BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Quan hệ Mỹ-Việt’ Category

536. MỸ: SỰ PHẪN NỘ CỦA CÁNH TẢ

Posted by adminbasam on 07/12/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ ba ngày 6/12/2011

MỸ: SỰ PHẪN NỘ CỦA CÁNH TẢ

(Le Monde diplonmatique, 10/2011)

Bị chỉ trích về chiến lược thỏa hiệp với phe Cộng hòa và những kết quả tồi tệ về kinh tế và việc làm, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã thay đổi giọng điệu và đề xuất tăng thuế đối với người giàu có. Liệu tuyên bố thiếu tính khả thi này có phải là nhằm tái động viên các cử tri cánh tả trong bối cảnh cuộc bầu cử Tổng thống 2012 đang tới gần hay không?

Tháng 6/2008, ngay khi được đảng Dân chủ đề cử làm ứng cử viên cho cuộc bầu cử tổng thống, trước những người ủng hộ nhiệt tình, ông Obama tuyên bố: “Chúng ta có thể nhớ tới ngày này và sẽ nói với con cháu chúng ta rằng ngay khi đó chúng ta bắt đầu chăm sóc y tế cho những người bệnh, tạo công ăn việc làm cho những người thất nghiệp, khi đó hiện tượng nước biển dâng đã bắt đầu giảm, trái đất bắt đầu hồi phục, khi đó chúng ta đã chấm dứt một cuộc chiến tranh, đảm bảo an ninh cho dân tộc chúng ta và khôi phục hình ảnh chúng ta là niềm hy vọng cuối cùng trên trái đất…’’. Nếu như có một vị tổng thống đã xác nhận câu ngạn ngữ của cựu thống đốc Niu Yoóc Mario Cuomo, theo đó các ứng viên “vận động tranh cử như làm thơ nhưng lại điêu hành đất nước giống như làm văn”, thì đó chính là Tổng thống Obama.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Quan hệ Mỹ-Việt | Leave a Comment »

502. CÓ THỂ CHÚNG TA ĐÃ NGỘ NHẬN TRONG VẤN ĐỀ NAM HẢI

Posted by adminbasam on 22/11/2011

Blog Li Chen Hui

CÓ THỂ CHÚNG TA ĐÃ NGỘ NHẬN TRONG VẤN ĐỀ NAM HẢI

Tác giả: Lý Thần Huy

Người dịch: Quốc Trung

01-10-2011

Hôm nay đọc được một bài viết có tên là “Âm thanh về dụng binh ở Nam Hải (tức Biển Đông – ND) đang được khuếch đại trong dân chúng Trung Quốc”, nói dân chúng Trung Quốc bao gồm cả một số vị được gọi là chuyên gia (không hiểu do vô tình hay cố ý, ở đây tác giả đã dùng từ 砖家- “chuyên gia về gạch ngói” thay cho từ 专家- “chuyên gia” vì cùng đồng âm trong tiếng Hán – ND) học giả, đang đua nhau chủ trương dụng binh ở Nam Hải. Nguyên nhân dẫn đến chủ trương dụng binh ở Nam Hải là do trong dân chúng phổ biến quan niệm cho rằng, về vấn đề Nam Hải, chúng ta đã bị xúc phạm tàn tệ (về rất nhiều vấn đề, dân chúng đều cho là chúng ta đang bị xúc phạm). Họ cho rằng, Nam Hải là thiên kinh địa nghĩa của chúng ta, lý lẽ này không chỉ được kiên trì nắm giữ vì người Trung Quốc, mà còn được sự công nhận rộng rãi cả ở trong cộng đồng quốc tế. Thậm chí, ngay cả Việt Nam, Philippines và những nước đang có sự tranh giành, cướp giật Nam Hải với chúng ta cũng đều có chung nhận thức. Vậy thì vì sao hôm nay những quốc gia ấy lại tranh giành Nam Hải với chúng ta?

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 3 phản hồi »

501. Bài diễn văn nhậm chức của John F. Kennedy, Tổng thống Mỹ thứ 35

Posted by adminbasam on 22/11/2011

BTV: Ngày 22-11-1963, cách nay 48 năm, John F. Kennedy, Tổng thống Mỹ đã bị ám sát, sau 1.037 ngày nắm quyền. Gần ba năm trước đó, ngày 20-01-1961, ông Kennedy đã tuyên thệ nhậm chức, trở thành tổng thống thứ 35 của Mỹ. Ở tuổi 43, ông Kennedy là vị tổng thống trẻ thứ hai trong lịch sử nước Mỹ, sau ông Theodore Roosevelt, tổng thống thứ 26.

Đây là bài diễn văn TT Kennedy đọc trong buỗi lễ tuyên thệ nhậm chức, mà các nhà sử học bình chọn là một trong bốn bài diễn văn nhậm chức hay nhất trong lịch sử nước Mỹ. Một trong những câu nói nổi tiếng trong bài này là: “Đừng hỏi đất nước đã làm gì cho các bạn, mà hãy hỏi các bạn đã làm được gì cho đất nước mình”. Theo báo Associated Press thì câu nói này của ông Kennedy bắt nguồn từ một câu nói tương tự của thầy hiệu trưởng ở trường ông Kennedy học hồi thập niên 1930, nhưng ông Michael O’Brien, người viết tiểu sử cho TT Kennedy thì cho rằng, không có mối liên hệ giữa câu nói của hai người. Xin giới thiệu cùng quý độc giả toàn bộ bản dịch diễn văn nhậm chức của Tổng thống Kennedy.

———–

C-SPAN

Bài diễn văn nhậm chức của Tổng thống Mỹ, John F. Kennedy

John F. Kennedy

Ngọc Thu dịch

20-1-1961

.

.

Đọc tiếp »

Đăng trong Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Việt | 3 phản hồi »

488. Tuyên bố chung của 7 tổ chức quốc tế gửi Bộ Ngoại giao Việt Nam

Posted by adminbasam on 17/11/2011

Front Line Defenders

Tuyên bố chung của 7 tổ chức quốc tế

gửi Bộ Ngoại giao Việt Nam

09-11-2011

Gửi tới: Vụ trưởng Hoàng Chí Trung

Vụ các Tổ chức Quốc tế – Bộ Ngoại giao Việt Nam

Đồng kính gửi: Ông Michael Posner – Trợ lý ngoại trưởng Mỹ

Ông Bill Burns  – Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ

Kính thưa ngài Vụ trưởng,

Khi phái đoàn của ngài đến Washington để đối thoại về vấn đề nhân quyền với Mỹ, các tổ chức ký tên dưới đây bày tỏ mối quan ngại sâu sắc về việc thiếu tự do ngôn luận và thông tin ở Việt Nam. Đến nay đã có 20 phóng viên, blogger và những người bảo vệ nhân quyền ở đất nước ngài đã bị bắt giam vì họ dám viết về sự phủ nhận các quyền con người tại Việt Nam.

Trong các cuộc thảo luận với giới chức Mỹ vừa qua, ngài đã đồng ý và ghi nhận rằng, nếu truyền thông không có tự do, độc lập và một xã hội dân sự, sẽ rất khó cho Việt Nam để giải quyết nhiều vấn đề mà quốc gia của ngài đang phải đối mặt. Chúng tôi lấy làm tiếc về việc gia tăng hạn chế báo chí và người sử dụng Internet từ tháng 1 năm 2011 của chính phủ, có thể làm quý ngài thiếu thông tin về tình hình đất nước của mình, vì thế sẽ thiếu sự trang bị để điều hành [đất nước].

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Mỹ-Việt | 7 phản hồi »

486. MỸ “QUAY TRỞ LẠI” CHÂU Á VÀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Posted by adminbasam on 16/11/2011

MỸ “QUAY TRỞ LẠI” CHÂU Á VÀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Tài liệu tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba, chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực”, do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, ngày 4-5 tháng 11 năm 2011

Bronson Pervcival

Cố vấn cấp cao về Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược, Trung tâm Phân tích Hải quân (CAN) và Nghiên cứu viên cộng tác tại Trung tâm Đông – Tây Washington, Mỹ

Giới thiệu

Trung Quốc đã đưa đến cho Mỹ cơ hội vàng để tái khẳng định lập trường nguyên tắc của Mỹ về các vấn đề Biển Đông và do đó củng cố các mối quan hệ đồng minh và đối tác với các quốc gia khác ở châu Á. Yêu sách bành trướng của Bắc Kinh và cách hành xử cứng rắn của các cơ quan hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông đã gây hoang mang cho chính phủ các nước còn lại ở châu Á. Ở Biển Đông, Bắc Kinh đang đùa giỡn trực tiếp với sức mạnh, sự ủng hộ tự do hàng hải và năng lực hải quân áp đảo của Mỹ ở châu Á. Mỹ đang tận dụng những sai lầm của Trung Quốc.

Trong một thập kỷ qua, Biển Đông đã là một vấn đề an ninh có tầm quan trọng tiềm tàng sắp sửa nổi lên vị trí hàng đầu trong tính toán của các nhà hoạch định chính sách Mỹ. Sau và chạm giữa một máy bay chiến đấu của Trung Quốc và một máy bay trinh sát của Mỹ tháng 4/2001 và trước sự cố Trung Quốc đe doạ tàu Hải quân Mỹ USNS Impeccable vào tháng 3/2009, Biển Đông hầu như biến mất khỏi chương trình nghị sự chính sách của chính phủ và cộng đồng chính sách Mỹ. Các hành động của Trung Quốc đã làm trỗi dậy lợi ích của Mỹ và kích thích sự tái khẳng định về chính sách của Mỹ.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 1 Comment »

369. Thư của các Nghị sĩ gửi Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam

Posted by adminbasam on 21/09/2011

Về kiểm soát Internet, tự do ngôn luận, phát biểu

chính kiến, thực thi pháp quyền tại Việt Nam

Quốc hội Mỹ

Washington DC 20515

Ngày 20 tháng 9 năm 2011

Ngài David Shear,

Đại sứ Hoa Kỳ tại nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Mỹ-Việt | Tagged: , , | 142 phản hồi »

323. Những người biểu tình chống Trung Quốc nhận được thông điệp

Posted by adminbasam on 02/09/2011

Asia Times

Những người biểu tình chống Trung Quốc

nhận được thông điệp

M. Goonan

01-09-2011

TP Hồ Chí Minh – Sáng Chủ nhật vừa qua là buổi sáng đầu tiên trong suốt 12 tuần liên tục không có tin tức về biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội. Sau khi bắt giữ khoảng 40 người biểu tình hồi tuần trước, cảnh cáo trước sự đàn áp đối với những người biểu tình, chính quyền đã gửi một thông điệp rằng, những người biểu tình sẽ không còn được nhân nhượng tha thứ nữa. Hoa Kỳ đã chỉ trích việc bắt bớ, mặc dù quan hệ quân sự giữa hai nước đang ấm dần lên.

Mười một tuần có thể là một thời gian dài. Ðối với những người ở Hà Nội, đó là quãng thời gian chưa từng có tiền lệ. Các cuộc  biểu tình chống Trung Quốc bắt đầu từ hồi tháng Năm sau khi báo chí Việt Nam đưa tin các tàu Trung Quốc cắt cáp của một tàu thăm dò Việt Nam trên biển Ðông, khu vực cả hai nước đều tuyên bố chủ quyền. Các cuộc biểu tình liên tục xảy ra, cho đến tuần vừa rồi, với các đám đông không quá vài trăm người, đầu tiên tụ tập trước Ðại sứ quán Trung Quốc, sau đó tại hồ Hoàn Kiếm, diễn hành với biểu ngữ và hô khẩu hiệu phản đối các hành động của Trung Quốc trên vùng biển Ðông tranh chấp.

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung | 96 phản hồi »

218. Chiến lược hai mũi nhọn của hải quân Trung Quốc

Posted by adminbasam on 28/07/2011

The Diplomat

Chiến lược hai mũi nhọn của hải quân Trung Quốc

Robert C. O’Brien

Trung Quốc đang theo đuổi chiến lược hai mũi nhọn với việc xây dựng một lực lượng hải quân hoành tráng. Phương Tây đang phạm sai lầm nếu đánh giá thấp các mưu đồ này.

Trong thập niên vừa qua, trong khi phương Tây hao tâm tổn sức vào cuộc chiến chống Hồi giáo cực đoan ở Trung Đông và Trung Á thì Trung Quốc rốt ráo thực hiện một nỗ lực nhanh chóng và ấn tượng nhằm trở thành một cường quốc hải quân lớn nhất ở đông Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Đọc tiếp »

Đăng trong Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Trung Quốc | 22 phản hồi »

197. Thư của Thượng Nghị sĩ John McCain và John Kerry gửi ông Đới Bỉnh Quốc

Posted by adminbasam on 20/07/2011

Thư của Thượng Nghị sĩ John McCain và John Kerry

gửi ông Đới Bỉnh Quốc

THƯỢNG VIỆN MỸ

UỶ BAN ĐỐI NGOẠI

Washington, DC 20510-6225

14-07-2011

Ngài Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện

Đồng kính gửi Đại sứ Zhang Yesui

Đại sứ quán nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

3505 International Place, N.W.

Washington, D.C. 20008

Thưa Ngài:

Rất cảm ơn ngài về lá thư ngày 3 tháng 6 năm 2011, nhắc lại cam kết của ngài về việc xây dựng mối quan hệ đối tác Mỹ-Trung dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và đôi bên cùng có lợi. Chúng tôi chia sẻ mục tiêu đi sâu và mở rộng của ngài với các lĩnh vực hợp tác của chúng tôi, và coi trọng khả năng của chúng tôi để có các cuộc thảo luận chuyên sâu và thẳng thắn với ngài về các vấn đề cùng quan tâm.

Chúng tôi viết thư để tiếp tục cuộc trò chuyện của chúng ta hồi tháng Năm vừa qua và bày tỏ những mối quan ngại của chúng tôi về những diễn biến gần đây trong vùng biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Như ngài đã biết, Hoa Kỳ không có quan điểm về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ chồng lấn trong khu vực này, nhưng chúng tôi giữ mối quan tâm sâu sắc và không thay đổi trong việc bảo đảm quyền tự do hàng hải, thương mại, và khai thác kinh tế, duy trì cam kết của Mỹ với các đồng minh và đối tác của chúng tôi và hỗ trợ hòa bình và an ninh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Vì lý do này, chúng tôi lo ngại rằng một loạt các sự cố hải quân trong những tháng gần đây đã gia tăng căng thẳng trong khu vực. Nếu không có những bước đi thích hợp để làm dịu tình hình, các sự cố trong tương lai có thể leo thang, gây nguy hiểm đến lợi ích quốc gia quan trọng của Hoa Kỳ.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung | 28 phản hồi »

145. Hoa Kỳ cần tiến lên và chơi trò chơi tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc

Posted by adminbasam on 01/07/2011

Wall Street Journal

Chơi bi-a trên biển Đông

Hoa Kỳ cần tiến lên và chơi trò chơi tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc

Michael Auslin

30-06-2011

Trên Biển Đông, Trung Quốc đang chơi bi-a, trong khi Mỹ đang chơi trò chơi như là Cướp Cờ (Capture the Flag). Đối với Bắc Kinh, mục tiêu là đánh những quả bóng bi-a khác văng ra khỏi bàn, để chính nó điều khiển. Trong khi đó, Washington cố gắng giữ không cho Bắc Kinh cướp được lá cờ về quyền bá chủ khu vực.

Các nhà hoạch định chính sách Mỹ cần nhận ra rằng, họ đang chơi một trò chơi khác với trò chơi của Trung Quốc và cần điều chỉnh chiến lược của Mỹ. Trong khi chuyển sang chơi bi-a là quá khiêu khích đối với Washington, nếu xu hướng này tiếp tục, chẳng bao lâu sau, Mỹ có thể thấy chính mình ở đằng sau tám trái bóng, không có nhiều lựa chọn trong việc giữ vai trò ổn định trong khu vực.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , | 18 phản hồi »

136. Mỹ đã đẩy Trung Quốc tới giới hạn?

Posted by adminbasam on 26/06/2011

Diplomat

Mỹ đã đẩy Trung Quốc tới giới hạn?

Mark Valencia

24-06-11

Khi căng thẳng gia tăng trên biển Đông, các nhà phân tích lấy làm lạ là vì sao Trung Quốc bất ngờ đưa các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ mạnh mẽ như vậy.

Sau một loạt các sự cố gây gổ liên quan đến các tàu tuần tra của Trung Quốc và tiếp theo là các tuyên bố chính thức nhẹ nhàng, nhiều nhà phân tích đang cố tìm hiểu những gì thực sự đang diễn ra. Đặc biệt là, tại sao các bộ phận khác của chính phủ Trung Quốc lại đưa ra tín hiệu lẫn lộn, và lựa chọn gần như mọi hành động cùng một lúc là làm xấu hổ chính lãnh đạo của họ, phá hoại “chiến dịch lấy lòng” thành công và đã được nuôi dưỡng một cách cẩn thận của Trung Quốc đối với ASEAN, và đi vào đúng chiến lược của Mỹ về việc thuyết phục các nước ASEAN rằng họ cần Mỹ bảo vệ nếu bị Trung Quốc bắt nạt? Ở Trung Quốc, con tàu chính trị đã rời khỏi ga, và các nước ASEAN vừa thay đổi chỗ ngồi hoặc đổi toa xe trên tàu hoả?

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | 5 phản hồi »

135. Hoa Kỳ và Trung Quốc gặp gỡ trong lúc căng thẳng gia tăng trên biển

Posted by adminbasam on 26/06/2011

Yahoo News

Hoa Kỳ và Trung Quốc gặp gỡ

trong lúc căng thẳng gia tăng trên biển

25-06-2011

Honolulu, Hawaii (AFP) – Hoa Kỳ và Trung Quốc đang có những buổi được xem như là đàm phán đầu tiên hôm thứ Bảy về những căng thẳng gia tăng trên biển Đông, với sự tức giận của Bắc Kinh về việc Washington hỗ trợ các nước Đông Nam Á.

Các viên chức cấp cao của các cường quốc Thái Bình Dương đang họp tại Honolulu, Hawaii, vài ngày sau khi Hoa Kỳ hỗ trợ Philippines và Việt Nam, [hai nước] lo lắng về điều mà họ cho là sự quyết đoán ngày càng gia tăng của Bắc Kinh trên biển.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | 3 phản hồi »

132. TƯƠNG LAI CỦA LỤC ĐỊA Á-ÂU Ở BIỂN ĐÔNG

Posted by adminbasam on 24/06/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

TƯƠNG LAI CỦA LỤC ĐỊA Á-ÂU Ở BIỂN ĐÔNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Hai, ngày 20/06/2011

TTXVN (Angiê 12/6)

Mạng tin “Địa chính trị” mới đây đăng bài nghiên cứu về biển Đông của tác giả Jure Vujic, luật sư, nhà địa chính trị, nhà văn mang hai quốc tịch Pháp và Croátia như sau:

Trong những thập kỷ tới, nước nào có sức mạnh sẽ giành được bá quyền tại khu vực này, đồng thời sẽ tạo được ảnh hưởng lên các dân tộc và hai khu vực kinh tế giàu nhất và sinh lời nhất thế giới là Tây Âu và Đông Nam Á.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , | 5 phản hồi »

120. Phát biểu của ông John McCain tại hội thảo về an ninh hàng hải trên Biển Đông ở Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS)

Posted by adminbasam on 21/06/2011

Phát biểu của ông John McCain trong hội thảo

về an ninh hàng hải trên Biển Đông tại 

Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế

(CSIS)

 

20-06-2011

Cảm ơn John [Hamre] về lời giới thiệu hào phóng đó và cảm ơn tình bạn của anh trong nhiều năm qua. Tôi rất vui khi trở lại CSIS, nơi đã làm nhiều điều với mục đích thông báo suy nghĩ của Mỹ đến với thế giới và sự lãnh đạo của chúng tôi trong đó.

Như quý vị biết, tôi vừa từ Đông Nam Á trở về, và trước khi tôi chuyển qua chủ đề của hội nghị này, tôi muốn cung cấp một số cảm tưởng ngắn gọn về chuyến đi Miến Điện của tôi. Đây là lần đầu tiên tôi được phép trở lại đất nước này trong 15 năm, điều đó cho thấy dấu hiệu về chính phủ dân sự mới này có thể đại diện cho một sự thay đổi so với quá khứ. Một thay đổi đáng chú ý khác là thủ đô mới của Nay Pyi Taw. Các tòa nhà chính phủ lớn, các cung điện chạm đá cẩm thạch, các khách sạn mới toanh, đường cao tốc với 18 làn xe, và điều kỳ lạ là: không có ai ở đó. Chỉ có chúng tôi là những chiếc xe duy nhất trên đường. Các tòa nhà gần như trống rỗng.

Đó là một điều kỳ quặc mà tôi đã trải qua. Và chắc chắn đó là một sự tương phản đáng buồn với sự nghèo đói khốn cùng ở Rangoon. Tôi đến thăm một phòng khám tư nhân [của những người bị bệnh] AIDS, mọi người đông nghẹt, nhiều trẻ em mồ côi, những người cần sự chăm sóc nhiều hơn là những người có sẵn để chăm sóc cho họ. Tôi đã đi đến một dịch vụ cung cấp tang lễ miễn phí cho các linh hồn quá cố của những gia đình quá nghèo, để cho những người thân yêu của họ được chôn cất đàng hoàng. Đau lòng lắm, và điều này làm cho các bạn ước muốn, phải chi chính phủ [Miến Điện] cũng đầu tư sự nhiệt tình và tài nguyên để phát triển đất nước của họ với mức độ tương tự như là việc xây dựng thủ đô.

Tuy nhiên, trong các cuộc họp của tôi với Phó Chủ tịch Thứ nhất, hai người đứng đầu Quốc hội, và những người khác, rõ ràng là chính phủ này muốn có quan hệ tốt hơn với Hoa Kỳ. Tôi nhấn mạnh rằng chính phủ Hoa Kỳ và tôi chia sẻ khát vọng này, và rằng một điều như thế không phải là không thể đạt được. Sau cùng, nếu Hoa Kỳ và Việt Nam có thể cải thiện quan hệ, mà tôi biết một hoặc hai điều về vấn đề này, thì bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra.

Tuy nhiên, điểm chính tôi đã nhấn mạnh rằng, bất kỳ sự cải thiện mối quan hệ nào cũng cần được xây dựng, không những qua các cuộc nói chuyện vui vẻ, mà còn cần có các hành động từ cả hai phía. Hoa Kỳ cần sẵn sàng đặt mọi phương diện chính sách của chúng ta lên trên bàn, và để làm thay đổi những điều cụ thể mà chính phủ Nay Pyi Taw đã hỏi chúng tôi. Nhưng điều này chỉ có thể được thực hiện cùng với các hành động cụ thể về phía họ, đặc biệt là những lời kêu gọi của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc: phóng thích tất cả các tù nhân lương tâm, cho phép Hội Chữ thập đỏ được tự do vào thăm tất cả các nhà tù, bắt đầu một quá trình hòa giải quốc gia thực sự, có liên quan đến các đảng đối lập chính trị và dân tộc, gồm Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ, và bảo đảm sự an toàn và tự do đi lại của bà Aung San Suu Kyi.

Tôi đã có cơ hội gặp Bà [Aung San Suu Kyi] trong chuyến viếng thăm của tôi, và lý do tôi vẫn còn hy vọng cho người dân Miến Điện đó là vì bà. Hôm qua là sinh nhật của bà Aung San Suu Kyi và bà bày tỏ niềm hy vọng này: ‘Nếu được hỏi điều gì tôi mong muốn trong ngày sinh nhật của mình, tôi muốn hòa bình, ổn định và thịnh vượng cho đất nước tôi’. Người phụ nữ tuyệt vời này vẫn còn là nguồn cảm hứng cho những người dân của bà và cho tôi. Và tôi đồng ý với bà rằng, đây không phải là lúc Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh trừng phạt. Chúng ta cũng nên làm việc để thiết lập một Ủy ban Điều tra Liên hợp quốc, mà điều này không liên quan gì đến sự trừng phạt, và tất cả mọi thứ liên quan đến sự thật và công lý cho người dân Miến Điện.

Từ Miến Điện, tôi đã đi đến Singapore tham dự Đối thoại Shangri La, nơi mà một trong những chủ đề chính của cuộc thảo luận là chủ đề của hội nghị này: an ninh hàng hải ở biển Đông. Vấn đề này gây xúc động mãnh liệt giữa các nước tuyên bố chủ quyền trên vùng biển và vùng lãnh thổ. Và các chuyên gia thực sự hiểu những vấn đề phức tạp về lịch sử và pháp lý của những tuyên bố chủ quyền này, thì rất ít. Tôi đến từ Arizona, nơi mà chúng ta biết việc tranh đấu sử dụng đất và nước phức tạp như thế nào. Tôi cũng là một cựu lính Hải quân đã dành phần lớn cuộc đời của mình đi đây đó và làm việc về các vấn đề an ninh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Và tôi càng lo ngại, rằng biển Đông đang trở thành một điểm nóng xung đột.

Những năm vừa qua cho thấy sự leo thang nhanh chóng về tình trạng căng thẳng giữa các nước trong khu vực hàng hải đang tranh chấp và hay thay đổi này. Tôi không cần phải nói lại cho quý vị ở đây nghe tất cả các sự cố này. Dĩ nhiên, điều quan trọng là tất cả các bên thực hiện sự kiềm chế. Và để chắc chắn rằng, các đối tác ASEAN của chúng ta sẽ cần phải thỏa hiệp, đặc biệt là các nước thoả hiệp với nhau, để đạt được một kết quả hòa bình và cùng có lợi, như nhiều nước  trong số các nước này thừa nhận. Điều đó có nghĩa là, tình hình này cần phải nói thẳng một chút: Một trong những lực lượng chính làm cho các căng thẳng trên biển Đông trầm trọng hơn, và làm cho giải pháp hòa bình của các tranh chấp này khó khăn hơn để đạt được, đó là hành vi hung hăng của Trung Quốc và việc đòi chủ quyền lãnh thổ vô căn cứ mà họ tìm cách theo đuổi.

Tôi chẳng vui vẻ gì để nói điều này.Tôi tin rằng một trong những lợi ích quốc gia hàng đầu của Hoa Kỳ là việc duy trì và tăng cường quan hệ nhiều mặt với Trung Quốc. Tôi muốn Trung Quốc thành công và phát triển một cách hòa bình. Và tôi tin rằng không có lực lượng lịch sử nào lên án các nước của chúng ta (có lẽ ông McCain muốn nói các nước khác – không phải Trung Quốc – đang tranh chấp) về xung đột. Thật vậy, phạm vi hợp tác toàn cầu của chúng ta là rộng hơn bao giờ hết, kể cả các vấn đề an ninh hàng hải, rõ ràng để cho mọi người thấy các hoạt động chung của chúng ta ra ngoài khơi bán đảo Somali (Horn fo Africa).

Điều gây khó khăn cho tôi, và tôi nghĩ nó cũng gây khó khăn cho nhiều quý vị ở đây, đó là các tuyên bố mở rộng mà Trung Quốc tuyên bố trên biển Đông; các lý do căn bản cung cấp cho các tuyên bố này, không có cơ sở luật pháp quốc tế; và những hành động ngày càng quyết đoán mà Trung Quốc đang thực hiện để thực thi các quyền tự nhận của họ, gồm cả vùng biển trong phạm vi 200 hải lý ngoài khơi bờ biển của các nước ASEAN, như là trường hợp gần đây trong các sự cố riêng biệt liên quan đến Việt Nam và Philippines. Bản đồ về cái gọi là chín vạch của Trung Quốc tuyên bố tất cả các đảo trên biển Đông là chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc và tất cả các vùng lãnh hải của nó là vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Hơn nữa, những giải thích cụ thể về luật pháp quốc tế của Trung Quốc sẽ làm xói mòn các nguyên tắc lâu dài về tự do hàng hải – bóp méo nguyên tắc về khái niệm mở rộng cho mọi người đi vào, khái niệm loại trừ sẽ hạn chế đi vào [vùng biển]. Một số người ở Trung Quốc thậm chí còn đề cập đến học thuyết này, như trích dẫn, ‘chiến tranh pháp lý’.

Tại sao điều này quan trọng đối với Hoa Kỳ? Đây là câu hỏi mà nhiều người Mỹ sẽ hỏi, đặc biệt là khi chúng ta liên quan đến ba cuộc xung đột đã xãy ra, và khi nợ quốc gia của chúng ta thực sự trở nên không bền vững. Tại sao Mỹ nên quan tâm đến tranh chấp lãnh hải của các nước bên ngoài cách xa nửa vòng trái đất?   

Chắc chắn có lý do kinh tế để tham gia. Khu vực biển Đông là nguồn quan trọng về công việc làm và tài nguyên thiên nhiên có lợi cho nhiều người Mỹ. Tuy nhiên, có lẽ xét rộng hơn là yếu tố chiến lược. Trung tâm địa chính trị thế giới hấp dẫn đang chuyển sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương, một khu vực, trong đó nhiều nước đang trỗi dậy cùng một lúc về sự giàu có và sức mạnh. Điều này tạo ra sự va chạm giữa các quốc gia, nơi các tranh chấp cũ vẫn chưa được giải quyết. Hoa Kỳ có một lợi ích an ninh quốc gia trong việc duy trì sự cân bằng chiến lược thuận lợi trong khu vực quan trọng này. Và trọng tâm đó là để bảo vệ quyền tự do phổ quát trong việc đi lại và đi vào các vùng biển như một nguyên tắc căn bản của trật tự quốc tế.

Những nỗ lực phủ nhận tự do hàng hải trên biển Đông đặt ra một thách thức nghiêm trọng đến trật tự quốc tế, dựa trên luật lệ, rằng Hoa Kỳ và đồng minh của chúng tôi đã duy trì trong nhiều thập kỷ. Nếu những nỗ lực này thành công – sẽ liên tục bắt nạt, cho phép một nước áp đặt tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mình bằng vũ lực và biến biển Đông thành một khu vực không cho các tàu thương mại và quân sự của các quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, đi vào, hậu quả sẽ thật thảm khốc. Điều đó có thể thiết lập một tiền lệ nguy hiểm để làm suy yếu luật pháp quốc tế, theo cách mà những người có ý định bệnh hoạn chắc chắn sẽ áp dụng ở những nơi khác. Điều đó có thể tạo ra sự khuyến khích gia tăng quyền lực gây phiền hà khắp mọi nơi, để sử dụng vũ lực, điều mà các phương tiện pháp lý và hoà bình không thể bảo đảm cho họ. Và nó sẽ đưa chúng ta đến gần hơn vào một ngày, khi hải quân Mỹ thấy rằng không thể đi vào và hoạt động một cách an toàn ở Tây Thái Bình Dương.      

Vậy thì Hoa Kỳ nên làm những gì? Để tôi cung cấp một vài đề nghị để kết thúc.

Thứ  nhất, về lập trường của Mỹ trên biển Đông, chúng ta nhận thấy rằng, nếu có thể, một chính sách rõ ràng có thể ổn định hơn so với một chính sách không rõ ràng. Tôi hoan nghênh Ngoại trưởng Clinton khi tuyên bố rằng các bên tranh chấp trên biển Đông phải được giải quyết thông qua đàm phán đa phương, và chúng ta sẽ tìm cách tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán. Đa số các nước châu Á hoan nghênh tuyên bố đó. Trên hết, đây là mối quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng, không phải giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, rất hữu ích cho chúng ta tiếp tục nói rõ quan điểm của Mỹ, để các nước khác có thể biết, Hoa Kỳ chấp nhận những yêu sách nào, yêu sách nào chúng ta không chấp nhận, và những hành động nào chúng ta chuẩn bị để hỗ trợ các chính sách và các đối tác của chúng ta, đặc biệt là Philippines, một nước đồng minh có ký hiệp ước.

Thứ hai, Hoa Kỳ nên hỗ trợ các đối tác ASEAN của chúng ta trong việc giải quyết tranh chấp của họ trên biển Đông, như một phương tiện cổ vũ ASEAN đoàn kết hơn để đối mặt với Trung Quốc. Trung Quốc tìm cách khai thác sự chia rẽ giữa các thành viên ASEAN – làm cho họ chống đối nhau, để phục vụ cho kế hoạch riêng của Trung Quốc. Giải quyết các tranh chấp trên biển giữa các nước ASEAN, như Malaysia và Brunei gần đây đã thực hiện, sẽ cho phép các đối tác của chúng ta thiết lập một mặt trận thống nhất hơn.

Thứ ba, Hoa Kỳ cần giúp đỡ các đối tác ASEAN của chúng ta tăng cường sự phòng thủ trên biển và khả năng phát hiện – để phát triển và triển khai các hệ thống cơ bản như radar cảnh báo sớm và các tàu an ninh ven biển. Bù đắp sự thiếu thốn này, và tăng cường tập trận chung với chúng ta, sẽ cung cấp một hình ảnh hoạt động phổ biến hơn trên biển Đông và khả năng đối phó tốt hơn với các mối đe dọa.

Thứ tư, Thượng viện Mỹ cần quan tâm hơn đến Công ước LHQ về Luật Biển. Tôi biết điều này không phổ biến ở một số người bảo thủ. Chính tôi cũng đã nghi ngờ về công ước. Nhưng thực tế là, chính phủ các nhiệm kỳ kế tiếp của cả hai đảng đã tôn trọng những nhận xét cơ bản của Công ước, mặc dù không cần phải ký. Trong khi đó, các nước như Trung Quốc đã ký công ước mà không thực hiện đúng, nhắm tới việc từ chối [không cho các nước] đi vào vùng biển quốc tế. Điều này làm cho Hoa Kỳ phải dựa vào ân huệ của các nước ngoài cũng như dựa vào sức mạnh lớn hơn của chính mình để bảo đảm quyền đi lại của Mỹ. Nhưng những điều này là đặc ân, không thể được xem như lúc nào cũng có sẵn, đó là lý do Hải quân Mỹ hỗ trợ mạnh mẽ Công ước [LHQ về Luật Biển] và tính pháp lý của nó, để bảo đảm nó phục vụ cho các hoạt động hải quân của chúng ta. Do đó, vì lý do an ninh quốc gia, Thượng viện cần phải quyết định, đã đến lúc phê chuẩn Hiệp ước Luật Biển.   

Thứ năm, chúng ta cần phải chuyển sức mạnh của lực lượng Mỹ, chú trọng nhiều hơn vào những khu vực cạnh tranh mới trỗi dậy, đặc biệt là Ấn Độ Dương và Biển Đông. Tôi đã tham gia với các đồng nghiệp của tôi ở Hội đồng Quân sự Thượng viện, Thượng nghị sĩ Carl Levin và Jim Webb, để kêu gọi cho thêm thời gian đánh giá lại kế hoạch về các căn cứ của chúng ta ở Nhật Bản và Guam. Và tôi đã làm như thế để Mỹ không phải rút khỏi châu Á, mà là tăng cường cam kết của chúng ta đối với an ninh trong khu vực.

Không phải là nơi Quốc hội có ý kiến về các thỏa thuận căn cứ trong khu vực, mà là thực tế tình hình mới và chi phí vượt quá mức, đã đặt vấn đề về các kế hoạch hiện tại của chúng ta, nên Quốc hội phải đặt những câu hỏi khó. Mục tiêu của chúng ta nên chuyển tới nơi có vị thế địa lý hơn, đưa quân đội rải rác ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, như Bộ trưởng Quốc phòng Gates đã mô tả, và trung tâm của nỗ lực đó sẽ luôn luôn là những cam kết căn cứ của chúng ta với các đồng minh lịch sử như Nhật Bản và Nam Hàn.

Cuối cùng, Hoa Kỳ phải tiếp tục các khoản đầu tư cần thiết vào khả năng phòng thủ của chúng ta, đặc biệt là lực lượng hải quân, để duy trì sức mạnh quân sự hàng đầu thế giới. Chúng ta đang phải đối mặt với áp lực rất lớn trong nước để cắt giảm chi tiêu, gồm cả chi tiêu quốc phòng, và một số cắt giảm chắc chắn cần thiết. Những người có lý lẽ có thể không đồng ý về việc cắt giảm này, nên cắt thêm bao nhiêu. Nhưng gần đây, khi Tổng thống cam kết cắt giảm 400 tỷ đô la về chi tiêu quốc phòng trong thời gian 12 năm, không có cơ sở chiến lược hợp lý về lý do tại sao con số này đã được lựa chọn hoặc những rủi ro gì nó sẽ gây ra, và Bộ trưởng Quốc phòng chỉ được nói về điều đó một ngày trước khi sự việc xảy ra, tôi nghĩ rằng những người có lý lẽ cũng có thể đồng ý rằng, điều này không phải là cách để lên kế hoạch quốc phòng của chúng ta. Chúng ta phải [lên kế hoạch] dựa vào chiến lược hướng dẫn, không thể [dựa vào] những con số tùy tiện.

Những sự kiện hiện đang xảy ra trên biển Đông sẽ đóng một vai trò quyết định trong việc định hình sự phát triển ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong thế kỷ này. Và Hoa Kỳ phải tiếp tục tham gia tích cực vào quá trình đó. Về vấn đề này, tôi gặp rắc rối do các báo cáo gần đây của một số đồng nghiệp của tôi trong Quốc hội và một số ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Cộng hòa, cho thấy mong muốn rút khỏi thế giới và giảm các cam kết của chúng ta ở nước ngoài. Hoa Kỳ đã mắc phải sai lầm đó trước đây, và chúng ta nên học bài học lịch sử này, không để nó lặp lại. Cuối cùng, lịch sử cho chúng ta thấy rằng, chính Mỹ được hưởng lợi lớn nhất nhờ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, đó là duy trì bởi quyền lực và sự lãnh đạo của Mỹ. Chúng ta từ bỏ vai trò đó là nguy hiểm cho thế giới và cho chính chúng ta.

Nếu các bạn đến từ khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chỉ để mang một thông điệp về nhà với các bạn, thông điệp đó sẽ là: Luôn có xu hướng cô lập ở Mỹ, nhưng người Mỹ đã bác bỏ nó trước đây, và tôi tin rằng bây giờ người Mỹ sẽ bác bỏ nó một lần nữa. Sẽ luôn có một cơ sở vững chắc ở Mỹ hỗ trợ cho một chính sách quốc tế mạnh mẽ ở nước ngoài. Chính sách đó sẽ không thay đổi, kể cả ở Mỹ. Chúng tôi sẽ không rút khỏi hoặc không bị đẩy ra khỏi khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chúng tôi sẽ ở lại đó, [thực hiện] cam kết với bạn bè và đồng minh của chúng tôi, và chúng ta sẽ cùng nhau thành công.

Ngọc Thu, Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, lược dịch từ: http://www.ustream.tv/recorded/15514848

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: | 17 phản hồi »

117. TRUNG QUỐC TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Posted by adminbasam on 20/06/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

TRUNG QUỐC TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Tư, ngày 15/06/2011

TTXVN (Hồng Công 13/6)

Trang web của tờ Liên hợp Buổi sáng (Xinhgapo) ngày 8/6 đăng bài của nhà bình luận độc lập Chu Tuệ Lai cho biết trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đang dần hình thành “sách lược hai cánh tay” và sách lược này có thể sẽ được Trung Quốc thực thi lâu dài. Dưới đây là nội dung bài viết:

Từ ngày 3 đến 5/6, Hội nghị An ninh châu Á lần thứ 10 (còn gọi là Đối thoại Shangri – La 10) đã được tổ chức tại Xinhgapo. Đối thoại Shangri-La 10 không chỉ có quy mô lớn nhất mà lần đầu tiên còn chứng kiến sự có mặt của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc. Nhiều năm lại đây, Biển Đông (Trung Quốc gọi là Nam Hải) đã trở thành vấn đề khó tránh được tại Đối thaọi Shangri-La và năm nay cũng không là ngoại lệ. Việc Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt nhấn mạnh Trung Quốc nỗ lực vì hoà bình và ổn định của Biển Đông cho thấy “sách lược hai cánh tay” của Trung Quốc trong vấn đề về Biển Đông đã dần được thành hình.

Hai nhân tố quyết định tính phức tạp của vấn đề Biển Đông

Tránh không để vấn đề Biển Đông trở nên phức tạp hơn là một mục tiêu và nhiệm vụ quan trọng của nền ngoại gioa Trung Quốc nhiều năm nay. Việc này đương nhiên là chịu ảnh hưởng của vấn đề sức mạnh quốc gia, đặc biệt là sức mạnh của hải quân và không quân chưa được như ý muốn, nhưng cũng liên quan tới chiến lược ngoại giao phát triển toàn cục của Trung Quốc. Đối với Trung Quốc, việc có thành công hay không trong sách lược tránh không để vấn đề Biển Đông trở nên phức tạp hơn phụ thuộc vào hai nhân tố sau.

Thứ nhất, thế lực bên ngoài, đặc biệt là Mỹ có can dự vào vấn đề Biển Đông hay không. Là siêu cường thế giới, Mỹ không những có đồng minh và các căn cứ quân sự quan trọng nhất ở khu vực Đông Á, mà còn được nhiều nước trong khu vực dựa vào để cân bằng sức mạnh với Trung Quốc. Do đó, vấn đề Biển Đông có trở nên phức tạp hay không, thái độ và chính sách của Mỹ đóng vai trò rất quan trọng. Một khi Mỹ thay đổi thái độ duy trì hiện trạng trong vấn đề Biển Đông, trắc trở và bất ngờ sẽ nảy sinh.

Lâu nay, trọng tâm chiến lược toàn cầu của Mỹ lần lượt đặt ở châu Âu và vấn đề chống khủng bố. Tại khu vực Đông Á, Mỹ quan tâm nhiều tới các nước đồng minh như Nhật Bản và Hàn Quốc. Đối với Đông Nam Á, Mỹ dường như không có thời gian để quan tâm tới khu vực này. Mãi tới năm 2010, Mỹ mới lớn tiếng tuyên bố trở lại Đông Nam Á. Trước đó, Mỹ thiên về xu hướng duy trì hiện trạng trong vấn đề Biển Đông hay nói một cách khác là Mỹ giữ lập trường “trung lập” trong vấn đề này. Và bài phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tại Hà Nội vào tháng 7/2010 đã đánh dấu sự chuyển biến trong thái độ của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông, từ “trung lập” sang “can dự”. Sự thay đổi về thái đọ của Mỹ đã giúp các nước như Việt Nam và Philippin nhìn thấy hy vọng, trở nên mạnh mẽ hơn trong cả lời nói lẫn hành động. Ở khía cạnh khác, sự can dự của Mỹ đã khiến phức tạp hoá trở thành xu thế lớn của vấn đề Biển Đông.

Hai là, ASEAN có đoàn kết được hay không cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng vấn đề Biển Đông trở nên phức tạp hơn. Trong 10 nước thành viên ASEAN chỉ có 4 nước là Việt Nam, Philippin, Malaixia và Brunây đang tồn tại tranh chấp chủ quyền đối với Trung Quốc ở Biển Đông, trong đó Việt Nam và  Philippin là hai nước chủ chốt. Đối với ASEAN, Biển Đông là vấn đề lớn ảnh hưởng tới tiến trình nhất thể hoá của tổ chức này. Hiện nay, ASEAN đang đứng trước khó khăn giữa nhất thể hoá nội bộ và xử lý quan hệ với Trung Quốc, duy trì ổn định khu vực.

Lâu nay, Trung Quốc kiên trì theo đuổi lập trường: Vấn đề Biển Đông không phải là vấn đề giữa Trung Quố và ASEAN mà là vấn đề giữa các nước xung quanh Biển Đông với nhau. Vì vậy, Trung Quốc nhấn mạnh tới việc sử dụng cơ chế song phương để giải quyết vấn đề này, phản đối việc đa phương hoá và quốc tế hoá vấn đề Biển Đông. Đối với Trung Quốc, sự đoàn kết của ASEAN không chỉ đồng nghĩa với việc phải đối mặt với một sức mạnh tập thể, mà còn đặt ngoại giao xung quanh Trung Quốc trước những thách thức toàn diện.

Trung-Mỹ thừa nhận có lợi ích chung ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương

Trước tình hình trên, Trung Quốc có thể sử dụng “sách lwocj hai cánh tay” để đối phó.

“Cánh tay thứ nhất” là thông qua tăng cường giao lưu hợp tác để giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của việc Mỹ can dự vào vấn đề Biển Đông trong khung nhận thức chung về việc xây dựng quan hệ đối tác hợp tác tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi, cùng thắng mà nguyên thủ Trung Quốc và Mỹ đã đạt được. Tại cuộc Đối thoại Chiến lược An ninh Trung-Mỹ lần đầu tiên từ ngày 9 đến ngày 10/5 tại Oasinhton (Mỹ), hai bên thừa nhận có lợi ích chung trong việc duy trì hoà bình, ổn định và phồn vinh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, quyết định xây dựng cơ chế hiệp thương Trung-Mỹ về các vấn đề châu Á-Thái Bình Dương. Trung Quốc hoan nghênh Mỹ tiếp tục phát huy vài trò tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Sau đó, Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Trần Bỉnh Đức đã thăm Mỹ, đề xuất việc xây dựng “quan hệ quân sự kiểu mới” với Mỹ, ở một mức độ nào đó đã giúp tăng cường sự tin cậy lẫn nhau giữa Trung Quốc và Mỹ về an ninh chiến lược.

Trong bài phát biểu tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế ngày 31/5, ở Washington D.C, Trợ lý Ngoại giao Mỹ phụ trách các vấn đề châu Á-Thái Bình Dương, Kurt Campbell đã nói rằng “một trong những công việc quan trọng nhất mà Mỹ phải làm năm nay tại Diễn đàn khu vực ASEAN và Hội nghị cấp cao Đông Á chính là thể hiện nỗ lực hợp tác với Trung Quốc”. Tại Đối thoại Shangri-La 10, tuy Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates tuyên bố sẽ tiếp tục theo đuổi những cam kết an ninh với các nước đồng minh châu Á-Thái Bình Dương, hơn nữa còn duy trì lực lượng quân sự hùng mạnh tại châu Á, nhưng ở một mức độ rất lớn, người ta vẫn chưa thấy sự sáng rõ trong quan hệ Trung-Mỹ cũng như việc hai nước sẽ đóng vai trò gì hay Mỹ sẽ khôi phục vị thế của mình như thế nào tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương… Điều đó có nghĩa, phát biểu của Gates tại Đối thoại Shangri-La 10 đã không tách rời nền tảng hợp tác Mỹ-Trung.

Do vậy, trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc và Mỹ đều phải tuân theo chiến lược toàn cục của mỗi nước. Đối với Trung Quốc, vấn đề Biển Đông thuộc chủ quyền, là lợi ích cốt lõi và nước này không muốn thay đổi lập trường nhất quán là duy trì hiện trạng tự do đi lại ở Biển Đông và không thách thức vai trò lãnh đạo châu Á-Thái Bình Dương, nước này sẽ không đối kháng với Trung Quốc, đó là chưa nói đến việc vấn đề Biển Đông ở một ý nghĩa nào đó, chỉ là công cụ của Mỹ.

“Cánh tay thứ hai” là tiếp tục ngăn chặn sự đoàn kết của ASEAN trong vấn đề Biển Đông, kiểm soát vấn đề Biển Đông trong phạm vi song phương giữa Trung Quốc và các nước liên quan. Sách lược này được cấu thành bởi hai bộ phận.

Thứ nhất, cũng là bộ phận quan trọng nhất, là lợi dụng ảnh hưởng kinh tế ngày càng tăng để tăng cường hợp tác kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN. Ở mức độ nào đó, sự phát triển kinh tế của ASEAN không thể tách rời khỏi Trung Quốc. Từ khi Khu vực Mậu dịch Tự do Trung Quốc – ASEAN khởi động tới nay, thương mại song phương phát triển mạnh mẽ hơn. Từ tháng 1 đến tháng 4/2011, kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đã đạt 110 tỷ USD, tăng 26,5% so với cùng kỳ năm 2010. Với tốc độ phát triển này, kim ngạch thương mại song phương năm 2011 có hy vọng vượt qua mốc 300 tỉ USD. Lợi ích thương mại lớn như vậy sẽ là nguyên nhân chính khiến ASEAN khó có được sự đoàn kết trong vấn đề Biển Đông và gây khó dễ cho Trung Quốc. Một nhà ngoại giao Thái Lan từng nói: “Vấn đề chủ quyền Biển Đông là chủ đề song phương, không nên làm nó trở thành vấn đề của toàn bộ ASEAN”.

Thứ hai là nhấn mạnh tới việc Trung Quốc quyết tâm giải quyết vấn đề Biển Đông bằng biện pháp hoà bình và nỗ lực vì sự hợp tác của khu vực. Từ lâu, khu vực ASEAN đã tồn tại kết cấu chiến lược: dựa vào Trung Quốc về mặt kinh tế, dựa vào Mỹ về an ninh, làm hạn chế những nỗ lực thúc đẩy hợp tác an ninh với ASEAN thông qua hợp tác kinh tế của Trung Quốc. Do vậy, tại Đối thoại Shangri-La 10, ông Lương Quang Liệt đã có bài phát biểu với chủ đề “hợp tác an ninh quốc tế của Trung Quốc”, gửi đi thông điệp rằng quân đội Trung Quốc nỗ lực tăng cường sự tin cậy lẫn nhau và hợp tác an ninh khu vực, coi trọng việc bảo vệ và tăng cường an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tuyên bố của ông Lương Quang Liệt khẳng định sữ hỗ trợ việc làm dịu bớt những lo ngại về sự lớn mạnh của quân lực Trung Quốc.

Cùng với sự lớn mạnh của lực lượng hải quân và không quân Việt Nam cũng như tình cảm dân chúng lên cao, các biện pháp đối phó của Trung Quốc (trong vấn đề Biển Đông) chắc chắn sẽ ngày một cứng rắn. Nhưng xuất phát từ nhu cầu phát triển toàn cục của đất nước cũng như sự ổn định của khu vực, “sách lược hai cánh tay” mềm dẻo của Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục được thựchiện trong thời gian dài, trừ phi không gian hoà bình bị triệt tiêu.

***

TTXVN Bắc Kinh 12/6)

Tờ “Quốc tế tiên khu đạo báo”, ấn phẩm của Tân Hoa xã số ra ngày 10-16/6 có bài tổng hợp dài hơn một trang, với hàng tít nổi bật ngay trên trang nhất “Đông Nam Á trở thành vũ dài ra đòn giữa Trung Quốc và Mỹ”, tên tác giả được ghi là Bình luận viên thời sự Đài truyền hình vệ tinh Phượng Hoàng, thể hiện thực trạng quan hệ Mỹ-Việt Nam cũng như quan hệ Mỹ-Việt Nam-Trung Quốc trong bối cảnh đang có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông như hiện nay và đối sách của Trung Quốc cần phải được xác định trong thời gian tới. Bài báo cho rằng “bối cảnh lớn” về sự “tan băng” trong giao lưu quân sự Trung -Mỹ tuy khiến bộ trưởng quốc phòng hai nước bề ngoài trao đổi rất vui vẻ nhưng sự thay đổi về “môi trường nhỏ” lại khiến Trung Quốc có cảm giác trước sau đều có địch.

Bài báo cho biết do Mỹ quyết định bán vũ khí cho Đài Loan, cộng thêm sự kiện tàu Cheonan ở bán đảo Triều Tiên khiến cho Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates và Phó Tổng tham mưu trưởng PLA công khai chỉ trích lẫn nhau, đưa đến bầu không khi của Đối thoại Shangri-La năm ngoái căng thẳng, tình hình an ninh khu vực trở nên nhạy cảm và phức tạp, cơ chế an ninh song phương và đa phương mong manh. Trước Đối thoại Shangri-La lần này, bầu không khí của diễn đàn cũng căng thẳng không kém, nhưng sau chuyến thăm Trung Quốc hồi đầu năm của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ R.Gates và sau chuyến thăm Mỹ của đoàn đại biểu cấp cao PLA do Tổng tham mưu trưởng Trần Bỉnh Đức dẫn đầu từ ngày 15-22/5, quan hệ quân sự Trung-Mỹ đã ấm trở lại. Bộ trưởng R. Gates nói Mỹ không có ý đồ gây trở ngại cho ảnh hưởng của Trung Quốc đang ngày một tăng lên, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Campbell cũng nói một trong những việc quan trọng nhất của Mỹ trong năm nay là phải ra sức hợp tác với Trung Quốc ở Đông Nam Á. Viên Bằng, Trưởng phòng Nghiên cứu nước Mỹ thuộc Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế hiện đại Trung Quốc nói, những lời nói như vậy đã xác định dòng suy nghĩ xuyên suốt cho Đối thoại Shangri-La lần này.

Tuy nhiên, khác với báo chí dự đoán, trong diễn đàn Đối thoại, R. Gates đã không bàn nhiều về quan hệ Mỹ-Trung mà tập trung nhấn mạnh nhiều hơn tới sự có mặt quân sự của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mặc dù kinh tế không sáng sủa, ngân sách quốc phòng bị cắt giảm nhưng Mỹ vẫn kiên quyết thực hiện cam kết đảm bảo an ninh với các đồng minh ở khu vực này, trong đó Gates đặc biệt nhấn mạnh đến an ninh biển.

Theo cách sắp xếp truyền thống của Đối thoại Shangri-La, mỗi lần đối thoại đều có một chủ đề liên quan đến “an ninh biển”. Chủ đề năm nay tuy vẫn không ngoại lệ nhưng đọc lên lại có cảm giác “nhức mắt” là “phản ứng trước mối đe doạ an ninh biển”, dễ khiến người ta liên hệ đến những tranh chấp chủ quyền lãnh hải liên tục xảy ra tại biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) thời gian gần đây. Về phương diện này, có thể nước chủ nhà đã cố ý tạo cho Đối thoại diễn ra không suôn sẻ thông qua việc đảo trình tự sắp xếp mang “tính sách lược”. Trước đây Mỹ và Trung Quốc lần lượt phát, đầu tiên là Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản, Hàn Quốc hay Ấn Độ… Nhưng năm nay phát biểu của hai Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và Trung Quốc đã tách ra cách nhau hai ngày. Liền ngay sau phát biểu của Bộ trưởng Lương Quang Liệt ngày 5/6 là phát biểu của Bộ trưởng các nước Malaixia, Việt Nam và Philippin. Quan sát tinh ý sẽ thấy ba nước nói trên đều là những nước có tranh chấp chủ quyền lãnh hải với Trung Quốc, nhất là Việt Nam.

Một sĩ quan cao cấp PLA tham gia phái đoàn đối thoại Trung Quốc nói “trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam quả thực không đủ tư cách là bạn”. Có thể do được một vài nước lớn nào đó ủng hộ, trong thời gian “Đối thoại Shangri-La” Việt Nam đã lợi dụng hai bình diện để công khai chỉ trích Trung Quốc. Trong khi phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã đóng vai quan “mặt đỏ”, vừa lớn tiếng nói đến tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh khu vực Biển Đông, vừa cao giọng cho thấy muốn cùng với nước hữu quan đối thoại để giải quyết vấn đề, nhưng mặt khác lại hưởng ứng theo Mỹ nhấn mạnh tôn trọng Công ước Liên hợp quốc về Luật biển và Luật biển quốc gia, tất cả mọi tranh chấp phải được giải quyết trong khuôn khổ luật pháp quốc tế.

Đồng thời, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh lại tổ chức họp báo, đóng vai quan “mặt đen” chỉ trích Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam, rằng hành động của tàu hải giám Trung Quốc là “hành vi bạo lực”, “cơ quan chấp pháp biển của Việt Nam sẽ căn cứ theo luật biển quốc tế và luật ở trong nước để thi hành pháp luật trên biển” v.v…

Trong những phân tích ở phía sau đối với Việt Nam, thái độ của Mỹ vẫn được cho là không thể coi thường. Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ Willard khi trả lời phỏng vấn của báo chí Trung Quốc đã cho biết rõ rằng “quan hệ giữa chúng tôi với quân đội Việt nam đã có thay đổi, chúng tôi muốn giữ xu thế này. Điều quan trọng nhất là quân đội hai nước chúng tôi hiểu nhau, trao đổi tình báo và từ đó mở rộng ra đến những tiêu chuẩn giá trị mà chúng tôi có thể chia sẻ để đảm bảo an ninh cho khu vực Biển Nam Trung Hoa”. Gates lại càng nói thẳng không hề giấu diếm: “Mỹ và Việt Nam cố gắng mạnh mẽ để xây dựng mối quan hệ song phương vững chắc và đầy sức sống. Mỹ cùng với Việt Nam đã thể hiện ra rằng sẽ xây dựng mối quan hệ sao cho không lặp lại lịch sử. Hôm nay lời cam kết mà dường như đã vượt qua được những trở ngại tưởng như không thể vượt qua đang định hướng cho chúng tôi xây dựng quan hệ đối tác bao gồm các lĩnh vực thương mại, đầu tư, giáo dục, y tế, an ninh và quốc phòng”. Rõ ràng trong vấn đề Biển Đông, cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và các nước liên quan vẫn phức tạp và nhạy cảm hơn do sự can dự tích cực của Mỹ.

Báo Mainichi Shimbun của Nhật Bản ngày 4/6 cho hay bởi lo ngại Trung Quốc về mặt chiến lược nên Chính quyền Obama đã phải nâng cấp quan hệ với Việt Nam lên “một tầm cao mới”. Báo dẫn kết quả một cuộc điều tra của Quốc hội Mỹ cho thấy, để ngăn chặn Trung Quốc kiểm soát Biển Đông, Chính quyền Obama chuẩn bị để Việt Nam, nước láng giềng với Trung Quốc phát huy vai trò quân sự lớn hơn. Trước mắt, Mỹ đang mở rộng viện trợ quân sự cho Việt Nam và Philippin. Có thể nhận thấy ý đồ của Mỹ là muốn phát triển những nước này thành “đê chắn sóng Trung Quốc”. Tình hình nói trên đang báo trước một cuộc chạy đua vũ khí xung quanh hải dương có nguy cơ leo thang.

Thái độ bề ngoài “lui về tuyến sau để đứng vị trí thứ yếu” trong vấn đề điểm nóng Nam Hải (Biển Đông) lần này của Mỹ là rất đáng suy nghĩ. Trong vấn đề Biển Đông, tuy Mỹ vẫn giữ giọng điệu cũ nhưng muốn vấn đề Biển Đông được giải quyết thông qua cơ chế đa phương, đồng thời kiên trì “quyền tự do hàng hải”.

Trong bối cảnh nói trên, quan hệ quân sự Mỹ-Trung và vấn đề Biển Đông có mối liên hệ tế nhị. Trong quá trình lúc tiến lúc lùi của quan hệ quân sự không có nghĩa là quan hệ đã ổn định và hoàn hảo, Biển Đông không phải là vấn đề có thể giải quyết một lần nhưng nếu không có sự tiếp xúc giữa hai quân đội Trung-Mỹ thì vấn đề nhạy cảm này sẽ dễ đi đến chỗ mất kiểm soát.

Học giả trong nước Trung Quốc hiện nay cho rằng thái độ của Mỹ trong vấn đề Biển Đông hiện nay là lạnh lùng và kiềm chế. Có chuyên gai kiến nghị quân đội Trung Quốc cần phải tạm thời áp dụng sách lược phớt lờ, không va chạm trong điều kiện đối phó bình tĩnh, từ đó sẽ lấy tĩnh khắc chế động.

Một số đài truyền hình địa phương Trung Quốc như Đài truyền hình vệ tinh tỉnh Vân Nam tối 9/6 đã phát chương trình toạ đàm sôi nổi giữa các học giả xung quanh vấn đề Biển Đông hiện nay, cho rằng Trung Quốc tuyệt đối không được nhân nhượng. Có tin cho biết Đài truyền hình vệ tinh Phượng Hoàng Hồng Công cũng đang tổ chức chương trình bình luận xung quanh chủ đề này.

***

Trên mục Diễn đàn quân sự của Mạng Sina ngày 7/6/2011 có bài của Thượng uý Hồ Tử Lý thể hiện quan điểm của mình về vấn đề tranh chấp Biển Đông hiện nay, nội dung như sau:

Nhiều phen va chạm giữa Trung Quốc và Việt Nam gần đây về vấn đề Biển Đông không chỉ làm tăng thêm biến số cho quan hệ hai nước, mà còn làm tăng bầu không khí căng thẳng trong khu vực. Tình hình một lần nữa nhắc nhở mọi người rằng nếu bên liên quan không xử lý thoả đáng thì vấn đề Biển Đông sẽ trở thành nhân tố tiêu cực ảnh hưởng đến hoà bình và ổn định khu vực rõ nét nhất. Điều đặc biệt đáng chú ý là biểu hiện của Việt Nam lần này tỏ ra cứng rắn khác thường.

Ngày 29/5 tại buổi họp báo cuối tuần hiếm thấy, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga cho biết “hải quân Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Lời lẽ như vậy không những tỏ thái độ cứng rắn nhất từ trước đến nay, mà rõ ràng cũng đã phá vỡ giới hạn cần có trong vấn đề này.

Để làm rõ ngọn nguồn, cần phải trở lại cả quá trình của sự việc. Cách nói của Trung Quốc và Việt Nam tuy có phần khác nhau nhưng qua lời lẽ của hai bên vẫn có thể thấy được nội dụng khái quát của câu chuyện: Sáng sớm ngày 26/5 tàu chấp pháp của hải giám Trung Quốc tuần tra thường lệ trong vùng biển Nam Hải (Biển Đông), phát hiện tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam đang tác nghiệp ở đó, phía Trung Quốc lập tức yêu cầu Việt Nam dừng hành động “xâm phạm chủ quyền” nhưng tàu Việt Nam từ chối. Tàu Trung Quốc lập tức áp dụng biện pháp cưỡng chế, đã cắt đứt cáp quang của tàu thăm dò Việt Nam.

Hôm sau, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm đến Đại sứ quán Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc bồi thường mọi thiệt hại. Hôm sau nữa tại buổi họp báo, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đáp trả, phê phán Việt Nam “thăm dò dầu khí ở vùng biển do Trung Quốc quản lý, gây tổn hại đến quyền và lợi ích của Trung Quốc”, đồng thời cho biết hành động mà ngành chủ quản Trung Quốc áp dụng hoàn toàn là giám sát chấp pháp biển bình thường. Vậy là, ngày 29/5 Bộ Ngoại giao Việt Nam đã thể hiện thái độ qua cách nói “hải quân Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ”.

Khách quan mà nói, Trung Quốc và Việt Nam tồn tại tranh chấp chủ quyền ở vùng biển Nam Hải là một sự thực. Chúng ta cũng không có ý định mất nhiều lời ở đây, vì đó là vấn đề hết sức phức tạp, không ai thuyết phục được ai. Điều chúng ta muốn chỉ ra là sau khi hai bên xảy ra sự việc, vấn đề cần phải được giải quyết bằng thái độ như thế nào? Dàn xếp nhượng bộ cho êm ả, thông qua đối thoại hiệp thương để giải quyết, hay làm cho sự việc leo thang mất kiểm soát, thậm chí phải dùng đến cả biện pháp quân sự? Đáp an ở đây rất rõ ràng. Trong “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Nam Hải” (Biển Đông) đã quy định rõ “các bên không dùng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp Nam Hải” (Biển Đông). Lần này Việt Nam đã tỏ rõ lá bài “hải quân”, quả thực cũng khiến mọi người ngạc nhiên.

Kỳ thực, nếu phải so sánh lực lượng hải quân Việt Nam về cơ bản không ở cùng một cấp độ, cùng một bình diện với Trung Quốc. Sở dĩ Trung Quốc không dễ dàng nói đến việc sử dụng vũ lực, cũng không phải không tự tin mà vì như vậy không phù hợp với ý tưởng ngoại giao và quốc phòng của chính mình, cũng không muốn kẻ khác mượn cớ làm cho dư luận bên ngoài sôi lên “thuyết về mối đe doạ từ Trung Quốc”, lại càng không muốn vì thế mà ảnh hưởng đến hoà bình, ổn định khu vực, gây tổn hại cho môi trường bên ngoài để tập trung xây dựng kinh tế ở trong nước. Nhưng như vậy hiển nhiên cũng không thể trở thành lý do để Việt Nam dễ dàng nói đến vũ lực. Việt Nam cần biết rõ rằng ngay từ thời kỳ đầu mới xây dựng chính quyền, Trung Quốc đã dám đương đầu với Mỹ trên chiến trường Triều Tiên thì sao có thể khuất phục trước sự hù doạ vũ lực của một quốc gia có lực lượng quân sự hạng ba?

Nguyên nhân Việt Nam lần này cứng rắn khác thường cũng trở thành điểm nóng để dư luận thế giới quan tâm. Tạp chí “Chiến lược quốc gia” của Mỹ cho rằng mấu chốt trong vấn đề Biển Đông là Mỹ khẳng định sẽ ngăn Trung Quốc dừng lại ở chuỗi đảo thứ nhất, nếu không được như vậy cũng phải dừng lại ở chuỗi đảo thứ hai. Dựa vào tranh chấp ở Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, Mỹ thực thi chiến lược này sẽ có thể bỏ một được mười. Xuất phát từ yếu tố này mà Mỹ gần đây đã mở rộng mức độ can thiệp vào vấn đề Biển Đông, lời lẽ đã rõ từ Diễn đàn khu vực ASEAN năm ngoái khi Ngoại trưởng H. Clinton công khai tỏ rõ thái độ, nói rằng vấn đề Nam Hải liên quan đến lợi ích của Mỹ, Mỹ có trách nhiệm cùng với nước hữu quan giải quyết vấn đề này.

Ngày 14/3 năm nay Ngoại trưởng H. Clinton trao đổi qua điện thoại với quan chức Philippin nói rõ tự do hàng hải ở vùng biển quốc tế xung quanh các quần đảo ở Biển Đông là hết sức quan trọng đối với lợi ích quốc gia của Mỹ. Micheal Green, cựu quan chức phụ trách khu vực châu Á thuộc Uỷ ban an ninh quốc gia Mỹ cho rằng tuyên bố như vậy làm cho một số nước Đông nam Á “hơi cảm thấy tự tin”. Rõ ràng, thái độ của Mỹ đã khiến một số nước có tâm lý cáo mượn oai hùm tìm được chỗ dựa.

Tuy nhiên, những nước này cần sáng suốt nhận thấy rằng Mỹ tuy có nhảy vào cuộc xung đột lợi ích trong các công việc ở Biển Đông nhưng nếu sự vệic gần đến điểm giới hạn, nước Mỹ khi đó liệu có đủ ý chí làm được như vậy hay không? Trong cuộc chiến ở một nước nhỏ như Libi, Mỹ đều chủ động lùi về tuyến hai, vậy Mỹ sẽ dám đương đầu vũ lực với Trung Quốc có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới bằng cách nào? Tờ “The Huffington Post” phân tích rằng sau mấy chục năm Mỹ rút khỏi chiến trường Việt Nam, nay Việt Nam một lần nữa lại muốn sử dụng Mỹ để cân bằng với Bắc Kinh, vậy 58 nghìn người Mỹ cuối cùng vì sao lại thiệt mạng? Lịch sử như vậy tin rằng  Việt Nam không thể không biết rõ.

Trên thực tế, các bên đều không nên có ý tưởng đầy tranh chấp Biển Đông đến chỗ phải dùng biện pháp quân sự để giải quyết, vì như vậy đối với ai cũng đều lợi ít hại nhiều. Vì thế từ nhiều năm nay Trung Quốc luôn áp dụng thái độ ôn hoà và nhân nhượng thận trọng. Hành động vượt quá quỹ đạo của nước hữu quan cũng cần phải được kiềm chế hết sức mình. Văn kiện có tên “Báo cáo phát triển hải dương Trung Quốc” do Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc xuất bản năm 2007 đã nói rõ nước hữu quan đã khoan hơn 1.000 giếng dầu trong phạm vi “đường biên giới đứt đoạn” của Trung Quốc, mỗi năm khai thác trên 50 triệu tấn dầu khí. Hãng tin “United Press International-UPI” của Mỹ cho rằng tại vùng Biển Đông được gọi là “Vùng Vịnh Pécxích thứ hai”, Việt Nam, Philippin, Malaixia, Inđônêxia và Brunây là các nước luôn chiếm địa vị chủ đạo về khai thác dầu khí nhưng Trung Quốc chưa bao giờ sử dụng biện pháp quân sự để ngăn chặn các hành động nói trên. Tuy thế các nước hữu quan tuyệt đối không thể xem việc Trung Quốc nhìn nhận đại cục một biểu hiện yếu mềm  có thể lừa gạt mà phải thấy được rằng Trung Quốc không muốn làm to chuyện nhưng cũng không sợ ai mượn dịp để làm to chuyện, lại càng không sợ đe doạ vũ lực./.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 4 phản hồi »

115. Hải quân Trung Quốc tập trận như là lời cảnh cáo tới Việt Nam

Posted by adminbasam on 19/06/2011

Los Angeles Times

Hải quân Trung Quốc tập trận

như là lời cảnh cáo tới Việt Nam

Thủy thủ Việt Nam tuần tra trên một hòn đảo thuộc Trường Sa. Những cuộc tập trận gần đây của Việt Nam ở gần quần đảo tranh chấp đã được hải quân Trung Quốc có câu trả lời đáp lại trong tuần vừa rồi (TTXVN/AFP/Getty Images/ 18-6-2011)

Barbara Demick

Ngày 18-6-2011

Những cuộc tập trận trên biển Nam Trung Hoa làm căng thẳng leo thang, tại một khu vực có tiềm năng lớn về tài nguyên mà một số nước lân cận đều tuyên bố chủ quyền.

Từ Bắc Kinh —  Tuần qua Hải quân Trung Quốc tiến hành tập trận ba ngày – kể cả bắn đạn thật – trong khu vực tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa, làm căng thẳng leo thang tại một khu vực có tiềm năng lớn về tài nguyên mà một số nước lân cận đều tuyên bố chủ quyền.

Hành động phô diễn sức mạnh hải quân ở nơi cách biên giới cực nam Trung Hoa tới hàng trăm hải lý được xem như một lời cảnh cáo gửi tới Việt Nam, nước mà trong tuần qua cũng đã tiến hành tập trận bắn đạn thật gần quần đảo Trường Sa. Một số nước tuyên bố chủ quyền đối với chuỗi đảo đá núi lửa không người ở này, nơi nằm giữa những vỉa san hô lởm chởm và bám đầy phân chim, nhưng được xem là một khu vực rất hấp dẫn, bởi vùng biển xung quanh vốn là bãi cá dồi dào và có thể chứa những mỏ dầu và khí đốt đáng kể.

Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei, cả bốn nước đều tuyên bố quyền tài phán đối với một phần khu vực. Nhưng Trung Quốc cãi rằng chủ quyền của họ đã có từ lâu, vin vào những bản đồ quốc gia cổ cho thấy các đảo đó là một phần không thể tách rời khỏi lãnh thổ của họ.

Hôm thứ sáu, truyền hình quốc doanh (của Trung Quốc) chiếu hình ảnh tàu tuần tra Trung Quốc bắn đạn nhiều lần vào một mục tiêu nằm trên cái gì đó giống như một hòn đảo không người ở, khi hai chiếc phản lực chiến đấu cùng sánh đôi bay vọt lên. Tin tức báo rằng 14 tàu đã tham gia, tập chống tàu ngầm và cập bờ biển, nhằm “bảo vệ những dải san hô và các tuyến đường biển”.

Trong vòng hai năm qua, Trung Quốc đã tăng cường yêu sách chủ quyền đối với những vỉa đá trên biển Nam Trung Hoa, một cách quyết liệt hơn. Tàu dân sự Trung Quốc ngày càng đối đầu nhiều hơn với tàu thăm dò dầu khí và tàu cá của các nước khác, cũng hoạt động trên vùng biển này.

Vụ căng thẳng gần đây nhất xảy ra hồi cuối tháng trước khi Việt Nam buộc tội một tàu cá Trung Quốc, được hai tàu tuần tra hộ tống, đã cố ý cắt cáp của một tàu khảo sát địa chấn thuộc sở hữu của PetroVietnam, công ty dầu khí quốc gia. Quan hệ giữa hai nước tiềm ẩn đầy căng thẳng: Hai bên đã có chiến tranh biên giới năm 1979, và kể từ đó đã vài lần xung đột trên biển, tại quần đảo Trường Sa cũng như một chuỗi đảo khác nữa tên là Hoàng Sa.

Chính quyền Việt Nam đang chịu áp lực từ chính giới truyền thông và những công dân nặng tinh thần dân tộc để phải đứng lên trước Trung Quốc. Cuộc đụng độ trên biển vào tháng 5 vừa qua đã làm bùng nổ một tinh thần chống Trung Quốc ở Việt Nam, và chính quyền đã cho phép vài cuộc biểu tình hiếm hoi diễn ra, nhằm làm cho đám đông, mà chủ yếu là thanh niên, có thể xả bớt phẫn nộ.

Các mạng xã hội cũng đổ thêm dầu vào lửa chống Trung Quốc, thậm chí có cả kiến nghị trên mạng đòi đổi tên biển Nam Trung Hoa thành biển Đông Nam Á.

“Việt Nam đã luôn luôn ở một vị thế tồi tệ khi có một láng giềng to lớn và hùng mạnh như Trung Quốc, nhưng chúng tôi cũng rất phẫn nộ khi chính phủ Việt Nam tỏ thái độ quỵ lụy như thế trước Trung Quốc” – Huỳnh Thục Vy, một blogger, nhà hoạt động, 27 tuổi, nói.

Quan chức Trung Quốc thì bảo họ chỉ thuần túy bảo vệ lợi ích kinh tế quốc gia.

“Chúng tôi không thể tránh khỏi việc phải xử lý vấn đề này. Người Việt Nam đang lấy khí đốt và xâm phạm lãnh thổ chúng tôi” – Hứa Quảng Ngọc (Xu Guangyu), một quan chức quân đội Trung Quốc đã về hưu, cũng là nhà phân tích của Hiệp hội Giải trừ quân bị và Kiểm soát vũ khí Trung Quốc, nói.

Trung Quốc cũng đã cử tàu dân sự lớn nhất của họ đi qua khu vực, phái tàu tuần duyên Haixun nặng 3000 tấn, trang bị trực thăng, đến Singapore. Và báo chí quốc doanh Trung Quốc trích lời một quan chức giấu tên ở Cục Hải dương nói rằng lực lượng hải giám dân sự sẽ được gia tăng từ 9000 nhân viên lên 15000 vào năm 2020.

Với việc Việt Nam và Philippines ra những cảnh báo gay gắt khi Trung Quốc xâm phạm sâu hơn đến các dự án thương mại của họ, các nhà quan sát cho rằng nguy cơ bạo lực đã hiện diện.

“Những diễn biến hết sức căng thẳng, khi các tàu biển có năng lực bán quân sự phớt lờ lời cảnh báo của nhau và tham gia vào những hoạt động gây hấn, có thể dễ dàng tiến triển thành xung đột quân sự” – Stephanie Kleine-Ahlbrandt, văn phòng Bắc Kinh của tổ chức Khủng hoảng Quốc tế, nhận định. “Một khi đạn nổ, chúng ta sẽ thấy mọi thứ leo thang thật sự”.

Cuộc tranh chấp cũng có một số ý nghĩa đối với Mỹ, nước hiện giờ có lực lượng hải quân lớn nhất ở Đông Nam Á và đã từng tuyên bố tự do hàng hải là lợi ích quốc gia của mình. Chính quyền Obama đã kêu gọi các bên có yêu sách mâu thuẫn giải quyết xung đột thông qua một tiến trình ngoại giao quốc tế, có sự tham gia của tất cả các bên có quyền lợi trong vấn đề này.

Trung Quốc bác bỏ cách tiếp cận của Mỹ, cãi lý rằng mọi khác biệt cần được giải quyết riêng rẽ với từng nước.

Do Trung Quốc giữ lập trường mạnh mẽ hơn trong quan hệ quốc tế, nên những nước láng giềng của họ đã lo sợ mà tiếp nhận sự tham gia của Mỹ hơn, thúc đẩy những nước như Việt Nam tìm đến Mỹ để có đối trọng trước thế lực của Trung Quốc.

Nhưng chính quyền Việt Nam cũng rất lưu ý đến một rủi ro, là quan hệ kinh tế đang được tăng cường của họ với Trung Quốc có thể bị gián đoạn. Cho đến giờ, họ đã rất thận trọng, tránh khiêu khích Bắc Kinh quá. Cuộc tập trận bắn đạn thật hôm thứ hai vừa rồi có vẻ là một hành động giảm nhẹ. Nó diễn ra gần đất liền và không có màn bắn tên lửa chống tàu biển.

“Vụ cắt cáp giống như một trò lưu manh” – ông Carl Thayer, một nhà Việt Nam học tại Học viện Quốc phòng Australia, nói. “Nhưng không vì thế mà Việt Nam phải phát động chiến tranh”.

Người dịch: Thủy Trúc

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , | 6 phản hồi »

111. Những điều làm hạn chế mối quan hệ Mỹ-Việt

Posted by adminbasam on 17/06/2011

The Diplomat

Những điều làm hạn chế mối quan hệ Mỹ-Việt

Richard Pearson

Ngày 14 tháng 6 năm 2011

Quan hệ Mỹ-Việt đã được làm cho biến chuyển trong những năm gần đây. Nhưng để cho mối quan hệ này tốt đẹp hơn nữa thì Hà Nội phải bắt đầu có những thay đổi về nhân quyền và dân chủ. 

Mùa hè năm nay đánh dấu 36 năm ngày Sài Gòn thất thủ, 16 năm Mỹ và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao và 14 năm ngày Mỹ khai trương sứ quán tại Hà Nội. Hôm nay thì hai nước đều đang thấy họ chia sẻ nhiều quan điểm hơn về những vấn đề có tầm rộng lớn hơn bao giờ hết. Quả thực các nhà ngoại giao thậm chí đã dùng những từ ngữ nói về một “mối quan hệ chiến lược” đang phát triển giữa Hà Nội và Washington.

Các nhà hoạch định chính sách của cả hai nước có lý do chính đánh để hãnh diện và hăng hái khi nói về những thành tựu của họ và tiềm năng to lớn để phát triển một mối quan hệ thậm chí còn vững chắc hơn nữa trong những năm tới. Phát biểu hôm 31 tháng 5 tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế, thứ trưởng ngoại giao phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương Kurt Campbell đã nói tới việc Washington “mong muốn và có ý định thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ này [mối quan hệ Mỹ-Việt”.

Mặc dù cả hai nước đúng là đang mong muốn xích lại gần nhau hơn nữa, mặc dù Việt Nam vẫn chưa có những cải thiện về nhân quyền và các quyền tự do chính trị, song chính quyền của Barack Obama vẫn giữ lời cam kết với chính quyền Việt Nam bằng toàn bộ khả năng của mình mà không để mất mối thiện cảm của công chúng Mỹ và Quốc hội Mỹ. Tuy cả hai bên cho đến nay đều vẫn tiếp tục có những cơ hội cho sự điều chỉnh và thỏa hiệp, song trách nhiệm giờ đây dứt khoát thuộc về Hà Nội ấy là Hà Nội phải thỏa hiệp với Mỹ bằng cách theo đuổi những cải cách chính sách quốc nội, nhất là trong lĩnh vực tự do chính trị và các quyền dân sự. Nếu Việt Nam thực lòng giải quyết những vấn đề quốc nội này của họ – đây là điều được Campbell gọi là một “yếu tố hạn chế” trong quan hệ giữa hai nước – thì chính quyền của Obama sẽ có nhiều điều kiện hơn nữa để làm việc với Việt Nam và cho phép mối quan hệ giữa hai nước phát triển lên một tầm mức tiếp theo.

Kể từ khi nhậm chức đến nay thì Obama đã có nhiều nỗ lực chính trị nhằm theo đuổi mối quan hệ vững chắc với Đông Nam Á. Washington trong suốt tám năm trước đó đã tỏ ra không còn chú ý nhiều tới Đông Nam Á nên khi lên nắm quyền Obama đã lập tức tăng cường sự cam kết của Mỹ với khu vực quan trọng này. Kể từ khi Obama trở thành tổng thống thì cam kết của Mỹ với Việt Nam đã gia tăng đặc biệt nhanh – tới một mức độ chưa từng thấy kể từ cái thời kỳ sung sướng đến bốc đồng khi Tổng thống Bill Clinton tới thăm Hà Nội năm 2000 và có một bài phát biểu lần đầu tiên của một nguyên thủ nước ngoài được truyền trực tiếp khắp Việt Nam.

Trong khi theo đuổi mối quan hệ chắc chắn hơn với Đông Nam Á và bảo vệ lợi ích hàng hải của Mỹ thì lợi lộc đầu tiên mà Mỹ nhận được là sự tức giận của Bắc Kinh ấy là tại cuộc gặp của các ngoại trưởng tại Diễn đàn Khu vực ASEAN tại Hà Nội tháng 7 năm ngoài Ngoại trưởng Hillary Clinton đã đặt Mỹ vào cùng hàng ngũ với các nước Đông Nam Á khi bà nêu bật mối lo ngại về những tuyên bố chủ quyền hàng hải đầy tham vọng của Trung Quốc ở Biển Hoa Nam [Biển Đông] và bà kêu gọi “một tiến trình ngoại giao hợp tác của tất cả các bên tranh chấp.”

Những hành động như vậy của Mỹ đã được hoan nghênh nhiệt liệt tại một Hà Nội giờ đây đang háo hức thúc đẩy sự hội nhập chính trị và kinh tế với thế giới và đang ngày càng phải cảnh giác với Trung Quốc. Mặt khác, sự ngỏ lời gần đây nhất của Mỹ [đề nghị của Hillary Clinton] có lẽ rút cục đã làm cho hầu hết lãnh đạo Việt Nam hết tin tưởng mù quáng vào suy nghĩ cho rằng Washington luôn tìm cách đạo diễn một “diễn biến hòa bình” để thoát khỏi sự cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự tiếp đón nhiệt tình của Việt Nam hồi tháng 8 năm ngoái dành cho cả hàng không mẫu hạm USS George Washington đi qua vùng biển Việt Nam lẫn chuyến dừng chân ngay sau đó của tàu khu trục USS John S. McCain mang tên lửa hành trình đã chứng minh rằng Hà Nội giờ đây đang coi trọng mối quan hệ an ninh vững chắc với Mỹ. Cũng vậy, việc Việt Nam quyết định gia nhập Đối tác Xuyên Thái Bình Dương [Trans-Pacific Partnership] đang lặng lẽ nổi lên như là diễn đàn ưu tiên châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ đã cho thấy rõ là Hà Nội muốn hội nhập chính trị và kinh tế nhiều hơn nữa cũng như Hà Nội giờ đây ngày càng cảm thấy thoải mái với một Hoa Kỳ đang kiên quyết cam kết sâu với Đông Nam Á.

Tuy nhiên Việt Nam vẫn tiếp tục có những hành xử ở trong nước khiến cho các nhà quan sát của Mỹ phải xa lánh và làm cho một kiểu mối quan hệ gắn bó mà Hà Nội đang mong đợi trở nên bất khả thi và chính quyền của Obama thì không thể biện hộ nổi trên phương diện đạo lý.

Những vụ đàn áp gia tăng nhằm vào các nhà hoạt động chính trị và tôn giáo, việc khởi tố và kết án bất công các nhà bất đồng chính kiến cũng như việc tiếp tục duy trì những quy định hạn chế nhằm vào Internet, truyền thông và báo chí đang khiến cho Việt Nam khó lòng mà nhận được sự ủng hộ hoàn toàn của một chính quyền Obama hiện đã bắt đầu đối mặt với những luồng dư luận phản đối mạnh mẽ ở trong nước.

Toàn bộ những điều nói trên có nghĩa là Hà Nội cần phải tiến lên một cách dứt khoát. Với những căng thẳng ở Biển Hoa Nam [Biển Đông] không thấy có dấu hiệu dịu đi trong ngắn hạn và với việc Trung Quốc đang tiếp tục tăng cường khả năng hải quân thì một mối quan hệ Mỹ-Việt vững chắc đang là vì lợi ích của cả hai bên (dẫu rằng phải thừa nhận một sự thật về động lực sức mạnh toàn cầu và an ninh châu Á là Mỹ có tầm quan trọng đối với Việt Nam nhiều hơn là Việt Nam có tầm quan trọng đối với Mỹ).

Sự cởi mở của chính quyền Obama đối với Việt Nam đã đạt đến ranh giới buộc phải chấp nhận trong xã hội dân chủ và những giá trị của Mỹ và giờ đây đã đến lúc Hà Nội phải thực hiện hành động tiếp theo. Chỉ có bằng cách làm như vậy thì cả Hà Nội lẫn Washington mới có thể phát triển được mối quan hệ vững chắc mà cả hai bên đang có lý do chính đáng để tìm kiếm mối quan hệ đó.

Richard Pearson phó giám đốc phụ trách các chương trình về Trung Quốc, Việt Nam và Biển Hoa Nam của Quỹ Maureen and Mike Mansfield Foundation.

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , | 37 phản hồi »

Việt Nam: Đảng đối đầu với Nhà hoạt động Pháp lý Cù Huy Hà Vũ

Posted by adminbasam on 26/05/2011

Việt Nam

Đảng đối đầu với Nhà hoạt động Pháp lý

Cù Huy Hà Vũ

(Báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền-Human Rights Watch)

May 26, 2011
Read the Report
ISBN: 1-56432-775-2

Xem toàn bộ bản Báo cáo

Mục lục

Thông cáo báo chí về bản Báo cáo

Chị Dương Hà kính mến,

HRW đã công bố báo cáo về Ts. Vũ. Sau đây là các đường dẫn.

Báo cáo bằng tiếng Anh: http://www.hrw.org/en/reports/2011/05/26/vietnam-party-vs-legal-activist-cu-huy-ha-vu-0

Bản dịch tiếng Việt: http://www.hrw.org/en/reports/2011/05/26/vi-t-nam-ng-i-u-v-i-nh-ho-t-ng-ph-p-l-c-huy-h-v

Thông cáo báo chí về báo cáo bằng tiếng Anh: http://www.hrw.org/en/news/2011/05/26/vietnam-free-maverick-legal-activist

Thông cáo báo chí về báo cáo bằng tiếng Việt: http://www.hrw.org/en/news/2011/05/26/vi-t-nam-h-y-tr-t-do-cho-nh-ho-t-ng-ph-p-l-c-l-p-v-ch-nh-tr

Chùm ảnh về vụ án Ts. Vũ: http://www.hrw.org/en/features/vietnam-party-vs-legal-activist-cu-huy-ha-vu

Ngoài ra, thông cáo báo chí của chúng tôi cũng đang được dịch sang tiếng Hoa phổ thông và tiếng Nhật (và có thể sẽ được dịch sang cả tiếng Pháp) và sẽ được gửi tới những cơ quan truyền thông và những tổ chức/cá nhân quan tâm đến vấn đề nhân quyền bằng hai thứ tiếng này.

Nếu không mở được các đường dẫn, chị vui lòng cho tôi biết ngay.

Chúng tôi cũng sẽ tiếp tục vận động (cả công khai lẫn hậu trường) vì sự tự do của Ts. Vũ.

Chúc chị cùng gia đình mạnh khoẻ.

Tôi cũng sẽ cầu nguyện cho anh Vũ.

Trân trọng,

Mary

Đăng trong Bô-xít Tây Nguyên, Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: | 6 phản hồi »

Việt Nam đã bị nước Mỹ bỏ rơi?

Posted by adminbasam on 01/05/2011

San Francisco Chronicle

Việt Nam đã bị nước Mỹ bỏ rơi?

Nguyễn Khoa Thái Anh

Người dịch: Hiền Ba

01-05-2011

Bà Ngô Đình Nhu, người từng phụng sự như là đệ nhất phu nhân của Nam Việt Nam, đã qua đời ở tuổi 86 vào Lễ Phục sinh.

Thật trớ trêu, Bà Nhu qua đời vào hôm 23 tháng Tư, chỉ vài ngày trước lễ tưởng niệm Sài Gòn thất thủ. Mặc dù kết cục đau buồn của cái chương sử dính líu đáng buồn ở Việt Nam đã bị đem đi vứt vào đống rác của lịch sử Mỹ, song cuộc tranh đấu liên tục vì dân chủ và nhân quyền cho người dân Việt Nam lại đang diễn ra ác liệt dưới một hình thức mới mẻ khác.

Hơn một chục nhà bất đồng chính kiến ôn hòa và blogger bị bắt giam. Cù Huy Hà Vũ, đứa con cưng của chế độ và là học giả về luật được đào tạo tại Pháp có tiếng nói thẳng thắn, đã bị một phiên tòa “chuột túi” kết tội và ngạo mạn chặn miệng không cho nói một lời nào bằng một bản án 7 năm tù giam cộng với 3 năm quản chế tại gia.   

Có lẽ cái tin Bà Nhu qua đời, người em dâu của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (từ năm 1955 đến 1963), hầu như không được chính quyền của Obama để ý tới vào lúc họ đang bận túi bụi với cuộc đứng dậy tự giải phóng ở Lybia và ở một nơi nào đó khác ở Bắc Phi và Trung Đông.

Tôi cứ tự hỏi phải chăng nước Mỹ vẫn còn ám ảnh với bóng ma Việt Nam khi họ cân nhắc những vấn đề đeo đẳng lâu nay về Iraq và Afghanistan?

Khi Tổng thống Lyndon Johnson thúc giục Quốc hội thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ hôm 7 tháng 8 năm 1964, báo hiệu cuộc chiến tranh với Hà Nội, thì Obama lúc đó chưa lên 3 tuổi. Nhưng đối với rất nhiều người Mỹ gốc Việt, họ là nạn nhân của cuộc tan rã xảy ra sau năm 1975, thì vụ sát hại ông Diệm và ông Nhu (phu quân của Bà Nhu) để dọn đường cho sự can thiệp quân sự của người Mỹ nhiều nhất cũng vẫn chỉ là một chính sách đối ngoại không trước sau như một, còn tồi tệ nhất thì đó là một sự phản bội gây ra những bi kịch to lớn.

Có lẽ người Việt và cả người Mỹ cũng vậy đều cần suy nghĩ về thái độ kiên định của Bà Nhu tại một cuộc trả lời phỏng vấn do mạng lưới phát thanh và truyền hình ở Boston WGBH thực hiện năm 1982: “Như vậy chính quyền chính danh duy nhất của Việt Nam là chính quyền do Tổng Thống Ngô Đình Diệm đảm đương và đó lại là chính quyền bị Mỹ chặt đầu.”

Là một người dạy Lịch sử Hoa Kỳ và nền Dân chủ Mỹ trong hai thập niên nay, tôi đã đánh vật với hai nguyên tắc cạnh tranh nhau: chủ nghĩa Lý tưởng của Mỹ và Chính sách ngoại giao Đô la. Tôi không thể dạy cho học trò về tính chất phức tạp của những vấn đề liên quan đến Việt Nam mà không cần thừa nhận những vai trò qua lại, ấy là vai trò của một nước Việt Nam đi tìm dân chủ đối lập lại với vai trò của nước Mỹ đang theo đuổi lợi ích quốc gia của họ. Khi nào thì chủ nghĩa lý tưởng kết hợp làm một với chính sách thực tế [realpolitik]?  Và tiền đồ của Việt Nam phản ánh quan điểm của Miền Bắc hay Miền Nam?

Song, cả chính phủ sáng suốt lẫn công chúng Mỹ thiếu kiên nhẫn đều đã không hiểu được tiếng nói của Bắc Việt hay Nam Việt Nam, bất chấp cái điều mà Mục sư Martin Luther King Jr. đã cố gắng nói thay chúng ta ngày nào trong bài diễn văn chống cuộc chiến tranh Việt Nam: “… trong lúc tôi đã cố gắng dùng vài phút cuối cùng này để bày tỏ một tiếng nói nhân danh những người không được cất lên tiếng nói ở Việt Nam và để bày tỏ cảm thông với tiếng nói bất đồng của những người bị gọi là kẻ thù thì tôi đã vô cùng lo lắng về quân đội của chúng ta đang ở đó cũng như bất cứ điều nào khác.”

Hôm nay, chiều chuộng Hà Nội để Việt Nam “cai sữa” ảnh hưởng ý thức hệ của Trung Quốc bằng cách bỏ rơi những khát vọng dân chủ của người Việt Nam thì xem ra dường như đó là một hành động kỳ cục.

Vậy là 36 năm sau kết cục bi thảm dành cho Việt Nam, vào lúc này khi mà tiếng nói của nhân dân ở bên trong đất nước Việt Nam vẫn đang bị bịt cho câm lặng thì tôi lại nhớ đến câu nói: “Đến một lúc nào đó im lặng chính là sự phản bội.”

Và một thời điểm như vậy đang đến đối với chúng ta với tư cách những người Mỹ trong mối quan hệ với Việt Nam.

Ông Nguyễn Khoa Thái Anh dạy môn khoa học xã hội tại một khu học chính ở San Francisco [San Francisco Unified School District].

 

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm vào 05-2011, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

Đăng trong Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Việt | Leave a Comment »

TRẬN SUỐI TRE – VIỆT NAM

Posted by adminbasam on 30/04/2011

The Washington Times

TRẬN SUỐI TRE – VIỆT NAM (ký ức chiến tranh của Mario Salazar)

28-04-2011

Tác giả: Mario Salazar

Người dịch: Phạm Anh Tuấn

MONTGOMERY VILLAGE, tiểu bang Maryland – ngày 21 tháng 3 năm 2011 – đúng ngày này cách đây 44 năm, vào ngày 21 tháng 3 năm 1967 tại khu vực làng Suối Tre thuộc Chiến khu C ở tây bắc Sài Sòn có trận giao tranh. Đó là trận đánh diễn ra trong một ngày tại Việt Nam đã gây cho phía địch số người chết nhiều nhất. Vào giữa trưa ngày 21, chúng tôi đã gom được 647 xác chết của phía địch rồi đặt trong hai hố chôn tập thể rất to được đào bằng xe tăng lắp thêm lưỡi máy xúc. Tôi nhớ lúc ấy đang ăn bữa trưa là hộp khẩu phần C nguội tanh, hai chân tôi buông thõng xuống một trong hai chiếc hố đó. Chưa kịp ăn xong tôi đã phải bỏ đi chỗ khác vì mùi bốc lên từ dưới hố không thể chịu nổi và có người đã vứt mẩu thuốc lá đang hút xuống dưới hố làm cho quần áo của một xác chết bắt lửa bốc mùi khói rất khói chịu. Nghe có vẻ như tôi đã không còn cảm xúc gì cả? Không phải vậy; đó là một trong những điều thực tế xảy ra trong chiến đấu mà ta phải thích nghi hoặc buộc phải chấp nhận.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chiến tranh VN, Quan hệ Mỹ-Việt | Tagged: , | Leave a Comment »

Một thời Chiến tranh

Posted by adminbasam on 08/04/2009

THE WALL STREET JOURNAL

Một thời Chiến tranh

Có phải cuộc chiến tranh Việt Nam là ‘không thể chiến thắng’ hay không?

ARTHUR HERMAN

Ngày 7-4-2009

Cuộc chiến gây nhiều tranh cãi nhất đã kết thúc cách đây 34 năm vào tháng nầy. Có hai trường phái đưa ra ý kiến về những gì đã xảy ra ở Việt Nam.

Trường phái thứ nhất được dạy trong các trường đại học và trong những cuốn giáo khoa cho  rằng chiến tranh VN là cuộc chiến sai lầm, hiện diện không đúng chỗ và không đúng lúc. Vì sự hoang tưởng về Chiến tranh Lạnh, trường phái nầy tiếp tục câu chuyện, rằng Hoa Kỳ đã bị vướng vào giữa một cuộc nội chiến mà Bắc Việt Nam và nhà lãnh đạo của họ, ông Hồ Chí Minh, chắc chắn sẽ thắng và rằng Mỹ và đồng minh của họ, miền Nam Việt Nam, chắc chắn sẽ thua.

Trường phái thứ hai, mới xuất hiện gần đây hơn, liên quan tới sự tái xem xét các bằng chứng trên chiến trường và tại Ngũ Giác Đài — và rút ra chứng cớ từ chính những người miền Bắc Việt Nam — đang kết luận rằng quân đội Hoa Kỳ đã thành công hơn nhiều tại Việt Nam so với những gì mà người ta vẫn tưởng. Quan điểm của những người xét lại nầy cho rằng cuộc xung đột không phải chỉ có thể chiến thắng mà còn thắng lớn vào tháng Một năm 1973, khi Hiệp định Hòa bình Paris được ký kết thuyết phục Bắc Việt Nam công nhận Nam Việt Nam và chấp nhận đường ranh giới giữa hai quốc gia nầy (một bản thỏa thuận mà miền Bắc ngay tức khắc đã vi phạm). Tuy nhiên, vào lúc đó, Quốc hội Hoa Kỳ đã từ chối không chịu hỗ trợ miền Nam Việt Nam nữa. Bởi vậy, nước Mỹ đã đứng qua một bên khi mà một tấn thảm kịch đã xảy ra sau đó và chắc có lẽ hai triệu thường dân vô tội đã bỏ mạng — và chủ nghĩa cộng sản đã giành được một chiến thắng không xứng đáng trong cuộc Chiến tranh Lạnh.

Cuốn sách của John Prados “Việt Nam: Lịch sử của một cuộc Chiến tranh không thể thắng, 1945-1975″, như tựa đề của nó đã gợi lên, là một toan tính cố níu kéo những chướng ngại chống lại trường phái thứ hai (trường phái nhận thức mới) và làm hồi sinh trường phái thứ nhất (trường phái xưa cũ).

Ông Prados, một thành viên kỳ cựu của Cục Lưu trữ An ninh Quốc gia thuộc trường đại học George Washington University và, theo như ông nói với chúng tôi, đã là một người chống cuộc Chiến tranh Việt Nam, ông đưa ra một bức tranh chi tiết về một chính phủ Hoa Kỳ không có ước muốn để đương đầu với những sai lầm của họ và một quân đội Mỹ đã bị thất bại bởi một sự nổi dậy của lực lượng du kích quân. Ông thêu dệt câu chuyện về hoạt động phản chiến vào trong bản miêu tả về chính cuộc chiến tranh đó trong một nỗ lực phô bày cho thấy làm cách nào mà ông ta cùng những người phản chiến khác đã hiểu thấu sự không ích lợi gì của cuộc chiến (VN) sớm hơn rất nhiều những chính trị gia ở Washington.

Trên tất cả, ông Prados biện minh rằng nước Mỹ đã thất bại tại Việt Nam là bởi Mỹ “đã không hiểu cuộc cách mạng Việt Nam,” một cuộc cách mạng, theo quan điểm của ông, về căn bản là một cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thuộc địa.

Nhưng tấn bi kịch phơi bày ra sau khi người Mỹ rời khỏi Việt Nam đã gợi lên rằng các nhà lãnh đạo Mỹ, khởi đầu là Harry Truman, đã hiểu “cuộc cách mạng” Việt Nam quá rõ, ông coi Hồ Chí Minh không phải là một nhà dân tộc chủ nghĩa mà là một người ưa chuộng lý thuyết (CS) và có ước muốn làm công cụ  (tự nguyện) cho  cả Joseph Stanlin lẫn Mao Trạch Đông — nghĩa là, như một người đã sẵn sàng đưa chủ nghĩa cộng sản vươn xa mà không cần biết cái giá (chiến tranh) phải trả.

Trong điều này, ông Hồ tương tự nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên, Kim Nhật Thành. Trên thực tế, những nét tương đồng giữa Triều Tiên và Việt Nam đang trở nên ngày càng đáng chú ý hơn qua thời gian. Trong cả hai trường hợp, một chế độ theo chủ nghĩa Stalin ở miền Bắc đã cố gắng chiếm lấy nước láng giềng (Nam Hàn và Nam Việt Nam) ở phương nam của họ; trong cả hai trường hợp, quân đội Hoa Kỳ đã được triển khai để đẩy lui sự gây hấn. Ông Prados đã che đậy phần (sai lầm) này của câu chuyện, bằng cách không nói gì về việc làm thế nào mà chế độ (cộng sản) đã giành được chính quyền tại Miền Bắc Việt Nam vào năm 1954 đã tàn sát một cách có hệ thống những đối thủ chính trị của họ và khủng bố  tầng lớp nông dân bằng nhiều cách thức đã chứng tỏ là tương tự một cách đáng sợ với những trò khủng bố kinh hoàng của Khmer Đỏ ở Cambodia 20 năm sau đó (1975-1978).

Ông Prados đặc biệt không muốn  thừa nhận rằng chính sự can thiệp của các đơn vị bộ binh Mỹ đã chận đứng trước tiên — và sau đó, trong cuộc Tổng tấn công Tết (Mậu Thân) tháng Một năm 1968 — đã bẻ gãy cuộc nổi loạn của Việt Cộng được Hà Nội hậu thuẫn tại miền Nam, đẩy quân đội Bắc Việt Nam phải rút lui vào nơi trú ẩn của họ tại Lào và Cambodia. Nỗ lực của chính quyền Nixon phá tan những nơi ẩn náu này và tăng cường cuộc chiến tranh trên không (cuộc ném bom) tại miền Bắc Việt Nam là thành quả cuối cùng bắt buộc Hà Nội phải ngồi vào bàn hội nghị thương lượng.

Thay vì đó, ông Prados đã đem tới cho chúng ta một cuộc chiến mà trong đó những người Mỹ chưa bao giờ làm bất cứ điều gì đúng và những người cộng sản chưa bao giờ làm bất cứ điều gì sai, cho tới khi cuối cùng hàng ngàn người biểu tình phản chiến, trong đó có John Kerry và các cựu bình Việt Nam Chống lại cuộc Chiến tranh, cùng xuống đường để buộc Washington và công luận Mỹ phải đối mặt với thực tế và rút ra khỏi Việt Nam.

Tuy nhiên, thực tế thì rõ ràng và khác xa với những gì được nhìn thấy, phái tả phản chiến đã dựng nên một phiên bản được tiểu thuyết hóa về những gì đang xảy ra tại Việt Nam. Ông Hồ độc tài đã được miêu tả sinh động như là một (tổng thống) George Washington Á châu; một chiến thắng có tính quyết định như dịp Tết (Mậu Thân 1968) thì được tô vẽ lên như là một sự thất bại của người Mỹ [1]. Người lính Mỹ bình thường đã được miêu tả như là một kẻ vũ phu sát nhân. Tương tự, cuộc ném bom vào Cambodia để ngăn chận cho đất nước đó khỏi bị Hà Nội tấn công chiếm giữ — một hành động mà các nhà lãnh đạo Cambodia và các nghị sĩ và dân biểu của Quốc hội đã biết rõ và đã chấp thuận — thì lại bị quy cho như là hành động bí mật và bất hợp pháp; và cuộc tấn công của Mỹ vào Cambodia năm 1970 phá tan các căn cứ trú ẩn của Bắc Việt Nam và giảm cường độ cuộc chiến đã được trình bày như là một hành động mở rộng chiến tranh.

Rồi sau đó, vào năm 1975, khi quân đội Bắc Việt với số lượng lớn lao đã tấn công miền Nam Việt Nam vi phạm hiệp định Paris không thể nào chối cải được và các bạn đồng minh của miền Bắc Việt Nam, như Khmer Đỏ, đã chiếm lấy Cambodia, một số các thành viên của phe cánh tả đã tổ chức kỷ niệm chiến thắng nầy của cộng sản cứ như là chiến thắng của chính họ — theo những ngôn ngữ chính trị đó là cuộc chiến thắng. Khi Sài Gòn sụp đổ, hàng tít lớn từ bài tường thuật trên tờ New York Times của Sydney Schanberg viết là: “Đông Dương Không còn Người Mỹ nữa: Đối với Đa số Mọi Người, một Cuộc sống sẽ Tốt đẹp hơn.”

Giờ đây chúng ta biết rõ hơn. Chúng ta biết về 65.000 người Nam Việt Nam đã bị tàn sát khi Hà Nội tiếp quản và về hàng ngàn thuyền nhân đã chết trong khi trốn chạy khỏi chính thể cộng sản và về con số có lẽ chắc chắn tới 250.000 người đã chết trong các trại cải tạo.

Thế nhưng ông Prados  kết thúc cuốn sách của mình bằng cách đơn giản kéo một tấm mạng che lên những gì đã xảy ra sau đó khi nước Mỹ đã rời bỏ Việt Nam và những người cộng sản đã tiếp quản.

Đó là một thực tế mà cánh tả (cộng sản) vẫn thường chống lại, khi đó cũng như bây giờ: những người Mỹ đã chiến đấu và hy sinh ở Việt Nam cho tự do, cũng giống  như công việc mà họ đang làm ở Iraq và Afghanistan hôm nay. Bất luận những sai lầm nào mà các vị tướng và các nhà hoạch định chính sách đã thi hành trong cuộc chiến ấy thì cũng không thể tách khỏi cái sự thật quan trọng nói trên—sự thật ấy phải là một phần của bất cứ thứ lịch sử đáng tin cậy nào.

Cuốn sách “Gandhi and Churchill: Sự tranh giành những thành tựu to lớn đã đánh bại một đế chế thuộc địa và nặn ra thời đại của chúng ta” của ông Herman sẽ được phát hành vào cuối tháng này.

Hiệu đính: Trần Hoàng

[1] theo tài liệu của miền Bắc, miền Nam và của Mỹ, cuộc tổng kết chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 cho thấy đã có 70.000 ngàn bộ đội Bắc Việt và Việt Cộng đã chết, so với 4000 lính của miền Nam Việt Nam175 lính Mỹ đã chết, và khoảng hơn 10.000 thường dân vô tội  miền Nam đã bị thiệt mạng; trong ấy gần 6000 – 7000 người miền Nam bị cộng sản trói tay, bắn, đập đầu chôn sống tại thành phố Huế.

 
 

THE WALL STREET JOURNAL

A Time of War

Was the Vietnam War ‘unwinnable’?

APRIL 7, 2009

By ARTHUR HERMAN

America’s most controversial war ended 34 years ago this month. There are two school s of thought about what happened in Vietnam. The version taught in colleges and textbooks is that it was the wrong war in the wrong place at the wrong time. Thanks to Cold War paranoia, the story goes, the U.S. wound up caught in the middle of a civil war that North Vietnam and its leader, Ho Chi Minh, were bound to win and that America and its ally, South Vietnam, were bound to lose.

The second, more recent, version, involving a re- examination of the evidence on the battlefield and at the Pentagon — and drawing on testimony from the North Vietnamese themselves — concludes that the U.S. military succeeded far better in Vietnam than was once supposed. The revisionist view suggests that the conflict was not only winnable but largely won by January 1973, when the Paris Peace Accords were signed compelling North Vietnam to recognize South Vietnam and to honor the border between the two countries (an agreement the North immediately violated). By then, however, the U.S. Congress refused to support South Vietnam any further. So America stood on the sidelines while a tragedy ensued and perhaps as many as two million innocent people lost their lives — and communism won an unearned Cold War victory.

John Prados’s “Vietnam: The History of an Unwinnable War, 1945-1975″ is, as its title suggests, an attempt to hold the barricades against the new version and resuscitate the old. Mr. Prados, a senior fellow of the National Security Archive at George Washington University and, as he tells us, once a Vietnam War protester, offers a detailed picture of a U.S. government unwilling to confront its mistakes and an American military baffled by a guerrilla insurgency. He weaves the story of the antiwar movement into his account of the war itself in an effort to show how he and other protesters grasped the futility of the war far earlier than the politicians in Washington.

Mr. Prados argues, above all, that America failed in Vietnam because it “failed to understand the Vietnamese revolution,” which, in his view, was essentially a long anticolonial struggle. But the tragedy that unfolded after America left Vietnam would suggest that America’s leaders, starting with Harry Truman, understood the Vietnamese “revolution” only too well, seeing Ho Chi Minh not as a nationalist but as an ideological soul mate and willing tool of both Josef Stalin and Mao Zedong — that is, as a man prepared to extend communism’s reach regardless of the cost.

In this, Ho resembled North Korea’s leader, Kim Il Sung. In fact, the parallels between Korea and Vietnam become more striking over time. In both cases a Stalinist regime in the north tried to overrun its neighbor to the south; in both cases U.S. military force was deployed to fend off the aggression. Mr. Prados glosses over this part of the story, saying nothing about how the regime that took power in North Vietnam in 1954 systematically butchered its political opponents and terrorized the peasantry in ways that would prove to be frighteningly similar to those of the Khmer Rouge in Cambodia 20 years later.

Mr. Prados is particularly unwilling to concede that it was the intervention of American ground troops that first halted — and then, during the Tet Offensive of January 1968 — finally broke the Hanoi-backed Viet Cong insurgency in the South, compelling the North Vietnamese army to pull back to its sanctuaries in Laos and Cambodia. The Nixon administration’s effort to smash those sanctuaries and to intensify the air war over North Vietnam was what finally forced Hanoi to the negotiating table.

Mr. Prados gives us instead a war in which the Americans can never do anything right and the communists never do anything wrong, until finally thousands of antiwar protesters, including John Kerry and the Vietnam Veterans Against the War, take to the streets to force Washington and the American public to face reality and get out of Vietnam.

Far from seeing reality more clearly, however, the antiwar left constructed a fictionalized version of what was happening in Vietnam. The totalitarian Ho was portrayed as an Asian George Washington; a decisive victory like Tet was painted as an American defeat. The average American soldier was depicted as a murderous brute. Likewise, the bombing of Cambodia to prevent that country from being overrun by Hanoi — a move that Cambodia’s leaders and members of Congress knew about and approved — was branded as secret and illegal; and the American incursion into Cambodia in 1970 to break up North Vietnamese sanctuaries and wind down the war was presented as a move that widened it.

Then, in 1975, when a massive North Vietnamese army overran the South in blatant violation of the Paris treaty and the North’s former allies, the Khmer Rouge, took over Cambodia, certain members of the left celebrated the communist victory as if it were their own — which, in political terms, it was. When Saigon fell, the headline to Sydney Schanberg’s New York Times story read: “Indochina Without Americans: For Most, a Better Life.”

Now we know better. We know of the 65,000 South Vietnamese murdered when Hanoi took over and of the thousands of boat people who died fleeing the communist regime and of the perhaps 250,000 who died in re-education camps. But Mr. Prados ends his book by simply pulling a veil over what ensued when America left Vietnam and the communists took over.

It is a fact that the left routinely resists, then as now: Americans fought and died in Vietnam for freedom, just as they are doing in Iraq and Afghanistan today. Whatever mistakes generals and policymakers have made along the way cannot detract from that essential truth — which should be a part of any reliable history.

Mr. Herman’s “Gandhi and Churchill: The Epic Rivalry That Destroyed an Empire and Forged Our Age” appears in paperback later this month.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

Đăng trong Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Việt, Quân sự | Leave a Comment »

Điểm sách: OSS và HỒ CHÍ MINH – đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật

Posted by adminbasam on 08/01/2008

OSS và HỒ CHÍ MINH – đồng minh bất ngờ

trong cuộc chiến chống phát xít Nhật


Cuốn sách nầy cùng một cuốn nữa (tên là Why Viet Nam – Tại sao Việt Nam) tui đã lỗi hẹn bà con mấy lần là sẽ giới thiệu. Vậy nhưng “lỗi” mà lại hay, vì giờ đúng vô lúc mà ta rất cần nhìn lại cái bi kịch của Dân tộc, tuồng như luôn bị lỡ những “chuyến tàu” đi cùng với bè bạn bốn phương, để rồi nay bị Tàu ức hiếp mà cắc cớ khó làm cho người bạn nào tin là mình thiệt lòng để đặng dang tay giúp đỡ, phần vì kẻ ức hiếp lại là “anh em môi răng” với mình. “Ngậm bồ hòn làm ngọt”. Đau quá !

Tại sao người ta cố giấu nhẹm, bóp méo nhiều sự thực lịch sử vô cùng quan trọng liên quan tới vận mệnh, tương lai Dân tộc ? Đọc cuốn sách này, bà con sẽ thấy một phần. Cũng như Ba Sàm tui từng kêu gào trong một bài báo trên trang 3 blog nầy. Giờ tui xin tóm lược những điều hệ trọng mà bị lơ đi trong lịch sử qua cuốn sách trên, cùng chút phân tách tại sao người ta lơ đi vậy.

Trong sử “chính thống” cũng như tài liệu về cụ Hồ Chí Minh, chưa bao giờ các sử gia nói tới chuyện ông cụ đã từng có những quan điểm tương đồng, những mối quan hệ gần gũi, hợp tác và tranh thủ sự giúp đỡ của người Mỹ ra sao. Gần như duy nhứt có tình tiết cụ trích một đoạn Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, hoặc gần đây đôi ba bài báo thận trọng đưa ra vài thông tin “tham khảo” … Nhưng chuyện này vẫn vô cùng là bí ẩn, nên mới từng có tổng biên tập một tờ báo danh tiếng bị mất chức vì dám … rờ tới sự thật lịch sử. Đến cả chuyện mới nữa là người ta bỏ tiền sao/mua rất nhiều tài liệu về cụ Hồ lưu trữ bên Nga, vậy mà một năm qua rồi hổng thấy có công bố cho nhân dân biết mà mừng, nhân dịp đợt học tập dài dài tấm gương đạo đức của cụ nữa chớ (sao không học tấm gương cụ kiên trì chịu đựng bị cái ông Sít-ta-lin trù ẻo bảy tám năm trời bên đó ?)

Tui xin tóm lược cuốn sách, là thời Thế chiến thứ hai, khi cụ Hồ đang hoạt động ở bên Nga-Sô, sau đó là Tàu, tình hình thế giới và trong nước cực kỳ phức tạp. Mỹ tuy là đồng minh với tụi Tây thực dân nhưng lại rất chống chánh sách thực dân của Anh, Pháp, Hòa Lan. Những người kháng chiến Việt Nam tuy chống Tây đô hộ nhưng lại là “đồng minh” với Tây và nhiều nước chống phát xít Đức, I-ta-li, Nhựt Bổn. Anh chàng Nga-Sô tuy là đồng minh với Mỹ, nhưng lại là cộng sản-tử thù với phe tư bổn Mỹ. Ảnh cũng hổng tin gì cái lực lượng kháng chiến Việt Nam của cụ Hồ, vì ảnh xét lý lịch cụ, ngó bộ ổng khoái lo giải phóng Dân tộc mình chớ không mặn mà chi cái vụ “giải phóng toàn nhơn loại” (nay càng thấy tào lao quá trời rồi – ổng tài quá há ?) Thêm nữa ổng cũng từng bị đì bảy tám năm bên “thành trì XHCN” rồi, nên mới tính chuyện bắt tay với anh Mẽo hay hơn. Nhưng Mẽo bị cắc cớ, tuy chống thực dân nhưng cũng không muốn mất lòng ông bạn Tây thực dân, cần chung lưng chống phát xít, lại vừa nghi ngờ cụ Hồ là cộng sản gộc, mà trong nội bộ cũng có hai phe (phe bênh cụ Hồ, phe chống). “Đen” cho ta nữa, là Tổng thống Mỹ Roosevelt, người hăng hái chống chủ nghĩa đế quốc-thực dân Pháp nhứt thì lại mất sớm đúng vô lúc quan trọng. Ông từng có nhiều động thái và tuyên bố có lợi cho nền độc lập hoặc “uỷ trị quốc tế” của Việt Nam, như “Đông Dương không thể quay lại với Pháp”, “… Đông Dương nên được lấy khỏi tay người Pháp và đặt dưới sự ủy trị quốc tế”. Hay trong một giác thư gởi cho ngoại trưởng Cordell Hull, ổng viết ”Hơn một năm qua tôi đã bày tỏ quan điểm rằng, Đông Dương không nên trở lại với người Pháp mà nên được quản lý bởi một cơ quan ủy trị quốc tế. Pháp đã chiếm nước này – 30 triệu dân – trong gần 100 năm, và lúc này người dân nghèo khổ hơn giai đoạn đầu … Trường hợp Đông Dương hoàn toàn rõ ràng. Pháp đã bòn rút nơi này 100 năm. Người dân Đông Dương có quyền hưởng những gì tốt đẹp hơn thế”(trang 75). Đương nhiên lý do ông này chống Pháp cai trị tiếp xứ này còn nhiều, đọc vô sẽ thấy hấp dẫn vô cùng.

Chưa hết cực cho ông già. Đó là trong nước nhiều lãnh tụ cộng sản ít được “đi đây đi đó” như ổng, lại sớm được đưa vô “lò luyện” của “thành trì XHCN”, nên cái đầu cách mạng nó “nóng” quá, vậy là các cha nội này cũng coi ông già là người không “kiên định lập trường” … Còn nữa. Đó là nhiều đảng phái không phải “cộng sản” cũng kháng chiến chống Tây đô hộ, họ cũng có thế lắm chớ bộ. Vậy là vô cùng khó nếu như muốn có “ngọn cờ” đoàn kết các lực lượng kháng chiến trong nước, đồng thời tranh thủ Mẽo, Nga-Sô, … Nhưng thiệt kỳ lạ, ông Hồ Chí Minh ổng ra chiêu hợp tác, nhận cung cấp tin tức tình báo cho cơ quan tình báo Mẽo OSS (tiền thân của Xịa CIA ngày nay) cùng đồng minh chống phát xít. Có cái chưn đó rồi, ông cụ dựa vô, tận dụng cái “mác” có cao bồi Mẽo sau lưng. Trời đất, bữa ổng từ bên Tàu về nước sau bao nhiêu năm phiêu bạt, rồi từ Tân Trào về Hà Nội, đều có Mẽo mắt xanh súng ống, điện đài … ngon lành đi theo “hộ tống”, ổng còn thủ bức hình chụp chung tới tướng Mẽo Claire Chennault chỉ huy Không đoàn Cọp Bay 14 khét tiếng, đem ra nhá nhá … các “đàn em” trong nước ngó xanh le mắt, theo rần rần, khỏi thắc mắc chi cho mệt. Vì hồi đó cả thế giới kính nể anh cao bồi Mẽo này dễ sợ luôn.

Vậy nhưng rồi làm sao mà sau đó ta hổng thân với Mẽo nữa ? Rồi còn uýnh nhau te tua …, theo hai anh Nga, Tàu rồi “khánh kiệt”. Thiệt là bi kịch lịch sử. Nhìn vô đó mà rút kinh nghiệm cho ngày nay, mai sau. Xin bà con đọc hết mới rõ được.

Và trong những ngày sục sôi chuyện Tàu xâm lấn đảo này, ta càng thấy cần suy ngẫm kỹ chuyện cũ để rút ra bài học kinh nghiệm, biết tìm bạn mà chơi, biết cách “chơi” ra sao cho bạn tin. Riêng Ba Sàm tui còn liều đưa ra cái ngu ý là nay ta học tập tấm gương của cụ Hồ, vậy nên học ngay cái cách chơi với Mẽo mà hạn chế bớt anh Tàu hay ức hiếp đi. Thời đó nhiều cái khó khăn, nên ông cụ mới hổng đi tới được với Mẽo, còn ngày nay thời thế thuận lợi quá trời rồi … Uở, nhưng hổng còn ông cụ nữa ? … Còn mấy “ông kẹ” giờ thì … bà con biết rồi. Tui chào thua !

À, chút xíu quên ! Còn cái lý do là làm sao người ta hổng muốn nói tới cái màn hợp tác thân thiện này với anh Mẽo, để tới giờ mới nhín nhín đưa ra ? Hiểu dễ ợt. Đó là nhiều năm sau, vì cái trớ trêu của lịch sử buộc ta phải uýnh nhau với Mẽo, dzậy mà ca là từng thân với nó, tổng thống của nó chống chánh sách thực dân, đấu tranh cho tự do … thì còn ra cái gì nữa. Phải chưởi, nói xấu nó tới số đi chớ ! Rồi ta theo “thành trì XHCN”, còn Mẽo là “thành trì TBCN”, vậy mà kể ra là ta từng thân thiết với kẻ thù thì coi như ta “phản bội” chớ còn chi nữa. Các quan trên coi dân mình còn đang ngu si vì bị cái “chánh sách ngu dân” của Tây bao năm rồi, nên sợ nói thiệt ra bà con hổng có tin. Rồi các cha cũng ngán cái vụ nếu nói ra, bà con, cán bộ mình khoái Mẽo quá, chạy theo rần rần là … chào thua. Dzậy đó. Giờ thì nói thiệt hết cũng chưa hết … ngán, nhứt là mấy cha từng ham xạo thấu trời luôn, giờ cũng run, thôi thì nó thiệt … từ từ. Bà con ráng chờ nha. Kiếp sau là sướng thôi à.

Xin bà con chú ý thêm: đó là cuốn sách nầy cũng được chua bên trang trong là “Sách tham khảo”, y chang cuốn “Trung Quốc trước ngã ba đường” mà tui đã khoe trên trang 78 blog nầy và “giải mã” ba cái chữ “sách tham khảo”, “lưu hành nội bộ”, nó mang tính “tiếp thị” ra sao. Nhưng quan trọng nhứt là ba cái sách nầy ưa nói … thiệt, ít bị “ăn bớt” chữ khi dịch/biên tập. Mua nhanh rủi hết nha !

Điểm báo: quá nhiều chuyện bức xúc để khen/chê quanh làng báo ta suốt mấy tuần qua, nhưng đành hầu bà con một chuyện đã, rồi hẹn kỳ sau.

Hoàn toàn tự do … trong chuồng: Nhớ hồi nhỏ Ba Sàm tui hay làm những chuyện ngu dễ sợ luôn. Có lần tui nhốt cả bầy gà vô cái chuồng nhỏ xí. Tui bắt tụi nó ăn, uống, ỉa, đẻ, ấp trứng, … làm tình, uýnh nhau tranh bạn tình ngay tại chỗ, hổng cho ra vườn nữa. Rồi ăn chắc, tui đem cái chuồng gà nhét vô trong cái chuồng heo, chuồng heo nầy tui lại xây trong cái chuống bò. Tui biểu tụi gà: Tụi mầy giờ được hoàn toàn tự do rồi đó. Khoái thì quậy tới bến luôn đi ! Trời đất, mấy tháng sau tui hổng có nhận ra được bầy gà “tự do” của tui nữa.

Nhưng bữa rồi đọc bài báo hay dễ sợ, làm mình … hoài niệm tới thời thơ ấu. Đó là có cái ông tên Hợp, ổng hổng có bị … như mình hồi bé, nhưng cũng hồn nhiên quá trời luôn. Có Luật Báo chí mà chưa xong, thêm hàng đống quy chế, văn bản trời ơi nữa, lại mỗi tuần giao ban giao hoan chi chi đó búa xua, dzậy mà ổng biểu sắp tới ổng còn ra liền thêm tới 4 cái quy chế quản lý báo chí nữa cho chắc cú. Rồi ổng ca nghe tưng tưng, là Được bốn quy chế này thì báo chí hoàn toàn tự do. Dzậy bà con thấy rõ là ổng hơn tui hồi nhỏ chưa, hay là y chang ? (mời bấm vô đọc luôn)

Ba Sàm

Bổ sung, 24/9/2011: Mời bà con vô đọc sách nầy trên trang VN Thư quán:

http://www.pagewash.com/nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2fiaguhdhna.arg/gehlra/gehlra.nfck=3fgvq=3d2dgdi3z3237aia0a0adaga31a343gd83n3d3z3237aia&NfckNhgbQrgrpgPbbxvrFhccbeg=3d1

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvn0n0nqntn31n343tq83a3q3m3237nvn&AspxAutoDetectCookieSupport=1

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Việt | Tagged: , | 3 phản hồi »

 
%d bloggers like this: