với Liên Xô mạnh mẻ thêm và họ đã tranh dành ảnh hưởng trong khu vực khi các cường quốc thực dân phương Tây đã rút lui (ý nói sau 1954 Pháp và Anh rút lui khỏi các khu vực Châu Á – TH).


“Cuối cùng đó là nền chính trị thực dụng, hơn là sự khẳng định có tính chất ý thức hệ, thứ nầy đã đem lại cho Trung Quốc và Cambodia xích lại gần nhau,” Philip Short đã viết trong cuốn sách về lai lịch của Pol Pot nhan đề Pol Pot: Lịch sử của một Cơn ác mộng. “Đã có một sự đối xứng gần như hoàn hảo liên quan tới những mối quan hệ của 3 nước này. Trung Quốc đã đối xử với Việt Nam giống như là Việt Nam đối xử với Cambodia – một người láng giềng to lớn và hùng mạnh, kẻ này hăm doạ áp đặt ảnh hưởng thống trị của họ lên một quốc gia khác nhỏ hơn.”

Trong khi Bắc Kinh đã từng coi Việt Nam như là một đầu cầu nối của Liên Xô ở châu Á, thì TQ cũng đã coi “Cambodia như là một quốc gia bên sườn phía tây Việt Nam có thể được mong đợi chống lại sự bành chướng của người Việt Nam, và vì thế là kìm chế quyền lực của Sô Viết,” ông Short viết.

Giờ đây, cũng như về sau, những mệnh lệnh của ý thức hệ đã và đang nhường chỗ lại cho nền chính trị thực dụng [1]. Kinh tế và thương mại hình thành cơ sở cho các chính sách của Bắc Kinh đối với những quốc gia láng giềng của mình trong những ngày này. Trung Quốc đang kiên nhẫn xây dựng lại các mối quan hệ truyền thống với tất cả các láng giềng Đông nam Á, sử dụng đầu tư nước ngoài, viện trợ phát triển và “quyền lực mềm” để lôi kéo những nước này vào trong quỹ đạo kinh tế của TQ.

Chương trình trao đổi mậu dịch bên trong vùng khu vực Sông Cửu Long mở rộng, The Greater Mekong Subregion [GMS], được Ngân hàng Phát triển châu Á [ADB] phát động năm 1992, đã và đang cung cấp cho Bắc Kinh một cơ cấu tổ chức để mở rộng các mối thắt chặt về kinh tế mà không làm nổi lên sự lo sợ giữa các nước láng giềng của TQ thường vẫn còn đang làm lo ngại về quyền lực Trung Quốc.

“Trung Quốc đang tham gia một cách tích cực vào việc phát triển của GMS bởi vì họ coi tổ chức này như là sự xây dựng một lối đi tới tất cả các nước vùng Đông nam Á,” theo nhận xét của He Shengda, nhà nghiên cứu làm việc cho Viện Khoa học Xã hội Vân Nam.

Tại Cambodia những ngày này, các công ty Trung Quốc được tham dự vào hoạt động khai thác mỏ và gỗ, và họ đã xây dựng các tuyến đường, cầu cống, các xí nghiệp may mặc, các nhà máy điện, các sòng bài và các khu nghỉ dưỡng cao cấp, TQ đang đầu tư khoảng 1,5 tỉ đô la năm 2007.

Một nhóm đầu tư người Cambodia và một công ty dệt may Trung Quốc đã và đang cam kết góp vốn ba tỉ đô la vào một liên doanh, tại cảng Sihanoukville, rập khuôn theo những phương pháp áp dụng cho các đặc khu kinh tế miễn thuế của Trung Quốc.

Tại Việt Nam, các bãi chiến trường ngày xưa giờ đây đang tấp nập những thương gia Trung Quốc, được hổ trợ bởi các tuyến đường cao tốc mới, chẳng hạn như một tuyến nối liền Nam Ninh của tỉnh Quảng Tây với Hà Nội. Trong vòng ba năm, một tuyến đường khác được ngân hàng ADB cấp tín dụng sẽ rút ngắn chặng đường giữa thủ phủ Vân Nam của tỉnh Côn Minh với Hà Nội xuống còn chưa tới 24 giờ.

Sự hòa nhập về kinh tế gia tăng tương tự có thể được nhận thấy ở bất cứ đâu tại Đông nam Á, nơi mà các công ty Trung Quốc đang cung cấp tiền bạc và chuyên môn để đổi lại những thị trường và những nguồn tài nguyên có giá trị.

“Các nền kinh tế của vùng hạ lưu khu vực Sông Cửu Long mở rộng (GMS) và Trung Quốc bổ sung cho nhau rất tốt,” theo nhận xét của Zhang Guotu, một chuyên gia về Đông nam Á thuộc trường Đại học Thiên An Môn (Xiamen). “Khu vực phụ cận sông Cửu Long có tiềm năng to lớn trong những điều kiện về tài nguyên và lao động thế nhưng các nền kinh tế của nó đang bị tụt hậu. Điều này xuất trình những cơ hội cho nhà nước Trung Quốc và các công ty tư nhân trong việc tìm kiếm cả thị trường tiêu thụ lẫn đầu tư.”

Bên trong mục tiêu lớn hơn của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Trung Quốc cũng đang thúc đẩy cho sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế lớn lớn rộng hơn. Trong một dấu hiệu của những tham vọng đang gia tăng của nước này, năm ngoái Bắc Kinh đã chỉ định một đại sứ đặc biệt cho khối có 10 thành viên này.

Vào năm 2010, Trung Quốc và ASEAN đến kỳ hạn để khởi đầu giai đoạn một về sự thỏa thuận thương mại, giảm các loại thuế thương mại giữa Trung Quốc và năm quốc gia sáng lập khối này – Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan. Vào năm 2015, Việt Nam, Cambodia, Lào và Burma [Myanma] cũng sẽ tham gia vào khối thương mại này. Brunei là trường hợp ngoại lệ.

Tuy nhiên, các mối quan hệ của Trung Quốc với các quốc gia Đông nam Á vẫn còn đầy chông gai khi mà lịch sử và chính trị vẫn thường len vào con đường hội nhập kinh tế.

“Lịch sử không nên bị vứt bỏ đi một cách dễ dàng,” ông Mong Hay phát biểu. “Chỉ cần nhìn vào mối quan hệ của Cambodia và Trung Quốc, để thấy rằng họ đã và đang có vẻ giống như một cái đu quay trong quá khứ – đu từ chỗ tốt sang chỗ xấu rồi ngược lại.”


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


——————————————–

ASIA TIMES

————–

China haunted by Khmer Rouge links
By Antoaneta Bezlova
Feb 21, 2009
BEIJING – The skeletons are tumbling out of China’s cupboard of buried memories. The 30th anniversary of China’s brief but bloody war with Vietnam may have gone unmarked but for the fact that February 17 also saw the start of the trial of the chief torturer of Cambodia’s grisly Khmer Rouge.

China’s role in Cambodia’s bloody past is now little spoken of and this is how Beijing, Hanoi and Phnom Penh – all intent on trade and development – prefer it.

When in 1979 Vietnam ousted Pol Pot’s Khmer Rouge regime, Beijing was so incensed by what it saw as defiance in its backyard by a political party it had helped create that it ordered an attack to “teach Vietnam a lesson” and keep Pol Pot in power.
During his 1975-1979 rule Pol Pot sought to replicate Mao Zedong’s agrarian utopia, but the experiment left Cambodia deeply scarred and a quarter of its population – some 1.7 million people – dead.

Although aware of the atrocities commit ted by the regime, Beijing sided with the Khmer Rouge over the Vietnamese invasion of Cambodia and launched a massive offensive against Vietnam along the two countries’ border.

The month-long border conflict claimed anywhere between 20,000 to 60,000 lives, and yet no commemorations were held on the 30th anniversary either in Beijing or Hanoi.

As the trial of Khmer Rouge’s chief investigator Kaing Guek Eav, also known as Duch, opened in Phnom Penh, China sought to downplay its role in supporting Pol Pot’s regime.

“As everyone knows, the government of Democratic Kampuchea had a legal seat at the United Nations, and had established broad foreign relations with more than 70 countries,” foreign ministry spokeswoman Jiang Yu said at a regular press briefing, referring to the former Khmer Rouge government.

Duch is being tried on charges of crimes against humanity. Under his watch, as commandant of the notorious S-21 prison, some 14,000 people were tortured and sent to their deaths in the killing fields outside the capital Phnom Penh. (Please see Trial and error in Cambodia, February 18, 2009.)

“China owes Cambodian people an apology,” said Lao Mong Hay, former director of the Khmer Institute of Democracy in Phnom Penh and now a senior researcher at the Asian Human Rights Commission in Hong Kong. “It supported the Khmer Rouge before coming to power and continued to lend its support even after Pol Pot assumed power regardless of what was happening to Cambodian people.”

According to Mong Hay, China had donated $1 billion to Democratic Kampuchea before 1979 and another billion dollars after 1979 in order to fight the Vietnamese invasion.

China often admonishes Japan to “face up” to history, insisting that Tokyo’s unapologetic attitude regarding its invasionist politics of the past impedes relations with its neighbors. But when applied to China’s own past, reckoning of history’s fallacies is discarded as irrelevant to current and future developments.

“China and Vietnam have had a period of unhappiness in their past,” Jiang Yu told reporters. “But what’s important is that the leaders and people of both countries have a broad wish and consensus to create a bright future together. History has already reached its conclusions,” she added.

The Khmer Rouge was a replica of the Maoist regime, said Mong Hay, and any probe into its record could throw unfavorable light on China’s own historical blunders. “The Chinese communist regime hasn’t accounted yet for the sufferings caused to its own people during years of political campaigns and persecutions,” he added.

During Mao’s rule China armed and trained rebel groups in almost every Southeast Asian country, including Indonesia, Laos, Myanmar, Thailand and Cambodia, even as it fostered warm relations with their official governments.

Beijing’s generous support for revolutionary armies all over Asia rose during the Cultural Revolution when China’s rivalry with the Soviet Union intensified and they competed for influence in the region as Western colonial powers retreated.

“In the end it was realpolitik, far more than ideological affinity, which brought China and Cambodia together,” wrote Philip Short in his biography of Pol Pot, Pol Pot: The History of a Nightmare. “There was near-perfect symmetry to the three countries’ relations. China was to Vietnam as Vietnam was to Cambodia – a vast and powerful neighbor, which threatened hegemony.”

While Beijing saw Vietnam as a Soviet bridgehead in Asia, it also saw “Cambodia as the one country on Vietnam’s western flank which might be expected to resist the expansion of Vietnamese, and hence of Soviet power,” Short wrote.

Now, as then, imperatives of ideology have given way to realpolitik. Economy and trade form the basis for Beijing’s policies towards its neighboring countries these days. China is patiently rebuilding traditional ties with all of its Southeast Asian neighbors, using foreign investment, development aid and “soft power” to draw them back into its economic orbit.

The Greater Mekong Subregion intra-regional trade program, launched by the Asia Development Bank in 1992, has provided Beijing with the framework for expanding economic ties without arousing fears among its neighbors still wary of Chinese power.

“China actively participates in the development of the GMS because it sees it as the building of a passage to all of Southeast Asia,” said He Shengda, researcher with the Yunnan Academy of Social Sciences.

In Cambodia these days, Chinese firms are engaged in mining and logging, and have built roads, bridges, garment factories, power plants, casinos and resorts, investing about $1.5 billion in 2007.

A Cambodian investment group and a Chinese textile firm have committed three billion dollars to a joint venture, in Sihanoukville, modelled along the lines of China’s tax-free special economic zones.

In Vietnam, the old theatres of war are now bustling with Chinese traders, facilitated by new highways, such as the one linking Nanning in Guangxi province with Hanoi. Within three years, another ADB-financed highway will shorten the drive between Yunnan capital Kunming and Hanoi to less than 24 hours.

Similar accelerated economic integration can be seen elsewhere in Southeast Asia where Chinese companies are providing capital and expertise in exchange for markets and valuable resources.

“The economies of the GMS and China are highly complementary,” said Zhang Guotu, an expert on Southeast Asia with Xiamen University. “The sub-region has great potential in terms of resources and labor but its economies are lagging behind. This presents opportunities for Chinese state and private companies looking both for markets and investment.”

Within the greater scope of Association of South East Asian Nations (ASEAN), China is also pushing for enlarged economic interdependence. In a sign of its growing ambitions, last year Beijing appointed a special ambassador to the 10-member bloc.

In 2010, China and ASEAN are due to launch the first stage of a trade agreement, reducing tariffs on trade between China and the five founding countries of the bloc – Singapore, Malaysia, Indonesia, the Philippines and Thailand. In 2015, Vietnam, Cambodia, Laos and Burma will also join the trade bloc. The exception is Brunei.

Nevertheless, China’s relations with Southeast Asian nations remain prickly as history and politics often get in the way of economic integration.

“History should not be easily discarded,” said Mong Hay. “It only takes a look at Cambodia and China relations, for example, to see that they have been like a yo-yo in the past – swinging from good to bad and back.”

(Inter Press Service)

Posted in Quan hệ quốc tế, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Leave a Comment »

72:Miền Bắc VN Vẫn Nhớ Cuộc Xâm Lược của TQ năm 1979(3)

Posted by adminbasam on 17/02/2009


Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!


Miền Bắc Việt Nam


vẫn nhớ đến cuộc


xâm lược năm 1979


của Trung Quốc


Aude Genet, Hãng thông tấn Pháp Agence France Presse [AFP]

Thứ Ba, ngày 17-2-2009


LẠNG SƠN: Người dân Lạng Sơn vẫn còn nhớ tới sự tàn phá khi quân đội Trung Quốc tràn qua biên giới tấn công như vũ bão 30 năm trước.

Không một tòa nhà nào của chính quyền còn đứng vững. Những xác chết bị bỏ lại đang trôi nổi trên sông.

Thế nhưng giờ đây thành phố phía bắc Việt Nam này là một khu buôn bán hưng thịnh. Và trong khi mối nghi ngờ về người láng giềng khổng lồ của họ vẫn còn đó, thì những mối liên kết thương mại gia tăng qua biên giới đang cải thiện số phận của nhiều người Việt Nam.

“Nhờ vào phát triển kinh tế và thương mại ở đây, cuộc sống của chúng tôi đang trở nên tốt hơn,” theo lời một phụ nữ không cho biết tên vì một lý do đơn giản-bà kiếm tiền bằng cách buôn lậu hàng giả qua biên giới.

Để được trả hơn 1 đô la một chút, những người buôn lậu phải gùi khoảng 50 cân hàng phía sau lưng và băng qua biên giới trên những con đường núi hiểm trở – thỉnh thoảng họ phải đi vài lần trong một ngày.

Bất chấp sự kiểm soát ngày càng gia tăng của hải quan, người phụ nữ này nói là bà đã kiếm đủ tiền để mua một căn nhà.

Mọi thứ kém phần vui tươi hơn vào năm 1979, khi Lạng Sơn còn là một trong những vùng phải gánh chịu sức mạnh tàn phá trong cuộc chiến tranh chớp nhoáng mà hủy diệt khủng khiếp đó.

Sau nhiều tháng lời qua tiếng lại và đụng độ vũ trang, Trung Quốc phát động một cuộc tấn công quy mô chống lại Việt Nam để dạy cho người đồng minh cộng sản của họ “một bài học” về việc đang trở nên quá độc lập trước những ý muốn của Bắc Kinh.

Cuộc chiến kéo dài chỉ một vài tuần, thế nhưng đã để lại đàng sau một mối hồ nghi dai dẳng về người Trung Quốc, mà nó chỉ được bù đắp phần nào bởi những liên hệ thương mại sâu đậm thêm.

“Mối quan hệ thương mại này là không cân xứng,” theo lời của ông Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam và là giáo sư Học viện Quốc phòng Úc.

“Việt Nam, như là một đối tác yếu thế hơn, luôn đặc biệt nhạy cảm với bất cứ việc gì Trung Quốc đang làm. Tình trạng yếu thế của Việt Nam làm tăng thêm mối ngờ vực và không tin cậy,” ông nói.

Nhưng nếu như có những mối nghi ngại về nước Trung Quốc ở đây, thì có vẻ như không có những lo âu về hàng hóa của Trung Quốc. Khu vực biên giới tràn ngập mọi thứ từ những loại quần áo cơ bản cho tới những chiếc điện thoại di động và hàng điện tử đời mới nhất – tất cả đều được sản xuất ở Trung Quốc.

Các giới chức địa phương cho biết là buôn bán qua biên giới tại tỉnh Lạng Sơn đã tăng vọt từ khoảng 200 triệu đô la một năm vào đầu những năm 1990 lên 1,5 tỉ đô la năm 2008 – với lượng hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc hầu như chiếm toàn bộ.

“Trong thời gian diễn ra cuộc chiến, mọi người ở đây căm thù người Trung Quốc,” đó là nhận xét của một phụ nữ cũng giấu tên. “Nhưng kể từ đó, cảm giác của chúng tôi từ từ trở lại bình thường.”

Các giới chức Việt Nam thường từ chối đề cập tới cuộc chiến đó và các mối quan hệ với Trung Quốc có vẻ như nằm trong sự sắp đặt tuyệt vời – tuy nhiên đề tài này hầu như là điều cấm kỵ trên hệ thống truyền thông nhà nước.

Trong khi một số vấn đề còn tồn tại dai dẳng, theo Ramses Amer, một giáo sư thuộc Trung tâm Nghiên cứu châu Á Thái Bình Dương của trường Đại học Stockholm, thì những mối liên hệ là vững chãi hơn nhiều so với những năm trước.

“Có nhiều bước tiến bộ, thậm chí trong những đề tài biên giới có tính chất khó khăn,” ông Amer nói.

Dân chúng ở đây có lẽ không bao giờ quên được những năm tháng dài chiếm đó của quân Trung Quốc hay nhiều cuộc đụng độ trong quá khứ, và những vấn đề về lãnh thổ vẫn nuôi sống những mối ngờ vực nào đó.

Trong khi hai nước cuối cùng đã đánh dấu xác định đường biên giới trên bộ, họ vẫn có những tranh đua và có những khẳng định chủ quyền bộc lộ nhiều xúc động về các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trong vùng Biển Đông.

“Không có vấn đề nào nhạy cảm hơn là những khẳng định chủ quyền mang tính tranh chấp của họ đối với những phần trên Biển Đông,” ông Thayer nhận xét. “Cuộc tranh cãi này dấy lên câu hỏi dễ gây xúc động về di sản để lại của tổ tiên và chủ quyền quốc gia.”


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


———————————————————————————————-

The Manila Times

———

Northern Vietnam still
remembers China’s 1979 invasion

By Aude Genet Agence France Presse

Tuesday, February 17, 2009

LANG SON: The people of Lang Son still remember the devastation when Chinese troops came storming across the border 30 years ago.

Not a single government building was left standing. The bodies of the dead were left floating in the river.

But now this northern Vietnam town is a flourishing trade area. And while suspicion of their giant neighbor remain s, the growing trade links across the border are improving the lot of many Vietnamese.

“Thanks to economic development and the trade here, our life is getting better,” says one woman, who declines to give her name for a simple reason—she makes her money smuggling counterfeit goods across the border.

For pay of little more than a dollar, the smugglers strap around 50 kilos (110 pounds) on their backs and make the difficult mountain trek across the border—sometimes several times a day.

Despite an increase in customs controls, the woman says she makes enough to have bought a house.

Things looked less rosy in 1979, when Lang Son was one of the regions that bore the brunt of the devastation in the brief but destructive war.

After months of verbal sparring and armed clashes, China launched a massive offensive against Vietnam to teach its communist ally “a lesson” for becoming too independent for Beijing’s liking.

The war lasted only a few weeks, but left behind a lingering mistrust of the Chinese that has only partly been offset by the deepening links of trade.

“The relationship is asymmetric,” says Carl Thayer, a Vietnam expert and professor at the Australian Defense Force Academy.

“Vietnam, as the weaker partner, is always extremely sensitive to whatever China does. Vietnam’s weakness gives rise to suspicion and distrust,” he says.

But if there are misgivings about China here, there seem to be no worries about Chinese goods. The border area is flooded with everything from basic clothes to the latest in mobile phones and electronics—all made in China.

Local officials say cross-border trade in Lang Son province has jumped from around $200 million a year in the early 1990s to $1.5 billion in 2008—with imports of Chinese goods accounting for almost all of that.

“During the war, everyone here hated the Chinese,” says one woman, who also declined to be named. “But since then, our feelings have slowly been getting back to normal.”

Vietnamese officials normally decline to mention the war and relations with China would seem to be in excellent shape — though the subject is almost taboo in official communication.

While some problems persist, says Ramses Amer, a professor at Stockholm University’s Center for Pacific Asia Studies, ties are much sounder than they were in years past.

“There has been a lot of progress, even on difficult border issues,” Amer says.

People here may never forget the long years of Chinese occupation or the numerous clashes of the past, and territorial matters keep a certain amount of mistrust alive.

While the two countries have finally demarcated their land border, they still have competing and emotionally charged claims over the Spratlys and Paracel islands in the South China Sea.

“No issue is more sensitive than their conflicting claims to features in the South China Sea,” says Thayer. “This dispute raises the emotive question of patrimony and national sovereignty.”

Posted in TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Leave a Comment »

71:Phải tưởng niệm Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979

Posted by adminbasam on 16/02/2009


Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!


The Epoch Times

————————————————————————————————————

Vì sao Việt Nam


cần phải nhớ ngày


17 tháng Hai


Mối nguy hiểm nằm trong việc quên đi một cuộc chiến tàn khốc

Phạm Hồng Sơn

Ngày 15-2-2009


NỘI – Ngày 17 tháng Hai đánh dấu kỷ niệm lần thứ 30 ngày nổ ra cuộc Chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam.

Cuộc chiến đã diễn ra ngắn ngủi – chỉ khoảng một tháng – song quá đẫm máu và tàn khốc hàng chục ngàn người đã bị cướp đi mạng sống của họ. Nhiều phụ nữ Việt Nam đã bị hãm hiếp, nhiều phụ nữ và trẻ em đã bị giết hại do bị chém bằng rìu hoặc dao rừng tới chết, và gần như tất cả cơ sở hạ tầng dân sự (nhà máy điện, cầu cống, đường sá,…) trên sáu tỉnh biên giới Việt Nam đã bị phá hủy hoàn toàn.

Trong khi tôi viết ra điều này, chỉ còn ít hôm nữa là tới ngày kỷ niệm lần thứ 30 cuộc chiến đó, thế nhưng không có bài báo nào trên phương tiện truyền thông nhà nước Việt Nam nhắc nhở sự kiện đó. Trong vài năm gần đây, các phương tiện truyền thông nhà nước ở Việt Nam đã và đang duy trì một thái độ nhút nhát hướng tới những đề tài liên hệ tới Trung Quốc thuộc loại đó cũng như là bản thỏa thuận về biên giới có tính chất bí mật vào năm 1999, và những quần đảo hay các mốc biên giới phải san sẻ hoặc bị xâm lấn bởi Trung Quốc.

Nhiều nhà hoạt động và các blogger đã  cố gắng nói về tội ác của Trung Quốc, thì đã và đang bị giam cầm hoặc đe doạ. Rõ ràng là những người lãnh đạo đương thời của Việt Nam không muốn vinh danh kỹ niệm bằng cách tổ chức buổi lễ dành cho một sự kiện như cuộc chiến tranh nầy; họ đang giữ im lặng và cố bắt những người khác phải câm họng đối diện với quyền bá chủ của Trung Quốc.

Những mối nguy hiểm của sự im lặng

Có ba mối nguy hiểm kết quả từ sự im lặng đó.

Trước hết, một mối nguy hiểm đang diễn ra bên trong nước Việt Nam. Một yếu tố quan trọng đã tạo dựng nên tính hợp pháp dành cho sự lãnh đạo đơn độc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong năm thập kỷ qua đã là những nỗ lực của đảng để  bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Bất kể những quan điểm khác nhau có thể có về hai cuộc đấu tranh chính trong thế kỷ 20 tại Việt Nam, một với người Pháp và một với chế độ được người Mỹ yểm trợ, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã nắm quyền lãnh đạo và trở thành kẻ chiến thắng.

Trong lịch sử lâu dài của Việt Nam, niềm hãnh diện của dân tộc nằm trong thái độ không bao giờ cúi mình  trước những kẻ tấn công hay xâm lược, đặc biệt trước kẻ xâm lược phương Bắc truyền thống. Vài nhà lãnh đạo Việt Nam trong lịch sử từng sang nước láng giềng phương Bắc nhờ trợ giúp chống lại những cuộc nổi dậy của quần chúng đã và đang bị phản đối gay gắt.

Vả chăng, chiến lược của ĐCSVN trong việc đấu tranh cho quyền lực là luôn tìm kiếm mọi cơ hội để buộc tội các đối thủ về hành động hợp tác với một kẻ thù nước ngoài. Thế nhưng, mỉa mai thay, giờ đây chính là ĐCSVN họ đã và đang chấp nhận cho nhiều phần đất đai, biển, và hải đảo bị mất vào tay Trung Quốc trong năm chục năm qua (1958-2008).

ĐCSVN cần phải nhận ra rằng một sự phẫn nộ sôi sục đang hiện hữu  giữa những người dân, những người đang ý thức được về những hành động nhượng bộ này.

Một cựu bộ đội đã từng chiến đấu trong cuộc chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam năm 1979 gần đây đã viết trên blog riêng của Osin rằng: “Cái mà chúng ta gọi là một “chiến thắng” đã phải trả cái giá bằng máu chảy đầu rơi … Và 30 năm đã trôi qua kể từ khi chúng tôi thẳng tiến lên biên giới phía bắc với lòng căm thù, thế nhưng những hải đảo vẫn đang bị mất và quốc gia nầy  vẫn phải im lặng.”

ĐCSVN giờ đây đang cố bằng mọi nỗ lực che giấu những nhượng bộ của họ trước kẻ xâm lược phương Bắc. ĐCSVN có lẽ đã thành công trong việc bịt miệng dân chúng tới mức độ nào đó, nhưng theo thời gian, với sự trợ giúp của một mạng internet huyền diệu,  sự thực sẽ đến với mỗi người dân. Và tình trạng yên lặng hiện nay sẽ trở nên nguy hiểm như một nắp vung đậy chặt trên một chiếc nồi nước nóng đang đầy hơi.

Những tham vọng của chế độ Trung Quốc

Mối nguy hiểm thứ hai (của sự im lặng của chính phủ VN) là khích lệ những tham vọng đế quốc của chế độ cai trị ở Trung Quốc.

Trung Quốc có đất đai rộng lớn và có nền văn hóa và lịch sử vĩ đại. Trong quá khứ xa xưa Trung Quốc đã từng là một siêu cường trong nhiều thế kỷ. Bởi thế  một tham vọng lấy lại hình ảnh quá khứ của một siêu cường dành cho một nước Trung Hoa hiện đại là có tính chất tự nhiên và dễ hiểu.

Thế nhưng Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), đảng vẫn nắm quyền lực độc nhất ở Trung Quốc từ năm 1949, đã thực hiện một số đường lối sai lầm và tai hại nhằm đạt cho được tham vọng này.

Trong kỷ nguyên của Mao từ năm 1949 đến 1976, Trung Quốc đã chỉ đạo hàng loạt những chính sách điên rồ như vậy như “Cuộc vận động chống hữu khuynh”(1957), “Bước Đại nhảy vọt” (1958-1960), và “Cách mạng Văn hóa” (1966-1969). Các cuộc vận động này chỉ đem tới chết chóc cho hàng chục triệu người dân và một sự tàn phá khổng lồ cho nền văn hóa cổ và môi trường tự nhiên của Trung Quốc.

Đặng Tiểu Bình trở thành người kế tục Mao vào năm 1978 và đã mở cửa nền kinh tế Trung Quốc và tìm kiếm công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, Trung Quốc hiện vẫn đang chứa đựng trong chính họ những mầm mống của một thảm hoạ âm ỉ, tựa như Nhật Bản trong thời đại Thiên Hoàng  hay nước Đức trong thời kỳ hậu Đệ nhất Thế chiến đã từng đối diện.

Đức và Nhật, đã phát triển những nền kinh tế hùng mạnh bằng cách áp dụng kiến thức và bí quyết khoa học, cả hai nước được lãnh đạo bởi những nhà chính trị độc đoán lao vào một nổ tính đầy thảm khốc giành quyền bá chủ trong cuộc Đệ nhị Thế chiến.

Vì vậy thái độ im lặng hay tuân phục của ĐCSVN trước quyền bá chủ về phía nam của Trung Quốc có hiệu quả khuyến khích  ĐCSTQ để dám  liều lĩnh đi xa hơn nữa trên con đường sai lầm và tai hại.

Gây mất ổn định

Mối nguy hiểm thứ ba là gây mất ổn định cho hòa bình trong khu vực và hòa bình thế giới. Trong lịch sử dài lâu của những thời kỳ sớm sủa hơn, chiến tranh không phải là một hiện tượng hiếm hoi đối với hai quốc gia Việt Nam và người láng giềng phương Bắc. Gần như mỗi một  triều đại ở Trung Quốc đều đã làm ít nhất là một cuộc xâm lược vào người láng giềng Việt Nam ở phương nam của họ.

Thế nhưng các nhà lãnh đạo tiền nhân Việt Nam, cùng với dân chúng, đã từng luôn kiên quyết bảo vệ chủ quyền và danh dự của mình, xuyện qua những nhà lãnh đạo họ đã đi theo một đường lối ngoại giao khéo léo hướng về người láng giềng khổng lồ sau nhiều lần chiến thắng (trên chiến trường). Vì vậy trong nhiều thế kỷ, tinh thần kháng cự của người dân Việt Nam đã làm nên một tấm lá chắn không thể nào khuất phục được đối với các quốc gia Đông-Nam châu Á chống lại cuộc xâm lược của phương Bắc.

Nhưng giờ đây những người lãnh đạo đương thời của Việt Nam, ĐCSVN, đã không chịu đi theo sự khôn ngoan của tổ tiên họ và tấm lá chắn lịch sử mà Việt Nam đã cung cấp cho hòa bình của thế giới và trong khu vực đang bị đập nát.

Một con đường thoát

Vào thời điểm khủng hoảng kinh tế hiện nay, người dân có lẽ ít quan tâm tới những gì khác ngoài chuyện kiếm tiền. Vì vậy, một cuộc chiến tranh ngắn ngủi như cuộc chiến Trung Quốc-Việt Nam nổ ra cách đây 30 năm có thể không còn lôi kéo sự chú ý nữa. Tuy nhiên, tham vọng bá chủ của kẻ tấn công đó vẫn còn hung tợn  và dường như còn mạnh mẽ hơn.

Quan trọng hơn nữa, kẻ tấn công nầy đang cư xử một cách hung hăng không phải chỉ đối với người ngoài mà còn với cả người trong nước, như việc những nhà hoạt động dân chủ trong nước Trung Quốc đã phải đối mặt với hành động đàn áp.

Cùng lúc với nhiều người Trung Quốc ngày nay đang kêu gọi cho dân chủ, nhiều người Việt Nam cũng đã hành động như vậy. Dân chủ đã chứng tỏ là giải pháp tốt nhất để giải quyết bất cứ cuộc tranh chấp hoặc khó khăn bất ổn nào mà không cần phải dùng tới bạo lực và là cơ chế tốt nhất để xây dựng sự hài hòa trong xã hội và sự thịnh vượng của quốc gia trong một nền hoà bình bền vững.

Một bước nhỏ hướng tới việc đem nền dân chủ cho Việt Nam và cho Trung Quốc là hãy nói thẳng ra ý nghĩa của ngày 17 tháng Hai.


Bác sĩ Phạm Hồng Sơn vào đầu năm 2002 đã dịch sang tiếng Việt bài báo “Thế nào là Dân chủ?” đã được đưa lên một trang web của tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam. Bị kết án 13 năm tù, ông đã trải qua 4 năm rưỡi trong nhà giam và đã bị quản thúc tại gia ở Hà Nội kể từ khi được trả tự do vào tháng Tám năm 2006. Tác giả của nhiều bài tiểu luận trên mạng tập trung vào những chủ đề đáng quan tâm của đất nước về chính trị và xã hội, năm 2003 và 2008 ông là một trong những người thắng giải   của tổ chức Giám sát Nhân quyền Human Rights Watch Hellmann/Hammet, đã được trao tặng giải thưởng dành cho những nhà văn đang chịu đựng những hành động đàn áp về chính trị.


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


————————————————————————————————

The Epoch Times

———–

Why Vietnam Must Remember February 17

Danger lies in forgetting a cruel war

By Pham Hông Son

Feb 15, 2009

HANOI—February 17 marks the 30th anniversary day of the outbreak of the Sino -Vietnamese War. It was short—just about a month—but so bloody and cruel that tens of thousands of people lost their lives. Many Vietnamese women were raped, many women and children were killed by being hacked to death with axes or forest knives, and nearly all the civilian infrastructure in six border provinces of Vietnam was completely destroyed.

As I write this, only a few days remain before this 30th anniversary of this war, but no articles in Vietnam’s official media recall this event. In several recent years, official media in Vietnam have maintained a timid behavior towards such China-related issues as the secret border agreement in 1999, and islands or landmarks shared or occupied by China.

Many activists and bloggers who tried to speak out about China’s evil have been imprisoned or intimidated. It is clear that the incumbent leaders of Vietnam do not want to commemorate such an event as this war; they are keeping silent and attempting to silence others in the face of China’s hegemony.

The Dangers of Silence

Three dangers result from that silence.

First, a danger occurs inside Vietnam. An essential factor that made up the legitimacy for Communist Party of Vietnam’s sole leadership in the last five decades has been its efforts to defend national sovereignty.

Whatever the different opinions may be about the two major struggles in the twentieth century in Vietnam, one with the French and the other with the American-backed regime, the Communist Party of Vietnam (CPV) took the lead and became the winner.

In the long history of Vietnam, the nation’s pride lay in never bending before the attacker or invader, especially before the traditional Northern invader. A few Vietnamese leaders in history who went to the Northern neighbor for help against popular uprisings have been condemned severely.

Moreover, the CPV’s strategy in struggling for power was always to find every opportunity to accuse opponents of co-operating with a foreign enemy. But, ironically, now it is the CPV who has allowed many of Vietnam’s lands, seas, and islands to be lost into China’s hand over the last five decades.

The CPV must have observed that a simmering indignation exists among people who are aware of these concessions. A veteran soldier who fought in the Sino-Vietnamese war in 1979 recently wrote in the private blog Osin: “What we call a ‘victory’ had to be paid for with blood and human heads. … And 30 years have passed since we advanced furiously straight to the northern border, but islands are still lost and the country is still silent.”

The CPV is now trying every effort to hide their concessions to the Northern invader. The CPV may succeed in silencing people to some extent, but over time, with the support of a sophisticated Internet, the truth will come to every person. And the current silence will become as dangerous as a tight lid on a hot steaming pot.

Ambitions of the Chinese Regime

The second danger is to encourage the Chinese regime’s imperial ambitions. China is vast in geography and great in culture and history. In the far past China was for centuries a superpower. So an ambition to bring back the past image of a superpower for a contemporary China is understandable and natural.

But the Chinese Communist Party (CCP), which has held sole rule over China since 1949, took several wrong and disastrous ways to achieve this ambition. In the Mao era from 1949-1976, China conducted a series of such paranoid policies as the “Anti-rightist campaign”(1957), the “Great Leap Forward” (1958-1960), and the “Cultural Revolution” (1966-1969). These campaigns only brought the death of tens of millions of people and a huge devastation of China’s ancient culture and natural environment.

Deng Xiaoping became Mao’s successor in 1978 and opened up China’s economy and sought modern technology. However, China contains within itself the seeds of an insidious disaster, such as Japan in the Meiji era or Germany in the post-WWI period encountered. Germany and Japan, which developed powerful economies by applying scientific knowledge and know-how, were both led by authoritarian politics into a catastrophic attempt at hegemony –World War II.

So the silent or compliant behavior of the CPV before China’s hegemony southward has the effect of urging the CCP to venture further on a wrong and disastrous path.

Destabilizing

The third danger is to destabilize the regional and world peace. In the long history of earlier times, war was not a rare phenomenon for the two countries Vietnam and its Northern neighbor. Nearly every dynasty in China carried out at least one invasion into its southern neighbor Vietnam.

But Vietnam’s leaders, together with their people, were always determined to defend its sovereignty and its honor, though the leaders had to conduct a skillful diplomacy toward their giant neighbor after any victories. So for several centuries, the Vietnamese people’s resistant spirit made an indomitable shield for South-East Asia nations against Northern invasion. But now Vietnam’s contemporary leaders, the CPV, have failed to follow their ancestors’ wisdom and the shield Vietnam historically provided for regional and even world peace is being broken up.

A Way Out

In a time of economic crisis, people may neglect to care about anything other than making money. Thus, a brief war like the Sino-Vietnamese war that broke out 30 years ago may no longer draw much attention. However, the attacker ’s desire for hegemony remains fierce and appears stronger.

More importantly, the attacker behaves aggressively not just toward the outsider but toward the insider, as democracy activists inside China face suppression. Just as many Chinese are today calling for democracy, so are many Vietnamese. Democracy has proven to be the best solution to settle any dispute or trouble without violence and is the best mechanism to build social harmony and national prosperity in a durable peace.

One small step toward bringing democracy to Vietnam and to China is to speak out about the meaning of February 17.

Dr. Pham Hông Son in early 2002 translated into Vietnamese the article “What is Democracy?” that was posted on a website of the U.S. embassy in Vietnam. Sentenced to 13 years in prison, he spent 4.5 years in prison and has been under house arrest in Hanoi since his release in August 2006. Author of many on-line essays focusing on political and social subjects of national interest, in 2003 and 2008 he was one of the winners of Human Rights Watch Hellmann/Hammet grants, awarded to writers suffering political persecution.

Posted in Biển Đông/TS-HS, TQ xâm lược '79, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

69:VN-TQ Căng Thẳng Kinh tế

Posted by adminbasam on 16/02/2009

Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!


The Star

————————————————————————————————————

Trung Quốc và Việt Nam


đối mặt với những căng


thẳng khi ký ức chiến


tranh mờ dần


John Ruwitch

Chủ nhật, ngày 15-2-2009


LẠNG SƠN, Việt Nam (Reuters) – Những tấm bia lớn màu đen dựng tại nghĩa trang Lạng Sơn liệt kê hàng trăm bộ đội Việt Nam tử trận. Bên cạnh một vài cái tên là dòng chữ “chống Pháp” hay “chống Mỹ” – chỉ rõ họ đã hy sinh như thế nào.

(Tuy vậy), hầu hết trong số bia mộ đó thì được ghi là “Bảo vệ tổ quốc”, một lối ám chỉ gián tiếp nhắm vào cuộc chiến tranh kéo dài một tháng đã bắt đầu khi Trung Quốc xâm lược Việt Nam vào ngày 17-2-1979 nhằm trừng phạt Hà Nội vì đã lật đổ Khmer Đỏ được Bắc Kinh hậu thuẫn tại Cambodia trước đó hai tháng.

Ba mươi năm đã trôi qua, cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam-Trung Quốc mà trong đó ít nhất có 60.000 bộ đội đã tử trận hiện là một ký ức mà cả hai chính phủ sung sướng che đậy hay ngăn cấm tiết lộ. Thế nhưng trong những thời buổi kinh tế đang gặp khó khăn này, Việt Nam và Trung Quốc có thể phải đối mặt với những căng thẳng mới cọng thêm vào lịch sử lâu dài và thường cay đắng của họ.

Kể từ khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 1991, Trung Quốc và Việt Nam đã và đang đạt được sự tiến bộ đầy ấn tượng trong việc cố gắng thành lập những mối quan hệ tốt đẹp hơn, theo nhận xét của Brantly Womack, một chuyên gia về Trung Quốc-Việt Nam của trường Đại học Virginia.

Thí dụ việc thương mại hai chiều vào năm 2008 đã tăng lên 21 tỉ đô la.

“Trung Quốc và Việt Nam đã không có nhiều lý do hơn để mà thân thiện so với quan hệ Nga và Ba Lan, và Nga và Ba Lan … vẫn là những kẻ thù tồi tệ nhất của nhau,” ông nói.

“Với Việt Nam và Trung Quốc, nói một cách chính xác thì họ không ưa thích gì nhau, song họ chắc chắn là đã nhận ra làm sao sống hòa thuận với nhau. Đó là mối lợi cho cả hai bên.”

Thực tế về những gì được ghi dấu ở Lạng Sơn không giải thích rõ ràng rằng những người lính đã chết “vì chiến đấu với Trung Quốc” đã minh hoạ cho cách tiếp cận thận trọng của Hà Nội hướng tới Bắc Kinh.

Về phần họ, ban lãnh đạo Trung Quốc bị ám ảnh về tính ổn định đã thực hiện một nỗ lực có kế hoạch trong những năm gần đây để xây đắp những mối quan hệ có tính xây dựng. Thế nhưng, những tháng sắp tới sẽ là những thử thách.

Cả hai nền kinh tế sống nhờ xuất khẩu, lệ thuộc vào tốc độ tăng trưởng cao, đang phải đối mặt với cuộc sát hạch nghiêm khắc nhất của họ kể từ những cải cách kinh tế được phát động cách đây vài chục năm và nền tài chính toàn cầu không có gì chắc chắn đã kích động thêm khả năng căng thẳng gia tăng.

Thậm chí trong những thời kỳ thuận lợi, các nỗ lực của những nhà hoạch định chính sách của Việt Nam và Trung Quốc cũng vẫn có những hạn chế. Cả hai chính phủ đều khẳng định quyền sở hữu của các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trên Biển Đông, nơi nầy được nghĩ là chứa đựng trữ lượng dầu lửa và khí gas có giá trị lớn.

Nội và Bắc Kinh đã và đang thỏa thuận không phá vỡ tình trạng ngay hiện nay, song cả hai bên vẫn cứng rắn trong những lời tuyên bố chủ quyền của họ.

Ngoài ra, hai đảng Cộng sản cầm quyền đang bị bối rối bởi ám ảnh không vui về tình trạng náo động dân tộc chủ nghĩa nếu như họ tỏ ra mềm mỏng trong vấn đề này. Năm 2007, hàng trăm thanh niên Việt Nam đã biểu tình trước tòa đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội sau khi có tin Trung Quốc đã thiết lập chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý các quần đảo đang tranh chấp này.

NHỮNG QUẦN ĐẢO ĐANG TRANH CHẤP

Vượt ra ngoài những hành động phản kháng và những lối nói khoa trương, cuộc tranh cãi về lãnh thổ là một mối nguy cơ chính trị hữu hình.

Tháng Bảy năm 2008, Trung Quốc đã gây sức ép làm cho tập đoàn Exxon Mobil Corp (củ Mỹ) phải rút lui khỏi một thỏa thuận thăm dò dầu khí với Việt Nam mà Trung Quốc coi như là một hành động xâm phạm chủ quyền của họ.

Vào tháng Năm 2008, hãng BP Plc (của Anh) đã ngưng các kế hoạch thực hiện công tác thăm dò ngoài khơi phía nam Việt Nam, viện dẫn tới những mối căng thẳng về chủ quyền lãnh thổ.

“Vấn nạn lớn nhất là về các quần đảo,” theo lời ông Dương Danh Dy, nguyên là một nhà ngoại giao Việt Nam từng có ba chuyến đi sứ tới Trung Quốc từ những năm 1960 đến 1990.

Nếu vị thế toàn cầu của Hoa Kỳ bị mất đi, nếu nền kinh tế của Nhật Bản suy yếu đi hơn nữa, tôi lo ngại là thái độ của Trung Quốc trên Biển Đông có thể cứng rắn hơn,” ông nhận định. “Nếu mọi sự tiếp tục như nó đang diễn ra hiện nay, thì các mối quan hệ song phương sẽ tốt đẹp.

Mối lo ngại khác trong năm nay, đặc biệt đối với Hà Nội, là vấn đề thương mại.

Việt Nam đang từ một mức độ thặng dư mậu dịch với Trung Quốc năm 1997 là 70 triệu đô la đã rơi vào tình trạng thâm hụt mậu dịch với nước này là 9,1 tỉ đô vào năm 2007, theo các thống kê của Việt Nam. Thương mai hai chiều đã đạt 15,9 tỉ đô la năm 2007 trước khi nhảy lên mức 21 tỉ đô la vào năm 2008.

“Có một vấn đề to lớn bởi vì những gì mà Việt Nam đã và đang làm trong vài năm qua là họ đang chạy đua để có một mức thặng dư thương mại tương đối với các quốc gia đã phát triển để cân bằng lại với mức thâm hụt mà Hà Nội đã và đang chạy đua với Trung Quốc,” ông Womack nói.

“Và hiện nay thì Hà Nội sẽ không chạy đua để đạt được mức thặng dư đó được nữa.”

Thêm vào đó, trong khi các thị trường xuất khẩu của Trung Quốc đã biến mất nhanh chóng, những nhà sản xuất của nước này đang trong tình trạng tuyệt vọng sẽ tìm kiếm thị trường và Việt Nam có thể là một lựa chọn hấp dẫn cho họ khi so sánh với nhiều nước láng giềng khác của Trung Quốc.

Ông Nguyễn Quốc Hải, một viên chức phụ trách thương mại của Lạng Sơn cho biết chính phủ Việt Nam đã muốn tăng cường xuất khẩu hơn là cố gắng ngăn chặn hàng hóa của Trung Quốc đang tràn ngập vào.

Thế nhưng tại thị trấn biên giới Tân Thanh của Việt Nam, ba nhà buôn Trung Quốc tại một phiên chợ, đang đổ vào với những nồi cơm điện chế tạo ở TQ, các đầu máy chiếu phim DVD và quần áo sản xuất tại Trung Quốc, đã nói rằng tình hình đã trở nên khó khăn hơn khi đem các đồ dùng này qua cửa khẩu.

Tuy nhiên, những chiếc xe tải của Việt Nam trống rỗng vẫn xếp hàng đợi qua cửa khẩu để lấy hàng Trung Quốc về.

“Buôn bán qua biên giới rõ ràng đang tăng lên,” một thương gia nhận xét.


(Bổ sung thêm cho bài báo này là Nguyễn Nhật Lâm từ Hà Nội và Ben Blanchard từ Bắc Kinh)


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


——————————————————————————————

The Star

————

Sunday February 15, 2009

China and Vietnam face strains as war memory

fades

By John Ruwitch

LANG SON, Vietnam (Reuters) – The tall black tablets at the Lang Son cemetery list hundreds of dead Vietnamese soldiers. Next to some names are the words “chong Phap” or “chong My” — “fighting France” or “fighting America” — indicating how they died.

Most read “Bao ve to quoc”, or “protecting the fatherland”, an oblique reference to a month-long war that began when China invaded Vietnam on Feb. 17, 1979 to punish Hanoi for toppling the Beijing-backed Khmer Rouge in Cambodia two months earlier.

Thirty years on, the Vietnamese-Chinese border war in which at least 60,000 soldiers were killed is a memory both governments are happy to suppress. But in these tough economic times, Vietnam and China could face new strains to add to their long and often acrimonious history.

Since normalisation in 1991, China and Vietnam have made impressive progress in forging better ties, said Brantly Womack, a China-Vietnam expert at the University of Virginia.

Two-way trade last year grew to $21 billion, for instance.

“China and Vietnam had no more reason to be friendly than Russia and Poland, and Russia and Poland … are still each others’ worst enemy,” he said.

“With Vietnam and China, they don’t exactly love each other, but they’ve certainly figure d out how to get along. It’s been mutually beneficial.”

The fact the engravings in Lang Son do not spell out that the soldiers died “fighting China” illustrates Hanoi’s cautious approach toward Beijing.

For its part, the stability-obsessed Chinese leadership has made a concerted effort in recent years to build constructive ties. But the coming months will be challenging.

Both export-fed economies, dependent on high-speed growth, are facing their sternest test since economic reforms were launched decades ago and the global financial uncertainty raises the potential for heightened tension.

Even in good times, the efforts of Vietnamese and Chinese policymakers to be nice has limits. Both governments claim ownership of the Spratly and Paracel islands in the South China Sea, which are thought to sit on valuable oil and gas deposits.

Hanoi and Beijing have agreed not to upset the status quo, but both are firm in their claims of sovereignty.

In addition, both ruling Communist parties are constrained by the spectre of nationalist unrest if they appear soft on the issue. In 2007, hundreds of Vietnamese youth protested at the Chinese embassy in Hanoi after China reportedly set up a county government responsible for the disputed archipelagos.

DISPUTED ISLANDS

Beyond protests and rhetoric, the territorial dispute is a tangible political risk.

Last July, China pressured Exxon Mobil Corp to pull out of an oil exploration deal with Vietnam that it saw as a breach of Chinese sovereignty. In May, BP Plc halted plans to conduct exploration work off the southern Vietnamese coast, citing territorial tensions.

“The biggest problem is the islands,” said Duong Danh Dy, a former Vietnamese diplomat who did three tours in China from the 1960s to the 1990s.

“If the United States’ global position falls, if Japan’s economy weakens further, I fear that China’s position on the South China Sea could harden,” he said. “If things continue as they are now, then bilateral relations will be fine.”

Another worry this year, particularly for Hanoi, is trade.

Vietnam went from a $70 million trade surplus with China in 1997 to a deficit of $9.1 billion in 2007, according to Vietnamese statistics. Two-way trade reached $15.9 billion in 2007 before leaping to $21 billion last year.

“There is a big problem because what Vietnam’s been doing in the last couple of years is running approximately a surplus with the developed countries that equals the deficit it’s been run ning with China,” said Womack.

“And it’s not going to run that surplus anymore.”

Furthermore, as China’s export markets evaporate, desperate manufacturers will be looking for markets and Vietnam may be an attractive option compared with many of China’s other neighbours.

Lang Son trade official Nguyen Quoc Hai said the Vietnamese government wanted to increase exports rather than try to block Chinese goods from flooding in.

But at the Vietnamese border town of Tan Thanh, three Chinese traders in a market overflowing with Chinese-made rice cookers, DVD players and clothes said it had become harder to get items through the checkpoint.

Still, empty Vietnamese trucks queue to cross over and pick up Chinese goods.

“Border trade is definitely increasing,” one trader said.

(Additional reporting by Nguyen Nhat Lam in Hanoi and Ben Blanchard in Beijing)

Copyright © 2008 Reuters

Posted in Kinh tế Việt Nam, Quan hệ quốc tế, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Tagged: | Leave a Comment »

65:Chiến Tranh biên giới Việt-Trung 1979(1)

Posted by adminbasam on 11/02/2009


Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!


TIME

————————————————————————————————————

Một cuộc chiến

của những người

anh em họ hàng

cáu   giận  nhau

Thứ Hai, ngày 2-3-1979


Đồng Đăng. Lạng Sơn. Những địa danh Việt Nam nghe êm ái mà du dương, gợi lại lịch sử, đẫm máu và chết chóc.

Tại thành phố Đồng Đăng có nhà ga đầu mối, một chiếc cổng màu vàng cao 10 mét đánh dấu cuộc xâm lăng của Nhật Bản vào Đông Dương năm 1940, gợi lại lời tuyên hứa không biết có chính xác hay không của Tổng thống Franklin Roosevelt rằng “chúng ta sẽ không tham chiến về chuyện Đinh Đông chết tiệt nào hết.” [1] Tại Lạng Sơn, một thị trấn đông đúc cách 15 km về phía đông bắc, một ngọn núi hình mào gà mà những đội quân thực dân đặt tên là “bộ ngực của nữ nam tước” trông xuống những tàn tích của một pháo đài bị phá huỷ thậm chí trước khi nổ ra cuộc chiến đấu của Việt Minh chống lại người Pháp.

Tuần trước Đồng Đăng và Lạng Sơn đã trở thành những vùng chiến địa khổ đau một lần nữa. Trong một cuộc chiến leo thang giữa hai nước láng giềng Cộng sản đầy giận dữ, họ đã và đang đối nghịch nhau suốt 2.000 năm qua, ba sư đoàn Trung Quốc xâm lược đã tràn xuống Đồng Đăng và vùng đồng bằng ven biển phía đông Việt Nam theo thế một gọng kìm khổng lồ nhắm vào Lạng Sơn.

Các tiểu đoàn quân chính quy Việt Nam kéo theo những vũ khí hạng nặng vội vã lên hướng bắc để gặp gỡ đối đầu với các toán quân Trung Quốc và thúc đẩy một cuộc chạm trán có thể là trận chiến chính thức đầu tiên trong cuộc chiến tranh kéo dài một tuần.

Được chuẩn bị từ trước, Trung Quốc đã ném ba sư đoàn chống lại các lực lượng phòng thủ tiền phương của Việt Nam. Vào cuối tuần, các lực lượng của Việt Nam đã mở một cuộc phản công tại ba tỉnh biên giới.

Trong khi đó các tàu vận tải của Liên Xô tại Hải Phòng đang bốc dỡ xuống các hàng hóa tái cung cấp các loại vũ khí hạng nặng hiện đại, bao gồm những tên lửa và thiết bị rada. Hệ thống do thám của Liên Xô đã tiếp tục xem xét những trận địa tiền phương với các chuyến bay ở những tầm cao so với mặt biển trên Vịnh Bắc Bộ. Một đội tàu nhỏ gồm 13 chiếc đã thực hiện tuần tra trên Biển Đông, chờ đợi sự góp mặt của tàu chỉ huy của Hạm đội Thái Bình Dương Sô Viết, tàu nầy mang tên đô đốc Senyavin có trọng tải 16.000 tấn.

Tại Moscow, Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô Dmitri Ustinov công kích dồn dập “hành động khiêu khích nguy hiểm” của Trung Quốc và buộc tội Bắc Kinh đang cố “nhấn chìm thế giới vào một cuộc chiến tranh.” Hội đồng Bảo An Liên hiệp quốc đã chuẩn bị tổ chức một cuộc họp khẩn cấp, theo lời đề nghị của Washington, để đối phó với hành động xâm lăng của Trung Quốc cũng như việc xâm chiếm Cambodia của Việt Nam trước đó.

Cuộc đột kích của Trung Quốc vào Việt Nam đã được mong đợi và quãng cáo rất rõ ràng. Những căng thẳng trước đó đã tích tụ lại kể từ khi có hành động cưỡng bức trục xuất của Hà Nội đối với nhóm người Hoa thiểu số tại Việt Nam vào mùa xuân năm 1978, và một cuộc chiến thắng nhanh chóng của VN (đánh vào) chế độ thân Bắc Kinh ở Cam Bốt vào tháng Giêng 1979, một loạt những biến cố ngày càng tăng trên vùng biên giới Việt-Trung. Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình đã gửi điện tín nhiều lần và công khai nói về cú đấm trừng phạt trong suốt thời gian diễn ra chuyến viếng thăm của ông tới Hoa Kỳ, xỉ vả những tham vọng “bá quyền” của “con gấu bắc cực” Liên Xô và chống lại “hành động xâm lược” của Việt Nam tại Đông nam Á. Hà Nội “phải được dạy cho một bài học cần thiết,” ông cảnh báo. Tại Tokyo trên đường về nước của mình, ông Đặng một lần nữa đã nói rõ về “hành động trừng phạt” chống lại “những tên Cuba ở phương Đông.”

Nhận ra được những lời tuyên bố công khai có giá trị thật đó của Bắc Kinh, các chuyên gia tình báo phương Tây đã tiên đoán rằng cuộc tấn công của Trung Quốc sẽ có tính chất giới hạn trong một “bài học trừng phạt,” và một khi sự trừng phạt đã được đưa ra từng phần theo kế hoạch, các đơn vị chiến đấu của TQ sẽ rút lui. Thế nhưng tại các thủ đô trên khắp thế giới đã có những sự run sợ ám chỉ toàn cầu đang bị hăm dọa nếu như cuộc chiến tranh nầy không được kiểm soát trong giới hạn và nhanh chóng chấm dứt, nếu như cuộc chiến nầy khiêu khích sự can thiệp trực tiếp hoặc hành động trả đũa của Liên Xô với tư cách khách hàng Việt Nam của họ. Đã từng có thời hoàng kim cho những nhà chuyên môn về báo động: “Tôi đánh cuộc rằng nó sẽ không xảy ra – nhưng chúng ta đang ở rất gần trong một hiểm họa về một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba. Chiến tranh thế giới lần III có thể bắt đầu vào thời điểm này,” Thượng nghị sĩ New York Daniel Moynihan đã cảnh cáo. Các cố vấn của chính phủ và các chiến lược gia quân sự thì ít lo ngại hơn, song không một ai sẵn sàng phủ nhận rằng cuộc chiến mới nhất của thế giới đã chứa đựng tiềm năng rộng lớn hơn nhiều, và thậm chí những dấu hiệu rõ ràng của sự bùng nổ không thể kiểm soát được,.

Cuộc giao tranh, diễn ra trên những ngọn đồi cây cối rậm rạp và những thung lũng nhiều ruộng nương của một vùng có thắng cảnh đẹp được gọi là Việt Bắc, vùng nầy đã che dấu đàng sau các bí mật quân sự của cả hai bên và bởi một đám mây che phủ ngăn trở việc quan sát của vệ tinh. Nội đã đưa ra những thông báo chỉ dùng trong nội bộ như thường lệ; các thông cáo của Bắc Kinh thì ý nghĩa rất huyền bí, thiếu rõ ràng đến độ có vẻ như vô nghĩa. Một nhà quan sát ở Hong Kong phát biểu: “Cứ như thể đang nghe một cặp mèo gào thét và la khóc với nhau giữa đêm khuya – chúng đang tạo ra những âm thanh ồn ào quái quỉ, thế nhưng bạn không thể biết là chúng đang đánh nhau hay là làm tình đâu.” Tuy vậy, từ lúc bắt đầu những hành động chiến tranh, tất cả đều rất rõ ràng rằng các đơn vị ở tuyến đầu thuộc về 3 phần trăm của lực lượng bộ binh có hàng triệu người nầy [1] và các đơn vị thuộc lực lượng 615.000 quân, ít ỏi hơn, nhưng dạn dày hơn của Việt Nam đã không ôm ấp nhau gì cả.

Vào rạng sáng thứ Bảy, ngày 17 tháng Hai 1979, các lực lượng người Trung Quốc, tập trung hơn 300.000 tại các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây, phía cực bắc của Việt Nam, đã bắn một loạt đại pháo dày dặt vào các vị trí then chốt ở vùng biên giới (trước khi dùng bộ binh tấn công). Cú đánh mạnh mẽ nhất là vào những nơi tập trung nhiều người thường dân Việt Nam quanh các thị xã thị trấn như Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái. Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, chưa từng được thử thách trong cuộc chiến tranh dàn trận với đội hình lớn kể từ khi họ vượt qua sông Áp Lục vào tháng Mười năm 1950 để gây bất ngờ và đánh tan tác các đơn vị quân đội của Liên hiệp quốc tại Triều Tiên, đã dội bão lửa qua biên giới vào 26 điểm khác nhau [trên lãnh thổ Việt Nam].

Hành động tuyên chiến đã đến trong một thông cáo rõ ràng là không thành thật của Bắc Kinh rằng các đơn vị quân đội của họ đã tham dự vào một cuộc “phản công” chống lại các hành động khiêu khích của Việt Nam. “Các lực lượng quân đội ở biên giới Trung Quốc đã hành động khi tình thế trở nên không thể nào chịu đựng nổi nữa và không còn giải pháp thay thế nào khác,” hãng thông tấn nhà nước Tân hoa xã loan báo. “Chúng tôi không muốn một tất đất đai nào của Việt Nam. Điều mà chúng tôi mong muốn là một vùng biên giới ổn định và hòa bình. Sau khi đánh trả những kẻ gây hấn lùi xa tới mức cần thiết, các lực lượng biên phòng của chúng tôi sẽ trở lại canh giữ chặt chẻ các vùng biên giới của tổ quốc chúng tôi.”

Vào 9 giờ sáng ngày thứ Bảy, đạn súng cối đã rơi xuống gần Lạng Sơn, theo một thông tín viên hãng thông tấn Pháp AFP tại hiện trường cho hay. Ở phía bắc, đạn trọng pháo có thể nghe được cách khoảng nhau từ 10 tới 30 giây một loạt. “Các toán lính Trung Quốc đã phát động một cuộc tấn công đều khắp, tất cả các cứ điểm biên giới đều bị dội những loạt đạn trọng pháo nặng nề,” một viên chức cấp tỉnh của Việt Nam thông báo. “Các trận đánh đẫm máu đang diễn ra, số người thương vong chắc chắn là nặng nề.” Theo lời kể của một thương binh Việt Nam 18 tuổi tên là Trần Văn Miên, anh lảo đảo chạy vào thị trấn và ngã xuống con đường: “Bọn Trung Quốc đang ở gần đây, chúng nó có mặt ở khắp nơi.”

Sau khi rải thảm một đợt hỏa lực đại pháo để làm yếu đi lực lượng phòng thủ của Việt Nam, một đoàn quân Trung Quốc ượng ước khoảng 60.000 người đã tiến lên mạnh mẻ dọc theo vùng biên giới núi non hiểm trở rộng 772 km. Bộ binh, được sự yểm trợ của các xe tăng T-59, đã lao qua những con đường đồi núi chật hẹp gồ ghề, đánh tràn vào và chiếm các tiền đồn của Việt Nam và mở rộng ra (như hình cái quạt) một cuộc tiến- quân- có-phối- hợp tiến sâu vào khoảng 10 km. Theo sự tự thừa nhận của Hà Nội, người Trung Quốc sau hai ngày đã chiếm được mười một thị trấn và làng bản và đã bao vây Đồng Đăng bằng xe tăng và các súng được gắn trên xe.

Thế rồi họ dường như dừng lại.

Tại Bắc Kinh, ông Đặng đã quả quyết với một nhà ngoại giao Argentine đang viếng thăm rằng cuộc xâm lấn đã được “xem xét rất thận trọng” và “sẽ không được kéo dài hoặc mở rộng trong bất cứ tình huống nào.” Phát biểu đó có vẻ như xác nhận lại sự phiên dịch của phương Tây từ ban đầu về mục tiêu khả thi của Trung Quốc là: một cuộc di chuyển (quân) rất nhanh, tấn công đánh rồi chạy, và tiếp đó là rút (quân) về. Thế nhưng người Trung Quốc vẫn chưa sẵn sàng để rút lui. Tại thời điểm nầy những toán quân phản ứng nhanh của Trung Quốc, được chỉ huy bởi Tướng Yang Teh-chih, phó tư lệnh chiến trường của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Triều Tiên 1953, đã không trực tiếp đánh nhau với lực lượng chính quy tinh nhuệ của Việt Nam – từng được thử sức trận mạc bằng những chiến dịch liên tiếp chiến thắng tại Nam Việt Nam, Lào và Cambodia và được trang bị bằng những vũ khí tối tân mới nhất của Liên Xô.

Được cảnh báo trước, người Việt Nam đã để cho các lực lượng biên phòng khu vực và dân quân địa phương làm mũi nhọn chính trong các cuộc tấn công ban đầu. Theo ước tính có từ ba cho tới năm sư đoàn chính quy VN (ít nhất là 30.000 quân) đã được giữ lại phía sau. Các đơn vị này rõ ràng được dàn trận trong một tuyến phòng thủ hình trăng lưỡi liềm trải dài từ Yên Bái cho tới Sông Hồng tại phía tây Quảng Yên thuộc bờ biển phía đông. Nhiệm vụ của họ là: bảo vệ vùng đồng bằng ven biển bao quanh Hà Nội và Hải Phòng, và chờ đợi người Trung Quốc xuất hiện.

Vào hôm thứ Ba (20-2-1979), ngày thứ tư của cuộc chiến, cuộc tiến quân của quân đội Trung Quốc đã tiếp tục trở lại bằng một cách hung bạo hơn. Một mặt trận tiền phương dường như không có hình dáng rõ rệt đã nhanh chóng phát triển thành hai gọng kềm tấn công chính và rất bài bản: một nằm ở phía tây bắc trên con đường xe lửa hướng về phía nam tới Hà Nội, một gọng kềm khác nằm ở phía đông trên mối nối của tuyến đường sắt chính song song với Quốc lộ 1, con đường huyết mạch xuất phát từ Hữu nghị Quan. Cả hai mũi tấn công bằng lực lượng bộ binh nầy xem ra đều nhắm trực tiếp vào thủ đô của Việt Nam. Cùng lúc ấy, một lực lượng quân trừ bị của Trung Quốc, gồm các đơn vị tấn công chính (trong chiến thuật gọng kềm) của hơn ba sư đoàn theo ước tính, đã lục soát hướng về vùng bờ biển cho một cuộc rút lui có thể xảy ra được nhắm vào việc chia cắt Quốc lộ 4 tới Lạng Sơn và sau đó, chắc có lẻ, cả quân tăng viện chính của Việt nam và tuyến đường tiếp tế của Quốc lộ 1, nơi mà mấy năm trước đã nhận được biệt danh đau buồn là “đường phố không có niềm vui.”

Tại phía tây, khi mà phần chính yếu trong cuộc tấn công của Trung Quốc đã được nhân lên gấp đôi về mức độ xâm nhập tới 16 hoặc 24 km, bộ binh QGPND Trung Quốc đã chiếm được Lào Cai, một thị trấn có 100.000 người có nhà ga chính nằm bên Sông Hồng. Để chống lại mối đe doạ này đối với Hà Nội, quân đội Việt Nam đã tiến đến sát phía bắc để giao tranh với quân Trung Quốc tại Lạng Sơn và Đồng Đăng.

“Vài ngàn quân bao gồm cả các đơn vị chính quy và địa phương của Việt Nam với vũ khí hạng nặng đang di chuyển về phía các vị trí của quân Trung Quốc,” một thông tín viên của tờ Asahi Shimbun ở Tokyo đã tường thuật từ Lạng Sơn. Ông đã miêu tả những đoàn xe tải Việt Nam với những khẩu súng 105 mm tiến lên phía bắc trên Quốc lộ 1; những chiếc xe khác chở theo các toán quân, vũ khí, quân trang quân dụng và xăng dầu lên hướng lên vùng biên giới. Trong khi đó, dưới hỏa lực trọng pháo tầm xa 130mm, nhiều đoàn người lánh nạn chạy về phía nam, bỏ lại thị xã Lạng Sơn cho những toán quân, lực lượng an ninh và viên chức nhà nước tràn ngập quanh các khu vực đóng quân.

Hà Nội đã om sòm rằng lực lượng phòng thủ của Việt Nam ở Lạng Sơn đã gây thương vong cho hơn 3.000 quân Trung Quốc, và rằng chỉ trong một trận chiến bên bờ biển cách 80 km về phía đông nam, các lực lượng Việt Nam “đã đánh bại 3 tiểu đoàn và quét sạch 700 kẻ xâm lược Trung Quốc.” Tổng cộng, theo phía Việt Nam loan báo, lực lượng của họ đã tiêu diệt từ 5.000 đến 8.000 quân Trung Quốc trong năm ngày, trong khi họ chỉ tổn thất chưa tới một nửa số đó. Những tuyên bố thiên vị một chiều đó làm ta nhớ lại “những vụ đếm xác” kẻ thù được thổi phồng một cách trơn tru mỗi ngày qua các bản tin tóm tắt của Hoa kỳ trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Các nguồn tin phương Tây tại Bắc Kinh đánh giá rằng phía Việt Nam đã phải chịu đựng tổn thất nhiều nhất trong cuộc giao tranh ban đầu: 10.000 người chết hoặc bị thương, so với 2.000 tới 3.000 thương vong của Trung Quốc.

Người Việt Nam rõ ràng giỏi hơn Bắc Kinh trong chiến thuật chiến tranh tuyên truyền nếu không phải là trên chiến trường. Họ đã đưa ra những lời tố cáo hiểm độc về lối đối xử của người Trung Quốc, bao gồm những hành động tàn ác man rợ có tính cáo buộc và chiến tranh sinh học. Đài Hà Nội khẳng định rằng các chiến đấu cơ Trung Quốc đã bỏ bom vào những xí nghiệp, các nhà máy điện và các trung tâm liên lạc viễn thông (điện thoại), gây ra những tổn hại “ghê gớm” và thương vong cho dân thường, và rằng pháo binh Trung Quốc đã nã “đạn hóa học” vào các mục tiêu ở biên giới. Ủng hộ cho đồng minh của mình, Liên Xô đã cáo buộc các lực lượng quân sự Trung Quốc về hành động đốt cháy bừa bãi các làng mạc và bắn vào các phụ nữ và trẻ em. Tờ Pravda, trong một bản tin phát đi từ Lạng Sơn, đã khẳng địng rằng một đơn vị Trung Quốc đã chặn một chiếc xe buýt chở dân thường trên một tuyến quốc lộ và hành quyết tất cả các hành khách đi trên xe.

Nội cũng khẳng định rằng họ có bằng chứng vững chắc về kế hoạch từ lâu của Bắc Kinh cho cuộc xâm lăng này. Những nhà báo trú đóng tại thủ đô Hà Nội, được hướng dẫn qua một chuyến đi tới vùng biên giới, đã được trưng ra những cuốn sách có những câu được in bằng tiếng Việt tìm thấy trong xác của các binh lính Trung Quốc tử trận. Trong những vật dụng khác, có những tập sách nhỏ tám trang, chứa đựng những chỉ dẫn cho các tù binh Việt Nam (“Bạn sẽ được đưa tới nơi an toàn và được phép nghỉ ngơi … Đừng lo lắng. Vết thương của bạn sẽ được chữa trị ngay.”)

Ngòi nổ trong mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam trước đó đã nói ra bằng lời giận dữ trong gần một năm nay. Vào mùa xuân năm ngoái, tập trung vào chuyện củng cố cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa làm cho con người thanh khiết hơn, các giới chức Việt Nam đã quyết định nhổ tận gốc các nhà “thương mại tư bản” và “những nhân tố nguy hiểm,” cụ thể là người Hoa từng sống nhiều năm ở những vùng mỏ phía bắc, tại Đà Nẵng và trong khu vực Chợ Lớn đông đúc của Sài Gòn (giờ là Thành phố Hồ Chí Minh). Một con số ước khoảng 160.000 người Hoa tị nạn đã chạy trốn khỏi đất nước này, trên những con thuyền đánh cá hoặc chạy bộ qua Cửu khẩu Hữu nghị, tái định cư tại các xã thuộc tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Trong khi đó, hàng loạt các cuộc đột kích và giao tranh nhỏ lác đác đã gia tăng cường độ lên trong những tháng kế tiếp đã bùng lên các cuộc cải vả không ngừng xuyên qua biên giới.

Nổi giận về hành động ngược đãi người Hoa ở Việt Nam, Bắc Kinh – trước đó đã từng cung cấp cho Hà Nội với một lượng viện trợ ước tính 14 tỉ đô la trong hai chục năm qua – đã đột ngột cắt giảm 21 dự án trợ giúp hiện thời. Vào tháng Sáu 1978, khi những cán sự kỹ thuật Trung Quốc cuối cùng trở về nước, Hà Nội đã chấp thuận trước những lời tán tỉnh từ lâu của Liên Xô và chính thức nhảy bổ vào quỹ đạo kinh tế của Moscow như là một thành viên của khối liên minh thương mại Cộng sản COMECON.

Vào tháng Mười một 1978, Moscow và Hà Nội đã chính thức hóa mối liên kết của họ trong một hiệp ước hữu nghị Liên Xô-Việt Nam kéo dài 25 năm, được ký kết với nhiều cuộc lễ lạc tại Moscow bởi [Tổng bí thư] Leonid Brezhnev, Thủ tướng Aleksei Kosygin và người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Duẩn, cùng với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Bên trong lời chúc tụng thông thường cho những thỏa thuận thương mại và văn hóa, không có nhầm lẫn gì nữa là một vài chữ vắn tắt hiển nhiên về quân sự: một mức độ hỗ trợ phòng thủ lẫn nhau có vẻ mơ hồ, trong phạm vi “những bàn bạc tham khảo và những biện pháp có hiệu quả thích hợp để đảm bảo hòa bình và an ninh cho các quốc gia của họ.” Đối với Bắc Kinh hiệp ước này là một lời trách cứ chính trị rất nhức nhối.

Tiếp theo là đến cuộc chinh phục chớp nhoáng Cambodia của Việt Nam. Trong vòng một tháng với cuộc xâm lăng trên quy mô lớn của họ vào ngày lễ Giáng Sinh, quân nổi dậy thiên về Hà Nội được hậu thuẩn bởi quân đội chính quy Việt Nam đã đánh tan chế độ Khmer Đỏ Pol Pot tàn bạo được Trung Quốc trợ giúp. Chỉ một ít giọt nước mắt từ các nước trên thế giới đã nhỏ xuống khi Pol Pot và những tàn dư rải rác còn sót lại trong quân đội của ông ta bị lùa vào những hang hốc trong rừng rậm phía tây. Từ những vị trí cố thủ này, quân Khmer Đỏ đã và đang kháng cự mạnh mẽ chống lại chính quyền mới, một chính phủ ủng hộ Việt Nam được lãnh đạo bởi một cựu thành viên Khmer Đỏ đào ngũ, ông Heng Samrin, và được yểm trợ bởi một lực lượng Việt Nam ước khoảng 130.000 quân. Đối với Trung Quốc, thất bại ở Cambodia có nghĩa là một sự mất mặt ghê gớm. Kể từ đó, khi ông Đặng được chấp thuận viếng thăm Washington, Trung Quốc đã hướng các loại vũ khí và quân dụng cung cấp sang cho quân nổi dậy của Pol Pot trong một nỗ lực nhằm lật ngược lại những gì đang xẩy ra và báo thù cho tình trạng bẽ mặt của chính họ.

(xem tiếp trên số 67)


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


———————————————————

TIME

——————————————————

A War of Angry Cousins

Monday, Mar. 05, 1979

Dong Dang. Lang Son. Blunt yet musical Vietnamese place names, redolent of history, blood and death. At the railhead city of Dong Dang, a 30-ft. yellow gate marks Japan’s invasion of Indochina in 1940, which prompted President Franklin Roosevelt’s perhaps apocryphal vow that “we will not go to war over any damn Ding Dong.” At Lang Son, a crowded market town nine miles to the southeast, a nipple-crested mountain that colonial troops named the “baroness’s breast” overlooks the ruins of a fort demolished even before the Viet Minh’s war against the French.

Last week Dong Dang and Lang Son had been turned into tormented battlegrounds again. In an escalating war between angry Communist neighbors and cultures that have been antagonistic for 2,000 years, three divisions of invading Chinese troops descended on Dong Dang and on the Vietnamese coastal plain to the east in giant pincers aimed at Lang Son. Battalions of the Vietnamese regular army hauling heavy weapons rushed north to meet them head-on and force a confrontation that could be the first major battle of the week-long war. In preparation, China threw three fresh divisions against forward Vietnamese defenses. At week’s end Vietnamese forces launched a counter attack in three border provinces.

Meanwhile Soviet freighters at Haiphong were unloading resupplies of sophisticated hardware, including missiles and radar equipment. Soviet reconnaissance kept watch on the battlefronts with high-altitude sorties over the Gulf of Tonkin. A flotilla of 13 Soviet ships cruised the South China Sea, awaiting the arrival of the flagship of the Soviet Pacific Fleet, the 16,000-ton cruiser Admiral Senyavin.

In Moscow, Soviet Defense Minister Dmitri Ustinov assailed China’s “dangerous provocation” and accused Peking of try ing to “plunge the world into a war.” The U.N.’s Security Council prepared to meet in urgent session, at Washington’s request, to deal with the Chinese invasion as well as the earlier Vietnamese invasion of Cambodia.

China‘s assault on Viet Nam was expected and well advertised. Tensions had been building up ever since Hanoi’s forced expulsion of ethnic Chinese last spring, Viet Nam’s lightning rout of Peking’s client regime in Cambodia last month, and an intensifying series of incidents on the China-Viet Nam border. Vice Premier Teng Hsiao-p’ing repeatedly and publicly telegraphed the punch during his U.S. visit this month, railing against the “hegemonistic” ambitions of the Soviet “polar bear” and against Vietnamese “aggression” in Southeast Asia. Hanoi “has to be taught a necessary lesson,” he warned. In Tokyo on his way home, Teng again pointedly talked of “punitive action” against “those Cubans of the Orient.”

Taking Peking’s avowals at face value, Western intelligence experts predicted that the Chinese offensive would be limited to a “punitive lesson,” and once the punishment had been meted out, the troops would withdraw. But in capitals around the world there were shudders at the ominous global implications if the war were not contained and short-lived, if it were to provoke direct Soviet intervention or retaliation on behalf of their Vietnamese client. It was a heyday for alarmists: “I would bet that it won’t happen—but we are very much in danger of a third world war. It could be starting at this moment,” warned New York Senator Daniel Moynihan. Administration advisers and military strategists were less worried, but no one was prepared to deny that the world’s newest war contained the potential for much wider, and even uncontrollable, conflagration.

The fighting, in the wooded hills and tilled valleys of a scenic region called the Viet Bac, was shrouded behind military secrecy on both sides and by a cloud cover that thwarted satellite observation. Hanoi issued regular self-serving communiques; Peking’s announcements were so cryptic as to be meaningless. Said one Hong Kong observer: “It’s like hearing a couple of cats squawling in the middle of the night —they’re making a helluva racket, but you don’t know if they are fighting or making love.” From the start of hostilities, however, it was all too obvious that the front-line units of China’s huge, 3% million-man land army and those of Viet Nam’s leaner but highly honed 615,000 troops were not embracing. At dawn on Saturday, Feb. 17, Chinese forces, massed more than 300,000 strong north of Viet Nam in Yunnan and Kwangsi provinces, loosed a massive artillery barrage on key border positions. Hardest hit were Vietnamese concentrations around the cities of Lao Cai, Muong Khuong, Cao Bang, Lang Son and Mong Cai. The People’s Liberation Army, untested in major formation warfare since it crossed the Yalu River in October 1950 to surprise and rout the U.N. forces in Korea, stormed across the border at 26 different points.

The declaration of war came in a transparently disingenuous Peking announcement that its forces were engaged in a “counterattack” against Vietnamese provocations. “The Chinese frontier forces took the action when the situation became intolerable and there was no alternative,” said the official Hsinhua News Agency. “We don’t want a single inch of Vietnamese soil. What we want is a stable and peaceful frontier. After hitting back at the aggressors as far as necessary, our frontier forces will turn to guard strictly the frontiers of our motherland.”

B.y 9 a.m. on Saturday, mortar shells descended near Lang Son, according to an Agence France-Presse correspondent on the scene. To the north, heavy artillery shells could be heard every ten to 30 seconds. “Chinese troops have launched a general attack, all the frontier posts are being shelled by heavy artillery,” a Vietnamese provincial official announced. “Bloody fighting is taking place, human casualties are certainly heavy.” Said a wounded 18-year-old Vietnamese soldier named Trien Van Mien, who staggered into town and fell in the road: “The Chinese are close by, they are everywhere.”

After laying a carpet of artillery fire to soften Vietnamese defenses, an estimated 60,000 Chinese troops advanced in a broad surge along the jagged 480-mile border. Infantry, supported by T-59 tanks, spurted through the passes of the rugged, hilly terrain, bowled over Vietnamese outposts and fanned out in a broad, coordinated advance about six miles deep. By Hanoi’s own admission, the Chinese after two days had occupied eleven towns and villages and had surrounded Dong Dang with tanks and self-propelled guns.

Then they appeared to pause.

In Peking, Teng assured a visiting Argentine diplomat that the invasion would be “circumspect” and “will not be extended or expanded in any way.” That statement seemed to confirm the initial Western interpretation of the possible Chinese objective: a swift, hit-and-run offensive, and then go home. But the Chinese were not yet ready to withdraw. At this point the Chinese shock troops, led by General Yang Teh-chih, China’s deputy field commander in the Korean War, had not tangled directly with Viet Nam’s crack regular army— battle-tested by victorious successive campaigns in South Viet Nam, Laos and Cambodia and equipped with the latest sophisticated Soviet hardware.

Abundantly forewarned, the Vietnamese let regional border forces and local village militia take the brunt of the initial attack. An estimated three to five regular divisions (at least 30,000 troops) were held back. They were apparently arrayed in a crescent-shaped defense line that stretched from Yen Bai on the Red River in the west to Quang Yen on the east coast. Their mission: to defend the coastal plain surrounding Hanoi and Haiphong, and wait for the Chinese to show their hand.

On Tuesday, the fourth day of the war, the Chinese advance resumed with a vengeance. A seemingly formless front rapidly developed two main, logical prongs of attack: one in the northwest on the railroad line leading south to Hanoi, the other in the the east on the major rail link that parallels Highway 1, the jugular thoroughfare from Friendship Pass. Both thrusts appeared to aim directly at Viet Nam’s capital. At the same time, an auxiliary Chinese force, spearhead units of an estimated three more divisions, probed toward the coast for a possible end run aimed at cutting off Highway 4 to Lang Son and later, perhaps, the main Vietnamese reinforcement and supply route of Highway 1, which years ago gained the dolorous nickname “street without joy.”

In the west, as the bulk of the Chinese offensive doubled its penetration to ten or 15 miles, PLA infantry captured Lao Cai, a rail center of 100,000 on the Red River. To counter this threat to Hanoi, the Vietnamese marched north to engage the Chinese at Lang Son and Dong Dang.

“Several thousand men of both regular and regional Vietnamese units with heavy arms are advancing toward Chinese positions,” a correspondent for Tokyo’s Asahi Shimbun reported from Lang Son. He described Vietnamese trucks with 105-mm. guns rolling north on Highway 1; other vehicles carried troops, weapons, ammunition and fuel toward the border. Meanwhile, under the fire of long-range 130-mm. howitzers, columns of refugees fled south, leaving Lang Son to the troops, security cadres and government officials who teemed around staging areas.

Hanoi radio blared that Viet Nam’s defense of Lang Son had inflicted more than 3,000 Chinese casualties, and that in just one coastal battle 50 miles southeast, Vietnamese forces had “trounced three battalions and wiped out 700 Chinese aggressors.” In all, Viet Nam announced, its forces had killed 5,000 to 8,000 Chinese in five days, while losing less than half as many. The lopsided claims were remindful of the inflated enemy “body counts” reeled off each day by U.S. briefers during the Viet Nam War. Western sources in Peking estimated that the Vietnamese had suffered the most in the early fighting: 10,000 killed or wounded, compared with 2,000 to 3,000 Chinese casualties.

The Vietnamese easily outmaneuvered Peking in the propaganda war if not on the battlefield. They issued virulent denunciations of Chinese conduct, including alleged atrocities and biological warfare. Radio Hanoi claimed that Chinese warplanes bombed factories, power plants and communications centers, inflicting “terrible” damage and civilian casualties, and that Chinese artillery fired “chemical shells” at border targets. Backing up its ally, the Soviet Union accused Chinese troops of indiscriminately burning down villages and shooting women and children. Pravda, in a dispatch from Lang Son, alleged that a Chinese unit intercepted a civilian bus on a country road and executed all the passengers.

Hanoi also claimed that it had firm evidence of Peking’s long planning for the invasion. Newsmen based in the capital, taken on a guided tour of the front, were shown printed Vietnamese phrase books found on the bodies of dead Chinese soldiers. Among other things, the eight-page pamphlets contained instructions to be given Vietnamese prisoners (“You will be taken to a safe place and allowed to rest … Don’t worry. Your wound will be treated immediately.”)

The fuse under the China-Viet Nam explosion had been sputtering for nearly a year. Last spring, intent on consolidating their purer-than-thou socialist revolution, the Vietnamese authorities decided to root out “bourgeois trade” and “dangerous elements,” namely ethnic Chinese who had lived for years in northern mining areas, in Danang and in the bustling Cholon district of Saigon (now Ho Chi Minh City). An estimated 160,000 Chinese refugees fled the country, aboard fishing boats or on foot across Friendship Pass, to resettle on communes in Kwangtung and Kwangsi provinces. Meanwhile, a sporadic series of raids and skirmishes that were to intensify in the next months flared back and forth across the border.

Irate at the maltreatment of the Chinese, Peking—which had provided Hanoi with an estimated $14 billion in aid over the past two decades— abruptly cut off 21 current assistance projects. In June, as the last Chinese aid technicians went home, Hanoi yielded to long standing Soviet blandishments and formally jumped into Moscow’s economic orbit as a member of the Communist trade alliance, COMECON.

In November Moscow and Hanoi formalized their alliance in a 25-year Soviet-Vietnamese treaty of friendship, which was signed with much ceremony in Moscow by Leonid Brezhnev, Premier Aleksei Kosygin and the Vietnamese Communist Party head, Le Duan, as well as Premier Pham Van Dong. Inside the usual bouquet of trade and cultural agreements there was no mistaking the glaring military nutshell: an ambiguous degree of mutual defense, to the extent of “consultations and appropriate effective measures to ensure the peace and security of their countries.” For Peking the treaty was a stinging political rebuke.

Then came Viet Nam’s lightning conquest of Cambodia. Within a month of its full-scale invasion on Christmas Day, pro-Hanoi insurgents backed by Vietnamese regulars routed the barbarous China-supported Khmer Rouge regime of Pol Pot. Few international tears were shed as Pol Pot and the straggling remnants of his army were driven into western jungle pockets. From these redoubts, the Khmer Rouge has carried on vigorous resistance against the new regime, a pro-Vietnamese government headed by a former Khmer Rouge defector, Heng Samrin, and propped up by an estimated 130,000 Vietnamese troops. For China the fall of Cambodia meant an enormous loss of face. Ever since, as Teng admitted in Washington, China has steered weapons and supplies to Pol Pot’s insurgency in an effort to reverse its fortunes and avenge its own humiliations.

Posted in Quan hệ quốc tế, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | 4 Comments »

60:Cán cân quân sự giữa VN và TQ năm 1979

Posted by adminbasam on 06/02/2009

Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!


TIME

————————————————————————————————————

Cán cân quân sự


giữa  Việt Nam và


Trung Quốc năm 1979


Thứ Hai, ngày 5-3-1979

Hai lực lượng giao tranh trên vùng núi đá lởm chởm, không người ở, trong những điều kiện không thuận lợi của miền bắc Việt Nam là đối tượng của việc khảo sát rất kỹ lưỡng bởi các chuyên gia quân sự vào tuần trước.

Tại Washington, một lực lượng đặc nhiệm đã được thành lập từ cộng đồng tình báo Hoa Kỳ đã bắt đầu họp lại trong nhiều giờ về cuộc xâm lăng của Trung Quốc, đánh giá xem dữ liệu nào có thể thu được từ các thông báo chính thức của quân đội và bởi việc quan sát qua vệ tinh về quang cảnh trận đánh.

Tại Moscow, các chiến lược gia đã chú ý tới những mối liên hệ rộng lớn hơn của cuộc chiến. Quân Giải phóng Nhân dân [QGPND] TQ đang đánh nhau ra sao trong cuộc thử nghiệm chiến trận thực sự đầu tiên kể từ cuộc Chiến tranh Triều Tiên cách đây gần 30 năm có thể cung cấp những manh mối về khả năng của họ chống lại quân đội Sô Viết trên vùng biên giới phía bắc Trung Quốc.

Trận tuyến được dàn ra để chống lại QGPND là một công cụ quân sự ghê gớm được tôi luyện của Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyến Giáp, người chiến thắng tại Điện Biên Phủ, mà các lực lượng của ông ta đã đánh bại quân đội của người Pháp và Mỹ trong hơn ba thập kỷ chiến đấu. Sức mạnh và những yếu kém của cả hai lực lượng, như đã được đánh giá bởi các nhà phân tích quân sự vào tuần trước, có vẻ như đang trong thế cân bằng mong manh.

Với 3,5 triệu người, đội quân đông nhất thế giới, Bắc Kinh có một lợi thế áp đảo về số lượng đối với 615.000 quân của Hà Nội. Trong một đòn tấn công trừng phạt có giới hạn, quân đội Trung Quốc chắc có lẻ đã không tung quá hơn 200.000 bộ đội, mặc dù những cánh quân trừ bị sẵn sàng của QGPND đang ở tại phía nam Trung Quốc vẫn đông đảo nếu như cuộc xung đột có thể lan rộng.

Hiện Trung Quốc có khoảng 1,6 triệu quân đóng dọc theo biên giới với Liên Xô – một lực lượng mà Bắc Kinh có thể quyết định tăng thêm nếu như Moscow gia tăng hành động chuẩn bị chiến đấu của đội quân 1 triệu người của họ trên vùng biên giới để đáp trả lại cơn khủng hoảng (tại biên giới Việt – Trung).

Một lợi thế chiến thuật thêm nữa cho QGPND là phần đông các lực lượng của Hà Nội đang bị mắc kẹt tại Cambodia và Lào và không thể di chuyển nhanh chóng tới tham chiến tại phía bắc.

Mặc dù người Trung Quốc không “bị đổ máu” qua kinh nghiệm chiến trường nào, song các nhà phân tích ở Ngũ Giác Đài tin rằng họ là những chiến binh giỏi. Một bộ đội của QGPND chưa từng đánh nhau, giống như người chỉ huy của anh ta, có thể háo hức hơn với trận mạc – và một cơ hội hiếm có để thăng chức. Kinh nghiệm mà người trưởng phòng hành quân các trận đánh của họ, Tướng Yang Teh-chin, 68 tuổi, đã thu được tại cuộc Chiến tranh Triều Tiên có thể đang dùng vào việc nâng cao niềm tin cho bính lính.

Việc tấn công trước cũng mang lại một lợi thế tinh thần nội tại. Tuy nhiên, QGPND đang bị khó khăn trong nhiều năm trời vì dính líu quá mức vào tình hình chính trị trong nội bộ Trung Quốc. Trong một thời gian dài, nhiệm vụ khó khăn nhất của quân đội TQ là ngăn chặn các sự thái quá của cuộc Cách mạng Văn hóa.

Đối với quân đội Việt Nam, họ có được lợi thế từ thực tế rằng họ đang bảo vệ đất nước của họ chống lại một kẻ thù đáng ghét theo truyền thống lịch sử. Họ đã chứng tỏ là những bộ đội với sức mạnh bền bỉ không thể chối cãi. “Bây giờ vẫn còn quá sớm để nói quân đội nào có ưu thế hơn,” theo nhận xét của một chuyên gia Bộ Quốc phòng Hoa kỳ. “Nếu so sánh về tương quan giữa các cá nhân, thì cán cân kinh nghiệm sẽ nghiêng về phía Việt Nam.”

Nội có một ưu thế rõ ràng hơn hẳn Bắc Kinh trong các loại vũ khí tinh vi. Mặc dù cả hai lực lượng này đều đang chiến đấu với những vũ khí sản xuất tại Liên Xô hoặc với những phiên bản của Liên Xô, nhưng nhiều vũ khí của QGPND kiếm được từ trước cuộc xung đột chia rẽ Trung Quốc-Liên Xô vào những năm cuối 1950.

Người Việt Nam cũng có một số thiết bị thu giữ được của Mỹ, đáng chú ý là loại đại bác 177mm, có thể đè bẹp hỏa lực của bất cứ khẩu pháo nào trong kho vũ khí của Trung Quốc.

Một trong những vũ khí nổi tiếng và hiệu quả nhất của Hà Nội, mà người Mỹ từng được biết đến tại Khe Sanh, là trọng pháo 130mm. Theo lời một nhà phân tích quân sự tại Hong Kong: “Người Việt Nam ưa thích loại 130mm và thực sự biết cách sử dụng nó. Chắc chắn họ thích có tầm bắn xa hơn người Trung Quốc.”

Người Trung Quốc có khoảng 10.000 xe tăng, so với 900 chiếc của Việt Nam. Thế nhưng địa thế miền núi của cuộc chiến tuần qua đang ngăn chặn việc sử dụng các xe tăng trong ngoại trừ trong những tuyến đường rất chật hẹp, và loại xe tăng T-34 cũ kỹ của Trung Quốc là rất dễ bị tổn hại trước những tên lửa chống tăng Sagger vô cùng chính xách được Liên Xô cung cấp cho người Việt Nam trong ba năm qua. Quân đội Trung Quốc không có thứ gì có thể so sánh được với loại Sagger này. “Đây là một trong những khiếm khuyết lớn trong chiến trận mà họ đang cố hiệu chỉnh bằng cách mua những tên lửa (chống tăng) HOT từ người Pháp,” một chuyên gia của Hoa Kỳ lưu ý.

Không quân Việt Nam thua kém nhiều so với Trung Quốc về số lượng, song chất lượng thì lại cao hơn hẳn. Hà Nội có tất cả 300 chiến đấu cơ; khoảng 700 phi cơ của Trung Quốc thì đang trong tầm truy kích Việt Nam. Mặc dù, hầu hết trong số các máy bay sẵn sàng lâm trận là những chiếc MiG-17 và MiG-19 đã cổ lỗ, trong khi đón quân đội Việt Nam không chỉ có những chiếc MiG-21 tiên tiến hơn mà họ còn có cả những “chiến đấu cơ” F-5 chiếm được từ người Mỹ.

Quân đội Việt Nam cũng có một lợi thế trong tiếp viện và vận chuyển. Vì những thiếu hụt của xe tải và xe chở hàng, quân đội Trung Quốc theo tin tức cho hay đã phải chuyên chở một số hàng quân nhu với khu vực chiến sự bằng xe có ngựa kéo. Trong khi quân đội Trung Quốc di chuyển chủ yếu bằng đi bộ, thì các đơn vị của Việt Nam có nhiều phương tiện chuyên chở hiện đại, một số lượng lớn trong đó được tịch thu từ (sự bỏ lại của) quân đội Hoa Kỳ.

Thêm vào đó, quân đội Trung Quốc có những phương tiện liên lạc chiến trường cổ lỗ; đôi lúc họ vẫn sử dụng người hoặc xe đạp. Người Việt Nam được trang bị điện đài và điện thoại dã chiến hiện đại, nhiều loại trong số đó được sản xuất tại Mỹ.

Mặc dù thế mạnh của Hà Nội là về kinh nghiệm, các loại vũ khí và hậu cần, song tinh thần chiến đấu thấp trong quân đội Việt Nam có thể làm cùn đi lợi thế của họ.

Tổn thất nặng nề ở Cambodia đã làm tổn hại ghê gớm ý chí chiến đấu của một số binh lính Việt Nam. Các tân binh đã hối lộ sĩ quan của mình để được về nhà.

Tỉ lệ vắng mặt không phép là rất cao đến nổi một quân lệnh được loan báo cho kế hoạch tái tổ chức hai năm để hợp nhất tốt hơn với các toán quân phía nam vốn bị mất tinh thần thành một lực lượng chiến đấu hăng hái hơn. Mao Trạch Đông có lẽ đã đúng khi ông ta nói, “Vũ khí là một yếu tố quan trọng trong chiến tranh song không phải là yếu tố quyết định; Chính con người, chứ không phải thứ gì khác, mới có tính chất quyết định.”


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


————————————————————————————-

TIME

———————————-

The Military Balance

Monday, Mar. 05, 1979

The two forces engaged on the rugged, inhospitable terrain of northern Viet Nam were the object of intense scrutiny by military analysts last week. In Washington, a task force raised from the U.S. intelligence community began meeting within hours of the Chinese invasion, evaluating what data could be obtained from military communiques and by satellite observation of the battle scene. In Moscow, strategists were equally attentive to the broader implications of the war. How well the People’s Liberation Army does in its first real combat test since the Korean War nearly 30 years ago could provide clues to its capability against Soviet armies on China’s northern border.

Arrayed against the PLA was a formidable military instrument forged by Defense Minister Vo Nguyen Giap, the conqueror of Dien Bien Phu, whose forces had defeated French and U.S. armies in more than three decades of fighting. The strengths and weaknesses of both forces, as evaluated by the analysts last week, appeared to be in delicate balance.

With 3.5 million men, the world’s largest standing army, Peking has an overwhelming numerical advantage over Hanoi’s 615,000 troops. In a limited punitive strike, the Chinese would probably not deploy more than 200,000 men, though the PLA’s available reserves in southern China are immense if the conflict should widen.

China currently has about 1.6 million men along the Soviet border—a force that Peking may decide to augment if Moscow raises the combat readiness of its own 1 million troops on the frontier in response to the crisis. One tactical plus for the PLA is that many of Hanoi’s forces are tied down in Cambodia or Laos and cannot be readily transferred to the war in the north.

Although the Chinese are not “blooded” by battle experience, Pentagon specialists believe that they are good fighters. The untried PLA soldier, like his commander, may be eager for combat—and a rare chance for promotion.

The experience that their operations chief, General Yang Teh-chin, 68, gained in the Korean War may have served to boost the troops’ confidence. Being on the attack also confers an intangible morale advantage. The PLA, however, is troubled by years of excessive involvement in China’s internal politics.

For a long time its most arduous duty has been curbing the excesses of the Cultural Revolution.

As for the Vietnamese, they benefit from the fact that they are defending their own country against a historically hated enemy. They are proven fighters with undeniable staying power. “It’s too early to tell who is better,” says a U.S. Defense Department expert. “Man for man, the weight of experience would be on the Vietnamese side.”

Hanoi has a clear superiority over Peking in sophisticated weaponry. Although both forces are fighting with arms made in the U.S.S.R. or with copies of Soviet models, many of the PLA’s weapons were acquired before the Sino-Soviet split in the late 1950s. The Vietnamese also have some captured American equipment, notably the 177-mm howitzer, which outguns any artillery piece in the Chinese inventory.

One of Hanoi’s favorite and most effective weapons, as Americans learned at Khe Sanh, is the 130-mm howitzer. Says one military analyst in Hong Kong: “The Vietnamese love the 130 and really know how to use it. They must love to have the Chinese outranged.”

The Chinese have about 10,000 tanks, compared to Viet Nam’s 900. But the mountainous terrain of last week’s fighting precludes the use of tanks except in very narrow corridors, and China’s aged T-34 tanks are vulnerable to the extremely accurate Sagger antitank missiles supplied to the Vietnamese by the Soviet Union in the past three years. The Chinese have nothing comparable to the Sagger. “This is one of their major combat deficiencies, which they are trying to correct by buying HOT (antitank) missiles from the French,” notes one U.S. expert.

The Vietnamese air force is vastly inferior to the Chinese in quantity, but the quality is vastly superior. Hanoi has 300 combat aircraft in all; about 700 Chinese planes are within striking range of Viet Nam. Most of those ready for combat, however, are outdated MiG-17s and MiG-19s, whereas the Vietnamese have not only the slightly more advanced MiG-21s but also the versatile F-5 “freedom fighters” captured from the Americans.

The Vietnamese also have an advantage in supply and transport. Because of shortages of trucks and freight cars, the Chinese are reported to have brought some supplies to the combat area by horse-drawn vehicles. While the Chinese army moves primarily on foot, the Vietnamese forces have plenty of modern transport, much of it seized from the U.S.

Army. The Chinese, moreover, have primitive battlefield communications; they still sometimes use runners and bicyclists. The Vietnamese are equipped with modern radio and field telephones, many of them American-made.

Despite Hanoi’s superiority in experience, weaponry and logistics, low morale in the Vietnamese forces could blunt their advantages. Heavy casualties in Cambodia have severely impaired some Vietnamese soldiers’ will to fight. Recruits have bribed their officers to let them return home.

The AWOL rate is so high that the army command has announced a two-year reorganization plan that will better integrate the demoralized southern troops into a more aggressive fighting force. Mao Tse-tung may have been right when he said, “Weapons are an important factor in war but not the decisive factor; it is people not things that are decisive.”

Posted in Quan hệ quốc tế, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | 2 Comments »

59:Những thời buổi khó khăn cho chính quyền ở Hà Nội

Posted by adminbasam on 05/02/2009


Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!


TIME

————————————————————————————————————

Những thời buổi khó


khăn cho chính quyền


ở Hà Nội


Thứ Hai, ngày 5-3-1979

Các nhà lãnh đạo ở Hà Nội vẫn thường khoác lác với những vị khách ngoại quốc có cảm tình với họ rằng dân chúng Việt Nam sẵn sàng “chịu đựng với tinh thần cống hiến.” Thế nhưng, những đoàn xe tải vào tuần trước chất đầy xác chết và người bị thương từ biên giới Trung Quốc và từ Cambodia trở về đã chứng tỏ rằng sức chịu đựng đó vẫn còn lâu mới vượt qua được. Một câu hỏi không được trả lời, và chắc có lẽ không thể được trả lời là mức độ cống hiến của 51 triệu công dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam còn lại là bao nhiêu đối với một ban lãnh đạo không có khả năng tạo nên một đất nước ổn định và thịnh vượng thậm chí sau bốn năm tương đối hòa bình.

Tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu ăn và thậm chí là nạn đói tràn lan khắp Việt Nam. Mức sản xuất nông nghiệp sụt giảm 15% vào năm 1978, trong khi những triển vọng cho năm nay là rất kém quá đến nỗi Hà Nội đã phải giảm định mức đánh giá cho vụ mùa so với các mục tiêu công bố ban đầu.

Tiếp theo sau nạn lụt lan rộng trên các đồng lúa vào tháng 9 năm 1978, khẩu phần lương thực bình quân đầu người đã bị cắt giảm từ 15 kg (33 lb) xuống còn 13kg. Với mức đó, những nông dân và công nhân bình thường chỉ được cấp phát hơn 0,9kg gạo chút xíu, gạo là món thực phẩm cơ bản hàng ngày của người Việt.

Đường, thịt và bột mì là thứ hiếm có và rất đắt đỏ. Các công nhân nhà máy đã trở nên mất khả năng lao động vì thiếu ăn và suy dinh dưỡng, theo các giám đốc phương Tây của những nhà máy do nước ngoài xây dựng cho biết.

Các cơn bão, hạn hán và những thảm hoạ thiên nhiên khác đã góp phần vào những vấn nạn nông nghiệp của Việt Nam, song sự bất tài của chính phủ đã là nguyên nhân chủ yếu. Những xáo trộn trong bộ máy quan liêu gây trở ngại cho việc gieo trồng các giống lúa mới có sức kháng cự tốt hơn với hạn hán, và việc phân phát thuốc trừ sâu trong những vùng bị tàn phá bởi các giống côn trùng gây hại đã bị đình hoãn. Sản lượng lúa gạo đang sút giảm trong vùng Châu thổ sông Mekong đã từng một thời thịnh vượng. Hà Nội trước đó đã loan báo rằng họ sẵn sàng trao đổi các loại hàng tiêu dùng như quạt máy chạy bằng điện để lấy gạo, hy vọng khuyến khích nông dân bán sản phẩm vụ mùa của họ cho chính phủ thay vì bán ra chợ đen. Khi chính phủ thất bại trong việc phân phát các hàng tiêu dùng như đã hứa, những người nông dân thất vọng bắt đầu sản xuất kém đi. Tờ báo của đảng cộng sản Việt Nam, tờ Nhân Dân, đã than phiền rằng nhiều nông dân bỏ ruộng đồng không chịu cày cấy hoặc dùng gạo nấu rượu hoặc cho lợn ăn.

Cuộc sống đặc biệt khó khăn ở miền bắc. Các gia đình ở Hà Nội được cấp chỗ ở chỉ 7 mét vuông cho một người – xấp xỉ mức đề nghị được cấp cho những tù nhân trong trại tù liên bang Hoa Kỳ. Các công nhân trong công xưởng phải làm việc sáu ngày một tuần, và sử dụng ngày thứ bảy của tuần cho các cuộc hội họp chính trị hoặc “lao động tình nguyện” trong các dự án xây dựng. Xe hơi cá nhân không còn tồn tại nữa, và các phụ tùng thay thế cho xe đạp thì bị thiếu hụt. “Có sự bất mãn rất lớn,” một nhà ngoại giao ở Hà Nội nhận xét. “Dân chúng bắt đầu kêu ca ở những chốn riêng tư. Một trong những câu hỏi xì xào to nhỏ thường nghe được là một câu châm biếm: ‘Chúng ta đang làm cái quái gì ở Căm-pu-chia thế?’ “

Trong Nam vẫn còn tương đối khá thịnh vượng hơn. Phụ nữ vẫn mặc những chiếc áo dài màu sắc sáng sủa, tương phản với những chiếc quần dài đen và sơ mi trắng phù hợp cho cả nam lẫn nữ vẫn thường được mặc ở miền  Bắc. Thức ăn thì phần nào có sẵn sàng nhưng ít ai có đủ khả năng để mua, kể từ khi tỉ lệ lạm phát vượt trên 100% mỗi năm. Nhìn chung, kinh tế của miền nam đã phải chịu đựng quyết định từ bỏ “thương mại tư bản” và đưa vào sử dụng một loại tiền chung trong cả nước của Hà Nội vào năm ngoái (đổi tiền lần thứ 2 vào năm 1978). Công nghiệp ở miền Nam hiện đang chạy chậm lại ở mức độ chỉ vào khoảng 40% của mức khả năng của nó. Khoảng 20% trong 3 triệu cư dân Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) bị thất nghiệp. Thừa nhận rằng tình trạng quản lý tồi tệ lan rộng trong công nghiệp và nông nghiệp, báo Nhân Dân giải thích: “Trong những cuộc chiến đấu dài lâu chống chủ nghĩa đế quốc, chúng ta đã trở nên dạn dày trong đấu tranh chính trị và vũ trang và có kỹ năng tổ chức các trận đánh lớn. Thế nhưng chúng ta vẫn còn chưa quen thuộc với việc tổ chức sản xuất và kinh doanh trên quy mô lớn.”

Những vấn nạn kinh tế của Việt Nam đã gia tăng trầm trọng thêm đáng kể do việc đuổi 200.000 người Hoa trong chín tháng trước. Những người Hoa này đã trở thành mục tiêu bởi vì sự dính líu phổ biến và rộng rãi của họ trong thị trường chợ đen; thế nhưng họ tạo nên cả một tầng lớp thương lái chính ở Việt Nam. Họ kiểm soát việc buôn bán lúa gạo, các hải cảng lớn, các hệ thống phân phối và một số ngành công nghiệp chủ chốt – đáng chú ý là than đá.

300.000 người tị nạn đã và đang trốn thoát khỏi Việt Nam kể từ sự sụp đổ của chính quyền ông Thiệu năm 1975 cũng đã làm suy giảm nguồn nhân lực của đất nước này. Theo các giới chức tại Thái Lan và Hong Kong, nơi mà nhiều người tị nạn đã tới, các cán bộ Việt Nam đang kiếm lợi riêng từ cuộc di tản của những công dân nước họ những người tị nạn này đang tìm kiếm thức phẩm và tự do nơi xứ người. Sau khi phỏng vấn những người tị nạn, các nhân viên điều tra tin rằng có tới 50% số tiền mà những người tị nạn này trả để rời khỏi Việt Nam sau cùng đã rơi vào túi của các đảng viên Cộng sản địa phương. *

Theo những người tị nạn cho biết, một trong những thay đổi nổi bật nhất thấy rõ gần đây ở Việt Nam là khả năng tham nhũng của các cán bộ đảng cấp trung. Nhiệt tình cách mạng đã nhường chỗ cho một tâm trạng hoài nghi trước những vấn đề kinh tế của Việt Nam.

Các cán bộ Cộng sản tham nhũng đã tham gia vào thị trường chợ đen từng được điều hành bởi người Hoa. Tất cả các tuyến giao thông huyết mạch chính của vùng châu thổ Sông Hồng ở phía nam Hà Nội đều đặc trưng cho tình trạng “thả nổi thị trường” do những người Cộng sản điều hành cung cấp những hàng hóa bị ăn cắp từ các chuyến tàu biển hoặc trực tiếp từ các bến cảng ở Hải Phòng.

Lối tiêu xài đáng nghi ngờ giữa các cán bộ Cộng sản đã trở nên quá trắng trợn đến nỗi Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thấy cần thiết phải phát ra một mệnh lệnh chung:

Vào thời điểm khi mà người dân tại một số vùng đang phải trải qua tình trạng thiếu thốn và đói kém, tuyệt đối cần thiết hạn chế tổ chức các lễ kỷ niệm và tiệc tùng hoang phí. Tất cả các ngành các cấp cần phải nêu cao tinh thần gương mẫu trong sản xuất kinh tế và một lối sống tiết kiệm tránh lãng phí.”


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


* Theo tài liệu của Việt kiều, kể từ 1976, số người VN vượt biển Đông hàng tháng càng gia tăng, vài ngàn người mỗi tháng. Trại tị nạn đón nhận họ do LHQ thiết lập đóng ở  6  quốc gia đông nam á và Hồng Kong. Cho đến năm 1979, có khoảng 300.000 tị nạn Viết Nam đã rời khỏi Việt  Nam bằng thuyền.

Trên đường vượt thoát, người tị nạn gặp nhiều hiểm nguy kể cả mất mạng. Khi còn trong hải phận VN hoặc các bến cảng, họ có khả năng bị công an VN bắt bớ, bắn chìm tàu. Khi ra hải phận quốc tế, họ bị hải tặc Thái Lan, Mã Lai, bắn giết, cướp của, hãm hiếp, đánh chìm tàu, hoặc tàu bị đắm vì bị bão tố. Trung bình có vào khoảng 50-60% tàu cập bến các quốc gia Thái Lan, Mã Lai Á, Indonesia, Singapore, Hồng Kong, Philippines. Không may, có khoảng 40-50% số tàu thuyền của người tị nạn đã bị chìm trong biển Đông. Theo ước lượng có khoảng vài trăm ngàn người đã chết trên biển Đông và bị mất tích.

Thêm vào nhóm người tị nạn VN đó, trong năm 1978, nhà nước đánh tư sản và đuổi 200.000 người Hoa kiều ra khỏi VN; Hoa kiều được ra đi theo kiểu gọi là bán-chính-thức, đối nghịch với kiểu vượt biển ra đi của người VN là ra đi không chính thức, và ra đi theo chương trình ODP có thân nhân nước ngoài làm bảo lãnh để  rời khỏi VN bằng máy bay.  Người ra đi bán chính thức tự đóng tàu, hoặc mua tàu để đi. Theo đó, mỗi người ra đi phải đóng cho chính phủ VN 12 lượng vàng,  chính quyền địa phương nhận số vàng đó và cho họ lên các tàu đang đậu trong các bến cảng khắp các tỉnh miền nam. Nhân dịp nầy, rất nhiều gia đình VN cũng đã “đi ăn theo” diện bán-chính-thức.

Nhưng ra đi bán chính thức của người Hoa kiều hoặc ra đi theo kiểu trốn thoát của người Việt Nam có chuyến thành công, có chuyến không thành công. Những chuyến thành công là sau khi tàu đầy người, nhổ neo, chạy ra ngoài biển, và tới được bến bờ. Những chuyến đi không thành công thường là bị chìm tàu, mất vàng và bị bắt trở lại, hoặc bị chìm tàu vì bão tố. Chuyện khá phổ biến thường xẩy ra là do trong địa phương là  nhiều cán bộ bán bãi cho người tị nạn ra đi. Nhiều khi họ chia nhau số vàng đóng góp của người tị nạn không đều, nên tìm cách phá nhau để chứng tỏ họ có quyền hành hơn phe kia hoặc làm mất uy tín của nhau.  Theo đó, khi các tàu đầy người  vừa nhổ neo, ra khỏi bến, chạy chừng một đoạn thì bị chính quyền VN chặn bắt ở chỗ khác. Họ bị nhốt vào tù, nhiều gia đình mất sạch vàng. Gia đình nào còn có người thân bên ngoài, thì nhờ người thân lo lót tiền để ra khỏi tù. Sau đó, nếu còn khả năng thì người ấy cứ đóng thêm 12 lượng vàng và được lên một tàu khác. Nếu không còn khả năng tải chánh thì ở lại VN.

—————————–

TIME

———————————————————–

Hard Times for Hanoi

Monday, Mar. 05, 1979

Hanoi‘s leaders have often boasted to sympathetic foreign visitors that the Vietnamese people were willing to “suffer with dedication.” Last week truckloads of war-wounded and dead returning from the Chinese border and from Cambodia testified that the suffering was far from over. One unanswered, and perhaps unanswerable, question is how dedicated the 51 million citizens of the Vietnamese Socialist Republic remain to a leadership that has been unable to create a stable or prosperous country even after four years of relative peace.

Malnutrition and even hunger prevail throughout Viet Nam. Agricultural output declined 15% in 1978, while prospects for this year are so poor that Hanoi has already scaled down its crop estimates from the stated targets. Following widespread flooding of rice lands last September, the monthly ration of food per person was cut from 33 Ibs. to 29 Ibs. Of that, ordinary peasants and workers are allowed only a little over 2 Ibs. of rice, the staple of the Vietnamese diet.

Sugar, meat and flour are rare and prohibitively expensive. Factory workers have become inefficient because of malnutrition, according to the Western managers of foreign-built plants.

Typhoons, droughts and other natural disasters have contributed to Viet Nam’s agricultural problems, but government incompetence has been the principal cause. Bureaucratic foul-ups hindered the planting of new strains of rice that are more resistant to drought, and the distribution of pesticides in areas infested by plant pests has been delayed. Rice production is declining in the once prosperous Mekong Delta. Hanoi had announced that it was willing to trade consumer goods such as electric fans for rice, hoping to induce peasants to sell their crops to the government instead of on the black market. When the government failed to deliver the promised consumer goods, disappointed farmers began producing less. The Vietnamese party newspaper Nhan Dan has complained that many peasants leave paddyfields uncultivated or use rice to distill alcohol or feed pigs.

Life is especially hard in the north. Families in Hanoi are permitted only 75 sq. ft. of living space per person— roughly the recommended allowance for prisoners in U.S. federal penitentiaries. Factory hands must work six days a week, and spend the seventh at political meetings or on “volunteer” construction projects. Privately owned automobiles are all but nonexistent, and spare parts for bicycles are in short supply. “There is a great deal of unhappiness,” says a Hanoi-based diplomat. “People are starting to complain privately. One of the whispered questions heard most often is an ironic one: ‘What the hell are we doing in Cambodia?’ “

The south remains relatively more prosperous. Women there still wear the brightly colored ao dai, in contrast to the unisex black pants and white shirt commonly worn in the north. Food is somewhat more available but less affordable, since the inflation rate exceeds 100% a year. In general, the economy of the south has suffered from Hanoi’s abolition last year of “bourgeois trade” and the introduction of a uniform currency throughout the country. Southern industry is currently running at 40% of capacity. About one-fifth of the 3 million residents of Ho Chi Minh City (Saigon) are unemployed. Conceding widespread mismanagement of industry and agriculture, Nhan Dan explained: “In the long struggles against imperialism, we became well versed in political and armed struggles and skilled in organizing major battles. But we are still unfamiliar with the organization of large-scale production and business.”

Viet Nam‘s economic problems were greatly aggravated by the expulsion of 200,000 ethnic Chinese in the past nine months. The Chinese were targeted because of their wide spread involvement in the black market; but they constituted Viet Nam’s major entrepreneurial class. They managed the rice trade, the major ports, the distribution systems and several key industries—notably coal.

The 300,000 refugees who have fled Viet Nam since the fall of the Thieu government in 1975 have also cut into the country’s human resources. According to officials in Thailand and Hong Kong, where many of the refugees arrive, Vietnamese officials are privately profiting from the exodus of their citizens who are seeking food and freedom abroad. After interviewing refugees, investigators believe that as much as 50% of the money would-be refugees pay to leave Viet Nam ends up in the pockets of local Communists.

According to the refugees, one of the most striking recent changes apparent in Viet Nam is the corruptibility of middle-level party officials. Revolutionary zeal has given way to a cynical exploitation of Viet Nam’s economic problems. Corrupt Communist officials have moved into the black market trade once operated by the ethnic Chinese. All of the Red River delta’s major arteries south of Hanoi feature Communist-run “floating markets” that offer goods stolen from ships or directly off the docks at Haiphong. Conspicuous consumption among Communist officials has become so flagrant that Premier Pham Van Dong felt it necessary to issue a prevailing order: “At a time when the people in several areas are experiencing privations and hunger, it is absolutely necessary to refrain from organizing wasteful celebrations and feasts. All sectors and all levels should uphold an exemplary spirit by practicing economy in production and a way of life that avoids all waste.”

Posted in Quan hệ quốc tế, TQ xâm lược '79, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

 
%d bloggers like this: