BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Quan hệ Mỹ-Trung’ Category

1089. Sự kết thúc của phép mầu ở châu Á

Posted by adminbasam on 19/06/2012

Foreign Policy

Sự kết thúc của phép mầu ở châu Á

Tác giả: ANTOINE VAN AGTMAEL

Người dịch: Dương Lệ Chi

11-06-2012

Bậc thầy về đầu tư, người đã đặt ra thuật ngữ “thị trường mới trỗi dậy”, vừa từ châu Á trở về, nhận thấy rằng, sự suy giảm kinh tế là có thực và cung cấp 5 sự kiện chuyển hóa, đang định hình lại nền kinh tế toàn cầu.

Nơi tôi đã đi: Gần đây, tôi đã trở về từ một chuyến đi hai tuần đến châu Á, viếng thăm Ấn Độ, Thái Lan, Hồng Kông, Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc. Tôi đã đến các nước này nhiều lần trong vòng 25 năm qua, với tư cách là giám đốc đầu tư và sau này là Chủ tịch Công ty Emerging Markets Management và AshmoreEMM. Trong chuyến đi, tôi đã gặp một số nhà hoạch định chính sách cấp cao, giám đốc ngân hàng, giám đốc điều hành công ty, nhà đầu tư, nhà nghiên cứu và các học giả. Nhưng, nơi mà tôi đã từng gần như lạc quan mọi thứ, lần này tôi rời khỏi với một cảm giác rất khác. Vài năm trước, một cảm giác lan rộng rằng thế giới phát triển đã rơi khỏi bệ của nó, rằng châu Á đã không những thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, mà hệ thống của nó còn tốt hơn. Sự quá tự tin đó hiện nay dường như không còn nữa. Thay vào đó là một cảm giác dễ bị tổn thương. Càng có thêm nhận thức về nhược điểm chính trị liên quan đến con đường phát triển riêng của họ và ngay cả các mối quan ngại mới về kinh tế, về các thách thức đối với lợi thế cạnh tranh mà họ vừa có được.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | Tagged: | 11 Comments »

1080. Hoa Kỳ tạm bỏ qua tranh chấp Biển Đông

Posted by adminbasam on 14/06/2012

Time

Hoa Kỳ tạm bỏ qua tranh chấp Biển Đông

Tác giả: Kirk Spitzer

Người dịch: Trần Văn Minh

11-06- 2012

TOKYO – Các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông đã xong, Trung Quốc đã thắng và Hoa Kỳ không quan tâm nữa. Nhưng điều đó không hẳn là xấu.

Trong khi những tranh cãi về việc ai làm chủ bãi đá ngầm, đá nổi và bãi cạn ở Biển Đông có lẽ sẽ còn kéo dài, Hoa Kỳ để dành sức lực cho trận chiến quan trọng hơn: giữ các tuyến đường biển quan trọng được tự do lưu thông mà không bị quấy nhiễu.

Cuộc đối đầu kéo dài hàng tháng ở một bãi cạn ngoài khơi mà cả Trung Quốc lẫn Philippines đều giành chủ quyền, tất cả đã chấm dứt vào cuối tuần này khi chính phủ Obama báo hiệu sẽ không can thiệp. Có nghĩa là, tàu tuần duyên Trung Quốc, kẻ đã đuổi chiến hạm Philippines ra khỏi bãi cạn Scarborough hồi tháng 4, sẽ trụ lại đó vô thời hạn, cả những tàu đánh cá và tàu khảo sát biển.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 33 Comments »

1074. Hãy thừa nhận Trung Quốc là một đối thủ

Posted by adminbasam on 10/06/2012

The Diplomat

Hãy thừa nhận Trung Quốc là một đối thủ

Tác giả: Dân biểu James Randy Forbes

Người dịch: Trần Văn Minh

07-06-2012

Các nhà hoạch định chính sách ở Bắc Kinh đã thừa nhận Hoa Kỳ là một đối thủ. Washington thừa nhận điều này, không có nghĩa là sẽ đưa đến xung đột.

Bất chấp xu hướng trong một thập niên qua, có một sự miễn cưỡng khủng khiếp ở các viên chức chính phủ Hoa Kỳ khi nói chuyện công khai về các thách thức mà chúng ta đối mặt với Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa. Điều này cần phải chấm dứt. Các viên chức Hoa Kỳ phải thừa nhận rằng, trong khi có nhiều cơ hội hợp tác với Trung Quốc, nhưng cũng có những yếu tố trong mối quan hệ của chúng ta đang và sẽ còn cạnh tranh. Thực ra, chúng ta đang tham gia vào một cuộc cạnh tranh thời bình kéo dài với Trung Quốc mà tâm điểm là sự bất đồng quan điểm về hệ thống quốc tế. Điều này không có nghĩa là sự xung đột giữa hai nước không thể tránh khỏi. Nhưng nếu lãnh đạo Hoa Kỳ có ý định huy động nguồn lực ngoại giao và quân sự để tiến hành cạnh tranh đường trường, đầu tiên, họ phải lên tiếng thẳng thắn hơn về khả năng phát triển và ý định chiến lược của Bắc Kinh.  

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung | 5 Comments »

1071. Xung đột vũ trang ở Biển Đông

Posted by adminbasam on 09/06/2012

Council On Foreign Relations

Xung đột vũ trang ở Biển Đông

Bản ghi nhớ số 14 về kế hoạch đối phó với các sự cố bất ngờ

Tác giả: Bonnie S. Glaser

Người dịch: Dương Lệ Chi

Tháng 4 năm 2012

Giới Thiệu

Nguy cơ xung đột ở biển Hoa Nam (ND: biển Đông) là đáng kể. Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Philippines có tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán, đặc biệt là quyền khai các thác nguồn dầu khí bao la, có thể có trong khu vực. Tự do hàng hải trong khu vực cũng là vấn đề gây tranh cãi, đặc biệt giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, về quyền của các tàu quân sự Mỹ hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý (EEZ) của Trung Quốc. Các căng thẳng này đang hình thành và được định hình do lo ngại ngày càng gia tăng về sự phát triển sức mạnh quân sự của Trung Quốc và ý định của họ trong khu vực. Trung Quốc đã thực hiện việc hiện đại hóa đáng kể lực lượng hải quân bán quân sự, cũng như năng lực hải quân để thực thi các tuyên bố chủ quyền và quyền tài phán bằng vũ lực, nếu cần. Cùng lúc, họ đang phát triển các khả năng sẽ gây nguy hiểm cho lực lượng của Mỹ trong khu vực trong một cuộc xung đột, do đó có khả năng từ chối, không cho Hải quân Hoa Kỳ đi vào khu vực Tây Thái Bình Dương.

Đọc tiếp »

Posted in ASEAN, Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 7 Comments »

1062. Phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta tại Đối thoại Shangri-La, Singapore

Posted by adminbasam on 05/06/2012

Bộ Quốc phòng Mỹ

Phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta tại Đối thoại Shangri-La, Singapore

Người dịch: Dương Lệ Chi

02-06-2012

Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta: Cảm ơn John rất nhiều cho lời giới thiệu tốt đẹp đó.

Thưa quý vị, thật là một vinh dự cho tôi khi lần đầu tiên có được cơ hội tham dự hội nghị Shangri-La. Tôi muốn khen ngợi Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) về việc thúc đẩy cuộc đối thoại rất quan trọng này, cuộc thảo luận quan trọng này đang diễn ra ở đây vào cuối tuần này.

Được biết, tôi là Bộ trưởng Quốc phòng thứ ba của Mỹ có mặt tại diễn đàn này, trải qua các chính phủ từ cả hai đảng phái chính trị ở Mỹ. Tôi tin rằng, đó là một minh chứng cho tầm quan trọng của Hoa Kỳ ở những nơi năng động trong khu vực và quan trọng trên thế giới.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | Tagged: , | 47 Comments »

1055. VỀ CHIẾN LƯỢC TRỞ LẠI CHÂU Á CỦA MỸ

Posted by adminbasam on 03/06/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

VỀ CHIẾN LƯỢC TRỞ LẠI CHÂU Á CỦA MỸ

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ bảy, ngày 2/6/2012

TTXVN (Niu Yoóc 30/5)

Chiến lược trở lại châu Á trong quan hệ Mỹ-Trung

“Tạp chí Chính trị Thế giới” (Mỹ) ngày 24/5 đăng bài của tác giả Mohan Malik, giáo sư về An ninh châu Á thuộc Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương, tại Honolulu, trong đó khẳng định rõ ràng mối quan hệ Mỹ-Trung là mối quan hệ song phương quan trọng nhất của thế giới trong những năm đầu thế kỷ 21. Mối quan hệ đó không những ảnh hưởng đến thực trạng của các mối quan hệ song phương khác mà còn tạo nên những diễn biến trật tự khu vực và đề ra chương trình của các tổ chức quốc tế.

Không như các cường quốc khác, mối quan hệ Mỹ-Trung là mối quan hệ đa chiều, toàn diện, phức tạp và không thể trở thành con tin cho bất cứ vấn đề nào đó. Đây là hai nền kinh tế lớn nhất, hai nước tiêu thụ các nguồn tài nguyên lớn nhất và có lượng khí thải nhà kính CO2 lớn nhất thế giới. Nhưng hai nước cần đến nhau để đạt được thành công trong một nền kinh tế thế giới toàn cầu hóa. Hai nước chia sẻ trách nhiệm duy trì nền hòa bình và ổn định ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương – nơi được coi là có ý nghĩa sống còn của nền kinh tế cũng như chính trị thế giới trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ quốc tế, Quân sự | 1 Comment »

1045. Chạy đua vũ trang điên cuồng ở châu Á

Posted by adminbasam on 31/05/2012

FPIF/ Huffington Post

Chạy đua vũ trang điên cuồng ở châu Á

Tác giả: Conn Hallinan

Người dịch: Dương Lệ Chi

29-05-2012

Châu Á hiện đang chạy đua vũ trang chưa từng có, đây không chỉ là cuộc đua căng thẳng dữ dội trong khu vực mà còn là sự cạnh tranh của các nước châu Á với những nỗ lực nhằm giải quyết sự chênh lệch giữa đói nghèo và phát triển kinh tế. Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo – được tính bằng hệ số Gini, đo sự bất bình đẳng – đã tăng từ 39% đến 46% ở Trung Quốc, Ấn Độ, và Indonesia. Mặc dù các gia đình giàu vẫn tiếp tục có được nhiều của cải hơn và nhận được phần lớn hơn trong chiếc bánh kinh tế, “Trẻ em sinh ra trong những gia đình nghèo có khả năng tử vong khi còn là trẻ sơ sinh có thể lớn hơn gấp 10 lần” so với những em được sinh ra trong các gia đình giàu có, theo Changyong Rhee, trưởng kinh tế gia thuộc Ngân hàng Phát triển Châu Á.

Súng đạn thay cho thực phẩm

Xu hướng bất bình đẳng này đặc biệt sâu sắc ở Ấn Độ, nơi tuổi thọ trung bình thì thấp và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh thì cao, nền giáo dục chắp vá, mù chữ phổ biến rộng rãi, cho dù tình trạng của đất nước là nền kinh tế lớn thứ ba ở châu Á, sau Trung Quốc và Nhật Bản. Theo một tổ chức từ thiện độc lập, Quỹ Naandi, khoảng 42% trẻ em Ấn Độ bị suy dinh dưỡng. Bangladesh, một đất nước nghèo khó hơn, nhưng ở tất cả các lĩnh vực này thì tốt hơn nhiều.

Đọc tiếp »

Posted in ASEAN, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quân sự, Trung Quốc | Tagged: | 9 Comments »

1035. Vì sao châu Á cần Mỹ?

Posted by adminbasam on 27/05/2012

The Diplomat

Vì sao châu Á cần Mỹ?

Tác giả: TNS John McCain

Người dịch: Dương Lệ Chi

22-05-2012

Thượng nghị sĩ John McCain nói rằng Hoa Kỳ vẫn là đối tác được nhiều nước châu Á lựa chọn. Nhưng Washington cần phải đặt chuyện tranh cãi chính trị của mình sang một bên.

Trong tháng này, tôi đã gặp một phái đoàn doanh nghiệp đến từ Malaysia, một người trong số họ đã nói với tôi rằng: “Thượng nghị sĩ McCain, khi chúng tôi nhìn vào nước Mỹ hiện giờ, dường như các ông hoàn toàn bị rối loạn. Hệ thống chính trị của các ông dường như không có khả năng đưa ra các quyết định cơ bản để khắc phục các vấn đề tài chính và cho thế giới thấy quyết tâm để giải quyết vấn đề“. Và nhân tiện, ông ấy cũng đã nói thêm: “Một số người ở châu Á sử dụng những thất bại đó để phá hoại lòng tin mà bạn bè của các ông vẫn còn tin vào các ông“. Tôi hoàn toàn đồng ý với ông ta.

Đọc tiếp »

Posted in ASEAN, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quân sự | 13 Comments »

988. CHIỀU HƯỚNG CHIẾN LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA MỸ VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ TRUNG-MỸ

Posted by adminbasam on 15/05/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

CHIỀU HƯỚNG CHIẾN LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA MỸ VÀ

XU THẾ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ TRUNG-MỸ

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ hai, ngày 14/5/2012

(Tạp chí “Thế giới đương đại ” – Trung Quốc)

Một năm trở lại đây, sau khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu kết thúc, kinh tế Mỹ vẫn tiếp tục suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao không giảm. Trước bối cảnh đó, về mặt ngoại giao, Tổng thống Obama giữ lời hứa trong bầu cử, vào ngày 31/8/2010, tuyên bố kết thúc hoạt động tác chiến của quân đội Mỹ tại Irắc và sẽ rút toàn bộ quân đóng tại Irắc vào cuối năm 2012. Theo sau đó là Hội nghị NATO tháng 12/2010 quyết định NATO và quân đội Mỹ sẽ bắt đầu rút quân khỏi. Ápganixtan từ năm 2014. Đồng thời với xu thế kết thúc hai cuộc chiến tranh tại Irắc và Ápganixtan, Mỹ cũng đang xem xét và tìm kiếm phương hướng ngoại giao và chiến lược, an ninh của mình thời kì hậu chiến tranh Irắc, đẩy mạnh hành động “quay trở lại” và khôi phục vai trò và vị thế của mình ở các khu vực trên thế giới. Song trước mắt, trong một hai năm tới, trọng điểm chiến lược toàn cầu của Mỹ vẫn là hai cuộc chiến tranh Irắc và Ápganixtan, ngoại giao Mỹ vẫn chưa và cũng như không thể hoàn toàn tiến vào “thời kì hậu chiến tranh Irắc”.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Mỹ-Trung, Quân sự | 3 Comments »

985. BÀN THÊM VỀ TRẦN QUANG THÀNH

Posted by adminbasam on 14/05/2012

blshe.com

BÀN THÊM VỀ TRẦN QUANG THÀNH

Tác giả:  Lý Thần Huy 

Người dịch:  Băng Tâm

05-05-2012

Trần Quang Thành bị giam lỏng tại nhà, có thể nói thị trấn Chu Tao là nơi chó ăn đá gà ăn sỏi. Nghe nói quan chức chính quyền địa phương từng bảo Trần Quang Thành rằng để vây hãm anh ta, chỉ riêng chi phí “bảo trì” đã tốn mất từ 30-60 triệu tệ, quả là điều không thể tưởng tượng nổi. Để ứng phó với một người tay không tấc sắt, thậm chí đến cả đôi mắt cũng không có như vậy mà đã phải cần như thế để làm to chuyện ư? Hạn chế tự do cá nhân của một công dân một cách vô đạo lý như thế rút cuộc là dựa trên đạo luật nào? Thực ra, Trần Quang Thành chẳng qua chỉ là bảo vệ quyền lợi, hơn nữa theo những tư liệu chúng tôi nắm được, thì anh ta đã tiến hành bảo vệ quyền lợi hoàn toàn dựa theo các pháp lệnh, Hiến pháp của nhà nước. Nhưng một khi đã bảo vệ quyền lợi thì thường là sẽ đề cập đến chuyện phải lên trên. Vả lại, Trần Quang Thành là con người có tinh thần kiên cường, có va phải tường cũng không lùi bước. Cho nên, cấp này không phải quyết được, anh ta thường sẽ tìm đến cấp cao hơn. Tìm hết cấp này đến cấp khác, thường lại phải tìm đến Bắc Kinh. Hai vụ án bảo vệ quyền lợi thành công mà chúng ta từng nói tới cũng đều phải tìm đến Bắc Kinh thì mới giải quyết được vấn đề.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | Tagged: | 5 Comments »

983. CUỘC CHIẾN ĐẤT HIẾM VỚI TRUNG QUỐC

Posted by adminbasam on 13/05/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆTNAM

CUỘC CHIẾN ĐẤT HIM VỚI TRUNG QUỐC

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ bảy, ngày 12/5/2012

TTXVN (Oasinhtơn 9/5) Ngày 2/5, nhà nghiên cứu Jane Nakano của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế có bài phân tích v những căng thng xung quanh vấn đề đất hiếm và sự độc quyền của Trung Quc, với tựa đ “Căng thng ngày càng tăng về sự độc quyn đt hiếm của Trung Quc . Bài viết đăng trên trang web của Trung tâm Đông – Tây. Sau đây ni dung bài viết.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Mỹ-Trung | Tagged: | 8 Comments »

978. Bạc Hy Lai, Trần Quang Thành và làm ăn ở Trung Quốc

Posted by adminbasam on 11/05/2012

Forbes

Bạc Hy Lai, Trần Quang Thành và làm ăn ở Trung Quốc

Tác giả: Jack Perkowski

Người dịch: Dương Lệ Chi

07-05-2012

Các sự kiện chính trị ở Trung Quốc đã chiếm lĩnh tin tức trong vài tháng qua, làm lu mờ những câu chuyện về nền kinh tế, thường là các tin hàng đầu của đất nước này.

Bắt đầu hôm 6 tháng 2 khi Vương Lập Quân, cảnh sát trưởng Trùng Khánh, tìm cách trú ẩn ở Lãnh Sự quán Hoa Kỳ tại Thành Đô. Lo sợ cho mạng sống của mình trong tay của Bạc Hy Lai, Bí thư Thành ủy đầy quyền lực ở Trùng Khánh, ông Vương nói với các nhà ngoại giao Mỹ rằng vợ của ông Bạc đã đầu độc doanh nhân người Anh, người đã từng là thân tín của gia đình ông Bạc. Hành động của ông Vương là sự kiện gây ra sự sụp đổ của một cựu ngôi sao đang lên, nhận được ân sủng từ Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã và đang xuất hiện trên mặt báo nhiều chưa từng có.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 5 Comments »

977. NGUYÊN NHÂN KHIẾN MỸ KÍCH ĐỘNG MỘT CUỘC CHIẾN TRANH LẠNH VỚI TRUNG QUỐC

Posted by adminbasam on 11/05/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆTNAM

NGUYÊN NHÂN KHIẾN MỸ KÍCH ĐỘNG MỘT CUỘC CHIẾN TRANH LẠNH VỚI TRUNG QUỐC

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ tư, ngày 9/5/2012

TTXVN (ttaoa 7/5)

Mạng tin “Nghiên cứu toàn cầu” ngày 1/5 đăng bài của Tiến sĩ Paul Craig Roberts phân tích về nguyên nhân khiến Mỹ đang kích động một cuộc chiến tranh lạnh lâu dài, khi trù tính một cuộc xung đột vi Trung Quc với nội dung sau:

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Mỹ-Trung, Quân sự, Trung Quốc | Tagged: , , | 54 Comments »

918. Sau cơn bão trên Biển Đông

Posted by adminbasam on 24/04/2012

Asia Times

Sau cơn bão trên Biển Đông

Tác giả: Nazery Khalid

Người dịch: Đỗ Quyên

Ngày 21-4-2012

Vụ đụng độ gần đây giữa tàu Trung Quốc vàPhilippinestrên Biển Đông (nguyên văn: biển HoaNam) đã một lần nữa đẩy bầu không khí chính trị trên tuyến đường biển chiến lược này lên một tầm mức đáng lo ngại.

Khả năng căng thẳng tạm lắng xuống đã hết, mở đường cho những vùng biển nổi sóng. Xô xát bùng lên khi con tàu lớn nhất của hải quân Phlippines – tàu Gregorio del Pilar – bắt gặp 8 tàu cá Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp gần bãi cạnScarborough.

Khi hải quân Philippines – cho rằng tàu Trung Quốc xâm phạm vào biển Philippines – chuẩn bị lên tàu cá và bắt thủy thủ đoàn, hai tàu hải giám Trung Quốc được phái tới khu vực đã xông vào chặn giữa Gregorio del Pilar và các tàu cá. Sau đó bên nào bên nấy thi nhau buộc tội đối phương xâm phạm chủ quyền của mình và ra lệnh cho đối phương phải rời đi.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: | 5 Comments »

909. MỸ LO NGẠI TRUNG QUỐC DÙNG TIỀN MUA ẢNH HƯỞNG TẠI KHU VỰC SÂN SAU

Posted by adminbasam on 21/04/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆTNAM

MỸ LO NGẠI TRUNG QUỐC DÙNG TIỀN MUA ẢNH HƯỞNG TẠI KHU VỰC SÂN SAU

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ tư, ngày 18/4/2012

TTXVN (Oasinhtơn 15/4)

Cũng giống như ở một số nước châu Phi và châu Á, tại khu vực Caribê và Mỹ Latinh – nơi được coi là khu vực sân sau của Mỹ – cũng đang xuất hiện các sân vận động, các ngôi trường hoặc các bệnh viện mơi được xây lên bằng tiền biếu tặng của Trung Quốc. Dùng tiền bạc đã và đang trở thành một công cụ hiệu quả trong chiến lược sử dụng sức mạnh mềm của Bắc Kinh để bành trướng anh hưởng và vị thế tại các nước thế giới thứ ba. Đây là những diễn biến khiến Mỹ lo ngại và không ít lần lên tiếng cảnh báo.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung | 4 Comments »

903. Tại sao Mỹ cần Đài Loan?

Posted by adminbasam on 19/04/2012

The Diplomat

Tại sao Mỹ cần Đài Loan?

Tác giả: Mark Stokes & Russell Hsiao

Người dịch: Đỗ Quyên

Ngày 13-4-2012

Tác chiến trên không và trên biển không nên chỉ là việc của nước Mỹ. Hợp tác chặt chẽ với Đài Loan có thể mang lại lợi ích và góp phần bảo đảm thế cân bằng quân sự ổn định ở châu Á-Thái Bình Dương.

Một bài viết của nghị sĩ Mỹ, ông Randy Forbes (thuộc Đảng Cộng hòa, bang Virginia) trên báo The Diplomat tháng trước, tựa đề “Tầm nhìn của Mỹ về chiến tranh trên không và trên biển Thái Bình Dương”, kêu gọi Quốc hội ủng hộ chiến lược của Lầu Năm Góc về “Tác chiến trên không và trên biển” – một khái niệm được tạo ra để tăng cường khả năng phối hợp giữa các lực lượng không quân và hải quân trong việc thể hiện sức mạnh trước những thách thức ngăn cản quyền đi lại trong khu vực (nguyên văn: anti-access, area denial, viết tắt A2/AD, nghĩa là “chống tiếp cận, phong tỏa khu vực”). Cụ thể hơn, Nghị sĩ Forbes chỉ ra rằng, Mỹ nên hành động để “lôi kéo các đồng minh của chúng ta vào kế hoạch này”. Quả thật, để Mỹ có thể thể hiện quyền lực của họ một cách hiệu quả trong môi trường A2/AD, mạng lưới các đồng minh và đối tác liên minh lâm thời sẽ là những yếu tố thiết yếu giúp Mỹ thể hiện sức mạnh ở châu Á-Thái Bình Dương được mềm dẻo hơn và thích ứng hơn với các thế lực, bên trong cũng như bên ngoài, đang trỗi dậy thách thức an ninh khu vực.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quân sự | Tagged: | 7 Comments »

867. Mỹ tăng cường sự hiện diện ở Đông Nam Á

Posted by adminbasam on 05/04/2012

Asia Times Online

Mỹ tăng cường sự hiện diện ở Đông Nam Á

Tác giả: Jacob Zenn

Người dịch: Đỗ Quyên

Ngày 4-4-2012

Washington – Ngân sách sắp cắt giảm, những quan niệm vẫn còn rơi rớt về chủ nghĩa đế quốc của Mỹ, và cách hành xử không hay của quân đội Mỹ ở châu Á, tất cả đã làm cho chữ “base” (căn cứ) trở thành một từ có bốn chữ cái (*) ở hầu hết các nước Đông Nam Á. Nhưng khi Washington đặt lại khu vực vào tầm ưu tiên chiến lược, thì có nhiều điều ước linh hoạt mới cho phép quân đội Mỹ lấy lại chỗ đứng ở đây, mà chẳng hề kích động tinh thần dân tộc chút nào.

Nhiều nước Đông Nam Á hoan nghênh sự hiện diện của quân đội Mỹ, nhất là trước những hành động khiêu khích và yêu sách hung hăng của Trung Quốc tại các vùng tranh chấp trên Biển Đông (nguyên văn: Biển Hoa Nam). Tuy nhiên, bất kỳ tín hiệu nào cho phép Mỹ thiết lập căn cứ vĩnh viễn ở đây, giống như ở Okinawa (Nhật Bản) hay Căn cứ không quân Clark trước kia ở Philippines, đều bị các nhà lập pháp gạt bỏ ngay lập tức.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung | 10 Comments »

862. Dầu hỏa, yêu sách chủ quyền, và cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung trên biển Đông

Posted by adminbasam on 03/04/2012

CSIS – THE WASHINGTON QUARTERLY

Biển Đông: Dầu hỏa, yêu sách chủ quyền, và cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung

Leszek Buszynski

Mùa Xuân, 2012

Bài lên mạng ngày 19-03-2012

Nguy cơ xung đột leo thang từ những sự kiện tương đối nhỏ đã tăng lên trên Biển Đông trong hai năm qua, với những tranh chấp mà giờ đây ít được để mở cho đàm phán hoặc giải pháp. Ban đầu, tranh chấp nổi lên sau Thế chiến II, khi các quốc gia ven biển – Trung Quốc và ba nước khác trong Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là Indonesia, Malaysia và Philippines, cũng như Việt Nam sau đó có tham gia ASEAN – tranh nhau chiếm hữu các hòn đảo ở đó. Nếu vấn đề này tiếp tục là một vấn đề về chủ quyền thì nó đã có thể được giải quyết thông qua các nỗ lực của Trung Quốc nhằm vươn tới ASEAN và thắt chặt hơn quan hệ với khu vực này.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 11 Comments »

844. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NAM HẢI KHÔNG ĐƯỢC DỰA VÀO VŨ LỰC

Posted by adminbasam on 28/03/2012

Ifeng.com

NGÔ KIẾN DÂN: 

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NAM HẢI KHÔNG ĐƯỢC DỰA

VÀO VŨ LỰC, CÀNG ĐÁNH CỤC DIỆN CÀNG LOẠN

Tác giả:  Lại Cánh Siêu, Lôi Huy

Người dịch:  Quốc Thanh

Ngày 25-03-2012

Về Ngô Kiến Dân:  Là nhà ngoại giao kỳ cựu. Hiện là Phó hội trưởng Hội nghiên cứu chiến lược sáng chế và phát triển quốc gia, Ủy viên Hội đồng tư vấn chính sách ngoại giao Bộ ngoại giao, Chủ tịch danh dự Cục triển lãm quốc tế[i]

Ngô Kiến Dân sinh năm 1939, năm 1959 tốt nghiệp khoa tiếng Pháp Học viện ngoại ngữ Bắc Kinh, từng làm phiên dịch tiếng Pháp cho các nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai…. Ông từng là nhân viên lứa đầu tiên của Đoàn đại diện Trung Quốc tại Liên hiệp quốc, từng đảm nhận nhiệm vụ Người phát ngôn Bộ ngoại giao, đại sứ ở nước ngoài. Khi về nước, ông đảm nhận các chức vụ Hiệu trưởng Học viện ngoại giao, Phó chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại Hội nghị hiệp thương chính trị toàn quốc…, ngoài ra còn từng đảm nhận chức vụ Chủ tịch Cục triển lãm quốc tế năm 2003-2007, là người Trung Quốc đầu tiên, người Châu Á đầu tiên, người thuộc các nước đang phát triển đầu tiên đảm nhận chức vụ quan trọng này.   

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Tagged: , , , , , | 33 Comments »

799. Trò chuyện với vị giáo sư song tịch

Posted by adminbasam on 12/03/2012

Slate

Trò chuyện với vị giáo sư song tịch

Vì sao Giáo sư Minxin Pei lại cho rằng Mỹ thực hiện chủ nghĩa tư bản tốt hơn Trung Quốc – chỉ duy nhất có tại cuộc tranh luận trên tạp chí Slate/ Intelligence Squared, sẽ được tường thuật trực tiếp vào ngày 13 tháng 3.

Katy Waldman

Người dịch: Nguyễn Tâm

07-03-2012

Giáo sư Minxin Pei có nhiều điểm đặc biệt: sinh ra ở Thượng Hải, trở thành công dân có quốc tịch kép Trung – Mỹ sau khi đến Mỹ hoàn tất các chương trình sau đại học tại Havard. Ông từng giữ cương vị Giám đốc Chương trình Trung Quốc tại Viện Carnegie (Carnegie Endowment for International Peace), và hiện đang giảng dạy môn chính phủ học tại trường Claremont McKenna College. Giáo sư Pei là tác giả cuốn sách China’s Trapped Transition (Quá trình chuyển tiếp bế tắc của Trung Quốc) và cuốn From Reform to Revolution (Từ cải cách đến cách mạng), mặc dù có lời lẽ bình luận thẳng thắn về hệ thống kinh tế của Mỹ và Trung Quốc, đôi lúc ông cũng thích bông đùa (Có lần tôi hỏi ông, làm thế nào Mỹ giữ được vị thế thích hợp trong cán cân quyền lực toàn cầu, ông đùa rằng Phi trường Quốc tế Washington Dulles thì tệ). Giáo sư Pei đặt nhiều hy vọng xen lẫn lo ngại về cả hai quốc gia quê hương: Ông cho rằng Trung Quốc và Mỹ nên nắm bắt xu hướng gia tăng phụ thuộc lẫn nhau, nhưng cũng thất vọng trước lòng tham của giới quan liêu Đảng Cộng sản [Trung Quốc] và những người lãnh đạo của điều mà ông gọi là “Đảng Tư bản Hoa Kỳ”.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 14 Comments »

778. Khi chúng ta ngủ thì Trung Quốc chuẩn bị chiến tranh

Posted by adminbasam on 01/03/2012

Top Secret Writer

Khi chúng ta ngủ thì Trung Quốc chuẩn bị chiến tranh

Tác giả: WC

Người dịch: Đan Thanh

13-02-2012

Khi Trung Quốc cài số chuẩn bị chiến tranh thì Tổng thống Obama tập trung vào việc tạo điều kiện cho nhiều người Trung Quốc sang Mỹ du lịch hơn để ngăn chặn suy thoái – hai quan điểm này có gì sai?

Khi Trung Quốc củng cố khái niệm “trỗi dậy hòa bình” của họ, người ta lấy làm lạ.

Trung Quốc có quan hệ tranh chấp với tất cả 14 quốc gia có chung đường biên giới với họ cũng như những quốc gia không chung biên giới. Nếu có thể tin được đảng cộng sản, thì Trung Quốc là đất nước của hòa bình và hài hòa.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 30 Comments »

723. CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA MỸ: TỪ PHƯƠNG DIỆN ĐẾN CỨU CÁNH

Posted by adminbasam on 15/02/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

CHIN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA M: TỪ PHƯƠNG DIỆN ĐN CỨU CÁNH

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ ba, ngày 14/2/2012

Theo Đài RFI, vào lúc dư luận thế giới tập trung vào tình hình Eo biển Hormuz thì Chính quyền Obama và giới chuyên gia chiến lược lần lượt đưa ra những sách lược liên quan đến điểm nóng tại châu Á-Thái Bình Dương.

Ngày 5/1/2012, Tổng thống Obama thông báo chính sách “định vị” tại châu Á-Thái Bình Dương thì không đầy một tuần sau, nhóm chuyên gia của Trung tâm nghiên cứu về an ninh mới của Mỹ (CNAS) công bố bản phúc trình 115 trang, kêu gọi Oasinhtơn theo đuổi chính sách “hợp tác ưu tiên” tại Nam Hải (Biển Đông), thúc giục Mỹ gia tăng sức mạnh hải quân để bảo vệ tự do giao thông ở Biển Đông và giúp Đông Nam Á bảo vệ độc lập. Trung tâm nghiên cứu CNAS được sáng lập bởi hai chuyên gia hàng đầu về địa chiến lược là Kurt Campbell, Trợ lý Ngoại trưởng đặc trách châu Á-Thái Bình Dương và Michele Flournoy, cựu quan chức cáo cấp trong Bộ Quốc phòng.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Tài liệu TTXVN, Trung Quốc | 17 Comments »

693. LIỆU CHIẾN TRANH MỸ-TRUNG CÓ XẢY RA?

Posted by adminbasam on 05/02/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

LIỆU CHIẾN TRANH MỸ-TRUNG CÓ XẢY RA?

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ bảy, ngày 4/2/2012

Sự điều chỉnh chiến lược quốc phòng ca Mỹ đã khiến một s người đặt vấn đề xung đột quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc có th sẽ là điu không tránh khỏi. Phóng viên BBC thường trú tại Bắc Kinh Damian Grammaticas có bài phân tích, nội dung như sau:

Liệu sự trỗi dậy của Trung Quốc có dẫn đến xung đột với Mỹ? Liệu Bắc Kinh có sẽ tuyên chiến với siêu cường toàn cầu hay không?

Các câu hỏi này không được đưa ra trực tiếp trong bản điều chỉnh chiến lược quốc phòng của Mỹ. Tuy nhiên, dù không nói ra, nó vẫn hiện diện trong đó, vẫn nằm xuyên suốt trong tài liệu được cho là sẽ định hình tư duy quân sự mới của Mỹ trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Tài liệu TTXVN, Trung Quốc | 24 Comments »

673. QUAN HỆ TRUNG-MỸ: HAI SỰ LỰA CHỌN LỚN VÀ TƯƠNG LAI

Posted by adminbasam on 01/02/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

QUAN HỆ TRUNG-MỸ: HAI SỰ LA CHỌN LỚN VÀ TƯƠNG LAI

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ ba, ngày 31/1/2012

TTXVN (Bắc Kinh 17/1)

Tạp chí “Tuần tin tức Trung Quốc” s ra ngày 15/1, đăng bài viết “Quan hệ Trung-Mỹ: hai sự lựa chọn lớn và tương lai” của tác giả Bào Thịnh Cương, một học giả về quan hệ quốc tế của Trung Quốc, trong đó cho rằng quan hệ Trung-Mỹ tồn tại hai sự lựa chọn lớn, một là đi theo hướng đối kháng, hình thành cục diện chiến tranh lạnh mới; hai là tái cân nhắc cấu trúc G2, hình thành cục diện Trung-Mỹ cùng thống trị thế giới. Hai sự lựa chọn lớn này quyết định hai tương lai khác nhau của quan hệ Trung-Mỹ và hướng đi của địa chính trị thế giới.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 20 Comments »

670. Chấm dứt giai đoạn cả thế giới cùng thắng

Posted by adminbasam on 30/01/2012

Foreign Policy

Chấm dứt giai đoạn cả thế giới cùng thắng

Lý giải vì sao sự trỗi dậy của Trung Quốc lại thật sự nguy hại cho Mỹ – và sự hoạt động của các thế lực đen tối khác.

Tác giả: GIDEON RACHMAN

Người dịch: Nguyễn Tâm

24-01-2012

Tôi đã trải qua quãng đời làm việc lâu dài để viết về chủ đề chính trị quốc tế theo quan điểm của tạp chí Economist, và nay là tờ Financial Times. Chung quanh tôi toàn những người chuyên theo dõi diễn biến thị trường và tình hình kinh doanh, nên lẽ tất nhiên tôi luôn cảm nhận, quan sát tình hình kinh tế, chính trị quốc tế như những vấn đề có liên quan sâu sắc với nhau.

Trong cuốn sách tựa đề Zero-Sum Future (Tương lai với tổng-bằng-không) do tôi viết năm 2009, tôi đã cố gắng tiên đoán cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu sẽ làm thay đổi tình hình chính trị quốc tế như thế nào.  Với tiêu đề sách mang hàm ý khá ảm đạm, tôi lập luận rằng quan hệ giữa các cường quốc chủ yếu có khả năng trở nên ngày càng căng thẳng, mang nặng tính xung đột. Trong bối cảnh kinh tế đang mỗi lúc tồi tệ hơn, các nền kinh tế lớn sẽ rất khó nhìn nhận mối quan hệ của họ với nhau mang tính chất cùng có lợi – hay còn gọi là các bên cùng thắng. Thay vào đó, họ sẽ tăng cường xem xét những mối quan hệ này theo khía cạnh tổng-bằng-không. Những gì tốt cho Trung Quốc sẽ bị xem là nguy hiểm đối với Mỹ. Những gì có lợi cho Đức sẽ có hại cho Ý, Tây Ban Nha và Hy lạp.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 36 Comments »

645. BẦU CỬ TỔNG THỐNG Ở ĐÀI LOAN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HAI BỜ EO BIỂN – Phần 2

Posted by adminbasam on 15/01/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

BẦU C TỔNG THỐNG Ở ĐÀI LOAN VÀ MI QUAN HỆ GIỮA HAI BỜ EO BIỂN

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ bảy, ngày 14/1/2012

(phần cuối)

TTXVN (Angiê 9/1)

Cân bằng lực lượng bị phá vỡ

Theo chuyên gia Jean-Paul Yacine, quân đội Đài Loan bước vào năm 2011 với một thời kỳ căng thẳng và thay đổi không mấy dễ chịu trong khi báo động gia tăng liên quan đến việc cân bằng lực lượng xấu đi ở vùng eo biển Đài Loan có lợi cho Trung Quốc.

Trong thời gian gần đây, các nhà phân tích nói nhiều đến việc Trung Quốc giới thiệu J-20, chiếc máy bay chiến đấu tàng hình đầu tiên của nước này tại Thành Đô và phải mất ba tuần sau đó chuyến bay thử nghiệm đầu tiên mới được thực hiện. Một số thông tin gây lo ngại khác cũng nói về những tiến bộ về tàng hình của máy bay chiến đấu Trung Quốc được sao chép từ mảnh vỡ chiếc F-117 của Mỹ bị tên lửa Xécbia bắn hạ trên bầu trời Nam Tư cũ vào năm 1999. Ở Mỹ, loại máy bay F-117 được đưa vào thường trực chiến đấu từ năm 1983 và loại F-22 Raptor từ năm 2005.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung | 1 Comment »

639. Kêu gọi tăng cường sức mạnh hải quân Hoa Kỳ ở Biển Đông

Posted by adminbasam on 12/01/2012

Asia Times

Kêu gọi tăng cường sức mạnh hải quân Hoa Kỳ ở Biển Đông

Tác giả: Jim Lobe

Người dịch: Đỗ Quyên

12-1-2012

WASHINGTON – Trong khi thế giới dành phần lớn sự chú ý vào căng thẳng Mỹ-Iran ở eo biển Hormuz, thì một viện nghiên cứu quan trọng lại đang kêu gọi Washington tập trung nhiều hơn và dồn nhiều nguồn lực hơn vào một đầu mối quan trọng khác trong thương mại quốc tế, ở cách đó vài nghìn kilomet về phía đông.

Trong một bản báo cáo quan trọng vào hôm thứ ba, Trung tâm An ninh Hoa Kỳ Mới (CNAS) đã kêu gọi Washington theo đuổi chính sách “ưu tiên hợp tác” trên Biển Đông (nguyên văn: Biển Hoa Nam), vừa để tránh xung đột trong tương lai với Bắc Kinh vừa để bảo vệ tự do hàng hải và độc lập của các nước nhỏ trong khu vực.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quân sự, Trung Quốc | 13 Comments »

638. VỀ MỐI QUAN HỆ KÌNH ĐỊCH MỸ-TRUNG – Phần cuối

Posted by adminbasam on 12/01/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

V MI QUAN HỆ KÌNH ĐỊCH MỸ-TRUNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ tư, ngày 11/1/2012

(phần cuối)

TTXVN (Angiê 5/1)

Trung Quốc là ngưi thắng trong cuộc chiến Irắc

Độ tin cậy về tài chính cũng như ngoại giao của Mỹ đã suy yếu so với của Trung Quốc, nước từ một cường quốc khu vực chuyển thành cường quốc toàn cầu. Xuất phát từ nhận xét đó, nhà phân tích Michael Moran cho rằng trong cuộc chiến Irắc, Mỹ đã thua, còn người thắng là Iran, song người thắng lớn nhất vẫn là Trung Quốc. Dưới đây là ý kiến của ông trên tạp chí “Statafrik”.

Phải mất nhiều năm con đường dẫn đến rút quân khỏi Irắc mới hình thành. Từ giữa năm 2005 và sau khi các nhà lãnh đạo trong Chính quyền Bush ý thức được rằng không thể giành chiến thắng ở Irắc, ít nhất là theo cách họ tìm kiếm, mục tiêu của Mỹ không phải là chữa lành trạng thái cảm xúc dâng trào mãnh liệt khi Mỹ xâm lược nước này vào năm 2003 nữa, mà là chữa lành vết cắt đó. Trên thực tế, lúc Tổng thống Mỹ, Barack Obama, tuyên bố nhậm chức, nước này trước đó đã ấn định thời gian rút toàn bộ quân đội.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quân sự, Trung Quốc | 3 Comments »

632. VỀ MỐI QUAN HỆ KÌNH ĐỊCH MỸ-TRUNG – Phần 2

Posted by adminbasam on 11/01/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

VMỐI QUAN HỆ KÌNH ĐỊCH MỸ-TRUNG

(Phần 2)

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ ba, ngày 10/1/2012

TTXVN (Angiê 5/1)

Không gian, nơi đầy rẫy những nghi kỵ

Theo cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Robert Gates, không gian trên thực tế là một trong 4 lĩnh vực (cùng với an ninh mạng, vũ khí hạt nhân và phòng thủ tên lửa) có thể tạo ra nội dung cho cuộc đối thoại chiến lược Mỹ- Trung. Tuy nhiên, tạp chí “Tin Trung Hoa” đưa ra những sự việc, tuyên bố, hành động cụ thể của cả hai bên và những trao đổi song phương trong lĩnh vực hợp tác không gian để chứng minh rằng giữa ý muốn và thực tế còn một khoảng cách rất xa.

Điều bình thường nhất mà người ta có thể nói, theo “Tin Trung Hoa”, là về phía Mỹ cũng như Trung Quốc, không bên nào có hứng thu hợp tác trong lĩnh vực này. Giới quân sự Trung Quốc, những người đang kiểm soát các dự án không gian, dường như không sẵn sàng tỏ ra minh bạch, điều vốn cần thiết để hợp tác có hiệu quả. Đồng thời, họ tiếp tục than phiền về mối nghi ngại của Mỹ và lệnh cấm vận đối với công nghệ nhạy cảm do Lầu Năm Góc áp đặt. Còn ở Mỹ, các nhóm có tác động về an ninh vốn rất nghi ngại đối với Trung Quốc, lại đang có ảnh hưởng lớn hơn bao giờ hết.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 2 Comments »

630. VỀ MỐI QUAN HỆ KÌNH ĐỊCH MỸ-TRUNG – (Phần 1)

Posted by adminbasam on 10/01/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

V MỐI QUAN HỆ KÌNH ĐỊCH MỸ-TRUNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ hai, ngày 9/1/2012

(phần 1)

TTXVN (Angiê 5/1)

Vào trung tuần tháng 11/2011, Tổng thống Mỹ, Barack Obama, đã thực hiện một chuyên công du đến châu Á. Tại đây, ông tham dự hội nghị thượng đỉnh APEC ở Hawaii, hội nghị thượng đỉnh ASEAN, rồi với các nước Đông Nam A tại Bali (Inđônêxia). Lịch trình đặc biệt dày đặc trong chuyến đi này của Tổng thống Obama, theo đánh giá của giới quan sát, cho thấy đây không phải là một chuyến đi mang ý nghĩa kinh tế và hữu nghị đơn thuần với các nước trong vùng mà là biểu trưng cho việc tái xác lập lợi ích của Mỹ ở châu Á cũng như gia tăng sự kình địch với Trung Quốc.

Nhà phân tích Nikolas Jucha của tạp chí “Phát thanh” gần đây cho rằng quãng thời gian đó tuy ngắn ngủi song cũng đủ để mối quan hệ Mỹ- Trung thu hút mọi sự chú ý của dư luận quốc tế, bộn bề giữa những bất đồng về tiền tệ liên quan đến vấn đề đồng nhân đân tệ và sự kình địch địa chiến lược ngày càng rõ nét.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 8 Comments »

622. NGUY CƠ XẢY RA CHIẾN TRANH LẠNH MỚI TẠI CHÂU Á DO DẦU MỎ

Posted by adminbasam on 06/01/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

NGUY CƠ XẢY RA CHIN TRANH LẠNH MỚI TẠI CHÂU Á DO DẦU MỎ

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ sáu, ngày 6/1/2012

TTXVN (ttaoa 2/1)

Mạng tin “Nghiên cứu toàn cầu” mới đây đăng bài phân tích nguy cơ xảy ra chiến tranh lạnh mới tại châu Á, với việc Tng thng Mỹ Barack Obama đang đe dọa Trung Quốc của Giáo sư Michael T. Klare, chuyên nghiên cứu về hòa bình và an ninh thế giới tại trường Cao đng Hampshire, với nội dung sau:

Khi đề cập đến chính sách Trung Quốc, liệu có phải Chính quyền Obama vừa “tránh vỏ dưa lại gặp ngay vỏ dừa?” Trong một nỗ lực nhằm “lật sang trang” hai cuộc chiến tranh thảm họa tại Trung Đông là cuộc chiến Irắc và Ápganixtan, Mỹ có thể lại đang bắt đầu một cuộc chiến tranh lạnh mới tại châu Á, bởi vì họ lại một lần nữa xem dầu mỏ là chìa khóa của uy thế toàn cầu.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 11 Comments »

621. Trung Quốc sử dụng chuyện làm ăn với Mỹ để thu thập thông tin tình báo như thế nào?

Posted by adminbasam on 06/01/2012

Top Secret Writers

Trung Quốc có thể sử dụng chuyện làm ăn với Mỹ để thu thập thông tin tình báo như thế nào?

Tác giả: Gabrielle Pickard

Người dịch: Minh Khôi

29-12-2011

Ông Peter Grie nói: “Các hoạt động tình báo [sử dụng] người của Trung Quốc chủ yếu dựa vào việc thu thập thông tin lẻ tẻ từ rất nhiều người. Đây là cách làm gián điệp kiểu Trung Quốc” .

Mặc dù Trung Quốc bị nghi ngờ đã có một lịch sử lâu dài về hoạt động gián điệp ở Hoa Kỳ để thu thập kiến thức và sự hiểu biết về các bí mật công nghiệp và quân sự, những năm gần đây, người ta tin rằng chính phủ Trung Quốc đang tiến hành các hoạt động gián điệp ở các nước khác ngày càng trở nên phổ biến.

Theo báo cáo thường niên năm 2009 của Ủy ban Đánh giá Tình hình Kinh tế và An ninh Mỹ – Trung, gửi tới Quốc hội Mỹ, hoạt động gián điệp và các cuộc tấn công mạng của Trung Quốc chống lại các tổ chức kinh doanh và chính phủ Mỹ hiện là một mối quan ngại lớn.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Pháp luật, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 15 Comments »

569. CUỘC CHƠI LỚN GIỮA MỸ VÀ TRUNG QUỐC TẠI MIANMA?

Posted by adminbasam on 17/12/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ sáu, ngày 16/12/2011

 

CUỘC CHƠI LỚN GIỮA MỸ VÀ TRUNG QUỐC TẠI MIANMA?

TTXVN (Niu Đêli 11/12)

Tờ “Indian Express” của Ấn Độ số ra ngày 7/12 đăng bình luận cho rằng chuyến thăm của bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Mỹ đầu tiên tới Mianma trong hơn 50 năm qua đã tạo ra động lực mới thúc đẩy quan hệ hai nước, song vẫn có hoài nghi về khả năng chuyến thăm này dẫn tới sự thay đổi thực sự ở Mianma cũng như quan hệ giữa Nâypiđô và Oasinhtơn. Nội dung bài viết như sau:

Tổng thống Mianma Thein Sein đã nồng nhiệt chào đón Ngoại trưởng Mỹ, bà Hillary Clinton, tại phủ tổng thống tráng lệ ở Nâypiđô, thủ đô mới của nước này trong bộ y phục Xarông truyền thống. Quan hệ giữa hai bên tỏ ra thân mật khi Tổng thống Thein Sein tỏ ra nóng lòng giải thích với bà Hillary Clinton với việc ông đang cố gắng như thế nào để thay đổi một đất nước quyệt quệ do một đảng cai trị thành một nước tốt hơn. Một cuộc trao đổi “thiết thực và khéo léo” (theo phía Mỹ) giữa hai bên đã được tiến hành sau bữa ăn nhẹ. Sau đó, cùng ngày, Ngoại trưởng Mỹ đã đến thăm Răngun để tiến hành cuộc gặp  đầu tiên của bà với bà Aung San Suu Kyi, Thủ lĩnh Liên đoàn quốc gia vì dân chủ (NLD), một nhà lãnh đạo chính trị đối lập. Các sự kiện trên hứa hẹn một thởi kỳ “sáng sủa sẽ đến với Mianma sau hàng thập kỷ bị cô lập và chịu các lệnh cấm vận của phương Tây.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 5 Comments »

555. Trung Quốc: Siêu cường miễn cưỡng?

Posted by adminbasam on 13/12/2011

South China Morning Post

Siêu cường miễn cưỡng?

Tác giả: Cary Huang

Nguyễn Tâm dịch

06-12-2011

Sức mạnh kinh tế đang lên của Trung Quốc là điều không cần bàn cãi, nhưng liệu Trung Quốc có khả năng, hoặc thậm chí chỉ là mơ ước, nhằm chiếm đoạt vị thế siêu cường của Mỹ về mặt ngoại giao và quân sự, thì vẫn còn là điều xa vời.

Khi mặt trời lặn ở phương Tây, nó sẽ mọc ở phương Đông. Như cố lãnh đạo Mao Trạch Đông từng tiên đoán về thời hoàng kim của chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. “Người cầm lái vĩ đại” [Mao Trạch Đông] đã nhìn thấy trước một kỷ nguyên mới huy hoàng, trong đó giai cấp vô sản sẽ tiêu diệt giai cấp tư sản, và chủ nghĩa xã hội sẽ ném chủ nghĩa tư bản vào đống rác của lịch sử.

Vâng, ít ra Mao có phần đúng về khía cạnh địa lý. Ở nhiều nơi, hiện vẫn còn sự tranh luận dai dẳng là liệu thế kỷ 21 sẽ được biết đến như Thế kỷ Thái Bình Dương hay Thế kỷ châu Á. Sự thay đổi trọng tâm của thế giới từ Tây sang Đông là điều rõ ràng.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 4 Comments »

542. ĐẠI CHIẾN LƯỢC CỦA MỸ: ĐỐI KHÁNG “MÔ HÌNH TRUNG QUỐC”

Posted by adminbasam on 09/12/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

ĐẠI CHIẾN LƯỢC CỦA MỸ: ĐỐI KHÁNG “MÔ HÌNH TRUNG QUỐC”

Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ năm, 08/12/2011

TTXVN (Hồng Công 1/12)

(Bài của Phó Giáo sư Thẩm Húc Huy – Chủ nhiệm Khoa Quan hệ đối ngoại Học viện Giáo dục Hồng Công đăng trên “Minh báo” số ra ngày 22 và 23 tháng 11).

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, ngày càng có nhiều dấu hiệu về sự xuất hiện một cuộc chiến tranh lạnh mới giữa Trung Quốc và Mỹ. Mấy tháng gần đây, những động thái của Ngoại trưởng Mỹ đã thực sự chứng minh giả thiết nói trên, thể hiện một đại chiến lược hoàn toàn theo chủ nghĩa hiện thực. Đối với Bắc Kinh, đây là thách thức nghiêm trọng nhất kể từ sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh, cho thấy “thời kỳ cơ hội chiến lược” 10 năm (dành cho Trung Quốc) kể từ sau sự kiện 11/9 đã chấm dứt.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung | 2 Comments »

538. Trục chống Trung Quốc?

Posted by adminbasam on 08/12/2011

The Diplomat

Trục chống Trung Quốc?

John Yi

Nguyễn Tâm dịch

06-12-2011

Một ấn bản gần đây do một số viện nghiên cứu chính sách thực hiện, có tựa đề “Cùng chia sẻ mục tiêu, hướng đến lợi ích chung: Kế hoạch hợp tác Mỹ – Úc – Ấn trong khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương”, có vẻ như là nguồn gốc của sự thay đổi lập trường rõ rệt của Ngoại trưởng Úc Kevin Rudd.

Đồng phát hành bởi Viện Lowy của Úc, Quỹ Observer Research Foundation của Ấn Độ, và Viện Heritage của Mỹ, các tác giả kêu gọi thiết lập hiệp ước phòng thủ ba bên giữa Mỹ, Úc và Ấn Độ trong một thế giới mà “sự trỗi dậy của Trung Quốc…đang đặt ra sự thách thức hết sức nghiêm trọng đối với thế thượng phong của quân đội Mỹ ở Châu Á trong nửa thế kỷ tới”.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Trung-Ấn | 4 Comments »

519. Đến lượt Trung Quốc phải xoay chiều?

Posted by adminbasam on 30/11/2011

The Diplomat

Đến lượt Trung Quốc phải xoay chiều?

Minxin Pei (*)

Trúc An dịch

28-11-2011

Mỹ đã phục kích và cô lập Trung Quốc tại hội nghị Đông Á. Nếu Trung Quốc muốn hồi phục, nước này cần phải thành công trong cuộc cạnh tranh với Mỹ – và không dọa nạt các nước láng giềng.

Nếu năm 2010 là năm mà Trung Quốc thực hiện một loạt các động thái chiến lược và chiến thuật để củng cố vị thế của nước này ở Đông Á thì năm 2011 chứng kiến cả khu vực phản ứng lại.

Không ai biết rõ điều đó hơn Bắc kinh. Tại một hội nghị thượng đỉnh Đông Á kết thúc mới đây ở Bali, Indonesia, Trung Quốc bị Mỹ phục kích theo đúng nghĩa đen, khi phối hợp một cú đẩy lùi khéo léo chống lại các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông. Ngoại trừ Myanmar và Campuchia, tất cả các nước khác tham gia hội nghị, trong đó có Nga, đều chỉ trích thái độ của Trung Quốc về Biển Đông và kêu gọi một giải pháp đa phương, điều mà Trung Quốc luôn phản đối.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Tagged: , | 5 Comments »

509. LIỆU ÔXTRÂYLIA CÓ THỂ “CƯỠI HAI CON NGỰA CÙNG MỘT LÚC”?

Posted by adminbasam on 26/11/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

LIỆU ÔXTRÂYLIA CÓ  THỂ “CƯỠI

HAI CON NGỰA CÙNG MỘT LÚC”?

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Tư ngày 23/11/2011

TTXVN (Xítni 17/11)

Trong chuyến thăm Ôxtrâylia 2 ngày 16-17/11, tổng thống Mỹ Barack Obama và Thủ tướng nước chủ nhà Julia Gillard đã thống nhất về những sáng kiến quân sự chung nhằm củng cố liên minh quân sự giữa hai nước, theo đó, sẽ có thêm các binh sĩ Mỹ huấn luyện tại miền Bắc Ôxtrâylia, nhưng không có lực lượng Mỹ đồn trú cố định – điều mà các quan chức hai nước nhắc đi nhắc lại nhiều trong vài năm qua.

Theo những giàn xếp mới được Thủ tướng Gillard và tổng thống Obama công bố, một lực lượng khoảng 250 lính thủy đánh bộ Mỹ (một đại đội) sẽ bắt đầu huốn luyện ở vùng lãnh thổ phía Bắc của Ôxtrâylia từ năm tới trên cơ sở luôn phiên 6 tháng một lần, tăng lên cấp tiểu đoàn gồm 1.000 lính vào năm 2014 và cấp đơn vị đặc nhiệm trên không – trên bộ gồm 2.500 lính vào năm 2016. Ngoài ra, máy bay của Mỹ sẽ sử dụng nhiều hơn căn cứ Tindal của Không quân Hoàng gia Ôxtrâylia (RAAF) ở miền Bắc Ôxtrâylia, đồng thời cũng sẽ có nhiều tàu nổi và tàu ngầm (kể cả tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân) đi qua cảng Stirling ở Tây Ôxtrâylia.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 1 Comment »

505. Tình hình châu Á: Bắc Kinh hiện tỏ ra nhịn nhục

Posted by adminbasam on 25/11/2011

The American Interest

Tình hình châu Á: Bắc Kinh hiện tỏ ra nhịn nhục

Walter Russell Mead

Nguyễn Tâm dịch

19-11-2011

Dòng thác dồn dập các tuyên bố, những cuộc triển khai quân, một loạt các thỏa thuận và thông cáo từ Mỹ và các đồng minh khu vực trong tuần qua phải là một trong những cú sốc khó chịu nhất chưa từng xảy ra đối với giới lãnh đạo Bắc Kinh. Mỹ đưa quân vào Úc, Úc bán uranium cho Ấn Độ, Nhật tăng cường các hoạt động quân sự và phối hợp chặt chẽ hơn với Philippines, Việt Nam trong vấn đề biển Đông. Myanmar đang thoát ra khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc và đang cố gắng tái hội nhập vào khu vực, Indonesia và Philippines tăng cường quan hệ quân sự sâu hơn với Mỹ: và tất cả mọi chuyện xảy ra chỉ trong một tuần. Nếu điều đó vẫn không đủ, ý kiến của đa số các nước trong khu vực đã đồng ý thiết lập một khối thương mại mới (TPP) không bao gồm Trung Quốc, trong khi Mỹ, nước được hoan nghênh, đã đề nghị rằng các tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc với các nước láng giềng nên được giải quyết tại diễn đàn như Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á— thay vì đàm phán song phương với từng nước nhỏ và yếu hơn, điều mà Trung Quốc mong muốn.

Hiếm khi nào một cường quốc lại bị khiêu khích và xúc phạm đến như vậy. Hiếm khi nào có nhiều lằn ranh đỏ lại bị vượt qua đến thế. Hiếm khi nào có nhiều trường hợp bị mất mặt như vậy, mất mặt quá nhanh. Đây là đòn tấn công ngoại giao bất ngờ nhằm đảo ngược tình hình trong một thập kỷ qua, bàn tán về hiện tượng Mỹ đang “suy tàn” và từ bỏ can dự vào Châu Á, điều này cũng nhằm dập tắt huyền thoại mới chớm về “sự trỗi dậy không gì ngăn cản được của Trung Quốc”.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 2 Comments »

502. CÓ THỂ CHÚNG TA ĐÃ NGỘ NHẬN TRONG VẤN ĐỀ NAM HẢI

Posted by adminbasam on 22/11/2011

Blog Li Chen Hui

CÓ THỂ CHÚNG TA ĐÃ NGỘ NHẬN TRONG VẤN ĐỀ NAM HẢI

Tác giả: Lý Thần Huy

Người dịch: Quốc Trung

01-10-2011

Hôm nay đọc được một bài viết có tên là “Âm thanh về dụng binh ở Nam Hải (tức Biển Đông – ND) đang được khuếch đại trong dân chúng Trung Quốc”, nói dân chúng Trung Quốc bao gồm cả một số vị được gọi là chuyên gia (không hiểu do vô tình hay cố ý, ở đây tác giả đã dùng từ 砖家- “chuyên gia về gạch ngói” thay cho từ 专家- “chuyên gia” vì cùng đồng âm trong tiếng Hán – ND) học giả, đang đua nhau chủ trương dụng binh ở Nam Hải. Nguyên nhân dẫn đến chủ trương dụng binh ở Nam Hải là do trong dân chúng phổ biến quan niệm cho rằng, về vấn đề Nam Hải, chúng ta đã bị xúc phạm tàn tệ (về rất nhiều vấn đề, dân chúng đều cho là chúng ta đang bị xúc phạm). Họ cho rằng, Nam Hải là thiên kinh địa nghĩa của chúng ta, lý lẽ này không chỉ được kiên trì nắm giữ vì người Trung Quốc, mà còn được sự công nhận rộng rãi cả ở trong cộng đồng quốc tế. Thậm chí, ngay cả Việt Nam, Philippines và những nước đang có sự tranh giành, cướp giật Nam Hải với chúng ta cũng đều có chung nhận thức. Vậy thì vì sao hôm nay những quốc gia ấy lại tranh giành Nam Hải với chúng ta?

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 3 Comments »

500. THẾ KỶ THÁI BÌNH DƯƠNG CỦA MỸ

Posted by adminbasam on 22/11/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Chủ Nhật, ngày 20/11/2011

THẾ KỶ THÁI BÌNH DƯƠNG CỦA MỸ

(Hillary Clinton – Foreign Policy, tháng 10/2011)

Tương lại của các hoạt động chính trị sẽ được quyết định ở châu Á, chứ không phải ở Ápganixtan hay Irắc, và Mỹ sẽ ở trung tâm của hành động đó.

Khi cuộc chiến tranh ở Irắc lắng xuống và Mỹ bắt đầu rút các lực lượng của mình khỏi Ápganixtan, Mỹ đứng ở một vị trí trụ cột. Trong 10 năm qua, chúng ta đã dành các nguồn tài lực lớn cho hai chiến trường đó. Trong 10 năm tới, chúng ta cần khôn ngoan và có phương pháp về việc chúng ta đầu tư thời gian và năng lực vào đâu, vì vậy chúng ta tự đặt mình vào vị trí tốt nhất để duy trì vai trò lãnh đạo của chúng ta, đảm bảo những lợi ích của chúng ta, và thúc đẩy những giá trị của chúng ta. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của nghệ thuật quản lý nhà nước của Mỹ trong thập kỷ tới vì thế sẽ gắn chặt vào sự đầu tư gia tăng đáng kể – về ngoại giao, kinh tế, chiến lược, và các lĩnh vực khác – ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 1 Comment »

492. MỸ CHUYỂN TRỌNG TÂM CHIẾN LƯỢC SANG CHÂU Á VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI PHÓ CỦA TRUNG QUỐC

Posted by adminbasam on 18/11/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Năm, ngày 17/11/2011

MỸ CHUYỂN TRỌNG TÂM CHIẾN LƯỢC SANG CHÂU Á

VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI PHÓ CỦA TRUNG QUỐC

TTXVN (Bắc Kinh 11/11)

Ngày 4/11, trang “China.com” đăng bài viết “Mỹ chuyển trọng tâm chiến lược sang châu Á và chính sách đối phó của Trung Quốc” của tác giả Trương Tử Đồng, nội dung như sau:

Từ mùa Hè năm 2010, Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton đã công khai tuyên bố Mỹ sẽ quay trở lại châu Á nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia của mình tại khu vực này. Về chiến lược quân sự, Mỹ bắt đầu chuyển dịch từng bước 2/3 binh lực và trang bị vũ khí đến các khu vực yếu điểm địa chiến lược tại châu Á, trong đó lấy Haoai và đảo Guam làm trung tâm. Về chính trị, ngoại giao, kinh tế và thương mại, Mỹ cũng phối hợp toàn diện, chặt chẽ các lĩnh vực này nhằm thực hiện kế hoạch chiến lược toàn cầu mới của mình.

Mục tiêu duy nhất khiến Mỹ chuyển trọng tâm chiến lược toàn cầu sang châu Á là muốn bao vây, kiềm chế, thậm chí làm Trung Quốc sụp đổ. Hơn một năm trở lại đây, toàn thế giới đều rõ, Mỹ hầu như liên tục tìm kiếm liên minh quân sự tại châu Á, trước cửa ngõ duyên hải phía Đông Nam của Trung Quốc, Mỹ nhiều lần tổ chức diễn tập quân sự trên biển, bất chấp những hiệp định, thông cáo đã đạt được giữa lãnh đạo cấp cao hai nước trên vấn đề biển, Mỹ không chỉ tiếp tục bán vũ khí tiên tiến cho hòn đảo này, mà còn ngày càng táo tợn hơn, bán vũ khí mang tính tấn công huỷ diệt cho hòn đảo này, nhiều lần thêu dệt và thổi phồng thuyết về mối đe doạ từ Trung Quốc.

Về chính trị ngoại giao, Mỹ âm thầm ủng hộ Việt Nam, Philippin, Malaixia, Brunây chiếm đoạt lãnh thổ Nam Hải (Biển Đông) của Trung Quốc; ủng hộ Nhật Bản cưỡng chiếm quần đảo Điều Ngư vốn thuộc Trung Quốc; khuyến khích Hàn Quốc tiếp tục chiếm đóng các đảo của Trung Quốc; ra sức ủng hộ lập trường của Ấn Độ trương cuộc tranh chấp biên giới Trung-Ấn; âm thầm kích động thế lực Đài Loan, Tân Cương, Tây Tạng tiến tới độc lập. Về kinh tế, không ngừng gây sức ép đòi tăng giá đồng NDT.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 3 Comments »

486. MỸ “QUAY TRỞ LẠI” CHÂU Á VÀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Posted by adminbasam on 16/11/2011

MỸ “QUAY TRỞ LẠI” CHÂU Á VÀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Tài liệu tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba, chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực”, do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, ngày 4-5 tháng 11 năm 2011

Bronson Pervcival

Cố vấn cấp cao về Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược, Trung tâm Phân tích Hải quân (CAN) và Nghiên cứu viên cộng tác tại Trung tâm Đông – Tây Washington, Mỹ

Giới thiệu

Trung Quốc đã đưa đến cho Mỹ cơ hội vàng để tái khẳng định lập trường nguyên tắc của Mỹ về các vấn đề Biển Đông và do đó củng cố các mối quan hệ đồng minh và đối tác với các quốc gia khác ở châu Á. Yêu sách bành trướng của Bắc Kinh và cách hành xử cứng rắn của các cơ quan hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông đã gây hoang mang cho chính phủ các nước còn lại ở châu Á. Ở Biển Đông, Bắc Kinh đang đùa giỡn trực tiếp với sức mạnh, sự ủng hộ tự do hàng hải và năng lực hải quân áp đảo của Mỹ ở châu Á. Mỹ đang tận dụng những sai lầm của Trung Quốc.

Trong một thập kỷ qua, Biển Đông đã là một vấn đề an ninh có tầm quan trọng tiềm tàng sắp sửa nổi lên vị trí hàng đầu trong tính toán của các nhà hoạch định chính sách Mỹ. Sau và chạm giữa một máy bay chiến đấu của Trung Quốc và một máy bay trinh sát của Mỹ tháng 4/2001 và trước sự cố Trung Quốc đe doạ tàu Hải quân Mỹ USNS Impeccable vào tháng 3/2009, Biển Đông hầu như biến mất khỏi chương trình nghị sự chính sách của chính phủ và cộng đồng chính sách Mỹ. Các hành động của Trung Quốc đã làm trỗi dậy lợi ích của Mỹ và kích thích sự tái khẳng định về chính sách của Mỹ.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 1 Comment »

485. Kỷ nguyên mới của ngoại giao chiến hạm

Posted by adminbasam on 16/11/2011

The New York Times

Kỷ nguyên mới của ngoại giao chiến hạm

Mark Landler

12-11-2011

Có vẻ là chuyện lạ trong kỷ nguyên của chiến tranh mạng và máy bay không người lái, nhưng mặt trận mới mở trong cuộc đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc lại là một vùng biển nhiệt đới, nơi việc khai thác những mỏ dầu khí dồi dào ngoài khơi xa đã trở thành động cơ của một cuộc xung đột na ná như ngoại giao chiến hạm thời thế kỷ 19.

Chính quyền Obama bắt đầu bước chân vào vùng nước đầy nguy hiểm của Biển Đông (nguyên văn: biển Hoa Nam) vào năm ngoái, khi Ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton tuyên bố tại một cuộc họp căng thẳng với các nước châu Á ở Hà Nội, rằng Mỹ sẽ tham gia cùng Việt Nam, Philippines và các quốc gia khác để chống lại âm mưu thống trị trên biển của Trung Quốc. Có thể thấy trước là Trung Quốc đã nổi khùng lên bởi cái mà họ coi là hành động can thiệp của Mỹ.

Với tất cả những dư âm còn lại từ thế kỷ 19, chứ chưa nói tới chiến tranh lạnh, cuộc chạm trán cuối cùng trên Biển Đông là điềm báo trước một kiểu xung đột trên biển mới – kiểu xung đột đang diễn ra từ Địa Trung Hải đến Bắc Băng Dương, nơi các siêu cường kinh tế khát dầu, những mỏ năng lượng ngầm dưới biển mà loài người có thể tiếp cận được, và cả những thay đổi của khí hậu trái đất, đều đang góp phần gây ra một cuộc chiến của thế kỷ 21: vươn ra biển.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung | 3 Comments »

460. TRUNG QUỐC CÓ PHẢI LÀ MỐI ĐE DOẠ QUÂN SỰ?

Posted by adminbasam on 03/11/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

TRUNG QUỐC CÓ PHẢI LÀ MỐI ĐE DOẠ QUÂN SỰ?

Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ ba, ngày 1/11/2011

 

TTXVN (Angiê 26/10)

Trung Quốc đã đạt được nhiều tiến bộ có ý nghĩa về phương diện quân sự trong những năm gần đây. Nhiều câu hỏi được giới quan sát đặt ra liên quan đến vấn đề này: Liệu Trung Quốc có muốn kình địch với các cường quốc trong lĩnh vực này, như Mỹ, không? Liệu Trung Quốc có nhắm tới một số yếu tố khác, chẳng hạn như tình hình căng thẳng ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông-TTXVN), không? Một ngày nào đó Trung Quốc liệu có thể trở thành một siêu cường quân sự không? Chuyên gia Gergely Varga, nhà nghiên cứu thuộc Viện quốc phòng và chiến lược Hunggari, đưa ra một số lập luận trên tạp chí “Phát thanh” để lý giải những ý đồ  quân sự thực sự của Trung Quốc.

Sự ổn định giúp trấn an

Trụ cột chính trong chiến lược của Trung Quốc đã được Đặng Tiểu Bình đưa ra trong chiến lược nổi tiếng của ông với 24 chữ như sau: “Lặng lẽ quan sát; giữ vững trận địa; bình tĩnh đối phó; giấu mình chờ thời; giỏi về phòng thủ, quyết không đi đầu”.

Dựa trên chiến lược đó, Trung Quốc chỉ muốn bảo đảm an toàn cho lợi ích của mình trong một thế giới đa cực. Phát triển quân đội chỉ là một phần trong chiến lược đó, nhưng là một trong những phần rõ nét nhất.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 6 Comments »

458. MỸ CÓ DÁM SỬ DỤNG VŨ LỰC Ở BIỂN ĐÔNG?

Posted by adminbasam on 02/11/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

MỸ CÓ DÁM SỬ DỤNG VŨ LỰC Ở BIỂN ĐÔNG?

Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ ba, ngày 1/11/2011

 

TTXVN (Bắc Kinh 26/10)

Dưới đây là bài của tác giả Long Thao, nhà phân tích thuộc Quỹ hội năng lượng Trung Hoa, một tổ chức phi chính phủ ở Hồng Công, làm chức năng tư vấn các vấn đề chiến lược, đăng trên “Thời báo hoàn cầu” và trên mạng Tân Hoa ngày 26/10/2011, cho rằng Mỹ hiện nay không thể và cũng không dám sử dụng vũ lực ở Biển Đông. Nội dung bài viết như sau:

Tiếp sau Việt Nam, Mỹ lại diễn tập quân sự chung với Philíppin ở Nam Hải (Biển Đông). Không giống như trước đây, cả hai cùng “giấu đầu hở đuôi” tuyên bố diễn tập không nhắm vào Trung Quốc. Chuyện những nước nhỏ nhe nanh vuốt với Trung Quốc là không biết lượng sức mình, cả Mỹ cũng không dám chủ động gây ra xung đột quân sự với Trung Quốc ở Nam Hải.

Trước hết, không chiến không hoà là mục tiêu tổng thể chiến lược Nam Hải của Mỹ

Mỹ không phải là nước đương sự tranh chấp biển ở châu Á, vì sao nước này lại phải tích cực xen vào như vậy? Đó là quyết định chiến lược toàn cầu của Mỹ. Từ nhiều năm nay Mỹ dựa vào chiến lược kiềm chế cân bằng khu vực để quản lý toàn cầu. Ở châu Á, Mỹ đã thành công trong việc khơi dậy bất hoà giữa Trung Quốc với Nhật Bản và với Ấn Độ, lại can thiệp cả tình hình Đài Loan, gây căng thẳng ở bán đảo Triều Tiên. Tuy nhiên Mỹ cảm thấy như vậy vẫn chưa đủ để gây khó khăn cho Trung Quốc phát triển nên vẫn còn muốn thông qua các nước Đông Nam Á tiếp tục gây khó dễ cho Trung Quốc.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 49 Comments »

453. Chủ nghĩa dân tộc của người Trung Hoa và những mặt trái của nó

Posted by adminbasam on 31/10/2011

The National Interest, số tháng 10-11/2011

Chủ nghĩa dân tộc của người Trung Hoa và những mặt trái của nó

Robert S. Ross

Ngày 25-10-2011

Kể từ chiến tranh lạnh đến nay, chưa bao giờ quan hệ Mỹ-Trung tồi tệ hơn lúc này. Vâng, trong quá khứ đã từng có những xung đột lẻ tẻ về vấn đề Đài Loan, căng thẳng quanh vụ Mỹ ném bom trúng Đại sứ quán Trung Quốc ở Belgrade (Nam Tư), hay vụ máy bay phản lực chiến đấu Trung Quốc va chạm với máy bay trinh sát của Mỹ trên vùng trời Biển Đông (nguyên văn: biển Hoa Nam). Nhưng sự xuống cấp gần đây trong quan hệ hai nước phản ánh một khuynh hướng dài hạn tiềm tàng, với nguy cơ xung đột mở rộng và kéo dài là rất cao. Cũng phức tạp không kém là việc căng thẳng gia tăng như thế không chỉ không cần thiết mà sẽ còn rất tốn kém cho Mỹ.

Từ đầu năm 2009, Trung Quốc đã phạm một loạt sai lầm về ngoại giao, gây ra một sự chỉ trích gần như toàn cầu nhằm vào chính sách ngoại giao của họ. Danh sách các sai lầm rất dài:

– Tháng 3-2009, hải quân Trung Quốc va chạm với tàu trinh sát Impeccable của Mỹ đang hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc trên Biển Đông;

– Tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu ở Copenhagen, tháng 12-2009, Bắc Kinh phản đối quyết liệt việc đàm phán, gây ra những xích mích về ngoại giao giữa họ với châu Âu và với Mỹ;

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 34 Comments »

441. Cải cách toàn diện để phát triển đất nước

Posted by adminbasam on 27/10/2011

Lời giới thiệu: Xin trân trọng giới thiệu các bạn vài ý kiến của chúng tôi về hiện tình đất nước, và suy nghĩ về sự phát triển trong tương lai. Những ý kiến và suy nghĩ này đã được Gs Trần Văn Thọ khởi xướng và soạn ra lần đầu cách đây khoảng 3 tháng. Bản thảo đã qua rất nhiều lần bổ sung và chỉnh sửa, để đi đến sự đồng thuận và dung hòa những khác biệt về quan điểm và cách nhìn giữa chúng tôi. Những ý kiến và suy nghĩ được trình bày trong bài này đã được gửi cho giới lãnh đạo trong Đảng, Chính phủ, và Quốc hội. Mới đây, một số báo cũng đề cập đến một số khía cạnh trong bản ý kiến của chúng tôi. Hôm nay, chúng tôi chính thức công bố để chia sẻ cùng các bạn quan tâm.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | 163 Comments »

440. BIỂN ĐÔNG SẼ LÀ NƠI ĐỐI ĐẦU GIỮA MỸ VÀ TRUNG QUỐC?

Posted by adminbasam on 27/10/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Ba, ngày 25/10/2011

BIỂN ĐÔNG SẼ LÀ NƠI ĐỐI ĐẦU GIỮA MỸ VÀ TRUNG QUỐC?

TTXVN (La Habana 17/10)

Trang mạng BBC mới đây đã đăng bài phân tích của tác giả Abraham Zamorano, liên quan đến thoả thuận vừa qua giữa Việt Nam và Trung Quốc về Biển Đông. Bài báo viết Bắc Kinh và Hà Nội vừa cam kết đảm bảo hoà bình tại Biển Đông, với những lời tốt đẹp nhưng rất khó trở thành hiện thực trong một khu vực hội đủ các yếu tố có thể châm ngòi kho thuốc nổ địa chính trị thế giới nay mai. Và đây sẽ là nơi – theo ý kiến của giới phân tích – diễn ra sự đối đầu giữa Trung Quốc và Mỹ.

Thoả thuận Trung Quốc-Việt Nam đưa ra một số giải pháp, như thiết lập một “đường dây nóng” đối với các trường hợp khẩn cấp hoặc cam kết gặp gỡ hai lần trong năm nhằm giải quyết những bất đồng, cũng như các thoả thuận về hợp tác khoa học và phân định ranh giới theo luật pháp quốc tế. Biển Đông là khu vực giao thương quan trọng của hàng hải quốc tế, là nơi – theo ước tính – có nguồn trữ lượng dầu khí khá lớn hiện chưa rõ thuộc về quốc gia nào, và là tâm điểm của sự đối đầu của Trung Quốc đối với quyền bá chủ của Mỹ.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 12 Comments »

417. Món súp Tàu chua ngọt của bà Clinton

Posted by adminbasam on 15/10/2011

The Diplomat

Món súp Tàu chua ngọt của bà Clinton

Minxin Pei

12-10-2011

Bài viết mới đây của bà Hillary Clinton về vai trò của Mỹ ở châu Á, đã khẳng định rõ rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục ở lại đó và Trung Quốc không thể làm gì được về điều này.

Trong một bài viết đăng tải trên báo Foreign Policy sáng sớm ngày 12 tháng 10, bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Mỹ, đã giải thích rõ chính sách của Washington đối với châu Á. Mặc dù việc cụ thể hóa chính sách này có vẻ muộn màng, khi chính phủ Obama ở gần cuối năm thứ ba của nhiệm kỳ, bà Clinton đã làm hết sức mình trong việc mô tả và làm rõ các phần khác nhau về chính sách châu Á của Hoa Kỳ.

Các nhà hoạch định chính sách ngoại giao cấp cao tại Bắc Kinh là những người mong muốn được đọc bài này của bà Clinton nhiều nhất. Có nhiều khả năng [Bắc Kinh] sẽ không có phản ứng chính thức nào về tuyên bố của bà Clinton. Ít nhất về mặt hình thức, bà đã không công bố những sáng kiến ​​mới hoặc những thay đổi về chính sách. Lý do để bà Clinton công bố văn kiện vào lúc này, rõ ràng là để trấn an các nước đồng minh trong khu vực về việc Mỹ tiếp tục cam kết đối với khu vực này, bất chấp những khó khăn trong nước và sự gia tăng tình cảm theo chủ nghĩa biệt lập (*) ở Mỹ, và cũng để để gửi một tín hiệu mạnh mẽ tới Trung Quốc, rằng Washington sẽ duy trì chính sách hiện nay về sự cam kết nhiều hơn đối với Bắc Kinh.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 58 Comments »

414. Biển Đông không phải là Biển Đen

Posted by adminbasam on 13/10/2011

The Diplomat

Biển Đông không phải là Biển Đen


James Holmes

05-10-2011

Quan điểm cho rằng Mỹ nên bỏ mặc Đông Nam Á cho Trung Quốc là đặt không đúng chỗ. Châu Á không phải là một Georgia khác, theo James Holmes.

Vài tháng trước, trên tạp chí Foreign Policy, một đồng nghiệp của tôi là Giáo sư Lyle Goldstein đã so sánh Biển Đông (nguyên văn: Biển Hoa Nam) ngày nay với cuộc chiến Nga – Georgia năm 2008. Tóm lại, ông ấy vẫn giữ quan điểm, rằng Mỹ thật dại dột khi đặt cược uy tín vào một đồng minh chiến lược cấp ba xa xôi và yếu kém, nằm cạnh bên một đất nước hùng mạnh hơn nhiều lần vốn đang thèm khát lãnh thổ và sự phụ thuộc chính trị. Chính quyền Bush đã dồn dập dành cho Tbilisi “sự quan tâm cấp cao và các cố vấn quân sự“, để rồi chỉ thốt ra mỗi tiếng ‘rên rỉ’ khi Moscow ra lệnh cho các lực lượng thiết giáp đè bẹp quân đội Georgia và xâm chiếm phần lớn đất nước láng giềng này. Uy tín của Mỹ đã bị tổn hại nặng nề khi nước này không thể đảo ngược kết quả. Đứng về phía Georgia rõ ràng là một sự thất bại trong việc liều lĩnh chính sách ngoại giao.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 56 Comments »

405. Năm 2012 là năm quyết định đối với châu Á và thế giới

Posted by adminbasam on 07/10/2011

CBS News

Năm 2012 là năm quyết định đối với châu Á và thế giới

John Feffer

04-10-2011

(TomDispatch) –  Từ lâu Hoa Kỳ đã tự nhận là một cường quốc Thái Bình Dương. Nước này đã thiết lập một mô hình chống nổi loạn ở Philippines năm 1899 và đánh bại Nhật Bản hồi Thế chiến II. Mỹ đương đầu với Trung Quốc và Bắc Triều Tiên để giữ cho bán đảo Triều Tiên tách ra năm 1950, và trang bị vũ khí tận răng cho Đài Loan. Ngày nay, Mỹ tiếp tục là một cường quốc quân sự ở khu vực Thái Bình Dương, được hỗ trợ bởi một loạt các căn cứ quân sự, các liên minh song phương và khoảng 100.000 quân nhân. 

Tuy nhiên, Mỹ đã đạt tới mức cao nhất về sự hiện diện và ảnh hưởng của nước này ở Thái Bình Dương. Bản đồ địa chính trị sắp được vẽ lại. Đông Bắc Á, khu vực có mật độ cao nhất về các cường quốc kinh tế và quân sự, đang trên bờ của một sự chuyển đổi trong vùng. Và Mỹ, vẫn còn bận tâm ở Trung Đông và oằn mình với một nền kinh tế đình trệ, sẽ thành nước lạc lõng. 

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 22 Comments »

393. PHẢN ỨNG CỦA TRUNG QUỐC TRƯỚC CÁC CHUYẾN BAY TRINH SÁT CỦA KHÔNG QUÂN MỸ

Posted by adminbasam on 02/10/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Tư, ngày 28/09/2011

PHẢN ỨNG CỦA TRUNG QUỐC TRƯỚC CÁC

CHUYẾN BAY TRINH SÁT CỦA KHÔNG QUÂN MỸ

TTXVN (Niu Yóoc 18/9)

Tài liệu ngày 10/9 của viện “Jamestown Foundation” (Mỹ) cho biết, ngày 29/6 lần đầu tiên trong một thập kỷ, máy bay J-11 của Lực lượng Không quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAAF) vượt qua đường trung tâm của eo biển Đài Loan nhằm thực hiện ý đồ ngăn chặn một máy bay trinh sát U-2 của Lực lượng Không quân Mỹ (USAF) đang thực hiện nhiệm vụ trinh sát trên không phận quốc tế. Để phản ứng, Lực lượng Không quân Đài Loan ra lệnh 2 máy bay chiến đấu F-16 đến khu vực. Mặc dù Bộ Quốc phòng Đài Loan không coi hành động đó là khiêu khích, nhưng sự kiện gây nên một cuộc tranh luận rộng rãi về ý đồ của Trung Quốc. Sau đó, một quan chức của Bộ Chỉ huy Không quân Đài Loan đánh giá, việc máy bay Trung Quốc vượt qua đường trung tâm ở eo biển Đài Loan là ngẫu nhiên nhưng vẫn phải xem xét và đề phòng hành động tương tự xảy ra trong tương lai. Các chuyến bay trinh sát của Mỹ không có gì lạ và hành động đánh chặn của Trung Quốc không thể thuyết phục Mỹ giảm bớt hoặc chấm dứt những hoạt động như vậy. Ngược lại, chúng có thể dẫn đến sự kiện nữa giống như sự kiện đã từng xảy ra và ảnh hưởng lớn tới mối quan hệ Mỹ-Trung Quốc trong năm 2011. Thực tế, số lượng chuyến bay dân sự qua eo biển Đài Loan ngày càng tăng, năm 2010 có tới hơn 1,2 triệu chuyến bay, hành động ngăn chặn như vậy sẽ đe doạ vấn đề an toàn, an ninh và thịnh vượng kinh tế của eo biển Đài Loan cũng như của khu vực Đông Á.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 20 Comments »

386. Thật ra chúng ta nên sợ điều gì ở Trung Quốc?

Posted by adminbasam on 30/09/2011

Washington Post

Thật ra chúng ta nên sợ điều gì ở Trung Quốc?

Vivek Wadhwa

27-9-2011

Các nhà hoạch định chính sách Mỹ đang lo lắng về sự gia tăng rõ rệt con số các bài báo khoa học được xuất bản và số bằng sáng chế được cấp cho giới nghiên cứu ở Trung Quốc. Họ tin rằng điều này sẽ tạo cho Trung Quốc một lợi thế cạnh tranh khủng khiếp trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo. Xét tới cùng, Trung Quốc hiện chỉ đứng thứ hai, sau Mỹ, về số lượng ấn phẩm khoa học, và từ nay tới năm 2015, mỗi năm Trung Quốc sẽ đăng ký số bằng sáng chế nhiều hơn cả Mỹ.

Giới làm chính sách của Mỹ lo ngại là đúng, nhưng họ lại đang lo nhầm chỗ.

Các bài báo khoa học của người Trung Quốc nhìn chung là không đúng hoặc là sản phẩm đạo văn. Chúng không có mấy ích lợi ngoài việc ve vuốt lòng tự hào dân tộc. Gần như chẳng có sáng chế nào ra đời từ các phòng thí nghiệm nhận tiền nhà nước. Đồng thời, các bằng sáng chế của Trung Quốc cũng không phải là chỉ dấu của sự sáng tạo, mà chỉ là những nhà tù mà đất nước này dựng lên để đánh thuế các công ty ngoại quốc đặt chân tới Trung Hoa. Người Trung Hoa đã học được cách chơi cái trò chơi của các công ty công nghệ và những cơ quan cấp bằng sáng chế tinh khôn của Mỹ: sử dụng bằng sáng chế để tống tiền những nhà sản xuất công nghiệp khác.

Đọc tiếp »

Posted in Pháp luật, Quan hệ Mỹ-Trung | 34 Comments »

384. Trung Quốc đang hướng tới sụp đổ?

Posted by adminbasam on 28/09/2011

Đôi lời: Với sự hiểu biết sâu sắc tình hình Trung Quốc, không chỉ về chính trị, mà còn về các lĩnh vực lịch sử, văn hóa, địa lý, dân tộc học, thậm chí cả triết lý sống –  một điều hiếm thấy ở một nhà báo phương Tây – tác giả, ông Samuel Bleicher đã từng làm việc cho Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, cũng như đã trải qua nhiều năm sống và làm việc ở Trung Quốc. Ông Bleicher hiện là giáo sư liên kết của Ðại học Geogertown, có công ty tư vấn riêng mang tên, The Strategic Path LLC.

Qua bài phân tích này, ông Bleicher đã chỉ ra rằng, sự thay đổi chế độ ở Trung quốc không thể sớm xảy ra một cách dễ dàng, khác với các nhận định đơn giản của khá nhiều người, trong đó có một số kinh tế, chính trị gia, cho rằng, sự sụp đổ ở Trung Quốc tất yếu sẽ xảy ra một khi nền kinh tế ở nước này bị suy thoái. Ngay cả khi xung đột xã hội căng thẳng đang diễn ra ở Trung Quốc cũng khó có thể đủ để châm ngòi cho một cuộc cách mạng ở nước này.

Tuy nhiên, điều thú vị chính là ở chỗ, tác giả đã chỉ ra các kịch bản thay đổi chế độ có khả năng xảy ra, tuỳ thuộc vào các điều kiện trong và ngoài nước. Trong một thế giới liên kết chặt chẽ của thời đại toàn cầu hóa mà Trung Quốc đã chấp nhận tham gia cuộc chơi và đã được hưởng khá nhiều lợi ích từ thế giới bên ngoài, các yếu tố chính trị, kinh tế, dân chủ và quân sự bên ngoài chắc chắn ảnh hưởng đến sự thay đổi này. Nhưng quan trọng hơn cả là vận mệnh chính trị Trung Quốc, giờ đây không chỉ là ván cờ giữa các phe phái trong giới lãnh đạo Ðảng Cộng sản Trung Quốc, mà người dân Trung quốc bắt đầu đóng vai trò chính trong cuộc chơi và cũng chính họ cuối cùng sẽ là những người chiến thắng trong ván cờ này.

————

Foreign Policy in Focus

Trung Quốc đang hướng tới sụp đổ?

Samuel A Bleicher

13-09-2011

Có một hợp đồng xã hội được ngầm hiểu, đặt nền tảng cho mối quan hệ giữa người dân Trung Quốc với chính quyền. [Theo hợp đồng đó] người dân chấp nhận sự chuyên chế của Ðảng Cộng sản Trung Quốc, với tệ nạn tham nhũng và sự tham gia tối thiểu của công chúng [trong việc điều hành đất nước], chính quyền cộng sản Trung Quốc không ngừng cải thiện nhanh đời sống kinh tế. Nhưng hợp đồng xã hội đó đang có nguy cơ bị phá vỡ, do Trung Quốc đang trên con đường [phát triển] không bền vững, sẽ dẫn đến sự trì trệ hoặc suy giảm kinh tế trong những thập niên tới.

Thủ phạm đứng sau sự suy thoái đang đe dọa Trung Quốc là các giới hạn sinh thái, hiện đứng đầu danh sách này. Chẳng hạn như, trong quyển sách khi một tỷ người Trung Quốc hành động (Nguyên văn: When A Billion Chinese Jump), Jonathan Watts liệt kê danh mục các thảm họa sinh thái hiện tại, cũng như các thảm họa tiềm ẩn: khai thác mỏ than đến cạn kiệt ở các tỉnh miền Tây khô ráo, đánh bắt cá và hải sản quá mức, thiếu nước và ô nhiễm nước công nghiệp, khai thác các khu rừng nguyên sinh và đồng cỏ đến mức không thể phục hồi được, tất cả những điều vừa kể càng làm tăng thêm hiệu ứng do sự thay đổi khí hậu toàn cầu.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 61 Comments »

368. Tin chiến sự tuần này: Sân khấu mới ở Thái Bình Dương

Posted by adminbasam on 20/09/2011

Financial Times

Tin chiến sự tuần này: Sân khấu mới ở Thái Bình Dương

Mỹ và các nước đồng minh đang tiến hành những bước đầu tiên để chống lại sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Robert Haddick

Ngày 16-9-2011

Tuần qua Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta và Ngoại trưởng Hillary Clinton đã bay sang San Francisco để gặp gỡ những người đồng nhiệm đến từ Úc, nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày ký kết thành lập khối hiệp ước quân sự ANZUS tại Presidio, San Francisco. Hiệp ước được ký vào thời điểm Chiến tranh Lạnh sắp bắt đầu, khi Mỹ và các đồng minh còn đang bị kẹt trong cuộc chiến tranh đẫm máu chống hồng quân Trung Hoa ở Triều Tiên. Sự kiện trong tuần ở San Francisco này là một nỗ lực đổi mới hiệp ước quân sự nói trên, trong bối cảnh Trung Quốc đang là bóng ma ám ảnh hội nghị.

Sáu thập niên đã trôi qua kể từ đó, Chiến tranh Triều Tiên dường như vẫn có ảnh hưởng mạnh mẽ tới chỗ đứng của các lực lượng quân sự Mỹ ở Đông Á. Ở phía tây bắc Thái Bình Dương, không quân, hải quân, bộ binh của Mỹ vẫn tiếp tục đóng tại Nhật Bản và Hàn Quốc, có vẻ tập trung vào nguy cơ xung đột lại nối lại ở bán đảo Triều Tiên. Thái độ hung hăng của Bắc Triều Tiên, kéo dài từ năm 1950, đòi hỏi phải có sự hiện diện của quân đội Mỹ ở tây bắc Thái Bình Dương. Trong những thập niên qua, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc đã xây dựng một cấu trúc căn bản nhằm trợ lực cho sự hiện diện quân sự vĩnh viễn của họ, cái mà họ đã thiết lập từ lâu.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ quốc tế, Trung Quốc | 51 Comments »

365. Phân tích báo cáo An ninh Quân sự của Mỹ về Trung Quốc

Posted by adminbasam on 18/09/2011

Eurasia Review – SAAG

Phân tích báo cáo An ninh Quân sự

của Mỹ về Trung Quốc

13-9-2011

Bhaskar Roy

Báo cáo thường niên của Lầu Năm Góc gửi Quốc hội Mỹ: “Những chuyển biến quân sự và an ninh liên quan đến Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, năm 2011“, được công bố hồi tháng 8 năm nay là một bài học về cách thức người Mỹ nghiên cứu Trung Quốc kỹ càng tới mức nào. Tất nhiên, các vấn đề nhạy cảm hơn không được đề cập trong báo cáo công khai này, nhưng có nhiều điểm cần được Ấn Độ và các nước châu Á khác lựa chọn và tích cực suy nghĩ về chúng trên một toàn cảnh rộng lớn hơn.

Có thể nhận thấy rằng Ấn Độ, như một mục tiêu của Trung Quốc, đang xuất hiện ngày càng nhiều trong những báo cáo này. Trong khi lưu ý các mối quan hệ Trung-Ấn đã được cải thiện về thương mại và một số lĩnh vực xây dựng lòng tin cũng như quan hệ quân sự, báo cáo này còn có những từ ngữ thận trọng dành cho Ấn Độ. Nó tóm lược các mối quan ngại của Trung Quốc về sức mạnh quân sự, chính trị và kinh tế đang lên của Ấn Độ, cùng các bước cần làm để cải thiện năng lực ngăn chặn của khu vực bao gồm sự thay thế tên lửa đạn đạo tầm trung dùng nhiên liệu lỏng CSS-3 bằng loại tên lửa đạn đạo tầm trung dùng nhiên liệu rắn CSS-5, tiên tiến hơn để khống chế Ấn Độ; đầu tư vào phát triển đường sá cùng cơ sở hạ tầng dọc biên giới Trung-Ấn; các kế hoạch di chuyển binh lính bằng máy bay tới khu vực và nhiều hoạt động khác.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 15 Comments »

356. Thách thức trên biển đối với Trung Quốc

Posted by adminbasam on 14/09/2011

The New York Times

Thách thức trên biển đối với Trung Quốc

Aaron L. Friedberg

4-9-2011

Những kẻ thù tài chính của nước Mỹ đang đặt cả đất nước vào một con đường đầy những rủi ro chiến lược ngày càng lớn ở châu Á.

Khi những đảng viên đảng Dân chủ hào hứng bảo vệ các chương trình xã hội, còn đảng Cộng hòa thì hăm hở tránh việc tăng thuế, và cả hai bên đều nói là nợ quốc gia sẽ phải được kiểm soát, thì chúng ta có thể tin là sẽ được thấy những nỗ lực giảm ngân sách quốc phòng tiếp tục kéo dài. Trong vòng 10 năm tới, mức cắt giảm kế hoạch chi tiêu có thể lên đến năm trăm tỷ USD. Ngay cả khi Lầu Năm Góc rút quân khỏi Afghanistan và Iraq để tiết kiệm chi tiêu, thì việc mua hoặc phát triển vũ khí mới cũng không được đầu tư nhiều tiền như trước nữa.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 22 Comments »

307. HỢP TÁC AN NINH MỸ-ẤN VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG AN NINH TRUNG QUỐC

Posted by adminbasam on 29/08/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Năm, ngày 25/08/2011

HỢP TÁC AN NINH MỸ-ẤN VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG

ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG AN NINH TRUNG QUỐC

(Tạp chí “Chính trị quốc tế”, Trung Quốc)

Những năm gần đây, mối quan hệ Mỹ-Ấn luôn được duy trì ở trạng thái phát triển ngày càng chặt chẽ, đặc biệt là việc hai bên tăng cường hợp tác về mặt an ninh và quốc phòng đã thúc đẩy mối quan hệ song phương phát triển hơn nữa. Sau “Sự kiện 11/9”, do Chính phủ Mỹ và Pakixtan tăng cường hợp tác trong chiến lược chống khủng bố quốc tế, bên ngoài đều cho rằng điều này sẽ đem đến rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực cho sự phát triển của mối quan hệ Mỹ-Ấn trong tương lai. Nhưng xem xét kỹ sự phát triển của mối quan hệ song phương Mỹ-Ấn và tình hình khu vực những năm gần đây, tình hình này vẫn chưa xuất hiện, trái lại mối quan hệ Mỹ-Ấn còn phát triển ổn định, quan hệ đối tác chiến lược được tăng cường không ngừng. Tổng thống Mỹ Barack Obama cho rằng phải đào tạo Ấn Độ trở thành đối tác chiến lược được tăng cường không ngừng. Tổng thống Mỹ Barack Obama cho rằng phải đào tạo Ấn Độ trở thành đối tác chiến lược toàn cầu của Mỹ trong thời gian ông cầm quyền. Mọi người đều biết, sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ là nhân tố bên ngoài lớn nhất ảnh hưởng đến môi trường an ninh xung quanh Trung Quốc, còn Ấn Độ là nước lớn ở khu vực Nam Á, nước láng giềng quan trọng của Trung Quốc, nhưng còn tồn tại các vấn đề như tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, vì vậy sự hợp tác giữa Mỹ và Ấn Độ trong lĩnh vực an ninh ắt sẽ nảy sinh những ảnh hưởng quan trọng đối với môi trường an ninh của Trung Quốc.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 9 Comments »

274. Xây, Giữ, và Dọn – Chiến lược của Mỹ đối với châu Á

Posted by adminbasam on 19/08/2011

National Review

Xây, Giữ, và Dọn – Chiến lược của Mỹ đối với châu Á

Michael Auslin

15-8-2011

Bài báo sau đây sẽ đăng trên tạp chí National Review số ra ngày 29-8.

Kỷ nguyên toàn cầu tiếp theo của nước Mỹ đang ló rạng. Khi chúng ta (tức là Mỹ – ND) giảm quy mô hoạt động quân sự cả ở Afghanistan và Iraq, thì sự thịnh vượng, ảnh hưởng, và an ninh tương lai của chúng ta sẽ được quyết định bởi những gì diễn ra trong khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương đang nổi lên. Nếu chúng ta đóng vai trò dẫn đầu trong khu vực mênh mông trải suốt từ Ấn Độ tới Nhật Bản này, thì những thập kỷ tới đây sẽ chứng kiến sự lớn mạnh không chỉ của siêu cường Mỹ, mà còn của các đồng minh tự do, dân chủ của chúng ta. Ngược lại, nhường vị thế cao ở châu Á cho Trung Quốc chắc chắn sẽ đẩy đến sự suy thoái của hệ thống quốc tế tự do hóa sau chiến tranh và sự hình thành một tôn giáo, một thế giới kém an toàn hơn và bất ổn hơn. Có hai câu hỏi đặt ra trước một Washington chỉ tập trung vào cắt giảm ngân sách, lại bị stress nặng sau một thập kỷ giao tranh ở Trung Đông. Câu hỏi thứ nhất là, liệu chúng ta có quyết tâm thành công ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương không? Câu hỏi thứ hai, liệu chúng ta có phương cách nào để tiếp tục làm người đi đầu không?

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 29 Comments »

271. VỊ TRÍ CỦA ÔXTRÂYLIA TRONG VÁN BÀI MỸ-TRUNG Ở BIỂN ĐÔNG

Posted by adminbasam on 18/08/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Hai, ngày 15/08/2011

VỊ TRÍ CỦA ÔXTRÂYLIA TRONG VÁN BÀI

MỸ-TRUNG Ở BIỂN ĐÔNG

 

TTXVN (Xítni 2/8)

Trong bài phân tích đăng trên tờ “Người đưa tin Xítni buổi sáng” ngày 2/8, giáo sư chuyên về nghiên cứu chiến lược thuộc Đại học quốc gia Ôxtrâylia (ANU) Hugh White nhận định Ôxtrâylia có thể đóng vai trò làm bình yên những căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Theo giáo sư Hugh White, người đồng thời cộng tác với Viện Chính sách quốc tế Lowy có trụ sở tại Xítni, trong vài tháng tới, mọi ngưìư sẽ được nghe nhiều về Biển Đông, khi các nhà lãnh đạo châu Á tham dự những cuộc họp thượng đỉnh thường niên. Ôxtrâylia không bận tâm tới việc ai sở hữu những bãi đá nổi và bãi đá ngầm rải rác trên vùng biển đó, những Canbơrơ có một quyền lợi lớn trong cuộc chơi mưu mẹo giả thật gây bực tức đang diễn ra ở đó.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 29 Comments »

259. Biển Đông không phải là cái ao của Bắc Kinh

Posted by adminbasam on 13/08/2011

Washington Times

Biển Đông không phải là cái ao của Bắc Kinh

Kim R. Holmes

10-08-2011

Trung Quốc lại phô trương sức mạnh trên biển. Tuần trước, tờ báo chính phủ Trung Quốc, Nhân dân Nhật báo, đã lớn tiếng cảnh báo về “những hậu quả” nếu Bắc Kinh bị thách thức ở biển Đông. Vài tuần trước đó, một quan chức quân sự hàng đầu Trung Quốc đã gọi các cuộc tập trận của hải quân Mỹ ở biển Đông là “không thích hợp” và quở trách Mỹ chi tiêu quá nhiều vào quốc phòng.

Lời phàn nàn đó là gì? Thực sự rất đơn giản: Trung Quốc khẳng định tuyên bố chủ quyền hầu như toàn bộ vùng biển Đông và các đảo ở đó. Điều này không mới. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Bắc Kinh ngày càng hiếu chiến hơn về các tuyên bố. Từ tháng 2, đã có chín lần Trung Quốc xâm nhập vào lãnh thổ mà Philippines tuyên bố chủ quyền và đã nhiều lần cãi nhau với Việt Nam.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 19 Comments »

228. Thỏa thuận hời hợt về Biển Đông

Posted by adminbasam on 31/07/2011

Asia Times

Thỏa thuận hời hợt về Biển Đông

Brian McCartan

30-7-2011

Các vấn đề an ninh nóng bỏng ở Biển Đông đang được đưa lên hàng đầu trong các chương trình nghị sự ở một loạt cuộc gặp ASEAN tuần trước với sự tham dự của các bên quan trọng, trong đó có Mỹ và Trung Quốc.

Hiệp hội 10 nước và Trung Quốc đã nhất trí các nguyên tắc giải quyết bất đồng ở vùng biển tranh chấp song thỏa thuận đó không mang tính ràng buộc pháp lý và phản ánh rõ hơn điểm yếu của cách tiếp cận dựa trên sự đồng thuận mà ASEAN theo đuổi nhằm giải quyết các vấn đề an ninh khu vực.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung | 3 Comments »

227. Đánh bại các tranh chấp ở Biển Đông

Posted by adminbasam on 31/07/2011

The Diplomat

Đánh bại các tranh chấp ở Biển Đông

Mark Valencia

Ngày 29-7-2011

Bản hướng dẫn mà các bên tại Diễn đàn Khu vực ASEAN đều tán thành là sự khởi đầu tốt đẹp cho việc giải quyết tranh cãi về chủ quyền giữa Trung Quốc và các nước ASEAN.

Tuần qua, trước sự chứng kiến của thế giới, một cảm xúc lạc quan đã phảng phất trong các cuộc họp của Diễn đàn Khu vực ASEAN tại Bali. Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc đã nhất trí về “bản hướng dẫn” thực thi Tuyên bố chung 2002 về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) mà trước kia họ từng tán thành. Một số thành viên, kể cả Trung Quốc, ca ngợi sự kiện này như thể đó là một bước đột phá. Nhưng các bên khác thì đồng ý với phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton rằng: “Đây là một bước quan trọng, nhưng chỉ là bước đầu tiên”, ASEAN và Trung Quốc nên hành động nhanh hơn – thậm chí là khẩn cấp hơn – để đạt được một bộ quy tắc ứng xử thật sự.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung | 4 Comments »

218. Chiến lược hai mũi nhọn của hải quân Trung Quốc

Posted by adminbasam on 28/07/2011

The Diplomat

Chiến lược hai mũi nhọn của hải quân Trung Quốc

Robert C. O’Brien

Trung Quốc đang theo đuổi chiến lược hai mũi nhọn với việc xây dựng một lực lượng hải quân hoành tráng. Phương Tây đang phạm sai lầm nếu đánh giá thấp các mưu đồ này.

Trong thập niên vừa qua, trong khi phương Tây hao tâm tổn sức vào cuộc chiến chống Hồi giáo cực đoan ở Trung Đông và Trung Á thì Trung Quốc rốt ráo thực hiện một nỗ lực nhanh chóng và ấn tượng nhằm trở thành một cường quốc hải quân lớn nhất ở đông Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Đọc tiếp »

Posted in Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 23 Comments »

203. Tại sao Trung Quốc muốn Biển Đông

Posted by adminbasam on 21/07/2011

Diplomat

Tại sao Trung Quốc muốn Biển Đông

Tetsuo Kotani

18-7-2011

Những gì Bắc Kinh quan tâm không chỉ là các nguồn năng lượng và hải sản. Khu vực này còn không thể thiếu đối với chiến lược tàu ngầm hạt nhân của Bắc Kinh.

Trong một nỗ lực nhấn mạnh tầm quan trọng của Biển Đông đối với châu Á, nhà địa chiến lược Nicholas Spykman từng mô tả đây là “Địa Trung Hải của châu Á”. Mới đây nhất, vùng biển này được gọi là “Caribbe của Trung Quốc”. Và cũng giống như Rome và Mỹ tìm kiếm sự kiểm soát đối với Địa Trung Hải và Caribbe, Trung Quốc giờ đây muốn thống trị Biển Đông.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 9 Comments »

202.Thời khắc Munich của nước Mỹ?

Posted by adminbasam on 21/07/2011

Đôi lời: Dưới đây là hai bài báo có cùng một tựa đề “America’s ‘Munich Moment’?” Một bài được đăng trên The Diplomat của GS James R. Holmes và tiếp theo là bài xã luận trên báo China Daily, phản biện lại bài viết của GS Holmes một cách…xuyên tạc, mà ông David Brown, cựu viên chức ngoại giao Mỹ và là cây viết cho báo Asia Times Online, đã có lời nhận xét sau khi đọc cả hai bài báo như sau:

Sự lựa chọn của báo China Daily – được gọi là bài xã luận? – đã sắp xếp các phần trích dẫn có chọn lọc, làm cho ông [Jim] Webb giống như một kẻ hiếu chiến mù mờ thông tin. Đó là loại báo chí đáng khinh.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 9 Comments »

199. Sự mạo hiểm trên Biển Đông

Posted by adminbasam on 20/07/2011

Asia Times Online

Sự mạo hiểm trên Biển Đông

David Brown

14-07-2011

Nhiều nhà quan sát, trong đó có tác giả bài báo này [1], cho rằng động cơ chủ yếu thúc đẩy Trung Quốc trong việc tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ khu vực Biển Đông là niềm tin rằng dưới lòng vùng biển này ẩn chứa nguồn tài nguyên hyđrôcácbon rất dồi dào.

Đây không phải là lần đầu tiên một nước lớn bị người ta nghi ngờ đang có ý đồ nhòm ngó nguồn tài nguyên hyđrôcácbon được cho là rất dồi dào còn nằm dưới đáy biển. 40 năm trước đây, khi các nhà phân tích không thể đưa ra một lời lý giải nào khác cho việc tại sao Hoa Kỳ lại trợ giúp cho chính quyền miền Nam Việt Nam đang mục ruỗng và chực chờ sụp đổ, một số người đã cho rằng có lẽ là vì Washington biết rằng ở ngoài khơi Việt Nam có nhiều mỏ dầu.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 7 Comments »

197. Thư của Thượng Nghị sĩ John McCain và John Kerry gửi ông Đới Bỉnh Quốc

Posted by adminbasam on 20/07/2011

Thư của Thượng Nghị sĩ John McCain và John Kerry

gửi ông Đới Bỉnh Quốc

THƯỢNG VIỆN MỸ

UỶ BAN ĐỐI NGOẠI

Washington, DC 20510-6225

14-07-2011

Ngài Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện

Đồng kính gửi Đại sứ Zhang Yesui

Đại sứ quán nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

3505 International Place, N.W.

Washington, D.C. 20008

Thưa Ngài:

Rất cảm ơn ngài về lá thư ngày 3 tháng 6 năm 2011, nhắc lại cam kết của ngài về việc xây dựng mối quan hệ đối tác Mỹ-Trung dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và đôi bên cùng có lợi. Chúng tôi chia sẻ mục tiêu đi sâu và mở rộng của ngài với các lĩnh vực hợp tác của chúng tôi, và coi trọng khả năng của chúng tôi để có các cuộc thảo luận chuyên sâu và thẳng thắn với ngài về các vấn đề cùng quan tâm.

Chúng tôi viết thư để tiếp tục cuộc trò chuyện của chúng ta hồi tháng Năm vừa qua và bày tỏ những mối quan ngại của chúng tôi về những diễn biến gần đây trong vùng biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Như ngài đã biết, Hoa Kỳ không có quan điểm về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ chồng lấn trong khu vực này, nhưng chúng tôi giữ mối quan tâm sâu sắc và không thay đổi trong việc bảo đảm quyền tự do hàng hải, thương mại, và khai thác kinh tế, duy trì cam kết của Mỹ với các đồng minh và đối tác của chúng tôi và hỗ trợ hòa bình và an ninh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Vì lý do này, chúng tôi lo ngại rằng một loạt các sự cố hải quân trong những tháng gần đây đã gia tăng căng thẳng trong khu vực. Nếu không có những bước đi thích hợp để làm dịu tình hình, các sự cố trong tương lai có thể leo thang, gây nguy hiểm đến lợi ích quốc gia quan trọng của Hoa Kỳ.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung | 28 Comments »

194. Khủng hoảng sẽ xảy ra ở Trung Quốc

Posted by adminbasam on 19/07/2011

Asia Times

Khủng hoảng sẽ xảy ra ở Trung Quốc

Benjamin A Shobert

14-7-2011

Những ngày này, gần như không thể chọn được một tờ báo hay hay tạp chí nào mà không có các bài viết về Trung Quốc cùng sức tăng trưởng dường như vô địch của nước này. Rất nhiều bài viết đó, đặc biệt là những bài dường như hoàn toàn đầy nỗi lo sợ và thất vọng về việc Trung Quốc qua mặt Mỹ, chẳng tiên đoán được điều gì ngoài sự tăng trưởng theo cấp số cộng của nền kinh tế Trung Quốc, sự thống trị trong khu vực không thể tránh khỏi của nước này và khả năng thách thức toàn cầu của Bắc Kinh đối với việc cố gắng giữ vững quyền bá chủ của Mỹ.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | 21 Comments »

185. Một kịch bản tương tự Gruzia cho Đông Nam Á

Posted by adminbasam on 15/07/2011

Đôi lời: Dường như trước đây có độc giả đã nhắc BS nên tìm các bài viết của các học giả phương Tây theo hướng ủng hộ Trung Quốc để giới thiệu cho bà con. Và đây là một trong những bài như vậy, xin giới thiệu cùng độc giả.

Bài viết này có nhiều ý kiến thiên vị (biased) Trung Quốc mà độc giả có thể nhận ra, chẳng hạn như câu “…Bắc Kinh phẫn nộ trước việc Hà Nội tiếp tục chủ động thăm dò những khu vực tranh chấp”. Ý kiến này hoàn toàn thể hiện quan điểm của Trung Quốc, bởi vì vùng biển mà VN thăm dò, hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam, không phải vùng biển tranh chấp với Trung Quốc. Chẳng hạn như cái nhà của ta đang ở, tay hàng xóm tới bảo, cái sân nhà là của nó, rồi ta cãi lại, chẳng lẽ cái sân này trở thành “dispute” giữa ta với tay hàng xóm?

Còn nhiều điểm nữa trong bài thể hiện quan điểm Trung Quốc, quý độc giả có thể tìm và dùng lý lẽ để phản bác, hoặc độc giả nào biết tiếng Anh có thể vào bài gốc trên Foreign Policy để viết comment tranh luận. Khi tranh luận, nhất là ở các diễn đàn nước ngoài, độc giả chú ý, quan trọng nhất là chúng ta sử dụng lý lẽ để thắng họ.

Foreign Policy

Một kịch bản tương tự Gruzia cho Đông Nam Á

Lyle Goldstein

11-7-2011

Đối với tranh chấp giữa Trung Quốc và các nước láng giềng của Trung Quốc, Mỹ không thể làm liều.

Ngày 22-6 tại Honolulu, khi Thôi Thiên Khải (Cui Tiankai), Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, cảnh báo các quan chức Hoa Kỳ rằng “các nước (ở Đông Nam Á) đang đùa với lửa”, và ông ta hy vọng “lửa ấy sẽ không lan tới Mỹ”, thì đó là một sự chấm dứt những luận điệu thường lệ trong các cuộc hội nghị thượng đỉnh. Thông điệp của Trung Quốc là: Đừng can thiệp vào tranh chấp quần đảo Spratly (tên quốc tế của quần đảo Trường Sa – ND) trên biển Hoa Nam (tức Biển Đông – ND), nơi năm nước có yêu sách chủ quyền khác đang tranh giành với Trung Quốc quyền khai thác trữ lượng tài nguyên dồi dào dưới biển ở khu vực này.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 40 Comments »

174. Tranh chấp Biển Đông ám ảnh chuyến công du của Mỹ

Posted by adminbasam on 11/07/2011

Wall Street Journal

Tranh chấp Biển Đông

ám ảnh chuyến công du của Mỹ

Jeremy Page

9-7-2011

Bắc Kinh – Căng thẳng trong vùng biển tranh chấp – biển Hoa Nam (tức Biển Đông theo cách gọi của Việt Nam – ND) – có nguy cơ làm phân tán tâm trí Đô đốc Mike Mullen, chủ tịch Bộ Tổng tham mưu Hoa Kỳ, trong chuyến thăm của ông tới Trung Quốc sau đợt lạnh mặt gần đây trong quan hệ quân sự song phương.

Đô đốc Mullen đến Bắc Kinh vào thứ bảy, ngay khi Mỹ và hai đối tác quân sự chính của họ trong khu vực là Nhật Bản và Australia bắt đầu tập trận hải quân chung ở biển Hoa Nam lần đầu tiên – một động thái chắc chắn sẽ chọc giận Trung Quốc, nước đang đòi chủ quyền đối với gần như toàn bộ biển Hoa Nam.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ quốc tế | 10 Comments »

169. TÁC ĐỘNG CỦA SỰ CẠNH TRANH MỸ-TRUNG ĐỐI VỚI TÌNH HÌNH THÁI LAN SAU BẦU CỬ

Posted by adminbasam on 09/07/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Năm, ngày 07/07/2011

TÁC ĐỘNG CỦA SỰ CẠNH TRANH MỸ-TRUNG

ĐỐI VỚI TÌNH HÌNH THÁI LAN SAU BẦU CỬ

TTXVN (Niu Yóoc 3/7)

“Tạp chí Âu – Á” ngày 3/7 nhận định khi Thái Lan kết thúc các cuộc bầu cử ngày 3/7, khả năng kết quả bầu cử sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị, hơn nữa sau 5 năm tranh giành quyền lực trong giới cầm quyền giữa những người ủng hộ và những người phản đối cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra. Nhưng bên cạnh đó, một nhân tố nữa làm gia tăng những căng thẳng trong nội bộ Thái Lan là cuộc cạnh tranh gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ quốc tế | Tagged: | 7 Comments »

161. LÀM SỐNG LẠI CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI GÂY HẤN, TRUNG QUỐC ĐANG CƯỠI TRÊN LƯNG HỔ

Posted by adminbasam on 07/07/2011

Foreign Policy

LÀM SỐNG LẠI CHÍNH SÁCH

ĐỐI NGOẠI GÂY HẤN,  TRUNG QUỐC

ĐANG CƯỠI TRÊN LƯNG HỔ   

Dan Blumenthal

Đăng trên tạp chí của Viện AEI số tháng 4/2011
Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , , | 11 Comments »

147. Biển Đông: điệu nhảy mà các bên quay lưng lại với nhau

Posted by adminbasam on 01/07/2011

The Wall Street Journal

Biển Hoa Nam [Biển Đông]: điệu nhảy

mà các bên quay lưng lại với nhau

Ngày 30 tháng 6 năm 2011

Trong lúc Trung Quốc ngày càng gia tăng các mối đe dọa thì châu Á dĩ nhiên phải tìm cách xích lại gần hơn với Mỹ

Việt Nam và Philippine đang tiếp tục bày tỏ sự tức giận ở mức vừa đủ trước việc tàu chiến và máy bay của Trung Quốc đe dọa các lực lượng của họ và các tàu đánh cá ở vùng biển tranh chấp ở Biển Hoa Nam. Hai nước này đang muốn Mỹ bày tỏ sự ủng hộ một cách dứt khoát hơn và một số chính trị gia Mỹ muốn Mỹ hãy giúp hai nước này. Thượng Viện Mỹ hôm thứ Hai đã thông qua một nghị quyết không mang tính ràng buộc tỏ ý lấy làm tiếc về những hành động của Trung Quốc. Song Trung Quốc hầu như không chùn bước. Thứ trưởng ngoại giao Trương Chí Quân [Cui Tiankai] tuần trước đã cảnh báo rằng “các quốc gia riêng rẽ đang đùa với lửa và tôi hi vọng Mỹ đừng để lửa bén vào mình.”
Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , | 16 Comments »

145. Hoa Kỳ cần tiến lên và chơi trò chơi tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc

Posted by adminbasam on 01/07/2011

Wall Street Journal

Chơi bi-a trên biển Đông

Hoa Kỳ cần tiến lên và chơi trò chơi tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc

Michael Auslin

30-06-2011

Trên Biển Đông, Trung Quốc đang chơi bi-a, trong khi Mỹ đang chơi trò chơi như là Cướp Cờ (Capture the Flag). Đối với Bắc Kinh, mục tiêu là đánh những quả bóng bi-a khác văng ra khỏi bàn, để chính nó điều khiển. Trong khi đó, Washington cố gắng giữ không cho Bắc Kinh cướp được lá cờ về quyền bá chủ khu vực.

Các nhà hoạch định chính sách Mỹ cần nhận ra rằng, họ đang chơi một trò chơi khác với trò chơi của Trung Quốc và cần điều chỉnh chiến lược của Mỹ. Trong khi chuyển sang chơi bi-a là quá khiêu khích đối với Washington, nếu xu hướng này tiếp tục, chẳng bao lâu sau, Mỹ có thể thấy chính mình ở đằng sau tám trái bóng, không có nhiều lựa chọn trong việc giữ vai trò ổn định trong khu vực.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , | 18 Comments »

142. Thượng viện Mỹ đồng lòng “phản đối” việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc trên biển Đông

Posted by adminbasam on 30/06/2011

Thông cáo báo chí

Thượng viện Mỹ đồng lòng

“phản đối” việc sử dụng vũ lực

của Trung Quốc trên biển Đông

27-6-2011

Washington, DC – Hôm nay, Thượng viện Mỹ nhất trí thông qua một nghị quyết phản đối việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc trên biển Đông và kêu gọi một giải pháp đa phương, hòa bình về các tranh chấp lãnh hải ở Đông Nam Á. Thượng nghị sĩ Jim Webb (đảng Dân chủ – bang Virginia), Chủ tịch Tiểu ban Đông Á – Thái Bình Dương, thuộc Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, giới thiệu nghị quyết ngày 13 tháng 6 cùng với thành viên tiểu ban, ông James Inhofe (đảng Cộng hòa – bang Oklahoma). Thượng nghị sĩ Joseph Lieberman (đảng Dân chủ – Connecticut) và Daniel Inouye (đảng Dân chủ – bang Hawaii) là những người đồng tài trợ ban đầu.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung | 1 Comment »

140. Biển Đông hay tôi?

Posted by adminbasam on 28/06/2011

Foreign Policy

Biển Đông hay tôi?

Clyde Prestowitz

Ngày 24-6-2011

Vài điều đã cùng xảy ra ngày hôm qua, mở đầu cho một câu hỏi căn bản về con đường tương lai của Hoa Kỳ.

Đầu tiên tất nhiên là tuyên bố rút quân khỏi Afghanistan của Tổng thống Obama. Đây là một tuyên bố quan trọng không chỉ với Afghanistan mà còn là dấu hiệu cho thấy một nước Mỹ “mệt mỏi vì chiến tranh” (chữ dùng của tổng thống) đang bắt đầu có động thái giảm dần những cam kết an ninh dàn trải của họ. Không phải là ngẫu nhiên mà bài diễn văn được tổng thống đọc đúng vào lúc lãnh đạo phe đa số trong Quốc hội Mỹ Eric Cantor rút khỏi những cuộc đàm phán về giảm nợ do Phó Tổng thống Biden cầm trịch. Cantor cho biết ông từ chối ủng hộ bất kỳ ý kiến nào liên quan đến tăng thuế. Trong bối cảnh đó, rõ ràng là nước Mỹ sẽ giảm bớt cam kết, không chỉ do mệt mỏi vì chiến tranh, mà còn vì họ không còn đủ tiền chi trả nữa.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | 10 Comments »

136. Mỹ đã đẩy Trung Quốc tới giới hạn?

Posted by adminbasam on 26/06/2011

Diplomat

Mỹ đã đẩy Trung Quốc tới giới hạn?

Mark Valencia

24-06-11

Khi căng thẳng gia tăng trên biển Đông, các nhà phân tích lấy làm lạ là vì sao Trung Quốc bất ngờ đưa các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ mạnh mẽ như vậy.

Sau một loạt các sự cố gây gổ liên quan đến các tàu tuần tra của Trung Quốc và tiếp theo là các tuyên bố chính thức nhẹ nhàng, nhiều nhà phân tích đang cố tìm hiểu những gì thực sự đang diễn ra. Đặc biệt là, tại sao các bộ phận khác của chính phủ Trung Quốc lại đưa ra tín hiệu lẫn lộn, và lựa chọn gần như mọi hành động cùng một lúc là làm xấu hổ chính lãnh đạo của họ, phá hoại “chiến dịch lấy lòng” thành công và đã được nuôi dưỡng một cách cẩn thận của Trung Quốc đối với ASEAN, và đi vào đúng chiến lược của Mỹ về việc thuyết phục các nước ASEAN rằng họ cần Mỹ bảo vệ nếu bị Trung Quốc bắt nạt? Ở Trung Quốc, con tàu chính trị đã rời khỏi ga, và các nước ASEAN vừa thay đổi chỗ ngồi hoặc đổi toa xe trên tàu hoả?

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | 5 Comments »

135. Hoa Kỳ và Trung Quốc gặp gỡ trong lúc căng thẳng gia tăng trên biển

Posted by adminbasam on 26/06/2011

Yahoo News

Hoa Kỳ và Trung Quốc gặp gỡ

trong lúc căng thẳng gia tăng trên biển

25-06-2011

Honolulu, Hawaii (AFP) – Hoa Kỳ và Trung Quốc đang có những buổi được xem như là đàm phán đầu tiên hôm thứ Bảy về những căng thẳng gia tăng trên biển Đông, với sự tức giận của Bắc Kinh về việc Washington hỗ trợ các nước Đông Nam Á.

Các viên chức cấp cao của các cường quốc Thái Bình Dương đang họp tại Honolulu, Hawaii, vài ngày sau khi Hoa Kỳ hỗ trợ Philippines và Việt Nam, [hai nước] lo lắng về điều mà họ cho là sự quyết đoán ngày càng gia tăng của Bắc Kinh trên biển.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | 3 Comments »

132. TƯƠNG LAI CỦA LỤC ĐỊA Á-ÂU Ở BIỂN ĐÔNG

Posted by adminbasam on 24/06/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

TƯƠNG LAI CỦA LỤC ĐỊA Á-ÂU Ở BIỂN ĐÔNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Hai, ngày 20/06/2011

TTXVN (Angiê 12/6)

Mạng tin “Địa chính trị” mới đây đăng bài nghiên cứu về biển Đông của tác giả Jure Vujic, luật sư, nhà địa chính trị, nhà văn mang hai quốc tịch Pháp và Croátia như sau:

Trong những thập kỷ tới, nước nào có sức mạnh sẽ giành được bá quyền tại khu vực này, đồng thời sẽ tạo được ảnh hưởng lên các dân tộc và hai khu vực kinh tế giàu nhất và sinh lời nhất thế giới là Tây Âu và Đông Nam Á.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , | 5 Comments »

120. Phát biểu của ông John McCain tại hội thảo về an ninh hàng hải trên Biển Đông ở Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS)

Posted by adminbasam on 21/06/2011

Phát biểu của ông John McCain trong hội thảo

về an ninh hàng hải trên Biển Đông tại 

Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế

(CSIS)

 

20-06-2011

Cảm ơn John [Hamre] về lời giới thiệu hào phóng đó và cảm ơn tình bạn của anh trong nhiều năm qua. Tôi rất vui khi trở lại CSIS, nơi đã làm nhiều điều với mục đích thông báo suy nghĩ của Mỹ đến với thế giới và sự lãnh đạo của chúng tôi trong đó.

Như quý vị biết, tôi vừa từ Đông Nam Á trở về, và trước khi tôi chuyển qua chủ đề của hội nghị này, tôi muốn cung cấp một số cảm tưởng ngắn gọn về chuyến đi Miến Điện của tôi. Đây là lần đầu tiên tôi được phép trở lại đất nước này trong 15 năm, điều đó cho thấy dấu hiệu về chính phủ dân sự mới này có thể đại diện cho một sự thay đổi so với quá khứ. Một thay đổi đáng chú ý khác là thủ đô mới của Nay Pyi Taw. Các tòa nhà chính phủ lớn, các cung điện chạm đá cẩm thạch, các khách sạn mới toanh, đường cao tốc với 18 làn xe, và điều kỳ lạ là: không có ai ở đó. Chỉ có chúng tôi là những chiếc xe duy nhất trên đường. Các tòa nhà gần như trống rỗng.

Đó là một điều kỳ quặc mà tôi đã trải qua. Và chắc chắn đó là một sự tương phản đáng buồn với sự nghèo đói khốn cùng ở Rangoon. Tôi đến thăm một phòng khám tư nhân [của những người bị bệnh] AIDS, mọi người đông nghẹt, nhiều trẻ em mồ côi, những người cần sự chăm sóc nhiều hơn là những người có sẵn để chăm sóc cho họ. Tôi đã đi đến một dịch vụ cung cấp tang lễ miễn phí cho các linh hồn quá cố của những gia đình quá nghèo, để cho những người thân yêu của họ được chôn cất đàng hoàng. Đau lòng lắm, và điều này làm cho các bạn ước muốn, phải chi chính phủ [Miến Điện] cũng đầu tư sự nhiệt tình và tài nguyên để phát triển đất nước của họ với mức độ tương tự như là việc xây dựng thủ đô.

Tuy nhiên, trong các cuộc họp của tôi với Phó Chủ tịch Thứ nhất, hai người đứng đầu Quốc hội, và những người khác, rõ ràng là chính phủ này muốn có quan hệ tốt hơn với Hoa Kỳ. Tôi nhấn mạnh rằng chính phủ Hoa Kỳ và tôi chia sẻ khát vọng này, và rằng một điều như thế không phải là không thể đạt được. Sau cùng, nếu Hoa Kỳ và Việt Nam có thể cải thiện quan hệ, mà tôi biết một hoặc hai điều về vấn đề này, thì bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra.

Tuy nhiên, điểm chính tôi đã nhấn mạnh rằng, bất kỳ sự cải thiện mối quan hệ nào cũng cần được xây dựng, không những qua các cuộc nói chuyện vui vẻ, mà còn cần có các hành động từ cả hai phía. Hoa Kỳ cần sẵn sàng đặt mọi phương diện chính sách của chúng ta lên trên bàn, và để làm thay đổi những điều cụ thể mà chính phủ Nay Pyi Taw đã hỏi chúng tôi. Nhưng điều này chỉ có thể được thực hiện cùng với các hành động cụ thể về phía họ, đặc biệt là những lời kêu gọi của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc: phóng thích tất cả các tù nhân lương tâm, cho phép Hội Chữ thập đỏ được tự do vào thăm tất cả các nhà tù, bắt đầu một quá trình hòa giải quốc gia thực sự, có liên quan đến các đảng đối lập chính trị và dân tộc, gồm Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ, và bảo đảm sự an toàn và tự do đi lại của bà Aung San Suu Kyi.

Tôi đã có cơ hội gặp Bà [Aung San Suu Kyi] trong chuyến viếng thăm của tôi, và lý do tôi vẫn còn hy vọng cho người dân Miến Điện đó là vì bà. Hôm qua là sinh nhật của bà Aung San Suu Kyi và bà bày tỏ niềm hy vọng này: ‘Nếu được hỏi điều gì tôi mong muốn trong ngày sinh nhật của mình, tôi muốn hòa bình, ổn định và thịnh vượng cho đất nước tôi’. Người phụ nữ tuyệt vời này vẫn còn là nguồn cảm hứng cho những người dân của bà và cho tôi. Và tôi đồng ý với bà rằng, đây không phải là lúc Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh trừng phạt. Chúng ta cũng nên làm việc để thiết lập một Ủy ban Điều tra Liên hợp quốc, mà điều này không liên quan gì đến sự trừng phạt, và tất cả mọi thứ liên quan đến sự thật và công lý cho người dân Miến Điện.

Từ Miến Điện, tôi đã đi đến Singapore tham dự Đối thoại Shangri La, nơi mà một trong những chủ đề chính của cuộc thảo luận là chủ đề của hội nghị này: an ninh hàng hải ở biển Đông. Vấn đề này gây xúc động mãnh liệt giữa các nước tuyên bố chủ quyền trên vùng biển và vùng lãnh thổ. Và các chuyên gia thực sự hiểu những vấn đề phức tạp về lịch sử và pháp lý của những tuyên bố chủ quyền này, thì rất ít. Tôi đến từ Arizona, nơi mà chúng ta biết việc tranh đấu sử dụng đất và nước phức tạp như thế nào. Tôi cũng là một cựu lính Hải quân đã dành phần lớn cuộc đời của mình đi đây đó và làm việc về các vấn đề an ninh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Và tôi càng lo ngại, rằng biển Đông đang trở thành một điểm nóng xung đột.

Những năm vừa qua cho thấy sự leo thang nhanh chóng về tình trạng căng thẳng giữa các nước trong khu vực hàng hải đang tranh chấp và hay thay đổi này. Tôi không cần phải nói lại cho quý vị ở đây nghe tất cả các sự cố này. Dĩ nhiên, điều quan trọng là tất cả các bên thực hiện sự kiềm chế. Và để chắc chắn rằng, các đối tác ASEAN của chúng ta sẽ cần phải thỏa hiệp, đặc biệt là các nước thoả hiệp với nhau, để đạt được một kết quả hòa bình và cùng có lợi, như nhiều nước  trong số các nước này thừa nhận. Điều đó có nghĩa là, tình hình này cần phải nói thẳng một chút: Một trong những lực lượng chính làm cho các căng thẳng trên biển Đông trầm trọng hơn, và làm cho giải pháp hòa bình của các tranh chấp này khó khăn hơn để đạt được, đó là hành vi hung hăng của Trung Quốc và việc đòi chủ quyền lãnh thổ vô căn cứ mà họ tìm cách theo đuổi.

Tôi chẳng vui vẻ gì để nói điều này.Tôi tin rằng một trong những lợi ích quốc gia hàng đầu của Hoa Kỳ là việc duy trì và tăng cường quan hệ nhiều mặt với Trung Quốc. Tôi muốn Trung Quốc thành công và phát triển một cách hòa bình. Và tôi tin rằng không có lực lượng lịch sử nào lên án các nước của chúng ta (có lẽ ông McCain muốn nói các nước khác – không phải Trung Quốc – đang tranh chấp) về xung đột. Thật vậy, phạm vi hợp tác toàn cầu của chúng ta là rộng hơn bao giờ hết, kể cả các vấn đề an ninh hàng hải, rõ ràng để cho mọi người thấy các hoạt động chung của chúng ta ra ngoài khơi bán đảo Somali (Horn fo Africa).

Điều gây khó khăn cho tôi, và tôi nghĩ nó cũng gây khó khăn cho nhiều quý vị ở đây, đó là các tuyên bố mở rộng mà Trung Quốc tuyên bố trên biển Đông; các lý do căn bản cung cấp cho các tuyên bố này, không có cơ sở luật pháp quốc tế; và những hành động ngày càng quyết đoán mà Trung Quốc đang thực hiện để thực thi các quyền tự nhận của họ, gồm cả vùng biển trong phạm vi 200 hải lý ngoài khơi bờ biển của các nước ASEAN, như là trường hợp gần đây trong các sự cố riêng biệt liên quan đến Việt Nam và Philippines. Bản đồ về cái gọi là chín vạch của Trung Quốc tuyên bố tất cả các đảo trên biển Đông là chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc và tất cả các vùng lãnh hải của nó là vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Hơn nữa, những giải thích cụ thể về luật pháp quốc tế của Trung Quốc sẽ làm xói mòn các nguyên tắc lâu dài về tự do hàng hải – bóp méo nguyên tắc về khái niệm mở rộng cho mọi người đi vào, khái niệm loại trừ sẽ hạn chế đi vào [vùng biển]. Một số người ở Trung Quốc thậm chí còn đề cập đến học thuyết này, như trích dẫn, ‘chiến tranh pháp lý’.

Tại sao điều này quan trọng đối với Hoa Kỳ? Đây là câu hỏi mà nhiều người Mỹ sẽ hỏi, đặc biệt là khi chúng ta liên quan đến ba cuộc xung đột đã xãy ra, và khi nợ quốc gia của chúng ta thực sự trở nên không bền vững. Tại sao Mỹ nên quan tâm đến tranh chấp lãnh hải của các nước bên ngoài cách xa nửa vòng trái đất?   

Chắc chắn có lý do kinh tế để tham gia. Khu vực biển Đông là nguồn quan trọng về công việc làm và tài nguyên thiên nhiên có lợi cho nhiều người Mỹ. Tuy nhiên, có lẽ xét rộng hơn là yếu tố chiến lược. Trung tâm địa chính trị thế giới hấp dẫn đang chuyển sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương, một khu vực, trong đó nhiều nước đang trỗi dậy cùng một lúc về sự giàu có và sức mạnh. Điều này tạo ra sự va chạm giữa các quốc gia, nơi các tranh chấp cũ vẫn chưa được giải quyết. Hoa Kỳ có một lợi ích an ninh quốc gia trong việc duy trì sự cân bằng chiến lược thuận lợi trong khu vực quan trọng này. Và trọng tâm đó là để bảo vệ quyền tự do phổ quát trong việc đi lại và đi vào các vùng biển như một nguyên tắc căn bản của trật tự quốc tế.

Những nỗ lực phủ nhận tự do hàng hải trên biển Đông đặt ra một thách thức nghiêm trọng đến trật tự quốc tế, dựa trên luật lệ, rằng Hoa Kỳ và đồng minh của chúng tôi đã duy trì trong nhiều thập kỷ. Nếu những nỗ lực này thành công – sẽ liên tục bắt nạt, cho phép một nước áp đặt tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mình bằng vũ lực và biến biển Đông thành một khu vực không cho các tàu thương mại và quân sự của các quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, đi vào, hậu quả sẽ thật thảm khốc. Điều đó có thể thiết lập một tiền lệ nguy hiểm để làm suy yếu luật pháp quốc tế, theo cách mà những người có ý định bệnh hoạn chắc chắn sẽ áp dụng ở những nơi khác. Điều đó có thể tạo ra sự khuyến khích gia tăng quyền lực gây phiền hà khắp mọi nơi, để sử dụng vũ lực, điều mà các phương tiện pháp lý và hoà bình không thể bảo đảm cho họ. Và nó sẽ đưa chúng ta đến gần hơn vào một ngày, khi hải quân Mỹ thấy rằng không thể đi vào và hoạt động một cách an toàn ở Tây Thái Bình Dương.      

Vậy thì Hoa Kỳ nên làm những gì? Để tôi cung cấp một vài đề nghị để kết thúc.

Thứ  nhất, về lập trường của Mỹ trên biển Đông, chúng ta nhận thấy rằng, nếu có thể, một chính sách rõ ràng có thể ổn định hơn so với một chính sách không rõ ràng. Tôi hoan nghênh Ngoại trưởng Clinton khi tuyên bố rằng các bên tranh chấp trên biển Đông phải được giải quyết thông qua đàm phán đa phương, và chúng ta sẽ tìm cách tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán. Đa số các nước châu Á hoan nghênh tuyên bố đó. Trên hết, đây là mối quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng, không phải giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, rất hữu ích cho chúng ta tiếp tục nói rõ quan điểm của Mỹ, để các nước khác có thể biết, Hoa Kỳ chấp nhận những yêu sách nào, yêu sách nào chúng ta không chấp nhận, và những hành động nào chúng ta chuẩn bị để hỗ trợ các chính sách và các đối tác của chúng ta, đặc biệt là Philippines, một nước đồng minh có ký hiệp ước.

Thứ hai, Hoa Kỳ nên hỗ trợ các đối tác ASEAN của chúng ta trong việc giải quyết tranh chấp của họ trên biển Đông, như một phương tiện cổ vũ ASEAN đoàn kết hơn để đối mặt với Trung Quốc. Trung Quốc tìm cách khai thác sự chia rẽ giữa các thành viên ASEAN – làm cho họ chống đối nhau, để phục vụ cho kế hoạch riêng của Trung Quốc. Giải quyết các tranh chấp trên biển giữa các nước ASEAN, như Malaysia và Brunei gần đây đã thực hiện, sẽ cho phép các đối tác của chúng ta thiết lập một mặt trận thống nhất hơn.

Thứ ba, Hoa Kỳ cần giúp đỡ các đối tác ASEAN của chúng ta tăng cường sự phòng thủ trên biển và khả năng phát hiện – để phát triển và triển khai các hệ thống cơ bản như radar cảnh báo sớm và các tàu an ninh ven biển. Bù đắp sự thiếu thốn này, và tăng cường tập trận chung với chúng ta, sẽ cung cấp một hình ảnh hoạt động phổ biến hơn trên biển Đông và khả năng đối phó tốt hơn với các mối đe dọa.

Thứ tư, Thượng viện Mỹ cần quan tâm hơn đến Công ước LHQ về Luật Biển. Tôi biết điều này không phổ biến ở một số người bảo thủ. Chính tôi cũng đã nghi ngờ về công ước. Nhưng thực tế là, chính phủ các nhiệm kỳ kế tiếp của cả hai đảng đã tôn trọng những nhận xét cơ bản của Công ước, mặc dù không cần phải ký. Trong khi đó, các nước như Trung Quốc đã ký công ước mà không thực hiện đúng, nhắm tới việc từ chối [không cho các nước] đi vào vùng biển quốc tế. Điều này làm cho Hoa Kỳ phải dựa vào ân huệ của các nước ngoài cũng như dựa vào sức mạnh lớn hơn của chính mình để bảo đảm quyền đi lại của Mỹ. Nhưng những điều này là đặc ân, không thể được xem như lúc nào cũng có sẵn, đó là lý do Hải quân Mỹ hỗ trợ mạnh mẽ Công ước [LHQ về Luật Biển] và tính pháp lý của nó, để bảo đảm nó phục vụ cho các hoạt động hải quân của chúng ta. Do đó, vì lý do an ninh quốc gia, Thượng viện cần phải quyết định, đã đến lúc phê chuẩn Hiệp ước Luật Biển.   

Thứ năm, chúng ta cần phải chuyển sức mạnh của lực lượng Mỹ, chú trọng nhiều hơn vào những khu vực cạnh tranh mới trỗi dậy, đặc biệt là Ấn Độ Dương và Biển Đông. Tôi đã tham gia với các đồng nghiệp của tôi ở Hội đồng Quân sự Thượng viện, Thượng nghị sĩ Carl Levin và Jim Webb, để kêu gọi cho thêm thời gian đánh giá lại kế hoạch về các căn cứ của chúng ta ở Nhật Bản và Guam. Và tôi đã làm như thế để Mỹ không phải rút khỏi châu Á, mà là tăng cường cam kết của chúng ta đối với an ninh trong khu vực.

Không phải là nơi Quốc hội có ý kiến về các thỏa thuận căn cứ trong khu vực, mà là thực tế tình hình mới và chi phí vượt quá mức, đã đặt vấn đề về các kế hoạch hiện tại của chúng ta, nên Quốc hội phải đặt những câu hỏi khó. Mục tiêu của chúng ta nên chuyển tới nơi có vị thế địa lý hơn, đưa quân đội rải rác ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, như Bộ trưởng Quốc phòng Gates đã mô tả, và trung tâm của nỗ lực đó sẽ luôn luôn là những cam kết căn cứ của chúng ta với các đồng minh lịch sử như Nhật Bản và Nam Hàn.

Cuối cùng, Hoa Kỳ phải tiếp tục các khoản đầu tư cần thiết vào khả năng phòng thủ của chúng ta, đặc biệt là lực lượng hải quân, để duy trì sức mạnh quân sự hàng đầu thế giới. Chúng ta đang phải đối mặt với áp lực rất lớn trong nước để cắt giảm chi tiêu, gồm cả chi tiêu quốc phòng, và một số cắt giảm chắc chắn cần thiết. Những người có lý lẽ có thể không đồng ý về việc cắt giảm này, nên cắt thêm bao nhiêu. Nhưng gần đây, khi Tổng thống cam kết cắt giảm 400 tỷ đô la về chi tiêu quốc phòng trong thời gian 12 năm, không có cơ sở chiến lược hợp lý về lý do tại sao con số này đã được lựa chọn hoặc những rủi ro gì nó sẽ gây ra, và Bộ trưởng Quốc phòng chỉ được nói về điều đó một ngày trước khi sự việc xảy ra, tôi nghĩ rằng những người có lý lẽ cũng có thể đồng ý rằng, điều này không phải là cách để lên kế hoạch quốc phòng của chúng ta. Chúng ta phải [lên kế hoạch] dựa vào chiến lược hướng dẫn, không thể [dựa vào] những con số tùy tiện.

Những sự kiện hiện đang xảy ra trên biển Đông sẽ đóng một vai trò quyết định trong việc định hình sự phát triển ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong thế kỷ này. Và Hoa Kỳ phải tiếp tục tham gia tích cực vào quá trình đó. Về vấn đề này, tôi gặp rắc rối do các báo cáo gần đây của một số đồng nghiệp của tôi trong Quốc hội và một số ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Cộng hòa, cho thấy mong muốn rút khỏi thế giới và giảm các cam kết của chúng ta ở nước ngoài. Hoa Kỳ đã mắc phải sai lầm đó trước đây, và chúng ta nên học bài học lịch sử này, không để nó lặp lại. Cuối cùng, lịch sử cho chúng ta thấy rằng, chính Mỹ được hưởng lợi lớn nhất nhờ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, đó là duy trì bởi quyền lực và sự lãnh đạo của Mỹ. Chúng ta từ bỏ vai trò đó là nguy hiểm cho thế giới và cho chính chúng ta.

Nếu các bạn đến từ khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chỉ để mang một thông điệp về nhà với các bạn, thông điệp đó sẽ là: Luôn có xu hướng cô lập ở Mỹ, nhưng người Mỹ đã bác bỏ nó trước đây, và tôi tin rằng bây giờ người Mỹ sẽ bác bỏ nó một lần nữa. Sẽ luôn có một cơ sở vững chắc ở Mỹ hỗ trợ cho một chính sách quốc tế mạnh mẽ ở nước ngoài. Chính sách đó sẽ không thay đổi, kể cả ở Mỹ. Chúng tôi sẽ không rút khỏi hoặc không bị đẩy ra khỏi khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chúng tôi sẽ ở lại đó, [thực hiện] cam kết với bạn bè và đồng minh của chúng tôi, và chúng ta sẽ cùng nhau thành công.

Ngọc Thu, Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, lược dịch từ: http://www.ustream.tv/recorded/15514848

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: | 17 Comments »

117. TRUNG QUỐC TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Posted by adminbasam on 20/06/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

TRUNG QUỐC TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Tư, ngày 15/06/2011

TTXVN (Hồng Công 13/6)

Trang web của tờ Liên hợp Buổi sáng (Xinhgapo) ngày 8/6 đăng bài của nhà bình luận độc lập Chu Tuệ Lai cho biết trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đang dần hình thành “sách lược hai cánh tay” và sách lược này có thể sẽ được Trung Quốc thực thi lâu dài. Dưới đây là nội dung bài viết:

Từ ngày 3 đến 5/6, Hội nghị An ninh châu Á lần thứ 10 (còn gọi là Đối thoại Shangri – La 10) đã được tổ chức tại Xinhgapo. Đối thoại Shangri-La 10 không chỉ có quy mô lớn nhất mà lần đầu tiên còn chứng kiến sự có mặt của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc. Nhiều năm lại đây, Biển Đông (Trung Quốc gọi là Nam Hải) đã trở thành vấn đề khó tránh được tại Đối thaọi Shangri-La và năm nay cũng không là ngoại lệ. Việc Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt nhấn mạnh Trung Quốc nỗ lực vì hoà bình và ổn định của Biển Đông cho thấy “sách lược hai cánh tay” của Trung Quốc trong vấn đề về Biển Đông đã dần được thành hình.

Hai nhân tố quyết định tính phức tạp của vấn đề Biển Đông

Tránh không để vấn đề Biển Đông trở nên phức tạp hơn là một mục tiêu và nhiệm vụ quan trọng của nền ngoại gioa Trung Quốc nhiều năm nay. Việc này đương nhiên là chịu ảnh hưởng của vấn đề sức mạnh quốc gia, đặc biệt là sức mạnh của hải quân và không quân chưa được như ý muốn, nhưng cũng liên quan tới chiến lược ngoại giao phát triển toàn cục của Trung Quốc. Đối với Trung Quốc, việc có thành công hay không trong sách lược tránh không để vấn đề Biển Đông trở nên phức tạp hơn phụ thuộc vào hai nhân tố sau.

Thứ nhất, thế lực bên ngoài, đặc biệt là Mỹ có can dự vào vấn đề Biển Đông hay không. Là siêu cường thế giới, Mỹ không những có đồng minh và các căn cứ quân sự quan trọng nhất ở khu vực Đông Á, mà còn được nhiều nước trong khu vực dựa vào để cân bằng sức mạnh với Trung Quốc. Do đó, vấn đề Biển Đông có trở nên phức tạp hay không, thái độ và chính sách của Mỹ đóng vai trò rất quan trọng. Một khi Mỹ thay đổi thái độ duy trì hiện trạng trong vấn đề Biển Đông, trắc trở và bất ngờ sẽ nảy sinh.

Lâu nay, trọng tâm chiến lược toàn cầu của Mỹ lần lượt đặt ở châu Âu và vấn đề chống khủng bố. Tại khu vực Đông Á, Mỹ quan tâm nhiều tới các nước đồng minh như Nhật Bản và Hàn Quốc. Đối với Đông Nam Á, Mỹ dường như không có thời gian để quan tâm tới khu vực này. Mãi tới năm 2010, Mỹ mới lớn tiếng tuyên bố trở lại Đông Nam Á. Trước đó, Mỹ thiên về xu hướng duy trì hiện trạng trong vấn đề Biển Đông hay nói một cách khác là Mỹ giữ lập trường “trung lập” trong vấn đề này. Và bài phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tại Hà Nội vào tháng 7/2010 đã đánh dấu sự chuyển biến trong thái độ của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông, từ “trung lập” sang “can dự”. Sự thay đổi về thái đọ của Mỹ đã giúp các nước như Việt Nam và Philippin nhìn thấy hy vọng, trở nên mạnh mẽ hơn trong cả lời nói lẫn hành động. Ở khía cạnh khác, sự can dự của Mỹ đã khiến phức tạp hoá trở thành xu thế lớn của vấn đề Biển Đông.

Hai là, ASEAN có đoàn kết được hay không cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng vấn đề Biển Đông trở nên phức tạp hơn. Trong 10 nước thành viên ASEAN chỉ có 4 nước là Việt Nam, Philippin, Malaixia và Brunây đang tồn tại tranh chấp chủ quyền đối với Trung Quốc ở Biển Đông, trong đó Việt Nam và  Philippin là hai nước chủ chốt. Đối với ASEAN, Biển Đông là vấn đề lớn ảnh hưởng tới tiến trình nhất thể hoá của tổ chức này. Hiện nay, ASEAN đang đứng trước khó khăn giữa nhất thể hoá nội bộ và xử lý quan hệ với Trung Quốc, duy trì ổn định khu vực.

Lâu nay, Trung Quốc kiên trì theo đuổi lập trường: Vấn đề Biển Đông không phải là vấn đề giữa Trung Quố và ASEAN mà là vấn đề giữa các nước xung quanh Biển Đông với nhau. Vì vậy, Trung Quốc nhấn mạnh tới việc sử dụng cơ chế song phương để giải quyết vấn đề này, phản đối việc đa phương hoá và quốc tế hoá vấn đề Biển Đông. Đối với Trung Quốc, sự đoàn kết của ASEAN không chỉ đồng nghĩa với việc phải đối mặt với một sức mạnh tập thể, mà còn đặt ngoại giao xung quanh Trung Quốc trước những thách thức toàn diện.

Trung-Mỹ thừa nhận có lợi ích chung ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương

Trước tình hình trên, Trung Quốc có thể sử dụng “sách lwocj hai cánh tay” để đối phó.

“Cánh tay thứ nhất” là thông qua tăng cường giao lưu hợp tác để giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của việc Mỹ can dự vào vấn đề Biển Đông trong khung nhận thức chung về việc xây dựng quan hệ đối tác hợp tác tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi, cùng thắng mà nguyên thủ Trung Quốc và Mỹ đã đạt được. Tại cuộc Đối thoại Chiến lược An ninh Trung-Mỹ lần đầu tiên từ ngày 9 đến ngày 10/5 tại Oasinhton (Mỹ), hai bên thừa nhận có lợi ích chung trong việc duy trì hoà bình, ổn định và phồn vinh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, quyết định xây dựng cơ chế hiệp thương Trung-Mỹ về các vấn đề châu Á-Thái Bình Dương. Trung Quốc hoan nghênh Mỹ tiếp tục phát huy vài trò tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Sau đó, Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Trần Bỉnh Đức đã thăm Mỹ, đề xuất việc xây dựng “quan hệ quân sự kiểu mới” với Mỹ, ở một mức độ nào đó đã giúp tăng cường sự tin cậy lẫn nhau giữa Trung Quốc và Mỹ về an ninh chiến lược.

Trong bài phát biểu tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế ngày 31/5, ở Washington D.C, Trợ lý Ngoại giao Mỹ phụ trách các vấn đề châu Á-Thái Bình Dương, Kurt Campbell đã nói rằng “một trong những công việc quan trọng nhất mà Mỹ phải làm năm nay tại Diễn đàn khu vực ASEAN và Hội nghị cấp cao Đông Á chính là thể hiện nỗ lực hợp tác với Trung Quốc”. Tại Đối thoại Shangri-La 10, tuy Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates tuyên bố sẽ tiếp tục theo đuổi những cam kết an ninh với các nước đồng minh châu Á-Thái Bình Dương, hơn nữa còn duy trì lực lượng quân sự hùng mạnh tại châu Á, nhưng ở một mức độ rất lớn, người ta vẫn chưa thấy sự sáng rõ trong quan hệ Trung-Mỹ cũng như việc hai nước sẽ đóng vai trò gì hay Mỹ sẽ khôi phục vị thế của mình như thế nào tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương… Điều đó có nghĩa, phát biểu của Gates tại Đối thoại Shangri-La 10 đã không tách rời nền tảng hợp tác Mỹ-Trung.

Do vậy, trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc và Mỹ đều phải tuân theo chiến lược toàn cục của mỗi nước. Đối với Trung Quốc, vấn đề Biển Đông thuộc chủ quyền, là lợi ích cốt lõi và nước này không muốn thay đổi lập trường nhất quán là duy trì hiện trạng tự do đi lại ở Biển Đông và không thách thức vai trò lãnh đạo châu Á-Thái Bình Dương, nước này sẽ không đối kháng với Trung Quốc, đó là chưa nói đến việc vấn đề Biển Đông ở một ý nghĩa nào đó, chỉ là công cụ của Mỹ.

“Cánh tay thứ hai” là tiếp tục ngăn chặn sự đoàn kết của ASEAN trong vấn đề Biển Đông, kiểm soát vấn đề Biển Đông trong phạm vi song phương giữa Trung Quốc và các nước liên quan. Sách lược này được cấu thành bởi hai bộ phận.

Thứ nhất, cũng là bộ phận quan trọng nhất, là lợi dụng ảnh hưởng kinh tế ngày càng tăng để tăng cường hợp tác kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN. Ở mức độ nào đó, sự phát triển kinh tế của ASEAN không thể tách rời khỏi Trung Quốc. Từ khi Khu vực Mậu dịch Tự do Trung Quốc – ASEAN khởi động tới nay, thương mại song phương phát triển mạnh mẽ hơn. Từ tháng 1 đến tháng 4/2011, kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đã đạt 110 tỷ USD, tăng 26,5% so với cùng kỳ năm 2010. Với tốc độ phát triển này, kim ngạch thương mại song phương năm 2011 có hy vọng vượt qua mốc 300 tỉ USD. Lợi ích thương mại lớn như vậy sẽ là nguyên nhân chính khiến ASEAN khó có được sự đoàn kết trong vấn đề Biển Đông và gây khó dễ cho Trung Quốc. Một nhà ngoại giao Thái Lan từng nói: “Vấn đề chủ quyền Biển Đông là chủ đề song phương, không nên làm nó trở thành vấn đề của toàn bộ ASEAN”.

Thứ hai là nhấn mạnh tới việc Trung Quốc quyết tâm giải quyết vấn đề Biển Đông bằng biện pháp hoà bình và nỗ lực vì sự hợp tác của khu vực. Từ lâu, khu vực ASEAN đã tồn tại kết cấu chiến lược: dựa vào Trung Quốc về mặt kinh tế, dựa vào Mỹ về an ninh, làm hạn chế những nỗ lực thúc đẩy hợp tác an ninh với ASEAN thông qua hợp tác kinh tế của Trung Quốc. Do vậy, tại Đối thoại Shangri-La 10, ông Lương Quang Liệt đã có bài phát biểu với chủ đề “hợp tác an ninh quốc tế của Trung Quốc”, gửi đi thông điệp rằng quân đội Trung Quốc nỗ lực tăng cường sự tin cậy lẫn nhau và hợp tác an ninh khu vực, coi trọng việc bảo vệ và tăng cường an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tuyên bố của ông Lương Quang Liệt khẳng định sữ hỗ trợ việc làm dịu bớt những lo ngại về sự lớn mạnh của quân lực Trung Quốc.

Cùng với sự lớn mạnh của lực lượng hải quân và không quân Việt Nam cũng như tình cảm dân chúng lên cao, các biện pháp đối phó của Trung Quốc (trong vấn đề Biển Đông) chắc chắn sẽ ngày một cứng rắn. Nhưng xuất phát từ nhu cầu phát triển toàn cục của đất nước cũng như sự ổn định của khu vực, “sách lược hai cánh tay” mềm dẻo của Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục được thựchiện trong thời gian dài, trừ phi không gian hoà bình bị triệt tiêu.

***

TTXVN Bắc Kinh 12/6)

Tờ “Quốc tế tiên khu đạo báo”, ấn phẩm của Tân Hoa xã số ra ngày 10-16/6 có bài tổng hợp dài hơn một trang, với hàng tít nổi bật ngay trên trang nhất “Đông Nam Á trở thành vũ dài ra đòn giữa Trung Quốc và Mỹ”, tên tác giả được ghi là Bình luận viên thời sự Đài truyền hình vệ tinh Phượng Hoàng, thể hiện thực trạng quan hệ Mỹ-Việt Nam cũng như quan hệ Mỹ-Việt Nam-Trung Quốc trong bối cảnh đang có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông như hiện nay và đối sách của Trung Quốc cần phải được xác định trong thời gian tới. Bài báo cho rằng “bối cảnh lớn” về sự “tan băng” trong giao lưu quân sự Trung -Mỹ tuy khiến bộ trưởng quốc phòng hai nước bề ngoài trao đổi rất vui vẻ nhưng sự thay đổi về “môi trường nhỏ” lại khiến Trung Quốc có cảm giác trước sau đều có địch.

Bài báo cho biết do Mỹ quyết định bán vũ khí cho Đài Loan, cộng thêm sự kiện tàu Cheonan ở bán đảo Triều Tiên khiến cho Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates và Phó Tổng tham mưu trưởng PLA công khai chỉ trích lẫn nhau, đưa đến bầu không khi của Đối thoại Shangri-La năm ngoái căng thẳng, tình hình an ninh khu vực trở nên nhạy cảm và phức tạp, cơ chế an ninh song phương và đa phương mong manh. Trước Đối thoại Shangri-La lần này, bầu không khí của diễn đàn cũng căng thẳng không kém, nhưng sau chuyến thăm Trung Quốc hồi đầu năm của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ R.Gates và sau chuyến thăm Mỹ của đoàn đại biểu cấp cao PLA do Tổng tham mưu trưởng Trần Bỉnh Đức dẫn đầu từ ngày 15-22/5, quan hệ quân sự Trung-Mỹ đã ấm trở lại. Bộ trưởng R. Gates nói Mỹ không có ý đồ gây trở ngại cho ảnh hưởng của Trung Quốc đang ngày một tăng lên, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Campbell cũng nói một trong những việc quan trọng nhất của Mỹ trong năm nay là phải ra sức hợp tác với Trung Quốc ở Đông Nam Á. Viên Bằng, Trưởng phòng Nghiên cứu nước Mỹ thuộc Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế hiện đại Trung Quốc nói, những lời nói như vậy đã xác định dòng suy nghĩ xuyên suốt cho Đối thoại Shangri-La lần này.

Tuy nhiên, khác với báo chí dự đoán, trong diễn đàn Đối thoại, R. Gates đã không bàn nhiều về quan hệ Mỹ-Trung mà tập trung nhấn mạnh nhiều hơn tới sự có mặt quân sự của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mặc dù kinh tế không sáng sủa, ngân sách quốc phòng bị cắt giảm nhưng Mỹ vẫn kiên quyết thực hiện cam kết đảm bảo an ninh với các đồng minh ở khu vực này, trong đó Gates đặc biệt nhấn mạnh đến an ninh biển.

Theo cách sắp xếp truyền thống của Đối thoại Shangri-La, mỗi lần đối thoại đều có một chủ đề liên quan đến “an ninh biển”. Chủ đề năm nay tuy vẫn không ngoại lệ nhưng đọc lên lại có cảm giác “nhức mắt” là “phản ứng trước mối đe doạ an ninh biển”, dễ khiến người ta liên hệ đến những tranh chấp chủ quyền lãnh hải liên tục xảy ra tại biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) thời gian gần đây. Về phương diện này, có thể nước chủ nhà đã cố ý tạo cho Đối thoại diễn ra không suôn sẻ thông qua việc đảo trình tự sắp xếp mang “tính sách lược”. Trước đây Mỹ và Trung Quốc lần lượt phát, đầu tiên là Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản, Hàn Quốc hay Ấn Độ… Nhưng năm nay phát biểu của hai Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và Trung Quốc đã tách ra cách nhau hai ngày. Liền ngay sau phát biểu của Bộ trưởng Lương Quang Liệt ngày 5/6 là phát biểu của Bộ trưởng các nước Malaixia, Việt Nam và Philippin. Quan sát tinh ý sẽ thấy ba nước nói trên đều là những nước có tranh chấp chủ quyền lãnh hải với Trung Quốc, nhất là Việt Nam.

Một sĩ quan cao cấp PLA tham gia phái đoàn đối thoại Trung Quốc nói “trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam quả thực không đủ tư cách là bạn”. Có thể do được một vài nước lớn nào đó ủng hộ, trong thời gian “Đối thoại Shangri-La” Việt Nam đã lợi dụng hai bình diện để công khai chỉ trích Trung Quốc. Trong khi phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã đóng vai quan “mặt đỏ”, vừa lớn tiếng nói đến tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh khu vực Biển Đông, vừa cao giọng cho thấy muốn cùng với nước hữu quan đối thoại để giải quyết vấn đề, nhưng mặt khác lại hưởng ứng theo Mỹ nhấn mạnh tôn trọng Công ước Liên hợp quốc về Luật biển và Luật biển quốc gia, tất cả mọi tranh chấp phải được giải quyết trong khuôn khổ luật pháp quốc tế.

Đồng thời, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh lại tổ chức họp báo, đóng vai quan “mặt đen” chỉ trích Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam, rằng hành động của tàu hải giám Trung Quốc là “hành vi bạo lực”, “cơ quan chấp pháp biển của Việt Nam sẽ căn cứ theo luật biển quốc tế và luật ở trong nước để thi hành pháp luật trên biển” v.v…

Trong những phân tích ở phía sau đối với Việt Nam, thái độ của Mỹ vẫn được cho là không thể coi thường. Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ Willard khi trả lời phỏng vấn của báo chí Trung Quốc đã cho biết rõ rằng “quan hệ giữa chúng tôi với quân đội Việt nam đã có thay đổi, chúng tôi muốn giữ xu thế này. Điều quan trọng nhất là quân đội hai nước chúng tôi hiểu nhau, trao đổi tình báo và từ đó mở rộng ra đến những tiêu chuẩn giá trị mà chúng tôi có thể chia sẻ để đảm bảo an ninh cho khu vực Biển Nam Trung Hoa”. Gates lại càng nói thẳng không hề giấu diếm: “Mỹ và Việt Nam cố gắng mạnh mẽ để xây dựng mối quan hệ song phương vững chắc và đầy sức sống. Mỹ cùng với Việt Nam đã thể hiện ra rằng sẽ xây dựng mối quan hệ sao cho không lặp lại lịch sử. Hôm nay lời cam kết mà dường như đã vượt qua được những trở ngại tưởng như không thể vượt qua đang định hướng cho chúng tôi xây dựng quan hệ đối tác bao gồm các lĩnh vực thương mại, đầu tư, giáo dục, y tế, an ninh và quốc phòng”. Rõ ràng trong vấn đề Biển Đông, cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và các nước liên quan vẫn phức tạp và nhạy cảm hơn do sự can dự tích cực của Mỹ.

Báo Mainichi Shimbun của Nhật Bản ngày 4/6 cho hay bởi lo ngại Trung Quốc về mặt chiến lược nên Chính quyền Obama đã phải nâng cấp quan hệ với Việt Nam lên “một tầm cao mới”. Báo dẫn kết quả một cuộc điều tra của Quốc hội Mỹ cho thấy, để ngăn chặn Trung Quốc kiểm soát Biển Đông, Chính quyền Obama chuẩn bị để Việt Nam, nước láng giềng với Trung Quốc phát huy vai trò quân sự lớn hơn. Trước mắt, Mỹ đang mở rộng viện trợ quân sự cho Việt Nam và Philippin. Có thể nhận thấy ý đồ của Mỹ là muốn phát triển những nước này thành “đê chắn sóng Trung Quốc”. Tình hình nói trên đang báo trước một cuộc chạy đua vũ khí xung quanh hải dương có nguy cơ leo thang.

Thái độ bề ngoài “lui về tuyến sau để đứng vị trí thứ yếu” trong vấn đề điểm nóng Nam Hải (Biển Đông) lần này của Mỹ là rất đáng suy nghĩ. Trong vấn đề Biển Đông, tuy Mỹ vẫn giữ giọng điệu cũ nhưng muốn vấn đề Biển Đông được giải quyết thông qua cơ chế đa phương, đồng thời kiên trì “quyền tự do hàng hải”.

Trong bối cảnh nói trên, quan hệ quân sự Mỹ-Trung và vấn đề Biển Đông có mối liên hệ tế nhị. Trong quá trình lúc tiến lúc lùi của quan hệ quân sự không có nghĩa là quan hệ đã ổn định và hoàn hảo, Biển Đông không phải là vấn đề có thể giải quyết một lần nhưng nếu không có sự tiếp xúc giữa hai quân đội Trung-Mỹ thì vấn đề nhạy cảm này sẽ dễ đi đến chỗ mất kiểm soát.

Học giả trong nước Trung Quốc hiện nay cho rằng thái độ của Mỹ trong vấn đề Biển Đông hiện nay là lạnh lùng và kiềm chế. Có chuyên gai kiến nghị quân đội Trung Quốc cần phải tạm thời áp dụng sách lược phớt lờ, không va chạm trong điều kiện đối phó bình tĩnh, từ đó sẽ lấy tĩnh khắc chế động.

Một số đài truyền hình địa phương Trung Quốc như Đài truyền hình vệ tinh tỉnh Vân Nam tối 9/6 đã phát chương trình toạ đàm sôi nổi giữa các học giả xung quanh vấn đề Biển Đông hiện nay, cho rằng Trung Quốc tuyệt đối không được nhân nhượng. Có tin cho biết Đài truyền hình vệ tinh Phượng Hoàng Hồng Công cũng đang tổ chức chương trình bình luận xung quanh chủ đề này.

***

Trên mục Diễn đàn quân sự của Mạng Sina ngày 7/6/2011 có bài của Thượng uý Hồ Tử Lý thể hiện quan điểm của mình về vấn đề tranh chấp Biển Đông hiện nay, nội dung như sau:

Nhiều phen va chạm giữa Trung Quốc và Việt Nam gần đây về vấn đề Biển Đông không chỉ làm tăng thêm biến số cho quan hệ hai nước, mà còn làm tăng bầu không khí căng thẳng trong khu vực. Tình hình một lần nữa nhắc nhở mọi người rằng nếu bên liên quan không xử lý thoả đáng thì vấn đề Biển Đông sẽ trở thành nhân tố tiêu cực ảnh hưởng đến hoà bình và ổn định khu vực rõ nét nhất. Điều đặc biệt đáng chú ý là biểu hiện của Việt Nam lần này tỏ ra cứng rắn khác thường.

Ngày 29/5 tại buổi họp báo cuối tuần hiếm thấy, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga cho biết “hải quân Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Lời lẽ như vậy không những tỏ thái độ cứng rắn nhất từ trước đến nay, mà rõ ràng cũng đã phá vỡ giới hạn cần có trong vấn đề này.

Để làm rõ ngọn nguồn, cần phải trở lại cả quá trình của sự việc. Cách nói của Trung Quốc và Việt Nam tuy có phần khác nhau nhưng qua lời lẽ của hai bên vẫn có thể thấy được nội dụng khái quát của câu chuyện: Sáng sớm ngày 26/5 tàu chấp pháp của hải giám Trung Quốc tuần tra thường lệ trong vùng biển Nam Hải (Biển Đông), phát hiện tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam đang tác nghiệp ở đó, phía Trung Quốc lập tức yêu cầu Việt Nam dừng hành động “xâm phạm chủ quyền” nhưng tàu Việt Nam từ chối. Tàu Trung Quốc lập tức áp dụng biện pháp cưỡng chế, đã cắt đứt cáp quang của tàu thăm dò Việt Nam.

Hôm sau, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm đến Đại sứ quán Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc bồi thường mọi thiệt hại. Hôm sau nữa tại buổi họp báo, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đáp trả, phê phán Việt Nam “thăm dò dầu khí ở vùng biển do Trung Quốc quản lý, gây tổn hại đến quyền và lợi ích của Trung Quốc”, đồng thời cho biết hành động mà ngành chủ quản Trung Quốc áp dụng hoàn toàn là giám sát chấp pháp biển bình thường. Vậy là, ngày 29/5 Bộ Ngoại giao Việt Nam đã thể hiện thái độ qua cách nói “hải quân Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ”.

Khách quan mà nói, Trung Quốc và Việt Nam tồn tại tranh chấp chủ quyền ở vùng biển Nam Hải là một sự thực. Chúng ta cũng không có ý định mất nhiều lời ở đây, vì đó là vấn đề hết sức phức tạp, không ai thuyết phục được ai. Điều chúng ta muốn chỉ ra là sau khi hai bên xảy ra sự việc, vấn đề cần phải được giải quyết bằng thái độ như thế nào? Dàn xếp nhượng bộ cho êm ả, thông qua đối thoại hiệp thương để giải quyết, hay làm cho sự việc leo thang mất kiểm soát, thậm chí phải dùng đến cả biện pháp quân sự? Đáp an ở đây rất rõ ràng. Trong “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Nam Hải” (Biển Đông) đã quy định rõ “các bên không dùng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp Nam Hải” (Biển Đông). Lần này Việt Nam đã tỏ rõ lá bài “hải quân”, quả thực cũng khiến mọi người ngạc nhiên.

Kỳ thực, nếu phải so sánh lực lượng hải quân Việt Nam về cơ bản không ở cùng một cấp độ, cùng một bình diện với Trung Quốc. Sở dĩ Trung Quốc không dễ dàng nói đến việc sử dụng vũ lực, cũng không phải không tự tin mà vì như vậy không phù hợp với ý tưởng ngoại giao và quốc phòng của chính mình, cũng không muốn kẻ khác mượn cớ làm cho dư luận bên ngoài sôi lên “thuyết về mối đe doạ từ Trung Quốc”, lại càng không muốn vì thế mà ảnh hưởng đến hoà bình, ổn định khu vực, gây tổn hại cho môi trường bên ngoài để tập trung xây dựng kinh tế ở trong nước. Nhưng như vậy hiển nhiên cũng không thể trở thành lý do để Việt Nam dễ dàng nói đến vũ lực. Việt Nam cần biết rõ rằng ngay từ thời kỳ đầu mới xây dựng chính quyền, Trung Quốc đã dám đương đầu với Mỹ trên chiến trường Triều Tiên thì sao có thể khuất phục trước sự hù doạ vũ lực của một quốc gia có lực lượng quân sự hạng ba?

Nguyên nhân Việt Nam lần này cứng rắn khác thường cũng trở thành điểm nóng để dư luận thế giới quan tâm. Tạp chí “Chiến lược quốc gia” của Mỹ cho rằng mấu chốt trong vấn đề Biển Đông là Mỹ khẳng định sẽ ngăn Trung Quốc dừng lại ở chuỗi đảo thứ nhất, nếu không được như vậy cũng phải dừng lại ở chuỗi đảo thứ hai. Dựa vào tranh chấp ở Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, Mỹ thực thi chiến lược này sẽ có thể bỏ một được mười. Xuất phát từ yếu tố này mà Mỹ gần đây đã mở rộng mức độ can thiệp vào vấn đề Biển Đông, lời lẽ đã rõ từ Diễn đàn khu vực ASEAN năm ngoái khi Ngoại trưởng H. Clinton công khai tỏ rõ thái độ, nói rằng vấn đề Nam Hải liên quan đến lợi ích của Mỹ, Mỹ có trách nhiệm cùng với nước hữu quan giải quyết vấn đề này.

Ngày 14/3 năm nay Ngoại trưởng H. Clinton trao đổi qua điện thoại với quan chức Philippin nói rõ tự do hàng hải ở vùng biển quốc tế xung quanh các quần đảo ở Biển Đông là hết sức quan trọng đối với lợi ích quốc gia của Mỹ. Micheal Green, cựu quan chức phụ trách khu vực châu Á thuộc Uỷ ban an ninh quốc gia Mỹ cho rằng tuyên bố như vậy làm cho một số nước Đông nam Á “hơi cảm thấy tự tin”. Rõ ràng, thái độ của Mỹ đã khiến một số nước có tâm lý cáo mượn oai hùm tìm được chỗ dựa.

Tuy nhiên, những nước này cần sáng suốt nhận thấy rằng Mỹ tuy có nhảy vào cuộc xung đột lợi ích trong các công việc ở Biển Đông nhưng nếu sự vệic gần đến điểm giới hạn, nước Mỹ khi đó liệu có đủ ý chí làm được như vậy hay không? Trong cuộc chiến ở một nước nhỏ như Libi, Mỹ đều chủ động lùi về tuyến hai, vậy Mỹ sẽ dám đương đầu vũ lực với Trung Quốc có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới bằng cách nào? Tờ “The Huffington Post” phân tích rằng sau mấy chục năm Mỹ rút khỏi chiến trường Việt Nam, nay Việt Nam một lần nữa lại muốn sử dụng Mỹ để cân bằng với Bắc Kinh, vậy 58 nghìn người Mỹ cuối cùng vì sao lại thiệt mạng? Lịch sử như vậy tin rằng  Việt Nam không thể không biết rõ.

Trên thực tế, các bên đều không nên có ý tưởng đầy tranh chấp Biển Đông đến chỗ phải dùng biện pháp quân sự để giải quyết, vì như vậy đối với ai cũng đều lợi ít hại nhiều. Vì thế từ nhiều năm nay Trung Quốc luôn áp dụng thái độ ôn hoà và nhân nhượng thận trọng. Hành động vượt quá quỹ đạo của nước hữu quan cũng cần phải được kiềm chế hết sức mình. Văn kiện có tên “Báo cáo phát triển hải dương Trung Quốc” do Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc xuất bản năm 2007 đã nói rõ nước hữu quan đã khoan hơn 1.000 giếng dầu trong phạm vi “đường biên giới đứt đoạn” của Trung Quốc, mỗi năm khai thác trên 50 triệu tấn dầu khí. Hãng tin “United Press International-UPI” của Mỹ cho rằng tại vùng Biển Đông được gọi là “Vùng Vịnh Pécxích thứ hai”, Việt Nam, Philippin, Malaixia, Inđônêxia và Brunây là các nước luôn chiếm địa vị chủ đạo về khai thác dầu khí nhưng Trung Quốc chưa bao giờ sử dụng biện pháp quân sự để ngăn chặn các hành động nói trên. Tuy thế các nước hữu quan tuyệt đối không thể xem việc Trung Quốc nhìn nhận đại cục một biểu hiện yếu mềm  có thể lừa gạt mà phải thấy được rằng Trung Quốc không muốn làm to chuyện nhưng cũng không sợ ai mượn dịp để làm to chuyện, lại càng không sợ đe doạ vũ lực./.

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 4 Comments »

115. Hải quân Trung Quốc tập trận như là lời cảnh cáo tới Việt Nam

Posted by adminbasam on 19/06/2011

Los Angeles Times

Hải quân Trung Quốc tập trận

như là lời cảnh cáo tới Việt Nam

Thủy thủ Việt Nam tuần tra trên một hòn đảo thuộc Trường Sa. Những cuộc tập trận gần đây của Việt Nam ở gần quần đảo tranh chấp đã được hải quân Trung Quốc có câu trả lời đáp lại trong tuần vừa rồi (TTXVN/AFP/Getty Images/ 18-6-2011)

Barbara Demick

Ngày 18-6-2011

Những cuộc tập trận trên biển Nam Trung Hoa làm căng thẳng leo thang, tại một khu vực có tiềm năng lớn về tài nguyên mà một số nước lân cận đều tuyên bố chủ quyền.

Từ Bắc Kinh —  Tuần qua Hải quân Trung Quốc tiến hành tập trận ba ngày – kể cả bắn đạn thật – trong khu vực tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa, làm căng thẳng leo thang tại một khu vực có tiềm năng lớn về tài nguyên mà một số nước lân cận đều tuyên bố chủ quyền.

Hành động phô diễn sức mạnh hải quân ở nơi cách biên giới cực nam Trung Hoa tới hàng trăm hải lý được xem như một lời cảnh cáo gửi tới Việt Nam, nước mà trong tuần qua cũng đã tiến hành tập trận bắn đạn thật gần quần đảo Trường Sa. Một số nước tuyên bố chủ quyền đối với chuỗi đảo đá núi lửa không người ở này, nơi nằm giữa những vỉa san hô lởm chởm và bám đầy phân chim, nhưng được xem là một khu vực rất hấp dẫn, bởi vùng biển xung quanh vốn là bãi cá dồi dào và có thể chứa những mỏ dầu và khí đốt đáng kể.

Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei, cả bốn nước đều tuyên bố quyền tài phán đối với một phần khu vực. Nhưng Trung Quốc cãi rằng chủ quyền của họ đã có từ lâu, vin vào những bản đồ quốc gia cổ cho thấy các đảo đó là một phần không thể tách rời khỏi lãnh thổ của họ.

Hôm thứ sáu, truyền hình quốc doanh (của Trung Quốc) chiếu hình ảnh tàu tuần tra Trung Quốc bắn đạn nhiều lần vào một mục tiêu nằm trên cái gì đó giống như một hòn đảo không người ở, khi hai chiếc phản lực chiến đấu cùng sánh đôi bay vọt lên. Tin tức báo rằng 14 tàu đã tham gia, tập chống tàu ngầm và cập bờ biển, nhằm “bảo vệ những dải san hô và các tuyến đường biển”.

Trong vòng hai năm qua, Trung Quốc đã tăng cường yêu sách chủ quyền đối với những vỉa đá trên biển Nam Trung Hoa, một cách quyết liệt hơn. Tàu dân sự Trung Quốc ngày càng đối đầu nhiều hơn với tàu thăm dò dầu khí và tàu cá của các nước khác, cũng hoạt động trên vùng biển này.

Vụ căng thẳng gần đây nhất xảy ra hồi cuối tháng trước khi Việt Nam buộc tội một tàu cá Trung Quốc, được hai tàu tuần tra hộ tống, đã cố ý cắt cáp của một tàu khảo sát địa chấn thuộc sở hữu của PetroVietnam, công ty dầu khí quốc gia. Quan hệ giữa hai nước tiềm ẩn đầy căng thẳng: Hai bên đã có chiến tranh biên giới năm 1979, và kể từ đó đã vài lần xung đột trên biển, tại quần đảo Trường Sa cũng như một chuỗi đảo khác nữa tên là Hoàng Sa.

Chính quyền Việt Nam đang chịu áp lực từ chính giới truyền thông và những công dân nặng tinh thần dân tộc để phải đứng lên trước Trung Quốc. Cuộc đụng độ trên biển vào tháng 5 vừa qua đã làm bùng nổ một tinh thần chống Trung Quốc ở Việt Nam, và chính quyền đã cho phép vài cuộc biểu tình hiếm hoi diễn ra, nhằm làm cho đám đông, mà chủ yếu là thanh niên, có thể xả bớt phẫn nộ.

Các mạng xã hội cũng đổ thêm dầu vào lửa chống Trung Quốc, thậm chí có cả kiến nghị trên mạng đòi đổi tên biển Nam Trung Hoa thành biển Đông Nam Á.

“Việt Nam đã luôn luôn ở một vị thế tồi tệ khi có một láng giềng to lớn và hùng mạnh như Trung Quốc, nhưng chúng tôi cũng rất phẫn nộ khi chính phủ Việt Nam tỏ thái độ quỵ lụy như thế trước Trung Quốc” – Huỳnh Thục Vy, một blogger, nhà hoạt động, 27 tuổi, nói.

Quan chức Trung Quốc thì bảo họ chỉ thuần túy bảo vệ lợi ích kinh tế quốc gia.

“Chúng tôi không thể tránh khỏi việc phải xử lý vấn đề này. Người Việt Nam đang lấy khí đốt và xâm phạm lãnh thổ chúng tôi” – Hứa Quảng Ngọc (Xu Guangyu), một quan chức quân đội Trung Quốc đã về hưu, cũng là nhà phân tích của Hiệp hội Giải trừ quân bị và Kiểm soát vũ khí Trung Quốc, nói.

Trung Quốc cũng đã cử tàu dân sự lớn nhất của họ đi qua khu vực, phái tàu tuần duyên Haixun nặng 3000 tấn, trang bị trực thăng, đến Singapore. Và báo chí quốc doanh Trung Quốc trích lời một quan chức giấu tên ở Cục Hải dương nói rằng lực lượng hải giám dân sự sẽ được gia tăng từ 9000 nhân viên lên 15000 vào năm 2020.

Với việc Việt Nam và Philippines ra những cảnh báo gay gắt khi Trung Quốc xâm phạm sâu hơn đến các dự án thương mại của họ, các nhà quan sát cho rằng nguy cơ bạo lực đã hiện diện.

“Những diễn biến hết sức căng thẳng, khi các tàu biển có năng lực bán quân sự phớt lờ lời cảnh báo của nhau và tham gia vào những hoạt động gây hấn, có thể dễ dàng tiến triển thành xung đột quân sự” – Stephanie Kleine-Ahlbrandt, văn phòng Bắc Kinh của tổ chức Khủng hoảng Quốc tế, nhận định. “Một khi đạn nổ, chúng ta sẽ thấy mọi thứ leo thang thật sự”.

Cuộc tranh chấp cũng có một số ý nghĩa đối với Mỹ, nước hiện giờ có lực lượng hải quân lớn nhất ở Đông Nam Á và đã từng tuyên bố tự do hàng hải là lợi ích quốc gia của mình. Chính quyền Obama đã kêu gọi các bên có yêu sách mâu thuẫn giải quyết xung đột thông qua một tiến trình ngoại giao quốc tế, có sự tham gia của tất cả các bên có quyền lợi trong vấn đề này.

Trung Quốc bác bỏ cách tiếp cận của Mỹ, cãi lý rằng mọi khác biệt cần được giải quyết riêng rẽ với từng nước.

Do Trung Quốc giữ lập trường mạnh mẽ hơn trong quan hệ quốc tế, nên những nước láng giềng của họ đã lo sợ mà tiếp nhận sự tham gia của Mỹ hơn, thúc đẩy những nước như Việt Nam tìm đến Mỹ để có đối trọng trước thế lực của Trung Quốc.

Nhưng chính quyền Việt Nam cũng rất lưu ý đến một rủi ro, là quan hệ kinh tế đang được tăng cường của họ với Trung Quốc có thể bị gián đoạn. Cho đến giờ, họ đã rất thận trọng, tránh khiêu khích Bắc Kinh quá. Cuộc tập trận bắn đạn thật hôm thứ hai vừa rồi có vẻ là một hành động giảm nhẹ. Nó diễn ra gần đất liền và không có màn bắn tên lửa chống tàu biển.

“Vụ cắt cáp giống như một trò lưu manh” – ông Carl Thayer, một nhà Việt Nam học tại Học viện Quốc phòng Australia, nói. “Nhưng không vì thế mà Việt Nam phải phát động chiến tranh”.

Người dịch: Thủy Trúc

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , | 6 Comments »

111. Những điều làm hạn chế mối quan hệ Mỹ-Việt

Posted by adminbasam on 17/06/2011

The Diplomat

Những điều làm hạn chế mối quan hệ Mỹ-Việt

Richard Pearson

Ngày 14 tháng 6 năm 2011

Quan hệ Mỹ-Việt đã được làm cho biến chuyển trong những năm gần đây. Nhưng để cho mối quan hệ này tốt đẹp hơn nữa thì Hà Nội phải bắt đầu có những thay đổi về nhân quyền và dân chủ. 

Mùa hè năm nay đánh dấu 36 năm ngày Sài Gòn thất thủ, 16 năm Mỹ và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao và 14 năm ngày Mỹ khai trương sứ quán tại Hà Nội. Hôm nay thì hai nước đều đang thấy họ chia sẻ nhiều quan điểm hơn về những vấn đề có tầm rộng lớn hơn bao giờ hết. Quả thực các nhà ngoại giao thậm chí đã dùng những từ ngữ nói về một “mối quan hệ chiến lược” đang phát triển giữa Hà Nội và Washington.

Các nhà hoạch định chính sách của cả hai nước có lý do chính đánh để hãnh diện và hăng hái khi nói về những thành tựu của họ và tiềm năng to lớn để phát triển một mối quan hệ thậm chí còn vững chắc hơn nữa trong những năm tới. Phát biểu hôm 31 tháng 5 tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế, thứ trưởng ngoại giao phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương Kurt Campbell đã nói tới việc Washington “mong muốn và có ý định thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ này [mối quan hệ Mỹ-Việt”.

Mặc dù cả hai nước đúng là đang mong muốn xích lại gần nhau hơn nữa, mặc dù Việt Nam vẫn chưa có những cải thiện về nhân quyền và các quyền tự do chính trị, song chính quyền của Barack Obama vẫn giữ lời cam kết với chính quyền Việt Nam bằng toàn bộ khả năng của mình mà không để mất mối thiện cảm của công chúng Mỹ và Quốc hội Mỹ. Tuy cả hai bên cho đến nay đều vẫn tiếp tục có những cơ hội cho sự điều chỉnh và thỏa hiệp, song trách nhiệm giờ đây dứt khoát thuộc về Hà Nội ấy là Hà Nội phải thỏa hiệp với Mỹ bằng cách theo đuổi những cải cách chính sách quốc nội, nhất là trong lĩnh vực tự do chính trị và các quyền dân sự. Nếu Việt Nam thực lòng giải quyết những vấn đề quốc nội này của họ – đây là điều được Campbell gọi là một “yếu tố hạn chế” trong quan hệ giữa hai nước – thì chính quyền của Obama sẽ có nhiều điều kiện hơn nữa để làm việc với Việt Nam và cho phép mối quan hệ giữa hai nước phát triển lên một tầm mức tiếp theo.

Kể từ khi nhậm chức đến nay thì Obama đã có nhiều nỗ lực chính trị nhằm theo đuổi mối quan hệ vững chắc với Đông Nam Á. Washington trong suốt tám năm trước đó đã tỏ ra không còn chú ý nhiều tới Đông Nam Á nên khi lên nắm quyền Obama đã lập tức tăng cường sự cam kết của Mỹ với khu vực quan trọng này. Kể từ khi Obama trở thành tổng thống thì cam kết của Mỹ với Việt Nam đã gia tăng đặc biệt nhanh – tới một mức độ chưa từng thấy kể từ cái thời kỳ sung sướng đến bốc đồng khi Tổng thống Bill Clinton tới thăm Hà Nội năm 2000 và có một bài phát biểu lần đầu tiên của một nguyên thủ nước ngoài được truyền trực tiếp khắp Việt Nam.

Trong khi theo đuổi mối quan hệ chắc chắn hơn với Đông Nam Á và bảo vệ lợi ích hàng hải của Mỹ thì lợi lộc đầu tiên mà Mỹ nhận được là sự tức giận của Bắc Kinh ấy là tại cuộc gặp của các ngoại trưởng tại Diễn đàn Khu vực ASEAN tại Hà Nội tháng 7 năm ngoài Ngoại trưởng Hillary Clinton đã đặt Mỹ vào cùng hàng ngũ với các nước Đông Nam Á khi bà nêu bật mối lo ngại về những tuyên bố chủ quyền hàng hải đầy tham vọng của Trung Quốc ở Biển Hoa Nam [Biển Đông] và bà kêu gọi “một tiến trình ngoại giao hợp tác của tất cả các bên tranh chấp.”

Những hành động như vậy của Mỹ đã được hoan nghênh nhiệt liệt tại một Hà Nội giờ đây đang háo hức thúc đẩy sự hội nhập chính trị và kinh tế với thế giới và đang ngày càng phải cảnh giác với Trung Quốc. Mặt khác, sự ngỏ lời gần đây nhất của Mỹ [đề nghị của Hillary Clinton] có lẽ rút cục đã làm cho hầu hết lãnh đạo Việt Nam hết tin tưởng mù quáng vào suy nghĩ cho rằng Washington luôn tìm cách đạo diễn một “diễn biến hòa bình” để thoát khỏi sự cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự tiếp đón nhiệt tình của Việt Nam hồi tháng 8 năm ngoái dành cho cả hàng không mẫu hạm USS George Washington đi qua vùng biển Việt Nam lẫn chuyến dừng chân ngay sau đó của tàu khu trục USS John S. McCain mang tên lửa hành trình đã chứng minh rằng Hà Nội giờ đây đang coi trọng mối quan hệ an ninh vững chắc với Mỹ. Cũng vậy, việc Việt Nam quyết định gia nhập Đối tác Xuyên Thái Bình Dương [Trans-Pacific Partnership] đang lặng lẽ nổi lên như là diễn đàn ưu tiên châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ đã cho thấy rõ là Hà Nội muốn hội nhập chính trị và kinh tế nhiều hơn nữa cũng như Hà Nội giờ đây ngày càng cảm thấy thoải mái với một Hoa Kỳ đang kiên quyết cam kết sâu với Đông Nam Á.

Tuy nhiên Việt Nam vẫn tiếp tục có những hành xử ở trong nước khiến cho các nhà quan sát của Mỹ phải xa lánh và làm cho một kiểu mối quan hệ gắn bó mà Hà Nội đang mong đợi trở nên bất khả thi và chính quyền của Obama thì không thể biện hộ nổi trên phương diện đạo lý.

Những vụ đàn áp gia tăng nhằm vào các nhà hoạt động chính trị và tôn giáo, việc khởi tố và kết án bất công các nhà bất đồng chính kiến cũng như việc tiếp tục duy trì những quy định hạn chế nhằm vào Internet, truyền thông và báo chí đang khiến cho Việt Nam khó lòng mà nhận được sự ủng hộ hoàn toàn của một chính quyền Obama hiện đã bắt đầu đối mặt với những luồng dư luận phản đối mạnh mẽ ở trong nước.

Toàn bộ những điều nói trên có nghĩa là Hà Nội cần phải tiến lên một cách dứt khoát. Với những căng thẳng ở Biển Hoa Nam [Biển Đông] không thấy có dấu hiệu dịu đi trong ngắn hạn và với việc Trung Quốc đang tiếp tục tăng cường khả năng hải quân thì một mối quan hệ Mỹ-Việt vững chắc đang là vì lợi ích của cả hai bên (dẫu rằng phải thừa nhận một sự thật về động lực sức mạnh toàn cầu và an ninh châu Á là Mỹ có tầm quan trọng đối với Việt Nam nhiều hơn là Việt Nam có tầm quan trọng đối với Mỹ).

Sự cởi mở của chính quyền Obama đối với Việt Nam đã đạt đến ranh giới buộc phải chấp nhận trong xã hội dân chủ và những giá trị của Mỹ và giờ đây đã đến lúc Hà Nội phải thực hiện hành động tiếp theo. Chỉ có bằng cách làm như vậy thì cả Hà Nội lẫn Washington mới có thể phát triển được mối quan hệ vững chắc mà cả hai bên đang có lý do chính đáng để tìm kiếm mối quan hệ đó.

Richard Pearson phó giám đốc phụ trách các chương trình về Trung Quốc, Việt Nam và Biển Hoa Nam của Quỹ Maureen and Mike Mansfield Foundation.

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , | 37 Comments »

109. QUAN HỆ TRUNG – MỸ DƯỚI SỰ SUY THOÁI CỦA BÁ QUYỀN

Posted by adminbasam on 16/06/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

QUAN HỆ TRUNG – MỸ DƯỚI SỰ SUY THOÁI CỦA BÁ QUYỀN

(phần đầu)

(Tạp chí “châu Á-Thái Bình Dương đương đại, Trung Quốc”)

 Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Hai, ngày 13/06/2011

Quan hệ Trung-Mỹ luôn được coi trọng nhất trong các mối quan hệ đối ngoại của Trung Quốc. Sự tốt lên hay xấu đi của mối quan hệ này cũng đang ảnh hưởng trực tiếp tới các quyết sách và chiến lược đối ngoại của Trung Quốc. Mấy năm gần đây, quan hệ Trung-Mỹ có nhiều thăng trầm, vừa có sự đối đầu cục bộ, ví dụ sự kiện Kitty Hawk (2008), sự kiện Impeccable (2009), vừa có những canh bạc trên vũ đài quốc tế, ví dụ hội nghị về biến đổi khí hậu thế giới ở Côpenhaghen, nhưng về tổng thể là giữ ổn định. Chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc cũng im ắng trải qua một loạt thay đổi, từ coi Trung Quốc là “bên có lợi liên quan” tới đề xuất “Trung-Mỹ”, nhóm 2 nước Trung-Mỹ (G-2) và dần quá độ tới “tái đảm bảo chiến lược”. Bài viết tìm cách thông qua điều chỉnh những thay đổi, nội dung và cơ sở hiện thực trong chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc 5 năm qua, từ góc độ bá quyền của Mỹ suy yếu để thảo luận và nhận thức thực chất những thay đổi này. Điều này giúp lý giải chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc, nhận thức đúng đắn địa vị và ý nghĩa của Trung Quốc trong chiến lược của Mỹ.

Từ “bên có lợi ích liên quan” tới “tái đảm bảo chiến lược”

Tháng 9/2005, trong khi phát biểu về quan hệ Trung -Mỹ. Ngoại trưởng Mỹ Zoellick có đề cập: “Mỹ và Trung Quốc là hai bên tham gia có lợi ích liên quan trong hệ thống quốc tế”. Bài phát biểu coi Trung Quốc là “bên có lợi ích liên quan” của Zoellick lập tức làm dấy lên sự quan tâm của các giới. Từ khi Tổng thống Bush lên cầm quyền năm 2001 tới nay, Mỹ luôn định nghĩa Trung Quốc là “kẻ cạnh tranh chiến lược”, việc đưa ra “bên có lợi ích liên quan” đã hình thành sự tương phản rõ rệt với lập trường trước đây của Bush, chứng tỏ Mỹ đã có những thay đổi lớn trong cách đánh giá vị trí và vai trò của Trung Quốc trong hệ thống quốc tế. Theo lời giải thích của Zoellick, “bên có lợi ích liên quan” nghĩa là: Mỹ “cần nhìn xa hơn một chút trong phương diện chính sách”, tức là chính sách “tiếp xúc” giữa Mỹ và Trung Quốc hiện nay cần vươn xa hơn, bao trùm nhiều lĩnh vực hơn. Đã là “bên có lợi ích liên quan”, hai bên cần cùng nhau gánh vác quyền lợi nghĩa vụ trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, ví dụ như an ninh, ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân, Đông Bắc Á và vấn đề hạt nhân Iran v.v…

Cách đề cập “nhóm hai nước” Trung-Mỹ đã xuất hiện từ năm 2004, do C. Fred Bergsten, người sáng lập Trung tâm nghiên cứu kinh tế quốc tế Peter G. Peterson của Mỹ, đề xuất. Ông cho rằng “nhóm hai nước” Trung – Mỹ là một trong 4 “nhóm hai nước” (G-2) Mỹ cần dốc sức bồi dưỡng trong tương lai. Đây có thể coi là sự khởi đầu của ý tưởng “nhóm hai nước” Trung-Mỹ. Sau đó, cách đề cập “nhóm 2 nước” Trung -Mỹ dần xuất hiện trên báo chí và được các cơ qun thông tin đại chúng quan tâm. Đặc biệt là tờ “Thời báo tài chính” Anh ngày 23/5/2007 đã có bài bình luận “G2 trỗi dậy, Trung-Mỹ cô lập G7”, đưa khái niệm “nhóm hai nước” Trung-Mỹ tới chỗ có những cuộc tranh luận gay gắt, bài viết chỉ rõ: “Bất luận xem xét từ góc độ nào, đối thoại chiến lược Trung-Mỹ đang được tiến hành rất có khả năng chính là một mô hình thu nhỏ của tổ chức G2 chủ đạo các sự vụ kinh tế trên toàn cầu trong tương lai”.

Khái niệm “Trung-Mỹ” bắt nguồn từ nhà kinh tế học người Mỹ Niall Ferguson và giáo sư lịch sử kinh tế Đại học tự do Béclin Moritz Schularick. Năm 2007, hai ông cùng hợp tác viết bài “Tái nhận thức ‘Trung-Mỹ’”, cho rằng “đặc trưng rõ nét nhất trong nền kinh tế thế giới hiện nay không phải là sự thiếu hụt tài sản hoặc dư thừa quá mức mang tính lưu động mà là sự chênh lệch giữa mức đội lợi nhuận của doanh nghiệp và lãi suất thực tế, nguyên nhân quan trọng gây ra hiện tượng này là do sự nâng cao của “Trung Mỹ”. Theo định nghĩa của Niall Ferguson, “Trung-Mỹ” chủ yếu là cộng đồng lợi ích được tạo thành bởi Mỹ – nước tiêu dùng lớn nhất và Trung Quốc – nước dự trữ lớn nhất, cũng như những ảnh hưởng của cộng đồng lợi ích này đối với toàn bộ nền kinh tế thế giới. Cộng đồng này đã tập hợp những sở trường của hai bên gồm Trung Quốc – thị trường mới nổi có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới và Mỹ – nền kinh tế phát triển nhất trong ngành tài chính toàn cầu.”

Tháng 6/2008, Bergsten có viết bài trên tạp chí “Foreign Affairs” Mỹ: “Quan hệ đối tác bình đẳng: Oasinhton nên đối phó thế nào trước các thách thức kinh tế của Trung Quốc”, chủ trương Trung Quốc và Mỹ lập thành “nhóm hai nước”, “cùng chia sẻ quyền lãnh đạo kinh tế toàn cầu”. Xét về mặt lý luận, bài viết này đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung và ý tưởng của “nhóm hai nước” Trung-Mỹ, cho rằng chỉ đặt Trung Quốc ở vị trí “bên có lợi ích liên quan có trách nhiệm” vẫn chưa đủ, nếu muốn Trung Quốc gánh vác nhiều trách nhiệm quốc tế hơn thì phải để họ trở thành nước cùng lãnh đạo thật sự. Vì vậy, Bergsten kiến nghị cần nâng cấp hơn nữa Đối thoại kinh tế chiến lược Trung-Mỹ thành “cục diện nhóm 2 nước lãnh đạo trật tự kinh tế thế giới”. Đến lúc này, khái niệm “Trung-Mỹ cùng trị” chính thức được nâng lên tầm cao lý luận. Tại “Cuộc hội thảo kỷ niệm 30 thiết lập quan hệ ngoại giao Trung-Mỹ” được Hội học thuật ngoại giao nhân dân Trung Quốc, Viện nghiên cứu quan hệ Trung-Mỹ Kissinger và Trung tâm Woodrow Wilson của Mỹ cùng tổ chức vào ngày 12 – 13/1/2009, một số người như Kissinger và Bzrezinski công khai khởi xướng thiết lập “quan hệ đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương” và “nhóm 2 nước phi chính thức”, làm cho ý tưởng “nhóm hai nước” Trung-Mỹ từ cấp độ kinh tế được nâng lên cấp độ chiến lược. Nói tóm lại, mục đích chính của cái gọi là “Trung-Mỹ cùng trị” của Mỹ là: dùng phương thức chia sẻ quyền lực quốc tế thích hợp đưa Trung Quốc đang vươn lên vào hệ thống bá quyền do Mỹ chủ đạo. Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng “Trung-Mỹ cũng trị” không thể thực hiện, mối quan hệ “cộng sinh” giữa Trung Quốc và Mỹ về kinh tế không thể lấp vào những bất đồng về chính trị, lợi ích an ninh, và mục tiêu chiến lược khác nhau làm cho ý tưởng Trung-Mỹ cùng quản lý chẳng qua chỉ là những “ảo tưởng viển vông”. Năm 2009, tạp chí “Foreign Affairs” Mỹ đăng bài viết “Ảo ảnh của G2”, nhấn mạnh tầm quan trọng của Trung Quốc không thể che giấu vị trí nhầm chỗ của Trung Quốc và Mỹ về mặt lợi ích, quan niệm giá trị và năng lực. Mặc dù Mỹ cần hợp tác với Trung Quốc để đối phó với các thách thức toàn cầu, nhưng việc nâng cấp quan hệ song phương mà không giải quyết được những bất đồng thực tế sẽ không những chẳng có kết quả gì, mà cuối cùng sẽ chỉ trích nhau chứ không phải là mối quan hệ đối tác thành công. Khái niệm “Trung-Mỹ” và “G-2” tuy chưa được các quan chức Mỹ thừa nhận, nhưng đã dẫn tới những cuộc thảo luận gay gắt trong giới học thuật và một số cựu quan chức, trên một mức độ nào đó cũng có thể được coi là cuộc thăm dò chính sách chính thức của Mỹ. Trước tình hình này, giới học thuật Trung Quốc cũng triển khai những cuộc thảo luận kịch liệt, nhưng phần lớn lại giữ thái độ tiêu cực, cho rằn những nhân tố kiềm chế mang tính cơ cấu như kết cấu nhận thức, kết cấu cộng sinh kinh tế không hài hoà giữa Trung Quốc và Mỹ và kết cấu quyền lực quốc tế là nguyên nhân quan trọng khiến “Trung-Mỹ cùng trị” không khả thi. Có học giả cho rằng đây chính là cái bẫy phương Tây bố trí cho Trung Quốc, “bề ngoài niềm nở nói cười, nhưng trong lòng rắp tâm sát hại”. Chính phủ Trung Quốc thì công khai từ chối ý tưởng “Trung-Mỹ” và “nhóm hai nước”.

Tháng 9/2009, trong khi diễn thuyết ở Oasinhton, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ James Steinberg lần đầu tien khởi xướng “tái đảm bảo chiến lược” Trung-Mỹ, và nêu rõ: “Chúng tôi (Mỹ) và các nước đồng minh của mình sẽ không kiềm chế Trung Quốc, ngược lại, chúng tôi hoan nghênh sự trỗi dậy của một nước lớn Trung Quốc phồn vinh. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng cần tìm cách để các nước khác yên tâm, bảo đảm sự phát triển và lớn mạnh của họ không phải trả giá bằng an ninh và hạnh phúc của nước khác”. Do đó, “hai bên cần dốc sức xoa dịu các mối lo ngại của nhau, triển khai hợp tác vì mục tiêu chung bằng nhiều con đường nhằm xây dựng một hệ thống quốc tế dựa trên sự tin cậy lẫn nhau”. Ông cho biết dự tính ban đầu trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc là “không một quốc gia nào có thể đơn độc đối mặt với cách thách thức trên thế giới”, huống hồ “phần lớn các nước đứng trước những mối đe doạ toàn cầu giống nhau”. “Tái đảm bảo chiến lược” dần trở thành khung mới trong chính sách của Chính quyền Obama đối với Trung Quốc, hàm nghĩa của cụm từ này là Trung Quốc và Mỹ cần tìm cách nêu bật và nhấn mạnh lợi ích chung của hai nước, đồng thời dùng phương thức trực tiếp bắt tay tháo gỡ căn nguyên nảy sinh sự không tin cậy lẫn nhau trong lĩnh vực chính trị, quân sự hay kinh tế. Chính quyền Obama cho rằng Trung Quốc và Mỹ có không gian hộp tác rộng rãi trong việc cùng giải quyết những vấn đề như phục hồi kinh tế toàn cầu, khí hậu toàn cầu ấm lên, vấn đề hạt nhân Iran và Bắc Triều Tiên, ổn định Ápganixtan và Pakixtan, và đã giành được những thành tựu khiến người khác ngưỡng mộ nhưng cũng đang giữ mối hoài nghi đối với Trung Quốc trong một số vấn đề nào đó, ví dụ vấn đề công khai quân sự, hiện đại hoá vũ khí hạt nhân chiến lược, khả năng tấn công ngoài không gian vũ trụ và khả năng tấn công không gian mạng không ngừng được tăng cường của Trung Quốc cũng như vấn đề eo biển Đài Loan và vấn đề lãnh hải vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc liên tiếp xảy ra tranh chấp trong thời gian gần đây. Trong thời gian Obama ở thăm Trung Quốc tháng 11/2009, “Tuyên bố chung” giữa hai nước đã là sự phản hồi đối với “tái đảm bảo chiến lược”, trình bày lại những nhận thức chung của hai nước cũng như các mục tiêu liên quan tới phát triển và hợp tác trong 5 phương diện từ “quan hệ hai nước”, “thiết lập và khơi sâu sự tin cậy chiến lược lẫn nhau”, “hợp tác kinh tế và phục hồi toàn cầu”, “những thách thức khu vực và mang tính toàn cầu”, “biến đổi khí hậu, năng lương và môi trường”. “Tuyên bố chung” chỉ rõ: “Hai bên cho rằng việc bồi đắp và làm cho sự tin cậy chiến lược lẫn nhau trở nên sâu sắc hơn là điều hết sức quan trọng đối với việc phát triển quan hệ Trung – Mỹ trong thời kỳ mới. Trong các cuộc thảo luận song phương, phía Bắc Kinh bày tỏ, Trung Quốc luôn kiên trì đi theo con đường phát triển hoà bình, thực hiện trước sau không đổi chiến lược mở cửa cùng có lợi cùng thắng lợi, dốc sức thúc đẩy xây dựng thế giới hài hoà bình lâu dài, cùng phồn vinh. Phía Oasinhton nhấn mạnh, Mỹ hoan nghênh một nước Trung Quốc lớn mạnh, phồn vinh, thành công, phát huy vai trò hơn trong các công việc quốc tế”. Nhưng cũng có tin tức cho biết “tái đảm bảo chiến lược” vẫn đang trong giai đoạn tranh luận ở Nhà Trắng, ít nhất là Steinberg chưa giải thích được rõ ràng khái niệm này cho Hội đồng an ninh quốc gia và Vụ châu Á của Bộ Ngoại giao Mỹ. Nghiên cứu viên kỳ cựu của Trung tâm nghiên cứu quốc tế và chiến lược Mỹ (CSIS) Bonnie Glaser cho rằng nội bộ Chính quyền Obama chưa phối hợp tốt trong việc đưa ra “tái đảm bảo chiến lược”. Thậm chí có học giả cho rằng đây hoàn toàn là chính sách thoả hiệp cầu an của Mỹ đối với Trung Quốc. “Tuyên bố chung Trung-Mỹ” lần này tuy đã phản hồi yêu cầu của “tái đảm bảo chiến lược” nhưng vẫn né tránh từ ngữ cụ thể này, chứng tỏ Trung Quốc giữ nguyên thái độ đối với cách đề cập mới về quan hệ hai nước.

Bá quyền Mỹ suy yếu và sự trỗi dậy của Trung Quốc

Những cuộc cạnh tranh trên vũ đài quốc tế là cạnh tranh về thực lực quốc gia, những điều chỉnh nhỏ trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc trên thực tế cho thấy những thay đổi về thực lực giữa hai nước, liên quan tới việc bá quyền Mỹ suy yếu, là một trong những biện pháp của Mỹ để kéo dài sự bá quyền. Mỹ hy vọng Trung Quốc tiếp tục hội nhập hệ thốn bá quyền do Mỹ chủ đạo.

Chủ nghĩa hiện thực cho rằng trạng thái vô chính phủ đặc trưng của hệ thống quốc tế. Khi một nước nào đó thể hiện hết tài năng trong hệ thống quốc tế, có ưu thế chủ đạo và vạch ra quy tắc và trật tự quốc tế được vận hành trong nền kinh tế chính trị quốc tế, sẽ trở thành nước bá quyền. Dưới hệ thống bá quyền, các nước bá quyền thường thiết lập trật tự thế giới có lợi cho mình, có được và thực hiện quyền lãnh đạo thế giới. Hệ thống quốc tế từ khi Chiến tranh thế giới thứ Hai kết thúc tới nay là một hệ thống bá quyền do Mỹ là trung tâm, địa vị bá quyền của Mỹ đã kéo dài hơn nửa thế kỷ. Liên Xô tan rã và Chiến tranh Lạnh kết thúc không những khiến Mỹ trở thành siêu cường duy nhất mà còn làm cho một loạt thể chế và quy chế quốc tế do Mỹ chủ đạo thiết lập sau Chiến tranh thế giới lần Hai nhanh chóng bao phủ khắp toàn cầu, trở thành sự đảm bảo chế độ bảo vệ thể chế bá quyền của Mỹ. Bá quyền của Mỹ đã từng vững chắc hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, bá quyền lại không thay đổi được tính vô chính phủ của hệ thống quốc tế, trong lịch sử, sự thay thế của nước bá quyền và quyền lãnh đạo thế giới đã xuất hiện những đặc trưng mang tính chu kỳ nào đó. Từ những năm 70 thế kỷ 20 đến nay, những tiếng nói liên quan tới việc bá quyền Mỹ suy yếu vang lên liên tục.

Bài viết cho rằng xét tình hình hiện nay, sự suy yếu của bá quyền Mỹ không phải là sự suy yếu tuyệt đối mà chỉ là một sự suy yếu tương đối. Một mặt, Mỹ vẫn là quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, dẫn đầu các nước và khu vực khác về các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật và văn hoá; nhưng mặt khác, cùng với sự trỗi dậy của các nước và khu vực khác (ví dụ Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc v.v…) ưu thế siêu cường của Mỹ đã sụt giảm tương đối. Cụ thể là, có 4 nguyên nhân khiến bá quyền Mỹ sụt giảm tương đối.

Thứ nhất, toàn cầu hoá kinh tế đã đẩy nhanh việc phổ biến những công nghệ mới, khiến thời gian các quốc gia mới nổi đuổi kịp và vượt Mỹ rút ngắn lại. Yếu tối mấu chốt khiến Mỹ có thể giành được bá quyền là nhờ đổi mới công nghệ trong lĩnh vực chế tạo làm cho Mỹ có thể thể hiện hết tài năng. Tuy nhiên ưu thế này lại không thể duy trì lâu dài. Cùng với sự phổ biến công nghệ, các nước khác cuối cùng sẽ vượt lên trước, vì vậy nước bá quyền sẽ suy yếu. Từ năm 1870 tới năm 1950, năng suất lao động của Mỹ tăng nhanh, khoảng cách giữa nước lãnh đạo với các nước khác dần mở rộng, đây là sự đảm bảo căn bản khiến bá quyền Mỹ được thiết lập. Nhưng trong thời gian từ năm 1950 tới năm 1987, xét về mặt năng suất, tốc độ đuổi kịp và vượt bình quân hàng năm của 15 nước công nghiệp đối với Mỹ lên tới 1,8%, sau năm 1973 tuy tốc độ giảm xuống 1,31%, nhưng rõ ràng là, sự chênh lệch về năng suất lao động giữa Mỹ và các nước phát triển khác đang dần thu hẹp. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, thông tin hoá và toàn cầu hoá được đẩy mạnh, Mỹ đang dần mất đi ưu thế tuyệt đối trong ngành chế tạo và lĩnh vực thương mại quốc tếl. Tuy chưa có các số liệu chứng minh các nước khác đã vượt qua năng suất lao động của Mỹ, nhưng xu thế phát triển trước đó và sự nhập siuê thương mại quá lớn liên tục tăng lên của Mỹ trong những năm gần đây đã phản ánh sự sụt giảm tương đối trong sức cạnh tranh kinh tế của Mỹ. Từ giữa những năm 1970 tới nay, thâm hụt thương mại của Mỹ liên tục tăng lên, năm 2006 thậm chí đã lên tới cao mới 760,359 tỷ USD, sau đó mặc dù khủng hoảng tài chính khiến nhu cầu trong nước sụt giảm, dẫn tới thâm hụt thương mại xuống thấp, nhưng năm 2009 vẫn là 378,628 tỷ USD. Tuy Mỹ giữ vị trí dẫn dầu thế giới ở những lĩnh vực đỉnh cao như kỹ thuật hàng không, chế tạo vũ khí, nhưng xuất phát từ những toan tính về an ninh, ưu thế này lại không thể chuyển thành ưu thế thương mai, vì vậy cũng không thể thay đổi xu thế sức cạnh tranh kinh tế của Mỹ tương đối sụt giảm. Đây là nguyên nhân căn bản khiến bá quyền Mỹ suy yếu. Mặc dù Mỹ đang duy trì địa vị siêu cường thông qua thể hiện vũ lực nhưng bá quyền mất đi chỗ dựa kinh tế thì không thể duy trì được lâu dài.

Thứ hai, cùng với việc chuyển từ nền kinh tế thực dụng sang nền kinh tế hư cấu, món nợ nước ngoài kếch sù tích luỹ hàng chục năm của Mỹ trong thương mại quốc tế đã gặm nhấm sạch tín dụng quốc gia. Tỉ trọng các khoản nợ của Mỹ trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) từ 30% những năm 1980 tăng mạnh lên 70% hiện nay. Báo cáo của Trung tâm nghiên cứu kinh tế quốc tế Peter G. Peterson dự đoán, địa vị kinh tế quốc tế của Mỹ sẽ sụt giảm nhanh chóng, tới năm 2030 tỉ trọng thâm hụt trong tài khoản vãng lai của Mỹ trong GDP sẽ từ 6% hiện nay tăng lên 15%, mỗi năm sẽ vượt qua 5.000 tỷ USD, nợ tịnh sẽ từ 3.500 tỷ USD hiện nay tăng lên 50.000 tỷ USD, tương đương với 140% GDP. Lúc đó, mỗi năm Mỹ đành phải dùng 7% sản lượng kinh tế làm ra để trả nợ nước ngoài. Về mặt lý luận, thâm hụt thương mại kéo dài hàng chục năm đã dần đẩy Mỹ đi đến phá sản. Đây là nhân tố bên trong khiến bá quyền Mỹ suy yếu. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn đã làm cho tính suy yếu của bá quyền Mỹ bộc lộ rõ. Cơ chế tài chính một thời khiến nước Mỹ cảm thấy vẻ vang ngày càng bị hoài nghi, đây có thể coi là một trong những tiêu chí quan trọng khiến bá quyền Mỹ suy yếu. Bên cạnh đó, địa vị là đồng tiền dự trữ của thế giới của USD đang dần sụt giảm, từ chỗ chiếm trên 70% dự trữ của toàn thế giới trong lịch sử giảm còn 35,09% vào năm 2009. Trong khi tỉ lệ của đồng euro xuất hiện từ năm 1990 trong tổng số tiền dự trữ của thế giới dần tăng lên, từ trên 13,86% lúc ban đầu tăng lên 15,46% năm 2009, vào thời điểm cao nhất lên tới 18,49% (2003). Được coi là đồng tiền dự trữ của thế giới, đồng euro đang chèn ép không gian của đồng USD, trở thành đồng tiền dự trữ và thanh toán thương mại quốc tế chỉ sau USD.

Thứ ba, việc quá can thiệp vào các cuộc tranh chấp của thế giới, đặc biệt là các cuộc can thiệp quân sự liên tiếp ở nước ngoài đã tạo thành gánh nặng quân sự và tài chính cho nước Mỹ, đồng thời cũng dẫn thới thực lực mềm của Mỹ suy yếu. Paul Kennedy từng viết trong cuốn “Sự hưng thịnh và suy vong của nước lớn”, nước mỹ vào cuối những năm 1980 đang giẫm lên con đường suy yếu của các nước bá quyền trong lịch sử: thông qua bành trướng quá mức làm tiêu hao tinh lực của mình từ đó dẫn tới suy yếu. Immanuel Wallerstein coi sự kiện 11/9/2001 gây chấn động thế giới là tiêu hcí của bá quyền Mỹ suy yếu, cho rằng sau sự kiện này, một loạt hành vi chiến tranh của Mỹ nhằm vào Irắc dưới sự lãnh đạo của chính phủ phe diều hâu là đang lạm dụng vũ lực chứ không phải thể hiện sức mạnh. Từ sự kiện 11/9 đến nay, các cuộc chiến của quân Mỹ ở Irắc và Ápganixtan đã kéo dài hàng chục năm, tiêu tốn tới 944 tỷ USD. Trong dự toán quốc phòng năm tài khoá 2010 của Mỹ, chi phí dùng cho cuộc chiến ở Irắc và Ápganixtan lên tới 139 tỷ USD, tổng cộng là 1080 tỷ USD. Mặc dù Chính phủ Mỹ đã nhiều lần tuyên bố sẽ rút quân, giảm bớt chi phí chiến tranh, nhưng xét tình hình Irắc và Ápganixta hiện nay, thời gian rút quân thật sự vẫn còn xa vời. Joseph Nye cho rằng bá quyền Mỹ chưa suy yếu vì xét từ góc độ thực lực mềm, Mỹ vẫn đang lãnh đạo thế giới, dù thực lực cứng của Mỹ quả thực có phần sụt giảm tương đối. Tuy nhiên, cùng với việc cuộc chiến ở Irắc và Ápganixtan gây tranh cãi ngày một gay gắt trên toàn cầu dần, Nye buộc phải thừa nhận thực lực mềm của Mỹ đang giảm sút.

Thứ tư, bá quyền Mỹ ngày càng chịu sự thách thức của các nước và khu vực như Nhật Bản, Liên minh châu Âu và Trung Quốc. Sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, sự phục hồi kinh tế và tốc độ phát triển của Nhật Bản và châu Âu khiến nhiều người kinh ngạc, đã hình thành những thách thức lớn đối với địa vị ưu thế của Mỹ. Trong rất nhiều vấn đề quốc tế, nước bá quyền Mỹ tất sẽ phải suy tính tới lợi ích của các nước và khu vực khác, đánh bạc với họ và cũng ngày càng cần sự ủng hộ của các nước lớn khác.

Tình hình hiện nay cho thấy Trung Quốc chính là nước cạnh tranh lớn nhất đối với sự bá quyền của Mỹ. Chính sách cải cách mở cửa thành công đã làm cho nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh trong hơn 30 năm, tốc độ tăng trưởng bình quân năm lên tới trên 10%, GDP tính theo tỉ giá hối đoái năm 2009 là 4.900 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới, tính theo ngang giá sức mua lên tới 8.765 tỷ USD, chỉ đứng sau EU và Mỹ. So với năm 1978, tổng lượng kinh tế của Trung Quốc ít nhất đã tăng gấp đôi. Là nước lớn thương mại thứ hai thế giới, Trung Quốc đã duy trì thặng dư thương mại với số tiền lớn trong thời gian dài, dự trữ ngoại tệ tăng lên nhanh chóng, năm 2009 đạt gần 2.400 tỷ USD, trở thành chủ nợ lớn nhất thế giới. Là một rong những trung tâm sản xuất chủ yếu nhất của thế giới, Trung Quốc đã trở thành thị trường tiêu thụ lớn nhất về năng lượng và nguyên vật liệu của thế giới. Về mặt quân sự, từ khi bắt đầu hiện đại hoá quân sự năm 1989 đến nay, chi phí quốc phòng của Trung Quốc tăng 12,9%/năm, vượt qua tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc dân cùng kỳ. Chi phí quân sự duy trì biên đồ tăng trưởng hai con số trong nhiều năm, và có nhiều điều tương đối không minh bạch khiến phương Tây cảm thấy bất an và đưa ra nhiều suy đoán. Từ năm 2007 đến nay, việc Trung Quốc thử nghiệm tên lửa phá huỷ vệ tinh ngoài không gian vũ trụ và thử nghiệm tên lửa đánh chặn tầm trung cộng với việc có va chạm với tàu “Kitty Hawk” năm 2008 và tàu “Impeccable” năm 2009 rõ ràng đã làm gia tăng sự bất an và hoài nghi này. Đi cùng với thực lực vươn lên là ngoại giao Trung Quốc thâm nhập quy môi lớn vào châu Phi, Mỹ Latinh và khu vực Trung Đông, thông qua hợp tác kinh tế thương mại và tác động lẫn nhau về ngoại giao mởi rộng ảnh hưởng của Trung Quốc, đồng thời tích cực tham gia các hoạt động gìn giữ hoà bình quốc tế, đưa lực lượng vũ trang của Trung Quốc ra nước ngoài. Theo Mỹ, Trung Quốc không chỉ là nước cạnh tranh về kinh tế, cũng là nước cạnh tranh về quân sự tiềm tàng, rất có khả năng mang lại sự thay đổi trong kết cấu quyền lực toàn cầu.

Trong thực tế, các nước bá quyền thường nhạy cảm hơn các nước khác đối với những thay đổi trong phân phối quyền lực trong hệ thống quốc tế. Một mặt, các nước mới vươn lên dựa vào sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ để tăng cường thực lực, vì vậy mong muốn có thể được chia sẽ quyền lực chính trị quốc tế nhiều hơn, dẫn tới kết cấu phân phối quyền lực của hệ thống quốc tế vốn không ổn định hiện nay, làm suy yếu hoặc đe doạ địa vị lãnh đạo quốc tế của nước bá quyền; mặt khác, do các nguyên nhân như hiệu ứng lan toả từng được phân tích trong thuyết chu kỳ bá quyền, sự sụt giảm tương đối về thực lực kinh tế của chính nước bá quyền đã làm suy yếu năng lực và mong muốn chủ đào các sự vụ toàn cầu của nước này, dẫn tới bá quyền suy yếu. Về phía Mỹ, đối nội duy trì kinh tế trong nước tăng trưởng, đối ngoại duy trì hệ thống bá quyền thế giới dựa vào nhau, cùng phục vụ cho lợi ích của Mỹ. Mặc dù thực lực của Mỹ sụt giảm tương đối những không có nghĩa là bá quyền Mỹ sắp sụp đổ. Những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ tất sẽ xoay quanh việc làm thế nào để tiếp tục duy trì bá quyền thế giới. Robert Keohane tin rằng ngay cả sau khi sức mạnh quốc gia suy yếu Mỹ vẫn có thể lợi dụng các thể chế quốc tế được thiết lập dưới sự chủ đạo của mình để duy trì địa vị, bảo vệ trật tự bá quyền hiện nay. Phương pháp lôgích của Robert Keohane là đưa tất cả các nước, đặc biệt là các nước gây chiến, vào trong thể chế bá quyền hiện nay, dựa vào những lợi ích được mang lại từ sức ràng buộc và hợp tác của các thể chế để làm yên lòng các nước gây chiến. G. John Ikenberry cũng cho rằng Mỹ phải dốc sức tăng cường và bảo vệ hệ thống thế giới phương Tây cũng như một loạt cơ chế, quy chế, luật quốc tế đi cùng. Điều mấu chốt đảm bảo Trung Quốc trỗi dậy sẽ không hướng tới chiến tranh, sẽ không lật đổ bá quyền Mỹ chính là đặt sự phát triển của Trung Quốc vào trong hệ thống thế giới phương Tây, lợi dụng các cơ chế, quy chế và pháp luật quốc tế hiện hành ràng buộc các hành vi của Trung Quốc, làm cho Trung Quốc không có sự lựa chọn nào khác là trở thành một thành viên. “Mỹ không có cách nào ngăn chặn Trung Quốc vươn lên nhưng Mỹ có thể đảm bảo Trung Quốc hành động trong các quy tắc và cơ chế quốc tế do Mỹ và các nước đồng minh đưa ra… Địa vị toàn cầu của Mỹ có thể sẽ suy yếu nhưng hệ thống quốc tế do Mỹ lãnh đạo vẫn sẽ là sự chủ đạo của thế kỷ 21”. Tuy nhiên, sau khi bá quyền suy yếu liệu các thể chế quốc tế vẫn sẽ có giá trị như khi mới sáng lập, liệu vẫn có thể mang lại những lợi ích đủ để đáp ứng nguyện vọng của các nước gây thách thức, là điều đáng nghi ngờ. Sự thực là, ngay cả Keohane cũng cho rằng “chúng ta vẫn chưa thấy những bằng chứng đã được kiểm nghiệm về việc liệu các thể chế quốc tế vẫn tiếp tục tồn tại ‘sau khi bá quyền suy yếu’”. Việc đưa ra các ý tưởng “bên có lợi ích liên quan”, “Trung-Mỹ”, “nhóm 2 nước” và “tái đảm bảo chiến lược” cho thấy Mỹ đã nhận thức được khả năng duy trì bá quyền thế giới của mình đang xuống thấp, cũng chú ý tới những tác động của việc Trung Quốc trỗi dậy đối với hệ thống quốc tế hiện hành, vì vậy mong muốn thông qua phương thức chia sẻ quyền lực quốc tế đưa Trung Quốc gánh vác trách nhiệm quốc tế nhiều hơn, mặt khác lợi dụng hệ thống điều lệ quốc tế ràng buộc mục đích và phương thức hành vi trỗi dậy của Trung Quốc để nước này trở thành một thành viên trong phe dân chủ tự do. Là nước mới vươn lên, Trung Quốc mong muốn tìm kiếm con đường phát triển độc lập tự chủ dưới tiền đề kiên trì chế độ xã hội chủ nghĩa, đối với Trung Quốc, “Trung-Mỹ cùng trị” không những có nghĩa là chia sẻ quyền lực và gánh vác trách nhiệm, còn có nghĩa là đặt sự phát triển của nước mình dưới bá quyền Mỹ, thậm chí có khả năng đe doạ chế độ xã hội và con đường phát triển của mình. Vì vậy, không khó có thể hiểu được vì sao Chính phủ Trung Quốc công khai từ chối “Trung-Mỹ cùng trị” và luôn giữ thái độ thận trọng đối với việc Mỹ thay đổi chính sách đối với nước mình. (còn tiếp)

Posted in Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung | Leave a Comment »

96. DƯ LUẬN XUNG QUANH CUỘC TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG

Posted by adminbasam on 10/06/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

DƯ LUẬN XUNG QUANH CUỘC

TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG

Thứ Năm, ngày 09/06/2011

TTXVN (Luân Đôn 6/6)

Liên quan đến  cuộc tranh chấp trên Biển Đông, “Tạp chí Á-Âu” tháng 5/2011 đăng bài phân tích của Robert Beckman, Giám đốc Trung tâm Luật Quốc tế, giáo sư tại Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Xinhgapo, đồng thời là chuyên viên nghiên cứu cao cấp tại trường Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (RSIS) thuộc Đại học Công nghệ Nanyang. Tác giả cho rằng cuộc tranh cãi về quyền khai thác tài nguyên quanh quần đảo Trường Sa đã biến thành một cuộc tranh cãi pháp lý. Vấn đề đặt ra là đối tượng tranh chấp là “hòn đảo” hay chỉ là “bãi đá”? Bởi “hòn đảo” thì được hưởng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa, nhưng “bãi đá” thì không. Dưới đây là nội dung bài viết:

Chủ quyền, toàn bộ hoặc một phần, đối với quần đảo Trường Sa trên biển Đông là đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc, Malaixia, Philippin, Việt Nam, Brunây và Đài Loan. Công hàm ngoại giao tháng 4/2011 do Philippin và Trung Quốc nộp lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã đặt nền móng cho một vụ tranh chấp giữa một số nước thuộc ASEAN (Malaixia, Philippin và Việt Nam) và Trung Quốc, liên quan đến chủ quyền pháp lý đối với các bãi đá tạo thành quần đảo Trường Sa.

Vấn đề quan trọng nhất được đưa ra là: Nước nào có quyền thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên trong và dưới các vùng biển xung quanh quần đảo này? Mặc dù đối tượng tranh chấp cuối cùng là tài nguyên thiên nhieê, nhưng cuộc tranh chấp này được dựng lên như một cuộc tranh cãi về pháp lý về nhận thức đối với Điều 121 Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS).

Các định nghĩa pháp lý

Điều 121 quy định rằng một hòn đảo – được định nghĩa là “một khu vực đất tự nhiên nhô lên trên mặt nước khi thuỷ triều lên” – về nguyên tắc có thể tạo ra các vùng lãnh hải giống như đất liền. Chúng bao gồm vùng lãnh hải trong bán kính 12 hải lý, vùng EEZ trong bán kính 200 hải lý và một thềm lục địa. Một số cấu thành của quần đảo Trường Sa do các nước đang chiếm đóng không đáp ứng được định nghĩa của một hòn đảo. Chúng hoặc bị ngập dưới nước khi thuỷ triều lên, hoặc nhô trên mặt nước khi thuỷ triều lên là nhờ được cải tạo hoặc do các cấu trúc nhân tạo. Các bãi đá này thậm chí không được hưởng vùng lãnh hải 12 hải lý.

Đoạn 3 của Điều 121 trong UNCLOS đã tạo ra một ngoại lệ cho một số loại đảo bằng cách nói rằng “các bãi đá mà không thể tự nó duy trì sự sinh sống hoặc đời sống kinh tế của con người” sẽ không có vùng EEZ hay thềm lục địa. Nhiều bãi đá trong quần đảo Trường Sa có thể nằm trong nhóm này và do đó chỉ được vùng lãnh hải 12 hải lý.

Lý lẽ của Malaixia, Việt Nam và Trung Quốc

Công hàm của Philippin gửi lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc hôm 5/4/2011 và của Trung Quốc hôm 14/4/2011 là những văn bản mới nhất trong một loạt công hàm liên quan đến Thoả thuận chung giữa Malaixia và Việt Nam được hai nước trình lên Uỷ ban ranh giới Thềm lục địa của Liên hợp quốc vào ngày 6/5/2009. Trong thoả thuận chung này, Malaixia và Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với một thềm lục địa vượt ra ngoài giới hạn 200 hải lý của vùng EEZ mà họ tuyên bố trên biển Đông.

Ngày 7/5/2009, Trung Quốc phản ứng bằng cách gửi công hàm nói rằng nước này có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Trường Sa và các vùng biển liền kề. Trung Quốc cũng khẳng định chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng biển “liên quan” trên Biển Đông, kèm theo là bản đồ đường “lưỡi bò” 9 đoạn do nước này đưa ra.

Phản ứng của Philippin và sự đáp trả của Trung Quốc

Philippin phản ứng bằng cách gửi công hàm ngoại giao vào ngày 4/4/2011, trong đó nói rằng UNCLOS không cung cấp cơ sở pháp lý cho bất cứ sự đòi hỏi nào về chủ quyền và quyền tài phán trên vùng biển “liên quan” (và các đáy biển và lòng đất) nằm trong đường “9 đoạn” phía ngoài các vùng biển được coi là “liền kề” với các hòn đảo theo định nghĩa tại Điều 121 của UNCLOS. Mặc dù ngôn ngữ thể hiện trong công hàm không rõ ràng, nhưng dường như nó hàm ý Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền và quyền tài phán đối với bất kỳ nguồn tài nguyên nào nằm trong vùng “lưỡi bò” và nằm ngoài vùng biển liền kề với các đảo của nước này.

Ngày 14/4/2011, phản ứng với công hàm của Philippin, Trung Quốc nhắc lại quan điểm lâu nay là nước này có chủ quyền không thể tranh cãi đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa và vùng biển liền kề. Trung Quốc cũng khẳng định chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng nước liên quan, cũng như đáy biển và lòng đất phía dưới. Tuy nhiên, nước này không đề cập đến bản đồ “9 đoạn”, và tuyên bố (lần đầu tiên) rằng quần đảo này được hưởng quyền lãnh hải, vùng EEZ và thềm lục địa. Đây có thể là một động thái quan trọng bởi Trung Quốc dường như đã nêu rõ đòi hỏi của mình và dùng UNCLOS để bảo vệ lý lẽ.

Hòn đảo hay bãi đá?

Trong cuộc tranh chấp về các quần đảo và bãi đá, các nước ASEAN sẽ tiếp tục giữ quan điểm rằng họ có chủ quyền và quyền tài phán đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên ở trong và dưới các vùng nước thuộc quần đảo Trường Sa. Đòi hỏi của họ dựa trên quyền đối với 200 hải lý vùng EEZ tính từ các đường cơ sở thuộc lãnh thổ đất liền hoặc quần đảo của họ. Họ sẽ không đòi hỏi vùng EEZ từ bất kỳ cấu thành nào của quần đảo Trường Sa, và sẽ nhất quán rằng không một cấu thành nào thuộc diện tranh chấp được coi là “hòn đảo”, và những “hòn đảo” đó trên thực tế chỉ là bãi đá.

Chiến lược này sẽ mang lại cho các quốc gia tranh chấp thuộc ASEAN chủ quyền không thể tranh cãi để thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên ở trong và phía dưới của hầu hết các vùng nước thuộc quần đảo Trường Sa. Họ sẽ chỉ không có chủ quyền và quyền tài phán để khai thác tài nguyên thuộc bán kính 12 hải lý liền kề các đảo, chừng nào cuộc tranh chấp vẫn chưa được phán quyết.

Để bảo vệ lợi ích của mình, Trung Quốc sẽ phải duy trì quan điểm là ít nhất một số bãi đá thuộc Trường Sa được tính là “đảo” để được hưởng vùng EEZ và thềm lục địa. Quan điểm này sẽ tạo ra một vùng chồng lấn đáng kể giữa vùng EEZ của quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đòi chủ quyền với vùng EEZ và/hoặc thềm lục địa mở rộng mà các quốc gia tranh chấp thuộc ASEAN có quyền tính từ đường cơ sở của lãnh thổ hay quần đảo của họ.

Trung Quốc sẽ phải đối mặt với một thách thức là trước đây nước này đã có quan điểm về thế nào là đảo và thế nào là bãi đá. Trong các cuộc tranh luận tại Liên hợp quốc liên quan đến cuộc tranh chấp giữa nước này với Nhật Bản về chủ quyền đảo Okinotorishima, Trung Quốc lập luận rằng các đảo nhỏ, ở xa, không có người ở không được trao vùng EEZ hay thềm lục địa. Các quốc gia ASEAN có thể sẽ nói rằng lập luận này của Trung Quốc cũng nên áp dụng đối với các đảo nhỏ trong quần đảo Trường Sa.

***

(Đài RFA 31/5)

Trong vụ tàu hải giám của Trung Quốc vi phạm thềm lục địa Việt Nam, yếu tố pháp lý nào có thể được Việt Nam áp dụng để chống lại hành động mà báo chí gọi là ngang ngược này? Mặc Lâm phỏng vấn Thạc sĩ Hoàng Việt, hiện giảng dạy môn luật quốc tế tại Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh để tìm câu trả lời, nội dung như sau:

Mối đe doạ quân sự

–                           Thưa Thạc sĩ qua việc tàu hải giám của Trung Quốc xâm phạm thềm lục địa Việt Nam và cắt cáp của tàu Bình Minh, theo các quy định của luật pháp quốc tế, thạc sĩ nhận định sự việc này như thế nào?

+ Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên trong Công ước của LHQ về Luật biển và như vậy theo luật pháp quốc tế trong công ước quy định là tất cả các thành viên đều phải có nghĩa vụ tôn trọng công ước.

Công ước quy định rõ ràng các quốc gia ven biển có quyền khai thác và thăm dò khai thác các tài nguyên ở vùng thềm lục địa của mình. Đó là quyền đương nhiên được hưởng theo đúng tinh thần Công ước.

–                           Xin Thạc sĩ nói thêm một số chi tiết về Công ước của LHQ về luật biển và điều khoản áp dụng trong trường hợp này như thế nào?

+  Điều 279 trong Công ước của LHQ về luật biển năm 1982 quy định nếu có tranh chấp thì phải sử dụng biện pháp hoà bình. Ngay điều 2 và điều 33 trong hiến chương LHQ cũng quy định các tranh chấp phải giải quyết bằng hoà bình. Như vậy, có thể khẳng định rằng Trung Quốc đã vi phạm Công ước của LHQ về luật biển năm 1982 và gián tiếp vi phạm Hiến chương LHQ. Thêm nữa Trung Quốc cũng vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông tức là DOC năm 2002 mà Trung Quốc và các nước ASEAN đã ký kết. DOC có quy định rằng các nước phải tự kiềm chế, không được gây những điều phức tạp và không sử dụng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực đối với các bên khác. Trong trường hợp như vậy, hành vi bao vây, và cắt cáp của Trung Quốc có thể nói là đe doạ quân sự.

–                           Thạc sĩ vừa nhắc tới Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước ASEAN. Nếu đem DOC ra chứng minh cho hành động này của Trung Quốc là vi phạm thì chúng ta sẽ được lợi thế gì với các nước trong khối?

+  Tôi nghĩ rằng nếu Việt Nam đưa DOC ra thì sẽ có bằng chứng cho thấy thái độ của Trung Quốc như thế nào. Ở đây cũng phải nói rõ thêm là DOC không ràng buộc về mặt pháp lý, tuy nhiên lại tạo dư luận rất lớn ở tính chính đáng của vấn đề. Nếu Việt Nam nêu ra vấn đề này thì cho thấy dù Trung Quốc luôn đưa ra quan điểm muốn dùng biện pháp hoà bình và thân thiện với tất cả các nước khác, nhưng hành động vừa rồi cho thấy hoàn toàn không giống những gì họ nói. Điều này có thể cảnh tỉnh các nước ASEAN và sẽ giúp các nước ASEAN nhận ra vấn đề trong việc giải quyết tranh chấp biển Đông với Trung Quốc như thế nào.

Kiện ra toà án quốc tế không là chuyện đơn giản?

–                           Mới đây người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc là bà Khương Du đã tuyên bố tàu hải giám của họ chỉ thực hiện những nhiệm vụ bình thường. Ý của bà này muốn nói tới đường lưỡi bò mà Trung Quốc tự đặt ra vào năm 2009 để nguỵ biện cho hành động của tàu hải giám. Trong trường hợp này thì Việt Nam phải đối phó như thế nào?

+  Để đối phó, chúng ta phải phản đối trên tất cả các diễn đàn mà chúng ta có thể làm được. Trước đây tôi cũng đã đưa ra đề nghị là chúng ta phải nên nghĩ tới chuyện kiện ra toà án quốc tế. Nhưng phải nói thêm rằng việc kiện ra toà sẽ có những vấn đề khó khăn.

Thứ nhất, khi ra toà thì chúng ta sẽ kiện ra Toà án Quốc tế về luật biển theo công ước 1982. Toà án này trực tiếp giải quyết những tranh chấp về những điều, những quy định trong luật biển. Hoặc là Việt Nam có thể đưa ra một toà án trọng tài nào đó để họ có biện pháp phân xử. Thế nhưng cái khó nhất là Trung Quốc vẫn đang từ chối việc ra toà án quốc tế, mà các toà án quốc tế nói chung đều phải có sự chấp thuận của cả hai bên, cho nên đấy là điều khó. Vì vậy, chúng ta phải tìm mọi diễn đàn để đưa vấn đề này ra và kéo dư luận quốc tế vào phản đối vấn đề đó.

–                           Nếu Trung Quốc cương quyết không chịu tham gia phiên toà thì Việt Nam còn có cách nào khác để đánh động với các nhà làm luật quốc tế?

+  Hiện bây giờ điều đó chưa thể xảy ra! Bởi vì Trung Quốc đã khước từ khi bị đưa ra toà án. Thứ hai, nếu đem ra Hội đồng Bảo an có lẽ Việt Nam có thể đánh động cho Hội đồng Bảo an, nhưng điều này cũng khó vì Trung Quốc là thành viên thường trực nên họ sẽ phủ quyết. Tuy nhiên ở đây vấn đề quan trọng nhất là gì? Đó là công luận thế giới. Toàn bộ công luận thế giới và những người yêu chuộng hoà bình, công bằng công lý sẽ nhận biết được vấn đề và đấy cũng là một sức mạnh rất lớn.

–                           Một lần nữa xin cám ơn Thạc sĩ Hoàng Việt đã trả lời phỏng vấn của chúng tôi.

***

(Đài Ôxtrâylia 3/6)

Nhằm tìm hiểu thêm những diễn biến mới nhất về tình hình ở Biển Đông, Đài Ôxtrâylia cũng đã có cuộc phỏng vấn Thạc sĩ Hoàng Việt. Sau đây là nội dung chi tiết:

–                           Những hành động mới đây của Trung Quốc cho thấy có vẻ họ muốn bước thêm một bước dài trong tranh chấp ở biển Đông. Thạc sĩ nhận định thế nào về điều này?

+  Những hành động của Trung Quốc gây căng thẳng trên biển Đông vừa rồi không phải là ngẫu nhiên mà nằm trong một chuỗi hành động được tính toán từ rất lâu của họ. Với tham vọng vươn ra đại dương, Trung Quốc đã hình dung ra hai chuỗi đảo chính, trong đó biển Đông nằm trong chuỗi đảo số 1, như là cửa ngõ để Trung Quốc có thể vươn ra chuỗi đảo số 2, dần dần thống trị Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Để độc chiếm biển Đông, họ đưa ra “đường lưỡi bò”, công khai từ năm 2009 và nhanh chóng bị hầu hết các nước trong khu vực biển Đông phản đối, chỉ ra sự vô lý của nó. Thiếu cơ sở pháp lý, nhưng Trung Quốc vẫn cứ muốn dùng sức mạnh quân sự của mình để duy trì “đường lưỡi bò” trên thực tiễn.

Mới đây, sau chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt đến hai nước Inđônêxia và Philippin, không rõ là các bên có trao đổi gì không, nhưng hành động của Trung Quốc bắt đầu cứng rắn hơn rất nhiều. Năm 1992, Trung Quốc từng cấp phép cho một công ty của Mỹ khai thác dầu ở bãi Tư Chính, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam, nhưng phải rút khi Việt Nam phản đối mạnh. Thì đến bây giờ, vụ tàu Bình Minh cũng gần giống như thế, vì nơi tàu bị cắt cáp cũng nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam, mà theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 thì Việt Nam có toàn quyền khảo sát, thăm dò, khai thác các tài nguyên.

–                           Bước đi kế tiếp của Trung Quốc có thể là gì, thưa ông?

+  Một điều phía Việt Nam cần cẩn trọng là Trung Quốc, sau những hành động xâm lấn, có thể đưa ra cái bẫy “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Thế nhưng lại cùng khai thác ở ngay trong thềm lục địa, trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam mà hiển nhiên mình phải có toàn quyền khai thác. Đặc biệt là hiện tại Việt Nam và Trung Quốc lại đang đàm phán ở cấp thứ trưởng ngoại giao về nguyên tắc giải quyết chung đối với tranh chấp trên biển. Tôi nghĩ các hành động hung hăng của Trung Quốc có lẽ sẽ còn tiếp diễn rất nhiều, đây mới chỉ là khúc dạo đầu thôi.

–                           Ông đánh giá thế nào về những phản ứng của nhà nước Việt Nam trước các động thái của Trung Quốc mấy ngày qua?

+  Tôi nghĩ phản ứng của nhà nước Việt Nam rất kịp thời và cũng thẳng thắn. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga còn tuyên bố hải quân Việt Nam sẽ làm tất cả để bảo vệ chủ quyền. Điều này tôi rất đồng ý, chúng ta không muốn sử dụng biện pháp chiến tranh nhưng chúng ta phải bằng mọi cách bảo vệ cái gì thuộc về chúng ta. Tuy nhiên, Việt Nam trong vụ tàu Bình Minh cũng có chút bị động. Chúng ta nên nhận thức rằn hành động của Trung Quốc là nằm trong một chuỗi tính toán như thế và cần chủ động hơn trong cách đối phó.

–                           Theo dõi các động thái của Việt Nam thì có vẻ có một sự thay đổi lớn trong phản ứng với Trung Quốc, chẳng hạn như báo chí được phép đưa tin rộng rãi hơn?

+  Cũng không hẳn là thay đổi lớn mà là đã đến lúc không thể không làm được. Nếu không lên tiếng thì mọi chuyện sẽ trôi qua, sẽ thành tiền lệ, Trung Quốc sẽ tiếp tục lấn tới. Khi sự xâm phạm của Trung Quốc ở mức nghiêm trọng như vậy thì buộc phía Việt Nam phải có phản ứng mạnh thôi.

–                           Theo ông, Việt Nam cần có thêm những bước đi nào nữa trong việc đối phó với các hành động gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông?

+  Trước mắt là Việt Nam phải có những động thái để kêu gọi cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước ASEAN. Các nước ASEAN mà cùng lên tiếng mạnh thì có lẽ thái độ của Trung Quốc cũng sẽ thay đổi. Bởi nếu cứ để diễn biến thế này, Trung Quốc vẫn cố tình tiếp tục như thế và Việt Nam bằng mọi giá bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán của mình thì tương lai về một cuộc xung đột quân sự là điều khó tránh. Mà chiến tranh thì chẳng bên nào có lợi, kể cả Trung Quốc.

Đồng thời, một điều rất quan trọng bây giờ là Việt Nam phải nhanh chóng ban hành luật biển, phải luật hoá, quy định rõ những vùng biển nào của ta và cách hành xử để khi bị xâm phạm thì lực lượng cảnh sát biển sẽ dễ xử lý. Luật biển Việt Nam soạn thảo đến 13 năm nay vẫn chưa đưa ra Quốc hội để thông qua, trong khi các quốc gia khác xung quanh đã có cả rồi.

–                           Theo báo Sài Gòn Tiếp thị, mới đây tại Quảng Ngãi đã có xã thành lập đội dân quân biển chia nhóm hoạt động trên các tàu đánh cá, có thể “độc lập chiến đấu” trong một số tình huống. Theo ông, điều này có nên không?

+  Khó lắm, cái này phải nghiên cứu kỹ lại. Nó có thể gây nguy hiểm thêm cho ngư dân. Khi bị bắt, ngư dân không có súng có thể còn được đối xử bình thường, có súng thì có khi lại bị quy cho là hải tặc, làm mọi chuyện phức tạp hơn. Còn tàu cá cảu ngư dân thì không thể nào mà so sánh với các tàu hải giám hay tàu quân sự trang bị hiện đại của Trung Quốc được.

–                           Thưa ông, liệu chúng ta có thể nói tình hình căng thẳng Biển Đông đã bước sang một giai đoạn mới gay cấn hơn không?

+  Như tôi đã nói thì các hành động hung hăng của Trung Quốc có lẽ sẽ còn tiếp diễn phức tạp hơn nữa. Từ đầu năm, tôi đã tiên lượng rằng khả năng khoảng tháng 5 thể nào cũng căng thẳng, vì hàng năm Trung Quốc vẫn đưa ra lệnh cấm đánh bắt cá ở biển Đông từ ngày 16/5. Năm nào các hành động của Trung Quốc cũng thường bắt đầu gia tăng vào tháng 5, gây nên căng thẳng dai dẳng giữa hai bên. Những hành động của Trung Quốc chắc chắn không phải là cuối cùng, đó chỉ là những hành động nối tiếp có tính toán trong một chuỗi các hành động của Trung Quốc để làm cho các quốc gia khác công nhận “đường lưỡi bò” họ đưa ra. Tình hình sẽ còn căng thẳng hơn nữa.

***

Tình hình tại vùng Biển Đông trong thời gian gần đây đã trở nên sôi động, đặc biệt từ ngày 26/5 khi các tàu hải giám Trung Quốc phá hoại thiết bị của tàu thăm dò dầu khí Việt Nam. Sự việc này diễn ra cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý và cách đảo Hải Nam Trung Quốc khoảng 600 hải lý. Mới đây, tin cho biết hải quân Trung Quốc đã dùng súng uy hiếp ngư dân Việt Nam hoạt động tại vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Phát ngôn viên hai nước đều đã lên tiếng khẳng định chủ quyền tại những khu vực tranh chấp. Những sự việc nghiêm trọng vừa qua đã trở thành đề tài nóng bỏng đựơc dư luận và giới truyền thông trong và ngoài nước theo dõi sát sao và bình luận. Đài Ôxtrâylia đã có cuộc phỏng vấn Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam, xung quanh vấn đề Biển Đông.

–                           Thưa giáo sư, tại sao tình hình trong vùng Biển Đông lại đột nhiên trở nên căng thẳng trong thời gian gần đây?

+  Trung Quốc đã thực hiện ba hành động khiến tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng. Ngày 2/3, các tàu tuần tiễu Trung Quốc ra lệnh cho một tàu thăm dò địa chấn Philippin phải rời vùng biển quanh khu vực ‘bãi Cỏ Rong’ (Reed Bank). Trong tháng Năm vừa qua, nhà cầm quyền đại phương Trung Quốc lại đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trong khu vực Biển Đông. Lệnh này đã giúp ngư dân Trung Quốc ngày càng lấn lướt khi họ tiến vào đánh bắt thuỷ sản trong các ngư trường truyền thống của Việt Nam. Ngày 26/5 các tàu hải giám Trung Quốc tiến lại gần một tàu thăm dò dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) và cố tình cắt đứt dây cáp chìm dùng để vẽ bản đồ khu vực. Phía Trung Quốc cũng ra lệnh tàu Việt Nam phải rời khu vực này. Những động thái này của Trung Quốc diễn ra sâu trong Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Việt Nam và ở ngoài khơi thành phố Nha Trang.

Các hành động của Trung Quốc khiến Philippin và Việt Nam phản đối. Trung Quốc phản ứng lại bằng cách tuyên bố nước này vẫn chỉ thực hiện các thẩm quyền ‘bình thường’ của mình khi ‘quản lý’ vùng biển mà Trung Quốc cho là thuộc lãnh hải của họ.

–                           Thưa Giáo sư, liệu tình hình có thể tồi tệ hơn hay không?

+  Tình hình có thể tồi tệ hơn nếu Trung Quốc tiếp tục hung hãn khẳng định chủ quyền bằng cách sử dụng vũ lực chống lại các tàu thăm dò không có vũ trang. Cho tới nay Trung Quốc vẫn sử dụng các tàu hải giám dân sự thay vì dùng chiến hạm. Philippin hoặc Việt Nam có thể sẽ phái tàu bảo vệ đi kèm các tàu của mình. Điều này sẽ khiến tình hình trở nên phức tạp hơn.

–                           Việt Nam phải làm gì để giải quyết tình hình này?

+  Việt Nam đã gửi kháng thư tới Đại sứ quán Trung Quốc. Trước tiên, Việt Nam phải tiếp tục phản đối các hành động của Trung Quốc và công khai hoá vấn đề này. Đồng thời, Việt Nam phải hối thúc Trung Quốc mở một cuộc họp cấp cao với giới lãnh đạo Bắc Kinh để tìm phương cách ngăn những vụ việc tương tự có thể tiếp tục xảy ra hoặc ngăn chặn không để cuộc tranh chấp leo thang. Thứ hai là Việt Nam phải tìm kiếm sự hậu thuẫn từ phía Inđônêxia, Chủ tịch hiện thời của ASEAN. Mục đích là để quốc gia này lãnh đạo các thành viên ASEAN hình thành một lập trường thống nhất đối với Trung Quốc trong những phiên họp sắp diễn ra trong năm nay. Thứ ba là Việt Nam phải vận động những quốc gia hàng hải khác như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Ôxtrâylia để họ hậu thuẫn về mặt ngoại giao. Thứ tư là Việt Nam phải yêu cầu mở các cuộc hội đàm với các quốc gia hàng hải thân hữu để bàn về vấn đề duy trì chủ quyền đối với Vùng Đặc quyền Kinh tế của những nước này. Thứ năm là Việt Nam phải cải thiện tàu bè để tạo thuận lợi cho việc thông tin, liên lạc giữa các tàu thăm dò dầu khí và các nhà chức trách trong lĩnh vực hải quân và không quân. Mục đích của việc này nhằm hộ tống tàu tuần tra và yểm trợ bằng không quân cho các tàu dò tìm dầu khí của Việt Nam nếu như những tàu này bị tàu hải giám Trung Quốc đe doạ.

–                           Việt Nam có thể được ASEAN giúp đỡ để giải quyết tình hìn hay không, thưa ông?

+  Năm 2010, ASEAN và Trung Quốc đã xét duyệt Nhóm Công tác Hỗn hợp để thực thi bản ‘Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc’ (DOC). Mặc dù DOC đã được Trung Quốc và ASEAN ký hồi năm 2002, nhưng văn kiện này chưa bao giờ được thi hành. ASEAN đang hối thúc Trung Quốc tạo thêm điều kiện để bản quy tắc ứng xử có hiệu lực hơn. Tất cả những vấn đề này không có tiến triển và chỉ dậm chân tại chỗ.

Việt Nam phải cùng với Philippin và những quốc gia duyên hải khác hối thúc Trung Quốc thực hiện thêm các biện pháp để vấn đề này tiến triển. Điều mà ASEAN có thể làm là cố tìm ra được những động thái hành xử mà các bên liên quan có thể chấp nhận được và đưa ra những biện pháp để xây dựng niềm tin. Cuộc xung đột về lãnh thổ và chuỷ quyền chỉ có thể được giải quyết bởi các quốc gia có liên quan trực tiếp hoặc với sự đồng ý của những nước này và nhờ quốc tế làm trọng tài phân xử.

–                           Thế còn Mỹ thì sao? Việt Nam có thể được Mỹ giúp đỡ trong vấn đề này chứ, thưa Giáo sư?

+  Mỹ không theo phe nào trong vấn đề xung đột chủ quyền lãnh thổ. Vì vậy, tôi cho là Mỹ sẽ không trực tiếp can dự vào vấn đề song phương giữa Trung Quốc với Việt Nam. Mỹ đã chính thức đề nghị góp phần vào việc giải quyết cuộc tranh chấp. Tuy nhiên, phía Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị và xem đó như là sự can thiệp từ bên ngoài. Đại sứ Mỹ tại Philippin đã lên tiếng kêu gọi các bên hãy tự kiềm chế và giải quyết vấn đề một cách hoà bình.

Mỹ sẽ bảo vệ quyền an toàn và tự do hàng hải trong hải phận quốc tế. Tuy nhiên những hành động của Trung Quốc không đe doạ những khu vực này. Mỹ cũng sẽ chống lại bất kỳ nước nào khác muốn thiết lập quyền bá chủ tại Biển Đông.

Việt Nam không thể thực sự trông mong Mỹ giúp đỡ. Việt Nam không phải là nước ký hiệp ước đồng minh với Mỹ như Philippin, cũng không phải là đối tác chiến lược với Mỹ như Xinhgapo. Mặc dù Việt Nam đã đánh tiếng muốn đẩy mạnh công cuộc hợp tác quốc phòng với Mỹ, nhưng Mỹ quan ngại sẽ bị ‘lừa phỉnh’ trong cuộc tranh chấp song phương giữa Việt Nam với Trung Quốc.

Việt Nam đang gặp khó khăn vì đã nhượng bộ và chiều theo ý Trung Quốc trong thời gian quá dài trong khi đó họ lại do dự và miễn cưỡng trong việc phát triển mối quan hệ quốc phòng với Mỹ. Nếu như những mối quan hệ này được phát triển từ khoảng một thập niên qua thì giờ Việt Nam đã ở vị trí tốt hơn để hợp tác với Mỹ trong vấn đề này.

–                           Thưa Giáo sư, trong trường hợp xấu nhất nếu bùng nổ chiến tranh thì chính phủ Việt Nam sẽ trông cậy vào đâu để tiến hành chiến tranh và để được giúp đỡ?

+  Trong trường hợp đó thì trước tiên Việt Nam chỉ có thể trông cậy vào chính mình để bảo vệ quyền lợi của mình. Bên cạnh đó, ASEAN và cộng đồng quốc tế sẽ ngay lập tức chú ý tới Biển Đông nếu bất kỳ cuộc xung đột vũ trang nào xảy ra. Hai bên trong cuộc xung đột sẽ chịu áp lực rất lớn để ngừng giao tranh. Nếu Trung Quốc sử dụng vũ lực, uy tín nước này sẽ bị phương hại đồng thời ảnh hưởng chính trị của Bắc Kinh sẽ bị suy giảm. Ngoài ra, các quốc gia chính trong khu vực sẽ xích lại gần hơn với Mỹ và các đồng minh của nước này.

–                           Theo ông, người dân Việt Nam nghĩ gì về cách giải quyết vấn đề Biển Đông và biên giới của chính phủ nước này?

+  Biển Đông là vấn đề rất nhạy cảm ở Việt Nam. Kể từ cuối năm 2007, tinh thần dân tộc chống Trung Quốc của người dân Việt Nam bùng phát khi Trung Quốc thành lập huyện Tam Sa và về vấn đề khai thác bô xít. Trách nhiệm hành chính của huyện Tam Sa này bao trùm các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Trung Sa (Maclesfield Bank) . Quyền lợi thương mại của người dân và các ngành nghề ở Việt Nam liên quan tới việc đánh bắt hải sản bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Một số bộ phận trong giới trí thức ủng hộ chủ trương cho rằng chính phủ phải tỏ ra cứng rắn hơn trong việc đối phó với các yêu sách của Trung Quốc. Tinh thần chống Trung Quốc cũng xuất hiện trong một số bộ phận của giới truyền thông và các blogger. Công luận nay rõ ràng đang tạo áp lực và đòi chính quyền phải có lập trường cứng rắn hơn đối với Trung Quốc.

–                           Nhìn chung, người dân Việt Nam nghĩ gì về việc Chính phủ Việt Nam quan hệ với Trung Quốc?

+  Việt Nam và Trung Quốc đã bình thường hoá quan hệ hồi năm 1991. Từ đó tới nay, chính phủ và Đảng Cộng sản hai nước đã phát triển mối quan hệ sâu rộng. Đường biên giới trên đất liền đã được phân định và nay vùng biên giới hai nước đã biến đổi từ khu vực đối đầu thành khu vực hợp tác. Thương mại giữa biên giới hai nước đã phát triển mạnh có lợi cho người tiêu dùng Việt Nam. Vịnh Bắc Bộ đã được phân ranh giới và hai nước đã hợp tác với nhau trong vấn đề ngư nghiệp. Chính phủ hai nước tiếp tục tổ chức các cuộc thảo luận cấp chuyên gia để bàn về vấn đề Vịnh Bắc Bộ và những nguyên tắc dàn xếp các cuộc tranh chấp hàng hải. Từ xa xưa, người dân Việt Nam đã nhận thức rằng Trung Quốc là quốc gia láng giềng và dù muốn hay không thì họ vẫn phải chấp nhận thực tế đó.

Tuy nhiên, hiện nay có một số vấn đề khiến nhiều người lo ngại như mức thâm hụt thương mại giữa hai nước lên tới 13 tỷ USD nghiêng về phía có lợi cho Trung Quốc, việc Trung Quốc hiện đại hoá quân đội, việc công nhân Trung Quốc nhập cư bất hợp pháp vào Việt Nam, việc đầu tư của Trung Quốc ví dụ trong vấn đề bô xít và môi trường, hoặc việc Trung Quốc sách nhiễu ngư dân Việt Nam.

Thật khó có thể khái quát hoá suy nghĩ của người dân Việt về việc chính phủ nước này quan hệ với Trung Quốc. Lý do là vì ở Việt Nam không có các cuộc thăm dò dư luận. Tuy nhiên, rõ ràng một bộ phận lớn trong giới có học và những người hoạt động trong các ngành nghề liên quan tới đánh bắt hải sản muốn thấy chính phủ cương quyết hơn trong việc đối phó với Trung Quốc. Một số người trong hàng ngũ trí thức ở Việt Nam muốn hải quân Việt Nam được tăng cường thêm sức mạnh để có thể bảo vệ chủ quyền. Chính phủ Việt Nam đã phần nào đáp ứng đòi hỏi của người dân qua việc cho phép giới truyền thông loan tải thêm thông tin về quan hệ với Trung Quốc. Tuy nhiên, quan hệ giữa hai nước cần phải được giải quyết một cách khéo léo theo phương thức ngoại giao và đừng để bị ảnh hưởng bởi những xúc cảm nhất thời.

***

(Đài RFI 4/6)

Những hành động khiêu khích của Trung Quốc trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam diễn ra ngay trước thời điểm Đối thoại An ninh châu Á – Thái Bình Dương Shangri-La bắt đầu tại Xinhgapo. Ý đồ của Trung Quốc như thế nào, và liệu cục diện sẽ ra sao nếu tình hình tiếp tục căng thẳng? Giáo sư Chính trị học Nguyễn Mạnh Hùng, Đại học George Mason, Virginia, Mỹ đã trao đổi với RFI Việt ngữ về vấn đề này như sau:

–                           Giáo sư có nhận định thế nào về việc tàu hải giám Trung Quốc đã cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 ngay trên vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam? Đây có phải là một hành động khiêu khích vì Trung Quốc cho rằng Mỹ sẽ không phản ứng mạnh?

+  Đây là một hành động Trung Quốc gia tăng áp lực với Việt Nam, một hành động thăm dò.

–                           Một sự hiện diện thường xuyên ở Biển Đông liệu có nằm trong lợi ích của Mỹ không?

+  Mỹ là một cường quốc hải quân. Mỹ đã tuyên bố rất nhiều lần rằng Biển Đông là một vùng quan trọng đối với Mỹ, và họ rất quan tâm đến sự tự do lưu thông trên đường biển, an ninh hàng hải. Vì thế, Mỹ dĩ nhiên cần có sự hiện diện ở Biển Đông.

–                           Nhưng trong vụ quần đảo Sensaku giữa Trung Quốc và Nhật Bản trước đây, Mỹ đã có phản ứng cứng rắn.

+  Quần đảo Sensaku là chuyện khác. Quần đảo đó đã bị Nhật Bản chiếm và khai thác dầu ở đó. Trường hợp này, Mỹ phản ứng rất mạnh vì Nhật Bản là đồng minh quan trọng nhất của Mỹ ở vùng châu Á-Thái Bình Dương.

–                           Cả Mỹ và Trung đều coi trọng cuộc Đối thoại An ninh châu Á – Thái Bình Dương lần này, với sự hiện diện của hai vị Bộ trưởng Quốc phòng là Robert Gates và Lương Quang Liệt.

+  Lần này, Mỹ đã cử một phái đoàn rất hùng hậu đến hội nghị. Lần trước, tại hội nghị này, phái đoàn Trung Quốc đã bị đặt vào tình trạng bị áp đảo khi các quốc gia Đông Nam Á lên tiếng về vấn đề Biển Đông và Mỹ cũng lên tiếng về vấn đề này. Vì thế, lần này họ đã cử một phái đoàn quan trọng hơn với sự tham gia của Bộ Quốc phòng. Chính ông Gates đã phàn nàn rằng sự gây hấn là do quân đội chứ không phải do chủ trương của các nhà lãnh đạo Trung Quốc.

–                           Qua việc nhấn mạnh đến đối thoại hoà bình mới đây, thái độ của Mỹ trong hội nghị lần này không được mạnh mẽ lắm phải không?

+  Không, lập trường này đã có từ cuộc Đối thoại Shangri-La lần trước đến cuộc họp của các nước ASEAN sau đó. Lập trường của Mỹ cho đến nay vẫn là quan tâm đến những tranh chấp của Biển Đông, quan tâm đến tự do hàng hải của Biển Đông, và trong những tranh chấp giữa các quốc gia đó thì Mỹ không đứng về phía nào cả, nhưng Mỹ muốn những tranh chấp đó được giải quyết hoà bình. Lần trước, bà Hillary Clinton có nói Mỹ sẵn sàng đứng ra làm trung gian hoà giải nếu cần. Lập trường này đến bây giờ vẫn thế.

–                           Trung Quốc luôn đòi đối thoại song phương. Liệu những tiếng nói như của Việt Nam và Philippin có lạc lõng không?

+  Thật ra, Trung Quốc muốn đàm phán song phương để có thể “chia để trị”, nhưng Trung Quốc cũng đã nói rằng nếu có đa phương thì Trung Quốc cũng sẽ tham dự. Về phía Việt Nam thì lập trường rõ ràng rằng có những vấn đề song phương thì giải quyết song phương, ví dụ như Hoàng Sa chẳng hạn, còn những vấn đề đa phương thì phải có sự tham dự của các quốc gia khác như vấn đề Trường Sa. Lập trường đó là lập trường của các quốc gia ASEAN, có sự hợp tác giữa Malaixia, Việt Nam và Philippin. Nhưng ta có thể thấy rằng Trung Quốc thì tìm cách “chia để trị” nên Trung Quốc nhắm voà Philippin và Philippin yếu nhất, lập trường cũng không vững chắc.

–                           Inđônêxia là nước Hồi giáo đông dân nhất thế giới, có lẽ tại Đông Nam Á, Mỹ chú trọng quan hệ với Inđônêxia hơn là với Việt Nam  phải không?

+  Mỗi nước có một điểm quan trọng đặc biệt, Inđônêxia là nước Hồi giáo lớn, nên Mỹ chú trọng quan hệ với họ, sau một thời gian căng thẳng, bây giờ quan hệ giữa hai nước đã trở lại bình thường. Về phần Việt Nam, Việt Nam có một vị trí chiến lược rất đặc biệt bởi vì gần ngay Trung Quốc.

–                           Có phải vì đã tương đối rảnh tay hơn ở Irắc và Ápganixtan nên gần đây Mỹ quan tâm đến vùng Đông Nam Á nhiều hơn không?

+  Mỹ bắt đầu chú trọng Đông Nam Á từ cuối thời của Tổng thống Bush và đến thời Tổng thống Obama đã có những tín hiệu và hành động rõ rệt hơn. Gần đây, Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates có nói rõ dù có cắt giảm ngân sách thì sự quan tâm đến Biển Đông cũng không thay đổi.

–                           Liệu Việt Nam có thể trông đợi vào sự hỗ trợ của Mỹ không?

+  Về vấn đề Biển Đông thì giữa Việt Nam và Mỹ có mối quan tâm chiến lược chung. Việt nam quan tâm đến vấn đề bị Trung Quốc lấn lướt trên Biển Đông, còn Mỹ thì không muốn Trung Quốc biến Biển Đông thành cái hồ của Trung Quốc. Nếu Trung Quốc chế ngự được Việt Nam thì triển vọng đấy nhiều hơn. Vì thế, hai bên có quyền lợi chung như vậy, còn việc giúp đỡ đến đâu thì tuỳ thuộc quyền lợi của hai bên, tuỳ thuộc cả vào thái độ của Trung Quốc.

–                           Bây giờ, đặt giả thiết nếu Trung Quốc tấn công Việt Nam thì phản ứng sẽ như thế nào?

+  Nếu xảy ra như vậy thì Mỹ chưa chắc sẽ can thiệp bằng quân sự, chỉ có thể lớn tiếng phản đối, các nước Đông Nam Á cũng vậy. Nếu Trung Quốc làm việc đó thì nền ngoại giao của Trung Quốc trong Đông Nam Á sẽ bị ảnh hưởng, thiệt hại rất nhiều, sẽ bị lên án trên toàn thế giới.

–                           Dù hải quân Trung Quốc có mạnh hơn, chiếm đựơc các đảo của Việt Nam đi nữa thì theo giáo sư, đó là một hành động “lợi bất cập hại” phải không?

+  Điều đó còn tuỳ vào sự tính toán của Trung Quốc, nếu Trung Quốc chiếm hiết đảo thì Việt Nam thiệt hại rất lớn về mọi phương diện. Việc chiếm đảo của Trung Quốc chắc chắn sẽ gây mâu thuẫn và bộ mặt của Trung Quốc trên thế giới với khẩu hiệu “Phát triển hoà bình” không còn được người ta tin tưởng nữa, và các quốc gia Đông Nam Á chắc chắn sẽ ngày càng nghiêng về Mỹ để chống lại Trung Quốc. Vậy là, có thể Trung Quốc sẽ thắng lợi về quân sự nhưng thiệt hại về ngoại giao, chính trị, và có thể là cả kinh tế nữa.

–                           Bên cạnh việc củng cố sự hiện diện của quân đội ở Đông Nam Á thì Mỹ có thể nghĩ đến việc hỗ trợ các nước nhỏ trong vùng để tự vệ không?

+  Vào tháng 7/2009, trong cuộc thuyết trình trước quốc hội, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ, cũng như Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đều nói rằng đang tìm cách tăng cường liên lạc đối tác về phương diện chiến lược với các quốc gia Đông Nam Á. Chúng ta thấy rằng quan hệ đã được tăng cường rất nhiều.

–                           Trong sự kiện Biển Đông vừa rồi, có vẻ là Việt Nam bị cô lập phải không?

+  Tôi không nghĩ Việt Nam bị cô lập. Trong sự kiện vừa rồi, Việt Nam là nạn nhân, các quốc gia đều nghĩ Trung Quốc có thể đe doạ Việt Nam thì cũng có thể đe doạ mình vì vậy khối ASEAN chắc chắn phải lên tiếng, Mỹ chắc chắn phải có phản ứng./.

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Tagged: , , , , , , , , , | 3 Comments »

Mỹ tăng cường thế bao vây Trung Quốc và biện pháp ứng phó của Bắc Kinh

Posted by adminbasam on 25/07/2009

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Mỹ tăng cường thế bao vây Trung Quốc và biện pháp ứng phó của Bắc

Kinh

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Sáu, ngày 24-7-2009

 

Thời gian gần đây, trước sự điều chỉnh chiến lược quân sự của Mỹ và tình hình diễn biến phức tạp ở Triều Tiên, Afghanistan, Pakistan, Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông], có nhiều dư luận cho rằng Mỹ đang tăng cường thế bao vây đối với Trung Quốc. Phản ánh xung quanh vấn đề này, bài viết đăng trên Mạng Tin tức Quốc phòng của Trung Quốc mới đây bình luận:

1. Lý do đòi hỏi Mỹ phải có điều chỉnh chiến lược

Khu vực châu Á-Thái Bình Dương là khu vực có vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của một số nước châu Á, đặc biệt là Trung Quốc đang đe doạ đến vị trí chiến lược của Mỹ ở khu vực này. Tình hình bán đảo Triều Tiên đang rất căng thẳng trước thái độ cứng rắn của các nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên, đặc biệt là sau khi nước này thử hạt nhân và liên tiếp phóng tên lửa. Tình hình Biển Nam Trung Hoa đang có diễn biến rất phức tạp, tranh chấp giữa các nước xung quanh ngày càng trở nên quyết liệt, nhất là từ sau ngày 13/5/2009, thời hạn các nước đệ trình dự án thềm lục địa ngoài 200 hải lý lên Liên hiệp quốc.

Từ đầu năm 2008 đến nay, Taliban quay trở lại, phát động tấn công quy mô lớn ở khu vực miền Nam Afghanistan, trên thực tế nó đã khống chế rất nhiều khu vực, đã hình thành thế bao vây đối với thủ đô Cabun. Vấn đề càng trở nên nghiêm trọng là ảnh hưởng của Taliban nhanh chóng phục hồi và ngày càng lớn mạnh đối với các khu vực của Afghanistan, phạm vi hoạt động đã vượt qua biên giới kép dài đến nội địa Pakistan. Thế lực của Taliban ở Pakistan cũng phát triển vô cùng mạnh mẽ, Taliban ở Pakistan và Afghanistan đã bắt tay nhau, dẫn đến tình hình an ninh ở khu vực này ngày càng căng thẳng. Ngoài ra, Taliban ở Pakistan không những liên tiếp vượt biên giới tập kích quân đội Mỹ và NATO ở Afghanistan mà còn tăng cường tập kích tuyến cung cấp hậu cần cho quân đội Mỹ và NATO. Sự trỗi dậy của Taliban ở hai nước này cũng tạo môi trường thuận lợi cho Al-Qaeda.

Trong tình hình mạng lưới Al-Qaeda ở Iraq bị tấn công nghiêm trọng, các t chức Al-Qaeda ở một số khu vực khác ngoài Iraq và Trung Đông cũng bắt đầu mở rộng hoạt động và cũng đã có một bộ phận đến Afghanistan. Theo số liệu thống kê, năm 2008, thương vong của quân đội Mỹ đóng tại Afghanistan đã tăng lên 35%. Là biểu tượng cho thành quả chống khủng b của Mỹ, Washington không cho phép Afghanistan sụp đổ. Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, Michael Mullen đặc biệt nhấn mạnh “thành công của Taliban trực tiếp đe doạ an ninh và lợi ích của Mỹ”. Giành thắng lợi trong cuộc chiến Afghanistan vẫn là nhiệm vụ quan trọng cơ bản của Mỹ.

Trước tình hình như vậy, đòi hỏi Mỹ phải có điều chỉnh chiến lược quân sự nhằm bố trí lại lực lượng để thực hiện mục tiêu chiến lược của mình.

2. Điều chỉnh chiến lược của Mỹ đã hình thành vòng vây quân sự xung quanh Trung Quốc

Cùng với việc điều chỉnh chiến lược quân sự, quân đội Mỹ mượn danh nghĩa chống khủng bố để không ngừng gia tăng ảnh hưởng quân sự đối với các nước xung quanh Trung Quốc. Giới truyền thông cho rằng hành động này của quân đội Mỹ là nhằm tiến hành khống chế chiến lược mới đối với Trung Quốc.

Mặc dù tình hình Đài Loan có xu hướng hoà hoãn, ổn định và đã làm giảm áp lực can thiệp quân sự của Mỹ đối với quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan, nhưng trước tình hình căng thẳng ở bán đảo Triều Tiên, với danh nghĩa là giữ lời hứa bảo vệ đồng minh Nhật Bản và Hàn Quốc, Mỹ đã tăng cường lực lượng và trang bị phương tiện ở hai nước này để đối phó với Bắc Triều Tiên. Đây cũng chính là cơ hội để Mỹ mở rộng phạm vi ảnh hưởng vào sâu trong trung tâm chiến lược của Trung Quốc ở khu vực Viễn Đông, tức là chuyển từ “phong tỏa chuỗi đảo” đối với Trung Quốc ở khu vực Viên Đông sang “áp chế chiến lược” phạm vi ngày càng lớn đối với Trung Quốc.

Để đối phó với tình hình diễn biến hết sức phức tạp ở Afghanistan, chính quyền Obama đã nhanh chóng đưa ra quyết định rút quân có trật tự tại Iraq và tăng thêm 17.000 quân đến Afghanistan để dần dịch chuyển trọng tâm chiến lược và mặt trận chống khủng bố quốc tế do Mỹ lãnh đạo từ Trung Đông, Tây Á đến Afghanistan và Pakistan. Mục đích chủ yếu của chiến lược mới này là tăng thêm lực lượng ở Afghanistan, ủng hộ và tăng cường tác dụng tấn công quân sự của Pakistan, gia tăng viện trợ phi quân sự và động viên lực lượng quốc tế tham gia đối với Pakistan và Afghanistan, đồng thời tăng cường sự hợp tác với hai nước này.

Có bình luận phân tích kế hoạch chống khủng bố ở Afghanistan và Pakistan của chính quyền Obama không phải là mục đích duy nhất của chiến lược dịch chuyển về phía Đông của Mỹ, mà còn có lợi ích chiến lược địa duyên. Là một siêu cường, việc kiểm soát được Afghanistan là mong muốn của Mỹ nhiều năm nay. Trên cơ sở chiếm lĩnh Afghanistan, để tiến vào Pakistan, từ đó tăng cường sự tồn tại của quân đội Mỹ ở vành đai quan trọng Á-Âu, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, mượn sự điều chỉnh này để khống chế Trung Quốc. Đây là một trong những mục tiêu phức tạp và lâu dài của Mỹ.

Đông Nam Á là khu vực vô cùng quan trọng trong chiến lược châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ, mặc dù Mỹ tuyên bố không trực tiếp can dự vào tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa, nhưng Mỹ sẽ không bỏ qua quyền lợi của mình ở khu vực biển Nam Trung Hoa. Xuất phát từ mục tiêu chiến lược của mình, Mỹ đã tăng cường đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các nước ASEAN nhằm duy trì sự có mặt của quân đội Mỹ ở Đông Nam Á. Trong những năm gần đây, diễn tập quân sự của quân đội Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương không ngừng gia tăng, điều này đánh dấu Mỹ bắt đầu mượn diễn tập quân sự liên tục để từng bước hoàn thiện bố trí chiến lược ở khu vực này. Mỹ cũng đã tiến hành diễn tập quân sự liên hợp với một số nước tại biển Nam Trung Hoa. Ngày 18/6/2009, Mỹ đã tiến hành cuộc diễn tập “CARAT-2009″ với các nước Philippines, Singapore, Bruney, Thái Lan, thời gian dài ba tháng với quy mô chưa từng thấy trong diễn tập hàng năm. Các học giả cho rằng hải quân Mỹ đã cử 4 tàu chiến đến cùng với hải quân 6 nước Đông Nam Á diễn tập liên hợp quân sự là điều chưa từng có trong lịch sử nhằm mục đích thông qua diễn tập tăng cường khả năng tác chiến liên hợp với các nước đồng minh, duy trì quân đội Mỹ ở tiền duyên khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đe doạ đối thủ chiến lược tiềm tàng.

Xuất phát từ mục đích chính trị của các bên, hợp tác quân sự giữa Mỹ và Việt Nam gần đây ngày càng xích lại gần nhau. Theo tin mới nhất mà quân đội Mỹ tiết lộ, mùa Thu năm nay, không quân Mỹ sẽ đến Việt Nam triển khai diễn tập tìm kiếm cứu nạn. Đây là lần đầu tiên không quân Mỹ đến Việt Nam kẻ từ sau khi chiến tranh kết thúc, cũng là lần đầu tiên hành động loại này được thực hiện trong nội địa Việt Nam. Theo nguồn tin trên mạng của chính phủ Mỹ, gần đây Mỹ và Việt Nam đã tiến hành “đối thoại chính trị và quốc phòng an ninh” lần thứ hai tại Washington. Sau hội đàm, hai bên đã ra “tuyên bố chung” nhấn mạnh “sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác, thúc đẩy hoà bình, ổn định và an ninh ở châu Á-Thái Bình Dương”, vấn đề “làm thế nào để tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa quân đội hai nước” cũng được đưa vào trong nghị trình. Đây là điều không thể coi thường.

Theo đánh giá của giới chuyên gia, hiện nay Mỹ đang có nhu cầu thuê lại quân cảng Cam Ranh, nếu trở thành hiện thực, Mỹ sẽ có 3 căn cứ xung quanh biên Nam Trung Hoa, cộng với căn cứ Guam và căn cứ hải quân ở Singapore, hình thành thế bao vây tam giác ở biển Nam Trung Hoa. Mỹ cũng sẽ sớm xây dựng 2 “chuỗi đảo” chiến lược ở Thái Bình Dương, nếu như Mỹ thuê được căn cứ hải quân Cam Ranh của Việt Nam, sẽ góp chặt yết hầu ở biển Nam Trung Hoa. Sức khống chế và khả năng điều động binh lực của căn cứ Cam Ranh đều cao hơn tất cả mọi căn cứ hải quân của Trung Quốc đối với bất cứ một đảo bãi nào ở biển Nam Trung Hoa.

Phía Tây Bắc Trung Quốc, NATO cũng đã có mặt. Trong tháng 5/2009, NATO đã tiến hành diễn tập quân sự tại Grudia. Các nhà bình luận quân sự quốc tế cho rằng mặc dù các cuộc diễn tập quân sự này là của NATO, nhưng các nước chủ yếu của NATO như Đức, Pháp, Italia không tham gia. Ngược lại, các nước tham gia diễn tập, đại bộ phận là các nước cộng hòa thuộc Liên Xô trước đây như Grudia, Ukraina, còn có một bộ phận là của các nước khối Warsava trước đây như Hungari, Séc. NATO mở rộng về phía Đông, không những mở đến cửa ngõ nước Nga, mà còn mở rộng đến cửa ngõ Trung Quốc. Ngoài ra, ở Đông Nam Á còn có “bóng dáng của NATO”, đó là đồng mình quân sự Mỹ-Nhật-Hàn, hiện nay còn có thêm Austraylia, Ấn Độ.

Như vậy, điều chỉnh chiến lược của Mỹ đã hình thành thế bao vây đối với Trung Quốc, vòng vây “hình mặt trăng mới” mà Mỹ xây dựng hình như không giảm, mà ngày càng thắt chặt, hiện chỉ còn thiếu mỗi khu vực phía Bắc của Trung Quốc.

3. Trung Quốc ứng phó với điều chỉnh chiến lược của Mỹ

Giới học giả Trung Quốc cho rằng bất kể ý đồ chiến lược của Mỹ như thế nào, nhưng cuối cùng khu vực điểm nóng nhạy cảm toàn cầu hiện đã xuất hiện hòa hoãn xung đột quân sự và cân bằng chiến lược tạm thời. Trung Quốc nên dựa theo thời thế, nắm chắc cơ hội để thực hiện mục tiêu chiến lược trỗi dậy hòa bình, tranh thủ điều chỉnh bố trí chiến lược của Mỹ, tích cực tiến hành ứng phó chiến lược toàn diện, xây dựng nước giàu quân mạnh. Chủ yếu chú ý tới một số mặt chiến lược sau:

– Lợi dụng thái độ của Mỹ yêu cầu Trung Quốc cứu trợ kinh tế, lấy chiến lược “thực lực kinh tế khôn khéo” để ứng phó với “thực lực ngoại giao khôn khéo” của Mỹ, lấy Hội nghị thượng đỉnh G20 và chấn chỉnh lại IMF làm đột phá khẩu, tranh thủ mở rộng quyền được tuyên bố của Trung Quốc trong các vấn đề kinh tế quốc tế, nhanh chóng mở rộng ảnh hưởng của đồng nhân dân tệ ở Đông Nam Á, dẫn đến có sức ảnh hưởng quốc tế, đẩy nhanh tiến trình quốc tế hóa đồng nhân dân tệ. Lấy thực lực kinh tế mạnh mẽ để xây dựng và củng cố hệ thống quốc phòng, an ninh ổn định vững chắc.

– Đẩy nhanh tiến trình phát triển hòa bình và thống nhất Đại Trung Hoa đối với hai bờ eo biển Đài Loan. Tăng cường toàn diện hiệp thương, lôi kéo và hợp tác giữa Hiệp hội quan hệ hai bờ và Quỹ giao lưu hai bờ, hợp tác và hội nhập quốc tế, từng bước thúc đẩy sự tin cậy lẫn nhau, hiệp thương và hợp tác chính trị, quân sự giữa hai bờ eo biển Đài Loan. Chú trọng tới trỗi dậy hòa bình của Đại Trung Hoa, liên hợp xây dựng hệ thống phòng ngự quân sự ở biển Hoa Đông và Viễn Đông lớn mạnh, để làm suy yếu khả năng đe doạ và quẫy nhiễm quân sự của Mỹ-Nhật ở khu vực Viên Đông.

– Tăng cường và làm sâu sắc hơn hợp tác chống khủng bố của Trung Quốc, Nga, Tổ chức hợp tác Thượng Hải tại Afghanistan. Ngăn chặn tác động và ảnh hưởng quân sự của Mỹ ở khu vực, hỗ trợ cho việc hình thành thế cân bằng chiến lược mới và tăng cường ngăn chặn sự quấy phá và mở rộng của thế lực “Đông Thổ” để có lợi cho hòa bình và ổn định ở khu vực này. Đồng thời phải đẩy nhanh việc xây dựng đường ống dẫn dầu chiến lược từ Myanma đến Vân Nam.

– Sớm tăng cường xây dựng chiến lược hiện đại hóa lực lượng quân sự và hệ thống phòng ngự quân sự lớn mạnh trên biển để tăng cường quyền khống chế trên biển. Phải phát huy sức ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các nước ASEAN, đưa các nước có liên quan trở lại khuôn khổ nguyên tắc “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông”, để ràng buộc hành vi của các nước này. Đồng thời phải tập trung phát triển lực lượng phòng vệ quân sự biển xa hùng mạnh, nhanh chóng thu hồi lãnh thổ bị chiếm đóng và bảo vệ vững chắc an ninh quốc phòng trên vùng biển rộng lớn của Trung Quốc.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

Hoa Kỳ trở lại châu Á

Posted by adminbasam on 24/07/2009

South China Morning Post

Hoa Kỳ trở lại châu Á, Ngoại trưởng Clinton tuyên bố

Washington bênh vực cho các mối quan hệ cũ, tiến tới với những mối quan hệ mới nhằm đối chọi với ảnh hưởng của Bắc Kinh

Greg Torode, Trưởng đại diện tại Á châu

Ngày 23-7-2009

 

Bài phát biểu hôm qua của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hyllary Rodham Cllinton về khu vực này rằng “Hoa Kỳ đang trở lại” có thể có ý nghĩa nhiều hơn là một lối cường điệu về động thái đó – mặc dù nó vẫn được củng cố bằng những khuynh hướng mang tính chiến lược được thực hiện khắp khu vực Đông nam Á.

Bằng việc Bắc Kinh đang có những mối quan hệ được cải thiện với lần lượt từng quốc gia Đông nam Á trong khoảng một thập kỷ qua, thì Washington cảm thấy đã đến lúc phải “cân bằng lại”, và lặng lẽ tranh thủ các mối quan hệ hữu nghị mới và ve vãn các đồng minh cũ lần nữa.

Sự hiện diện của bà Clinton tại hội nghị thường niên của khối Asean nổi tiếng thiếu sinh lực đơn thuần là một dấu hiệu cho những bước phát triển đó.

Nếu như xu hướng này là hiển nhiên trong suốt những năm tháng suy tàn dưới nhiệm kỳ tổng thống George W. Bush, thì nó đang được gia tăng xung lượng dưới chính quyền Tổng thống Barack Obama. Những mối gắn kết từ lâu với Indonesia, Thái Lan và Malaysia đang được đánh bóng, trong khi những mối quan hệ với Việt Nam, từng là một kẻ thù cay nghiệt, đang nồng ấm đáng chú ý.

Washington cũng đang xem xét lại cách tiếp cận của mình với những viên tướng lĩnh ngoan cố cai trị Myanma và đang tìm cách làm sao gần gũi hơn với khu vực này nhằm thúc đẩy sự thay đổi trong chế độ cai trị khó chịu nhất ở Đông nam Á đó. Thêm nữa, nhìn chung Hoa Kỳ đang cố gắng lưu lại trên sân khấu khu vực này, để cuối cùng tiến tới ký kết Hiệp ước Hợp tác và Hữu nghị với Hiệp hội Các quốc gia Đông nam Á – một cam kết giúp giải quyết các tranh chấp trong khu vực một cách hòa bình.

“Thông điệp mà chúng tôi đang nhận được từ khu vực này là đã đến lúc,” một quan chức trong chính phủ Obama tuyên bố. “Không có nước nào mang ý muốn quay lưng lại với Trung Quốc, song chúng tôi đang nhận được cảm giác mạnh mẽ rằng họ muốn cân bằng lại.

“Họ biết Hoa Kỳ vẫn quan trọng về lâu dài và đang vươn tay ra xa hơn và chúng tôi đang cố gắng đảm bảo chắc chắn là chúng tôi đáp ứng nhiệt tình. Đây là một cơ hội mà chúng tôi không thể bỏ lỡ.”

Cuộc trò chuyện riêng với các nhà ngoại giao kỳ cựu của Đông nam Á và các câu chúc tụng xã giao sẽ để lại tiếng vang. Trong một thế giới đa phương thì điều này là quan trọng để thông cảm được với tất cả các cường quốc trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc và Hoa Kỳ. Bất cứ mối quan hệ nào với một cường quốc mới đang nổi lên, ví như Trung Quốc, đều phải được cân bằng với một nguồn sức mạnh truyền thống, là Hoa Kỳ.

“Để cho một khu vực được ổn định trong tương lai, chúng ta sẽ cần tới cả hai và tôi nghĩ hai gã lớn đầu này đều hiểu được điều đó,” một phái viên của Thái Lan nhận xét.

Tuy nhiên, các nước khác thì thẳng thừng hơn, họ khơi gợi rằng Trung Quốc đã mạo hiểm khi sơn phết che giấu bàn tay mình sau một thập kỷ được tín nhiệm. Xác nhận mới đây của Bắc Kinh đối với các yêu sách chủ quyền bao quát rộng lớn trên Biển Đông [Biển Nam Trung Hoa] là một ví dụ như vậy.

Cam kết của Hoa Kỳ trong khu vực này tỏ rõ sắc thái cao độ đem đến tính đa dạng về chính trị và văn hóa của nó.

Mối quan hệ với Indonesia – một câu chuyện thành công về dân chủ đáng kinh ngạc – là một sự đảm bảo chắc chắn cho việc thu hút sự chú ý đáng kể trong nửa năm sau này. Washington hăng hái loan báo tính hiệu quả của nước này không phải chỉ là một quốc gia Hồi giáo đông dân nhất trên thế giới mà còn nằm trong số nước ôn hòa nhất và là đất nước đã xử lý thành công chủ nghĩa khủng bố. Phần cuối của kịch bản đó rõ ràng đang được viết lại trong sự phục hồi các cuộc đánh bom ở Jakarta vào tuần trước.

Tiếp theo là tác dụng đòn bẩy độc nhất vô nhị từ ông Obama, người đã trải qua một phần thời thơ ấu của mình tại Jakarta và như một hệ quả, người ta có thể cho rằng ông là chính khách gần gũi với quần chúng nhất tại đất nước này.

Ông Obama cũng không muốn hờ hững với nước láng giềng liền đó là Malaysia. Ông đã nhấn mạnh vai trò của nước này như là tiếng nói hàng đầu về lòng khoan dung có liên quan tới Hồi giáo trong bài phát biểu của ông ở Cairo mới đây trước thế giới Hồi giáo.

Ít rõ ràng song lại gây ấn tượng hơn nữa là mối quan hệ về quân sự mới ra ràng của Việt Nam với Hoa Kỳ. Vào tháng Tư, các quan chức quân sự Việt Nam đã tụ tập tại phi trường Tân Sơn Nhất Thành phố Hồ Chí Minh – từng là một biểu tượng cho cuộc xung đột của Mỹ với Hà Nội – và bay ra một chiếc hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ.

Và mới tuần trước, vị đại diện ngoại giao tại Á châu của Washington, ông Scott Marciel, đã có một động thái khác thường khi biểu thị mối quan ngại về những căng thẳng trong khu vực trên Biển Đông, nơi cư ngụ của một đội tầu ngầm Trung Quốc đang được khai triển. Ông đặc biệt đề cập đến những cảnh báo của Trung Quốc đối với các công ty dầu lửa Hoa Kỳ đã tham gia vào những thỏa thuận khai thác hợp pháp với Việt Nam.

“Trong nhiều năm qua, chúng tôi đã và đang thúc giục họ, và xin nói thẳng là họ đã không không đáp lại điều đó,” một quan chức từ Ngũ Giác Đài đã nói về các đối tác Việt Nam như vậy. “Giờ đây họ đang đóng vai trò chính. Họ muốn nâng cấp độ trao đổi đôi bên.”

Kế đến có Thái Lan. Những đảm bảo từ lâu với đời sống được dẫn lối chỉ đường tại một trong những quốc gia tự do nhất, dân chủ nhất trong khu vực đang đi đến chấm dứt khi vị vua được tôn kính, Vua Bhumibol Ađulydej, bước vào buổi hoàng hôn trong triều đại đã kéo dài của mình. Bắc Kinh cũng có những mối quan hệ lâu năm và sâu sắc với giới tinh hoa ở Bangkok.

Cả Bắc Kinh và Washington đều đang để mắt tới nhau một cách thận trọng quanh vấn đề Thái Lan và bà Clinton sẽ tìm cách chống đỡ cho vị thế của Hoa Kỳ trong thời gian bà lưu lại Thái Lan vào tuần này.

Trong khi bà có thể tuyên bố công khai rằng Hoa Kỳ đang trở lại, thì lặng lẽ hơn, các nhà ngoại giao ở Washington đang cố gắng cho thấy rằng họ chưa bao giờ thực sự từ bỏ mục tiêu này.

Hiệu đính: Trần Hoàng

———————

 

South China Morning Post
July 23, 2009 Thursday

US is back in Asia, says Clinton

Washington to bolster old ties, forge new ones to match Beijing’s influence

Greg Torode, Chief Asia correspondent

US Secretary of State Hillary Rodham Clinton’s statement to the region yesterday that “the United States is back” may have more than a touch of hype about it – yet it is still underpinned by strategic trends under way across Southeast Asia.

With Beijing having improved ties one by one with every Southeast Asian nation over the last decade or so, Washington senses the time is right to “rebalance”, and is quietly courting new friendships and wooing old allies anew.

Mrs Clinton’s presence at the annual meeting of the notoriously limp Asean is merely one sign of such developments.

If the trend was apparent during the waning years of George W. Bush’s presidency, it is picking up momentum under President Barack Obama.  Long-established ties with Indonesia, Thailand and Malaysia are being burnished, while relations with Vietnam, formerly a bitter enemy, are noticeably warming.

Washington is also reviewing its approach to the recalcitrant generals running Myanmar and is seeking to work more closely with the region to force change in Southeast Asia’s most unpalatable regime. Collectively, too, the US is trying to stay on board, finally moving to sign the Association of Southeast Asian Nations’ Treaty of Amity and Co-operation – a commitment to helping to peacefully solve regional disputes.

“The message we are getting from the region is that the time is right,” one Obama administration official said. “No one is wanting to turn away from China, but we are getting the strong sense that they want to rebalance.

“They know the US remains important long term and are reaching out ? and we are trying to make sure we are responsive. It is an opportunity we cannot miss.”

Talk privately with veteran Southeast Asian diplomats and the sentiment is echoed. In a multilateral world it is important to rub along with all regional powers, particularly China and the US, the thinking goes. Any relationship with an emerging new power, such as China, must be balanced with a traditional source of strength, the US.

“For a stable region in the future, we are going to need both ? and I think the two big guys understand that,” one Thai envoy said.

Others are blunter, however, suggesting China risks overlaying its hand after a decade of goodwill. Beijing’s recent confirmation of its sweeping claims in the South China Sea is one such example.

US engagement in the region is highly nuanced given its political and cultural diversity.

The relationship with Indonesia – a surprising democratic success story – is one certain to garner considerable attention in the latter half of the year. Washington is keen to trumpet its virtues as not only the world’s most populous Muslim country, but among the most moderate and one that has successfully tackled terrorism. The last part of that script is obviously being rewritten in the wake of last week’s Jakarta bombings.

Then there is the unique leverage of Mr Obama, who spent part of his childhood in Jakarta and is arguably the most popular politician in the country as a result.

Mr Obama does not want to neglect neighbouring Malaysia either. He highlighted its role as a leading voice of relative Islamic tolerance in his recent Cairo speech to the Muslim world.

Less visible but equally striking is Vietnam’s fledgling military relationship with the United States. In April, Vietnamese military officials gathered at Ho Chi Minh City’s Tan Son Nhut airport – once a symbol of America’s conflict with Hanoi – and were flown out to a US aircraft carrier.

And just last week, Washington’s Asean envoy, Scott Marciel, made the unusual move of expressing concern about regional tensions in the South China Sea, home to an expanding Chinese submarine fleet. He specifically mentioned China’s warnings to US oil firms engaged in legal exploration deals with Vietnam.

“For many years, we’ve been push ing them, and frankly they haven’t been that responsive,” one Pentagon official said of his Vietnamese counterparts. “Now they are taking the lead. They want to lift the level of exchanges.”

Then there is Thailand. The old certainties that have guided life in one of the region’s freest, most democratic nations are ending as the revered monarch, King Bhumibol Adulyadej, enters the twilight of his long reign. Beijing also has old and deep ties with Bangkok’s elite.

Both Beijing and Washington are eyeing each other warily over Thailand and Mrs Clinton will be seeking to shore up the US position during her stay in Thailand this week.

While she may be saying publicly that the US is back, more quietly, Washington’s diplomats are trying to show that they never really left

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | Tagged: , , | Leave a Comment »

Hoa Kỳ “quan ngại” căng thẳng trên biển giữa TQ-VN

Posted by adminbasam on 16/07/2009

Hãng thông tấn Pháp AFP

Hoa Kỳ “quan ngại” về những căng thẳng trên biển giữa Trung Quốc

Việt Nam

Ngày 16-7-2009

 

WASHINGTON (AFP) – Hôm qua thứ Tư, một quan chức Hoa Kỳ đã bày tỏ mối quan ngại về những căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam trên vùng Biển Đông [Biển Nam Trung Hoa] giàu tài nguyên và ông đã hứa sẽ bảo vệ các công ty dầu lửa của Hoa Kỳ đang hoạt động trong vùng.

Song quan chức bộ Ngoại giao này, ông Scot Marciel, cho biết Hoa Kỳ sẽ không đứng về bên nào trong những cuộc tranh chấp vô số các hòn đảo liên quan tới Trung Quốc và các nước láng giềng của họ bao gồm Nhật Bản, Philippines và Việt Nam.

Tường trình trước Quốc hội, ông Marciel nói rằng Bắc Kinh đã yêu đầu Hoa Kỳ và các công ty dầu nửa nước ngoài hãy ngưng công trình hợp tác với các đối tác Việt Nam trên Biển Đông hoặc phải đối mặt với những hậu quả trong các thỏa thuận thương mại tại Trung Quốc có nhiều mối lợi.

“Chúng tôi phản đối bất kỳ nỗ lực nào đe doạ tới các công ty của Hoa Kỳ,” ông Marciel, một phó trợ lý ngoại trưởng phụ trách châu Á, đã báo cáo trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện.

“Chúng tôi cũng đã thúc giục tất cả các bên có yêu sách thể hiện sự kiềm chế và tránh có những hành động gây hấn để giải quyết những tuyên bố chủ quyền đang gây tranh cãi,” ông nói.

Trung Quốc, quốc gia vốn có những mối quan hệ căng thẳng với Việt Nam trong lịch sử, đã cai quản quần đảo Hoàng Sa từ năm 1974 khi nước này tràn lên chiếm một tiền đồn của Nam Việt Nam ngay trước khi kết thúc cuộc Chiến tranh Việt Nam.

Những đảo này – được biết đến dưới cái tên Trung Quốc là Xisha – được xem như là những tiền đồn có ý nghĩa chiến lược với những nguồn dự trữ dầu lửa và khí thiên nhiên rộng lớn tiềm tàng, và là những vùng biển giàu hải sản.

Tình hình căng thẳng nổi lên vào đầu năm nay khi Việt Nam bổ nhiệm một “chủ tịch” cho một bộ máy chính quyền để cai quản quần đảo đang tranh chấp này.

“Chính sách của Hoa Kỳ tiếp tục thể hiện là chúng tôi không đứng về bên nào trong những yêu sách pháp lý đang tranh cãi về chủ quyền lãnh thổ trên Biển Đông này,” ông Marciel nói.

Trung Quốc tranh cãi về Diao, hay còn gọi là Senkaku, chuỗi đảo mà Nhật Bản cùng với Đài Loan đều tranh chấp, là nơi mà Bắc Kinh cũng yêu sách chủ quyền toàn bộ.

Ngoài ra, chuỗi đảo Trường Sa giàu dầu khí tiềm tàng đã bị tuyên bố chủ quyền toàn bộ hoặc từng phần bởi Brunei, Trung Quốc, Malyasia, Philippines, Đài Loan và Việt Nam.

Hiệu đính: Trần Hoàng

—————-

 

AFP

US ‘concerned’ on China-Vietnam sea tensions

6 hours ago

WASHINGTON (AFP) — A US official voiced concern Wednesday about tensions between China and Vietnam over the resource-rich South China Sea and pledged to defend US oil companies operating in the region.

But State Department official Scot Marciel said the United States would not take sides on the myriad island disputes involving China and its neighbors including Japan, the Philippines and Vietnam.

Testifying before Congress, Marciel said that Beijing has told US and other foreign oil companies to halt work with Vietnamese partners in the South China Sea or face consequences in their business dealings in lucrative China.

“We object to any effort to intimidate US companies,” Marciel, a deputy assistant secretary of state handling Asia, told the Senate Foreign Relations Committee.

“We have raised our concerns with China directly. Sovereignty disputes between nations should not be addressed by attempting to pressure companies that are not party to the dispute,” he said.

“We have also urged that all claimants exercise restraint and avoid aggressive actions to resolve competing claims,” he said.

China, which has historic tensions with Vietnam, has administered the Paracel islands since 1974 when it overran a South Vietnamese outpost shortly before the end of the Vietnam War.

The islands — known as the Xisha by China — are considered strategic outposts with potentially vast oil and gas reserves, and rich fishing grounds.

Tension mounted earlier this year when Vietnam named a “president” for a government body overseeing the disputed archipelago.

“US policy continues to be that we do not take sides on the competing legal claims over territorial sovereignty in the South China Sea,” Marciel said.

China disputes the Diaoyu, or Senkaku, chain with Japan along with Taiwan, which Beijing also claims as a whole.

Separately, the potentially oil-rich Spratly island chain is claimed entirely or in part by Brunei, China, Malaysia, the Philippines, Taiwan and Vietnam.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

 

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

Vờ kêu cứu

Posted by adminbasam on 03/06/2009

New York Times

Vờ kêu cứu

PHILIP BOWRING

Ngày 2-6-2009

 

HÀ NỘI – Thế giới lại vang lên những lời chỉ trích mang tính nghi thức về những vụ thử vũ khí hạt nhân và tên lửa của Bắc Triều Tiên, thế nhưng các nhận thức của họ về việc này thì khác nhau.

Ở phương Tây, những vụ thử bắn thử phi đạn và vũ khí hạt nhân này được xem như là một mối đe doạ lớn cho việc cắt giảm và hạn chế những vũ khí hạt nhân cũng như gây sự hăm dọa đối với Nam Triều Tiên, Nhật Bản và thậm chí cả Hoa Kỳ.

Ở đa số các nước phương Đông, những vụ này được xem như là một thái đô thô bạo đối với phương Tây và như là một hành động trong nổ lực nhằm đạt được sức mạnh  thành công hơn là một mối đe doạ đối với hòa bình.

Ngược lại, Biển Đông [Biển Nam Trung Hoa], nơi mà các quyền lợi của cường quốc lớn xung đột nhau, đang được nhìn nhận như có tính chất nguy hiểm cực độ hơn.

Cảm giác rất phổ biến tại châu Á thì cũng rất gần giống với cảm giác của Mỹ, Trung Quốc và Nhật, là Bắc Hàn không gây ra nhiều tổn hại thật sự. Ở những quốc gia nhỏ hơn, thì thậm chí còn có một thái độ ưa thích ngấm ngầm đối với hành động thách thức của Bắc Triều Tiên không phải chỉ trước Hoa Kỳ và Nhật mà còn thách thức cả Trung Quốc.

Trong khi với vấn đề phi hạt nhân và vũ khí hủy diệt, quan điểm của châu Á là tại sao lại lo ngại đối với Bắc Triều Tiên trong khi vấn đề bom [hạt nhân] của Pakistan lại không gặp sự phản ứng như vậy? Giống như vấn đề bom [hạt nhân] của Israel, vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên đang được xem như có ý nghĩa là phát triển quân sự mạnh mẻ vì lo sợ bị tấn công và là một dấu hiệu của sự cô lập. Chế độ đó có thể thật kinh khủng, song mục đích duy nhất của nó là sống sót.

Những quan điểm này có thể có chút ngây thơ, thiếu kinh nghiệm, song có thể hiểu được, khi căn cứ rất nhiều vào màn giả vờ kêu cứu quanh vấn đề vũ khí của Bắc Triều Tiên và quá ít khả năng của phương Tây để ngăn chặn được chúng. Tại sao không bỏ qua việc theo đuổi sự chú ý vào Kim [Chính Nhật], mà hướng suy nghĩ vào châu Á có hơn không? Hãy để cho người Trung Quốc giải quyết chuyện Bắc Triều Tiên.

Trung Quốc vừa là người láng giềng gần gũi nhất, vừa là nước (do ngầm định sắp xếp trước và do đang cung cấp viện trợ lương thực và dầu lửa) đã cho phép Bắc Triều Tiên phát triển các loại vũ khí hạt nhân. Và ai là người đang có sự lo sợ hơn từ một nước Triều Tiên thống nhất được trang bị vũ khí hạt nhân và hùng mạnh – Trung Quốc hay Hoa Kỳ?

Trung Quốc đã chăm sóc và nuôi dưỡng mối phiền toái nguy hiểm ngay trên ngưỡng cửa của chính họ và đã trao cho Nhật Bản đưa ra lý lẽ để biện hộ cho việc xây dựng lực lượng phòng thủ của Nhật. Bình Nhưỡng giờ đây là nan đề chính của Trung Quốc.

Nếu như Hoa Kỳ ngưng nghĩ ra những mối đe doạ không có thật rằng họ “sẽ không cho phép” một Bình Nhưỡng có vũ khí nguyên tử, thì phần còn lại của thế giới sẽ nhìn thấy rõ ràng hơn nước Trung Quốc thiển cận đã và đang cố sử dụng Bắc Triều Tiên như là một lá bài để mặc cả với Hoa Kỳ, với mục đích sau cùng là đuổi lực lượng quân sự của Mỹ ra khỏi Hàn Quốc.

Trong khi đó, có tính chất quan trọng hơn cho an ninh Đông Á là sự tái nổi lên của những vụ tranh chấp trên Biển Đông. Mới đây có những tin tức cho thấy rằng Việt Nam đã mua sáu chiếc tàu ngầm và 12 chiến đấu cơ SU-30 của Nga trị giá 2,3 tỉ đô la. Điều này báo hiệu rằng bất chấp nhu cầu phải có những quan hệ kinh tế tốt đẹp với Trung Quốc, Việt Nam không có ý định để cho những yêu sách chủ quyền của Trung Quốc xảy ra trong tình trạng không bị phản đối.

Cuộc mua bán này là tiếp theo sau hành động quấy nhiễu của Trung Quốc đối với một chiếc tàu của Hải quân Hoa Kỳ ngoài biển Đông vào tháng Ba 2009, vụ việc xuất phát từ một sự bất đồng lâu dài về “Vùng Đặc quyền Kinh tế” của Trung Quốc.

Cũng trong tháng Ba, Tổng thống Philippines Gloria Arroyo đã ký một bộ luật mô tả những tự nhận là có chủ quyền của Philippines trên những phần phía đông của vùng biển này. Mặc dù bộ luật chỉ đơn thuần thiết lập những đường cơ sở cho vuệc cho là có chủ quyền đang hiện hữu này, nhưng nó đã lôi kéo một hành động phản kháng tức thời từ Trung Quốc, nước này đã gửi một số tàu chiến tới vùng biển này.

Tiếp đến là Thủ tướng Malaysia Abdullah Badawi đã thu hút những chỉ trích của Trung Quốc vì việc tái xác nhận những yêu sách chủ quyền của nước này trên Biển Đông bằng việc viếng thăm một hòn đảo đang tranh chấp. Ông cũng đã đi thăm Brunei và thiết lập nên nền tảng cho việc chấm dứt một mối tranh chấp trên biển bằng việc cho phép thăm dò những vùng biển bị Trung Quốc đòi chủ quyền.

Tuy nhiên, điều này chỉ là dấu hiệu của sự hợp tác giữa các thành viên ở Châu á về vấn đề Biển Đông, mặc dầu  họ cần phải hành động phối hợp với nhau, nếu như muốn chống trả lại những đòi hỏi của Bắc Kinh đối với toàn bộ vùng biển trải dài 2.000 km từ đại lục Trung Quốc cho tới các bờ biển của Malaysia và Philippines và tiến gần tới những mỏ dầu của Indonesia.

Năm 2002, các thành viên của Asean đã cùng Trung Quốc ký một Tuyên bố về Ứng xử [trên Biển Đông] nhằm tránh xung đột đối với những vùng mà các quốc gia đều tự cho là có chủ quyền chồng lấn lên nhau và để đẩy mạnh việc thăm dò khoáng sản chung. Tuy nhiên bản tuyên bố nầy đã thành công vào lúc đầu trong việc giảm bớt những căng thẳng, chứ không có sự tham gia thăm dò chung đã xẩy ra và khối Asean vẫn tiếp tục chia rẽ.

Không có thành viên nào của khối Á Châu đề nghị hổ trợ Việt Nam trong việc đối đầu với những mối đe doạ của Trung Quốc chống lại việc thăm dò dầu lửa ngoài khơi của nước này, và cũng không có quốc gia nào bày tỏ ước muốn đứng lên đại diện cho một mặt trận hợp nhất đối chọi với Trung Quốc.

Đối với Trung Quốc, vấn đề ở đây không phải chủ yếu là dầu lửa – chất trầm tích nầy có thể có giá trị lớn đối với các nước nhỏ, nhưng có tính chất giới hạn (không đáng dính mép) đối với nhu cầu của TQ.

Tầm quan trọng chủ yếu của Biển Đông là có tính chất chiến lược, vì thế nhiều người coi đó như là địa điểm cạnh tranh giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ và các đồng minh Châu Á của Mỹ – bao gồm cả kẻ thù cũ là Việt Nam.

Cuộc tranh đấu để ngăn chặn Biển Đông trở thành một cái hồ của Trung Quốc sẽ gia tăng cường đô thêm nếu như Trung Quốc vô hiệu hóa được Đài Loan, kẻ xoạc cẳng ngáng ngay cửa ngõ phía bắc của họ.

Vì thế, trong khi những dòng tít lớn hàng đầu trên các báo đang la toáng lên về “những vũ khí Hạt nhân của BTT”[Bắc Triều Tiên], thì cuộc tranh đấu có ý nghĩa chiến lược lớn hơn đang phát triển dần dần tới phía nam.

Hiệu đính: Trần Hoàng

—————-

 

New York Times

Crying Wolf

By PHILIP BOWRING

Published: June 2, 2009

HANOI — The world resounded with ritual condemnations of North Korea’s nuclear and missile tests, but perceptions of them differ.

In the West, they are seen as a major threat to non proliferation as well as to South Korea, Japan and even the United States. In much of the East they are seen more as a rude gesture toward the West and as a move in a succession power-play than as a threat to peace.

By contrast, the South China Sea, where major-power interests do collide, is perceived as ultimately more dangerous.

The prevailing sense in Asia is that with the U.S., China and Japan roughly in agreement, not much real damage can be done by North Korea. In smaller countries, there is even a sneaking admiration for the North’s defiance not just of the U.S. and Japan but also of China.

As for nonproliferation, the Asian attitude is why worry about North Korea when Pakistan’s bomb met no such reaction? Like Israel’s bomb, North Korea’s is seen a means of deterrence and a symbol of isolation. The regime may be appalling, but its only goal is survival.

These views may be a bit naïve, but they are understandable, given so many cries of “wolf” over North Korean arms and so little ability in the West to stop them. Why not ignore the attention-seeking Kim, goes the Asian thinking? Let the Chinese handle it.

China is both the closest neighbor and the one country which has, by default and by providing food and oil aid, enabled North Korea to develop nuclear weapons. And who has more to fear from a nuclear-armed and potentially united Korea — China or the United States?

China has fostered a dangerous nuisance on its own doorstep and given Japan justification to build its defenses. Pyongyang is now primarily China’s problem.

If the U.S. would cease make ing hollow threats that it “won’t allow” a nuclear Pyongyang, the rest of the world would see more clearly how short-sighted China has been in trying to use North Korea as a bargaining chip with the U.S., with the eventual aim of getting American forces out of Korea.

Meanwhile, more significant for longer-term East Asian security is the resurgence of disputes over the South China Sea. Recently there was the news that Vietnam is to buy six submarines and 12 SU-30 fighters from Russia for $2.3 billion. This signaled that despite its need for good economic relations with China, Vietnam does not intend to let China’s sea claims go unchallenged.

The sale followed the Chinese harassment of a U.S. Navy vessel off the China coast in March, which stemmed from a long-standing disagreement over China’s “Exclusive Economic Zone.”

Also in March, President Gloria Arroyo of the Philippines signed a law delineating Philippine claims in the eastern parts of the sea. Though the law merely established baselines for existing claims, it drew an immediate rebuff from China, which sent vessels to the area.

Then Malaysian Prime Minister Abdullah Badawi drew Chinese criticism for reaffirming his country’s claims in the South China Sea by visiting a disputed island. He also visited Brunei and laid the foundation for ending a seabed dispute which would enable exploration in areas claimed by China.

However, this was the only sign of cooperation between the Asean members over the South China Sea, although they need to act in concert if they are to counter Beijing’s claim to the whole sea, stretching 2,000 kilometers from China’s mainland to the coasts of Malaysia and the Philippines and close to Indonesian gas fields.

In 2002, Asean members signed a Declaration of Conduct with China to avoid conflict over overlapping claims and to promote joint exploration. Though the declaration initially succeeded in reducing tensions, no joint exploration has occurred and Asean has remained divided.

No Asean members offered support to Vietnam in the face of Chinese threats against its offshore exploration, and none has shown willingness to present a united front to China.

For China, the issue is not primarily hydrocarbons — the deposits are valuable to smaller countries but marginal to China’s needs. The sea’s primary importance is strategic, so many see it as locus of competition between China and the U.S. and its Asian allies — including old enemy Vietnam.

The struggle to prevent the sea from becoming a Chinese lake will intensify if China neutralizes Taiwan, which straddles its northern entrances.

So while the headlines scream “NK Nukes,” the bigger strategic struggle is evolving to the south.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

Trung Quốc, Bạn hay Thù?

Posted by adminbasam on 30/04/2009

The Wall Street Journal

Trung Quốc, Bạn hay Thù?

ANDREW BROWNE GORDON FAIRCLOUGH

Ngày 18-4-2009

 

Một khối hang động phức hợp mở toang ra ở miền bờ biển toàn núi đá của tỉnh đảo Hải Nam thuộc phía nam Trung Quốc là nơi trú ẩn của một trong những thứ vũ khí giết người mới nhất và tiềm tàng nhất trong kho vũ khí của Bắc Kinh: một chiếc tàu ngầm sản xuất trong nước được thiết kế để phóng các tên lửa mang đầu đạn hạt nhân *.

Vì thế, khi chiếc USNS Impeccable, một tàu khảo sát của Hoa Kỳ, đang  điều tra vùng biển này vào tháng trước, Trung Quốc liền đặt một cái bẫy. Năm chiếc tàu của Trung Quốc đã vây bọc quanh chiếc tàu Hoa Kỳ. Các thành viên trong thủy thủ đoàn [Trung Quốc] đã ném những mảnh  gỗ vào lối di chuyển của  tàu Impeccable và sử dụng những câu liêm dài để kéo các thiết bị âm thanh của tàu. Khi các thủy thủ Hoa Kỳ dùng vòi cứu hỏa xịt nước vào những kẻ tấn công họ, đám thủy thủ có khuôn mặt vô cảm người Trung Quốc ở trên boong của một trong những con tàu đó đã cởi hết quần áo, chỉ mặc đồ lót  rồi tiến tới gần trong phạm vi 8 mét, Ngũ Giác Đài cho biết.

Cuộc chạm trán tại vùng Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông], kéo dài khoảng 3 tiếng rưỡi, có khuynh hướng gửi đi một thông điệp rõ ràng. Phía Trung Quốc cho rằng chiếc Impeccable đang vị phạm luật pháp quốc tế qua việc điều khiển các hoạt động giám sát trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. (Trái lại) Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác coi hành động đó là hợp pháp.

Khi những chiếc tàu khảo sát của Hoa Kỳ thăm viếng khu vực này trong tương lai, thì theo ông Su Hao, giám đốc Trung tâm Quản lý Chiến lược và Xung đột thuộc trường Đại học Quan hệ Quốc tế của Trung Quốc, nói “Họ sẽ phải thận trọng hơn.”

Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ xem Trung Quốc như là một quốc gia, mà tại thời điểm nào đó, chắc chắn sẽ đạt được khả năng để thách thức quân đội Hoa Kỳ trên quy mô toàn cầu.

Hoa Kỳ trong những năm gần đây đã thay đổi để gia tăng các lực lượng quân sự của mình tại Thái Bình Dương và đã khuyến khích người đồng minh Nhật Bản thực hiện hành động tương tự.

Washington và Tokyo đang làm việc cùng nhau để đẩy mạnh hệ thống phòng thủ chống tên lửa, nhằm chống lại những mối đe doạ từ cả Bắc Triều Tiên lẫn Trung Quốc. Và một số nhân vật trong Bộ Quốc phòng đã đề cao “mối đe doạ Trung Quốc” để thanh minh cho mức chi tiêu lớn hơn cho những hệ thống vũ khí mới.

Vào tuần này, Đô đốc Wu Shengli, viên sĩ quan cao cấp nhất của hải quân Trung Quốc — được biết chính thức như là Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân — đã cho biết rằng binh chủng này sẽ hành động nhanh hơn để hiện đại hóa kho chứa vũ khí của mình và xây dựng những chiến hạm lớn hơn và có nhiều khả năng hơn “để gia tăng khả năng chiến đấu cho các cuộc thủy chiến trong khu vực” bằng cách sử dụng các loại vũ khí công nghệ cao.

Trong một cuộc phỏng vấn với hãng tin Tân Hoa Xã của nhà nước Trung Quốc vào trước lễ kỷ niệm ngày thành lập hải quân vào tuần tới, ông cũng nói rằng hải quân sẽ cải thiện khả năng hành quân của mình trên các đại dương.

Các quan chức khác trong những tháng gần đây đã nói về công việc xây dựng chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc, tăng thêm các mối quan ngại của Hoa Kỳ rằng Trung Quốc muốn tạo một hình ảnh gây ấn tượng cho sức mạnh của họ.

Tuy nhiên, nhiều nhà quan sát, thuộc cả hai phía Trung Quốc và Hoa Kỳ, đã nói rằng nỗi lo sợ về Trung Quốc bị phóng đại. Các lực lượng vũ trang của Trung Quốc hiện vẫn không phải là đối thủ đối với hỏa lực của Hoa Kỳ trên biển, trên đất liền hay trên không trung. Nhiều nhà phân tích – bao gồm các cựu sĩ quan cao cấp trong quân đội – đã không tin rằng Trung Quốc có ý định làm cho Hoa Kỳ hoảng hốt, như là Liên Xô cũ đã từng làm. Vì hiện nay,  quân đội Trung Quốc vẫn còn lệ thuộc vào một sự hòa trộn giữa các loại vũ khí công nghệ cao, ví như những chiếc tàu ngầm mang hoả tiễn hạt nhân thế hệ Jin, với những món đồ đánh cắp có công nghệ thấp và các món đồ thủ công nhằm dọa dẫm kẻ khác.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc nói rằng sự thăng tiến của nền kinh tế nước họ mang tính chất hòa bình. Tuy nhiên, có nhiều lần nó được đi kèm theo bởi một thứ chủ nghĩa dân tộc rất ồn ào – một ước muốn khao khát phục hồi những gì mà nhiều người ở nước này coi như là vị thế đúng đắn của Trung Quốc trên toàn cầu, vị thế này đã bị chiếm đoạt bởi những đế quốc phương Tây trong thế kỷ 19 và quân phiệt Nhật trong thế kỷ 20.

Sự gây hấn của Trung Quốc hướng tới Đài Loan và bí mật quân sự của họ làm cho các thế lực diều hâu từ Washington cho tới New Delhi dễ dàng vẽ nên một bức tranh về một Trung Quốc đầy hận thù đang mưu tính cho con đường quay trở lại của họ.

Cú phóng bị thất bại của một phi đạn giống như loại tên lửa của Bắc Triều Tiên vào ngày 5 tháng Tư đã làm phức tạp thêm tình hình này. Việc này chắc chắn thúc đẩy Nhật Bản tăng cường sức mạnh quân sự của mình và đầu tư nhiều hơn vào những nỗ lực phòng thủ tên lửa, mà giờ đây Nhật đang được hợp tác với Hoa Kỳ. Điều đó có thể làm tăng thêm mối căng thẳng với Trung Quốc, nước vốn đã coi liên minh Hoa Kỳ-Nhật Bản như là một mối quan hệ đối tác được thiết lập để chế ngự sức mạnh của Trung Quốc.

 Trung Quốc khao khát cho sự ổn định trên bán đảo Triều Tiên, lo ngại rằng nếu như Bắc Tiều Tiên sụp đổ, thì một làn sóng tị nạn sẽ tràn qua các vùng biên giới của mình, và sẽ kết thúc bằng tình trạng mặt đối mặt với quân đội Hoa Kỳ đang được trú đóng tại miền Nam.

 Theo chính phủ Trung Quốc, ngân sách quốc phòng của nước này cho năm 2008 là 60 tỉ đô la Mỹ, tăng gần 18% so với một năm trước. Ngũ Giác Đài tin là các số liệu chính thức của Trung Quốc thực chất không đúng với chi tiêu quốc phòng trên thực tế. Họ ước đoán rằng năm ngoái Trung Quốc đã chi từ 105 đến 150 tỉ đô la cho những phí tổn liên quan tới quân sự, vì quân đội của Trung Quốc tự chuyển đổi từ một đội quân đông đảo có công nghệ thấp kém được dành để giao tranh trong một cuộc chiến làm tiêu hao sinh lực chống lại những kẻ xâm lăng sang một lực lượng tinh vi, nhanh nhạy hơn có khả năng phóng hỏa lực vượt quá biên giới Trung Quốc.

Việc tập trung chính yếu của Trung Quốc vào hiện đại hóa quân đội của mình trong vài thập kỷ qua đã và đang ngăn chặn Đài Loan khỏi việc thiết lập một nền độc lập chính thức và chặn đứng mọi nỗ lực của Hoa Kỳ đến trợ giúp hòn đảo này trong một cuộc khủng hoảng.

Hiện nay, một số sĩ quan hải quân Trung Quốc đang nói về cái ngày tuần tiễu ra xa tới Ấn Độ Dương, để nhớ lại những hình ảnh từ đế chế Trung Hoa cách đây 600 năm trước, khi một hạm đội gồm những con tàu chất cao ngất châu báu được chỉ huy bởi Đô đốc hoạn quan Hồi giáo Zheng He, hay còn gọi là Trịnh Hòa, của Trung Quốc dong buồm qua những vùng biển này trên đường tới đông Phi.

Bất chấp những phản đối rằng lực lượng hải quân có năng lực hơn của mình sẽ không gây nên hồi chuông cảnh báo trong số các quốc gia láng giềng hay với Washington, các tàu chiến và tàu ngầm của Trung Quốc đã và đang tiến ra xa khơi hơn nữa. Trong ít nhất là vài trường hợp họ đã kiểm tra khả năng phòng thủ của các quốc gia khác và gửi tín hiệu về những ý định của hải quân Trung Quốc sẽ là một tay chơi trên các đại dương.

Một số nhà phân tích quân sự Hoa Kỳ giờ đây nhìn thấy mối đe doạ rộng lớn hơn đối với ưu thế của Mỹ trên biển, đã liên kết  sự mở rộng ảnh hưởng thương mại và kinh tế của Trung Quốc trên khắp toàn cầu. Nếu như Trung Quốc có thể thách thức một con tàu giám sát của Hoa Kỳ ngoài xa bờ biển của họ, thì họ đang hỏi rằng, liệu siêu cường kinh tế Á châu đang lớn dậy này trong tương lai có xông pha tuần tiễu trên những tuyến hải hành thương mại của mình tại Eo biển  Malacca (qua những nơi mà hầu hết nguồn cung cấp dầu lửa thiết yếu của Trung Quốc phải đi qua), hay thậm chí cả Vịnh Ba Tư hay không? Quan niệm bi quan này đề cập nhiều về những mối lo ngại của siêu cường duy nhất trên thế giới (ý nói Mỹ) cũng ngang bằng như khi họ nói về những khả năng của Trung Quốc.

Về phương diện lịch sử, phương Tây đã thể hiện cả những niềm hy vọng to lớn lẫn những mối lo ngại u ám về Trung Quốc. Sự thay đổi tình cảm giữa hai thái cực này từ lâu đã gây bối rối cho các mối quan hệ của phương Tây với gã khổng lồ châu Á này. Một động lực có tính mâu thuẫn giờ đây đang tác động lên các mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, đây là một mối quan hệ quan trọng nhất của thế kỷ 21. Trong khi những động lực kinh tế đang kéo hai nước lại gần nhau hơn (Trung Quốc đã trở thành chủ nợ lớn nhất của Mỹ), thì các mối quan hệ quân sự lại ngưng trệ.

Các tướng lĩnh và đô đốc tại Ngũ Giác Đài đã phản đối sự thách thức của Trung Quốc trên các vùng biển quốc tế, nơi mà Hải quân của họ đã hoạt động hơn nửa thế kỷ qua – thậm chí cả khi những vùng biển này nằm ngay trước ngưỡng cửa của Trung Quốc. Trong bản thuyết minh của ông ta trước uỷ ban quân lực của Thượng viện, Đô đốc Timothy Keating, vị sĩ quan đảm trách lực lượng vũ trang Mỹ tại Á châu, đã cho biết rằng hành động ngăn chận tàu Impeccable ngoài biển Đảo Hải Nam cho thấy rằng người Trung Quốc “không sẵn sàng chấp thuận những tiêu chuẩn ứng xử có thể chấp nhận được.”

Ông Su thuộc trường đại học China Foreign Affairs University cho rằng thế giới đã hiểu sai về cơ bản những ý định của Trung Quốc. Trung Quốc là một cường quốc lục địa, ông nói, quan tâm về việc giữ gìn những vùng biên giới của mình và dùng ước muốn của mình dành cho an ninh quốc nội và đoàn kết trong nước. Đối với những ai coi  mối đe doạ trong việc bành trướng ra biển của Trung Quốc, ông đưa ra lời khuyên này: “Hãy nghĩ ngơi.”

Bản báo cáo thường niên mới đây nhất của Ngũ Giác Đài về quân đội Trung Quốc, được công bố vào cuối tháng trước, đã bị chỉ trích rộng rãi ở Trung Quốc như là biểu hiện thành kiến và gieo hoang mang. Bản báo cáo nói rằng “khả năng của Trung Quốc duy trì sức mạnh quân sự ở các nơi cách xa Trung Quốc vẫn còn hạn chế,” song bản báo cáo nầy ghi nhận rằng: lực lượng vũ trang của Trung Quốc tiếp tục “phát triển và đưa ra những công nghệ quân sự mang tính đột phá” đang làm “thay đổi  thế cân bằng quân sự trong vùng này và có những ý định vượt quá  vùng châu Á-Thái Bình Dương.” Báo cáo này cũng đánh giá: “Nhiều điều không rõ ràng bao quanh diễn tiến tương lai của Trung Quốc.”

Ông Yuan Peng, giám đốc Viện Nghiên cứu Mỹ thuộc Viện các Quan hệ Quốc tế Đương đại của Trung Quốc ở Bắc Kinh nói rằng: bản báo cáo của Hoa Kỳ “phóng đại sức mạnh quân sự của Trung Quốc” bằng cách đánh giá quá cao khả năng của đất nước này đối với việc hướng sức mạnh đi xa khỏi vùng lãnh thổ của nó. “Sức mạnh quân sự của Trung Quốc vẫn ở cấp độ của một quốc gia đang phát triển. Nó thua xa so với Hoa Kỳ, Nga và thậm chí Nhật Bản và Ấn Độ trong một số ý nghĩa nào đó.”

Theo quan điểm của ông Yuan, mối lo của Mỹ – sau các cú đòn đánh vào tâm lý quốc gia nầy từ những vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng Chín 2001 và tình trạng suy sụp tài chính hiện đang diễn ra – đã vượt quá xa về sự tiến bộ quân sự của Trung Quốc. “Những gì làm cho dân chúng phải lo sợ là không phải với thực chất về lực lượng quân sự của chúng tôi, mà là sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc và kiểu mẫu chính trị của người Trung Quốc,” Ông nói. “Trung Quốc đang lớn dậy rất nhanh chóng, dân số quá đông và hệ thống xã hội quá khác biệt” điều đó làm cho nó kích động tâm lý không yên.

Tuy nhiên, tầm cỡ quá lớn của Trung Quốc – kích cỡ lục địa của nó và dân số quá đông – đã phủ bóng lên châu Á, và việc hiện đại hóa quân đội của nước này đe doạ một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực.

Nhật Bản, nước phụ thuộc nặng nề vào dầu thô và nguyên liệu từ Trung Đông và Úc, đang lo ngại rằng một ngày nào đó họ có thể sẽ đụng phải một lực lượng hải quân Trung Quốc trên cùng những tuyến đường biển, tuyến đường nuôi dưỡng mức tăng trưởng nhanh chóng cho Trung Quốc.

Một vài chiến lược gia Ấn Độ lo rằng Trung Quốc đang giành được một khả năng phá vỡ hoạt động thương mại trên biển của nước này (Ấn Độ Dương), và đang bao vây Ấn Độ qua những mối liên kết ngoại giao và quân sự với các quốc gia láng giềng từ Myanmar cho tới Pakistan.

Trong số những mối lo lớn nhất đối với Hoa Kỳ là đội tàu ngầm được cải thiện của Trung Quốc, đội tàu nầy có thể gây trì hoãn hoặc cản trở những nhóm hàng không mẫu hạm  của Hoa Kỳ trong việc đáp ứng tới  một cuộc khủng hoảng bên trong và quanh Đài Loan, quốc đảo mà Bắc Kinh đã thề là sẽ bắt phục tùng sự cai quản của mình, bằng vũ lực nếu thấy cần thiết.

Trung Quốc đang chĩa hơn 1.000 tên lửa về phía Đài Loan nhằm làm nhụt chí bất cứ nỗ lực nào từ các nhà lãnh đạo đảo này muốn thiết lật quyền độc lập chính thức. Trung Quốc cũng đã kiếm được tám chiếc tàu ngầm chạy bằng động cơ dầu cặn (diesel) của Nga, là thứ rất khó bị phát hiện khi lặn xuống đáy biển, và Trung Quốc đang đóng những chiếc tàu ngầm tấn công của riêng họ.

Một số trong những tàu chiến và tàu ngầm mới hơn trong đội tàu của Trung Quốc được trang bị những tên lửa đối-hạm tầm thấp do Nga sản xuất có thể bay với vận tốc siêu âm. Những tên lửa Sizzler này, và một tên lửa đạn đạo đối-hạm đang được phát triển, có vẻ như để nhắm vào việc giúp cho Trung Quốc có khả năng tấn công các hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ, theo các sĩ quan hải quân Mỹ đánh giá. Các hàng không mẫu hạm đã và đang là trụ cột chính của sức mạnh hải quân của Hoa Kỳ trong nhiều thập kỷ.

Trong lúc Trung Quốc chưa có riêng chiếc hàng không mẫu hạm nào, các quan chức nước này đã bắt đầu nhắc đi nhắc lại công khai về việc họ sẽ bổ sung thêm một chiếc vào đội tàu của riêng mình. Các xưởng đóng tàu của Trung Quốc có vẻ ít có khó khăn trong việc xây dựng một loại tàu sân bay cỡ trung bình mà hầu hết các chuyên gia nghĩ rằng Trung Quốc sẽ cho hạ thủy. Song việc nắm vững các hoạt động của  một đơn vị đặc biệt bảo vệ tàu sân bay  và những chiếc phi cơ của tàu nầy sẽ cần đến rất nhiều năm, các chuyên gia đánh giá.

Các sĩ quan hải quân Trung Quốc tin rằng lực lượng của họ phải có khả năng mở rộng ra ngoài giới hạn của một chuỗi các hòn đảo quan trọng nhất – chạy từ Nhật Bản ở phía nam và vòng quanh sang phía đông của Đài Loan – Các chuỗi đảo nầy nằm giữa Trung Quốc và một dải rộng của Thái Bình Dương. Để có thể di chuyển những chiến hạm và tàu ngầm vào trong Thái Bình Dương sẽ là điều mang ý nghĩa quan trọng đối với những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn chặn hoặc làm chậm lại sự tiếp cận của các tàu chiến Hoa Kỳ tới Đài Loan hay đại lục.

Các đội tàu của Trung Quốc đã và đang mở rộng hoạt động ra xa hơn bờ biển của mình. Vào tháng 10 năm ngoái, một đội tàu nhỏ thuộc bốn chiến hạm hải quân Trung Quốc, bao gồm một chiếc khu trục hạm mang tên lửa có điều khiển và hai khu trục hạm loại nhỏ tân tiến nhất của nước này, đã băng ngang qua Eo biển Tsugaru chật hẹp giữa những quần đảo chính của Nhật Bản là Honshu và Hokkaido và tiến vào vùng biển Thái Bình Dương. Người Nhật coi vụ này như là một cuộc biểu dương sức mạnh đang lớn dần của Trung Quốc.

Các tàu ngầm của Trung Quốc cũng đã bị phát hiện một số lần đang sục sạo quanh các vùng biển của Nhật Bản. Năm 2004, một tàu ngầm Trung Quốc lặn ngang qua một eo biển hẹp khác trong một vụ mà người Nhật coi là một sự vi phạm vào luật biển quốc tế. Các quan chức quốc phòng Hoa Kỳ và Nhật Bản diễn dịch hành động này như là một nỗ lực có lẻ nhằm vẽ bản đồ và thu thập tình báo về những tuyến giao thông từ Biển Đông Trung Quốc cho tới Thái Bình Dương.

Căn cứ hải quân mới ở [đảo] Hải Nam, nơi xem ra đủ lớn để cung cấp nơi trú đóng cho các chiến hạm cũng như các tàu ngầm tấn công và mang tên lửa đạn đạo, đem đến cho hải quân Trung Quốc cửa ngõ xâm nhập trực tiếp vào các tuyến đường biển quốc tế có ý nghĩa sống còn. Nó có thể cho phép các tàu ngầm lén lút triển khai vào những vùng biển nước sâu của Biển Đông [Biển Nam Trung Hoa], Ngũ Giác Đài đánh giá.

Các nhà phân tích từ Liên đoàn các Nhà khoa học Mỹ, những người đã nghiên cứu các bức ảnh vệ tinh chụp căn cứ Hải Nam cho biết căn cứ này dường như cũng có một tòa nhà  theo kiểu đã được Hải quân Hoa Kỳ sử dụng để khử từ tính của các tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân trước khi chúng được triển khai, nhằm làm cho chúng khó bị phát hiện hơn. Nếu như điều đó là đúng, thì cho thấy mục đích của Trung Quốc sử dụng những tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo của mình như là một phần trong hệ thống vũ khí nguyên tử của mình. Cơ quan liên bang cho rằng không có bằng chứng nào cho thấy tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân từng tiến hành một cuộc tuần tra đơn phương mang tính ngăn chặn.

Bộ Quốc phòng đã từ chối bình luận. Cuốn sách trắng về phòng thủ gần đây nhất nói rằng một trong những nhiệm vụ của hải quân là “khả năng phản công bằng vũ khí hạt nhân.”

Bất chấp cuộc chạy đua hiện đại hóa của Trung Quốc, nhiều điểm yếu kém vẫn còn tồn tại trong kho vũ khí của nước này. Những đánh giá riêng của các sĩ quan quân đội Trung Quốc về các khả năng của họ, chứa đựng trong các nhật ký  và trên phương tiện truyền thông quân đội, cho thấy rằng họ đã không đạt được các mục tiêu của mình trong việc có thể chiến đấu và chiến thắng một cuộc chiến tranh cục bộ bằng công nghệ cao.

Những hạn chế này đã được thể hiện một cách đau đớn trong suốt thời gian diễn ra trận động đất vào tháng Năm năm ngoái – một hoạt động diễn ra trong thời bình trên lãnh thổ riêng của Trung Quốc.

Trung Quốc đã huy động hơn 114.000 binh lính để tham gia vào những nỗ lực trợ giúp sau thảm họa.

Thế nhưng căn cứ vào tình trạng thiếu khả năng lập cầu không vận của quân đội, chỉ có một lực lượng nhỏ là có thể tới được khu vực bị động đất tàn phá bằng phi cơ trong ngày đầu tiên hoặc thậm chí sau khi động đất đã nổ ra. Một đơn vị thủy quân lục chiến đã trải qua nhiều ngày lái xe từ căn cứ của họ ở tỉnh Quảng Đông thuộc miền nam. Công việc cứu tế cũng cho thấy tình  trạng thiếu thốn phi cơ trực thăng rất nghiêm trọng.

Dai Xu, một đại tá trong lực lượng không quân Trung Quốc, đã nói rằng các cuộc hành quân của quân đội trong trận động đất cho thấy rằng lòng yêu nước và tinh thần can đảm không thể “che đậy được những yếu kém trong khả năng trang bị và công nghệ của quân đội.” Đại tá Dai, viết trong một tập san về quan hệ đối ngoại của Trung Quốc, cho  rằng “một quân đội mà không có khả năng cơ giới hóa đường không thì không thể đủ tiêu chuẩn để nói về tin học hóa,” một cách ám chỉ tới cuộc chiến tranh công nghệ cao.

Theo những ước tính của riêng Ngũ Giác Đài, khả năng hạn chế của Trung Quốc trong việc di chuyển và duy trì các binh lính ra xa ngoài lãnh thổ của mình đã không được cải thiện đáng kể từ năm 2000. Ngũ Giác Đài cũng ước tính rằng bất chấp việc mua sắm thoải mái các trang thiết bị mới, chỉ có 20% hệ thống vũ khí mà không lực Trung Quốc sử dụng là “hiện đại”, cùng với 40% tàu ngầm của hải quân và chừng 30% các loại tàu nổi khác.

Vấn đề nghiêm trọng là Trung Quốc không có kinh nghiệm trong việc giao tranh trong một cuộc chiến hiện đại. Cuộc xung đột quan trọng gần đây của nước này là một cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 với Việt Nam. Mặt khác, quân đội Hoa Kỳ, đã gần như phải dính líu triền miên vào những cuộc xung đột kể từ khi bắt đầu cuộc Chiến tranh vùng Vịnh Ba Tư năm 1990.

Để bù trừ cho những khiếm khuyết của mình, quân đội Trung Quốc đã đi theo một chiến lược đáng ngạc nhiên và bí mật để làm cho các lực lượng Mỹ không đề phòng. Họ gọi chiến lược này là “chiếc gậy của thích khách,” một ám chỉ tới cây kiếm hoặc chiếc dùi cui được che giấu. Trong phương cách này,  giới quân sự tin là, lực lượng quân sự có năng lực thấp về kỹ thuật có thể giành được lợi thế trước một đối phương có trình độ công nghệ cao.

Những hành động lén lút của Trung Quốc càng làm tăng thêm những mối nghi ngờ của Hoa Kỳ. Vụ ngăn chặn chiếc tàu Impeccable đã gợi lại một màn tương tự trong khu vực vào năm 2001 khi một chiếc chiến đấu cơ của Trung Quốc va chạm với một phi cơ do thám EP-3 của Hoa Kỳ. Viên phi công Hoa Kỳ đã cố bảo toàn cho chiếc phi cơ bị hư hỏng của mình để thực hiện một cú hạ cánh xuống [đảo] Hải Nam, nơi phi hành đoàn 24 người của anh ta đã bị giam giữ trong 11 ngày. Chiếc phi cơ của Trung Quốc đã đâm xuống đất làm viên phi công tử nạn. Năm 2007, Trung Quốc đã gây sốc cho toàn thế giới qua việc cho nổ tung một trong những vệ tinh theo dõi thời tiết quá cũ của họ bằng một tên lửa đạn đạo, trút các mảnh vỡ vào trong không gian.

Không lực và Hải quân Hoa Kỳ gần đây đã làm dấy lên nỗi ám ảnh về một nước Trung Quốc tham chiến qua những đề nghị có thêm những chiếc chiến đấu cơ F-22 và các phi cơ ném bom tầm xa, cũng như việc kín đáo sản xuất một thế hệ khu trục hạm mới mang tên lửa có điều khiển, được biết tới với cái tên Zumwalt. Tuy nhiên, vào tháng này, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates cho biết ông đã lên kế hoạch dừng các cuộc mua sắm thêm phi cơ F-22 này và chấm dứt chương trình Zumwalt như là một phần của một sự xem xét lại toàn bộ những ưu tiên về vũ khí để định hướng lại quân đội Hoa Kỳ hướng tới việc chiến thắng những cuộc xung đột không theo qui ước như cuộc chiến ở Afghanistan tốt hơn là giao tranh với Trung Quốc, Nga hoặc các cường quốc lớn khác.

Tại Trung Quốc, một lực lượng có tiếng nói trọng lượng trong công chúng đang gây sức ép đòi có một lực lượng quân sự quả quyết hơn. Bai Jieming, người điều hành một cửa hàng ở thành phố cảng miền nam Shenzhen chuyên bán các kiểu mẫu tàu chiến Trung Quốc, nói rằng những bản sao của một trong những khu trục hạm đã được gửi đi từ tháng 12 để tuần tra chống cướp biển trên Vịnh Aden, loại “168″, đã được bán hết. Ông ta nói rằng người dân Trung Quốc ước ao có một khu trục hạm. “Tôi thậm chí còn muốn quyên cúng tiền để giúp đóng chiến hạm,” ông Bai nói.

Vụ tàu Impeccable đã làm bùng lên những nỗi lo sợ về những rủi ro từ việc tính toán sai lầm. Năm 2007, một chiếc tàu ngầm Trung Quốc đã nổi lên khỏi mặt nước trong phạm vi tầm bắn của chiếc hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ Kitty Hawk trong thời gian cuộc diễn tập đang diễn ra gần Philippines. Viên chỉ huy vào thời điểm đó trên Thái Bình Dương, Đô đốc William Fallon, cho biết biến cố nầy có thể “leo thang trở thành một điều gì đó không thể tiên đoán trước.”

Thêm vào những mối nguy hiểm, theo như lời một quan chức Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, là những đường dây liên lạc không rõ ràng giữa quân đội Trung Quốc và các bộ phận khác của chính phủ. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tỏ ra “ngạc nhiên, sốc và bối rối” trước những phản đối kịch liệt từ Hoa Kỳ và các quốc gia khác, như Nga, sau khi quân đội của Trung Quốc bắn hạ chiếc vệ tinh thời tiết, ông nói. Điều này có thể tránh được nếu như họ nhận được lời khuyên tốt hơn từ các nguồn phi quân sự.”Có một quá trình học hỏi để trở thành một cường quốc,” ông nói.

Trung Quốc đã gửi đi những tín hiệu mâu thuẫn về tham vọng của mình đối với quyền lực và ảnh hưởng trên thế giới. Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, và thúc bách để có tiếng nói có trọng lượng hơn tại các cơ quan tài chính quốc tế để phù hợp với tình trạng của mình, song họ lại liên tục làm cho người ta nhớ lại rằng về mặt thu nhập bình quân đầu người, Trung Quốc vẫn là một quốc gia đang phát triển và tương đối nghèo. Phần lớn trong chi tiêu quân sự của Trung Quốc, bao gồm những chi phí cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, đã không xuất hiện trong các số liệu chính thức của chi tiêu quốc phòng.

Những định giá vừa qua đã không coi Trung Quốc như là một siêu cường điện tử. Trung Quốc có thể đem khả năng thành thạo về điện tử của mình phát triển những chiếc máy tính chạy nhanh chưa từng thấy và những trang thiết bị liên lạc tốc độ cao cho những người tiêu dùng Mỹ thành những loại vũ khí trên không gian ảo. Thậm chí vì vậy, sẽ vẫn còn một thời gian dài trước khi Trung Quốc trở thành một lực lượng quân sự ghê gớm có lẽ có ý nghĩa nào đó mà một số người ở Hoa Kỳ có thể chứng kiến.


THE WALL STREET JOURNAL

China, Friend or Foe?

By ANDREW BROWNE and GORDON FAIRCLOUGH

APRIL 18, 2009

A cave complex blasted out of the rocky coastline on China’s southern island province of Hainan is home to one of the newest and potentially most lethal weapons in Beijing’s arsenal: a home-grown submarine designed to launch nuclear-armed ballistic missiles.

So when the USNS Impeccable, a U.S. surveillance ship, was snooping in the area last month, China set a trap. Five Chinese vessels crowded around the U.S. ship. Crew members hurled chunks of wood into the Impeccable’s path and used poles to try to snare its acoustic equipment. When U.S. sailors turn ed a fire hose on their assailants, the sodden Chinese crew aboard one of the vessels stripped to their underwear and closed to within 25 feet, the Pentagon said.

The encounter in the South China Sea, which lasted for about 3½ hours, was intended to send a clear message. China says the Impeccable was violating international law by conducting surveillance activities in its exclusive economic zone. The U.S. and many other nations view such activity as legal.

When U.S. surveillance ships visit the area in the future, says Su Hao, director of the Center for Strategic and Conflict Management at China Foreign Affairs University, “they’ll be more cautious.”

The Pentagon views China as the country most likely, at some point down the road, to acquire the capacity to challenge the U.S. military on a global scale. The U.S. in recent years has moved to strengthen its forces in the Pacific and urged its ally Japan to do the same. Washington and Tokyo are working together to boost anti-missile defenses, to defend against threats from both North Korea and China. And some in the Defense Department talk up the “China threat” to justify greater spending on new weapons systems.

This week, Adm. Wu Shengli, the top officer in China’s navy — officially known as the People’s Liberation Army Navy — said the service would move faster to modernize its arsenal and build larger and more capable warships “to boost the ability to fight in regional sea wars” using high-tech weaponry. In an interview with China’s official Xinhua news agency ahead of the navy’s 60th anniversary next week, he also said the navy would improve its ability to operate on the high seas. Other officials in recent months have talked about China building its first aircraft carrier, adding to U.S. concerns that China wants to project its power.

However, many observers, both in China and the U.S., say that fear of China is exaggerated. China’s armed forces are still no match for U.S. fire power at sea, on land or in space. Many American security analysts — including former senior military officers — do not believe that China intends to take on the U.S., as the former Soviet Union once did. For now, China’s military falls back on a mix of high-tech weaponry, such as its new Jin-class nuclear-missile submarines, and low-tech stealth and cunning.

Chinese leaders say that their country’s economic rise will be peaceful. However, it is accompanied at times by a strident nationalism — a desire to restore what many people in the country see as China’s rightful place in the world, stolen by 19th-century Western imperialists and 20th-century Japanese militarists. China’s belligerence toward Taiwan and its military secrecy make it easier for hawks from Washington to New Delhi to paint a picture of a vengeful China plotting its comeback.

North Korea’s failed launch of a ballistic-missile-like rocket on April 5 complicates the situation. It is likely to spur Japan to strengthen its military and invest more in missile-defense efforts, in which it is now cooperating with the U.S. That could add to tension with China, which already views the U.S.-Japan alliance as a partnership designed to constrain Chinese power. China yearns for stability on the Korean peninsula, fearing that if North Korea collapses, a wave of refugees will spill over its borders, and it will end up face-to-face with U.S. forces stationed in the South.

According to the Chinese government, the country’s defense budget for 2008 was $60 billion, up nearly 18% from a year earlier. The Pentagon believes China’s official figures substantially underestimate actual defense spending. It estimates that China spent $105 billion to $150 billion on military-related expenses last year, as its military transforms itself from a low-tech mass army designed to fight a war of attrition against invaders to a more sophisticated, agile force capable of projecting power beyond China’s borders.

China’s main focus in modernizing its military over the past few decades has been preventing Taiwan from establishing formal independence and stopping any effort by the U.S. to come to the island’s aid in a crisis. Now some Chinese naval officers talk of one day patrolling as far as the Indian Ocean, conjuring up images from China’s imperial past 600 years ago, when a towering armada of treasure ships led by the Chinese Muslim eunuch Admiral Zheng He, or Cheng Ho, sailed through those waters on its way to east Africa.

Despite protests that its more capable navy should be no cause for alarm among neighboring states or Washington, Chinese ships and submarines have been push ing farther offshore. In at least some cases they’ve tested the defenses of other nations and telegraphed the Chinese navy’s intentions to be a player on the high seas.

Some U.S. military analysts now see a broader threat to American domination of the seas, linked to the spread of Chinese trade and economic influence around the globe. If China can challenge a U.S. surveillance ship off its coast, they are asking, might the rising Asian economic superpower in the future aggressively patrol its maritime trade routes in the Strait of Malacca (through which most of China’s vital oil supplies pass), or even the Persian Gulf? The pessimistic view says as much about the anxieties of the world’s sole superpower as it does about Chinese capabilities.

Historically, the West has projected both fantastic hopes and dark anxieties upon China. Sentiments veering between the two extremes have long confused the West’s relations with the Asian giant. A conflicting dynamic is now at work in relations between the U.S. and China, arguably the most important relationship of the 21st century. While economic forces are pulling the two sides closer (China has become America’s largest creditor), military ties have stalled.

Generals and admirals in the Pentagon have objected to China’s challenge in international waters where their Navy has operated for more than half a century — even if those waters are right on China’s doorstep. In his testimony to the Senate’s armed services committee, Adm. Timothy Keating, the officer in charge of American forces in Asia, said that the interception of the Impeccable off Hainan Island showed that the Chinese are “not willing to abide by acceptable standards of behavior .”

Mr. Su of China Foreign Affairs University says the world fundamentally misreads Chinese intentions. China is a land power, he says, concerned about safeguarding its border regions and consumed by its desire for internal security and cohesion. To those who see menace in China’s seaward expansion, he offers this advice: “Relax.”

The Pentagon’s latest annual report on the Chinese military, published late last month, was widely criticized within China as biased and alarmist. The report says that “China’s ability to sustain military power at a distance remains limited,” but notes that its armed forces continue to “develop and field disruptive military technologies” that are “changing regional military balances and that have implications beyond the Asia-Pacific region.” It also said: “Much uncertainty surrounds China’s future course.”

The report “exaggerates Chinese military power” by overestimating the country’s ability to project force beyond its own territory, says Yuan Peng, director of the American Studies Institute at the China Institutes of Contemporary International Relations in Beijing. “Chinese military power is still at a developing country’s level. It lags far behind the U.S., Russia and even Japan and India in some senses.”

In Mr. Yuan’s view, American anxiety — after blows to the national psyche from the Sept. 11 terrorist attacks and the ongoing financial meltdown — goes well beyond China’s military advance. “What makes people nervous is not really our military, but China’s economic rise and the Chinese political model,” he says. “China is rising so fast, the population is so big and the social system is so different” that it excites unease.

Still, China’s massive bulk — its continental size and vast population — looms over Asia, and its military modernization threatens an arms race in the region. Japan, heavily dependent on crude oil and raw materials from the Middle East and Australia, worries that one day it may run into a hostile Chinese navy along the same sea lanes that feed China’s rapid growth. Some Indian strategists worry that China is gaining an ability to disrupt its ocean trade, and is encircling it through diplomatic and military links with neighboring countries from Myanmar to Pakistan.

Among the biggest worries for the U.S. is China’s improved submarine fleet, which could delay or prevent U.S. aircraft carrier battle groups from responding to a crisis in and around Taiwan, the island that Beijing has pledged to bring under its rule, by force if necessary. China aims more than 1,000 missiles at Taiwan to deter any attempt by the island’s leaders to formally establish independence. China has also acquired eight Russian kilo-class submarines, which are very hard to detect when submerged, and is building its own attack submarines.

Some of the newer ships and submarines in China’s fleet are equipped with Russian-made anti-ship cruise missiles that can fly at supersonic speeds. Those missiles, and an anti-ship ballistic missile under development, appear aimed at giving China the ability to strike U.S. aircraft carriers, say U.S. naval officers. Aircraft carriers have been the mainstay of U.S. maritime power for decades.

While China has no aircraft carriers of its own, Chinese officials have started talking publicly again about adding one to their own fleet. Chinese shipyards would likely have little difficulty building the type of mid-sized carrier most analysts expect China to launch. But mastering the operations of a carrier task force and its aircraft would probably take many years, analysts say.

Chinese navy officers believe that their forces must be able to push beyond what they consider the first island chain — running south from Japan and around the east side of Taiwan — that stands between China and the broad expanse of the Pacific Ocean. Being able to move ships and subs out into the Pacific would be critical to Chinese efforts to block or delay the approach of U.S. ships to Taiwan or the mainland.

China’s fleets have been pushing farther offshore. Last October, a flotilla of four Chinese navy ships, including a Russian-built guided-missile destroyer and two of the country’s most-advanced frigates, passed through the narrow Tsugaru Strait between the main Japanese islands of Honshu and Hokkaido and out into the Pacific Ocean. Japanese saw it as a demonstration of China’s growing might.

Chinese submarines have also been detected a number of times nosing around Japanese waters. In 2004, a submerged Chinese sub passed through another narrow strait in what the Japanese considered a violation of international law. U.S. and Japanese defense officials interpreted it as a possible effort to map and gather intelligence about routes from the East China Sea to the Pacific.

The new naval base on Hainan, which appears large enough to accommodate surface ships as well as attack and ballistic-missile submarines, gives China’s navy direct access to vital international sea lanes. It could allow submarines to deploy stealthily into the deep waters of the South China Sea, the Pentagon says.

Analysts from the Federation of American Scientists who have examined satellite images of the Hainan base say it also appears to have a facility of the sort used by the U.S. Navy to demagnetize nuclear-missile submarines before they deploy, to make them harder to detect. If that were true, it would indicate China’s intention to use its ballistic-missile submarines as an active part of its nuclear deterrent. The federation says that there is no evidence that China’s previous generation of nuclear-missile-carrying submarine ever carried out a single deterrent patrol.

The Defense Ministry declined to comment. The latest defense white paper says that one of the navy’s missions is “the capability of nuclear counter attacks.”

Despite China’s modernization drive, many weaknesses remain in its armory. Chinese military officers’ own assessments of their abilities, contained in professional journals and military media, say that they fall short of their goals of being able to fight and win a high-tech local war.

The limits were on painful display during the Sichuan earthquake last May — a peacetime operation on China’s own territory. China mobilized more than 114,000 soldiers to assist in disaster-relief efforts. But given the military’s lack of airlift capacity, just a fraction were able to arrive in the quake-hit area by plane in the first day or so after the temblor hit. The rest had to move by rail or drive. A marine unit spent several days driving from its base in southern Guangdong province. Relief work also highlighted China’s serious lack of helicopters.

Dai Xu, a colonel in the Chinese air force, said that the military’s earthquake operations showed that patriotism and spirit were unable “to cover up the weaknesses in the army’s equipment and technology abilities.” Col. Dai, writing in a Chinese foreign-affairs journal, said that “an army without the capability of air mechanization is not qualified to talk about informatization,” a reference to high-tech war.

By the Pentagon’s own estimates, China’s limited ability to move and sustain soldiers beyond its borders hasn’t improved appreciably since 2000. The Pentagon also calculates that despite the shopping spree on new equipment, just 20% of the weapons systems used by the Chinese air force are “modern,” along with 40% of the navy’s submarines and roughly 30% of its surface ships.

Critically, China has no experience in modern war-fighting. The nation’s last significant conflict was a 1979 border war with Vietnam. The U.S. military, on the other hand, has been almost constantly involved in conflicts since the start of the Persian Gulf War in 1990.

To make up for its deficiencies, China’s military has adopted a strategy of surprise and secrecy to keep U.S. forces off guard. It calls this strategy the “assassin’s mace,” an allusion to a concealed blade, or bludgeon. In this way, the military believes, its technologically inferior forces can gain the advantage over a technologically superior adversary.

China’s stealth fuels U.S. suspicions. The Impeccable interception recalled a similar episode in the area in 2001 when a Chinese fighter plane was in a collision with a U.S. EP-3 spy plane. The U.S. pilot nursed his crippled aircraft to a landing in Hainan, where its crew of 24 was detained for 11 days. The Chinese plane crashed, killing the pilot. In 2007, China shocked the world by blowing up one of its old weather satellites with a ballistic missile, showering debris into space.

The U.S. Air Force and Navy recently raised the specter of a belligerent China in their calls for more F-22 fighters and long-range bombers, as well as the production of a new, stealthy class of guided-missile destroyer, known as the Zumwalt. However, this month, U.S. Defense Secretary Robert Gates said he planned to halt further purchases of the F-22 and end the Zumwalt program as part of an overhaul of weapons priorities to reorient the U.S. military towards winning unconventional conflicts such as the war in Afghanistan rather than fighting China, Russia or other major powers.

In China, a vocal public constituency is pressing for a more assertive military. Bai Jieming, who runs a shop in the southern boomtown of Shenzhen selling models of Chinese warships, says that replicas of one of the destroyers sent in December to patrol the Gulf of Aden against pirates, the “168,” have sold out. He says that Chinese people long for an aircraft carrier. “I’d even donate money to help build it,” says Mr. Bai.

The Impeccable incident has stoked fears about the risks of miscalculation. In 2007, a Chinese submarine surfaced within firing range of the U.S. aircraft carrier Kitty Hawk during maneuvers near the Philippines. The U.S. Pacific commander at the time, Adm. William Fallon, said the incident could have “escalated into something very unforeseen.”

Adding to the dangers, says a U.S. Defense Department official, are unclear lines of communication between the Chinese military and other parts of the bureaucracy. Chinese leaders were “surprised, shocked and embarrassed” by the outcry from the U.S. and other countries, such as Russia, after their military shot down the weather satellite, he says. This could have been avoided if they had gotten better advice from nonmilitary sources. “There’s a learning process that goes into being a major power,” he says.

China sends conflicting messages about its desire for power and influence in the world. It is the world’s third largest economy, and presses for a greater say in international financial institutions to match that status, yet constantly sends reminders that in terms of per capita income it remains a relatively poor developing nation. Large parts of China’s military spending, including R&D outlays, do not appear in its official numbers on defense spending.

Past assessments have not seen China as an electronics superpower. China could turn its electronic prowess developing ever-faster computers and high-speed communications equipment for American consumers into cyberweaponry. Even so, it will still be a long time before China is the formidable military might some in the U.S. see.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Quan hệ Mỹ-Trung, Quân sự | Leave a Comment »

Hãy Giữ Ổn Định cho vùng Biển Đông

Posted by adminbasam on 22/04/2009

The Star Online

Hãy giữ ổn định cho vùng Biển Đông

MOHD NIZAM BASIRON

Thứ Hai, ngày 20-4-2009

 

Những vụ việc xảy ra gần đây trên vùng Biển Nam Trung Hoa[Biển Đông] có thể đã đánh thức những nước có yêu sách đối với các khu vực đang tranh chấp hãy đồng ý tự kềm chế trong các hoạt động tại đó thông qua Bản Công bố về cách hành  sử chung (DOC) của các nước trong khu vực.

Bản Công bố chung vào năm 2002 là một công cụ có tính tạm thời để kiểm soát những xung đột giữa các bên có yêu sách chủ quyền trên vùng Biển Đông trong khi các quốc gia cùng hành động hướng tới “một giải pháp hòa bình và bền vững” cho vấn đề này.

Các bên ký kết bao gồm thành viên của các quốc gia trong Asean và Trung Quốc.

Trong khi bản công bố các hành sử chung góp phần giảm bớt cường độ xung đột, thì nó lại không phải là một chuyến ra khơi êm ái trong khoảng thời gian giữa năm 2002 và hiện nay. Thời kỳ này đã được đánh dấu bằng những vụ xô xát nhỏ nhưng đôi khi là những biến cố chết chóc ví như hành động bắn giết các ngư dân Việt Nam của Trung Quốc vào những năm 2005 và 2007 *.

Bất chấp lời kêu gọi trong Bản Công  Bố chung dành cho những quốc gia đang đòi hỏi chủ quyền hãy giới hạn bớt các hành động ở trong vùng Biển Đông, các quốc gia liên quan đã hiếm khi tiết giảm việc tiến hành các hoạt động nhằm củng cố cho những đòi hỏi chủ quyền của họ.

Trung Quốc, Philippines và Việt Nam, là một ví dụ, đã hoàn tất một thỏa thuận khảo sát địa chấn ba bên vào năm 2007 **.

Điều thú vị là thỏa thuận khảo sát cũng đã tính đến cả những khu vực không được Trung Quốc và Việt Nam yêu sách chủ quyền song rõ ràng lại nằm bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Đã có một sự suy đoán như là: tại sao Philippines lại đồng ý việc khảo sát, với một số chuyên gia gợi lên ý kiến cho rằng nó na ná như trò “bán rẻ” có tính chất ngoại giao về phía Manila để hỗ trợ những gia tăng về mặt kinh tế.

Việc khảo sát địa chấn (giữa 3 nước) cũng có thể là bằng chứng cho chính sách chia-để-trị của Trung Quốc giữa những thành viên đang có yêu sách chủ quyền ở trong khối Châu Á.

Hơn nữa, việc khảo sát địa chấn này còn kích động một loạt những hành động của các nước có yêu sách chủ quyền khác, ví như chuyến viếng thăm của Tổng thống Đài Loan tới đảo Đông Sa ở Trung Quốc(?) vào tháng Hai năm ngoái nhằm đáng dấu việc hoàn thành một phi đạo trên đảo này ***.

Trong tình trạng bị cách ly, các biến cố này có thể bị coi như những sự việc nhỏ trong cả bối cảnh rộng lớn hơn của tình hình an ninh trên Biển Đông. Tuy nhiên, chúng có thể tạo nên một mối đe doạ cho sự ổn định khó lòng mà có được trong khu vực và ngấm ngầm phá hoại ít nhất là về mặt tinh thần nếu như không muốn nói là (phá hoại) nội dung của Bản công bố thỏa thuận DOC.

Những sự việc xảy ra gần đây nhất trong năm nay bao gồm việc những tàu giám sát của Mỹ trên Biển Đông và một đạo luật mới về đường cơ sở của Philippines cũng có thể đã gia tăng áp lực lên sự ổn định vốn đã mong manh này.

Hai tàu giám sát của Hoa Kỳ – USNS Impeccable và USNS Bowditch – đã được thấy là hiện diện trên vùng Biển Đông.

Philippines đã đưa ra một đạo luật mới coi Hoàng Sa (cũng là một khu vực mà Trung Quốc muốn yêu sách chủ quyền) bao gồm trong vùng ranh giới biển của họ.

Phản ứng có tính cách gây hấn của Trung Quốc đối với những việc này là có thể hiểu được, song lại gây thêm sự phức tạp.

Có thể hiểu được là không có quốc gia nào muốn thấy một con tàu khảo sát đại dương của người ngoại quốc ở 75 dặm cách căn cứ tàu ngầm chính của mình, nhưng việc sử dụng những tàu không phải của quân đội thay vì là các tàu quân sự  của Trung Quốc để đương đầu với chiếc USNS Impeccable lại đòi hỏi sự giải thích.

Có phải đó là một sự phô bày về tính kềm chế về phía Trung Quốc hay không? Không rõ Trung Quốc đã học được bài học từ vụ chiếc phi cơ EP-3 năm 2001 trực tiếp đối đầu về quân sự với Hoa Kỳ sẽ không có lợi cho bất cứ bên nào? Và nếu như biến cố ấy xảy ra lần nữa, liệu Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân có  xuất hiện thay vì những chiếc tàu “dân sự”?

Đây là những câu hỏi cần có những câu trả lời.

Sự hiện diện của những chiếc tàu Hoa Kỳ gợi nên suy đoán rằng Hoa Kỳ đang săn lùng những chiến tàu ngầm của Trung Quốc trên Biển Đông. Quả thực các giới chức quốc phòng Hoa Kỳ, phát biểu trong tình trạng nặc danh, đã cho biết rằng chiếc USNS Impeccable “là một  phận của một hoạt động giám sát được tính toán trước của Hoa Kỳ trong vùng Biển Đông đang có những tranh chấp.”

Và Trung Quốc cũng đã sử dụng loại tàu đánh cá có vũ trang trong vùng quần đảo Hoàng Sa để đáp trả lại bộ luật về đường cơ sở của Philippines.

Loại tàu đánh cá có vũ trang được gửi tới vùng biển này có lẻ là vì  Trung Quốc đã có một thỏa thuận với Philippines về việc cùng đánh bắt hải sản, song với bộ luật mới, Trung Quốc có thể nghĩ rằng Philippines đã đơn phương thủ tiêu thỏa thuận này.

Hiện giờ thì sao? Nếu như những nước có yêu sách chủ quyền trên vùng Biển Đông muốn tỏ thái độ nghiêm túc đối với hòa bình và ổn định trong khu vực, thì họ sẽ phải tìm kiếm những phương cách nào đó và có ý nghĩa là đưa bản tuyên bố chung về cách hành sử (DOC) ra thi hành.

Bản Công bố chung DOC đã không được thi hành một cách có hiệu quả kể từ buổi lễ ký kết năm 2002. Chẳng có chi tiết nào trong chương trình nghị sự của nó bàn về nghiên cứu khoa học biển, ngăn ngừa ô nhiễm, bảo vệ môi trường và an toàn cho ngành hàng hải được thực hiện. Có lẽ hiện trạng với những cuộc xung đột không liên tục là có thể chấp nhận được cho tất cả các bên liên quan.

Điều này sẽ là nguy hiểm, căn cứ vào mức độ căng thẳng đang gia tăng, hành vi khiêu khích và sự bùng nổ có thể xảy ra của những xung đột cũng như sự có mặt của hải quân Hoa Kỳ trong khu vực này.

Tóm lại, nếu như một số quốc gia có thể được xem như là “đang khuyến dụ con rồng” theo như một nhà phân tích nổi tiếng ám chỉ, thì họ nên cẩn thận đừng làm rung động con thuyền Biển Đông quá mạnh.

Mohd Nizam Basiron là một thành viên nghiên cứu tại Viện Hàng hải thuộc Malaysia. Những quan điểm trong bài là của riêng tác giả.

Ghi chú:

* Xem: bài số 70-Quáng gà lụy cáo già.

** Xem: Chớ có phản bội trong thỏa thuận Trường Sa; Quần đảo Trường Sa 101; Phản bội Trường Sa? – trên trang basam.tk

*** Xem: Đài Loan nhận chủ quyền Trường Sa (BBC).

 

The Star Online

Keeping stability in South China Sea

By MOHD NIZAM BASIRON

Monday April 20, 2009

THE recent happenings in South China Sea may have awaken claimants of the disputed zone which have agreed to exercise self-restraint in activities there via declaration on the code of conduct (DOC) of parties in that area.

The DOC is an interim instrument to manage conflicts between claimants in the South China Sea while the countries work towards “a peaceful and durable solution” to the problem in 2002.

The signatories include member states of Asean and China.

While the declaration has contributed to a reduction in the intensity of the conflict, it has not been a smooth sailing between 2002 and now. The period has been punctuated by minor but sometimes deadly incidents such as China’s shooting of Vietnamese fishermen in 2005 and 2007.

Despite the DOC’s call for claimants to exercise restraint in the South China Sea, the countries concerned have hardly been reticent in carrying out activities which would strengthen their claims. China, the Philippines and Vietnam, for example, completed a trilateral seismic survey in 2007.

Interestingly, the survey also included areas not claimed by China and Vietnam but clearly within the exclusive economic zone of the Philippines. There has been speculation as to why the Philippines agreed to the survey, with some analysts suggesting that it was akin to a diplomatic “ sellout ” on Manila’s part in favour of economic gains.

The survey could also be evidence of China’s divide-and-rule policy among the Asean claimants.

Moreover, it stimulated a series of activities by the other claimants, such as the visit of Taiwan’s President to Dongsha island in China in February last year to mark the completion of an airstrip on the island.

In isolation, these incidents might be considered minor events in the wider context of the South China Sea security. However, they could constitute a threat to hard-earned stability in the area and undermine at least the spirit if not the letter of the DOC.

The latest happenings this year include two American surveillance ships in the South China Sea and a new Philippine baseline law that could also add pressure to this already fragile stability.

Two US surveillance ships – USNS Impeccable and USNS Bowditch – were found present in the South China Sea.

The Philippines has set a new rule that saw Paracels (also an area that China wanted to claim) included in its maritime boundary.

China’s aggressive response to these incidents was understandable but somewhat perplexing.

Understandably, no country would like having a sophisticated foreign ocean survey vessel 75 miles off its main submarine base but the use of non-military vessels instead of military vessels by China to confront the USNS Impeccable begs explanation.

Was it a show of restraint on China’s part? Has China learnt from the EP-3 incident in 2001 that direct military confrontation with the United States will not benefit either party? And if it happens again, would the People’s Liberation Army Navy make an appearance instead of the “civilian” vessels?

These are the questions that needed answers.

The presence of the US vessels prompted speculation that the US was hunting for Chinese submarines in the South China Sea. Indeed US defence officials, speaking on conditions of anonymity, have indicated that the USNS Impeccable “was part of a calculated US surveillance operation in the disputed South China Sea.”

And China was also only using its fisheries enforcement vessel into the Paracels in response to the Philippines’ baseline law.

The fisheries enforcement vessel was sent probably because China had an agreement with the Philippines on joint fishing but with the new law, it may think the Philippines had unilaterally abrogated it.

What now? If the claimants of the South China Sea are serious about peace and stability in the region, they would have to find ways and mean s to move the DOC forward.

The DOC has not effectively moved beyond the 2002 signing ceremony. None of its agenda in marine scientific research, pollution prevention, environmental protection and safety of navigation have progressed. Perhaps the status quo with its intermittent conflicts is acceptable to all concerned.

This would be dangerous, given the heightened level of tension, provocative behaviour and possible outbreak of conflicts as well as the presence of the US navy in the region.

Indeed if some countries can be seen to be “tempting the dragon” as one prominent analyst suggests, they should be careful not to rock the South China Sea boat too hard.

l Mohd Nizam Basiron is a research fellow at the Maritime Institute of Malaysia. The opinions expressed are the writer’s personal views.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

Posted in ASEAN, Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung | Leave a Comment »

 
%d bloggers like this: