BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Tôn giáo’ Category

2135. Tổ quốc đương lâm nguy!

Posted by adminbasam on 23/03/2014

Đỗ Hải Anh

Kính gửi toàn thể người dân Việt Nam còn lương tâm và trách nhiệm.

Tôi, TS Đỗ Hải Anh, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu…, thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Từ ngày được định cư ở Mỹ tới nay tôi mải mê nghiên cứu khoa học chứ không quan tâm đến chính trị trong nước. Nhưng, khi ký ức hiện về lời khuyên của một thánh tăng: “Các nhà tu hành không chỉ giúp đời bằng kinh sách, cầu nguyện. Họ có bổn phận phải đóng góp bằng tất cả khả năng của mình để giải quyết các khó khăn ở đời. Chính trị và tôn giáo không thể là đối nghịch. Tất cả các hành động phát sinh bởi thiện niệm (ý tốt) đều gọi là hành động tôn giáo”. Tôi xét thấy mình quá sai lầm vì đã từng thờ ơ với thời cuộc, nên đã nghĩ lại. Bài viết này được dựa vào tư liệu của bạn tôi: TS. HVT, nhà báo chuyên viên cao cấp ở Đài truyền hình từ bên nhà gửi sang.

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Gia đình/Xã hội, Lịch sử, Nhà nước, Pháp luật, Tôn giáo, Tham nhũng, Văn hóa, Xã hội, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , , | 2 phản hồi »

2119. Vụ xử người H’Mông Tuyên Quang có dấu hiệu đàn áp ”tín ngưỡng”

Posted by adminbasam on 20/03/2014

RFI

20-03-2014

Trọng Thành

Nghe audio

1Cuối năm 2013, dư luận xôn xao về vụ bắt giữ hàng loạt người H’Mông, theo « đạo » ông Dương Văn Mình, được biết đến chủ yếu như một người kêu gọi thực thi một « nếp sống mới » trong tập tục ma chay, mà nhiều người H’Mông tin và làm theo. Bắt đầu từ giữa tháng 3/2014, những người bị bắt trong vụ án lần lượt bị đưa ra tòa. Vụ bắt bớ quy mô lớn, với những cái án nặng nề đã ban hay chuẩn bị ban ra, cho thấy chính quyền đang lúng túng, chưa tìm ra được một lối ứng xử văn minh dựa trên đối thoại và tôn trọng nhân quyền trước một xã hội dân sự đang trưởng thành.

Ngày 14/3/2014, ông Hoàng Văn Sang, bị cáo đầu tiên, bị kết án 18 tháng tù giam. Hôm qua 18/3 phiên tòa xét xử bị cáo thứ hai, ông Thào Quán Mua, bị dời lại ngày 27/3, cùng lúc với việc hàng trăm người H’Mông có mặt để phản đối trước tòa án huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Vào ngày mai 20/03, sẽ có phiên tòa xét xử hai ông Dương Văn Tu và Lý Văn Dinh. Tất cả bốn bị cáo, do Luật sư Trần Thu Nam bào chữa, đều bị buộc tội theo điều 258 Bộ Luật Hình sự, điều luật thường được sử dụng để đàn áp quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng. Ngoài ra, còn có các ông Lý Văn Hầu, Hoàng Văn Páo (cùng ở Tuyên Quang) và ông Vừ A Sự (Cao Bằng), bị bắt giữ từ cuối năm ngoái, cũng sắp bị đưa ra xét xử.

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Tôn giáo, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , | Leave a Comment »

2221. CÁC NHÓM LỢI ÍCH CẢN TRỞ SỰ HÒA GIẢI Ở TÂY TẠNG

Posted by adminbasam on 13/01/2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Ba, ngày 07/01/2014

TTXVN (Hong Kong 5/1)

Từ lâu, Tây Tạng luôn là một vấn đề đau đầu đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc và đảng liên tục phải duy trì chính sách “bàn tay sắt” đối với khu tự trị này. Gần đây, trong giới trí thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã có những ý kiến đề xuất rằng ban lãnh đạo đảng nên thực hiện chính sách hòa giải hơn đối với Tây Tạng. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng việc duy trì chính sách cứng rắn đối với Tây Tạng nằm trong lợi ích của một nhóm quan chức và các nhóm lợi ích đã cản trở sự hòa giải ở Tây Tạng. Thời báo châu Á trực tuyến vừa đăng bài viết về vấn đề này của chuyên gia nghiên cứu Thubten Samphel, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách Tây Tạng thuộc Chính quyền Trung ương Tây Tạng ở Dharamsala, Ấn Độ. Dưới đây là nội dung bài viết:

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Tôn giáo, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước | Tagged: , | Phản hồi đã bị khóa

2039. Tôn giáo chân chính đồng hành cùng dân tộc

Posted by adminbasam on 20/09/2013

Báo Nhân dân

Thứ sáu, 20/09/2013 – 01:58 AM (GMT+7)

Gần đây, các hãng truyền thông nước ngoài, như BBC, VOA, RFA, RFI thường sử dụng quan điểm tiêu cực để đánh giá các sự kiện xảy ra ở Việt Nam hoặc liên quan tới Việt Nam, từ đó xuyên tạc, cổ vũ cho luận điệu sai trái, nhân danh “thảo luận” tạo diễn đàn để một số cá nhân bình luận thiếu thiện chí. Bài Ni cô “thay nâu sồng mặc quân phục” trên BBC ngày 14-8 là thí dụ điển hình của xu hướng không lành mạnh này. Tác giả Trần Chung Ngọc, một người Mỹ gốc Việt, có bài viết vạch rõ “sự bất lương của BBC tiếng Việt”, Báo Nhân Dân xin trích giới thiệu cùng bạn đọc.

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Tôn giáo | Tagged: | Phản hồi đã bị khóa

1883. Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận: Từ sự truy bức đến phong chân phước

Posted by adminbasam on 06/07/2013

1Defend the Defenders

Bản dịch của Lâm Thành Nhân

AsiaNews.it | 3.7.2013 |

Rome (AsiaNews) – Ông đã sống 13 năm trong tù, trong số đó thì hết 9 năm biệt giam, mà không bao giờ được đưa ra xét xử và trong khi “bị giam cầm trong những điều kiện thiếu thốn và khó khăn của sự tự do, ông không bao giờ mất tinh thần, không bao giờ biểu lộ sự căm hận đối với những người giam giữ ông. Khi ông đang bị cưỡng bức “cải tạo”, ông đã dùng một phương pháp khác để dạy dỗ những kẻ thù của mình. Những người gác ngục trở thành những học trò của ông. Sự chân thành trong những mối quan hệ của ông đã thay đổi các mối quan hệ trong nhà tù. Những người cai tù lén đưa cho ông những miếng gỗ mà ông đã làm thành một cây thập giá, và một đoạn dây điện để ông biến thành một sợi dây chuỗi. Ông đã đeo nó trong suốt quãng đời còn lại của mình, thậm chí khi đã là một Hồng Y.

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Tôn giáo | Tagged: , , | 21 phản hồi »

1864. ĐẠO LUẬT NHÂN QUYỀN VIỆT NAM năm 2013 – HR 1897

Posted by adminbasam on 27/06/2013

Bổ sung, ngày 29/6/2013: - Hạ viện Mỹ thông qua luật nhân quyền VN (BBC).  - Phỏng vấn Dân biểu Ed Royce: Ủy ban đối ngoại Hạ viện thông qua Dự luật nhân quyền VN (RFA). - Phỏng vấn TS Nguyễn Đình Thắng: Bước kế tiếp sau khi Hạ viện Mỹ thông qua Luật Nhân Quyền cho VN (VOA).

Quốc hội Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thứ 113

Phiên họp thứ nhất

H. R. 1897: Nhằm thúc đẩy Tự do và Dân chủ ở Việt Nam

Tại Hạ viện Hoa Kỳ

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ quốc tế, Tôn giáo | Tagged: , , , , , , , , | 33 phản hồi »

1832. ĐẠO LUẬT CHẾ TÀI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM S. 929

Posted by adminbasam on 10/06/2013

“… Tổng thống sẽ đóng băng và cấm chỉ tất cả các giao dịch liên quan đến tất cả các tài sản và lợi ích của một cá nhân trong danh sách được quy định ở điểm (c)(1) nếu những tài sản và lợi tức đó nằm ở Hoa Kỳ, rơi vào Hoa Kỳ, hoặc nằm ở hoặc rơi vào quyền sở hữu hoặc kiểm soát của một người Mỹ.”

Bản dịch của Huỳnh Thục Vy (Defend the Defenders)

June 10, 2013

1Quốc Hội thứ 113, 2013-2015. Văn bản được đệ trình ngày 9 tháng 5 năm 2013.


S. 929 IS

Quốc Hội thứ 113
Phiên họp thứ 1

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Việt - Mỹ, Tôn giáo | Tagged: , , , , , , , , , , , , | 32 phản hồi »

1700. Thử “giải mã” hiện tượng “cứng đầu” của người công giáo

Posted by adminbasam on 02/04/2013

Nguyễn Đình Ấm

Thời gian chính quyền Hà Nội tranh chấp khu đất 42 phố Nhà Chung( Hoàn Kiếm HN) với giáo xứ Hà Nội, một buổi tôi qua chỗ ngã ba Nhà Chung-Tràng Thi thấy một tốp cảnh sát đứng gác ở góc vườn hoa nói chuyện với nhau. Khi có một tốp dân từ phía Nhà Chung đi qua, một anh chỉ dùi cui bảo:

Đọc tiếp »

Đăng trong Tôn giáo | 52 phản hồi »

1688. Nhà thờ Thái Hà: Thánh lễ cầu nguyện cho Gia đình Đoàn Văn Vươn (31-3-2013)

Posted by adminbasam on 01/04/2013

Tới dự có người thân trong gia đình ông Đoàn Văn Vươn, vợ LS Lê Quốc Quân, vợ TS Cù Huy Hà Vũ-LS Dương Hà, các trí thức, nhà hoạt động xã hội như cụ bà Lê Hiến Đức, cụ bà Nguyễn Thị Trâm, TS Ngô Đức Thọ, TS Nguyễn Quang A, GS-TS Nguyễn Đông Yên, BS Phạm Hồng Sơn, TS Nguyễn Hồng Kiên, Nghệ sĩ Kim Chi, TS Nguyễn Xuân Diện, nhiều blogger và thành viên CLB NO-U, …

Đọc tiếp »

Đăng trong Tôn giáo | 42 phản hồi »

1266. Tây Tạng đang cháy – Trung Quốc chiếm đóng Tây Tạng bất hợp pháp

Posted by adminbasam on 23/09/2012

Top Secret Writers

Tây Tạng đang cháy – Trung Quốc chiếm đóng Tây Tạng bất hợp pháp

Tác giả: WC

Người Dịch: Dương Lệ Chi

18-09-2012

Năm 1949, Hồng quân Trung Quốc đã tiến vào Tây Tạng với một nhiệm vụ. Bây giờ, hơn sáu mươi năm sau, nhiệm vụ đó vẫn chưa hoàn tất.

Mặc dù những người Cộng sản chiếm được đất, nhưng họ đã không thắng được lòng dân. Quân đội kiểm soát mảnh đất Tây Tạng, nhưng áp bức đã không thể dập tắt mong muốn độc lập và tự do tôn giáo của người Tây Tạng.

Người dân Tây Tạng đã chiến đấu một cách anh dũng để duy trì sự tự do và toàn vẹn  của họ với tất cả hy vọng giành lại độc lập gần như đã bị mất. Như thế giới nhìn thấy, Tây Tạng đang cháy.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Tôn giáo, Trung Quốc, Văn hóa | Tagged: , , | 17 phản hồi »

585. Khái lược lịch sử đạo Tin lành ở Việt Nam

Posted by adminbasam on 23/12/2011

TẠP CHÍ  XƯA VÀ  NAY

Khái lược lịch sử đạo Tin lành ở Việt Nam

SỐ  392  THÁNG  11 – 2011

Nguyễn Đăng Bản

THÁNG 6 NĂM.2011, CỘNG ĐỒNG TÍN HỮU ĐẠO TIN LẦNH Ở VIỆT NAM LONG TRỌNG KỶ NIỆM 100 NĂM ĐẠO TIN LÀNH TRUYỀN VÀO VIỆT NAM. NHÂN DỊP SỰ KIỆN NÀY CHÚNG TÔI XIN CUNG CẤP MỘT SỐ THÔNG TIN KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAM THÔNG QUA MỘT TỔ CHỨC GIÁO HỘI TIÊU BIỂU CÓ SỐ LƯỢNG TÍN ĐỒ LỚN NHẤT LÀ HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM LÀM ĐẠI DIỆN NHẰM GIÚP NGƯỜI ĐỌC CÓ MỘT CÁI NHÌN TỔNG QUÁT VỀ LỊCH SỬ CỦA ĐẠO TIN LÀNH 100 NĂM QUA.

Theo thống kê ở Việt Nam hiện nay có khoảng trên 1 triệu người theo đạo Tin lành thuộc hơn 70 tổ chức, nhóm Tin lành khác nhau, đa sô các tổ chức Tin lành hiện nay được hình thành chủ yếu sau khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở thập kỷ 80, 90 của thế kỷ trước. Hiện tại đã có 9 tổ chức Tin lành được Nhà nước công nhận về tư cách pháp nhân, số còn lại thường được gọi là hội thánh Tin lành tư gia với số lượng từ vài trăm cho đến vài ngàn tín đồ. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu đề cập đến những vấn đề lịch sử của Hội thánh Tin lành Việt Nam thành lập năm 1927 (nguồn gốc CMA, tên gọi trước năm 1954) – tiền thân của Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) và Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) hiện nay.

Đọc tiếp »

Đăng trong Lịch sử, Tôn giáo | 12 phản hồi »

574. ẢNH HƯỞNG ĐỊA CHÍNH TRỊ CỦA VATICĂNG

Posted by adminbasam on 18/12/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

ẢNH HƯỞNG ĐỊA CHÍNH TRỊ CỦA VATICĂNG

 Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thữ bảy, ngày 17/12/2011

TTXVN (Pari 11/12)

Theo tạp chí “Ngoại giao” s chuyên đề tháng 8-9/2011, trong suốt thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21, Vaticăng đã tỏ ra là một chủ thể có sức hút mạnh mẽ, là trung tâm hành động quốc tế, trung tâm ngoại giao. Hoạt động ngoại giao của Vaticăng là một nhân tố hành động quan trọng trong cộng đồng quốc tế, ngay cả khi bỏ sang một bên những khía cạnh tôn giáo. Ngành ngoại giao Vaticăng là một trong những ngành lâu đời nhất thể giới và đáng nể nhất do “trình độ đào tạo chuyên nghiệp”. Nó khác với ngoại giao thuần túy của các quốc gia khác, vì vừa có tính chất thế quyền lẫn thần quyền.

Vaticăng hiện có quan hệ ngoại giao đầy đủ với 179 quốc gia. Việt Nam, do tính chất là nước có cộng đồng Công giáo 1ớn thứ hai ở châu Á, cũng đang là mục tiêu trong hoạt động thúc đẩy quan hệ ngoại giao của Tòa Thánh, như lời Giáo hoàng Benedict XVI từng nói nhân dịp Năm Thánh vừa qua: “Việt Nam là một đât nước gần gũi với trái tim tôi, nơi Giáo hội đang mừng kính sự hiện diện hàng mấy thế kỷ qua bằng một Năm Thánh”. Vậy thực tiễn hoạt động ngoại giao của Vaticăng như thế nào và xu hướng hoạt động thời gian tới ra sao, đang cần có lời giải.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Tôn giáo | 3 phản hồi »

525. Lộ rõ tim đen

Posted by adminbasam on 03/12/2011

Hà Nội mới

Linh mục Giáo xứ Thái Hà lôi kéo giáo dân biểu tình trái pháp luật:

Lộ rõ tim đen

03/12/2011 06:34

(HNM) – Hôm qua 2-12, một số linh mục Nhà thờ Thái Hà, trong đó có Chính xứ Nguyễn Văn Phượng đã cầm đầu, kích động lôi kéo gần 100 giáo dân lấy cớ nộp đơn đòi đất tại trụ sở tiếp công dân của thành phố (34 Lý Thái Tổ) để tụ tập, tổ chức biểu tình, gây mất trật tự công cộng xung quanh khu vực hồ Hoàn Kiếm.

Ảnh: do Ba Sàm bổ sung vì bài gốc không có

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Tôn giáo | Tagged: , | 293 phản hồi »

521. Linh mục, giáo dân Thái Hà biểu tình lần 2 tại Bờ Hồ

Posted by adminbasam on 02/12/2011

Sáng nay, giáo dân, tu sĩ và linh mục Giáo xứ Thái Hà lại tiếp tục xuống đường phản đối việc nhà nước tự ý cải tạo Tu viện Dòng Chúa cứu thế, một cơ sở của nhà dòng hiện đang bị mượn làm bệnh viện. Đây là cuộc xuống đường lần thứ 2 của giáo xứ Thái Hà.

8h30′: Linh mục, tu sĩ giáo dân Thái Hà cùng giáo dân từ các xứ trên địa bàn HN tập trung trước tượng đài Lý Thái Tổ.

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Tôn giáo | Tagged: , | 379 phản hồi »

443. “Không gian văn hoá” Nho giáo Việt Nam

Posted by adminbasam on 27/10/2011

TẠP CHÍ XƯA & NAY

“Không gian văn hoá” Nho giáo Việt Nam

SỐ 389 THÁNG 10-2011

Trịnh Văn Thảo

(Tiếp theo: 249. XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ TRÍ THỨC VIỆT NAM ; 325. Nho giáo Việt Nam dưới góc nhìn xã hội học lịch sử ; 399. NHO GIÁO VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN XÃ HỘI HỌC LỊCH SỬ).


Một đặc thái dân tộc: nho sĩ “bám rễ” nông thôn

Trái với nho sĩ Trung Quốc, nhà nho Việt Nam thời Lê – Nguyễn thường bám rễ ở nông thôn dân dã, mặc dù đời sống thành thị đã bắt đàu manh nha vào cuối thế kỷ XVII, các thương cảng như Phố Hiến, Hội An được tàu bè lớn ngoại quốc thăm viếng, buôn bán. Tuy nhiên, kho mục chí của Lịch triều hiến chương loại chí chỉ ghi tên ba ông Tiến sĩ nguyên quán tại Thăng Long từ 1442 đến 1787. Dưới Nguyễn triều, số lượng các đại đăng khoa cũng xuất thân từ đồng ruộng và sĩ tử vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh vượt qua thí sinh gốc Huế hay Thừa Thiên theo bảng thống kê sau:

Đọc tiếp »

Đăng trong Lịch sử, Tôn giáo, Văn hóa | 4 phản hồi »

412. Không ai đàn áp những người theo pháp môn Làng Mai

Posted by adminbasam on 11/10/2011

Đôi lời: Vụ việc xảy ra cách đây đã 2 năm và kéo dài, thu hút sự chú ý của người Việt trong, ngoài nước và dư luận quốc tế. Có rất nhiều tin, bài liên quan, nhưng chỉ xin giới thiệu dưới đây Thỉnh nguyện thư  hầu làm rõ bài viết trên báo Quân đội Nhân dân, từ đó độc giả chọn lựa, tin vào hơn 400 trí thức, nhà hoạt động và quần chúng công khai danh tính, hay vào một kẻ dấu mặt có “ẩn danh” Kim Ngọc.

Quân đội Nhân dân

Mục: Phòng, chống “diễn biến hòa bình”

Không ai đàn áp những người

theo pháp môn Làng Mai

Thứ Ba, 11/10/2011, 20:38 (GMT+7)
.

QĐND – Những ngày cuối tháng 9, đầu tháng 10 vừa qua, một số trang mạng có địa chỉ ở nước ngoài lại đưa ra những thông tin sai lệch về các biện pháp mà chính quyền các cấp ở tỉnh Lâm Đồng tiến hành để giải quyết việc tụ tập của một số người tu theo pháp môn Làng Mai tại Tu viện Bát Nhã. Họ gọi các biện pháp của chính quyền là hành động đàn áp, vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo… Họ còn nói rằng, một số lãnh đạo Giáo hội là “tỏ rõ sự nhu nhược…”, nên đã ít nhiều tiếp tay cho sự đàn áp…

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Tôn giáo | 24 phản hồi »

399. NHO GIÁO VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN XÃ HỘI HỌC LỊCH SỬ

Posted by adminbasam on 05/10/2011

TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY

SỐ 387 THÁNG 9-2011

NHO GIÁO VIỆT NAM DƯỚI

GÓC NHÌN XÃ HỘI HỌC LỊCH SỬ

Trịnh Văn Thảo

(Tiếp theo: 249. XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ TRÍ THỨC VIỆT NAM ; 325. Nho giáo Việt Nam dưới góc nhìn xã hội học lịch sử )

Nho giáo hướng về cuộc đời

Trong xã hội Nho giáo, nhà nước nắm độc quyền quản lý đời sống tinh thần và xem mọi sinh hoạt tôn giáo như hành vi chính trị. Tuy nhiên, trách nhiệm của nhà nước Khổng Mạnh trên mặt thượng tầng tôn giáo không phủ nhận sự hiện diện của các “hạ tầng tôn giáo” (infra – religions) như đạo thờ cúng tổ tiên có trước nó, vì lý do rất giản dị là Nho giáo luông hướng về đời sống hiện đại (thiên hạ) và nhà nho không bị ám ảnh bởi định mệnh của mình trong cõi chết. Đặc tính của nhà nho là chấp nhận rằng có nhiều sự việc bất khả tri luận (agnos – tique) (tr.208).

Đọc tiếp »

Đăng trong Lịch sử, Tôn giáo | 4 phản hồi »

390. Việt Nam: Cần phóng thích các nhà hoạt động tôn giáo ngay lập tức

Posted by adminbasam on 30/09/2011

HUMAN RIGHTS WATCH

Việt Nam: Cần phóng thích các

nhà hoạt động tôn giáo ngay lập tức

Các hành động đàn áp đe dọa tự do tôn giáo 

(New York, ngày 30 tháng Chín năm 2011) – Hôm nay, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền tuyên bố chính quyền Việt Nam cần chấm dứt ngay lập tức việc đàn áp các nhà hoạt động tôn giáo và phóng thích 15 người bị bắt vì đã bày tỏ niềm tin của mình. Các vụ bắt bớ, chủ yếu nhằm vào các tín đồ Công giáo Dòng Chúa Cứu thế, là một vết đen nữa trong bảng thành tích vốn đã nhiều vấn đề của Việt Nam về tự do tôn giáo.

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Tôn giáo | 31 phản hồi »

387. Nhân chuyện ông Trần Đăng Tuấn mở blog

Posted by adminbasam on 30/09/2011

Hahien’s Blog

Nhân chuyện ông Trần Đăng Tuấn mở blog

Hôm nay, đọc trên Blog Quê Choa của Bọ Lập thấy có bài của Bọ về chuyện ông Trần Đăng Tuấn, từng là Phó TGĐ Đài Truyền hình Việt Nam, mới mở blog.

Trong entry này Bọ Lập đã có lời khen “…cái ông Tuấn này viết văn được phết…”

Tôi đang chờ đợi trong blog của ông Tuấn sẽ có một entry chỉ vài từ  ngắn gọn rằng  “Tôi xin thành thực xin lỗi ông Ngô Quang Kiệt về những gì đã viết về ông”.

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Tôn giáo | Tagged: , | 271 phản hồi »

436. Việt Nam ngược đãi tín đồ Thiên Chúa giáo dân tộc thiểu số

Posted by adminbasam on 03/04/2011

The New York Times

Việt Nam ngược đãi tín đồ Thiên Chúa giáo dân tộc thiểu số

Seth Mydans

Ngày  31, tháng 3 năm 2011

BANGKOK — Theo một bản báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền [Human Rights Watch] công bố hôm thứ Năm thì Việt Nam đã gia tăng đàn áp người dân tộc thiểu số theo Thiên Chúa giáo ở Tây Nguyên, giải tán các buổi hội họp thân mật thành nhóm nhỏ để cầu nguyện, ép buộc họ công khai từ bỏ tín ngưỡng và bắt giữ nhiều tín đồ,

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Tôn giáo | Tagged: , , , , , , , , | Leave a Comment »

Trung Quốc và Vatican tiến tới bình thường hoá quan hệ

Posted by adminbasam on 30/07/2009

ASIA TIMES

Trung Quốc và Vatican đạt được một bước ngoặt cho niềm tin

Francesco Sisci

Ngày 31-7-2009

 

BẮC KINH – Vào ngày 24 tháng Bảy, tờ nhật báo Hong Kong Wen Wei Po được Bắc Kinh ủng hộ đã cho đăng một bài báo ngắn và không được rõ ràng về một quyết định có vẻ như không quan trọng về Thiên chúa giáo ở Trung Quốc.

Tờ báo đã cho biết ý định của Trung Quốc muốn trì hoãn hội nghị của Hội liên hiệp Công giáo Yêu nước thuộc nhà nước, tổ chức không được sự công nhận từ Tòa thánh của Đức Giáo hoàng và Hội nghị các giám mục, một thể chế Thiên chúa giáo quan trọng được thành lập vào những năm 1960 bởi Hội đồng Vatican II.

Trước đó, hội nghị này đã được lên nghị trình vào nửa cuối năm nay. Nó sẽ bổ nhiệm một người thay vào vị trí ông Fu Tieshan, một cựu giám mục Bắc Kinh, người từng là tổng thư ký và phó chủ tịch hội liên hiệp. Ông Fu, đã qua đời vào tháng Tư năm 2007, không phải là một giám mục hợp pháp đối với Tòa thánh của Đức Giáo hoàng, khi mà giáo hoàng đã không công nhận ông.

Hơn nữa, nhiều quyết định quan trọng có thể được thông qua tại hội nghị này. Một sự thay thế có thể đem đến việc bổ nhiệm ông Liu Bainian, phó chủ tịch trên thực tế của Hội liên hiệp Công giáo Yêu nước. Ông Liu, sinh năm 1931, từng đứng đầu phái của những người Công giáo Trung Quốc chính thức ủng hộ Bắc Kinh trong hàng chục năm nay.

Quan trọng nhất đối với Rome là những quyết định cần được đưa ra về hội nghị các giám mục – ai cần phải được trở thành người lãnh đạo tổ chức này và ai cần phải tham gia vào tổ chức này. Điểm cuối cùng này là rất quan trọng.

Có bốn vị giám mục không hợp thức ở Trung Quốc được Bắc Kinh chỉ định song lại không được giáo hoàng công nhận. Quan điểm của Trung Quốc là họ cần phải được hợp thức hóa gần như là đồng loạt và vì thế mà việc này cần phải là một phần trong nội dung cuộc họp. Rome biện luận rằng việc hòa giải với giáo hoàng là một vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng, thứ cần được quyết định bởi giáo hoàng sau một cuộc họp riêng và có thể là một quyết định với cá nhân từng giám mục một.

Vấn đề đối với Nhà thờ đang hoạt động bí mật * có vẻ dễ dàng hơn, song nó cũng có những cái bẫy. Rome nghĩ rằng sau việc bình thường hóa các mối quan hệ, các linh lục và giám mục cần được yêu cầu có cách thức cam kết nào đó đối với chính quyền, như nhiều chính phủ ở châu Âu đã làm với các linh mục Thiên chúa trước đây. Những ai không công nhận chính phủ ở Bắc Kinh sẽ không được tham gia hội nghị các giám mục. Điều này có thể giải quyết được vấn đề.

Một số giám mục hoạt động bí mật có thể sẵn sàng ký tên vào một cam kết với chính phủ sau khi bình thường hóa các mối quan hệ với Vatican, song Bắc Kinh có lẽ vẫn cự tuyệt họ, bởi vì các quan chức Trung Quốc có thể có sự nghi ngờ về lòng trung thành thực sự của họ và sợ những giám mục này có thể giúp chiếm đoạt quyền điều khiển hội nghị từ tay chính phủ hoặc gây ảnh hưởng tới hội nghị.

Điều cuối cùng song không phải kém quan trọng, là quan điểm của các giám mục từ Hong Kong và Macau. Bắc Kinh tin rằng khi mà những lãnh thổ này đã trở về với đại lục, vì thế cần tới giới tăng lữ ở đó – nên họ sẽ là bộ phận trong cuộc họp các giám mục của Trung Quốc. Song ngược lại, các giám mục từ hai thành phố giờ đây đang tập hợp lại cùng với các đồng đạo của mình ở Đài Loan, nơi mà như chúng ta đều biết, là một thực thể chính trị riêng biệt với Trung Quốc Đại lục và có được quyền tự do tôn giáo lớn hơn so với Bắc Kinh.

Tóm lại, các nan đề là nhiều và rắc rối. Thêm nữa, tờ Wen Wei Po cho biết rằng để có nhiều ứng cử viên hơn cho chức chủ tịch của cả hai Hiệp hội Công giáo và hội nghị các giám mục (một điểm khó khăn nữa), cuộc họp đã phải trì hoãn cho tới sang năm.

Đây là một yêu cầu từ phía tòa thánh của Đức Giáo hoàng, mà dường như Bắc Kinh đã chấp nhận. Điều này thực chất là rất quan trọng, song thậm chí quan trọng hơn do trong những tháng gần đây Rome đã để lộ ra một số tài liệu gây nên tranh cãi về Công giáo ở Trung Quốc. Đầu tiên là một bức thư được khởi thảo bởi Hồng y giáo chủ Tarcisio Bertone, ngoại trưởng Vatican và là nhân vật thực chất đứng thứ hai trong Tòa thánh, trong đó giải thích bức thư của giáo hoàng gửi cho người Trung Quốc được công bố từ ba năm trước. Ví dụ trong bức thư của Giáo chủ Bertone đã không đồng ý đóng cửa đối với những nhà thờ mở tại tư gia, thứ bị Bắc Kinh phản đối vì những nơi này nằm ngoài các kênh chính thức của nhà nước.

Tài liệu thứ hai là một bức thư của Hồng y giáo chủ Joseph Zen của Hong Kong, người lãnh đạo thực chất của Công giáo Trung Quốc, từng khuyến khích tất cả các giám mục được nhà nước công nhận ở Trung Quốc hãy lưu tâm một cách nghiêm túc tới các chỉ dẫn tôn giáo của Rome. Đây cũng là điều có thể được cân nhắc một cách khéo léo trong việc tiến tới thiết lập các mối quan hệ với Rome.

Thực tế là Bắc Kinh đã quyết định lờ đi hai dấu hiệu này và thay vào đó đã gửi đi một tín hiệu tích cực, là trì hoãn hội nghị các giám mục, một sự biểu thị rất mạnh mẽ cho một bước tiến bộ to lớn trong các mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Rome và là một thay đổi hoàn toàn về thái độ đối với đạo Thiên chúa ở Trung Quốc.

Thời điểm hiện nay có thể đã chín mùi cho việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao, khi mà những bước đột phá quan trọng cũng đã được hoàn tất trong các cuộc hội đàm giữa đôi bên. Tuy nhiên, mặt nước hồ có thể bị khoấy động một lần nữa. Một số ít người từng đóng những vai trò rất quan trọng trong cuộc đối thoại gần đây sẽ sớm rời bỏ vị trí của mình.

Hồng y giáo chủ Ivan Dias, người lãnh đạo của Propaganda Fide, một tổ chức chủ yếu nắm Giáo hội Thiên chúa ở Trung Quốc, sẽ hồi hưu do tuổi cao. Tương tự, hai nhân vật hàng đầu trong những nhiệm vụ này cũng sẽ rời vị trí của mình. Ông Pietro Parolin sẽ được đưa lên làm giám mục và được phái đi làm đại sứ của giáo hoàng ở hải ngoại, và ông Liu Haixin sẽ được đề bạt trong vài trò là một nhà ngoại giao cao cấp của Trung Quốc tại Âu châu.

Điều này có thể là một dấu hiệu thêm nữa cho thấy rằng cả hai bên tin tưởng hầu hết vào công việc đã được thực hiện và một số quan chức có thể được cử vào những vị trí công tác cao khác. Tuy nhiên, con đường đi tới việc bình thường hóa các quan hệ giữa Trung Quốc và tòa thánh của Giáo hoàng cho đến lúc này đã tỏ ra hết sức nan giải và đầy cạm bẫy.

Có một điều – mà trong đó hai trong số những nhà ngoại giao cao niên nhất trên thế giới biết rất rõ – là hiện có những con người có thực quyền đứng đằng sau những kẻ khác, và những người khác thì sẽ đem tới những kết quả khác. Tiếp đến, việc thay đổi một đội hình đang chiến thắng trong khi cuộc đua chưa có vẻ đã kết thúc và giành được thắng lợi có thể không phải là chọn lựa tốt nhất. Trừ phi, sau thời gian quá dài, một bên hay cả hai bên sẽ nghĩ đến việc phải từ bỏ, hay đơn giản là lơi lỏng mối quan tâm vào một thời điểm khi cần phải được chú ý cao độ nhất.

Francesco Sisci là Biên tập viên Á châu của tờ La Stampa.

Hiệu đính: Trần Hoàng

 

* Khác với Việt Nam, ở Trung Quốc có nhiều nhà thờ Thiên chúa sinh hoạt tín ngưỡng bí mật, không chấp nhận theo tổ chức do nhà nước công nhận, quản lý và bổ nhiệm các vị chức sắc (BS).

————————-

 

China and the Vatican take a leap of faith

By Francesco Sisci

Jul 31, 2009

BEIJING – On July 24, the Beijing-backed Hong Kong daily Wen Wei Po ran a small and obscure article on an apparently minor decision about Catholics in China.

The newspaper reported China’s intention to postpone the meeting of the official Catholic Patriotic Association, which is not recognized by the Holy See, and the conference of bishops, an important Catholic institution established in the 1960s by the Vatican Council II.

Previously, the meeting was scheduled for the second half of this year. It would have named a replacement for Fu Tieshan, the former bishop of Beijing, who was secretary general and vice chairman of the association. Fu, who passed away in April 2007, was not a legitimate bishop for the Holy See, as the pope did not recognize him.

Furthermore, many important decisions could have been made at the meeting. A replacement could have been named for Liu Bainian, the actual vice chairman of the Patriotic Association. Liu, born in 1931, was head of the official pro-Beijing faction of the Chinese Catholics for decades.

Most importantly for Rome, decisions need to be made about the conference of bishops – who should be its chairman and who should take part in it. The last point is very sticky.

There are four illegitimate bishops in China who are appointed by Beijing but not recognized by the pope. China’s view is that they should be legitimated almost wholesale and thus should be part of the conference. Rome argues that reconciliation with the pope is a holy and religious matter, which should be decided by the pope after a private meeting and possibly a confession with each individual bishop.

The issue of the underground Church is apparently easier, but it also has traps. Rome thinks that after the normalization of ties, priests and bishops should be asked to make some kind of pledge to the government, as many European governments did with Catholic priests in the past. The ones who will not recognize the Beijing government would be out of the conference of bishops. This would solve the problem.

Some underground bishops might be willing to subscribe to an official pledge to the government after the normalization of ties with the Vatican, but Beijing may still refuse them entry, because Chinese officials may be suspicious of their true loyalty and fear the bishops might help to hijack the conference from government control or influence.

Last but certainly not least, there is the position of the bishops from Hong Kong and Macau. Beijing believes that as the territories have returned to the motherland, so should their clergy – they should be part of China’s conference of bishops. Yet conversely, bishops from the two cities now assemble with their colleagues from Taiwan, which, as we all know, is a separate political entity from Mainland China and offers greater religious freedom than Beijing.

In sum, the problems are many and troublesome. Plus, Wen Wei Po reported that in order to have more candidates to the presidency of both the Catholic Association and the conference of bishops (another difficult point), the meeting had to be postponed until next year.

This had been a request from the Holy See, which Beijing has apparently accepted. This is very important per se, but even more important because in recent months Rome has come out with a couple of controversial documents for Chinese Catholics. The first was a letter drafted by Cardinal Tarcisio Bertone, Vatican’s secretary of state and the virtual number two in the Holy See, interpreting the pope’s letter to the Chinese, which was issued three years ago. Bertone’s letter, for example, did not close the door to the home churches, which are opposed by Beijing because they are outside the official channels.

The second document was a letter by Hong Kong’s Cardinal Joseph Zen, the virtual head of the Chinese Catholics, who encouraged all Chinese official bishops to strictly heed Rome’s religious directives. This was also something that could be considered tricky in forging ties with Rome.

The fact that Beijing decided to ignore these two signals and instead sent a positive sign, the postponement of the conference of bishops, is a very strong indication of a massive improvement of ties between Beijing and Rome and of a radical change of attitude about Catholicism in China.

The time may now be mature for the normalization of the diplomatic relationship, as important breakthroughs have also been achieved in talks between the two sides. However, waters might become agitated once more. A few people who played very important roles in the recent dialogue will soon leave their positions.

Cardinal Ivan Dias, the head of Propaganda Fide, the organization that at the moment handles the Church in China, will retire because of old age. Similarly, the two point men of the talks will leave their positions. Pietro Parolin will be elevated to bishop and sent as a Nuncio abroad, and Liu Haixin will be posted as a senior Chinese diplomat in Europe.

This could be a further indication that both sides believe most of the job is done and some officers can be sent to other major posts. However, the path to normalization of ties between China and the Holy See has so far proved to be very slippery and full of snares.

For one thing, there is the problem – which two of the most ancient diplomacies in the world know well – that institutions in reality walk on the backs of men, and different men bring different results. Then, changing a winning team when the race is not quite finished and won may not be the best of choices. Unless, after so much time, one or both sides is thinking of giving up or simply relaxing at a time when attention should be sharpest.

Francesco Sisci is the Asia Editor of La Stampa.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

Đăng trong Tôn giáo, Trung Quốc | Tagged: | Leave a Comment »

TRIỀU NGUYỄN VỚI THIÊN CHÚA GIÁO

Posted by adminbasam on 29/07/2009

CHÍNH SÁCH CỦA TRIỀU NGUYỄN ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA GIÁO

PGS.TS. Đỗ Bang *

Trường Đại học Khoa học Huế

 

Thiên Chúa giáo du nhập vào Việt Nam từ năm 1533, đây không chỉ là vấn đề thuần túy của tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa mà là vấn đề chính trị-xã hội rất nhạy cảm qua các thời kỳ lịch sử có chế độ chính trị khác nhau. Tính độc tôn và tính kiêu hãnh của Thiên chúa giáo cùng những nghi thức mang tính tương khắc với văn hóa truyền thống và sự lạm dụng chính trị của các thế lực bên ngoài đối với Thiên chúa giáo là nguyên nhân dẫn đến các chính sách đối với Thiên chúa giáo của nhà cầm quyền Việt Nam trong đó có triều Nguyễn.

Những người truyền giáo cho rằng chi phái Cơ đốc truyền vào Việt Nam là dòng chính thống trực thuộc tòa thánh La Mã, đại diện cho sự ưu việt và tính hoàn vũ nhất so với bất kỳ tôn giáo nào. Nên việc truyền giáo và bảo vệ đạo là nhiệm vụ thiêng liêng của nhân loại văn minh, họ không những không muốn thỏa hiệp với bất cứ tôn giáo nào mà phải xóa sạch các tôn giáo bản địa để xây dựng một Thiên chúa giáo độc tôn, một đức tin tuyệt đối về Chúa. Do vậy, họ đưa ra các điều cấm kỵ như cấm lạy xác người chết, cấm dâng hương đốt nến cho người chết, cấm đọc văn tế, cấm mặc tang phục. Những định hướng và giải pháp mang tính siêu hình và cưỡng chế nói trên đã chạm mạnh vào tư tưởng dân tộc và văn hóa truyền thống nên dễ gây ngộ nhận, kích động dẫn đến chính sách kỳ thị, cấm đạo của triều đình nhà Nguyễn và được đông đảo nhân dân vốn mang nặng tính ngưỡng sùng bái tổ tiên đồng tình ủng hộ.

1. Triều Gia Long (1802 – 1819)

Trong các vua triều Nguyễn ở thời kỳ tự chủ, Gia Long là người rất có thiện chí với Thiên chúa giáo nhưng ông vẫn chủ trương bảo vệ Nho giáo và nghi lễ thờ cúng tổ tiên; ông cũng cho rằng địa ngục, thiên đàng của luận thuyết Thiên chúa giáo là sự dị đoan chỉ làm mê hoặc, quyến rũ những người thiếu hiểu biết1.

Nhưng quan điểm của vua Gia Long cho rằng người theo Thiên chúa giáo cũng là công dân nếu họ không tin tưởng vào thờ cúng tổ tiên và các thần linh thì cũng không nên cấm đoán họ 2.

Không một lệnh cấm đạo nào được ban hành dưới thời Gia Long, các giáo sĩ đều cho rằng đây là giai đoạn thuận lợi cho việc truyền giáo ở Việt Nam.

Tuy nhiên, Gia Long vẫn thấy nguy cơ về mất chủ quyền mỗi khi cơ hội đến với phương Tây thông qua con đường bảo vệ đạo Thiên chúa nên ông căn dặn người kế vị (Minh Mạng) không nên đối xử phân biệt giữa các đạo Nho, Phật, Thiên chúa giáo. Việc khủng bố tôn giáo sẽ là nguyên nhân dẫn đến các biến động xã hội và gây ra thù oán trong nhân dân; đôi khi làm sụp đổ cả ngôi vua.

2. Triều Minh Mạng (1820-1840)

Chọn Minh Mạng kế vị, Gia Long đã nhận thấy được khả năng quyết đoán của một con người cứng rắn có thể giải quyết các công việc phức tạp của triều đình, đặc biệt là đối với phương Tây trong đó có vấn đề truyền giáo luôn làm cho nhà vua trăn trở, âu lo.

Năm 1824, chính phủ Pháp cử J. B. Chaigneau sang Huế để duy trì hoạt động ngoại giao có từ thời Gia Long. Năm đó, có một tàu Pháp đến Đà Nẵng mang thư và lễ vật của vua Pháp gửi đến vua Minh Mạng nhưng bị Minh Mạng từ chối, một số giáo sĩ nhân đó trốn lên được đất liền để truyền giáo.

Năm 1825, vua Minh Mạng ban hành dụ cấm đạo: “Các tôn giáo sai trái của người Tây Dương làm hư hỏng lòng người. Đã từ lâu nhiều tàu Tây Dương đến đây buôn bán và đã để lại các đạo trưởng trong vương quốc này. Các đạo trưởng đã lôi kéo và làm hỏng nhân tâm, làm suy thoái thuần phong mỹ tục. Đó chẳng phải tai họa lớn cho đất nước. Vậy phải chống lại sự lạm dụng này để đưa dân chúng trở lại con đường chính… phải canh phòng cẩn thận mặt hải cảng, miền núi, tất cả mọi ngả đường thủy bộ để ngăn không cho các đạo trưởng Tây Dương xâm nhập lén lút, trà trộn vào dân chúng để gieo rắc bóng đen trên vương quốc”3. (?) õ hoạt động truyền giáo, Minh Mạng lệnh cho các giáo sĩ về kinh đô Huế lấy cớ là để dịch sách.

Năm 1831, chính phủ Pháp cử một tàu đến Huế đặt lại quan hệ ngoại giao nhưng bị vua Minh Mạng cự tuyệt. Những động thái đối ngoại đầy kiêu kỳ này của Minh Mạng đã gây sự phản ứng cho nhiều giới chức Pháp.

Năm 1832, Minh Mạng ra dụ: “Cái thuyết thiên đường, tóm lại chỉ là chuyện hoang đường, không có bằng chứng. Hơn nữa nếu không kính thần minh, không thờ tiên tổ thì rất trái với chính đạo. Những việc trái luân lý, hại phong hóa, điều ấy kể ra còn nhiều, thực đã phạm đến pháp luật. Đạo ấy quy là tà đạo hơn đạo nào hết”4.

Năm 1832, nhân vụ giáo sĩ người Pháp có tên là Phạm Văn Kinh ở họ đạo Dương Sơn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên bí mật truyền đạo, cầu kinh. Quan phủ Thừa Thiên nhiều lần gọi đến công đường khuyến cáo nhưng không một ai chịu bỏ đạo. Năm đó, Minh Mạng ra lệnh cho các quan tỉnh “ khuyến cáo bỏ đạo, ai thành thực bước qua cây Thập tự thì miễn tội, nhà thờ, nhà giảng cho hủy diệt đi, ai cố tình không tuân bị tội nặng”5.

Châu bản triều Nguyễn có ghi lại việc theo dõi giáo sĩ Phạm Văn Kinh qua bản tâu của Bộ Hình ngày 25 tháng 5 năm Minh Mạng 19 (1838) như sau: Có tên Phạm Văn Kinh, người Tây Dương, tháng 5 năm Minh Mạng 13 (1832), can án về truyền đạo Gia Tô ở làng Cổ Lão, phủ Thừa Thiên bị kết án giảo giam hậu mong ơn phát làm kinh ở phủ Thừa Thiên nhưng vẫn không chừa, ngày đêm giảng đạo tà giáo, lại đày đi đồn phủ ở Ai Lao, sau lại cho trở về an trí ở huyện Cam Lộ. . . Bộ chúng tôi cho người lên Cam Lộ mật thám xem Phạm Văn Kinh có lén thông tin tức gì chăng. Biết rằng Phạm Văn Kinh ở trên ấy, ngày thường có nhiều người tới lui, tiền bạc ăn tiêu dư giả, vã xem bộ kiêu căng không sợ gì cả. Vừa rồi dân Quảng Trị có người theo tà đạo, không chịu bước qua hình chữ thập, vậy xin giao Phạm Văn Kinh cho tỉnh Quảng Trị tra tấn cho ra việc”6. Qua đó mới thấy sự cẩn trọng, khoan dung của triều đình Huế đối với các giáo sĩ nước ngoài và vấn đề cấm đạo không đơn giản như các tội phạm khác.

Năm 1834, Minh Mạng ban hành “Thập điều giáo huấn”, nhà vua chỉ ra rằng: Đạo Gia tô lại càng vô lý “Trai gái chung đụng hỗn tạp, việc làm này giống như cầm thú. . . Đó là làm cho bại hoại luân lý, hư hỏng giáo hóa, không thể tin được. Nếu người nào đó bị dỗ dành thì nên mau chóng bỏ đi. Phần các việc quan, hôn, tang, tế đều phải theo lễ tục nước nhà. . . ”7.

Năm 1835, Phan Bá Đạt, Phó đô ngự sử Viện Đô sát tâu: Cố đạo Mã Song (Marchand) ở Gia Định đồng lõa với Lê Văn Khôi khi bị bắt khai rằng “Thầy thuốc người Tây Dương khoét mắt người sắp chết để chế thuốc”, còn “Tà giáo Tây Dương cho một trai, một gái ở chung một nhà có tường gạch ngăn cách, khi động tình dục, rập cho chúng chết bẹp, ép lấy nước xác chết, hòa làm bánh cho người theo đạo ăn khiến cho họ mê đạo không bỏ được”; rồi nghe nói “Trai gái lấy vợ, lấy chồng, đạo trưởng đem người con gái vào nhà kín với danh nghĩa giảng đạo thực ra để dâm ô…”8. Những chuyện này được phịa ra trong dân gian và quan Đô ngự sử Phan Bá Đạt đã khéo thêu dệt thành những mẩu chuyện ly kỳ, hấp dẫn nên dễ gây ấn tượng trong triều đình và tạo nên sự phẫn nộ trong công chúng. Việc giết đạo từ đó càng khốc liệt hơn.

Từ năm 1825 – 1838 có 4 Giám mục, 9 Linh mục ngoại quốc, 20 Linh mục người Việt và hàng trăm giáo dân bị sát hại 9.

Tháng 10 năm 1839, Minh Mạng ban hành dụ cấm đạo: Buộc tất cả những người theo đạo phải bỏ đạo trong vòng một năm, xây dựng chùa chiền vào những nơi trước đây xây dựng nhà thờ. Tất cả thần dân phải tích cực trông nom chùa chiền.

Dụ cấm đạo mới này đã gây sự căm phẫn trong giáo đồ và giới chức Thiên chúa giáo, làm chấn động xã hội. Tuy nhiên, chính phủ Pháp và triều đình Huế cũng mong muốn có sự hiểu biết cần thiết và thiện chí từ cả hai phía để có thể xích lại gần và cải thiện tốt hơn tình thế gay cấn vốn có. Năm 1840, Minh Mạng cử Phan Thanh Giản cầm đầu một phái đoàn sang Pháp để tìm hiểu tình hình với mong muốn xây dựng quan hệ ngoại giao tốt hơn. Nhưng điều mà cả hai phía không muốn đã xảy ra là khi phái đoàn của triều đình Huế đến Pháp bị các giới chức trong giáo hội thừa sai Paris phản đối kịch liệt và vận động một cuộc tẩy chay trên báo chí, làm áp lực mạnh mẽ với nhà vua nên vua Pháp buộc phải từ chối tiếp phái đoàn của triều đình Huế.

Tuy thế, số giáo dân dưới thời Minh Mạng vẫn được tiếp tục tăng, vào năm 1840, cả nước có 3 Giám mục, 2 Phó giám mục, 24 Linh mục ngoại quốc, 144 Linh mục người Việt và 420. 000 giáo dân 10.

3. Triều Thiệu Trị (1841 – 1847)

Dưới thời Thiệu Trị, nhà vua vẫn duy trì chính sách cấm đạo được ban hành từ thời Minh Mạng nhưng không tỏ ra tích cực như triều vua trước. Phần lớn các giáo sĩ bị bắt đều được Thiệu Trị cho lãnh án “trảm giam hậu” (tội chết nhưng giam đợi xét), rồi cuối cùng cũng được trả tự do. Đối với các quan theo đạo nhà vua kiên trì thuyết phục tạo cho họ có cơ hội bỏ đạo đó là trường hợp quan thủ ngự Hồ Văn Dường ở tỉnh Đồng Nai đã tự nguyện bỏ đạo bằng cách bước qua cây Thánh giá nhưng vẫn chưa chịu dự lễ tế thần ở miếu Kỳ, trình nhà vua xem xét 11.

Năm 1841, các giáo sĩ Miche, Duclos, Galy, Berneux và Charries bị bắt và bị kết án tử hình nhưng Thiệu Trị không cho thi hành án. Năm 1843, tàu chiến Pháp Héroine tự tiện đến Đà Nẵng, thuyền trưởng Felix Favin Lévecque yêu cầu triều đình Huế thả các giáo sĩ trên. Thiệu Trị chấp thuận và trao các giáo sĩ cho viên thuyền trưởng nói trên; tàu Pháp rời cảng Đà Nẵng ngày 16-3-1843.

Tháng 11 năm Thiệu Trị thứ 7 (4-1-1848), Bộ Hình dâng sớ phóng thích quan phạm, trong đó có trường hợp Nguyễn Văn Thiện ở tỉnh Phú Yên: “Thiện theo dạo Gia Tô, không chịu bỏ bị ghép tội giảo giam hậu (giam đợi ngày thắt cổ) qua đến tháng 6 năm thứ 6 (1846), y được tha chết, đày ra làm lính ở Hưng Hóa, quan tỉnh nhiều lần khuyên giải, y cũng không chịu bỏ đạo. Nay gặp dịp ân xá, y được tha về quê” 12.

Chính sách mềm dẻo về cấm đạo thời Thiệu Trị đã làm cho số giáo dân được tăng thêm nhất là tại Trung và Nam Kỳ.

Năm 1844, địa phận giáo hội được chia ra như sau:

- Địa phận Huế gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên do Pellerin làm Giám mục.

- Địa phận Quy Nhơn gồm các tỉnh Trung Kỳ còn lại do Cuénot làm Giám mục.

- Địa phận Sài Gòn gồm các tỉnh Nam Kỳ còn lại do Lefèbre làm Giám mục.

Tuy nhiên, trong nhận thức Thiệu Trị vẫn cho Thiên chúa giáo luôn là nguy cơ của mất chủ quyền và đảo lộn phong hóa dân tộc. Nhà vua xem Thiên chúa giáo cũng là mầm gây tai họa không kém gì thuốc phiện và đều do người phương Tây mang lại. Năm 1847, nhân triều đình bàn về việc người phương Tây đến xin buôn bán và truyền giáo, nhà vua ra dụ: “ Người Tây Dương lòng vốn xảo trá, nếu bỏ cấm đạo thì Anh Cát Lợi nghe thấy cũng cầu xin bỏ cấm thuốc phiện. Nhưng địch là giống sài lang, không thể thỏa mãn được nó. . . Vả lại đạo Gia tô là tà giáo, cái hại rồi sẽ đến bởi chuyện ngoài biên, mở đường cho chinh chiến. Thuốc phiện là thứ thuốc mê, cái hại của nó rồi sẽ khuynh gia bại sản, hại đến tính mạng người ta. Hai việc ấy đều nghiêm cấm trong nước…”13.

Năm 1847, Đô đốc Cécille chỉ huy hải quân Pháp đến uy hiếp, 5 chiến thuyền của triều đình ở cửa biển Đà Nẵng bị tàu Pháp tấn công. Tức giận vì bị sỉ nhục, vua Thiệu Trị ra lệnh chém các quan đã không hoàn thành nhiệm vụ giữ cảng, rồi chỉ thị cho các quan địa phương nghiêm khắc thực hiện lệnh bắt đạo trên cả nước.

4. Triều Tự Đức (1848 – 1883)

Những áp lực quân sự và ngoại giao của Pháp đã đưa đến những sóng gió dưới triều đình Tự Đức đã gây ra nhiều biến cố trong giáo hội Thiên chúa giáo ở Việt Nam.

Giai đoạn 1848 – 1862 là thời kỳ khốc liệt trong cuộc chiến Việt – Pháp không cân sức cũng là thời kỳ sát đạo gay gắt của triều đình Huế với các nhà truyền giáo và giáo dân.

Năm 1848, lúc mới lên ngôi vua, Tự Đức đã phê duyệt lệnh cấm đạo: “Phàm những đạo trưởng Tây Dương đến nước ta thì cho quân dân mọi người ai có thể bắt được nộp quan, thưởng cho 300 lạng bạc. Còn người đạo trưởng Tây Dương ấy do quan sở tại xét hỏi rõ ràng lý lịch, lập tức đem việc dâng tâu, cho đem đích thân nạn nhân ấy ném xuống biển. Còn những đạo trưởng và bọn theo đạo là người nước ta, xin do các nha lại xét việc hình hai, ba lần mới báo cho biết tội, nếu họ biết hối cải bỏ đạo bước qua cây giá chữ thập thì thả ra ngay. Người nào không chịu nhảy qua cây giá chữ thập thì người đạo trưởng cũng nên xử tử, các con chiên theo đạo hãy tạm thích vào mặt, đuổi về cho vào sổ dân. Nếu họ biết hối cải thì cũng cho đến quan để trừ bỏ thích chữ ấy đi”14.

Giải pháp bắt bỏ đạo bằng cách bước qua cây Thánh giá đối với giáo sĩ và giáo dân trong buổi đầu của triều Tự Đức tuy không mới nhưng phương thức thực hiện mềm dẻo hơn và có tính phân biệt trong việc xét xử nhằm tạo cơ hội cho người Việt theo đạo có thể trở về quê quán làm ăn bình thường.

Năm 1851, sau vụ Hồng Bảo, con trai trưởng của vua Thiệu Trị mưu lật đổ Tự Đức không thành, do nghi ngờ liên kết với Thiên chúa giáo nên Tự Đức ban hành dụ cấm đạo gay gắt hơn: “Để làm sáng tỏ chính đạo, cần phải bắt và ném xuống sông các đạo trưởng Tây Dương hoặc là người Việt Nam, dù chúng có chà đạp hay không chà đạp lên cây Thập tự giá, phải chặt chúng ra làm hai để cho mọi người cùng biết sự nghiêm ngặt của pháp luật nước ta”15. Việc bắt đạo từ đó càng ráo riết và giết đạo càng khốc liệt hơn.

Năm 1857, Tự Đức ra lệnh chém quan Tam phẩm Thái bộc Tự khanh Hồ Đình Hy vì viên quan theo Thiên chúa giáo nhưng không chịu bỏ đạo lại ngấm ngầm tiếp xúc với giặc, mưu phản quốc. Vụ án này có 29 giáo dân bị bắt, trong số đó có 17 người không chịu bỏ đạo nên bị lưu đày.

Tiếp theo là sự xuất hiện một số giáo sĩ và giáo dân trong đội quân viễn chinh Pháp trong các cuộc tấn công vào Đà Nẵng, Gia Định năm 1858, 1859, 1861 làm cho triều đình Tự Đức có đủ chứng cứ về âm mưu sử dụng tôn giáo của giặc Pháp và phản bội của một số giáo dân 16 nên triều đình đã ban hành nhiều lệnh dụ cấm đạo bằng cách xử tử hình, đạp lên Thánh giá, bắt buộc bỏ đạo, thích chữ vào mặt, đi đày. . .

Năm 1861, Tự Đức ra sắc lệnh “Phân tháp giáo dân” nhằm phân tán, cô lập, kiểm soát và tiêu diệt mầm chống dối của giáo dân 17. Chỉ dụ này được các cấp chính quyền chấp hành nghiêm chỉnh là một đòn chính trị, tâm lý đánh vào cân não và tình cảm của giáo dân và tổ chức của giáo hội Thiên chúa giáo; làm phá hủy các làng và các cơ sở Thiên chúa giáo, các gia đình theo Thiên chúa giáo buộc phải ly tán để tự tiêu vong, họ hàng, bà con xa lánh. Giáo dân không có cơ hội để làm lễ, sinh hoạt hội đoàn, cách ly với các giáo sĩ và các tổ chức tôn giáo; bản thân những người theo đạo thường xuyên bị giám sát, con cái bị cách ly khỏi môi trường tôn giáo và làm con tin.

Với chính sách giết đạo oan nghiệt này, ngoài các giáo sĩ phương Tây bị sát hại, trong thời gian này có đến 115 linh mục người Việt bị giết, 50 nữ tu viện bị phá hủy, 2600 nữ tu phải di tản, 100 nữ tu bị giết, khoảng 100 làng giáo dân bị san thành bình địa, 10. 000 chức sắc trong các họ đạo bị bắt giam, trong số đó hơn một nửa bị giết; 2000 xứ đạo bị triệt hạ, 300. 000 giáo dân bị phân tháp, trong số đó có 50. 000 người bị giết.

Giai đoạn 1862-1874 là thời kỳ hiệp thương, nhân nhượng của triều đình nên Thiên chúa giáo được tự do truyền giảng. Khoản 2 của hiệp ước Nhâm Tuất (1862) quy định: “Công dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha có thể hành đạo Gia Tô trong nước Việt Nam và công dân của nước này, bất luận ai, nếu muốn theo đạo Gia Tô thì theo và không bị ngăn trở; nhưng không được cưỡng bức ai trở thành tín đồ Gia Tô nếu người ấy không muốn”18.

Năm 1865, Tự Đức lại ra một chỉ dụ chính thức cho phép các giáo sĩ tự do truyền giáo và dân chúng được tự do theo đạo.

Tuy nhiên, sự nhượng bộ của triều đình không những đã dẫn đến bức xúc, phản đối kịch liệt của các sĩ tử dự kỳ thi Hương ở Huế, Hà Nội, Nam Định năm 1864 làm triều đình Tự Đức mất uy thế mà cũng là cớ để Pháp leo thang đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ năm 1868.

Năm 1874, Pháp ép triều đình Huế ký hiệp ước công nhận chủ quyền của Pháp ở Nam Kỳ và được tự do truyền giáo.

Theo hiệp ước Giáp Tuất (1874), người theo đạo Thiên chúa có quyền dự các kỳ thi do triều đình tổ chức và tham gia vào bộ máy nhà nước các cấp, tham dự vào các hoạt động chính trị, xã hội của đất nước như một công dân bình thường, bình đẳng như mọi công dân khác.

Giai đoạn 1874-1883 là thời kỳ Thiên chúa giáo được hoạt động hợp pháp, nhiều nhà thờ được xây dựng trên cả nước, đất đai, tài sản của giáo hội được mở rộng, giáo dân cũng gia tăng.

Hiệp ước Giáp Tuất tránh được các cuộc đổ máu từ triều đình, nhưng đây lại là thời kỳ đẫm máu do các phong trào văn thân phản đối nghị hòa của triều đình và phong trào “Bình Tây sát tả” diễn ra rất mạnh ở Trung và Bắc Kỳ, làm nhiều làng theo đạo bị tàn phá, nhiều linh mục và giáo dân bị giết, làm cho uy thế triều đình Tự Đức giảm sút nghiêm trọng, tình hình xã hội càng phức tạp hơn, tạo lợi thế cho Pháp và những tay sai nhanh chóng dùng vũ lực để chiếm đoạt đất nước ta.

* * *

Tuy không thực hiện chính sách cấm đạo nhưng việc truyền giáo dưới thời Gia Long cũng không phải thuận lợi vì tính chất ý thức hệ giữa một triều đình chọn Nho giáo làm khuôn mẫu chính trị với đội ngũ quan chức từ các nho gia được đào tạo ngày càng đông đảo lên nắm quyền trở nên bảo thủ và một bên là Thiên chúa giáo và những người truyền đạo tự nhận là tôn giáo siêu việt của loài người mang tính độc tôn cần được truyền bá hệ tư tưởng và văn minh đó trên toàn cầu. Cả hai đều muốn thu phục, cảm hóa người dân về phía mình bằng “đức tin” để có một hậu thuẫn xã hội, rộng rãi và vững chắc.

Dưới triều Minh Mạng và Thiệu Trị khi vấn đề truyền giáo trở nên cấp bách đối với các nước phương Tây và kèm theo là áp lực quân sự, tôn giáo trở thành vấn đề chính trị bức thiết và sâu sắc đối với triều đình Huế. Lệnh cấm đạo được triều đình ban hành nhưng các giáo sĩ vẫn lén lút truyền giáo. Để ngăn chặn nguy cơ về chủ quyền sẽ bị mất, tình hình xã hội sẽ hỗn loạn và vấn đề văn hóa truyền thống bị xâm hại, triều đình Huế huy động cả hệ thống chính trị và xã hội để đương đầu. Đó là một hệ thống nhà nước và pháp luật từ trung ương đến địa phương cùng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thần linh trong toàn xã hội làm công cụ để ngăn chặn và chiến đấu, đã dẫn đến nhiều vụ tàn sát đẫm máu, dã man làm những người theo đạo vốn có khoảng cách nay bị đào sâu thêm hố chia cách, một nguy cơ mới của dân tộc sắp đến gần.

Dưới triều Tự Đức lệnh cấm đạo vẫn được ban hành cùng những biến động trong cung đình và xã hội đã làm cho thế nước rã rời, suy yếu. Lấy cớ bảo vệ giáo sĩ và giáo dân bị sát hại, liên quân Pháp – Tây Ban Nha đem quân tấn công vào Đà Nẵng (1858) có một số giáo sĩ và giáo dân làm nội ứng, tình hình sát đạo trở nên phổ biến và khốc liệt hơn, nhất là sau khi triều đình cho thực hiện lệnh “phân tháp giáo dân” năm 1861. Một cuộc chiến tranh mang tính trả thù của người nắm quyền lực đối với những làng theo đạo và giáo dân không vũ khí tự vệ vô cùng dã man chưa từng thấy trong lịch sử nước ta. Triều đình Huế tưởng đó là giải pháp sáng suốt và hiệu quả nhằm tiêu diệt giáo dân và giáo xứ thì không ngờ sau đó thế nước lại rã rời hơn, Pháp cho quân đánh chiếm Gia Định buộc triều đình Huế ký hiệp ước năm 1862, chấp nhận cho các giáo sĩ được truyền giáo và quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân.

Thấy rõ truyền giáo là mục tiêu quan trọng của Pháp nên triều đình Tự Đức bãi bỏ lệnh cấm đạo, xoa dịu các giáo sĩ và giáo dân bị hại, phê phán các cuộc khởi nghĩa chống Pháp, đặc biệt là các thủ lĩnh phong trào “Bình Tây sát Tả”. Sự tỉnh ngộ của Tự Đức đúng lúc nhưng triều đình Huế từ đó bị cô lập trước sức tấn công của quân Pháp và các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân, lại bị đại bộ phận nhân dân bỏ rơi kể cả những người theo đạo và những người chống đạo. Một triều đình cô thế, không còn được hậu thuẫn của nhân dân và thiếu quyết tâm đánh giặc là nguyên nhân dẫn đến những thất bại liên tiếp cho đến năm Tự Đức qua đời (1883), quân Pháp đánh vào cửa Thuận An, buộc triều đình Huế ký hiệp ước Quý Mùi, chấp nhận sự đô hộ của thực dân Pháp đối với toàn cõi nước ta.

Chính sách cấm đạo của các vua Nguyễn là một trong những nguyên nhân để liên quân Pháp – Tây Ban Nha đánh vào Đà Nẵng (1858) và cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến sự thất bại của triều đình Tự Đức trong cuộc chiến chống Pháp vào thế kỷ XIX.

Chính sách đối với Thiên chúa giáo có liên quan trực tiếp đến chủ quyền và vận mệnh dân tộc là một sai lầm của triều Nguyễn để cả dân tộc phải trả giá bằng máu xương và sự sĩ nhục là bài học muôn thuở để các thế hệ Việt Nam tìm cho mình một chính sách tôn giáo đúng đắn, phù hợp trong từng giai đoạn lịch sử và bối cảnh chính trị trong nước và quốc tế khác nhau.

————

 

* Ghi chú của Ba Sàm:  Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” . Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;

Và các bài tham luận trong Hội thảo đã được đăng trên Nhật báo Ba Sàm:

92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ

93:QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP

149:QUAN HỆ VN-LX ‘65-’75

150:SÁCH ĐỊA CHÍ Ở MIỀN NVN(’54-’75)

156.CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN

162.TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH

191.CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM ĐỔI MỚI

217.VN-TQ THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

219.TUẦN TRA,KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ:1802-1858

224.SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGƯỜI HOA Ở VN

229.NGƯỜI HOA TRUNG-NAM BỘ VN(XVII-XIX)

232.LỊCH SỬ TRANH CHẤP HOÀNG SA,TRƯỜNG SA:NGUYÊN NHÂN-GIẢI PHÁP

235.PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX

240.NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI BÁO CHÍ VÀ CHỮ QUỐC NGỮ

243.TỰ DO DÂN CHỦ CỦA MỸ Ở MIỀN NVN 54′-73′

————

 

1 Tây dương Gia tô bí lục, sách in năm 1812, bản dịch Ngô Đức Thọ, Nxb Khoa học xã hội, H.1981, tr 291. Sách cho biết: Giám mục Ignatio (Ynêkhu) bí mật vào truyền đạo ở các làng Quần Anh, Trà Lũ, Ninh Cường vào năm Quý Tỵ, niên hiệu Nguyên Hòa, đời vua Lê Trang Tông (1533), đến đâu cũng cho tiền, phát thuốc khiến nhiều kẻ mang ơn mà chịu nghe giảng đạo. Từ đó đạo Gia tô mới bắt đầu lan đến nước ta.

2 Nguyễn Văn Kiệm, Sự du nhập của đạo Thiên chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, 2001, tr.198.

3 Phan Phát Huồn, Việt Nam giáo sử, tập I, Sài Gòn, 1958, tr.191.

4 Võ Đức Hạnh, La place du Catholicisme dans le relation en de la France le Vietnam de 1858 à 1870, Tập II, tr.282.

5 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XI, NXB Khoa học, Hà Nội, 1960, tr.235.

6 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XI, NXB Khoa học, Hà Nội, 1960, tr.136.

7 Mục lục Châu bản triều Nguyễn, Triều Minh Mạng, bản thảo viết tay, Tập 68, tờ 152-154,

8 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XI, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1964, tr.136.

9 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XXVII, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1973, tr.247.

10 Trong đó có Gagelin (1833), Marchand (1835), Corray (1837), Jacard (1838) De Lamothe (1840); các Giám mục Havard (1837), Borie (1838). . .

11 So với năm 1800 số giáo dân tăng thêm 110.000 người.

12 Mục lục Châu bản triều Nguyễn, Triều Thiệu Trị, bản thảo viết tay, Tập 49, tờ 24-25,

13 Mục lục Châu bản triều Nguyễn, Triều Thiệu Trị, bản thảo viết tay, Tập 47, tờ 40-4.

14 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XXVI, Nxb Khoa học Xã hội, H.1973, tr.276.

15 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XXVI, Nxb Khoa học Xã hội, H.1973, tr.111.

16 Phan Phát Huồn, Sđd, tr.280.

17 Giám mục Pellerin (địa phận Huế) tích cực vận động chính phủ Pháp đem quân đánh Việt Nam, Giám mục Lefèbre (địa phận Sài Gòn) tích cực giúp quân Pháp tấn công Gia Định. Hưởng ứng lời kêu gọi của các giáo sĩ Pháp, nhiều giáo dân đầu quân theo giặc để chống lại triều đình. Khi quân Pháp đánh Đà Nẵng nhiều giáo dân Bắc Kỳ vào Đà Nẵng đầu quân cho Pháp. Đội quân này do tướng chỉ huy Rigaule de Genouilly thành lập đóng ở bán đảo Sơn Trà, họ đã tham gia đánh đánh Đà Nẵng và sau đó vào nam đánh đồn Chí Hòa (Nguyễn Văn Kiệm, Sđd, tr.235).

18 Dụ được ban hành vào tháng 7 năm 1861, có các khoản chính sau: Khoản 1: Tất cả các giáo dân, đàn ông và đàn bà, giàu cũng như nghèo, người già cũng như trẻ con đều phải phân tán vào các làng bên lương. Khoản 2: Tất cả các làng bên lương phải chịu trách nhiệm canh gác các giáo dân đã được tha về theo tỷ lệ cứ 5 người lương một người theo đạo. Khoản 3: Tất cả các làng giáo đều phải san bằng, phá hủy đất đai, vườn tược sẽ được chia cho các làng bên lương xung quanh, các làng này có nghĩa vụ phải nộp thuế. Khoản 4: Giáo dân đàn ông phải tách ra khỏi giáo dân đàn bà, đàn ông đưa đi một tỉnh, đàn bà đưa đến một tỉnh khác để họ không được sum họp, trẻ con sẽ giao cho các gia đình bên lương nào muốn nuôi chúng. Khoản 5: Trước khi đưa đi, tất cả giáo dân đàn ông, đàn bà, trẻ con đều phải thích chữ vào mặt: Ở má trái là hai chữ tà đạo, ở má phải là tên tổng, huyện gửi tới, để chúng không thể chạy trốn.

19 Cao Huy Thuần, Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914), NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2003, tr.132.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

 

Đăng trong Lịch sử, Tôn giáo | Tagged: , , | Leave a Comment »

 
%d bloggers like this: