BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Lịch sử’ Category

126. Nguyễn Xuân Nghĩa: MỘT TẤM DƯ ĐỒ BỊ LÃNG QUÊN

Posted by adminbasam on 23/06/2011

MỘT TẤM DƯ ĐỒ BỊ LÃNG QUÊN

Đông Nam Á trên bản đồ của Hondius xuất bản năm 1606 tại Amsterdam 

Nguyễn  Xuân Nghĩa

Hoàng Sa là của ai dưới con mắt nhà địa dư học Hoà Lan?

Dainamax Magazine xin giới thiệu một tấm bản đồ Đông Nam Á xuất bản năm 1606 mà chúng tôi có bản chính từ đã lâu. Tấm bản đồ này được in lại năm 1613 trong cuốn địa đồ Atlas Mercator Hondius.

***
Gerardus Mercator và Jodocus Hondius là hai nhà địa dư học nổi tiếng của xứ Hoà Lan (Netherland) từ thế kỷ 17, vào năm 1600 trở về sau. Thời ấy, để cạnh tranh với Công ty Đông Ấn của Anh, Công ty Đông Ấn của Hoà Lan được lập ra năm 1602 và phát triển cơ sở kinh doanh ở khắp nơi nên mới tập trung lại các tài liệu tham khảo về địa hình địa thế Á Đông. Tấm bản đồ trên đây là do Jodocus Hondius (1563-1612) vẽ lại trước năm xuất bản 1606 và căn cứ trên những dữ kiện của nhà địa dư học Bồ Đào Nha (Portugal) là Bartolomeu Lasso vào đầu thế kỷ 16 – tức là trước đó khoảng trăm năm.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Lịch sử, Quan hệ quốc tế | Tagged: , , , , , , , , | 11 Comments »

44. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 19-09-1970

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng

19-09-1970

Mô tả: Chu Ân Lai yêu cầu Phạm Văn Đồng ngưng việc gửi sinh viên sang châu Âu, thay vào đó, chọn các giáo viên Trung Quốc đến dạy ở Việt Nam, ông ta cũng ca ngợi chính sách ngoại giao của Việt Nam thời gian gần đây.

Chu Ân Lai: Chúng tôi nghĩ, đào tạo sinh viên của các ông ở Việt Nam thì tốt hơn là gửi họ qua châu Âu vì lối sống khác nhau. Những thanh niên trẻ sẽ bị ảnh hưởng bởi những ý tưởng khác, sẽ gây khó khăn cho chúng ta khi họ trở về. Vì vậy, các ông không nên gửi họ ra nước ngoài. Chúng tôi có thể gửi giáo viên của chúng tôi đến Việt Nam để dạy cho họ.

Chu Ân Lai: Như chúng tôi quan sát, các ông có được kinh nghiệm từ cuộc đấu tranh ngoại giao. Chúng tôi đã đọc các báo cáo của đồng chí Huang Chen về cuộc gặp gỡ giữa ông ấy với đồng chí Nguyễn Thị Bình và đồng chí Bình đọc bài phát biểu. Chúng tôi thấy rằng đồng chí Nguyễn Thị Bình là rất sắc sảo. Chúng tôi cũng đã đọc báo cáo về cuộc họp giữa các đồng chí Huang Chen và Xuân Thủy về các liên hệ bí mật giữa Xuân Thủy và Kissinger. Trả lời cuối cùng của đồng chí Xuân Thủy rất tốt và hài hước. Sau đó tôi nói với các cán bộ ở Bộ Ngoại giao của chúng tôi rằng, đó là một việc làm tốt chỉ có thể có được từ thực tế ngoại giao.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

43. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 17-09-1970

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng

17-09-1970

Mô tả: Phạm Văn Đồng phác thảo hai cuộc tấn công ngoại giao mới của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đang tiến hành chống Mỹ. Chu Ân Lai đề nghị gửi những người đại diện Trung Quốc ra mặt trận để quan sát tình hình tại miền Nam Việt Nam.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi luôn luôn nghĩ rằng đấu tranh chính trị và quân sự có tầm quan trọng quyết định. Tuy nhiên, trong trường hợp Việt Nam, ở một mức độ nhất định, đấu tranh ngoại giao có hiệu quả và đã chứng minh có hiệu quả trong nhiều năm qua. Tôi muốn nêu vấn đề về cách thức đấu tranh ngoại giao có hiệu quả tại thời điểm Nixon đang thực hiện “Việt Nam hóa” chiến tranh. Chúng tôi cho rằng Việt Nam hóa chiến tranh của Nixon vẫn nhắm vào mục đích giành chiến thắng quân sự tại miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, không có nghĩa là Nixon không nghĩ đến ngoại giao. Nhưng chúng tôi cũng hiểu rằng khi họ nói về ngoại giao, hòa bình, họ đang cố lừa dối thế giới, và họ không có bất kỳ ảo tưởng nào về ngoại giao.

Họ đã gửi [viên chức Mỹ David] Bruce đến Paris cũng nhằm mục đích lừa dối thế giới. Chúng ta nên làm gì để đối phó với tính toán của Nixon? Thực tế, chúng tôi sẽ kiên trì trong cuộc đấu tranh quân sự và chính trị, xem các cuộc đấu tranh này là quyết định cho chiến thắng. Đồng thời, chúng tôi đang làm hết sức mình, khi tình hình cho phép, đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao.

Đối với chúng tôi và Nixon, ngoại giao là một cách chơi chữ. Cả chúng tôi lẫn ông ta không có bất kỳ ảo tưởng nào về ngoại giao. Tuy nhiên, chúng tôi cũng thấy một số thuận lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao. Trước tiên, chúng tôi phải giành cảm tình của người dân miền Nam Việt Nam, đặc biệt là những người ở khu vực đô thị. Hơn nữa, chúng tôi phải gây ảnh hưởng đến quan điểm phản chiến của công chúng Mỹ, không chỉ gồm đông đảo người dân, mà còn gồm cả giới doanh nghiệp, chính trị, học viện, và giới văn phòng để bảo đảm sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn của họ.

Dư luận công chúng thế giới đã được huy động. Tuy nhiên, sẽ tốt hơn nếu ý kiến của các nhóm chính trị có thể bị ảnh hưởng. Từ tính toán này, chúng tôi cho rằng đấu tranh ngoại giao có thể phục vụ như một mặt trận khác. Vì vậy, phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đang tiến hành cuộc tấn công ngoại giao mới.

Chúng tôi đang tập trung vào hai điểm sau đây:

– Việc rút quân vô điều kiện của Mỹ. Điểm mới ở đây là chúng tôi yêu cầu lịch trình cho việc rút quân.

– Vấn đề của một chính phủ liên minh. Đây là vấn đề quan trọng hơn. Tiêu điểm là yêu cầu loại bỏ Thiệu, Kỳ (2), và Khiêm (3).

Những điểm này không hoàn toàn mới khi đã được đề cập trong đề xuất 10 điểm trước đó. Nhưng lý do chúng tôi tập trung vào chúng, là vì chúng tôi muốn dồn Nixon vào góc tường bằng ảnh hưởng dư luận ở Mỹ và phần còn lại của thế giới. Những điểm này cũng nhằm hỗ trợ các cuộc đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam. Chúng tôi không có bất kỳ ảo tưởng nào rằng nó sẽ mang lại kết quả.

Chu Ân Lai: Tôi muốn nói về sự hợp tác giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Quốc. Đồng chí Mao đã thường nhắc cho chúng tôi hiểu khó khăn của các ông và giúp các ông giải quyết chúng, xem những khó khăn này là của chúng tôi, bởi vì mối quan hệ của chúng ta là mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến. Tôi phải nói rõ rằng chúng tôi cơ bản đáp ứng nhu cầu của các ông. Chúng tôi cũng xem xét một số vấn đề chưa được các ông nêu ra. Kể từ bây giờ, nếu có khó khăn mới xuất hiện, chúng tôi muốn các ông thông báo cho chúng tôi và chúng tôi sẽ cố gắng hết sức trong khả năng của chúng tôi để giúp các ông.

Một số vũ khí mà các ông yêu cầu, hiện đã trở nên lỗi thời. Chúng tôi đã cải thiện chúng, làm cho chúng hiệu quả hơn và nhẹ hơn. Vì vậy, chúng tôi đề nghị các loại vũ khí này để các ông xem xét. Hậu phương lớn phải giúp đỡ tiền tuyến. Tuy nhiên, hậu phương lớn phải đi ra mặt trận để hiểu vấn đề và để giải quyết chúng.

Báo cáo của đồng chí Fang Yi về chuyến đi gần đây của ông ấy đến Việt Nam là một tài liệu tốt cho chúng tôi tìm hiểu về tình hình Việt Nam. Chúng tôi hơi quan liêu. Có nhiều người chịu đựng vấn đề này ở đại sứ quán của chúng tôi tại Việt Nam. Có lần Mao Chủ tịch nổi giận với các báo cáo của Đại sứ quán. Ông ấy nói rằng ông ấy không muốn đọc, vì các báo cáo này được viết bởi [những người] chỉ ngồi trong văn phòng. Do đó chúng tôi muốn gửi người của chúng tôi ra mặt trận để quan sát tình hình.

Nếu các ông đồng ý, chúng tôi không chỉ gửi các quan chức cấp cao, mà còn gửi đại diện của các lực lượng vũ trang, những nhà cách mạng, và công nhân đến Việt Nam, là những bước quan trọng để chuẩn bị cho chiến tranh. Hiện Trung Quốc đang bị bao vây. Tuy nhiên, chiến tranh đã bắt đầu chỉ có ở Đông Dương. Chúng tôi không thể hiểu kẻ thù. Không có đánh nhau ở Triều Tiên. Các biên giới với Liên Xô bị cô lập. Vì vậy, chúng tôi phải trông cậy vào mặt trận ở Việt Nam.

Ghi chú:

1. Buổi nói chuyện này diễn ra cùng ngày bốn đoàn đại biểu đến tham dự các cuộc đàm phán Hòa bình Paris, nghe trình bày kế hoạch hòa bình tám điểm mới của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

2. Nguyễn Cao Kỳ: (1930-), tướng Không quân, Tư lệnh Không quân miền Nam Việt Nam, Thủ tướng 1965-1967 và phó tổng thống dưới quyền Nguyễn Văn Thiệu năm 1967-1971.

3. Trần Thiện Khiêm: (1925 -) là tướng miền Nam Việt Nam, là một nhân vật chủ chốt trong cuộc đảo chính chống lại Ngô Đình Diệm năm 1963. Sau khi tham gia vào cuộc đảo chính Nguyễn Khánh năm 1964, ông bị lưu đày danh dự, làm đại sứ tại Washington. Năm 1968 ông trở về làm Bộ trưởng Nội vụ, và làm Thủ tướng dưới thời ông Thiệu năm 1969-75.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

42. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Trịnh Đình Thảo 23-07-1970

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Trịnh Đình Thảo

23-07-1970

Mô tả: Chu Ân Lai bàn về thuận lợi và khó khăn trong việc ký hiệp định Geneva.

Chu Ân Lai: Có cả thuận lợi và khó khăn liên quan đến việc chúng tôi ký hiệp định Geveva [năm 1954]. Về thuận lợi, miền Bắc Việt Nam có được một thời kỳ ổn định, cho phép thực hiện xây dựng xã hội chủ nghĩa. Về khó khăn, những người lính miền Nam Việt Nam rút về miền Bắc. Một số lính ở Campuchia cũng rút về miền Bắc. Ở Lào, chỉ hai tỉnh Xâm Neua và Phong Saly được chỉ định là khu vực tập trung cho các lực lượng cách mạng. Lúc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã miễn cưỡng. [Viên chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Walter Bedell] Smith từ chối ký vào hiệp định.

Lúc đó, chúng tôi có hai lựa chọn, hoặc là ký [hiệp định] hoặc không ký [hiệp định] nếu Hoa Kỳ không ký. Sau khi tham khảo ý kiến với các nước xã hội chủ nghĩa, chúng tôi tin rằng tốt hơn nên ký. Sau đó Mao Chủ tịch nói rằng, nên cân nhắc lựa chọn không ký vào [hiệp định]. Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng đều nói rằng dường như [ký] được lợi nhiều hơn hại. Nhìn lại, trong một thời gian người dân ở miền Nam Việt Nam phải chịu đựng, nhưng cũng có một cái gì đó tốt đẹp trong gian khổ, khi người dân miền Nam tự phát đứng lên chiến đấu. Hoàn toàn dựa vào sức mạnh của chính họ, họ đã tạo ra tình hình hôm nay.

Ghi chú:

1. Trịnh Đình Thảo: là Phó Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, lúc đó đang dẫn đầu phái đoàn “Liên minh Quốc gia, Lực lượng Dân chủ và Hòa bình Việt Nam” đến thăm Trung Quốc.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

41. Thảo luận giữa của Mao Trạch Đông và Kaysone Phomvihane 07-07-1970

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa của Mao Trạch Đông và Kaysone Phomvihane

07-07-1970

Mô tả: Mao Trạch Đông gặp các thành viên của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và ủng hộ họ.

Kaysone Phomvihane (Cay-xỏn Phôm-vi-hản): Trong chuyến thăm của đoàn đại biểu chúng tôi đến Trung Quốc, chúng tôi đã báo cáo tình hình ở Lào cho Đảng [CS] Trung Quốc. Theo tình hình mới ở thời điểm hiện tại, chúng tôi đã xây dựng một kế hoạch cho cuộc đấu tranh trong ba năm tới. Mục đích của kế hoạch này là thúc đẩy hơn nữa cuộc đấu tranh của chúng ta chống Mỹ cứu nước, để theo đuổi chiến thắng vĩ đại hơn.

….

Mao Trạch Đông: Sau khi chiến đấu trong nhiều năm, ông có cảm thấy thiếu nhân lực và sức mạnh vật chất không?

Kaysone Phomvihane: Chúng tôi đang thiếu một vài thứ.

Mao Trạch Đông: Thiếu thứ gì?

Kaysone Phomvihane: Ví dụ, về nhân lực, khi chúng tôi muốn tuyển mộ lính mới, có rất ít người có sẵn để tuyển mộ. Bởi vì chúng tôi không đủ nhân lực, chúng tôi cũng gặp khó khăn khi cố gắng tổ chức sản xuất. Chúng tôi cũng có những khó khăn trong việc cải thiện sản xuất để phục vụ nhu cầu ngoài mặt trận, và để cải thiện chất lượng đời sống của quần chúng.

Mao Trạch Đông: Có vẻ như cuộc chiến sẽ kéo dài.

Kaysone Phomvihane: Đây cũng là kết quả phân tích của chúng tôi. Rất có thể cuộc chiến sẽ kéo dài. Đó là do đế quốc rất cứng đầu, và tiềm năng quân sự và kinh tế của họ cũng rất mạnh. Mặc dù chiến tranh sẽ kéo dài, chúng tôi quyết tâm tiếp tục chiến đấu.

Mao Trạch Đông: Tốt. Khi gặp khó khăn, ông cần phải có quyết tâm. Không có gì nghiêm trọng hơn những khó khăn, thiếu nhân lực, và thiếu nguyên liệu.

Kaysone Phomvihane: Mao Chủ tịch nói đúng. Khó khăn của chúng tôi là những điều mới xuất hiện trong việc theo đuổi chiến thắng, trong khi khó khăn mà bọn đế quốc Mỹ và chó săn phải đối mặt là những điều dẫn đến thất bại.

Mao Trạch Đông: Đúng. Lần trước tôi nói với ông, liệu ông có thể tổ chức một đội quân chiến đấu ở Thái Lan hay không. Đó là do người Thái tấn công các ông. Nếu các ông có thể tấn công tôi, tại sao tôi không thể tấn công các ông?

Kaysone Phomvihane: Tôi nhớ rõ những lời của Mao Chủ tịch.

….

Mao Trạch Đông: Ông ta (Mao chỉ vào Sisavat (2)) đang làm gì?

Kaysone Phomvihane: Ông ta là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội của chúng tôi.
Mao Trạch Đông: Ông phụ trách chiến đấu. Ông có biết Tổng Tham mưu trưởng của chúng tôi, đồng chí Hoàng Vĩnh Thắng không?

Sisavat: Tôi đã gặp đồng chí Hoàng Vĩnh Thắng trong chuyến thăm vừa rồi của tôi đến Trung Quốc. Quan hệ giữa chúng tôi rất gần gũi.

Mao Trạch Đông: Điều đó không nhất thiết đáng tin cậy. Có đúng là chúng ta hỗ trợ họ không đủ?

Chu Ân Lai: Chúng tôi thỏa mãn tất cả các yêu cầu họ đưa ra. Bây giờ vấn đề chính là khó khăn liên quan đến vận chuyển.

Mao Trạch Đông: Chúng ta xây dựng một con đường xong chưa?

Chu Ân Lai: Vẫn chưa hoàn thành.

….
Mao Trạch Đông: Thế giới đã thay đổi. Điều này cũng đã chứng tỏ điều Lào nói. Chủ nghĩa đế quốc đã tự đào mồ chôn nó. Mục đích của nó là để chiếm nhiều lãnh thổ, và nó sẽ tìm thêm người để chôn nó. Chúng tôi có kinh nghiệm [trong lĩnh vực này]. Ví dụ, Nhật Bản đã chiếm hơn phân nửa Trung Quốc, ở nhiều nơi. Ngoại trừ Tứ Xuyên và nhiều tỉnh khác, tất cả đã bị Nhật chiếm đóng. Do đó Nhật đã giúp chúng tôi. Tất cả những người dân thường đã đứng lên chống lại nó. Vào thời điểm Nhật đầu hàng, số lượng quân đội của chúng tôi đã quá một triệu. Khi cuộc chiến chống Nhật bắt đầu, chúng tôi chỉ có 20.000 quân. Người Nhật đã dạy người Trung Quốc.

Sau đó, người Mỹ giúp Tưởng Giới Thạch tấn công chúng tôi. Sau khi Nhật đầu hàng, Tưởng Giới Thạch ký một hiệp định hòa bình với chúng tôi. Nhưng khi ông ta hoàn thành công việc chuẩn bị, ông ta bắt đầu sử dụng vũ lực để tấn công chúng tôi. Vì vậy, chúng tôi không quá tin tưởng vào những thứ như hiệp ước và các chữ ký. Có một số lý do. Ví dụ, không có hiệp ước giữa hai bên chúng ta, và chúng ta đã không ký bất cứ điều gì, nhưng chúng ta làm những gì chúng ta đã nói. Bọn đế quốc, kể cả con chó săn của Mỹ, Hoàng thân Souvanna Phouma, không làm những gì họ đã nói.

Những điều, chẳng hạn như, tổ chức một chính phủ liên minh, thì tốt. Nhưng các ông cần phải chuẩn bị cho điều gì khác. Mục đích của việc tổ chức một chính phủ liên minh là để tiêu diệt chính phủ liên minh.

Kaysone Phomvihane: Đúng vậy.

Mao Trạch Đông: Một chính phủ liên minh vĩnh viễn? Không có lý do để tin điều đó.

Mao Trạch Đông: Ở Việt Nam, hoặc Campuchia, hoặc Thái Lan, hoặc Miến Điện, tất cả đều như thế. Bây giờ các lực lượng du kích tại Miến Điện và Thái Lan đã có được một số phát triển, mặc dù quy mô không lớn. Lực lượng du kích là một trường học để đào tạo cán bộ. Tầng lớp tư bản sẽ không bao giờ đào tạo cán bộ cho chúng tôi.

Kaysone Phomvihane: Mao Chủ tịch nói đúng.

Mao Trạch Đông: Lực lượng quân sự của [giới tư bản] muốn loại bỏ chúng ta. Điều đó tốt, và chúng ta sẽ chiến đấu. Nếu ông muốn chiến đấu, ông cần phải có lực lượng quân sự và lực lượng này có khả năng đào tạo cán bộ [cho ông]. Chúng ta nên nói rõ rằng chúng ta cần người dân và chúng ta cần binh lính cho lực lượng quân sự. Nhưng người dân và binh lính cần sự lãnh đạo của cán bộ, và không có lãnh đạo, họ bị phân tán.

….

Mao Trạch Đông: Trong lịch sử, chiến tranh chưa bao giờ kết thúc. Tôi nói với đồng chí Lê Duẩn lần tôi gặp ông ấy vừa rồi, với tôi dường như thế giới của chúng ta không có hòa bình. Đế quốc vẫn còn gây rối trên thế giới. Theo tôi, người dân ở các nước khác nhau, gồm cả những người ở các nước đế quốc, sắp nổi dậy. Một số đang gia nhập phong trào hòa bình, một số đang đánh trong các cuộc chiến tranh du kích, một số đang xem xét vấn đề, nhưng vẫn còn nhiều người khác chưa thức tỉnh. Người nào tin rằng có Cách mạng tháng Mười [Nga], cách mạng Trung Quốc, cách mạng Việt Nam, và cách mạng Lào, mà không có cách mạng xảy ra ở những nơi khác? Điều đó không thể.

Lâm Bưu: Bất cứ nơi nào có áp bức, bóc lột, [thì nơi đó] có cách mạng.

Mao Trạch Đông: Nếu không có cuộc cách mạng xảy ra ở những nơi khác, có nghĩa là chủ nghĩa Mác-Lênin lỗi thời. Lenin nói rằng chủ nghĩa đế quốc giết chết chủ nghĩa tư bản. Nếu không, chúng ta cần phải thay đổi nó để cho chủ nghĩa đế quốc thành chủ nghĩa tư bản. Đế quốc không cảm thấy rất thoải mái. Ông có thể nói rằng Nixon cảm thấy rất thoải mái không?
….

Mao Trạch Đông: Về [vấn đề] kinh tế và quân sự, ông có thể nói chuyện với những người này [đang ngồi ở đây].

Kaysone Phomvihane: Để chúng tôi báo cáo với Mao Chủ tịch, nhóm viện trợ kinh tế và viện trợ quân sự đã thực hiện công việc của họ. Chúng tôi đã gặp họ và đã có các cuộc thảo luận rất tốt. Đối mặt với tình hình mới ở thời điểm hiện tại, chúng tôi cũng yêu cầu Đảng Cộng sản Trung Quốc tăng cường ủng hộ và viện trợ cho chúng tôi.

Mao Trạch Đông: Vâng, miễn là ông yêu cầu. Nhưng ông phải yêu cầu, nếu không ai mà biết điều đó?

Kaysone Phomvihane: Vâng, chúng tôi đã yêu cầu.

Mao Trạch Đông: Ông đã yêu cầu, có nhiều cách giải quyết. Chắc chắn ông có thể nói chuyện với họ. Ông không cần phải lo lắng (cười và chỉ vào Khưu Hội Tác). Họ đang làm cách mạng.

Khang Sinh: Về mặt kinh tế, đồng chí Li Qiang phụ trách, cơ bản các vấn đề đã được giải quyết. Theo yêu cầu họ đưa ra, miễn là chúng ta có những gì họ cần, và miễn là chúng ta có lập trường giúp đỡ, về cơ bản các vấn đề có thể được giải quyết.
….

Kaysone Phomvihane: Chúng tôi rất mừng khi được gặp Mao Chủ tịch hôm nay. Chủ tịch đã thảo luận nhiều vấn đề quan trọng với chúng tôi hôm nay, gồm các vấn đề liên quan đến cuộc cách mạng Lào và các vấn đề liên quan đến cách mạng thế giới. Những lời nói của Mao Chủ tịch rất quan trọng cho việc chỉ đạo các cuộc đấu tranh cách mạng của chúng tôi.

Ghi chú:

1. Kaysone Phomvihane: (1920-1992) Tổng bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (Đảng Cộng sản Lào) từ khi thành lập năm 1955 cho đến khi ông ta mất. Về phía Lào, những người tham gia buổi thảo luận này gồm: Sisavat, Saman Vignakhet, Khampang; những người tham dự phía Trung Quốc gồm: Lâm Bưu, Chu Ân Lai, Khang Sinh, Hoàng Vĩnh Thắng, Khưu Hội Tác, Phó Tổng tham mưu và là người đứng đầu Tổng cục Hậu cần Quân Giải phóng Nhân dân TQ, và Sheng Jian, Phó Trưởng Ban Liên lạc (?) Trung ương CSTQ.

2. Sisavat Keobounphan: sau là Phó Chủ tịch Lào.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

40. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Nguyễn Thị Bình 17-06-1970

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Nguyễn Thị Bình

17-06-1970

Mô tả: Chu Ân Lai bảo đảm với Nguyễn Thị Bình rằng chiến thắng ở Việt Nam là có thể, mặc dù [chiến tranh] mở rộng.

Chu Ân Lai: Chúng tôi đã chiến đấu trong chiến tranh Triều Tiên suốt thời [Tổng thống Mỹ] Truman. Hoa Kỳ đã cố gắng lợi dụng [thực tế] Trung Quốc vừa mới được giải phóng để bắt đầu một cuộc chiến tranh xâm lược. Mao Chủ tịch nói rằng, khi các ông tiến tới Sông Yalu, chúng tôi không thể không can thiệp. Nếu chúng tôi thất bại trong việc hỗ trợ Bắc Triều Tiên, Bắc Triều Tiên sẽ bị thua, rơi vào tay Hoa Kỳ. Lúc đó, thực sự chúng tôi không chắc chắn kết quả [sự can thiệp của chúng tôi]. Tuy nhiên, Mao Chủ tịch nói, người dân Trung Quốc có quyền hỗ trợ Triều Tiên.

Nếu chúng tôi bị đẩy lùi, chúng tôi có thể chiến đấu trở lại. Trước tiên, chúng tôi chiến đấu chống lại quân đội bù nhìn. Nhưng khi trận chiến bắt đầu, chúng tôi đọ sức với quân Mỹ. Sau 2-3 chiến dịch, [chúng tôi thấy Mỹ] không mạnh. Có đúng không khi quý vị cũng có kinh nghiệm trưởng thành từ yếu thành mạnh, và quý vị đã chiến đấu một cuộc chiến thậm chí còn lớn hơn so với chiến tranh [Triều Tiên].

Đây là sự thật Mao Chủ tịch đã tiết lộ trong tuyên bố ngày 25 tháng 5 của ông ấy: Không nhất thiết một nước nhỏ phải sợ một nước lớn, một nước lớn đôi khi sợ một nước nhỏ. Trung Quốc không phải là một nước nhỏ, nhưng lúc [Chiến tranh Triều Tiên], là một nước yếu. Vì vậy, miễn là chúng tôi dám cầm vũ khí chiến đấu, cuối cùng chúng tôi có thể sử dụng một cuộc chiến cách mạng để đánh bại chiến tranh xâm lược.

Chiến tranh Triều Tiên đã chứng minh điểm này. Chiến tranh Việt Nam sẽ tiếp tục chứng minh điều đó. Bây giờ chiến tranh đã lan rộng sang Campuchia và toàn cõi Đông Dương. Không phải do quý vị, cũng không phải do hoàng thân Sihanouk, không phải do Trung Quốc có kế hoạch mở rộng. Đó là do Hoa Kỳ đã làm điều đó. Tốt, hãy để cho chiến tranh mở rộng. Trong quá khứ, chỉ những khu vực ở bờ đông của sông Mekong là nơi trú ẩn. Bây giờ toàn bộ Campuchia trở thành nơi trú ẩn, và toàn Đông Dương trở thành nơi trú ẩn, chưa kể một nơi trú ẩn lớn tồn tại – đó là Trung Quốc.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

39. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Lê Duẩn 11-05-1970

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Lê Duẩn

11-05-1970 (*)

Tóm tắt: Mao Trạch Đông khuyên Lê Duẩn không nên sợ Hoa Kỳ.

Mao Trạch Đông: Tôi gặp ông lần cuối khi nào?

Lê Duẩn: Năm 1964. Chúng tôi thấy Mao Chủ tịch rất khỏe và tất cả chúng tôi rất vui. Lần này Mao Chủ tịch tranh thủ thời gian để gặp chúng tôi, chúng tôi rất mừng. Hiện nay, tình hình ở Việt Nam và Đông Dương phức tạp và còn tồn tại một số khó khăn.

Mao Trạch Đông: Mỗi nước đang đối mặt với một số khó khăn. Liên Xô có cái [khó] của họ, và Hoa Kỳ cũng có [cái khó] của nó.

Lê Duẩn: Chúng tôi rất cần chỉ thị của Mao Chủ tịch. Nếu Ủy ban Trung ương và Bộ Chính trị biết rằng Mao Chủ tịch ra chỉ thị về việc chúng tôi nên làm như thế nào, chắc chắn họ sẽ rất hài lòng.

Mao Trạch Đông: Các ông đã làm việc rất tốt, và các ông đang làm ngày càng tốt hơn.

Lê Duẩn: Chúng tôi cố gắng hết mình để làm tốt công việc. Chúng tôi có thể làm tốt công việc bởi vì chúng tôi nghe theo ba sự chỉ dẫn của Mao Chủ tịch chỉ thị cho chúng tôi trong quá khứ: đầu tiên, không sợ hãi, chúng ta không nên sợ kẻ thù; thứ hai, chúng ta nên đập nát kẻ thù ra thành từng mảnh; thứ ba, chúng ta nên chiến đấu một cuộc chiến kéo dài.

Mao Trạch Đông: Vâng, một cuộc chiến tranh kéo dài. Các ông nên chuẩn bị chống lại một cuộc chiến kéo dài, nhưng nó không tốt hơn nếu chiến tranh rút ngắn hay sao?

Ai sợ ai? Có phải các ông, người Việt Nam, Campuchia và người dân Đông Nam Á sợ đế quốc Mỹ? Hay là đế quốc Mỹ sợ các ông? Đây là một câu hỏi đáng được xem xét và nghiên cứu. Một cường quốc sợ một nước nhỏ, cỏ uốn cong khi gió thổi, một cường quốc sẽ phải sợ.

Đúng là trong sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1964 các ông đụng với đế quốc Mỹ, nhưng không phải các ông có ý định đánh trong cuộc chiến với Hải quân Hoa Kỳ. Thực tế, các ông không thực sự đụng độ với [tàu hải quân Hoa Kỳ], mà là do họ quá lo sợ, nói rằng tàu ngư lôi của Việt Nam đã tới và bắt đầu khai hoả. Cuối cùng, ngay cả chính những người Mỹ cũng không biết có [một cuộc tấn công bằng ngư lôi từ phía Việt Nam] thật hay không.

Các nhà báo khác nhau của Mỹ tin rằng, chưa bao giờ có [một cuộc tấn công như thế], và rằng đó là một báo động giả. Kể từ khi chiến tranh bắt đầu, không có sự lựa chọn khác ngoài việc phải đánh lại. Những người buôn bán và sản xuất vũ khí được hưởng lợi từ đó. Các tổng thống Mỹ đã ngủ ít hơn mỗi đêm [kể từ đó]. Nixon nói rằng ông ta sử dụng hầu hết sức lực của mình trong việc đối phó với Việt Nam.

Bây giờ có một người khác, Hoàng thân Sihanouk. Ông ta cũng không phải là người dễ dàng đối phó. Khi các ông xúc phạm ông ta, ông ta sẽ tới để mắng các ông (2).

Theo ý tôi, một số đại sứ quán của chúng tôi cần được chấn chỉnh. Chủ nghĩa bá quyền tồn tại ở một số đại sứ quán Trung Quốc. Họ chỉ nhìn thấy thiếu sót của những người khác, không quan tâm đến lợi ích toàn cục. Đại sứ của Trung Quốc vừa rồi tại Việt Nam là ai?

Chu Ân Lai: Chu Kỳ Văn (3)

Mao Trạch Đông: Chu Kỳ Văn có quan hệ rất xấu với các ông. Thực ra, Chu Kỳ Văn là thành viên của Quốc Dân đảng, và ông ta dự định trốn ra nước ngoài. Chúng tôi đã không biết ông ta là thành viên của Quốc Dân đảng. Vì các ông đang đối phó với Quốc Dân đảng, làm thế nào ông ta không gây rắc rối cho các ông? Lúc đó chúng tôi không biết, nhưng chúng tôi không hài lòng khi chúng tôi thấy những bức điện tín [ông ta gửi lại].

Lê Duẩn: Chúng tôi, người Việt Nam luôn giữ mối giao hảo tuyệt vời của Mao Chủ tịch trong tâm trí chúng tôi. Suốt chín năm kháng chiến chống Pháp, nếu không có sự hỗ trợ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Mao Chủ tịch, chúng tôi không thể nào giành chiến thắng. Tại sao chúng tôi giữ lập trường kiên định chiến đấu một cuộc chiến tranh kéo dài, đặc biệt chiến đấu trong một cuộc chiến kéo dài ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám chiến đấu một cuộc chiến kéo dài? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào những việc làm của Mao Chủ tịch.

Mao Trạch Đông: Không nhất thiết đúng như vậy.

Lê Duẩn: Dĩ nhiên đúng như vậy. Chúng tôi cũng cần áp dụng [những lời giáo huấn của Mao Chủ tịch] vào tình hình thực tế của Việt Nam.

Mao Trạch Đông: Các ông có những sáng tạo riêng. Làm thế nào ai đó có thể nói rằng các ông không có sáng tạo và kinh nghiệm riêng? Ngô Đình Diệm đã sát hại 160.000 [người của các ông]. Tôi đã được báo cáo điều này, và tôi không biết con số này có chính xác hay không, nhưng tôi biết rằng hơn 100.000 người đã bị giết.

Lê Duẩn: Đúng, 160.000 người đã bị giết, và nhiều người khác đã bị đưa vào tù.

Mao Trạch Đông: Tôi nghĩ điều này tốt. Các ông có thể giết chết người của chúng tôi, tại sao chúng tôi không thể giết người của các ông?

Lê Duẩn: Chính xác. Chỉ trong năm 1969 chúng tôi đã giết và làm bị thương 610.000 kẻ thù, trong đó có 230.000 người Mỹ (**).

Mao Trạch Đông: Người Mỹ không có đủ nhân lực để gửi ra khắp thế giới, bởi vì họ đã dàn trải quá mức. Vì vậy, khi người của họ bị giết hại, họ rất đau lòng. Cái chết của vài chục ngàn đã là một vấn đề rất lớn đối với họ. Các ông, người Việt Nam, ở cả hai miền Nam Bắc, theo ý tôi, một số người của các ông cũng bị giết chết là không thể tránh khỏi.

Lê Duẩn: Hiện tại, cách của chúng tôi chiến đấu để giữ thương vong thấp. Nếu không, thì không thể nào chúng tôi có thể bền bỉ trong một thời gian dài.
Mao Trạch Đông: Đúng vậy. Có lẽ tình hình ở Lào khó khăn hơn. Có người nào mang quốc tịch Lào sống ở Trung Quốc không?

Chu Ân Lai: Có một số người.

Mao Trạch Đông: Họ ở đâu?

Chu Ân Lai: Ở tỉnh Vân Nam, các khu vực giáp biên giới Lào.

Mao Trạch Đông: Có phải ở Xishuangbanna?

Hoàng Vĩnh Thắng: Có một số người sống ở Xishuangbanna.

Chu Ân Lai: Người Choang của chúng tôi thì rất giống họ.

Mao Trạch Đông: Khi chiến sự đã bước vào giai đoạn quyết định ở Lào trong tương lai, chúng tôi có thể tuyển dụng một số người Choang ở Quảng Tây và một số người Đại ở Vân Nam. Nhiều người Choang có khả năng chiến đấu tuyệt vời. Trong quá khứ các lãnh chúa Bạch Sùng Hy và Lý Tông Nhân phụ thuộc vào người Choang. Hiện có bao nhiêu người Choang? Tám triệu?

Chu Ân Lai: Hiện có nhiều hơn, hơn mười triệu.

Mao Trạch Đông: Đây là nhóm sắc tộc của Vi Quốc Thanh, mà ông ta không thừa nhận. Có lần tôi hỏi ông ta thuộc dân tộc nào, ông ta có thuộc về một trong các dân tộc thiểu số hay không. Ông ta nói rằng ông ta là người Hán. Sau đó ông ta thừa nhận rằng ông ta là người Choang.
Chu Ân Lai: Một số binh sĩ thuộc Thái Bình Thiên quốc có khả năng chiến đấu. Một số người trong đó là người Choang.

Mao Trạch Đông: Một số lính thuộc Thái Bình Thiên quốc đến từ Quảng Tây.

Lê Duẩn: Người Nùng ở Việt Nam cũng có khả năng chiến đấu. Họ và những người Choang ở Quảng Tây cùng một nhóm người.

Mao Trạch Đông: Đông Nam Á là một tổ ong. Người dân Đông Nam Á đang ngày càng tỉnh ngộ. Một số người theo chủ nghĩa hòa bình nghĩ rằng gà trống thích đá. Làm sao có nhiều gà trống quá vậy? Bây giờ, ngay cả gà mái cũng thích đá.

Lê Duẩn: Không có cách nào thoát ra nếu không đánh.

Mao Trạch Đông: Vâng, không có cách nào thoát ra nếu không đánh. Các ông (Mao nói đến người Mỹ) buộc người khác [chiến đấu] và làm cho họ không có cách lựa chọn nào khác. Các ông đang bắt nạt họ.

Lê Duẩn: Người dân Campuchia và Lào là những tín đồ Phật giáo, những người này không thích đánh nhau. Bây giờ họ cũng thích đánh nhau.

Mao Trạch Đông: Đúng vậy. Ông không thể nói rằng họ không thích đánh bởi vì họ tin vào Phật giáo. Người Trung Quốc cũng là những tín đồ Phật giáo, nhưng cuộc cách mạng năm 1911 theo sau 17 năm chiến đấu. Sau đó trở thành cuộc giao tranh giữa hai phe [giữa các nhà cách mạng], và do đó người dân đã được giáo dục.

Sau đó, Chiến tranh Bắc phạt bắt đầu và Hồng quân xuất hiện. Rồi Nhật Bản xâm lược Trung Quốc. Sau khi Nhật Bản đầu hàng, Tưởng Giới Thạch chống lại chúng tôi. Cuộc chiến kéo dài chưa tới bốn năm, ông ta không thể tiếp tục và bỏ chạy qua Đài Loan. Bây giờ ông ta tuyên bố ở Liên Hiệp Quốc rằng ông ta đại diện cho toàn bộ Trung Quốc. Ông ta có quan hệ mật thiết với một số người trong chúng tôi. Tôi đã gặp Tưởng Giới Thạch vài lần.

Khi Quốc Dân đảng tổ chức Hội nghị Trung ương tại Quảng Châu, tôi đã gặp ông ta. Tôi là ủy viên của Quốc Dân đảng. Tôi là ủy viên của hai đảng. Tôi là ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản và là ủy viên dự khuyết của Trung ương Quốc Dân đảng. Trong suốt thời kỳ đó, nhiều người trong chúng tôi đã gia nhập [Quốc Dân đảng].

Thủ tướng [Chu Ân Lai] của chúng tôi là Giám đốc Khoa Chính trị thuộc Học viện Quân sự Hoàng Phố của Tưởng Giới Thạch và là phó đại diện cho Quân đoàn 1 (First Army) của Tưởng Giới Thạch. Tôi không cần phải nói tới đồng chí Lâm Bưu. Ông ấy là sinh viên của Tưởng Giới Thạch. Ông ấy đã học ở Hoàng Phố chín tháng. Ở Trung Quốc, Có rất ít người, trong số những người thuộc thế hệ cũ, không phải đương đầu với ông ta (Tưởng Giới Thạch).

Lâm Bưu: Tôi cũng là ủy viên của cả hai đảng.

Mao Trạch Đông: Ngay cả những chi nhánh của Quốc Dân đảng đều được tổ chức với sự giúp đỡ của chúng tôi. Nếu không có sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản, Quốc Dân đảng không thể nào tiến hành Chiến tranh Bắc phạt. Lúc đó, Quốc Dân đảng không có tổ chức đảng, không có chi nhánh tại các khu vực dọc sông Hoàng Hà ở miền Bắc. Họ phụ thuộc vào Đảng Cộng sản giúp đỡ.

….

Lê Duẩn: Gần đây, Nixon tuyên bố rằng Hoa Kỳ chưa bao giờ bị bại trận trong 190 năm qua. Ông ta muốn nói rằng lần này Hoa Kỳ chưa sẵn sàng bị Việt Nam đánh bại.

Mao Trạch Đông: Chưa từng bị đánh bại?

Lê Duẩn: Thực tế họ đã bị đánh bại nhiều lần. Tại Trung Quốc, Triều Tiên và trong chiến tranh chống Pháp ở Đông Dương. Người Mỹ chịu 80% chi phí quân sự của Pháp. Tuy nhiên, họ đã bị đánh bại.

Mao Trạch Đông: Đúng vậy. Lúc nãy ông có nói rằng, trước hết không nên lo sợ đế quốc. Sau cùng, ai thực sự sợ ai? Các nước nhỏ. Có vấn đề như thế tồn tại ở một số nước nhỏ. Từ từ họ sẽ cố gắng. Sau khi cố gắng vài năm, thì họ sẽ hiểu.

[Mao nhớ lại và thảo luận về Cách mạng Văn hóa].

Mao Trạch Đông: Vào thời điểm đó, tôi cũng đã nói với ông rằng nếu người Mỹ không tới biên giới Trung Quốc, và nếu các ông đã không mời chúng tôi, chúng tôi đã không gửi quân đội của chúng tôi [tham chiến].

Lê Duẩn: Đây cũng là điều chúng tôi nghĩ. Khi chúng tôi vẫn có thể tiếp tục chiến đấu, chúng tôi hy vọng làm cho “hậu phương lớn” của chúng tôi ổn định hơn. Khi chúng tôi, người Việt đánh với người Mỹ, Trung Quốc là “hậu phương lớn” của chúng tôi. Vì vậy, có lần chúng tôi ban hành các hướng dẫn như thế này, ngay cả khi máy bay của chúng tôi bị tấn công, họ không nên đáp xuống các sân bay ở Trung Quốc.

Mao Trạch Đông: Các ông có thể [đáp xuống sân bay của chúng tôi]. Chúng tôi không sợ. Nếu lực lượng không quân Mỹ đến tấn công những “nơi trú ẩn” của lực lượng không quân Việt Nam, cứ để cho họ tới.

Lê Duẩn: Mặc dù chúng tôi đã ban hành các hướng dẫn như vậy, chúng tôi vẫn cần dựa vào sự hỗ trợ của các ông. Lúc đó, ông đã gửi vài sư đoàn tới Việt Nam, cũng đã tham gia chiến đấu với máy bay Mỹ.

Mao Trạch Đông: Đúng vậy. Người Mỹ đang sợ bị đánh bại, và họ không có đủ khí phách. Các ông có thể đàm phán [với người Mỹ]. Tôi không nói rằng các ông không thể thương lượng, nhưng các ông nên tập trung sức lực để đánh. Ai phá hoại hai Hội nghị Geneva? Cả các ông và chúng tôi hoàn toàn tôn trọng [các nghị quyết của Hội nghị]. Nhưng họ không. Rất tốt là họ đã không tuân theo.

Vì vậy, ngay cả Thủ tướng Kosygin của Liên Xô, khi đọc một bài diễn văn trước công chúng, đã phải nói rằng, miễn là việc triệu tập một hội nghị quốc tế, Việt Nam, Lào và Campuchia phải được tư vấn. Nhiều nhà lãnh đạo hiện tại của họ tôi không quen, tôi không biết họ. Tôi biết Kosygin và đã nói chuyện với ông ta. Các tờ báo ở phương Tây thường có những tin đồn về họ, nói rằng lãnh đạo của họ bị chia rẽ. Tôi cũng không rõ điều này. Người ta nói rằng người dân thường quan tâm hơn đến Kosygin như một nhà lãnh đạo.

Lê Duẩn: Chúng tôi cũng có nghe qua điều đó.

Mao Trạch Đông: Ông cũng đã nghe qua điều đó à? Theo tôi, Stalin đã sống lại. Xu hướng chính trên thế giới hiện nay là cách mạng, gồm cả thế giới. Có khả năng các cường quốc có thể bắt đầu một cuộc chiến tranh thế giới. Nhưng, bởi vì một vài quả bom nguyên tử, không ai dám bắt đầu cuộc chiến.

Điều này chủ yếu là mối quan tâm của hai siêu cường. Hiện nay nhiều người nói rằng có ba cường quốc lớn. Trung Quốc không có trong đó. Nghiên cứu của Trung Quốc về việc làm vũ khí hạt nhân là một kinh nghiệm gần đây (4). Chúng tôi đang ở giai đoạn nghiên cứu. Tại sao phải sợ chúng tôi? Trung Quốc là nước có đông dân số và do đó họ sợ Trung Quốc. Nhưng chúng tôi cũng có nỗi lo sợ riêng, chúng tôi cần thức ăn và quần áo để cung cấp cho dân số đông như thế. Vì vậy chúng tôi đã bắt đầu nghiên cứu hạn chế sinh đẻ để dân số giảm đi đôi chút.

………

Lê Duẩn: Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, đó là vì Chủ tịch nói rằng 700 triệu người Trung Quốc đang ủng hộ nhân dân Việt Nam một cách vững chắc. Hoa Kỳ phải sợ. Điều này là rất quan trọng (5).

Mao Trạch Đông: Tại sao phải sợ? Các ông xâm lược một nước khác, tại sao chúng tôi sai khi ủng hộ đất nước đó? Các ông gửi hàng trăm ngàn lính hải quân, không quân và lục quân để bắt nạt người dân Việt Nam, ai cấm Trung Quốc trở thành hậu phương [của người Việt Nam]? Luật pháp nào đã nói điều này?  (***)

Lê Duẩn: Người Mỹ nói rằng họ có thể huy động 12 triệu quân, nhưng họ chỉ có thể gửi nửa triệu quân đến Việt Nam. Họ sợ nếu họ đi quá giới hạn này.

Chu Ân Lai: Trung Quốc có đông dân, điều đó làm cho họ sợ hãi.

Mao Trạch Đông: Vì chúng tôi có đông dân, đôi khi chúng ta không cần phải sợ. Trong phân tích cuối cùng, chúng tôi không có quan hệ với các ông. Các ông đã chiếm đảo Đài Loan của chúng tôi, nhưng tôi chưa bao giờ chiếm Long Island của các ông. (***)

Ghi chú:

1. Những người phía Việt Nam tham gia còn có: Lý Ban (Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Bắc Việt) và Ngô Thuyên; phía Trung Quốc có Lâm Bưu, Chu Ân Lai, Kháng Sinh, và Hoàng Vĩnh Thắng (Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc và Tổng Tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc).

2. Ngày 5 tháng 5, Sihanouk đã thành lập chính phủ Campuchia lưu vong, có trụ sở tại Bắc Kinh.

3. Chu Kỳ Văn là đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam từ tháng 8-1962 đến năm 1968, khi ông ta bị thanh trừng và bị liệt vào loại “tay sai Quốc Dân đảng”.

4. Trung Quốc cho nổ quả bom hạt nhân đầu tiên vào năm 1964 và vũ khí nhiệt hạch đầu tiên vào năm 1967.

5. Một tuần trước đó, bốn sinh viên Mỹ biểu tình phản đối chiến tranh, đã bị lính Vệ binh Quốc gia bắn chết tại Trường Đại học Kent ở Ohio.

——–

Ghi chú thêm:

(*) Theo tài liệu “77 cuộc đàm thoại giữa lãnh đạo Trung Quốc và nước ngoài trong chiến tranh Đông Dương năm 1964-1977”, cuộc thảo luận này từ 6:45-8:15 chiều ngày 11-05-1970.

(**) Lê Duẩn nói 230.000 người Mỹ bị giết trong năm 1969, con số này có lẽ không đúng. Theo các nguồn tài liệu, tổng số lính Mỹ chết trong cuộc chiến này là 58.209 người.

(***) Đoạn này Mao Trạch Đông nói tới Hoa Kỳ.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

38. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Hoàng thân Sihanouk – Tháng 3-4/1970

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Hoàng thân Sihanouk

22-03-1970

Mô tả: Chu Ân Lai cho Sihanouk sự hỗ trợ của Trung Quốc trong cuộc Cách mạng Campuchia.

Chu Ân Lai: Bài phát biểu Hoàng thân đã nói với nhân dân Cam Bốt có sức lôi cuốn mạnh mẽ. Tôi tin rằng nhân dân Campuchia, sau khi nghe giọng nói của Hoàng thân sẽ được truyền rất nhiều cảm hứng và sẽ đáp lại lời phát biểu. Trung Quốc xác định hỗ trợ Hoàng thân cho đến khi Hoàng thân trở về nước trong chiến thắng. Miễn là Hoàng thân quyết tâm chiến đấu đến cùng, thì chắc chắn chúng tôi sẽ hỗ trợ cho Hoàng thân.

Hoàng thân Sihanouk: Với sự hỗ trợ của Trung Quốc, tôi sẽ tiếp tục cuộc đấu tranh. Cho dù cuộc đấu tranh sẽ kéo dài bao lâu và nhiều khó khăn sẽ chịu đựng như thế nào, tôi sẽ không bao giờ nhượng bộ (1).

 Ghi chú:

1. Ngày hôm sau, Sihanouk đã công bố thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia Campuchia (FUNK).

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

——-

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Hoàng thân Sihanouk

28-03-1970

Mô tả: Bắc Triều Tiên và một số nước Ả Rập hỗ trợ Hoàng thân Sihanouk, nhưng Đông Âu và Liên Xô đang do dự. Chu Ân Lai trấn an Hoàng thân Sihanouk rằng Liên Xô sẽ xem xét lại.

Chu Ân Lai: [Bắc] Triều Tiên sẽ hỗ trợ Hoàng thân. Vài nước Ả Rập cũng sẽ hỗ trợ Hoàng thân. Tình hình các nước châu Phi cũng vậy. Trong tương lai, ngày càng có nhiều nước sẽ hỗ trợ những điều đúng đắn của Hoàng thân.

Hoàng thân Sihanouk: Tình hình này làm tôi khó chịu. Chea Sam (1) nói với tôi rằng, thái độ của Liên Xô rất thận trọng. Khá nhiều nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu theo gương của Liên Xô trong hành động của họ.

Chu Ân Lai: Liên Xô luôn hành động như thế, không chỉ về vấn đề Campuchia, mà còn về vấn đề Việt Nam. Trong tương lai, khi ba bên ban hành tuyên bố, Liên Xô sẽ xấu hổ và phải cân nhắc lại lập trường của họ.

Ghi chú:

1. Chea Sam (hoặc Chea Som) là Đại sứ Campuchia ở Liên Xô cho đến khi cuộc đảo chính ngày 18 tháng 3 năm 1970 lật đổ Sihanouk, sau đó Chea Sam tham gia chính phủ lưu vong của Sihanouk ở Bắc Kinh làm Bộ trưởng Tư pháp.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

——–

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Hoàng thân Sihanouk

01-04-1970

Mô tả: Chu Ân Lai thể hiện sự chấp thuận việc người dân Campuchia muốn Hoàng thân Sihanouk trở về.

Chu Ân Lai: Người dân ở Campuchia rất vui mừng sau khi nghe bài phát biểu của Hoàng thân với người dân và tuyên bố năm điểm. Người dân ở nhiều nơi đã được huy động. Ở các tỉnh phía Đông Bắc Campuchia và gần Phnom Penh, có các cuộc biểu tình phản đối. Khẩu hiệu của quần chúng là yêu cầu Hoàng thân trở về Campuchia. Ban đầu Lon Nol có kế hoạch tổ chức một cuộc biểu tình hỗ trợ chế độ phản động, nhưng kế hoạch này đã thất bại.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Trung Quốc | Leave a Comment »

37. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 21-03-1970

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng

21-03-1970

Mô tả: Chu Ân Lai khuyên hỗ trợ Hoàng thân Sihanouk thay vì Lon Nol.

Chu Ân Lai: Pháp lo ngại rằng nếu Sihanouk nghiêng về phía chúng tôi, Campuchia sẽ trở thành một chiến trường nữa. Do đó, lợi ích của Pháp sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, Pháp muốn giành cảm tình của Sihanouk. Pháp cũng muốn giành cảm tình của Liên Xô. Pháp có thể giải thích cho Liên Xô rằng Lon Nol không hoàn toàn ủng hộ Mỹ, rằng ông ta thân Pháp và ông ta đang theo chính sách trung lập. Do đó, chính quyền Lon Nol có thể được công nhận (1). Pháp cũng có thể hứa sẽ khuyên chính phủ Lon Nol không tấn công Bắc Việt và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đây có thể được xem như bối cảnh của tiến triển trong hai ngày qua: chính phủ Lon Nol đã hứa một chính sách trung lập, tôn trọng các hiệp ước mà Campuchia đã ký trước đó. Đặc biệt, họ đưa ra các biện pháp an ninh để bảo vệ đại sứ quán Trung Quốc và Liên Xô ở Phnom Penh.

Chúng tôi cần hỗ trợ Sihanouk trong lúc này và xem ông ấy sẽ hành động như thế nào. Chúng ta nên ủng hộ anh ấy, bởi vì ông ấy ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ ở Việt Nam, bởi vì các nước Đông Dương chống Nhật [và] Pháp trong quá khứ và bởi vì chúng ta đã và đang hỗ trợ ông ấy sau Hội nghị Bandung [của các quốc gia không liên kết năm 1955]. Chúng tôi cũng sẽ xem liệu ông ấy có thực sự muốn thiết lập một mặt trận thống nhất để chống Mỹ trước khi chúng tôi ủng hộ ông ấy. Nhưng vì hoàn cảnh, ông ta có thể thay đổi lập trường của mình. Tuy nhiên, chúng ta giành được nhiều cảm tình của ông ta thì tốt hơn. Đó là những gì chúng tôi nghĩ trước tiên.

Tôi nghĩ rằng một cuộc đảo chính của Lon Nol lật đổ Sihanouk được cả Pháp lẫn Mỹ chấp thuận. Dĩ nhiên, khi nói về điều đó, ông ta chỉ nói tới Mỹ, không nói tới Pháp. Tuy nhiên, theo Rayer [?], người đã nói chuyện với các nhà văn Trung Quốc – Hanzi – Pháp không còn tin tưởng Sihanouk nữa. Nên cả Pháp lẫn Mỹ ủng hộ cuộc đảo chính.

Khả năng chiến đấu của phe Sihanouk không thể phù hợp với khả năng chiến đấu của các ông. Nên nếu Sihanouk đồng ý thành lập một mặt trận thống nhất, lực lượng Campuchia có thể mạnh hơn. Nhưng Pháp khuyên ông ta đừng [thành lập], với lý do nếu ông ta cho phép người Việt Nam vào Campuchia, họ (người Việt) sẽ không bỏ đi. Cùng lúc, Pháp nghĩ rằng Sihanouk hoàn toàn không nghe theo Pháp, nên Pháp muốn Lon Nol thay thế Sihanouk. Tuy nhiên, Sihanouk đang nghiêng về phía Liên Xô và Trung Quốc, vì thế giảm ảnh hưởng của Pháp.

Về phần mình, Lon Nol không muốn làm phật lòng Trung Quốc và Liên Xô. Ngày 18 tháng 3, sau cuộc đảo chính, Lon Nol đã không tấn công lực lượng của các ông ở các khu vực biên giới và ông ta đã không gây sức ép cho chúng tôi để giải quyết vấn đề này. Ngày 18 tháng 3, họ phá hủy nhà cửa của những người Trung Quốc và Việt Nam sống ở tỉnh Svay Rieng. Tuy nhiên, ngày 19 thì họ ngưng các hành động này. Và vào ngày 20, họ đã ban hành một lệnh đặc biệt, không gây thiệt hại các đại sứ quán Trung Quốc và Liên Xô ở Phnom Penh.

Lon Nol cũng sợ những người Khmer sẽ đứng lên chống lại ông ta và cùng lúc sợ rằng nếu ông ta tấn công [lực lượng miền Nam] Việt Nam, miền Bắc Việt Nam sẽ đánh trả. Trung Quốc sẽ hỗ trợ miền Bắc Việt Nam. Do đó, cuộc chiến sẽ lan rộng. Chiến tranh đã nổ ra ở Lào. Tình trạng tương tự có thể xảy ra ở Campuchia.

Như vậy tình hình ở Đông Dương sẽ trở lại như thời trước Hội nghị Geneva năm 1954. Tôi chắc chắn rằng các ông vẫn còn nhớ những điều đồng chí Mao đã nói với Hồ Chủ tịch: “Đông Dương là một khối thống nhất. Tình trạng này do người Pháp tạo ra“. Nếu tình hình phát triển theo cách đó, cách mà các hành động của Mỹ sẽ dẫn đến, Đông Dương sẽ trở thành một chiến trường thống nhất.

Tôi không biết liệu lực lượng của Um Savuth (2) đã tới Rattanakiri chưa, và họ có liên lạc với lực lượng Việt Nam không?

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi đã nhận được thông tin họ có [liên lạc]. Lực lượng này có thể quay trở lại chống Lon Nol. Chúng tôi cũng đã nhận được thông tin rằng quân đội ở Seam Reap đang chống đối Lon Nol (3).

Chu Ân Lai: Trong lúc nói chuyện với ông ta, các ông đã đưa ra khả năng hợp tác giữa Đảng Nhân dân Khmer, Khmer Đỏ và lực lượng của Sihanouk. Các ông cũng đề cập đến nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia. Chúng tôi có cảm giác rằng Sihanouk muốn chúng tôi giúp đỡ về điều đó. Vì vậy, chúng tôi xin rất muốn nghe từ các đồng chí Khmer của chúng ta trước khi chúng tôi nói chuyện với Sihanouk.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi đã nói rõ rằng, liên lạc nên diễn ra ở cả cấp độ cao lẫn thấp hơn để có sự hợp tác tốt ở các cơ sở.

Chu Ân Lai: Phản ứng của ông ấy thế nào?

Phạm Văn Đồng: Ông ấy chẳng nói gì ngoại trừ đưa ra sự nhất trí chung. Ông ấy không đề cập đến điều ông ta muốn chúng tôi làm. Có lẽ ông ấy sẽ hỏi ông. Điều đó sẽ tốt, cả Trung Quốc lẫn Việt Nam sẽ giúp.

Chu Ân Lai: Chúng ta có thể gây ảnh hưởng chính trị, nhưng họ, người Khmer, phải trực tiếp đương đầu với nhau.

Phạm Văn Đồng: Sẽ không khó khăn nếu chúng ta đồng ý các nguyên tắc hướng dẫn. Trong trường hợp này, chúng ta có thể yêu cầu cả hai bên hợp tác. Sihanouk hiện đang đợi ông trả lời về các yêu cầu của ông ta phải không?

Chu Ân Lai: Phải. Bởi vì tôi đã nói với ông ta rằng tôi sẽ trả lời sau cuộc họp của tôi với các ông. Lúc đầu, Lon Nol và Sirik Matak (4) sẽ thương lượng với cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam. Các ông sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào?

Phạm Văn Đồng: Trước khi tôi đến đây, chúng tôi đã thảo luận vấn đề này. Chúng tôi tiến hành đàm phán sẽ không mang lại bất kỳ kết quả nào, bởi vì cuối cùng họ sẽ đánh lại chúng tôi. Nhưng chúng tôi không để bị đánh bại. Nên sử dụng các cuộc đàm phán để làm gì? Tuy nhiên, hiện tại khi chúng tôi vẫn đang nói chuyện với các ông và với Sihanouk để xem tình hình sẽ phát triển như thế nào, chúng tôi yêu cầu các đồng chí của chúng tôi chờ, tìm hiểu thái độ của họ, và kéo dài thời gian. Đối với Sihanouk, thái độ của chúng tôi là khẳng định và lập trường của chúng tôi về các vấn đề khác sẽ dựa vào đó.

Ghi chú:

1. Thủ tướng Lon Nol dẫn đầu một cuộc đảo chính chống lại Sihanouk ngày 18 tháng 3, trong khi hoàng thân ở nước ngoài.

2. Um Savuth là trung tá của Lực lượng Vũ trang Hoàng gia, đóng quân tại Rattanakiri vào năm 1970. Ông ta không “đào ngũ”, mà ở lại trong lực lượng vũ trang của Cộng hòa Khmer, ở đó ông ta được thăng đại tá, và sau đó đã chiến đấu trong chiến dịch Chen La II ở Kampung Thom chống lại lực lượng phối hợp giữa Việt Nam và Khmer Đỏ.

3. Một số cuộc nổi loạn chống lại chính phủ trung ương ở Campuchia đã nổ ra vào đầu năm 1969. Một số phiến quân sau này gia nhập Khmer Đỏ hoặc lực lượng Việt Nam.

4. Phó Thủ tướng Campuchia, thân cận với Lon Nol.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

36. Thảo luận giữa Lý Tiên Niệm và Lê Đức Thọ 29-04-1969

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Lý Tiên Niệm và Lê Đức Thọ

29-04-1969

Mô tả: Lý Tiên Niệm tư vấn cho miền Nam Việt Nam hướng tới một thắng lợi hoàn toàn và đánh giá việc đàm phán có tầm quan trọng thứ yếu.

Lý Tiên Niệm: Vấn đề cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam không phải là chiến thắng lớn hay nhỏ, mà trong [thắng lợi] cuối cùng. Tôi vẫn còn nhớ Phó Chủ tịch Lâm Bưu nhấn mạnh từ “kiên nhẫn”. Thắng lợi cuối cùng phụ thuộc vào chiến đấu. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, chiến thắng không thể đạt được tại bàn đàm phán. Chúng ta phải có quyết tâm chiến đấu chống lại kẻ thù cho đến khi họ không còn gì để dùng đến. Tóm lại, thương lượng chị là thứ yếu nhằm phơi bày âm mưu của kẻ thù và chúng ta phải dựa vào chiến đấu nhằm tiêu diệt kẻ thù. Đây là kinh nghiệm của chúng tôi.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

35. Chu Ân Lai, Khang Sinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Thái và Phạm Hùng nói chuyện với phái đoàn Trung ương Cục miền Nam 20-04-1969

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Chu Ân Lai, Khang Sinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Thái và Phạm Hùng nói chuyện với phái đoàn Trung ương Cục miền Nam

Mô tả: Chu Ân Lai thừa nhận rằng Nixon công nhận Campuchia và nhìn thấy những vấn đề liên hệ. Chu Ân Lai cảnh báo Việt Nam về việc bị những người xét lại của Liên Xô lừa dối trong quá trình đàm phán với Mỹ. Kháng Sinh phê bình số người Việt Nam đang được gửi ra nước ngoài học.

20-04-1969

Chu Ân Lai: Các tiến triển mới được nhìn thấy ở Đông Dương. Chúng ta phải thừa nhận rằng Nixon thông minh hơn Johnson. Ông ta thiết lập quan hệ ngoại giao với Campuchia và công nhận biên giới Campuchia với các nước láng giềng. Theo như tình hình ở Campuchia, chúng tôi không lạc quan như các ông. Mặc dù [Sihanouk] thực hiện chính sách hai mặt, ông ta đang nghiêng về bên phải. Hoa Kỳ cũng biết rằng Trung Quốc đang cung cấp trang thiết bị cho các lực lượng ở miền Nam Việt Nam qua ngả Campuchia và lực lượng vũ trang của Mặt trận Dân tộc Giải phóng MNVN đang sử dụng một phần lãnh thổ Campuchia cho các chiến dịch của họ (1).

Vì chúng ta là đồng chí với nhau, tôi muốn nói chuyện thẳng thắn. Các ông thường nói với chúng tôi rằng: “Chúng tôi quyết tâm chiến đấu và chính chúng tôi tự quyết định“. Dĩ nhiên, bất kỳ đảng và quốc gia nào cũng có quyền ra quyết định cho số phận của mình. Và rất tốt để có một quyết tâm và niềm tin như thế. Nhưng là anh em, chúng ta phải nói chuyện với nhau một cách cởi mở, vì vậy tôi nói không thể nghĩ rằng các ông có thể đánh lừa Mỹ và những người xét lại của Liên Xô với chiến thuật của các ông. Chúng tôi có phần lo ngại, rằng các ông sẽ bị họ lừa. Chúng ta phải thận trọng vì cả Liên Xô và Mỹ đều là đầu sỏ đế quốc.

Các ông có thể nghĩ rằng với đề nghị của các ông về việc thành lập một chính phủ hòa bình và sự rút lui của quân đội Mỹ sau đó, các ông có thể bẫy họ. Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ, đề nghị của các ông sẽ làm cho người dân ít cảnh giác hơn và không nhìn thấy các nguyên tắc. Trong quá trình đàm phán, nếu các ông không chấp nhận lời khuyên của họ (Liên Xô), họ có thể cắt viện trợ (có lẽ các ông biết điều này hơn chúng tôi). Liên Xô có thể gây áp lực, buộc các ông phải thương lượng khi các ông không muốn hoặc họ có thể nhận và bí mật liên lạc với một chính phủ trung lập. Nếu trường hợp này xảy ra, Đảng và người dân Việt Nam sẽ ở trong tình huống nào? Các ông nên cân nhắc cẩn thận. Người Xô Viết nói về hòa bình và chủ nghĩa xã hội, nhưng điều mà họ thực sự muốn là bảo vệ lợi ích của họ.

Tôi vẫn kiên định những gì tôi nói với đồng chí Phạm Văn Đồng và Mười Cúc trước đây, rằng các ông không nên phí tiền bạc và [thời gian của] các viên chức cho các cuộc đàm phán ở Paris.

————

21-04-1969

Khang Sinh: Nhiều sinh viên miền Bắc Việt Nam và các học viên đã được gửi ra nước ngoài. Có vẻ như các ông có nguồn tài nguyên về con người phong phú, để các ông có thể gửi người ra nước ngoài, đồng thời không gặp khó khăn trong việc cung cấp nhân lực cho các lực lượng vũ trang cũng như các lực lượng sản xuất. Hiện có khoảng 6.000 sinh viên Việt Nam và học viên ở Trung Quốc. Sẽ tốt hơn không, nếu những người này được tổ chức thành 10 đơn vị chiến đấu và được gửi đến chiến trường? Kẻ thù ở miền Nam đang bị thiệt hại về người, nhưng lực lượng của họ cũng được gia cố với một tốc độ nhanh chóng. Cùng lúc, Trung Quốc có một số vấn đề khó khăn. Chúng tôi muốn các ông cân nhắc vấn đề này nhằm sử dụng hợp lý và tốt hơn nguồn nhân lực của các ông.

Ghi chú:

1. Mỹ bắt đầu bí mật ném bom ở phía Đông Campuchia vào ngày 18.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

34. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Phạm Văn Đồng 17-11-1968

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Phạm Văn Đồng

17-11-1968

Mô tả: Mao Trạch Đông khuyên Việt Nam lợi dụng việc xuống tinh thần của Hoa Kỳ và Tổng thống mới Nixon. Mao Trạch Đông cũng cho rút số quân Trung Quốc không cần thiết, hứa sẽ gửi trở lại khi cần.

Mao Trạch Đông: Ông ở đây vài ngày, phải không? Tôi hơi quan liêu.

Phạm Văn Đồng: Ông khỏe không, Mao Chủ tịch?

Mao Trạch Đông: Không khỏe lắm. Tôi bị ho vài ngày. Tới lúc lên Thiên Đàng rồi. Dường như tôi được triệu đến để gặp vị Chúa tốt bụng. Hồ Chủ tịch khỏe không?

Phạm Văn Đồng: Khỏe. Ông ấy khỏe hơn [khi] ở Bắc Kinh. Lý do chính là ông ấy đã nhận được sự chăm sóc y tế tốt tại Bắc Kinh, kể từ khi trở về, ông ấy vẫn khỏe.

Mao Trạch Đông: Thời tiết ở Bắc Kinh có thể không thích hợp cho Hồ Chủ tịch.

Phạm Văn Đồng: Rất thích hợp.

Mao Trạch Đông: Theo tôi, có lẽ Quảng Châu tốt hơn.

Phạm Văn Đồng: Thay mặt Hồ Chủ tịch, Bộ Chính trị, tôi muốn gửi đến ông, Mao Chủ tịch, Phó Chủ tịch Lâm [Bưu] và các đồng chí khác lời chúc mừng trân trọng của chúng tôi.

Mao Trạch Đông: Cảm ơn ông.

Phạm Văn Đồng: Hôm nay, trong phái đoàn của chúng tôi có hai đồng chí ở miền Nam (chỉ vào đồng chí Mười Cúc, và đồng chí Lê Đức Anh (2)).

Mao Trạch Đông: Có phải đây là lần đầu tiên đồng chí Lê Đức Anh đến Trung Quốc? (Bắt tay Mười Cúc, Mao Chủ tịch nói rằng họ đã gặp nhau vào năm 1966).

Lê Đức Anh: Tôi đến Trung Quốc một lần vào năm 1962, nhưng đây là lần đầu tiên tôi gặp Mao Chủ tịch.

Mao Trạch Đông: Tôi hơi quan liêu. Ông đến đây, nhưng tôi đã không gặp ông. Ông có thể sa thải tôi vì tôi quan liêu. Chúng tôi sẽ triệu tập Đại hội Đảng, và Đại hội có thể sa thải tôi. Điều đó cũng tốt. Có lẽ bây giờ tôi nên thư giãn, chỉ làm những việc nhỏ như quét nhà. Gần đây, tôi đã không tham gia vào trận nào.

Các ông muốn đàm phán với Hoa Kỳ, và họ cũng muốn đàm phán với các ông. Hoa Kỳ gặp khó khăn lớn. Họ có 3 vấn đề cần giải quyết, cụ thể là các vấn đề ở Mỹ, chủ yếu là ở Mỹ, Châu Âu, và Châu Á. Họ đã tham gia ở châu Á cho đến giờ là 4 hoặc 5 năm. Không phải vô tư. Các nhà tư bản Hoa Kỳ đầu tư ở châu Âu chắc không hài lòng và bất đồng. Và trong lịch sử Hoa Kỳ, Mỹ luôn để các nước khác tham chiến trước và [họ] chỉ tham gia khi cuộc chiến đã xong nửa chặng đường.

Nhưng sau Đệ nhị Thế chiến, họ bắt đầu chiến đấu ở Triều Tiên và sau đó là ViệtNam. Nhưng những cuộc chiến này chủ yếu họ chiến đấu một mình, ít có sự tham gia của các nước khác. Các ông gọi đó là một cuộc chiến đặc biệt, một cuộc chiến giới hạn, nhưng đối với Mỹ, họ tập trung tất cả lực lượng vào đó. Hiện nay, các đồng minh của họ ở châu Âu đang phàn nàn rất nhiều, nói rằng [Hoa Kỳ] giảm quân [ở châu Âu] và rút bớt số quân có kinh nghiệm và các trang thiết bị tốt [từ châu Âu], chưa kể đến việc rút quân khỏi Nam Hàn và Hawaii. Dân số Hoa Kỳ có 200 triệu người, nhưng họ không chịu đựng nổi cuộc chiến. Nếu họ muốn huy động vài chục ngàn quân, họ phải tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc.

(Đến đây là cuộc trò chuyện giữa Mao Chủ tịch và một phụ nữ trẻ mới bước vào, đưa cho ông ta một tách trà nóng. Ông quay sang cô.)

Người phụ nữ trẻ: Làm ơn đừng lau mặt của ông!

Mao: Tại sao không? Khăn chứa chất độc à? Tôi sẽ không nghe theo.

(Mao cầm lên một gói thuốc lá. Ông ta cố gắng, nhưng không mở ra được. Sau đó, ông ta đưa gói thuốc cho người phụ nữ trẻ.)

Mao: Tôi không thể mở. Cô mở nó. Tên cô là gì?

Người phụ nữ trẻ: Leng Feng.

Mao: Tên đó có nghĩa là làn gió mát mẻ vào mùa hè? (Sau đó, ông ta quay trở lại những người khách Việt Nam: “Thử dùng những điếu thuốc này”!)

Mao Trạch Đông: Sau vài năm chiến đấu chống họ, các ông nên xem rằng không chỉ khó khăn cho các ông, mà còn [khó khăn] cho kẻ thù của các ông. Các ông đã và đang chiến đấu hơn một chục năm. 23 năm trôi qua kể từ khi Nhật đầu hàng vào năm 1945, mà đất nước của các ông vẫn tồn tại. Các ông đã chiến đấu chống Nhật, Pháp, và bây giờ các ông đang chiến đấu chống Mỹ. Nhưng Việt Nam vẫn tồn tại như các nước khác, và hơn thế nữa, đã phát triển hơn nhiều.

Phạm Văn Đồng: Đúng vậy.

Mao Trạch Đông: Tại sao Hội nghịGeneva được triệu tập? ([Ông ta] hỏi đồng chí Chu Ân Lai). Trong quá khứ, tôi đã nói rằng chúng ta đã phạm sai lầm khi chúng ta đến hội nghịGeneva năm 1954. Vào thời điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không hoàn toàn hài lòng. Khó khăn cho Hồ Chủ tịch phải từ bỏ miềnNam, và bây giờ, khi tôi nghĩ lại, tôi thấy ông ấy đúng. Tâm trạng của người dân miềnNam vào thời điểm đó đang dâng cao. Tại sao chúng ta có Hội nghịGeneva? Có lẽ, Pháp muốn có.

Chu Ân Lai: Đó là đề nghị của Liên Xô. Vào thời điểm đó Khrushchev đang nắm quyền. Và trong tháng 1 năm 1954, Liên Xô muốn giải quyết vấn đề.

Mao Trạch Đông: Bây giờ, tôi không thể nhớ toàn bộ câu chuyện. Nhưng tôi thấy sẽ tốt hơn nếu hội nghị này có thể hoãn lại một năm, để quân đội từ miền Bắc có thể đi vào miềnNam và đánh bại [kẻ thù].

Phạm Văn Đồng: Vào thời điểm đó, chúng tôi chiến đấu trên cả nước, không có sự phân chia giữa miền Bắc và miềnNam.

Mao Trạch Đông: Chúng ta đã phải đánh một trận quyết định. Dư luận thế giới vào thời điểm đó cũng muốn có hội nghị này. Theo tôi, vào lúc đó người Pháp muốn rút lui, Hoa Kỳ thì chưa [sẵn sàng] đến, và Diệm đang phải đối mặt với nhiều khó khăn (3). Tôi nghĩ để rút các lực lượng của chúng tôi ở [miền Bắc] có nghĩa là chúng tôi đã giúp đỡ họ. Một lần, tôi đã nói điều này với Hồ Chủ tịch, và hôm nay tôi nói điều này một lần nữa với các ông. Có lẽ quan điểm của tôi không đúng. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng tôi đã để mất một cơ hội, như trong hiệp định, có một điều khoản về việc rút quân.

Chu Ân Lai: Rút các lực lượng vũ trang.

Mao Trạch Đông: Nhưng đó không phải là một vấn đề nghiêm trọng. Đó chỉ là vấn đề về chém giết. Và chém giết dẫn đến chiến tranh. Khi chiến tranh nổ ra, người Mỹ đến, lúc đầu là các cố vấn, và sau đó là lính chiến đấu. Nhưng bây giờ, họ lại nói rằng người Mỹ ở ViệtNam là các cố vấn.

Phạm Văn Đồng: Họ không thể là cố vấn.

Mao Trạch Đông: Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng họ sẽ là cố vấn.

Phạm Văn Đồng: Hãy để đồng chí Mười nói về điều đó.

Mười Cúc: Thưa Bác Mao! Hồ Chủ tịch, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng của chúng tôi, ra lệnh cho chúng tôi chiến đấu cho đến khi không còn người Mỹ trên đất nước chúng tôi, kể cả các cố vấn. Máu của chúng tôi đã đổ ra trong nhiều năm nay. Tại sao chúng tôi phải chấp nhận họ ở lại làm cố vấn?

Mao Trạch Đông: Cho nên sẽ mất thời gian nếu các ông không để cho họ làm cố vấn.

Mười Cúc: Đúng vậy, Bác Mao. Chúng tôi liên tục chiến đấu cho đến khi miềnNam hoàn toàn được độc lập và tự do, cho đến khi đạt được mục đích thống nhất đất nước. Làm như thế, chúng tôi tuân lệnh của Hồ Chủ tịch cũng như lệnh của ông. Đây là điều mà Trung ương Đảng của chúng tôi nghĩ và cũng là những gì mà toàn bộ người dân ViệtNam mong muốn.

Mao Trạch Đông: Nghĩ như vậy rất tốt. Buộc phải chiến đấu và đàm phán cùng một lúc. Sẽ khó khăn nếu các ông chỉ dựa vào các cuộc thương lượng để yêu cầu họ ra đi.

Phạm Văn Đồng: Họ sẽ không đi đâu mà chỉ ở lại.

Mao Trạch Đông: Liên quan tới vấn đề chiến đấu, Hoa Kỳ dựa vào lực lượng không quân. Có khoảng 9 hoặc 10 sư đoàn Mỹ. Số quân đội Mỹ chiến đấu trong chiến tranh Triều Tiên lớn hơn. Người ta nói rằng họ có 5 sư đoàn – khoảng 200.000 quân – triển khai ở châu Âu. Nhưng con số này là cường điệu. Số máy bay đã giảm. Một số quân lính đã được gửi tới để củng cố Đệ thất Hạm đội. Tôi không biết có bao nhiêu sư đoàn đang được triển khai ở Mỹ.

Wang Xinting: Chín sư đoàn. [Diệp Kiếm Anh sửa lại: 6 sư đoàn và 4 trung đoàn].

Phạm Văn Đồng: Các sư đoàn tốt nhất của Mỹ đã được triển khai ở miền Nam ViệtNam.

Mao Trạch Đông: [Hoa Kỳ đối mặt với ba vấn đề:] thứ nhất thiếu quân, thứ hai thiếu trang thiết bị và cuối cùng là thiếu những người có kinh nghiệm.

Chu Ân Lai: Họ có 6 sư đoàn và 6 trung đoàn được triển khai ở Mỹ.

Mao Trạch Đông: Nhưng chiến trường Việt Nam là ưu tiên hàng đầu. Ở đó, họ có 9 sư đoàn và 4 trung đoàn. Nhưng theo như tôi nhớ, họ đã có 7 sư đoàn ở đó.

Chu Ân Lai: Sau đó, họ đã tăng cường.

Mao Trạch Đông: Tôi vẫn không hiểu tại sao bọn tư bản Hoa Kỳ đi đến Đông Nam Á và lợi ích gì mà các nhà tư bản người Mỹ tìm thấy ở đây. Khai thác tài nguyên thiên nhiên? Tất nhiên, khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên. Dầu, cao su ở Indonesia. Cao su ở Malaysia. Ở nước các ông có cao su không?

Phạm Văn Đồng: Nhiều lắm.

Mao Trạch Đông: Cao su và chè. Nhưng tôi không nghĩ rằng Hoa Kỳ cần thực phẩm hoặc cây cối.

Phạm Văn Đồng: Hoa Kỳ tìm các thứ khác khi chiến đấu ở Việt Nam.

Mao Trạch Đông: Họ chiến đấu ở miềnNam, nhưng mục tiêu phía Bắc và xa hơn nữa là Trung Quốc. Họ không đủ sức để nhắm mục tiêu vào các khu vực khác.

Phạm Văn Đồng: Nhưng họ là đế quốc.

Mao Trạch Đông: Tất nhiên, đế quốc phải có thuộc địa. Họ muốn các nước như nước của chúng ta trở thành thuộc địa. Trước đây, Trung Quốc đã từng là nước bán thuộc địa của đế quốc hơn 100 năm. Họ đã cướp cái gì của chúng ta? Kỹ thuật và nông nghiệp của Trung Quốc đã không phát triển.

Chu Ân Lai: Họ cướp vật liệu.

Mao Trạch Đông: vật liệu gì?

Chu Ân Lai: Cây đậu tương.

Mao Trạch Đông: Anh quốc khai thác than của Trung Quốc. Hoa Kỳ không cần than của Trung Quốc. Họ nói rằng Trung Quốc không có dầu. Về cơ bản, họ không liên quan đến việc sản xuất thép và kỹ nghệ. Họ sản xuất dệt may, nhưng Nhật Bản và Anh sản xuất nhiều nhất. Vì vậy, tôi thấy rằng mục tiêu của họ là dập tắt ngọn lửa, bởi vì lửa đã bùng phát trên đất nước các ông. Bởi vì các nhà tư bản muốn dập tắt ngọn lửa, họ phải thiết kế máy móc để làm như vậy, nên kiếm được tiền. Họ chi bao nhiêu tiền ở ViệtNam mỗi năm?

Phạm Văn Đồng: Hơn 30 tỷ đô la.

Mao Trạch Đông: Hoa Kỳ không thể mở rộng chiến tranh. Khoảng 4 năm là cao nhất. Hiện tại, ngọn lửa chưa được dập tắt, ngược lại, [nó] càng bùng lên dữ dội. Một số nhóm tư bản kiếm được nhiều lợi, nhưng số khác thì không. Vì lợi ích đã không được chia đều, nên họ mâu thuẫn với nhau. Mâu thuẫn này có thể bị khai thác.

Hơn nữa, các nhà tư bản được hưởng lợi ít hơn bây giờ trở nên ít tận tâm. Tôi đã thấy điều này trong những bài phát biểu khác nhau trong chiến dịch tranh cử. Gần đây, có một bài viết của một phóng viên người Mỹ cảnh báo một cái bẫy khác. Phóng viên tên là [Walter] Lippman. [Ông ta đã viết rằng] Hoa Kỳ hiện đang bị mắc kẹt tại Việt Nam và đang cố gắng thoát khỏi vũng lầy. Tuy nhiên, họ sợ sa vào bãi lầy khác. Đó là lý do tại sao trường hợp của các ông vẫn còn hy vọng. Năm 1964, trong một cuộc hội thoại 5 giờ với Hồ Chủ tịch, tôi nói rằng, năm đó có thể là năm quyết định bởi vì nó là năm bầu cử ở Mỹ. Mỗi ứng cử viên tổng thống phải đối mặt với vấn đề này. Liệu Hoa Kỳ sẽ tiếp tục chiến đấu hay thoát khỏi vũng lầy? Tôi nghĩ rằng sẽ khó hơn cho họ tiếp tục chiến đấu. Nhưng châu Âu đã không tham gia, điều này khác với cuộc chiến Triều Tiên.

Phạm Văn Đồng: Đúng vậy.

Mao Trạch Đông: Trong cuộc chiến Triều Tiên, Anh và Thổ Nhĩ Kỳ tham gia.

Phạm Văn Đồng: Pháp cũng đã tham gia.

Mao Trạch Đông: Chỉ trên danh nghĩa và thực sự không nhiều.

Phạm Văn Đồng: Có một trung đoàn từ Pháp.

Mao Trạch Đông: Chúng tôi không có ấn tượng bởi sự tham gia của Pháp.

Chu Ân Lai: Có tổng cộng 16 nước tham gia trong cuộc chiến, gồm cả Nam Hàn.

Mao Trạch Đông: Nhật Bản và Đài Loan không tham gia trong cuộc chiến Việt Nam.

Phạm Văn Đồng: Họ khôn khéo. Đôi khi, chúng tôi rất lo ngại Nhật Bản sẽ tham gia.

Mao Trạch Đông: Nhật Bản sẽ không tham gia. Có thể tham gia về tài chính. Ít nhất, Nhật Bản có lợi về mặt vũ khí.

Mỹ đánh giá cao lực lượng của họ. Một lần nữa, họ mắc phải một sai lầm cũ: phân tán lực lượng. Đó không phải là ý kiến của tôi, mà là ý kiến của [Tổng thống Mỹ đắc cử Richard M.] Nixon. Ông ta nói rằng lực lượng Mỹ quá phân tán. lực lượng của họ đang nằm rải rác tại Mỹ, Châu Âu và Châu Á. Ngay cả ở châu Á, lực lượng Mỹ cũng không tập trung. Có 70.000 quân Mỹ, gồm 2 sư đoàn thủy quân lục chiến tại Nam Hàn. Có một sư đoàn ởHawaii. Các căn cứ không quân và hải quân cần nhiều quân dự bị hơn nữa. Do đó, các ông có thể hiểu các nhóm cầm quyền Mỹ nghĩ như thế nào. Nếu ông là tổng thống Mỹ, ông sẽ nghĩ gì? Tôi không bao giờ nghĩ họ sẽ tấn công Bắc Việt. Nhưng dự đoán của tôi đã sai khi họ ném bom miền Bắc. Nhưng bây giờ, khi họ dừng lại, dự đoán của tôi được chứng minh là đúng. Nếu, trong tương lai, họ tiếp tục ném bom, tôi sẽ sai một lần nữa. Dẫu sao đi nữa, tôi đúng được một ngày.

Tuy nhiên, rất tốt là các ông đã chuẩn bị cho một số lựa chọn thay thế. Trong tất cả những năm chiến đấu, quân đội Mỹ đã không tấn công miền Bắc, cảng Hải Phòng đã không bị phong tỏa, và các đường phố của Hà Nội đã không bị đánh bom. Điều đó cho thấy Hoa Kỳ đang để dành một quân bài. Có một lúc, họ cảnh báo [rằng họ] sẽ đuổi các máy bay của các ông vào căn cứ không quân của các ông. Nhưng trên thực tế, họ đã không làm điều đó. Điều này cho thấy những cảnh báo của họ vô nghĩa.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi đã nhận ra điều này.

Mao Trạch Đông: Sau đó, họ đã không lặp lại cảnh báo này. Họ đã không đề cập đến hoạt động máy bay của các ông. Họ cũng biết có bao nhiêu người Trung Quốc đang làm việc tại Việt Nam, nhưng không đề cập đến điều này, mà đã làm ngơ. Có lẽ chúng ta nên rút số quân [Trung Quốc] không cần thiết. Các ông đã thảo luận vấn đề này chưa?

Chu Ân Lai: Chúng ta sẽ thảo luận với đồng chí Lý Ban, với Đại sứ của chúng tôi và các chuyên gia quân sự.

Mao Trạch Đông: Trong trường hợp họ đến, chúng tôi sẽ trở lại. Sẽ không có vấn đề gì.

Phạm Văn Đồng: Để chúng tôi suy nghĩ lại.

Mao Trạch Đông: Các ông cứ nghĩ lại. Hãy giữ những người mà các ông vẫn còn cần và chúng tôi sẽ rút những người mà các ông không cần hoặc chưa cần đến. Trong tương lai, khi các ông cần [sự trợ giúp], chúng tôi sẽ trở lại. Về không quân cũng vậy: nếu các ông cần căn cứ không quân của Trung Quốc, các ông cứ sử dụng, nếu các ông không cần đến, không sử dụng.

Chúng tôi đồng ý với khẩu hiệu chiến đấu của các ông trong khi đàm phán. Một số đồng chí lo lắng rằng Hoa Kỳ sẽ đánh lừa các ông. Nhưng tôi nói với họ đừng [lo lắng]. Đàm phán giống như chiến đấu vậy. Các ông đã rút ra kinh nghiệm, hiểu rõ các quy tắc. Nhưng đôi khi họ có thể đánh lừa các ông. Như các ông đã nói, Hoa Kỳ đã không giữ lời.

Phạm Văn Đồng: Họ rất tinh quái.

Mao Trạch Đông: Nhiều trường hợp, thậm chí họ còn nói rằng các hiệp định đã ký vô giá trị. Nhưng mọi việc đều có quy tắc của nó. Người Mỹ không thể nào làm điều đó được. Các ông sẽ thương lượng với họ trong 100 năm? Đồng chí Thủ tướng của chúng tôi nói: Nếu Nixon không thể giải quyết vấn đề trong thời gian hai năm, ông ta sẽ gặp rắc rối. Ông có phải là người đại diện chính trong các cuộc đàm phán? (hỏi Lê Thanh Nghị (4))

Chu Ân Lai: Đồng chí Lê Đức Thọ là đại diện chính. Đây là đồng chí Lê Thanh Nghị.

Mao Trạch Đông: Cả hai đều có họ Lê!

Phạm Văn Đồng: Như Mao Chủ tịch đã nói, chúng tôi tiến hành chiến đấu trong khi đàm phán. Nhưng chiến đấu nên được tiến hành ở một mức độ nhất định trước khi các cuộc đàm phán có thể bắt đầu. Ngồi tại bàn đàm phán không có nghĩa là [chúng ta] ngưng chiến đấu. Ngược lại, chiến đấu phải quyết liệt. Bằng cách đó, chúng ta có thể đạt được vị trí cao hơn, thông qua tiếng nói của chiến thắng và mạnh mẽ, những người biết làm thế nào để chiến đấu đến cùng và biết rằng cuối cùng kẻ thù sẽ thất bại. Đây là thái độ của chúng tôi. Nếu chúng tôi nghĩ ngược lại, chúng tôi sẽ không thắng. Liên quan đến điều này, miền Nam phải chiến đấu quyết liệt, đồng thời thực hiện đấu tranh chính trị. Hiện nay, điều kiện ở miềnNam rất tốt. Triệu tập hội đàm ởParis là nguồn động viên mới cho người dân miềnNam. Họ nói rằng nếu Hoa Kỳ thất bại ở miền Bắc, chắc chắn sẽ thất bại ở miềnNam.

Mao Trạch Đông: Có đúng là quân đội Mỹ vui mừng khi đàm phán được công bố?

Mười Cúc (5): Mao Chủ tịch, tôi muốn nói với ông rằng người Mỹ ăn mừng tin tức. Hàng ngàn người tụ tập lại để nghe radio nói về các cuộc đàm phán. Khi ra lệnh chiến đấu, một số đã viết trên mũ của họ: “Tôi sẽ sớm trở về nhà, xin đừng giết tôi“.

Quân đội Sài Gòn đang rất chán nản. Nhiều người trong số họ công khai phản đối Thiệu (6), nói rằng: “Nếu ông Thiệu muốn đánh, hãy để cho ông ta đến Khe Sanh và làm điều đó“. Tinh thần chiến đấu của quân đội và các viên chức chính phủ Sài Gòn rất thấp. Những người dân, cán bộ, và quân đội của chúng tôi ở miềnNam được khích lệ và quyết tâm chiến đấu mạnh mẽ hơn. Chúng tôi thấy rằng vì chúng tôi mạnh, chúng tôi có thể buộc Mỹ ngừng ném bom miền Bắc. Vì vậy, [đây] là thời điểm chúng ta nên chiến đấu nhiều hơn, do đó có thể đánh bại họ. Đây là nguyện vọng chung và tinh thần của nhân dân, cán bộ, và quân đội của chúng tôi ở miềnNam, Bác Mao.

Mao Trạch Đông: Số lính Mỹ chào đón các cuộc đàm phán [và] mong được về nhà là lớn hay nhỏ?

Mười Cúc: Lớn. Chúng tôi sẽ chiến đấu mạnh hơn, và đồng thời đẩy mạnh công tác vận động nhân dân và làm mất tinh thần của kẻ thù.

Mao Trạch Đông: Tốt. Tôi được nghe kể rằng quân đội Mỹ phải ở lại nơi trú ẩn dưới lòng đất. Các ông cũng phải làm như vậy. Mùa mưa thì thế nào?

Mười Cúc: Chúng tôi phải sử dụng áo mưa để che cho [lính].

Mao Trạch Đông: Mùa mưa kéo dài bao lâu?

Mười Cúc: Mỗi mùa sáu tháng, mùa mưa và mùa khô.

Mao Trạch Đông: Lâu vậy hả?

Mười Cúc: Nhưng trời mưa suốt trong ba tháng.

Mao Trạch Đông: Tháng nào?

Mười Cúc: Tháng Năm, tháng Sáu, và tháng Bảy.

Mao Trạch Đông: Giờ có phải là mùa khô?

Mười Cúc: Cuối mùa mưa và bắt đầu mùa khô.

Phạm Văn Đồng: Các mùa khác nhau ở nước tôi.

Mao Trạch Đông: Các mùa ở miền Bắc có khác với ở miền Nam không?

Mười Cúc: Bác Mao, lần này, giống như trước đây, chúng tôi được triệu tập ra Bắc, báo cáo tình hình ở miền Nam và nhận chỉ thị mới từ Hồ Chủ tịch và Bộ Chính trị. Sau đó, Hồ Chủ tịch và Ủy ban Trung ương của chúng tôi bảo đồng chí Lê Đức Anh và tôi đi cùng với đồng chí Phạm Văn Đồng và Lê Thanh Nghị sang Trung Quốc báo cáo với Chủ tịch Mao, Phó Chủ tịch Lâm Bưu, và các lãnh đạo khác của Trung Quốc về tình hình ở miền Nam. Ngày hôm kia, qua Thủ tướng Chu Ân Lai, chúng ta biết rằng Chủ tịch Mao khen ngợi chúng tôi, chúng tôi cảm thấy được khuyến khích.

Mao Trạch Đông: Chúng tôi đã nói ở đây, trong căn phòng này.

Mười Cúc: Chúng tôi biết rằng, mỗi khi giành được chiến thắng, Mao Chủ tịch gửi cho chúng tôi một bức thư khen ngợi. Điều này thực sự là một nguồn động viên to lớn đối với nhân dân, cán bộ, và quân đội của chúng tôi ở miền Nam. Chiến thắng của chúng tôi đạt được ở miền Nam là nhờ có sự hỗ trợ tuyệt vời, cũng như sự khuyến khích của nhân dân Trung Quốc và [khuyến khích] của ông, Mao Chủ tịch.

Mao Trạch Đông: Phần của tôi thì rất nhỏ.

Mười Cúc: Rất lớn, rất quan trọng.

Mao Trạch Đông: Chủ yếu là những nỗ lực của các ông. Đất nước các ông đoàn kết, Đảng của các ông đoàn kết, lực lượng vũ trang của các ông đoàn kết, nhân dân của các ông, bất kể từ Nam hay Bắc đều đoàn kết, điều đó rất tốt.

Mười Cúc: Chúng tôi cho rằng sự hỗ trợ tinh thần của Trung Quốc là quan trọng nhất. Ngay cả trong những tình huống khó khăn nhất, chúng tôi có hậu phương lớn là Trung Quốc ủng hộ chúng tôi, cho phép chúng tôi chiến đấu đến lúc nào cũng được.

Hỗ trợ vật chất cũng rất quan trọng. Chúng tôi buộc quân đội Mỹ vào các nơi trú ẩn dưới lòng đất cũng nhờ súng đại bác của Trung Quốc đã cho chúng tôi.

Phạm Văn Đồng: Sự thật là như vậy.

Mười Cúc: Thậm chí chúng tôi sử dụng vũ khí của Trung Quốc để tấn công Sài Gòn. Đối phương sợ hãi.

Mao Trạch Đông: Dường như các ông tiếp thu luận lý về vũ khí (logic of weapons).

Phạm Văn Đồng: Đúng là chúng tôi dựa vào vũ khí của Trung Quốc.

Mười Cúc: Chúng tôi dựa vào sức mạnh của nhân dân, nhưng nếu không có vũ khí của Trung Quốc, thì sẽ khó khăn hơn.

Mao Trạch Đông: Tay không, không thể làm được. Phải có vũ khí tốt trong tay.

Mười Cúc: Như Bác Mao nói, chúng ta phải chiến đấu chống lại kẻ thù với súng và các bị gạo.

Mao Trạch Đông: Có lẽ tôi cũng đang tiếp thu luận lý về vũ khí (logic of weapons).

Phạm Văn Đồng: Trung Quốc đã cung cấp cho chúng tôi số lượng lớn vũ khí và gạo.

Mười Cúc: Quân đội của chúng tôi rất cảm động khi biết Mao Chủ tịch thậm chí quan tâm đến sức khỏe của họ. Ngoài vũ khí, chúng tôi còn nhận được gạo và thực phẩm Trung Quốc để quân đội của chúng tôi có thể ăn uống tốt hơn, do đó khỏe mạnh hơn.

Mao Trạch Đông: Nguồn tiếp tế đã tới chưa?

Mười Cúc: Vài thứ đã tới. Ví dụ như, bột trứng, đậu nành, gia vị.

Phạm Văn Đồng: Rất tốt.

Mao Trạch Đông: Nhiều loại tiếp tế khác có thể có sẵn. Chúng ta cũng phải cảm ơn Sihanouk.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi đã cân nhắc vai trò của ông ấy.

Mao Trạch Đông: Một vài loại phí tổn đường bộ thì cần thiết. Đáng để chi tiêu cho việc này.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi ước tính rằng số tiền này thậm chí còn lớn hơn viện trợ của Mỹ.

Mười Cúc: Trước đây, Mỹ đã cho Campuchia $20 triệu đô một năm. Bây giờ, số tiền mà Trung Quốc trả cho Sihanouk về gạo và phí đường bộ vượt quá $20 triệu. Để giúp đỡ chúng ta, Sihanouk vừa có lợi, vừa được tiếng tốt.

Phạm Văn Đồng: Ông ấy cũng có lợi từ việc phòng thủ của chúng tôi ở biên giới phía Đông Campuchia với miềnNam ViệtNam.

Mười Cúc: Cộng thêm sự đồng cảm Trung Quốc.

Mao Trạch Đông: Về phần chính trị, đôi khi ông ấy vẫn còn làm chúng tôi ngạc nhiên. Gần đây, ông ấy có thể cảm thấy bị Hoa Kỳ bỏ rơi, nên ông ấy đã hai lần tuyên bố Hoa Kỳ nên rút một số quân, không nên rút hết. Gần đây, ông ấy đã tuyên bố trên Đài phát thanh Paris rằng Hoa Kỳ nên rút quân nhưng không đưa họ về lại Hoa Kỳ, và rằng Mỹ không nên triển khai quân đội ở Campuchia, mà ở Thái Lan hay ở Philippines, để Trung Quốc sẽ không xâm lược đất nước của ông ấy. Ông ta thường nói bằng giọng điệu chống cộng. Theo những gì ông ta nói, có bằng chứng về việc Mỹ muốn rút quân. Nếu họ rút quân, Sihanouk sẽ lo lắng, và Thái Lan và Philippines cũng sẽ lo lắng. Ở miền Nam [Việt Nam], người đầu tiên lo lắng là Thiệu. Họ thực sự muốn quân đội Mỹ ở lại.

Vì vậy, thế giới bây giờ đang trong tình trạng hỗn loạn lớn. Những nước đó không đủ mạnh, cần sự giúp đỡ của các siêu cường, như trong trường hợp của Sihanouk. Ngay cả các nhà tư bản Nhật vẫn còn cần sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Người Nhật dường như hoan nghênh các cuộc đàm phán. Tuy nhiên, trên thực tế thì họ không [thích đàm phán], bởi vì làm các nhà tư bản, họ nhận được rất nhiều lợi nhuận từ chiến tranh. Nhiều loại vũ khí Mỹ được sản xuất tại Nhật Bản.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi chú ý tới điểm này. Chúng tôi rất ngạc nhiên là Nhật Bản dường như muốn đóng góp vào việc giải quyết chiến tranh. Nhưng chúng ta phải xem xét thái độ thực sự của họ.

Mao Trạch Đông: Một số người nói một đường và nghĩ một nẻo. Khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc, nhiều ngành công nghiệp Nhật Bản bị phá sản. Khi Mỹ bắt đầu cuộc chiến, Nhật Bản bắt đầu hưởng lợi.

Phạm Văn Đồng: Đó là chính sách tốt nhất của Nhật Bản.

Mao Trạch Đông: Các nhà tư bảnPhilippines cũng làm như vậy. Họ không đóng góp nhiều quân vào các nỗ lực chiến tranh của Mỹ ở miền Nam ViệtNam. Nhưng kể từ khi quân đội Hoa Kỳ có trụ sở ởPhilippines, các nhà tư bảnPhilippines được lợi rất nhiều. Các nhà tư bản Thái cũng vậy.

Phạm Văn Đồng: Trường hợp Thái Lan thì rất rõ ràng. Nhưng không phải họ là những người ra quyết định. Phải là người Việt Nam quyết định liệu Mỹ sẽ đi hay ở lại. Chúng tôi, tất cả người dân Việt Nam, xác định chiến đấu và đẩy họ đi. Chúng tôi đang chuẩn bị tập trung lực lượng và chiến đấu chống Mỹ ở miền Nam. Có thể chúng tôi sẽ tham gia vào các trận chiến quy mô lớn trong thời gian tới. Chắc chắn, cuộc chiến sẽ quyết liệt.

Mao Trạch Đông: Đầu mùa xuân này các ông đã chiến đấu khá tốt. Chúng tôi đã gợi ý rằng các ông đánh những trận quy mô lớn như trận Điện Biên Phủ. Vào thời điểm đó chúng tôi không biết các khu giải phóng của các ông thật sự đã bị chia cắt. Tình trạng này  [vẫn] còn xảy ra ở mỗi tỉnh?

Phạm Văn Đồng: Còn, nhưng tình trạng này không ảnh hưởng đến các nỗ lực của chúng tôi để bao vây Sài Gòn và các căn cứ khác hoặc phong tỏa các điểm quan trọng trong mạng lưới giao thông và liên lạc của họ. Chúng tôi cũng đã nghĩ đến những trận đánh quy mô lớn như Điện Biên Phủ, nhưng chúng tôi phải tính toán cẩn thận và kỹ lưỡng trước khi chúng tôi làm như thế.

Mao Trạch Đông: Các ông cần phải có các căn cứ nối kết với nhau về mặt địa lý. Nếu không có điều kiện này, thật khó để các ông tập trung lực lượng cho trận đánh quy mô lớn. Và có một vấn đề khác là: chế độ của Thiệu sợ Quân Giải phóng (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam). Thực tế này chứng minh rằng, Quân Giải phóng thích ảnh hưởng dân chúng ở miềnNam, không phải Thiệu. Phương tiện truyền thông đại chúng của họ đã nói về điều đó, không phải nói một cách chính thức, nhưng dựa vào các nguồn tin chính thức.

Chính phủ nào thực sự có uy tín tại miền Nam ViệtNam? Chính phủ Nguyễn Hữu Thọ (7) hay chính phủ Nguyễn Văn Thiệu? Cả hai đều có họ Nguyễn. Gần đây, Nguyễn Văn Thiệu đã cố gắng chơi hết mình, giả vờ như ông ta không muốn tham dự hội nghịParis. Nhưng trên thực tế, Hoa Kỳ đã nhìn thấy rất rõ, rằng vấn đề ViệtNam không thể được giải quyết mà không có sự tham gia của Quân Giải phóng. Các ông đã đọc tất cả [thực tế] này rồi phải không?

Mười Cúc: Chúng rất phức tạp.

Mao Trạch Đông: Bây giờ Hoa Kỳ tôn trọng Đảng và Chính phủ ViệtNam do Hồ Chủ tịch lãnh đạo, tôn trọng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam của Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ. Mỹ cũng không đánh giá cao bè lũ của Thiệu, coi chúng không hiệu quả.

Phạm Văn Đồng: Đúng vậy.

Mao Trạch Đông: Hoa Kỳ cung cấp cho Sài Gòn rất nhiều tiền, nhưng phần lớn đã bị biển thủ.

Phạm Văn Đồng: Ở Paris, những người đại diện của Thiệu dùng lời lẽ phản đối Mỹ. Lúc đó, chúng tôi hỏi các đại diện Mỹ, tại sao Mỹ cho phép Sài Gòn làm như vậy. Harriman trả lời rằng Sài Gòn làm như vậy để cố gắng chứng tỏ rằng họ không phải là những con rối.

Mao Trạch Đông: Họ đã được lệnh bày tỏ sự đối lập với Mỹ, đó là lý do tại sao. Có lẽ nhóm Harriman sẽ bị thay thế. Có lẽ Nixon sẽ chỉ định những nhà đàm phán mới.

Phạm Văn Đồng: Dĩ nhiên.

Lê Đức Anh: Mao Chủ tịch, quân đội của chúng tôi ở miền Nam đang trải qua [giai đoạn] giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự. Chúng tôi đang chuẩn bị nhận vũ khí do Mao Chủ tịch [và] Đảng Cộng sản Trung Quốc cung cấp, và để thiết lập chiến trường cho các chiến dịch ác liệt sắp tới. Chúng tôi cũng đang chuẩn bị gây thiệt hại nghiêm trọng cho một số đội ngũ tinh nhuệ của quân đội Mỹ ở miềnNam. Theo sau chỉ thị của Hồ Chủ tịch, dựa trên kinh nghiệm gần đây nhất của chúng tôi, chúng tôi tin rằng chúng ta sẽ có được chiến thắng tuyệt vời.

Mao Chủ tịch, từ đầu năm nay, chúng tôi đã gây thương vong nặng nề cho một số đội ngũ ưu tú của Mỹ, chẳng hạn như sư đoàn 25, sư đoàn 1, và các đơn vị xe thiết giáp của họ. Chỉ riêng một trận đánh hồi tháng 8 ở Tây Ninh, chúng tôi đã giết chết và làm bị thương 12.000 lính, đa số là lính Mỹ, phá hủy 1.100 xe tăng, xe bọc thép, và hơn 100 súng đại bác. Khi quân bộ binh của chúng tôi tiến lên, xe tăng và xe bọc thép Mỹ rút lui, họ rất sợ quân lính của chúng tôi được trang bị vũ khí do Mao Chủ tịch cung cấp. Chẳng hạn như, [các loại] vũ khí như thế gồm B40.

Mao Trạch Đông: Vũ khí đó có mạnh không?

Lê Đức Anh: Rất hiệu quả để đánh xe tăng.

Mao Trạch Đông: Chúng ta có loại vũ khí này trước đây không? (Hỏi ông Xinting Wang)

Wang Xinting: Không, chúng ta không có.

Diệp Kiếm Anh: Chúng ta đã sử dụng B90 trong chiến tranh Triều Tiên.

Phạm Văn Đồng: Xe tăng sẽ tan chảy khi chúng gặp phải loại vũ khí này.

Lê Đức Anh: Và những người điều khiển sẽ bị đốt chết.

Mao Trạch Đông: Tốt. Chúng ta có thể sản xuất loại này nhiều hơn nữa không?

Wang Xinting: Có, nhưng để sản xuất đạn cho loại vũ khí này thì khó hơn là sản xuất vũ khí.

Lê Đức Anh: Kẻ thù có các mâu thuẫn nội bộ. Quân đội Sài Gòn chỉ trích Mỹ là hèn nhát [và] không tin vào họ nữa.

Mao Trạch Đông: Quân đội Sài Gòn chỉ trích người Mỹ hả?

Lê Đức Anh: quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn không tin nhau. Cả hai đều sợ Quân Giải phóng.

Mao Trạch Đông: Có lẽ đúng.

Lê Đức Anh: Trong một sự cố gần đây xảy ra từ ngày ngày 25 tháng 10 đến ngày 7 tháng 11, một đơn vị của Sư đoàn Bộ binh Thứ nhất của Mỹ từ chối chiến đấu. Trong chiến dịch tháng 8, chúng tôi đã giết chết một chỉ huy sư đoàn. Quân lính tại sư đoàn đó đó đã tổ chức ăn mừng cái chết của ông ta.

Mười Cúc: Tướng này rất tàn bạo.

Mao Trạch Đông: Không văn minh.

Lê Đức Anh: Ở Tây Ninh, chúng tôi loại bỏ 14 đại đội của Sư đoàn 25. Hoa Kỳ đã công nhận điều đó.

Mao Trạch Đông: Tây Ninh là ở đâu?

Lê Đức Anh: 60 km về phía Tây Bắc Sài Gòn và gần biên giới với Campuchia.

Mao Trạch Đông: Chúng tôi biết Sư đoàn 25 rất rõ. Chúng tôi đã đánh với nó ở Triều Tiên. Lúc đó, do những sai lầm của Bành Đức Hoài, nó đã không hoàn toàn bị nghiền nát. Quân đoàn 40 của chúng tôi dưới sự chỉ huy của Diệp Kiếm Anh đầu tiên đánh với nó. Chúng tôi không biết nhiều về Sư đoàn Thứ nhất.

Diệp Kiếm Anh: Chúng tôi đã dứt điểm một trung đoàn. Vào lúc đó, Sư đoàn Thứ nhất chưa có mặt ở Triều Tiên.

Mao Trạch Đông: Các đơn vị kỵ binh Mỹ cũng chiến đấu hả? Thật ra, đó là các đơn vị bộ binh phải không?

Lê Đức Anh: Đó là các đơn vị bộ binh hèn nhát.

Mao Trạch Đông: Tại Triều Tiên, họ đã ngạo mạn. Nhưng hiện nay, từ khi bị các ông đánh, họ đã trở nên hèn nhát. Các đơn vị này đã được triển khai ở phía Tây Triều Tiên phải không? (hỏi Diệp Kiếm Anh)

Diệp Kiếm Anh: Ở phía Đông Triều Tiên.

Mao Trạch Đông: Những sai lầm mà chúng tôi mắc phải ở Triều Tiên đó là chúng tôi muốn nuốt chửng một hoặc hai sư đoàn trong một trận chiến duy nhất. Nhưng chúng tôi đã không thể. Các trận chiến đã cho thấy rằng chúng tôi chỉ có thể nuốt một trung đoàn. Nếu chúng ta sử dụng tất cả các lực lượng của chúng ta để dứt điểm Sư đoàn 25, sẽ mất vài tuần.

Hoàng Văn Thái (8): Vào thời điểm đó, không có B40.

Mao Trạch Đông: Vào thời điểm đó, đã có 800 khẩu đại bác cho mỗi sư đoàn của kẻ thù. Về phía chúng tôi, đã có 800 khẩu đại bác trong ba quân đội (? – three armies) (9). Tất cả các sư đoàn Trung Quốc cộng lại không bằng một sư đoàn Mỹ.

Phạm Văn Đồng: Hiện nay, chúng được trang bị rất tốt.

Mao Trạch Đông: Chắc chắn rồi, 18 năm trôi qua kể từ năm 1950.

Lê Đức Anh: Mao Chủ tịch, chúng tôi hiện có khả năng xâm nhập và chiến đấu ở bất cứ nơi đâu. Chúng tôi thậm chí có thể xâm nhập vào các căn cứ được bảo vệ kỹ nhất.

Mao Trạch Đông: Đó là lý do tại sao họ nguyền rủa các ông vì đánh bừa bãi. Họ muốn ám chỉ rằng họ là những người khác biệt duy nhất.

Mười Cúc: Họ càng bị đánh bại, thì họ càng nguyền rủa chúng tôi.

Lê Đức Anh: Bây giờ, quân Mỹ ở Sài Gòn và các thành phố khác không thể thư giãn. Họ phải ở lại hầm trú ẩn dưới lòng đất. Họ biết rằng chúng tôi đang đánh bằng vũ khí Trung Quốc. Vì vậy, chúng tôi càng đánh nhiều hơn, tập trung lực lượng của chúng tôi vào chiến đấu với họ ở nông thôn cũng như ở các căn cứ lớn của họ. Chúng tôi sẽ chiến đấu quyết liệt hơn.

Mao Trạch Đông: Cần giáo dục chính trị cho quân đội của các ông. Các ông nên tận dụng lợi thế của các cuộc đàm phán cho giáo dục chính trị. Trước mỗi trận đánh lớn, luôn là một mệnh lệnh để dành thời gian cho giáo dục chính trị. Mỗi năm, nên có hai hoặc ba, hoặc bốn chiến dịch lớn là nhiều nhất. Quân đội chính quy nên dành thời gian còn lại cho giáo dục chính trị.

Phạm Văn Đồng: Đó là những gì chúng tôi làm.

Mao Trạch Đông: Khi chúng tôi đánh Nhật trong cuộc chiến tranh giải phóng, hàng năm, chúng tôi chỉ đánh vài chiến dịch. Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng chúng tôi vẫn không đủ thời gian cho giáo dục chính trị. Không thể nào đánh nhau hàng tháng. Chúng ta cần thời gian để huấn luyện quân sự, tuyển dụng, và nhận thêm nguồn cung cấp vũ khí và đạn dược cũng như củng cố hậu phương. Có rất nhiều điều để làm giữa các trận đánh.

Mười Cúc: Chúng tôi đang cố gắng để sẵn sàng về mọi mặt. Đó là lý do tại sao chúng tôi nhìn thấy mệnh lệnh về giáo dục chính trị quân đội của chúng tôi.

Mao Trạch Đông: Rất cần thiết. Nên có ít nhất một khoảng thời gian lớn để tiến hành giáo dục chính trị. Có thể mất hai hoặc ba tháng, hoặc vài tuần. Khoảng cách giữa các trận đánh là thời điểm thích hợp để thực hiện điều đó.

Mười Cúc: Đó là những gì hiện chúng tôi đang làm. Chúng tôi đang rút kinh nghiệm, chuẩn bị nhiều hơn cả về vật chất lẫn tâm lý cho những trận đánh lớn và chiến thắng lớn sắp tới. Trong khi các cuộc đàm phán đang diễn ra, chúng tôi tiếp tục chiến đấu vì chúng tôi thấy rằng chiến trường quyết định kết quả cuối cùng. Trong thời gian giáo dục chính trị, chúng ta phải ngăn chặn những ý nghĩ hy vọng phát triển quá nhiều từ các cuộc đàm phán.

Mao Trạch Đông: Lối suy nghĩ này có thể xuất hiện. Luôn có xu hướng về lối suy nghĩ ở bất kỳ thời điểm nào. Tuy nhiên, xu hướng nào cũng chỉ ngắn ngủi và tạm thời.

Mười Cúc: Thời gian này, chúng tôi được triệu tập ra Bắc, Hồ Chủ tịch và Bộ Chính trị đã nói với chúng tôi rằng, kẻ thù đang chịu đựng thất bại nặng nề, nên họ phải chấp nhận thương lượng mặc dù họ vẫn kiên trì. Liên quan đến điều này, chúng tôi phải duy trì lối suy nghĩ nghiêng về sự kiên nhẫn, về tổng cách mạng và về các trận đánh lớn. Và chúng tôi đang theo đúng hướng dẫn này.

Mao Trạch Đông: Tốt.

Phạm Văn Đồng: Các đồng chí Mười Cúc, Lê Đức Anh, các đồng chí khác và tôi biết ơn đối với ông, Mao Chủ tịch, đã dành thời gian tiếp đón và nói chuyện với chúng tôi. Những điều mà Chủ tịch nói với chúng tôi hôm nay và những gì đồng chí Thủ tướng Chu Ân Lai và đồng chí Kháng Sinh nói với chúng tôi ngày trước càng khuyến khích tất cả chúng tôi. Chúng tôi nghĩ rằng những điều Mao Chủ tịch nói rất đúng, rất phù hợp với tình hình của chúng tôi trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước.

Mao Trạch Đông: Một số [suy nghĩ của tôi] không nhất thiết chính xác. Chúng tôi phải tham khảo những phát triển thực tế.

Phạm Văn Đồng: Cuối cùng, chúng tôi đưa ra quyết định dựa trên tình hình thực tế ở Việt Nam và dựa vào sự hiểu biết các quy tắc chiến tranh của chúng ta như thế nào. Đây cũng là điều Mao Chủ tịch đã nói với Hồ Chủ tịch và các đồng chí Việt Nam khác. Một lần nữa, chúng tôi xin được nhắc lại trước Mao Chủ tịch và các nhà lãnh đạo khác của Đảng Cộng sản Trung Quốc, rằng chúng tôi quyết định chiến đấu đến cùng cho đến khi nào giành thắng lợi hoàn toàn. Đây là cách tốt nhất để bày tỏ lòng biết ơn của chúng tôi cho sự hỗ trợ và viện trợ mà Chủ tịch Mao và ĐCS Trung Quốc đã cung cấp cho chúng tôi cũng như nhân dân Trung Quốc anh em. Chúng tôi chúc Mao Chủ tịch có nhiều sức khỏe.

Mao Trạch Đông: Tôi chúc Hồ Chủ tịch nhiều sức khỏe, sống lâu. Tôi cũng chúc các đồng chí khác trong Bộ Chính trị của các ông dồi dào sức khỏe.

Phạm Văn Đồng: Cảm ơn Mao Chủ tịch.

Ghi chú:

1. Tháng 11 năm 1968, một phái đoàn Bắc Việt do Phạm Văn Đồng dẫn đầu (trên đường trở về từ Moscow) và một phái đoàn Trung ương Cục miền Nam do Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) đến thăm Trung Quốc. Họ có ba cuộc họp với Chu Ân Lai vào ngày 13, 15, 17 tháng 11, trong các cuộc họp đó, Phạm Văn Đồng đã thông báo với Trung Quốc về các cuộc hội đàm của ông với Liên Xô và các cuộc đàm phán ở Paris. Sau khi gặp Chu Ân Lai, phái đoàn đã yêu cầu một cuộc họp với Chủ tịch Mao Trạch Đông. Tối ngày 17 tháng 11 năm 1968, Mao tiếp phái đoàn tại nhà riêng ở Trung Nam Hải. Có sự hiện diện của Lâm Bưu, Chu Ân Lai, Chen Boda, Kháng Sinh, Wang Xinting (Phó Tham mưu trưởng Quân đội Trung Quốc – PLA), Diệp Kiếm Anh và những người khác phía Trung Quốc, và Phạm Văn Đồng, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, và những người khác, phía Việt Nam.

2. Lê Đức Anh: (1920 -), sĩ quan quân đội, Phó Tổng tham mưu QĐND Việt Nam năm 1963-1964, Tham mưu trưởng và sau đó làm Phó Tư lệnh Lực lượng Vũ trang Giải phóng Nhân dân từ năm 1964-1968 (chức vụ này ông vẫn còn nắm khi ông viếng thăm Trung Quốc cùng với Nguyễn Văn Linh vào năm 1968), Tư lệnh Quân khu 9 (Đồng bằng sông Cửu Long) năm 1969-1974. Một trong những Phó Tư lệnh của Chiến dịch Hồ Chí Minh hồi tháng 4 năm 1975, và Tổng Tư lệnh lực lượng xâm chiếm Campuchia vào năm 1978. Ủy viên Bộ chính trị Trung ương ĐCS 1982-1997, và Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam từ 1992-1997.

3. Thật ra, lúc đầu Ngô Đình Diệm trở thành Thủ tướng vào ngày 16 tháng 6 năm 1954, trong Hội nghị Geneva.

4. Lê Thanh Nghị: (1911-1989), thành viên lâu đời của Đảng Cộng sản Quốc tế, đã từng ở trong Trung ương Đảng thời kỳ Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Từ thập niên 1960 đến thập niên 1980 là Ủy viên Bộ Chính trị và là Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế, gồm cả viện trợ kinh tế từ nước ngoài.

5. Nguyễn Văn Linh: (Nguyễn Văn Cúc hoặc Mười Cúc) (1913?-1998), là thành viên lâu đời của ĐCS Quốc tế, người gốc miền Bắc, Việt Nam, nhưng phần lớn cuộc đời sống ở miền Nam. Trở thành người lãnh đạo hàng đầu của đảng ở miền Nam khi Lê Duẩn ra Hà Nội năm 1957, và sau này phục vụ như là cấp phó của Nguyễn Chí Thanh và người kế nhiệm của ông là Phạm Hùng làm lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam. Sau năm 1975, trở thành người chịu trách nhiệm điều hành miền Nam Việt Nam, và giữ chức Tổng Bí thư Đảng CSVN thời kỳ cải cách 1986-1991.

6. Nguyễn Văn Thiệu: (1924 – 2001), Tướng quân đội, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (miền Nam Việt Nam) từ năm 1967-1975.

7. Nguyễn Hữu Thọ: (1910-1996) là luật sư và là thành viên bí mật của ĐCS Đông Dương, Phó Chủ tịch Phong trào Hòa bình Sài Gòn theo sau các thỏa thuận trong hiệp định Geneva năm 1954, bị chính phủ Diệm bắt giữ nhiều năm, sau đó được MTGPMN giải phóng. Là Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam từ khi thành lập năm 1960, và từ năm 1969 Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Phó chủ tịch nước CHXHCNVN từ năm 1976-1980.

8. Hoàng Văn Thái: bí danh Hoàng Văn Xiêm (1906-1986), là sĩ quan quân đội, Hiệu trưởng trường Quân chính, trụ sở của Việt Minh tại Tân Trào trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Là Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN đầu tiên từ năm 1945-1953, chỉ huy các chiến dịch chính trong Chiến tranh Đông Dương, trở thành Ủy viên Trung ương Đảng Lao động Việt Nam năm 1961, và là thành viên của Hội đồng Quốc phòng năm 1964. Tư lệnh Quân khu 5 (Nam Trung bộ ViệtNam) 1966-1967. Chỉ huy Lực lượng Vũ trang Giải phóng Nhân dân năm 1967-1973, Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐND VN và Thứ trưởng Bộ Quốc phòng 1974-1981. Ủy viên Trung ương Đảng Lao động VN/ Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1960-1976, và một lần nữa từ năm 1982-1986.

9. Một bản đã chỉnh sửa về cuộc hội đàm này đã được đăng tải ở Bắc Kinh vào năm 1994 (Mao Trạch Đông wenxuan waijiao, trang 580-583). Phiên bản này có nội dung như sau:

Mao Trạch Đông: Do thời gian gần đây không có trận đánh nào, các ông có ý định thương lượng với người Mỹ. Các ông có quyền thương lượng, nhưng rất khó để làm cho Mỹ rút quân thông qua đàm phán. Hoa Kỳ cũng muốn thương lượng với các ông, bởi vì họ đang ở trong một tình thế khó xử. Họ phải đối phó với các vấn đề trong ba khu vực: thứ nhất là châu Mỹ – Hoa Kỳ, thứ hai là châu Âu, và thứ ba là châu Á. Vài năm qua, Hoa Kỳ đã đưa các lực lượng chính đóng quân ở châu Á và đã tạo ra sự mất cân bằng. Về vấn đề này, các nhà tư bản Mỹ đầu tư ở châu Âu không hài lòng. Hơn nữa, trong lịch sử, Hoa Kỳ luôn để cho các nước khác đánh trước, họ sẽ nhảy vào lúc nửa chừng. Chỉ sau Đệ nhị Thế chiến, Hoa Kỳ bắt đầu đi đầu trong chiến đấu, trước tiên là Chiến tranh Triều Tiên và sau đó là chiến tranh Việt Nam.

Ở Việt Nam, Hoa Kỳ đang dẫn đầu, nhưng chỉ một số nhỏ của các nước khác đi theo. Cho dù đây là cuộc chiến đặc biệt hay một cuộc chiến giới hạn, Hoa Kỳ hoàn toàn hết lòng cho cuộc chiến. Bây giờ họ không có khả năng chú ý đến các nước khác. Chẳng hạn như, quân đội của họ ở châu Âu phàn nàn, nói rằng thiếu hụt nhân lực và những người lính có kinh nghiệm và những người chỉ huy đã bị loại bỏ và các trang thiết bị tốt hơn đã bị di dời. Hoa Kỳ cũng đã bố trí lại quân lính từ Nhật Bản, Nam Hàn, và các khu vực khác của châu Á. Hoa Kỳ nó rằng dân số của họ có 200 triệu người? Nhưng họ không thể chịu đựng cuộc chiến tranh. Họ chỉ gửi đi có vài ngàn quân. Có sự giới hạn trong quân lính của họ.

Sau khi chiến đấu hơn một chục năm, các ông không chỉ nghĩ về những khó khăn của riêng mình. Các ông cũng nên nhìn vào những khó khăn của đối phương. Đã 23 năm kể từ khi Nhật đầu hàng hồi năm 1945, nhưng đất nước của các ông vẫn còn tồn tại. Ba nước đế quốc đã đưa quân xâm lược, chống lại các ông: Nhật Bản, Pháp, và Hoa Kỳ. Nhưng đất nước ông không chỉ sống sót mà còn phát triển.

Dĩ nhiên, chủ nghĩa đế quốc muốn đánh. Một trong những mục đích chiến tranh của họ là dập tắt ngọn lửa. Một đám cháy đã bắt đầu ở nước các ông, và chủ nghĩa đế quốc muốn dập lửa. Mục đích thứ hai là kiếm tiền thông qua sản xuất vũ khí. Để dập tắt ngọn lửa thì phải sản xuất máy dập lửa, điều này sẽ mang lại lợi nhuận. Hàng năm Hoa Kỳ tiêu trên 30 tỷ đô ở nước các ông.

Tục lệ của người Mỹ là không đánh cuộc chiến lâu dài. Những cuộc chiến họ đã chiến đấu, trung bình khoảng 4-5 năm. Đám cháy ở nước các ông không thể dập. Ngược lại, nó đã lan rộng. Các nhà tư bản ở Hoa Kỳ bị chia thành phe phái. Khi phe này kiếm được lợi nhuận nhiều hơn và phe kia kiếm được lợi nhuận ít hơn, sự mất cân bằng trong việc chia chiến lợi phẩm sẽ xảy ra và rắc rối sẽ bắt đầu trong nước. Những mâu thuẫn này cần được khai thác. Các nhà tư bản độc quyền kiếm được ít tiền không sẵn sàng tiếp tục chiến tranh. Mâu thuẫn này có thể được phát hiện trong các bài diễn văn bầu cử được hai phe thực hiện. Đặc biệt, nhà báo Mỹ, Walter Lippmann, đã đăng một bài báo gần đây, cảnh báo không để rơi vào cái bẫy khác. Ông ấy nói rằng Hoa Kỳ đã rơi vào một cái bẫy ở Việt Nam và rằng vấn đề hiện nay là làm cách nào để leo ra khỏi cái bẫy này. Ông ấy sợ rằng Hoa Kỳ có thể đã rơi vào những cái bẫy của họ. Vì vậy, mục tiêu của các ông là đầy hứa hẹn.

Năm 1964, tôi có trò chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hàng Châu. Lúc đó, Hoa Kỳ đã nối lại các cuộc tấn công ở miền Bắc Việt Nam, nhưng đã không gia hạn ném bom. Tôi nói rằng Hoa Kỳ có thể kết thúc chiến tranh năm đó bởi vì đó là năm bầu cử ở Mỹ. Bất kỳ tổng thống nào lên cầm quyền, ông ta sẽ gặp phải vấn đề là liệu Hoa Kỳ có nên tiếp tục cuộc chiến tranh hay rút quân bây giờ. Tôi tin rằng những khó khăn mà Hoa Kỳ phải đối mặt sẽ tăng nếu họ tiếp tục cuộc chiến. Tất cả các nước ở châu Âu không tham gia cuộc chiến này.

Tình trạng này khác hẳn với chiến tranh Triều Tiên. Có lẽ Nhật Bản sẽ không tham chiến. Nhật có thể trợ giúp về kinh tế vì họ có thể kiếm tiền bằng cách sản xuất đạn dược. Tôi nghĩ người Mỹ đánh giá cao sức mạnh của họ trong quá khứ. Bây giờ Hoa Kỳ lặp đi lặp lại cách thực hành của họ trong quá khứ bằng cách kéo căng lực lượng của họ. Không chỉ chúng tôi nói điều này, Nixon cũng đã nói như vậy. Hoa Kỳ đã kéo căng lực lượng của họ không chỉ ở châu Mỹ và châu Âu, mà còn ở châu Á. Lúc đầu, tôi không tin rằng Hoa Kỳ sẽ tấn công miền Bắc Việt Nam. Sau đó Hoa Kỳ ném bom miền Bắc Việt Nam, chứng tỏ lời nói của tôi không chính xác. Bây giờ Hoa Kỳ đã ngừng ném bom. Lời nói của tôi, một lần nữa, chính xác. Có lẽ Hoa Kỳ sẽ tiếp tục ném bom, chứng tỏ lời nói của tôi không chính xác lần thứ hai. Nhưng cuối cùng lời của tôi sẽ chứng minh chính xác: Hoa Kỳ đã ngừng ném bom. Vì vậy, tôi tin rằng các ông làm một số kế hoạch đối phó những tình huống bất ngờ cũng đúng thôi.

Tóm lại, trong những năm qua, quân đội Mỹ không xâm lược miền Bắc Việt Nam. Hoa Kỳ đã không phong tỏa Hải Phòng cũng không ném bom thành phố Hà Nội. Hoa Kỳ đã để dành một phương pháp. Có lúc họ tuyên bố rằng họ sẽ thực hành một [chính sách] “truy kích nóng”. Nhưng khi máy bay của các ông đã bay trên đất nước chúng tôi, Hoa Kỳ đã không thực hiện việc “truy kích nóng”. Do đó, Hoa Kỳ đã đánh lừa. Họ không bao giờ nhắc đến thực tế là máy bay của các ông đã sử dụng sân bay của chúng tôi. Lấy một ví dụ khác. Trung Quốc có rất nhiều người làm việc tại nước các ông. Hoa Kỳ biết điều đó, nhưng chưa bao giờ đề cập đến, như thể điều đó không hề tồn tại.

Về những người còn lại Trung Quốc đã gửi qua đất nước của các ông, những người không còn cần thiết, chúng tôi có thể cho rút họ về. Các ông đã thảo luận vấn đề này chưa? Nếu Hoa Kỳ đến nữa, chúng tôi cũng sẽ gửi mọi người đến cho các ông. Làm ơn thảo luận về vấn đề này để xem các đơn vị nào của Trung Quốc mà các ông muốn giữ. Hãy giữ lại những đơn vị nào có ích cho các ông. Chúng tôi sẽ rút hết các đơn vị mà các ông không sử dụng. Chúng tôi sẽ gửi tới cho các ông nếu các ông cần họ trong tương lai. Điều này cũng giống như máy bay của các ông đã sử dụng sân bay Trung Quốc: sử dụng chúng nếu các ông cần và không sử dụng nếu các ông không cần. Cách làm việc là như vậy.

Tôi ủng hộ chính sách của các ông, chiến đấu trong khi đàm phán. Một số đồng chí của chúng tôi lo sợ rằng các ông có thể bị người Mỹ lừa gạt. Tôi nghĩ các ông sẽ không bị. Phải chăng đàm phán cũng giống như chiến đấu? Chúng tôi có thể có được kinh nghiệm và biết các khuôn mẫu qua chiến đấu. Đôi khi người ta không thể không bị lừa. Như các ông đã nói rằng, người Mỹ không giữ lời. Johnson đã từng nói công khai rằng, ngay cả các thoả thuận đôi khi không có giá trị. Nhưng mọi thứ đều có quy luật của nó. Lấy các cuộc đàm phán của các ông làm ví dụ, các ông định thương lượng trong một trăm năm? Thủ tướng của chúng tôi đã nói rằng, nếu Nixon tiếp tục các cuộc đàm phán thêm hai năm nữa và vấn đề không được giải quyết, ông ta sẽ gặp khó khăn trong việc giành chiến thắng thêm một nhiệm kỳ nữa.

Thêm một điểm nữa, chế độ bù nhìn ở miền Nam Việt Nam sợ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Một số người ở Mỹ đã chỉ ra rằng, chính phủ thực sự hiệu quả cho dân chúng miền Nam Việt Nam không phải là chính phủ Sài Gòn, mà là Mặt trận Giải phóng. Đây không phải là lời tuyên bố được cho là của người nào trong Quốc hội Hoa Kỳ. Đây là tin tức từ các nhà báo, nhưng tên của người nói đã không được xác định. Tuyên bố này được quy cho một cá nhân của cái gọi là chính phủ Mỹ. Tuyên bố đặt ra một câu hỏi: Ai đại diện cho chính phủ có uy tín thực sự tại miền Nam Việt Nam? Nguyễn Văn Thiệu hay Nguyễn Hữu Thọ? Vì vậy mặc dù Hoa Kỳ công khai ca ngợi Nguyễn Văn Thiệu, nói rằng ông ta sẽ không đi đến Paris để tham dự các cuộc đàm phán, thực ra, họ nhận ra rằng, vấn đề không thể được giải quyết nếu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam không tham gia các cuộc đàm phán.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

33. Thảo luận giữa Trần Nghị và Lê Đức Thọ 17-10-1968

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Trần Nghị và Lê Đức Thọ

17-10-1968

Mô tả: Trần Nghị chỉ trích Việt Nam về các nhượng bộ Mỹ trong quá khứ, phá hoại Trung Quốc và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam; Trần Nghị cũng chỉ trích Việt Nam về việc chấp nhận đề nghị đàm phán của Liên Xô.

Trần Nghị:

(1) Từ tháng 4 vừa qua, khi các ông chấp nhận việc ngưng ném bom một phần của Mỹ và tổ chức các cuộc đàm phán hòa bình với họ, các ông đã đánh mất thế chủ động trong các cuộc đàm phán với họ. Bây giờ, các ông chấp nhận đàm phán bốn bên. Các ông thất bại một lần nữa. Do đó, điều này sẽ gây thiệt hại nhiều hơn cho người dân Việt Nam, đặc biệt là người dân ở miền Nam.

(2) Hiện nay, Washington và Sài Gòn đang công bố các cuộc đàm phán, cho thấy thực tế là các ông đã chấp nhận các điều kiện của Hoa Kỳ đưa ra. Các ông trở về nhà để nhận chỉ thị của đảng, tất cả càng chứng minh điều đó cho người dân thế giới. Qua việc chấp nhận của các ông về các cuộc đàm phán bốn bên, các ông đã cho phép chính phủ bù nhìn được công nhận hợp pháp, do đó, loại bỏ tình trạng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, là đại diện hợp pháp duy nhất của người dân miền Nam.

Vì vậy, người Mỹ đã giúp chế độ bù nhìn của họ có được tư cách hợp pháp trong khi các ông đã làm cho Mặt trận [Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam] mất uy tín của mình. Điều này làm cho chúng tôi tự hỏi rằng, phải chăng các ông đã làm tăng vị thế của kẻ thù, trong khi làm suy yếu chúng ta. Các ông đang hành động trái ngược với những lời dạy của Hồ Chủ tịch, các nhà lãnh đạo vĩ đại của nhân dân Việt Nam, do đó hủy hoại uy tín của Hồ Chủ tịch đối với nhân dân Việt Nam.

(3) Thời gian này, các ông chấp nhận đàm phán bốn bên sẽ giúp cho Johnson và [Phó Tổng thống Mỹ và là ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Dân chủ, ông Hubert H.] Humphrey giành chiến thắng trong cuộc bầu cử, do đó để cho người dân miền Nam vẫn còn dưới sự cai trị của đế quốc Mỹ và các con rối của họ. Các ông chẳng những không giải phóng người dân miền Nam, mà còn gây thiệt hại cho họ nhiều hơn nữa. Chúng tôi không muốn các ông mắc thêm một sai lầm nữa. Chúng tôi tin rằng người dân miền Nam Việt Nam không muốn đầu hàng và họ sẽ giành chiến thắng trong cuộc chiến. Nhưng giờ đây, [để đạt được] mục đích thì khó khăn hơn và cái giá phải trả [cho chiến thắng] đắt hơn nhiều.

(4) Theo ý ​​của chúng tôi, trong một thời gian rất ngắn, các ông đã chấp nhận các đề xuất thỏa hiệp và đầu hàng do những người theo chủ nghĩa xét lại của Liên Xô đưa ra. Cho nên, giữa hai đảng và và hai Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc, không còn điều gì để nói. Tuy nhiên, như Hồ Chủ tịch đã nói, mối quan hệ giữa chúng ta là mối quan hệ vừa là đồng chí, vừa là anh em, do đó, chúng ta sẽ cân nhắc những thay đổi tình hình trong tháng 11 và sẽ có ý kiến ​​nhiều hơn nữa.

Lê Đức Thọ: Về vấn đề này, chúng ta hãy chờ xem. Và thực tế sẽ cho chúng ta câu trả lời. Chúng tôi đã có kinh nghiệm trong 15 năm qua. Hãy để thực tế chứng minh.

Trần Nghị: Chúng ta đã ký hiệp định Geneva năm 1954 khi Hoa Kỳ không đồng ý làm như vậy. Chúng ta đã rút các lực lượng vũ trang của chúng ta từ Nam ra Bắc, như vậy để cho người dân ở miền Nam bị giết hại. Vào thời điểm đó, chúng ta đã làm sai mà chúng tôi [người Trung Quốc] chia sẻ một phần [trách nhiệm].

Lê Đức Thọ: Bởi vì chúng tôi đã nghe theo lời của các ông (3)

Trần Nghị: Các ông chỉ nhắc điều đó tại Hội nghị Geneva, các ông đã sai lầm bởi vì các ông nghe theo lời khuyên của chúng tôi. Nhưng lần này, các ông sẽ sai lầm nếu các ông không nghe lời của chúng tôi.

Ghi chú:

1. Lê Đức Thọ (*) (1910-1990), thành viên cao cấp của Đảng Cộng sản Đông Dương, là Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam (dưới quyền Lê Duẩn) năm 1949-1954 (trước năm 1951 là Xứ ủy Nam bộ). Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Lao Động VN từ năm 1954. Từ năm 1963 làm Trưởng ban giám sát miền Nam, đã hội đàm bí mật với Henry Kissinger tại Paris từ tháng 2 năm 1970, và từng là trưởng đoàn đàm phán của Bắc Việt trong các cuộc đàm phán hòa bình ở Paris. Cùng với Kissinger, năm 1973, [Lê Đức Thọ] được trao giải Nobel Hòa bình mà ông từ chối nhận.

2. Trên đường trở về từ đàm phán Paris, Lê Đức Thọ dừng chân tại Bắc Kinh. Ông đã gặp gỡ và báo cáo với ông Trần Nghị, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc. Sau đó, ông được yêu cầu thông báo cho Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai cũng như các Ủy viên Trung ương ĐCS Trung Quốc và Nhóm Lãnh đạo Cách mạng Văn hóa về nội dung của cuộc đàm thoại. Ngày 17 tháng 10, một lần nữa, Trần Nghị đã gặp Lê Đức Thọ để truyền đạt ý kiến ​​cá nhân của Chu Ân Lai dựa trên các chỉ thị chung của Mao Chủ tịch và các Ủy viên Trung ương ĐCS Trung Quốc.

3. Xem các bài luận văn do ông Stein Tonnenson giới thiệu trong Tài liệu Làm việc số 22: “77 cuộc hội thoại giữa các nhà lãnh đạo Trung Quốc và lãnh đạo nước ngoài về các cuộc chiến tranh Đông Dương, 1964-1977“, về ý kiến của các đại từ được sử dụng trong cuộc trao đổi này.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

———-

Ghi chú của người dịch:

(*) Về tiểu sử của ông Lê Đức Thọ ghi trong tài liệu này, có phần hơi khác với các tài liệu khác, như năm sinh, có nơi ghi 1911, cũng như thời gian nhận các chức vụ, có tài liệu ghi Lê Đức Thọ trở thành Ủy viên BCT Đảng Lao Động VN năm 1955, thay vì 1954.

Về việc Lê Đức Thọ không nhận giải Nobel Hòa bình, có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng Lê Đức Thọ không nhận giải Nobel là vì đảng không cho nhận, bởi nếu Lê Đức Thọ nhận giải đó, chẳng khác nào đảng thừa nhận nền hòa bình tại VN được giải quyết bằng con đường đàm phán, thương lượng, không phải do đảng lãnh đạo thành công “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. Cũng có ý kiến cho rằng, Lê Đức Thọ không dám nhận vì làm như vậy là qua mặt Lê Duẩn. Một ý kiến khác, Lê Đức Thọ không muốn cùng đứng chung nhận giải với “kẻ thù” là Henry Kissinger.

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

32. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Hùng 29-06-1968

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Hùng

29-06-1968

 Mô tả: Trung Quốc tư vấn Việt Nam chống lại lập trường đàm phán yếu ớt với Hoa Kỳ; Trung Quốc cũng cảnh báo chống lại áp lực của Liên Xô để thương lượng. 

Chu Ân Lai: … Rất tốt là hôm nay các ông cho chúng tôi biết rõ, rằng các ông đang chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh kéo dài. Những cuộc tấn công gần đây của các ông vào các thành phố chỉ nhằm mục đích cản trở lực lượng của kẻ thù, giúp công tác giải phóng các khu vực nông thôn, huy động lực lượng lớn ở các khu đô thị. Tuy nhiên, tất cả đều không mang tính quyết định.

Những người theo chủ nghĩa xét lại của Liên Xô tuyên bố rằng, các cuộc tấn công vào Sài Gòn là tấn công thật, rằng chiến thuật sử dụng các vùng nông thôn để bao vây các khu thành thị là sai và rằng tiến hành một cuộc đấu tranh kéo dài là một sai lầm. Theo họ, chỉ tấn công nhẹ vào các thành phố lớn là quyết định. Nhưng nếu các ông làm [như thế], Hoa Kỳ sẽ vui mừng, khi họ có thể tập trung lực lượng để phản công, do đó gây nên sự tàn phá lớn hơn cho các ông. Thiệt hại mà các ông gánh chịu sẽ đưa đến chủ nghĩa bại trận về phía các ông. Và Liên Xô sẽ khai thác tình hình này để gây áp lực nhiều hơn cho các ông, buộc các ông phải thương lượng.

 Khi các ông chấp nhận đàm phán với Mỹ, đặt các ông vào thế thụ động. Các ông bị Liên Xô cho vào bẫy. Bây giờ, Johnson có sáng kiến. Đối mặt với khó khăn, ông ta ra lệnh ném bom một phần. Và khi ông ta ít khó khăn hơn, ông ta sẽ tiếp tục ném bom, và khi ông ta gặp nhiều khó khăn hơn, một lần nữa ông ta sẽ trở lại ném bom một phần.

Thực tế, gần đây, việc ném bom đã trở nên dữ dội hơn, tập trung vào một khu vực nhỏ hơn, gây thiệt hại nhiều hơn cho các ông và tạo ra nhiều trở ngại hơn cho sự hỗ trợ của các ông ở miền Nam. Các ông chấp nhận việc ném bom một phần của họ, và đồng ý nói chuyện với họ, đã làm cho vị thế hiện tại của họ tốt hơn so với vị thế của họ năm 1966 và 1967. Mặc dù các ông vẫn duy trì các nguyên tắc của mình trong đàm phán, các ông đã giảm số lượng khó khăn của họ trong cuộc bầu cử năm nay. Đây là lỗi lầm của Liên Xô. Từ lâu, Liên Xô có những người làm tay sai cho Mỹ và giúp Mỹ chống lại những người làm cách mạng trên thế giới ….

Chúng tôi đã làm một danh sách những lỗi lầm mà Liên Xô đã phạm. Chúng tôi muốn chuyển cho Chủ tịch Hồ Chí Minh xem xét.

Không lâu trước đó, những người Liên Xô hợp tác với Hoa Kỳ, đề ra hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân tại Liên Hiệp Quốc, nhằm chống lại Trung Quốc. Nhưng hiệp ước đó không áp dụng lên Trung Quốc. Hiệp ước này được thiết kế để ngăn cấm phát triển vũ khí hạt nhân của một số nước khác ngoài Hoa Kỳ và Liên Xô bởi vì nó không cho phép dự trữ hạt nhân hoặc thử nghiệm dưới lòng đất. Hiệp ước này cấm các nước không có ngành công nghiệp hạt nhân phát triển khả năng hạt nhân. Đây là hành động của chủ nghĩa thực dân mới Liên Xô, chủ nghĩa thực dân mới hạt nhân Liên Xô. Liên Xô đã trở thành một nước đế quốc chủ nghĩa xã hội.

… Ngày 27 tháng 6, Gromyko có bài phát biểu trước Xô viết Tối cao. Bài phát biểu này đã được các phương tiện truyền thông đại chúng đế quốc hoan nghênh rộng rãi.

Ghi chú

1. Chu Ân Lai tiếp phái đoàn Việt Nam và đã có các cuộc hội đàm từ 11giờ sáng đến 6 giờ chiều. Những người tham gia các cuộc đàm phán phía Trung Quốc gồm: Chu Ân Lai, Khang Sinh, Lý Tiên Niệm, Diệp Kiếm Anh, Lý Tường (Bộ trưởng Bộ Ngoại thương Trung Quốc), Hàn Niệm Long. Phía Việt Nam gồm có: Phạm Hùng, Ba Long, Lý Ban, Ngô Minh Loan.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

31. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Hùng 19-06-1968

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Hùng

19-06-1968

Mô tả: Chu Ân Lai bàn về vai trò của Trung Quốc và Việt Nam trong cuộc cách mạng Campuchia.

Chu Ân Lai: Tôi muốn nói rằng, tôi không biết làm thế nào những người Cộng sản Khmer giải quyết mâu thuẫn giai cấp giữa họ và các lực lượng phản động tại Campuchia. Đảng Cộng sản Khmer tiến hành một cuộc đấu tranh vũ trang tại khu vực giáp biên giới với Việt Nam. Chính quyền Khmer đàn áp họ và cũng không muốn cung cấp gạo cho các lực lượng cách mạng Việt Nam đi qua ngả Campuchia. Vì vậy, các đồng chí Việt Nam phải đối mặt với khó khăn.

Người ta nói rằng vũ khí mà Trung Quốc gửi cho các đồng chí Việt Nam đã có lần rơi vào tay Cộng sản Khmer và Sihanouk không hài lòng về điều này. Chuyện đó có thực sự xảy ra, hay những người cộng sản Khmer đã tịch thu vũ khí của Trung Quốc mà lực lượng vũ trang của chính phủ Khmer đã sở hữu?

Các ông có gặp những người cộng sản Khmer khi các ông đi ngang qua Campuchia? Đồng chí Sơn Ngọc Minh (2) không có bất kỳ mối liên lạc nào với các đồng chí của ông ấy ở trong nước Campuchia phải không? Chúng tôi không muốn Đại sứ quán Trung Quốc tại Campuchia có bất kỳ mối quan hệ nào với Đảng Cộng sản Khmer vì vấn đề này quá phức tạp.

Gần đây, đại sứ quán của chúng tôi ở Campuchia báo cáo, Đảng Cộng sản Khmer phàn nàn rằng các đồng chí Việt Nam không cung cấp vũ khí cho họ khi cơ hội đấu tranh vũ trang chín muồi. Sẽ tốt nếu thời cơ đến. Nhưng nếu thời cơ chưa tới và một cuộc đấu tranh vũ trang bắt đầu bằng cách nào đó, thì sẽ không tốt.

Chúng tôi đã nói với đồng chí Phạm Văn Đồng và sau đó với Hồ Chủ tịch rằng, chúng tôi không có các mối quan hệ trực tiếp với các đồng chí Khmer. Sẽ dễ dàng hơn nếu các đồng chí Việt Nam có thể trực tiếp trao đổi ý kiến ​​với họ. Đồng chí Phạm Văn Đồng nói rằng, chúng ta không nên can thiệp vào công việc nội bộ của Đảng Cộng sản Khmer. Tuy nhiên, tôi nghe họ phàn nàn rằng các đồng chí Việt Nam có thái độ Sô-vanh, không muốn giúp đỡ, thảo luận với họ, hoặc cung cấp vũ khí cho họ. Vấn đề này rất phức tạp. Ngay cả khi các ông có vũ khí, vẫn khó để cung cấp cho họ. Có phải là do các cán bộ Việt Nam ở cấp thấp hơn? Họ có thái độ không thích hợp trong việc đối phó với các đồng chí Khmer, nên gây hiểu lầm? Có lẽ các ông nên dạy cho quân lính Việt Nam đi ngang qua Campuchia cần chú ý nhiều hơn về vấn đề quan hệ với Đảng Cộng sản Khmer.

Dĩ nhiên không phải tất cả các quân lính liên quan đến các mối liên hệ này. Nhưng các ông nên để cho các viên chức phụ trách các vấn đề chính trị ở vài cấp biết về vấn đề này và yêu cầu họ thể hiện thái độ bình đẳng, và giải thích rõ chính sách của Đảng [CS] Việt Nam. Các ông nên làm cho họ hiểu được toàn bộ bối cảnh, nhận thức được nhiệm vụ lớn hơn là đánh bại Mỹ. Đánh bại Mỹ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc cách mạng Campuchia. Tóm lại, các ông nên làm cho họ hiểu được cách tiếp cận quốc tế và hiểu rằng một nước không thể chống lại nhiều kẻ thù cùng một lúc.

Tôi đề nghị các ông báo cho Hồ Chủ tịch và BCH Trung ương, và xin phép [họ] thông báo cho một số cán bộ phụ trách chính trị của vấn đề này để tránh gặp rắc rối. Chúng tôi phải đối mặt với một tình huống mà người dân Campuchia có thể xin vũ khí khi quân Việt Nam hành quân qua Campuchia. Các ông sẽ cung cấp vũ khí cho họ? Nếu các ông cung cấp, Sihanouk sẽ không hài lòng. Nếu các ông không cung cấp, những người làm cách mạng ở Campuchia sẽ nghĩ gì?

Vấn đề thật là phức tạp. Các đồng chí Campuchia muốn phát triển đấu tranh vũ trang. Sihanouk sẽ đàn áp họ, và các ông không thể đi qua Campuchia. Và nếu Sihanouk đàn áp những người Cộng sản Campuchia, Trung Quốc không thể cung cấp vũ khí cho Campuchia.

Nếu toàn bộ Đông Dương tham gia các nỗ lực để đẩy Mỹ ra khỏi Việt Nam, lúc đó cách mạng Lào và Campuchia sẽ thành công, mặc dù không nhanh như mong đợi. Cán bộ của chúng tôi tại Đại sứ quán [Trung Quốc] ở Campuchia không có chức vụ cao, chúng tôi không muốn họ liên lạc với những người Cộng sản Campuchia. Vì vậy, tôi đề nghị các ông nên xem xét tình hình và nếu phù hợp, các ông nên mời các đồng chí Campuchia đến Tây Ninh hoặc Tây Nguyên [cao nguyên trung phần] để thảo luận cách tham gia chống lại người Mỹ trước, và sau đó chống lại các lực lượng phản động ở Campuchia. Các ông cũng nên xem, liệu điều này có lợi hơn hoặc sẽ tốt hơn nếu mỗi bên tiến hành cuộc đấu tranh theo cách riêng của mình.

Tôi nghe từ đồng chí Phạm Văn Đồng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Khmer hiện tại tốt nghiệp tại Pháp và và thường đến Hà Nội.

Ghi chú:

1. Phái đoàn Việt Nam gồm có Phạm Hùng, Ba Long, Ngô Minh Loan, và Trần Văn Quang.

Phạm Hùng (1912-1988), ủy viên bộ chính trị Đảng Lao Động Việt Nam từ năm 1957, từ năm 1967 chỉ huy cuộc chiến ở miền Nam, là Bí thư Trung ương Cục miền Nam (COSVN) và là Chính ủy Các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam (PLAF). Phó Thủ tướng từ năm 1976 và Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam từ tháng 6 năm 1987 cho đến khi chết vào năm 1988.

Ba Long: bí danh Lê Trọng Tấn, Lê Trọng Đê (Để, Đề?) được huấn luyện quân sự ở Trung Quốc và Liên Xô, và là chỉ huy sư đoàn QĐND Việt Nam trong Chiến tranh Đông Dương. Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân năm 1954-1960, Phó Tham mưu trưởng 1961-62. Vào miền Nam phục vụ với chức Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam 1964-1969 và đã đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong các chiến dịch miền Trung, miền Nam Việt Nam và Lào 1970-1975, đáng chú ý nhất là chức Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh hồi tháng 4 năm 1975. Ba Long kế nhiệm Văn Tiến Dũng làm Tham mưu trưởng QĐND VN, sau này trở thành Bộ trưởng 1978-1980.

Trần Văn Quang: bí danh Trần Thúc Kinh (1917-), cựu chiến binh cuộc cách mạng năm 1945 ở phía Bắc Trung phần Việt Nam, ủy viên BCH TW Đảng Lao Động VN 1960-1976. Phó Tổng Tham mưu QĐND VN năm 1959-1961, đóng một vai trò quan trọng ở Trung ương Cục miền Nam trong nửa đầu thập niên 1960. Sau giữ các chức vụ quan trọng ở miền Trung Việt Nam trong khi là ủy viên Quân ủy Trung ương ở Hà Nội. Trở lại làm Phó Tổng tham mưu trưởng năm 1974-1977, và chỉ huy các lực lượng Việt Nam ở Lào năm 1978-1981. Năm 1992 được bầu làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

2. Sơn Ngọc Minh: lãnh đạo Cộng sản Campuchia, nhiều năm sống lưu vong ở Hà Nội. Ông đã mất liên lạc với đảng ở Campuchia khi Pol Pot lên cầm quyền Đảng Cộng sản Campuchia thời gian từ năm 1960-1963.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

30. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Trần Nghị và Xuân Thủy 07-05-1968

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Trần Nghị và Xuân Thủy

07-05-1968 (*)

 Mô tả: Chu Ân Lai dựa vào sự khác biệt giữa chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam, là cách cho thấy tầm quan trọng của chiến thuật đàm phán mạnh mẽ ở Việt Nam. Ông ta cũng yêu cầu Xuân Thủy giữ các cuộc đàm phán bí mật với Liên Xô.

 Chu Ân Lai: Tình hình đàm phán về vấn đề Triều Tiên khác với tình hình của các ông. Lúc đó, [vấn đề Triều Tiên] liên quan đến một nửa Triều Tiên, nhưng tình hình mà các ông đang phải đối mặt hiện nay liên quan đến sự thống nhất Việt Nam. Phân nửa Việt Nam là vấn đề [chúng ta đã đối mặt] mười bốn năm trước đây. Khi đồng chí Mao Trạch Đông gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh lần cuối (2) ông ấy nói rằng có thể việc ký Hiệp định Geneva [1954] của chúng tôi là một sai lầm.

Sau khi chúng tôi ký hiệp định, nhiều người lính miền Nam Việt Nam rút về miền Bắc. Hoa Kỳ từ chối ký vào hiệp định. Nếu chúng tôi cũng từ chối ký hiệp định, chúng tôi có lý do để làm như vậy. Nhưng Hồ Chủ tịch nói rằng có quyền lợi liên quan đến việc [ký hiệp định]. Làm như thế, sau thời kỳ khó khăn, thời kỳ Ngô Đình Diệm bắt bớ, giam giữ, và đàn áp, gây ra cái chết của hơn 200.000 người dân miền Nam Việt Nam, với kinh nghiệm đau thương này, đã đánh thức để làm cuộc cách mạng, dẫn với tình hình hiện nay. Do đó, tình hình các cuộc đàm phán Triều Tiên khá giống với tình hình quanh Hội nghị Geneva năm 1954. Các cuộc đàm phán Triều Tiên được tiến hành trên chiến trường.

Cuộc chiến kéo dài gần ba năm và các cuộc đàm phán kéo dài hai năm. Nhưng khi vấn đề Triều Tiên đã được thảo luận tại Hội nghị Geneva năm 1954, chiến tranh đã chấm dứt, và lúc đó rất khó để giải quyết vấn đề thông qua đàm phán. Bất cứ điều gì chúng tôi nói, họ sẽ không đồng ý. Do đó, các cuộc đàm phán Triều Tiên chỉ dẫn đến đình chiến, và không có thoả thuận chính trị nào khác đạt được. Về vấn đề rút quân [nước ngoài] khỏi Triều Tiên, họ đã từ chối thảo luận. Chúng tôi đã rút quân [khỏi Triều Tiên] năm 1958, nhưng họ không chịu rút quân của họ. Tình huống mà các ông đang đối mặt lần này thì khác.

Các ông đang đàm phán với Mỹ từng bước một. Điều này có thể tốt. Bước một bước và các ông có thể quan sát bước kế tiếp. Nhưng vấn đề cơ bản là, điều mà các ông không thể có được trên chiến trường, cho dù các ông có cố gắng thế nào đi nữa, các ông sẽ không nhận được tại bàn đàm phán. Điện Biên Phủ dựng lên vĩ tuyến 17, do đó Hội nghị Geneva có thể đạt được thỏa thuận.

Có lẽ đồng chí Phạm Văn Đồng đã truyền đạt thái độ của chúng tôi sau khi trở về Việt Nam. Ý kiến ​​của chúng tôi là, các ông đồng ý [thương lượng] quá nhanh và quá vội vàng, có thể gây cho người Mỹ một ấn tượng rằng các ông sẵn sàng thương lượng. Đồng chí Mao Trạch Đông đã nói với đồng chí Phạm Văn Đồng rằng, có thể chấp nhận đàm phán, nhưng [trước tiên] các ông phải duy trì một lập trường trên cao. Thứ hai, những người Mỹ, những nước lệ thuộc, và những tên bù nhìn có một lực lượng quân sự hơn 1.000.000, và trước khi họ bị gãy xương sống, hoặc trước khi năm, sáu ngón tay của họ bị gãy, họ sẽ không chấp nhận thất bại, và họ sẽ không rời bỏ.

Trần Nghị: Các ông không cần phải thông báo cho Liên Xô về tiến triển trong các cuộc đàm phán với Hoa Kỳ bởi vì họ có thể thông báo cho Hoa Kỳ.

Chu Ân Lai: Các ông không cần phải thông báo cho họ điều mà các ông dự định làm vì có những trường hợp những người xét lại công bố bí mật quân sự và ngoại giao. Các ông nên thật thận trọng.

Ghi chú:

1. Xuân Thủy (1912-1985), lúc đầu là một nhà báo và là quan chức cấp cao cửa các tổ chức mặt trận cộng sản trong chiến tranh Đông Dương. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao năm 1962-1965, bộ trưởng nội các và là người đứng đầu phái đoàn Bắc Việt trong các cuộc đàm phán bốn bên tại Paris 1968-1973.

2. Không rõ lúc nào, nhưng có thể vào mùa Đông – Xuân năm 1968, khi ông Hồ được báo cáo đã ở Bắc Kinh để chữa bệnh. Chúng tôi cám ơn ông William Duiker giúp làm rõ điểm này.

(*) Một tài liệu khác ghi cuộc thảo luận này bắt đầu lúc 9:45 tối ngày 7 tháng 5 năm 1968, tại Đại lễ đường Nhân dân, Bắc Kinh.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

29. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Khang Sinh và Phạm Văn Đồng 29-04-1968

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Khang Sinh và Phạm Văn Đồng

29-04-1968

 Mô tả: Thảo luận về phong trào cộng sản quốc tế và các nguyên nhân có thể có thể mang lại sụp đổ.

 Chu Ân Lai: Trong thời gian dài, Hoa Kỳ nửa bao vây Trung Quốc. Bây giờ Liên Xô cũng bao vây Trung Quốc. Sự bao vây đang tiến tới toàn diện, ngoại trừ [phần] Việt Nam.

Phạm Văn Đồng: Tất cả chúng ta quyết tâm hơn để đánh bại đế quốc Mỹ trong lãnh thổ Việt Nam.

Chu Ân Lai: Đó là lý do tại sao chúng tôi hỗ trợ các ông.

Phạm Văn Đồng: Chiến thắng của chúng tôi sẽ có tác động tích cực ở châu Á. Chiến thắng của chúng tôi sẽ mang lại những kết quả không lường trước được.

Chu Ân Lai: Các ông nên nghĩ theo cách đó.

Phạm Văn Đồng: Các đồng chí Liên Xô đã lắng nghe chúng tôi với lòng nhiệt tình. Họ muốn biết tình hình cũng như kinh nghiệm của chúng tôi. Lúc đó, đồng chí Nguyễn Đôn (2) thông báo cho đồng chí [Ngoại trưởng Liên Xô, Andrei] Gromyko về một số vấn đề quốc phòng. Các đồng chí Liên Xô hết lòng ủng hộ chúng tôi và họ cũng bày tỏ sự ủng hộ đối với thắng lợi hoàn toàn của chúng tôi. Tuy nhiên, họ đã nói rằng sẽ có hy sinh nhiều hơn kể từ khi những trận đánh quy mô lớn xảy ra. Chúng tôi trả lời rằng sẽ không thể tránh khỏi khó khăn. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ chuẩn bị nhiều hơn cho các trận chiến quy mô lớn lẫn khó khăn. Chắc chắn chúng tôi sẽ giành chiến thắng.

Khang Sinh: Đại Cách mạng Văn hóa bắt nguồn từ ý tưởng đấu tranh giai cấp vẫn còn tồn tại trong hệ thống xã hội chủ nghĩa. Ý tưởng này vừa là lý thuyết lẫn thực tiễn. Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng, ngay cả ở Liên bang Xô Viết – quê hương của Lenin – Đảng Bolshevik đã theo chủ nghĩa xét lại. Kinh nghiệm của chúng tôi hơn 20 năm qua trong việc xây dựng một chế độ độc tài vô sản, và đặc biệt là các sự cố gần đây ở Đông Âu, nơi chủ nghĩa tự do tư sản và chủ nghĩa tư bản được phục hồi (3) cũng đặt câu hỏi về cách thức tiến hành một cuộc cách mạng trong bối cảnh chế độ độc tài vô sản và trong điều kiện xã hội chủ nghĩa. Để giải quyết vấn đề này, Mao Chủ tịch khởi xướng Đại Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc.

Mao Chủ tịch đưa ra một kế hoạch ba năm, bắt đầu từ tháng 6 năm 1966. Nhiệm vụ của năm đầu là huy động nhân dân, [của] năm thứ hai là giành chiến thắng quan trọng và [của] năm cuối cùng là kết luận về cuộc cách mạng. Về một cuộc cách mạng lớn như thế này, ba năm không phải là thời gian dài. Hơn nữa, theo Mao Chủ tịch, Đại Cách mạng không chỉ bao gồm một hoặc hai cuộc cách mạng nhỏ hơn.

Bây giờ tôi nói về giai đoạn chuẩn bị từ tháng 12 năm 1965 đến tháng 6 năm 1966. [Giai đoạn này bao gồm] việc chuẩn bị sẵn sàng về quan điểm và suy nghĩ. Trong giai đoạn này, chúng tôi vạch trần Bành Chân, La Thụy Khanh, Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn (4). Cũng trong giai đoạn này, chúng tôi phát hành hai tài liệu quan trọng: quyết định tháng 2 năm 1966 của đồng chí Lâm Bưu trao quyền cho đồng chí Giang Thanh triệu tập hội nghị Hoạt động Văn hóa của Lực lượng Vũ trang và tuyên bố ngày 16 tháng 5 về cuộc họp Bộ Chính trị mở rộng. Tài liệu sau (tức tuyên bố ngày 16 tháng 5) có ý nghĩa lịch sử to lớn, đặt nền tảng lý thuyết cho cuộc cách mạng bắt đầu. Hồ Chủ tịch có một bản sao của bản tuyên bố trước khi nó được công bố.

Để tôi nói về tội phản động của Bành Chân, La Thụy Khanh, Lục Định Nhất, Dương Thượng Côn. Một lần, khi Bành Chân bị bắt, ông ta thú nhận với Tưởng Giới Thạch. Không những ông ta một kẻ phản bội, mà ông ta còn tiếp tục quan hệ với các đặc vụ của Tưởng. Cha vợ của ông ta là một kẻ đại phản bội. Lời thú tội của Bành Chân dẫn đến việc bắt giữ nhiều đảng viên ĐCS Trung Quốc. Ông ta đã lợi dụng tình hình bí mật để che giấu tội ác của mình.

La Thụy Khanh là một đảng viên ĐCSTQ giả, như ông ta đã tự thú nhận sau này, rằng ông ta chưa bao giờ được nhận vào đảng. Ông ta cũng thú nhận rằng, ông ta ở Vũ Hán, học tại một trường quân sự, nhưng ông ta đã không tham gia cuộc khởi nghĩa Nam Xương. Năm 1929, ông ta ở Thượng Hải, tự xưng là đảng viên ĐCSTQ. Hồ sơ quá khứ của ông ta được tiết lộ trong cuộc Cách mạng Văn hóa. Chúng tôi cũng biết rằng, khi ông ta đang làm việc tại Bộ Nội vụ, ông ta đã sử dụng công tác phản gián để ăn cắp tài liệu bí mật quốc gia và gửi cho kẻ thù. Tôi chỉ đưa ra hai trường hợp: ông ta báo cáo với kẻ thù về chuyến tham quan của Mao Chủ tịch tới Liên Xô năm 1949-1950 và một trong những chuyến viếng thăm của đồng chí Phạm Văn Đồng đến Trung Quốc.

Lục Định Nhất tham gia cuộc cách mạng với thái độ tiêu cực và các động cơ mánh khóe gian lận. Năm 1930, ông ta trở lại Trung Quốc, khôi phục các mối quan hệ với bạn bè cũ của mình trong Quốc Dân đảng. Trong thời kỳ hợp tác giữa ĐCSTQ và Quốc Dân đảng chống lại Nhật năm 1937, ông ta làm việc tại văn phòng ĐCS Trung Quốc tại Nam Ninh và bảo vệ quyền lợi của gia đình ông ta, có nguồn gốc phong kiến ​​và tư bản. Hồng vệ binh khám xét nhà của ông ta và tìm thấy tài liệu về những hành động này. Vì vậy, ông ta không thể không thú nhận rằng, ông ta là chỉ điểm của Quốc Dân đảng từ năm 1930.

Dương Thượng Côn đã gửi nhiều tài liệu cho những người xét lại ở Liên Xô.

Trong giai đoạn chuẩn bị, ngoài việc vạch trần những người này, chúng tôi cũng có những người về mặt tâm lý sẵn sàng và đặt cơ sở lý thuyết cho Đại Cách mạng Văn hóa bắt đầu.

Chu Ân Lai: Trong Hội nghị Bộ Chính trị tháng 5 năm 1966, đồng chí Lâm Bưu đã đọc một báo cáo xuất sắc, phân tích các đặc điểm của thời kỳ Mao Trạch Đông và tập trung vào quan điểm sau đây: tất cả các cuộc đấu tranh nhằm mục đích cướp chính quyền và củng cố quyền lực. Báo cáo này không chỉ vạch trần bốn người kia mà còn ngụ ý chỉ trích Lưu Thiếu Kỳ, chưa từng công bố tư tưởng Mao Trạch Đông. Tôi đã gửi báo cáo của đồng chí Lâm Bưu cho các đồng chí Việt Nam.

Khang Sinh: Ngày 16 tháng 5 năm 1966, Mao Chủ tịch nhấn mạnh: những kẻ xét lại, những kẻ phản động, và những kẻ phản bội đang lẫn trốn trong chúng ta và đang có được lòng tin của bạn bè chúng ta. Lúc đó, nhiều cán bộ không hiểu điều mà Mao Chủ tịch nói thực sự có nghĩa là gì, nghĩ rằng sự ám chỉ đó là La [Thụy Khanh] và Bành [Chân]. Nhưng thực ra, Bành Chân đã bị vạch trần. Không ai dám nghĩ những kẻ phản bội là những người trong chúng ta.

Chu Ân Lai: Tuy nhiên, đồng chí Mao đã nghĩ điều này.

Khang Sinh: Trong báo cáo của mình, đồng chí Lâm Bưu có một câu nói nổi tiếng: “Cả nước sẽ đứng lên để đối đầu với bất kỳ ai chống lại Mao Chủ tịch và chính sách của chế độ độc tài vô sản“.

Trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 1966 và tháng 1 năm 1967, Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình đã bị vạch trần như là [thành phần] chủ nghĩa tư bản và phản động.

Ngày 1 tháng 6 năm 1966, Chủ tịch Mao quyết định xuất bản báo tường của Đại học Bắc Kinh trên cả nước, đốt lên ngọn đuốc cho Đại Cách mạng Văn hóa. Sau đó ông gửi một lá thư hỗ trợ Hồng Vệ binh, do đó giúp phong trào Hồng vệ binh phát triển trên cả nước. Sau ngày 13 tháng 8, Chủ tịch Mao tiếp đón đại diện của Hồng Vệ binh 8 lần. Sau đó, Hội nghị lần thứ 11 đã chỉ trích chính sách phản động của Lưu [Thiếu Kỳ] và Đặng [Tiểu Bình] và thông qua bản tuyên ngôn 16 điểm về Đại Cách mạng Văn hóa và phát hành một tuyên bố của Hội nghị này. Mao Chủ tịch đã viết một bài báo có tựa đề “Nã pháo vào bộ tư lệnh”.

Tháng 11 năm 1966, một hội nghị khác được Uỷ ban Trung ương triệu tập tiếp tục chỉ trích Lưu [Thiếu Kỳ] và Đặng [Tiểu Bình] và mở rộng cuộc vận động chống Khrushchev tại Trung Quốc. Lúc đó, chính sách cách mạng của Mao Chủ tịch đã thành công và những gương mặt phản cách mạng ẩn giấu một thời gian dài của Lưu [Thiếu Kỳ] và Đặng [Tiểu Bình] đã bị vạch trần. Hồng vệ binh xem xét các tài liệu của Pháp và Quốc Dân đảng và phát hiện ra rằng, năm 1925, Lưu [Thiếu Kỳ] đã đầu hàng kẻ thù. Năm 1927, Lưu [Thiếu Kỳ] đã ra lệnh cho các công nhân Vũ Hán buông vũ khí đầu hàng chính phủ Quốc Dân đảng. Theo các tài liệu Nhật, Lưu [Thiếu Kỳ] đầu hàng Nhật năm 1929 ở Mãn Châu và như tài liệu ngân hàng cho thấy, từ năm 1936, Lưu đã nhận tiền của Quốc Dân đảng.

Còn có một điểm khác mà chúng tôi muốn đưa ra: vợ của Lưu Thiếu Kỳ – Vương Quang Mỹ – là một đặc vụ của tình báo Mỹ. Tôi còn nhớ vụ chỉ trích La Thụy Khanh, nói rằng kẻ thù, vì chúng ta thiếu cảnh giác, có thể gửi xe tăng vào giường của chúng ta – xe tăng là tiếng lóng chỉ người vợ. Lý do tôi nói thế là vì, cuộc hôn nhân của La [Thụy Khanh] với đặc vụ Nhật Bản, lúc cô ta bị phơi bày đã phải bỏ chạy. Lúc đó xe tăng của La còn nhỏ. Bây giờ trên giường của Lưu Thiếu Kỳ có một xe tăng Trung Quốc lớn và tinh vi do Mỹ gửi tới.

Về phần mình, rõ ràng Đặng Tiểu Bình là một người đào ngũ trong cuộc nội chiến. Ông ta cũng phản đối những tư tưởng của Mao Trạch Đông một cách nhất quán. Ông ta đã cố cản trở Mao Chủ tịch và gửi các thành viên của gia đình ông ta cũng như các thành phần xấu tới Đảng. Chúng tôi đã phát hiện ra các Khrushchev của Trung Quốc đã ẩn nấp trong chúng ta.

Trường Đảng và các chi nhánh ở cấp huyện và tỉnh đã có trong 18 năm qua, đại diện cho một pháo đài ngoan cố chống lại tư tưởng Mao Trạch Đông. Lưu Thiếu Kỳ kiểm soát trường Đảng từ năm 1948 cho đến Cách mạng Văn hóa, sử dụng trường học để trao đổi tài liệu tình báo với Liên Xô.

Chu Ân Lai: Trong thời gian từ tháng 9 năm 1967 đến nay, Mao Chủ tịch nói rằng một chiến thắng toàn diện đã đạt được. Trong thời kỳ này, chúng tôi đã đấu tranh với ai? Những kẻ phản động còn lại trong hàng ngũ của chúng tôi. Nhưng nói chung, chính sách cách mạng của Mao Chủ tịch đã giành được thắng lợi to lớn và các chính sách phản động đã bị sụp đổ. Ủy ban cách mạng đã được thành lập ở tất cả mọi nơi, ngoại trừ 8 tỉnh. Thực tế đã chứng minh sự thành công trong chính sách của Mao Chủ tịch. Những kẻ phản bội, những kẻ đào ngũ trong đảng, đã bị phơi bày, trình độ giáo dục của người dân và cán bộ đã được nâng lên, và các đảng viên đã được tinh lọc và hiện nay tương đối tinh khiết.

Tại Đại hội Đảng lần thứ 7, Lưu Thiếu Kỳ đọc một báo cáo về tình trạng của đảng, trong đó có một phần dành cho tư tưởng của Mao Trạch Đông. Thực ra, có người đã viết phần này cho ông ta và ông ta đã sử dụng phần này để đánh lừa các đảng viên ĐCSTQ và Trung ương để chiếm được lòng tin của đảng. Sau Đại hội, ông Lưu không bao giờ đề cập đến tư tưởng của Mao Trạch Đông nữa, và ông ta đã không sử dụng tư tưởng Mao Trạch Đông để chỉ trích cuốn sách “Về sự tiến bộ của đảng viên“. Ngược lại, ông sử dụng cuốn sách đó để chống lại tư tưởng Mao Trạch Đông.

Đồng chí Lâm Bưu đã viết nhiều công trình ủng hộ tư tưởng Mao Trạch Đông. Nhưng là một người khiêm tốn, ông ấy không công bố công khai. Đồng chí Lâm Bưu đã trải qua các thử nghiệm về cuộc đấu tranh kéo dài. 40 năm đã trôi qua kể từ cuộc họp đầu tiên của ông (Lâm Bưu) với Chủ tịch Mao. Ông ấy đã chứng tỏ mình là một đồng chí trong tay của Mao Chủ tịch.

Khang Sinh: Sau khi giải phóng dân tộc, Lưu Thiếu Kỳ đã đi đến Thiên Tân và đọc một bài phát biểu, nói rằng nền tảng công nghệ Trung Quốc thì yếu kém, thậm chí không bằng thời Sa hoàng. Thậm chí ông ta còn nói rằng, khai thác tư bản chẳng những không sai, mà còn có ích.

Về mặt lý thuyết, Lưu là hậu duệ của Bernstein, Kautsky, Bukharin và Khrushchev. Ở Trung Quốc, chúng tôi có những người giống như vậy, cụ thể là Cù Thu Bạch, Trần Độc Tú, Lý Lập Tam, Vương Minh, Trương Quốc Đào, và Lưu Thiếu Kỳ. Lý thuyết của họ rất có hại cho phong trào cộng sản quốc tế.

Ghi chú:

1. Phái đoàn của đảng và nhà nước Việt Nam đã đến Bắc Kinh sau chuyến thăm Liên Xô.

2. Nguyễn (Văn) Đôn (1918- ) là người miền Nam (sinh tại Quảng Ngãi). Ông là chỉ huy và cán bộ chính trị Liên khu V (phía Nam miền Trung Việt Nam) cho đến năm 1967, và sau đó đóng vai trò quan trọng ở Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tham mưu trưởng. Dường như bị mất ảnh hưởng vào năm 1976. Ảnh: Trung tướng Nguyễn Đôn.

3. Có thể ám chỉ đến các phong trào cải cách ở Tiệp Khắc (Mùa Xuân Praha – “Prague Spring”) và có thể Ba Lan, nơi chính quyền gần đây đã bắt đầu một cuộc đàn áp những người bất đồng chính kiến.

4. Trước khi bị thanh trừng cuối năm 1965, Dương Thượng Côn là ủy viên dự khuyết Ban Bí thư Trung ương ĐCSTQ và là Giám đốc Phòng Hành chính Trung ương của Trung ương ĐCSTQ.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

28. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 19-04-1968

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng

19-04-1968

 Mô tả: Chu Ân Lai phê phán gay gắt Việt Nam về việc dường như là quá hòa giải trong các cuộc đàm phán và để mất cơ hội có thể có được lập trường mạnh mẽ hơn chống lại Hoa Kỳ.

 Chu Ân Lai: Theo chúng tôi, hiện nay các ông chấp nhận đề nghị của Johnson về việc Mỹ ngưng ném bom có giới hạn ở miền Bắc, không tốt về thời gian và không thuận lợi. Chúng tôi khẳng định cách nhìn này. Về Johnson, hiện tại là câu hỏi làm thế nào để tồn tại trong năm bầu cử, làm thế nào để tránh trách nhiệm về cuộc chiến thất bại. Ông ta cũng muốn được xem như là một người của “hòa bình” cũng như muốn vượt qua những khó khăn hiện tại, bên trong lẫn bên ngoài. Đây là những mục tiêu của ông ta và những tính toán của ông ta không [thích hợp] cho bất kỳ kết quả cụ thể nào cho cuộc họp.

Tuyên bố của đồng chí Nguyễn Duy Trinh ngày 28 tháng 1 năm ngoái (1967), có một số ảnh hưởng trên trường quốc tế. Không những ở các nước châu Phi và châu Á, mà còn ở một số nước phương Tây và Bắc Âu. Các nước này hiểu rằng, ngừng ném bom hoàn toàn miền Bắc là điều kiện tiên quyết cho đàm phán. Như vậy, tuyên bố được hỗ trợ không những của người dân trên thế giới, mà còn của một số chính phủ phương Tây, gồm cả chính phủ De Gaulle.

Vì vậy, khi Johnson đã phải đối mặt với thời điểm khó khăn nhất – tôi đã không đề cập đến phong trào bùng nổ của người Mỹ da đen – các ông đã chấp nhận đề nghị của ông ta. Hành động này làm nhân dân thế giới thất vọng. Các nhóm ủng hộ Mỹ rất vui mừng. Các nước châu Phi và châu Á, vốn hỗ trợ yêu cầu của các ông về việc chấm dứt ném bom hoàn toàn, thì ngạc nhiên. Một số nước phương Tây cũng ngạc nhiên, trong đó có Pháp.

Các ông đã chấp nhận ngừng ném bom một phần, và sau đó chấp nhận nơi đàm phán không phải là Phnom Penh. Do đó, các ông đã thỏa hiệp hai lần. Các ông không chủ động, mà ngược lại, các ông đang đánh mất thế chủ động. Các ông đã nhanh chóng chấp nhận Warsaw là nơi hội họp, và làm như vậy, các ông đã không tạo thêm khó khăn cho Johnson, mà thực ra, các ông đã giúp ông ta. Cho nên bây giờ Johnson đòi hỏi thêm: ông ta đề nghị một danh sách 15 địa điểm họp. Rusk cũng đã đề cập đến danh sách này, mà không đề cập đến bất kỳ nơi nào ở Đông Âu hay Phnom Penh. Tôi không muốn nói rằng Phnom Penh nhất thiết là nơi thích hợp, nhưng một khi các ông đề cập đến Phnom Penh, các ông phải khăng khăng đòi nó. Bởi vì các ông đã thỏa hiệp từ lập trường [ngưng ném bom] hoàn toàn cho đến một phần, bây giờ các ông phải giữ Phnom Penh [là nơi họp mặt].

Đánh giá của chúng tôi rằng, hai thỏa hiệp này đã giảm sự cứng rắn của tuyên bố ngày 28 tháng 1. Từ kinh nghiệm của chúng tôi, chúng tôi thấy rằng các cuộc đàm phán phải bắt đầu khi chúng ta có lập trường mạnh mẽ hơn, không phải một lập trường yếu. Johnson không xem xét các cuộc đàm phán, các cuộc họp, hoặc mối liên hệ sẽ mang lại kết quả nào. Đối với ông ta, hiện nay, mở ra các mối liên hệ là đại diện cho vốn quý. Hoặc các ông có kế hoạch cản trở cuộc họp khi nó được triệu tập hay không? Nếu vậy, tại sao các ông chấp nhận ngừng ném bom một phần? Nếu họ không có kế hoạch cản trở cuộc họp thì sao?

Chúng tôi không hiểu toàn bộ kế hoạch của các ông. Chúng tôi cũng không tin các kế hoạch khác đã được báo chí phương Tây đề cập. Đáng lý, có một kế hoạch khả thi.

Phạm Văn Đồng: Kế hoạch gì?

Chu Ân Lai: Như tôi đã nói, các ông phải yêu cầu chấm dứt ném bom hoàn toàn thì mới bắt đầu liên lạc. Nhưng bây giờ, liên lạc sẽ bắt đầu khi chấm dứt [ném bom] một phần. Trước đây, Hoa Kỳ nói rằng họ sẽ đến bất cứ nơi đâu để gặp các ông. Nhưng khi các ông đề nghị Phnom Penh, thì họ đã không chấp nhận. Sau đó, các ông đề nghị Warsaw. Tôi đoán rằng Hoa Kỳ sẽ chọn Warsaw, nhưng họ dùng kế hoãn binh, đề nghị 15 địa điểm khác, đợi cho các ông đề nghị một nơi khác thì cuối cùng chấp nhận Warsaw. Khi gặp các ông ở Warsaw, họ có thể đề nghị để đổi lấy việc Mỹ ngưng ném bom hoàn toàn, các ông phải ngưng giúp đỡ miền Nam, điều này dĩ nhiên các ông sẽ không chấp nhận. Sau đó có thể họ đề cập đến việc hỗ trợ gián tiếp từ miền Bắc. Một ngày nọ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói [miền Bắc] sẽ gửi vũ khí và ngưng gửi người vào Nam.

Phạm Văn Đồng: Không, tôi chưa bao giờ nói thế, chưa bao giờ, chưa bao giờ. (Hai bên tranh luận về điểm này và cuối cùng là Chu Ân Lai đồng ý rằng sự hiểu lầm là do dịch sai).

Phạm Văn Đồng: Tôi muốn nói thêm một điểm: đó là chúng tôi gửi người dân và quân đội vào miền Nam, cho thấy toàn bộ đất nước chúng tôi sẽ chống lại Hoa Kỳ. Ý chí này của chúng tôi giống như sắt, đá, không thể lay chuyển được. Chúng tôi đã phải đối mặt với một số thời điểm vô cùng khó khăn và các ông cũng đã quan ngại cho chúng tôi. Nhưng chúng tôi quyết tâm tiến lên phía trước, không bao giờ cho phép rút lui. Toàn bộ đất nước chúng tôi đang chiến đấu chống Mỹ đến thắng lợi cuối cùng. Toàn bộ 31 triệu người Việt Nam đang đấu tranh để giành chiến thắng cuối cùng. Bởi vì các ông nghe nhầm, chúng tôi phải nói với các ông một lần nữa.

Chu Ân Lai: Đối với miền Bắc, Mỹ ném bom và phong toả là hành vi xâm lược. Có lẽ vì thông dịch tệ, có một điều tôi vẫn chưa rõ: Hoa Kỳ yêu cầu chấm dứt hỗ trợ gián tiếp [miền Nam] và các ông chấp nhận ngừng ném bom một phần [miền Bắc]. Đó có phải là cách thừa nhận rằng các ông đang hỗ trợ miền Nam một cách gián tiếp?

Khang Sinh: Điều này đã được lặp đi lặp lại trong các tuyên bố ngày 1 tháng 1, ngày 8 và ngày 12 tháng 12.

Phạm Văn Đồng: Tôi không biết ông muốn nói gì khi nhắc tới sự giúp đỡ gián tiếp miền Nam? (Hai bên lại tranh luận về điểm này và phía Trung Quốc đưa ra cụm từ giảm leo thang).

Phạm Văn Đồng: Có phải ông muốn nói tới việc giảm leo thang trong việc hỗ trợ miền Nam?

Chu Ân Lai: Đúng vậy.

Phạm Văn Đồng: Tôi muốn nói cho các ông biết chiến lược lớn của chúng tôi áp dụng trong cuộc chiến chống Mỹ. Chúng tôi đã nói với các ông về điều đó từ cuối năm 1966. Chiến lược này được thể hiện trong khẩu hiệu sau đây: bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam … Chúng tôi chia nó thành hai khía cạnh, hoặc hai bước, hai giai đoạn, nhằm từng bước đánh bại Mỹ. Chúng tôi vẫn theo chiến lược này ….

Bây giờ, tôi trở lại câu hỏi của các ông, về việc liệu chúng tôi có đang giảm leo thang. Nếu giảm leo thang được hiểu là bớt chiến đấu, câu trả lời tuyệt đối là không. Nếu giảm leo thang được hiểu là thỏa hiệp, câu trả lời là không, chúng tôi không suy nghĩ và hành động theo cách đó. Ngược lại, tất cả chúng tôi tấn công nhiều hơn, sử dụng các chiến thuật ngoại giao, dồn họ vào góc tường, vận động dư luận thế giới chống lại kẻ thù. Bây giờ là lúc chúng tôi leo thang và thắng kẻ thù, không phải lúc giảm leo thang.

Chu Ân Lai: Trong phạm vi miền Nam, từ chiến đấu quy mô nhỏ hiện nay, các ông tiến hành chiến đấu quy mô lớn, có nghĩa là các ông leo thang. Nhưng đối với miền Bắc, từ yêu cầu chấm dứt ném bom hoàn toàn, đến chấp nhận việc chấm dứt một phần, các ông có thể xem đó là sự leo thang như thế nào?

Phạm Văn Đồng: (mỉm cười).

Chu Ân Lai: Ngày nọ, các ông chấp nhận đánh giá của chúng tôi rằng Hoa Kỳ sẽ tập trung lực lượng ném bom khu vực giữa vĩ tuyến 17 và 20, do đó gây khó khăn cho chúng ta. Hơn nữa họ có thể tiếp tục ném bom bất kỳ lúc nào họ muốn, ngay cả khi họ đã liên lạc với các ông. Bất cứ khi nào các ông không trả lời [các yêu cầu của họ], họ sẽ tiếp tục ném bom. Tuy nhiên, ý kiến ​​trên thế giới đã hỗ trợ yêu cầu của các ông về việc chấm dứt ném bom hoàn toàn. Tóm lại, chúng tôi vẫn cho rằng tuyên bố của các ông đã giúp Johnson. Chúng tôi đang nói chuyện với các ông về vấn đề này một cách thẳng thắn.

… Các đồng chí Việt Nam nói rằng, chính sách của các ông là dồn lực lượng Hoa Kỳ vào một góc. Nếu các ông muốn làm như vậy, các ông nên yêu cầu chấm dứt ném bom hoàn toàn khi họ đề nghị ngừng ném bom một phần …. Các ông chấp nhận ngừng ném bom một phần và sau đó chấp nhận họp, có nghĩa là một sự thỏa hiệp so với lập trường trước đó. Ý kiến ​​của công luận thế giới cũng nhận ra điều đó. Hay các ông vẫn đòi hoặc là Warsaw hay Phnom Penh sẽ là nơi họp và sau đó trở nên bế tắc nếu họ không đáp ứng?

Vậy mục đích của các ông trong việc chấp nhận đề nghị của Hoa Kỳ là gì? Đối với Mỹ, họ tính toán rằng họ sẽ cố gắng kéo dài quá trình đàm phán một khi bắt đầu. Chúng tôi đưa ra giả thuyết tình hình như sau: các ông sẽ đòi chấm dứt ném bom hoàn toàn, giữ vừng lập trường 4 hoặc 5 điểm, sau đó Harriman sẽ không phản đối hoàn toàn, kéo dài thời gian và đưa thêm một số điều kiện. Khi các ông từ chối, quá trình sẽ được kéo dài. Khi các ông gây cản trở cuộc họp, họ sẽ không [gây trở ngại]. Họ kéo dài, do đó đạt được mục tiêu giải quyết những khó khăn của họ trong cuộc bầu cử năm nay. Vì vậy, các ông giúp họ rất nhiều. Tình hình sắp tới sẽ chứng minh sự phán đoán này. Chúng tôi tin sự phán đoán của chúng tôi, đó không phải sự phán đoán của cá nhân tôi, mà là sự phán đoán của Trung ương [Đảng] của chúng tôi. Các ông nói rằng các ông không có bất kỳ ảo tưởng nào. Đối với dư luận thế giới, các ông đã thỏa hiệp. Về đấu tranh ngoại giao của các ông, các ông có lập trường thụ động. Các ông có thể nghi ngờ đánh giá của chúng tôi, nhưng các ông sẽ thấy rõ ràng khi các cuộc đàm phán bắt đầu.

… Tuy nhiên, yếu tố quan trọng là chính cuộc chiến tranh. Chiến thắng được quyết định bởi chiến tranh. Nhưng trong phạm vi đàm phán, chúng tôi vẫn giữ quan điểm của chúng tôi, đó là các ông mất thế chủ động và rơi vào thế thụ động. Các ông đã khẳng định trong tuyên bố ngày 28 tháng 1, chúng ta sẽ dồn họ vào một góc, Johnson sẽ đối mặt với nhiều khó khăn hơn, cả trong lẫn ngoài. Johnson đã ở trong góc tường, thậm chí không có tuyên bố ngày 3 tháng 4. Bây giờ các ông nên phân tích hậu quả của các mối liên lạc. Tôi nghĩ rằng, chắc chắn họ sẽ chấp nhận Warsaw hay Phnom Penh, nhưng với một số điều kiện. Họ cố ý đề cập đến 15 địa điểm khác. Nhưng đó chỉ là chiến thuật của họ trước khi nhận [một trong những đề nghị về địa điểm họp của các ông]. Tóm lại, tuyên bố của các ông là một thỏa hiệp. Nếu các ông không thể nhìn thấy hậu quả bây giờ, các ông sẽ nhìn thấy sau này.

Phạm Văn Đồng: Ông đã nêu ý kiến ​​một cách xây dựng, và chúng tôi nên chú ý đến ý kiến đó nhiều hơn. Bởi vì, cuối cùng tất cả chúng tôi là những người chiến đấu chống Mỹ và đánh bại họ. Chúng tôi phải chịu trách nhiệm cho hai hoạt động quân sự và ngoại giao.

Cảm ơn ý kiến của các ông rất nhiều. Chúng tôi sẽ xem xét nó để thực hiện tốt hơn cho chiến thắng chống Mỹ của chúng tôi.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

Việt Nam đã bị nước Mỹ bỏ rơi?

Posted by adminbasam on 01/05/2011

San Francisco Chronicle

Việt Nam đã bị nước Mỹ bỏ rơi?

Nguyễn Khoa Thái Anh

Người dịch: Hiền Ba

01-05-2011

Bà Ngô Đình Nhu, người từng phụng sự như là đệ nhất phu nhân của Nam Việt Nam, đã qua đời ở tuổi 86 vào Lễ Phục sinh.

Thật trớ trêu, Bà Nhu qua đời vào hôm 23 tháng Tư, chỉ vài ngày trước lễ tưởng niệm Sài Gòn thất thủ. Mặc dù kết cục đau buồn của cái chương sử dính líu đáng buồn ở Việt Nam đã bị đem đi vứt vào đống rác của lịch sử Mỹ, song cuộc tranh đấu liên tục vì dân chủ và nhân quyền cho người dân Việt Nam lại đang diễn ra ác liệt dưới một hình thức mới mẻ khác.

Hơn một chục nhà bất đồng chính kiến ôn hòa và blogger bị bắt giam. Cù Huy Hà Vũ, đứa con cưng của chế độ và là học giả về luật được đào tạo tại Pháp có tiếng nói thẳng thắn, đã bị một phiên tòa “chuột túi” kết tội và ngạo mạn chặn miệng không cho nói một lời nào bằng một bản án 7 năm tù giam cộng với 3 năm quản chế tại gia.   

Có lẽ cái tin Bà Nhu qua đời, người em dâu của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (từ năm 1955 đến 1963), hầu như không được chính quyền của Obama để ý tới vào lúc họ đang bận túi bụi với cuộc đứng dậy tự giải phóng ở Lybia và ở một nơi nào đó khác ở Bắc Phi và Trung Đông.

Tôi cứ tự hỏi phải chăng nước Mỹ vẫn còn ám ảnh với bóng ma Việt Nam khi họ cân nhắc những vấn đề đeo đẳng lâu nay về Iraq và Afghanistan?

Khi Tổng thống Lyndon Johnson thúc giục Quốc hội thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ hôm 7 tháng 8 năm 1964, báo hiệu cuộc chiến tranh với Hà Nội, thì Obama lúc đó chưa lên 3 tuổi. Nhưng đối với rất nhiều người Mỹ gốc Việt, họ là nạn nhân của cuộc tan rã xảy ra sau năm 1975, thì vụ sát hại ông Diệm và ông Nhu (phu quân của Bà Nhu) để dọn đường cho sự can thiệp quân sự của người Mỹ nhiều nhất cũng vẫn chỉ là một chính sách đối ngoại không trước sau như một, còn tồi tệ nhất thì đó là một sự phản bội gây ra những bi kịch to lớn.

Có lẽ người Việt và cả người Mỹ cũng vậy đều cần suy nghĩ về thái độ kiên định của Bà Nhu tại một cuộc trả lời phỏng vấn do mạng lưới phát thanh và truyền hình ở Boston WGBH thực hiện năm 1982: “Như vậy chính quyền chính danh duy nhất của Việt Nam là chính quyền do Tổng Thống Ngô Đình Diệm đảm đương và đó lại là chính quyền bị Mỹ chặt đầu.”

Là một người dạy Lịch sử Hoa Kỳ và nền Dân chủ Mỹ trong hai thập niên nay, tôi đã đánh vật với hai nguyên tắc cạnh tranh nhau: chủ nghĩa Lý tưởng của Mỹ và Chính sách ngoại giao Đô la. Tôi không thể dạy cho học trò về tính chất phức tạp của những vấn đề liên quan đến Việt Nam mà không cần thừa nhận những vai trò qua lại, ấy là vai trò của một nước Việt Nam đi tìm dân chủ đối lập lại với vai trò của nước Mỹ đang theo đuổi lợi ích quốc gia của họ. Khi nào thì chủ nghĩa lý tưởng kết hợp làm một với chính sách thực tế [realpolitik]?  Và tiền đồ của Việt Nam phản ánh quan điểm của Miền Bắc hay Miền Nam?

Song, cả chính phủ sáng suốt lẫn công chúng Mỹ thiếu kiên nhẫn đều đã không hiểu được tiếng nói của Bắc Việt hay Nam Việt Nam, bất chấp cái điều mà Mục sư Martin Luther King Jr. đã cố gắng nói thay chúng ta ngày nào trong bài diễn văn chống cuộc chiến tranh Việt Nam: “… trong lúc tôi đã cố gắng dùng vài phút cuối cùng này để bày tỏ một tiếng nói nhân danh những người không được cất lên tiếng nói ở Việt Nam và để bày tỏ cảm thông với tiếng nói bất đồng của những người bị gọi là kẻ thù thì tôi đã vô cùng lo lắng về quân đội của chúng ta đang ở đó cũng như bất cứ điều nào khác.”

Hôm nay, chiều chuộng Hà Nội để Việt Nam “cai sữa” ảnh hưởng ý thức hệ của Trung Quốc bằng cách bỏ rơi những khát vọng dân chủ của người Việt Nam thì xem ra dường như đó là một hành động kỳ cục.

Vậy là 36 năm sau kết cục bi thảm dành cho Việt Nam, vào lúc này khi mà tiếng nói của nhân dân ở bên trong đất nước Việt Nam vẫn đang bị bịt cho câm lặng thì tôi lại nhớ đến câu nói: “Đến một lúc nào đó im lặng chính là sự phản bội.”

Và một thời điểm như vậy đang đến đối với chúng ta với tư cách những người Mỹ trong mối quan hệ với Việt Nam.

Ông Nguyễn Khoa Thái Anh dạy môn khoa học xã hội tại một khu học chính ở San Francisco [San Francisco Unified School District].

 

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm vào 05-2011, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

Posted in Chiến tranh VN, Lịch sử | Leave a Comment »

27. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 17-04-1968

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng

17-04-1968

Mô tả: Chu Ân Lai nhấn mạnh đến chiến thắng vĩ đại, nói với Phạm Văn Đồng rằng ông ta phải sẵn sàng chiến đấu trong ba năm tới.

Chu Ân Lai: Các ông phải chuẩn bị chiến đấu trong hai hay ba năm tới, cụ thể là những năm 1968, 1969 và 1970. Đồng chí Mao nói rằng vấn đề không phải là thành công hay thất bại, cũng không phải là thành công lớn hay nhỏ, mà vấn đề là làm cách nào để các ông giành được chiến thắng vĩ đại. Đây là thời điểm chín mùi cho các ông giành thắng lợi hoàn toàn. Nhiệm vụ đó là nguyên nhân về sự cần thiết của các trận đánh quy mô lớn.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

26. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng

13-04-1968

Mô tả: Chu Ân Lai thảo luận với Phạm Văn Đồng về việc Việt Nam nên hành động như thế nào khi đối mặt với bất ổn của Mỹ ở trong nước Mỹ và các cuộc đàm phán ở Việt Nam.

Chu Ân Lai: … Theo lập trường trước đó của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt), nếu Mỹ không ngừng ném bom hoàn toàn và vô điều kiện, không thể có bất kỳ cuộc nói chuyện nào (1). Nhưng tuyên bố ngày 3 tháng 4 của Chính phủ Bắc Việt là một bất ngờ không chỉ cho người dân thế giới, mà còn bất ngờ ngay cả với các đối thủ của Johnson. Tuy nhiên, trong tuyên bố của các ông, các ông chỉ sử dụng từ “liên hệ”. Các ông đã có các mối liên hệ bí mật trước khi hạn chế ném bom. Bây giờ với tuyên bố này, các ông đã công khai các mối liên hệ kia. Và, đối với nhân dân thế giới, đó là sự thỏa hiệp của các ông phần nào, và giúp Mỹ giải quyết các khó khăn của họ.

Sau các cuộc tấn công Tết Mậu Thân, Hoa Kỳ đã cố gắng che giấu những khó khăn của họ. Sau khi [tướng Earle] Wheeler đến thăm Sài Gòn, ông ta trở về Washington và nói chuyện với Tổng thống Johnson và [tướng William] Westmoreland. Họ đã phải thừa nhận những khó khăn… Westmoreland lúc đó xin thêm 200.000 quân nhưng Quốc hội Hoa Kỳ và chính phủ từ chối …

Các cuộc bầu cử sơ sơ bộ ở một số tiểu bang cho thấy, số phiếu dành ​​cho Johnson đã giảm chỉ còn 38%. Điều đó đã chứng minh rằng chính sách xâm lược của Johnson là thất bại. Khắp thế giới, mọi người yêu cầu Johnson ngừng đánh bom. Tất cả chúng ta đều biết điều này, ngay cả De Gaulle cũng đã thừa nhận. Và cuộc khủng hoảng đồng đô la cũng đã xảy ra vào thời điểm đó.

Chỉ có một điều chúng ta đã không đoán trước, đó là vụ giết [lãnh đạo dân quyền Martin] Luther King ngày 4 tháng 4, một ngày sau khi các ông đưa ra tuyên bố. Nếu tuyên bố của các ông đưa ra một hoặc hai ngày sau, vụ giết người có thể đã bị dừng lại. Cũng giống như Gandhi của Ấn Độ, Luther King chủ trương chính sách bất bạo động. Ngay cả một người như ông ta còn bị giết chết, nói gì đến những người da đen khác. Điều này giải thích sự phát triển của phong trào người Mỹ da đen, lan rộng đến hơn 100 thành phố. Do đó, Johnson đã phải hủy bỏ chuyến đi đến Honolulu cũng như hoãn việc triển khai thêm 10.000 quân ở miền Nam [Việt Nam] …

Trong tình hình quốc tế này, cuộc khủng hoảng tiền tệ trở nên tồi tệ hơn, dẫn đến bế tắt. Hồi cuối tháng 3 năm 1968, Mỹ tổ chức cuộc họp ANZUS ở Wellington, [Tân Tây Lan]. Johnson đã dự định đến đó, nhưng ông ta đã không thể đến. Rusk đã đi thế [ông ta]. Ở đó, Mỹ yêu cầu các đồng minh gửi thêm quân đến Việt Nam nhưng đã không giành được sự hỗ trợ của họ. Thậm chí Mỹ còn yêu cầu Tưởng Giới Thạch rút 7 sư đoàn của ông ta từ Jinmen-Mazu [Quemoy-Matsu], và gửi ít nhất 2 sư đoàn đến Việt Nam. Tưởng không chấp nhận và yêu cầu đại sứ của ông ta ở Washington trì hoãn việc thể hiện lập trường. Các đề nghị tăng thêm quân, tăng thuế, và tăng chi tiêu cho cuộc chiến Việt Nam đã không được Quốc hội Hoa Kỳ chấp nhận.

Trong hoàn cảnh này, Johnson buộc phải đưa ra tuyên bố ngày 31 tháng 3. Đó là một âm mưu độc ác và dối trá. Thực ra, ông ta không muốn từ bỏ cuộc chiến. Tuyên bố chỉ là một phương tiện để họ vượt qua thời điểm khó khăn này. Và Johnson thậm chí còn tuyên bố rằng ông ta không nên tái tranh cử. Đó cũng là cách thức quen thuộc được sử dụng trong lịch sử chiến dịch tranh cử của tổng thống Mỹ … Nhưng hóa ra tuyên bố ngày 3 tháng 4 của các ông giúp giải quyết khó khăn của ông ta. Tình hình đã được thay đổi. Tác động của nó có thể là tạm thời, nhưng bất lợi.

Khang Sinh: Số phiếu dự đoán bầu ​​cho Johnson tăng từ 38% lên 57%.

Chu Ân Lai: (tiếp tục) Vì vậy, nhiều người không hiểu tại sao các đồng chí Việt Nam đã quá vội vã trong việc đưa ra tuyên bố này … Đó là ý kiến ​​của người dân trên thế giới.

Trong mắt của người dân thế giới, các ông đã thỏa hiệp hai lần. Trong tuyên bố của mình, Johnson sử dụng từ “cuộc họp” nhẹ hơn từ “liên hệ”. Ông ta cũng nói rằng, Hoa Kỳ có thể đi đến bất kỳ nơi nào để họp. Ông ta đã chỉ định [Averell] Harriman làm việc này… Sau đó, các ông đề nghị ở Phnom Penh. Đó là một chiến thuật tốt vì các ông có thể giành được cảm tình của Sihanouk và đặt Hoa Kỳ vào tình thế khó khăn. Khi Hoa Kỳ từ chối, một lần nữa các ông thỏa hiệp mà không tranh luận. Dĩ nhiên, rất đúng khi các ông từ chối năm địa điểm ở châu Á mà Hoa Kỳ đề nghị. Sau đó, các ông đề nghị Warsaw. Chúng tôi hiểu rằng đề nghị của các ông dựa trên thực tế các cuộc đàm phán Trung – Mỹ cũng đã được tổ chức ở đó. Các ông đã bổ nhiệm đồng chí Hà Văn Lâu (2) tham dự cuộc họp nhưng một lần nữa Hoa Kỳ lại bác bỏ đề nghị này.

Tình hình cho thấy các đồng chí Việt Nam dễ dàng thỏa hiệp. Không thể ngăn nhân dân thế giới nghĩ rằng các ông đang phải đối mặt với một số khó khăn trong công cuộc đấu tranh của các ông. Các ông đã thay đổi lập trường, đã làm tăng số phiếu dự định bầu ​​cho Johnson, tăng giá cổ phiếu ở New York, và giảm giá vàng ở thị trường tự do … Vì vậy, bây giờ các ông đã tạo điều kiện cho họ sử dụng chính sách hai mang. Trong hoàn cảnh này, họ không bỏ bom toàn bộ lãnh thổ Bắc Việt, nhưng vẫn tiếp tục ném bom phía Bắc (sic: rõ ràng phải là miền Nam) của vĩ tuyến 20 và cùng lúc kéo dài các cuộc đàm phán. Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào kinh nghiệm chiến đấu của các ông. Nhưng ở một mức độ nào đó, chúng tôi có nhiều kinh nghiệm hơn các ông khi tiến hành các cuộc đàm phán với Mỹ.

Tôi đã nói nhiều lần hồi năm ngoái và cách đây hai năm, rằng các cuộc đàm phán có thể diễn ra trong chiến tranh. Tại một thời điểm nhất định, các cuộc đàm phán có thể bắt đầu. Đồng chí Mao Trạch Đông cũng nhắc nhở đồng chí Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng về đàm phán, nhưng với một lập trường mạnh mẽ hơn. Nhưng với tuyên bố của các ông, cho thấy rằng lập trường của các ông bây giờ yếu hơn, không phải mạnh hơn. Vì lợi ích mối quan hệ của hai đảng mà chúng tôi sử dụng mọi cơ hội để nhắc nhở các ông về vấn đề này. Và khi chúng tôi nói với các ông điều này, chúng tôi nói cho các ông biết tất cả những điều mà chúng tôi nghĩ.

Ghi chú:

1. Ngày 31 tháng 3, Tổng thống Johnson tuyên bố chấm dứt một phần ném bom của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam và ý định của ông sẽ không tái tranh cử. Bắc Việt đã trả lời vào ngày 3 tháng 4, tuyên bố sẵn sàng mở các mối liên lạc với Mỹ.

2. Hà Văn Lâu: đại tá QĐND Việt Nam, thành viên của phái đoàn Việt Nam đến Hội nghị Geneva năm 1954. Dẫn đầu phái đoàn Liên lạc QĐND VN đến Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Giám sát ở Việt Nam 1954-1973. Đại diện Bắc Việt tại Tòa án tội phạm chiến tranh quốc tế Russell ở Copenhagen năm 1967 và là thành viên của phái đoàn Bắc Việt tại các cuộc đàm phán hòa bình Paris 1968-1970. Sau tiếp tục phục vụ như đại sứ ở Cuba, Liên Hiệp Quốc, Pháp, và như Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

25. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh 07-02-1968

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh

07-02-1968

Mô tả: Chu Ân Lai đề nghị Việt Nam tổ chức các quân đoàn bổ sung để thực hiện các công tác hoạt động ở các căn cứ xa nhà.

Chu Ân Lai: Từ khi chiến tranh Việt Nam đã đạt đến giai đoạn hiện tại (1), [các đồng chí Việt Nam] có thể xem xét việc tổ chức một, hai, hoặc ba quân đoàn được hay không? Mỗi quân đoàn gồm 30.000-40.000 binh sĩ, và mỗi hoạt động chiến đấu phải nhằm mục đích loại bỏ 4,000-5,000 quân địch trong toàn đơn vị. Các quân đoàn này có thể thực hiện các nhiệm vụ hoạt động ở xa căn cứ của họ, và có thể tham gia vào các hoạt động trong khu vực chiến tranh này, hoặc khu vực khác.

Khi họ tấn công các lực lượng đối phương riêng lẽ, họ có thể làm theo chiến lược tiếp cận kẻ thù bằng các đường hầm dưới lòng đất. Họ cũng có thể theo chiến lược chiến đấu ban đêm và chiến đấu tầm ngắn, để máy bay ném bom của địch và pháo binh sẽ không được ở vị trí quan trọng. Trong khi đó, các ông có thể xây dựng các đường hầm ở dưới lòng đất, khác với các đường hầm đơn giản dưới lòng đất, ba hoặc bốn hướng [xung quanh kẻ thù], và sử dụng chúng để chuyển quân và vận chuyển đạn dược. Các ông cũng cần để dành một số đơn vị để đối phó với quân tiếp viện của địch.

Ghi chú

1. Cuộc đàm thoại này được tổ chức trong bối cảnh trận chiến Khe Sanh, bắt đầu ngày 21 tháng 1, và cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, bắt đầu vào ngày 31 tháng 1.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Hồ Chí Minh, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Tagged: , , | 1 Comment »

24. Thảo luận giữa Kiều Quán Hoa, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc và Đại sứ Việt Nam Ngô Minh Loan 13-05-1967

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Kiều Quán Hoa, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc và Đại sứ Việt Nam Ngô Minh Loan

13-05-1967

Mô tả: Kiều Quán Hoa không đồng ý về kế hoạch chuyển máy bay của Liên Xô qua Việt Nam bằng đường hàng không thay vì bằng đường xe lửa.

Kiều Quán Hoa: Tôi có một vấn đề cần thảo luận với đồng chí đại sứ. Đây là một vấn đề cụ thể liên quan đến viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam.

Ngày 6 tháng 5 năm 1967, chúng tôi được đồng chí Thứ trưởng Nghiêm Bá Đức (1) và đồng chí Phạm Thanh Hà (2) thông báo ở Hà Nội và Bắc Kinh rằng, tháng 5 và tháng 6 năm 1967, Liên Xô sẽ cung cấp cho Việt Nam 24 máy bay Mig-17 và Mig-21 (12 máy bay mỗi loại) và chúng tôi cũng được yêu cầu giúp vận chuyển những máy bay này đi qua ngõ Trung Quốc.

Ngày 9 tháng 5 năm 1967, đồng chí Phạm Thanh Hà chính thức thông báo với Ủy ban Kinh tế Đối ngoại của chúng tôi là, 24 máy bay này sẽ được vận chuyển bằng đường xe lửa. Sẽ có hai chuyến hàng, mỗi chuyến có thể chở 12 máy bay.

Tuy nhiên, cùng vấn đề này, phía Liên Xô thông báo cho chúng tôi khác đi: ngày 8 tháng 5, họ yêu cầu máy bay AN-12 của họ chở 24 máy bay này đi qua vùng trời của Trung Quốc trong khoảng thời gian 10 ngày, từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 24 tháng 5 năm 1967.

Ngày 9 tháng 5 năm 1967, đồng chí Nghiêm Bá Đức tại Hà Nội đề xuất kế hoạch vận chuyển bằng đường hàng không.

Lãnh đạo của chúng tôi đặt nặng vấn đề này trong chương trình nghị sự. Chúng tôi đã nghiên cứu yêu cầu của cả hai phía Việt Nam và Liên Xô rất cẩn thận. Thay mặt chính phủ Trung Quốc, tôi muốn thông báo cho đồng chí đại sứ, rằng chúng tôi đồng ý với kế hoạch đề xuất của đồng chí Phạm Thanh Hà về việc vận chuyển 24 máy bay bằng đường xe lửa, chứ không phải bằng kế hoạch vận chuyển bằng đường hàng không.

Việc vận chuyển bằng đường hàng không 24 máy bay này là một vấn đề quan trọng. Như đồng chí Đại sứ đã biết, ý kiến của chúng tôi từ lâu khác với ý kiến của phía Liên Xô. Từ đầu năm 1965, khi viện trợ của Liên Xô bắt đầu đến Việt Nam, nhiều lần Liên Xô đề nghị chuyển hàng đến Việt Nam bằng đường hàng không, qua vùng trời của Trung Quốc. Nói chung, chúng tôi không đồng ý với ý kiến đó. Trước đây, Việt Nam cũng không đồng ý vận chuyển bằng đường hàng không, bởi vì các ông hiểu lập trường của chúng tôi [về vấn đề này]. Lần này, tôi muốn nói rõ ràng hơn với các đồng chí Việt Nam về lý do tại sao Liên Xô muốn vận chuyển hàng viện trợ cho Việt Nam bằng phương pháp này.

Trong vài năm qua, bằng cách sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng của mình, Liên Xô đã và đang cố gắng công bố công khai số hàng viện trợ với quy mô lớn cho Việt Nam. Chúng tôi cho rằng Liên Xô cố ý làm như vậy để cho Hoa Kỳ biết về khoản viện trợ quy mô lớn của Liên Xô cho Việt Nam và làm như vậy, Liên Xô tiết lộ một số bí mật cho phía Mỹ.

Trong vài năm qua, chúng tôi giúp Việt Nam vận chuyển hàng viện trợ bằng tàu hỏa, rất an toàn và kịp thời. Phía Việt Nam cũng đã rất hài lòng. Vậy tại sao lần này Liên Xô đòi vận chuyển bằng đường hàng không? Nếu Liên Xô phải sử dụng đến việc vận chuyển bằng đường hàng không với quy mô lớn, máy bay do thám Mỹ – vốn luôn bay trên bầu trời Trung Quốc – sẽ phát hiện ra ngay, sau khi máy bay của Liên Xô cất cánh khỏi Irkutsk. Lập trường của chúng tôi về vấn đề này rõ ràng đối với Việt Nam: làm như vậy, Liên Xô muốn khoe khoang với Hoa Kỳ [về khoản viện trợ cho Việt Nam], công khai tiết lộ bí mật quân sự cho kẻ thù.

Họ cũng sử dụng viện trợ cho Việt Nam để kiểm soát tình hình và hợp tác với Mỹ, để buộc Việt Nam phải chấp nhận đàm phán hòa bình. Báo chí phương Tây thậm chí còn nói rằng Liên Xô tăng cường viện trợ cho Việt Nam để tạo ra tình trạng đối đầu trực tiếp giữa Liên Xô – Mỹ, điều này sẽ dọn đường cho thỏa hiệp. Tôi đưa nhận xét của chúng tôi về vấn đề này để cho các ông hiểu rõ lập trường của chúng tôi. Tuy nhiên, chúng tôi không có ý định áp đặt nó lên các ông. Tóm lại, chúng tôi cho rằng:

(1) đề nghị của Liên Xô về vận chuyển bằng đường hàng không là có ý xấu và là một âm mưu,

(2) việc vận chuyển những chiếc máy bay này là một hành động quân sự lớn, nhưng Liên Xô đã không tham khảo ý kiến với chúng tôi và buộc chúng tôi phải chấp nhận. Điều này không có gì khác hơn là thái độ của người theo chủ nghĩa Sô vanh.

Ghi chú:

1. Nghiêm Bá Đức, Thứ trưởng Bộ Ngoại thương VN Dân chủ Cộng hòa từ năm 1954, thành viên của đoàn đại biểu kinh tế đến Liên Xô và Đông Âu giữa năm 1965 và 1975. Sau đó làm cố vấn kinh tế tại Lào.

2. Phạm Thanh Hà là sĩ quan hậu cần quân sự của Quân đội Nhân dân Việt Nam, là người dẫn đầu phái đoàn viện trợ quân sự của Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh từ năm 1965-1973.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Quân sự, Trung Quốc | Tagged: , | Leave a Comment »

23. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Trần Nghị, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp 12-04-1967

Posted by adminbasam on 01/05/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Trần Nghị, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp

12-04-1967

Mô tả: Chu Ân Lai bàn về đấu tranh giai cấp hiện tại ở Trung Quốc.

Chu Ân Lai: … Trong mười năm qua, chúng tôi đã tiến hành một cuộc chiến tranh khác, một cuộc chiến không đổ máu: đấu tranh giai cấp. Nhưng thực tế là, trong số các tướng tá của chúng tôi, có một số người, [mặc dù] không phải tất cả, biết rất rõ làm thế nào để tiến hành một cuộc chiến tranh đẫm máu, [nhưng] bây giờ không biết làm cách nào để tiến hành một cuộc chiến không đổ máu. Thậm chí họ coi thường quần chúng. Một ngày nọ, khi chúng tôi đang ở trên máy bay, tôi đã nói với ông rằng, cách mạng văn hóa của chúng tôi lần này là nhằm lật đổ một nhóm người cầm quyền trong đảng, những người muốn đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Các mạng văn hóa cũng nhằm tiêu diệt các lực lượng cũ, văn hóa cũ, hệ tư tưởng cũ, phong tục tạp quán cũ, đã không còn phù hợp với cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trong một bài phát biểu hồi năm ngoái, đồng chí Lâm Bưu nói: Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải tiêu diệt “quyền sở hữu tư nhân” của giai cấp tư sản, xây dựng “quyền sở hữu công cộng” của giai cấp vô sản.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Tagged: , | Leave a Comment »

22. Chu Ân Lai nói chuyện với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp 11-04-1967

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Chu Ân Lai nói chuyện với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp

11-04-1967

Trung Quốc có một câu châm ngôn nổi tiếng: chỗ đánh dấu 90 dặm là nửa chặng đường của cuộc hành trình dài 100 dặm. Có nghĩa là du khách đã đi được 90 dặm và còn 10 dặm nữa là xong. Nhưng 10 dặm còn lại là chặng đường khó khăn nhất cho người lữ hành. Leo núi cũng tương tự như vậy. Ví dụ như leo núi Hy Mã Lạp Sơn, đoạn cuối cùng là khó khăn nhất.

Chúng tôi tin rằng, chắc chắn các ông sẽ giành thắng lợi cuối cùng. Chúng tôi sẽ vận động nhân dân cả thế giới hỗ trợ các ông giành chiến thắng. Tuy nhiên, Liên Xô chắc chắn muốn các ông dừng lại nửa chừng. Họ đã làm như vậy dưới thời Stalin. Sau khi Nhật đầu hàng năm 1945, Hoa Kỳ hỗ trợ Tưởng Giới Thạch. Lúc đó, Liên Xô chịu tổn thất lớn trong chiến tranh. Họ đã ký kết thỏa thuận Yalta, chia khu vực ảnh hưởng với Hoa Kỳ. Thoả thuận Yalta là sai. Về chiến thuật, thỏa thuận này hợp lý, nhưng về chính sách, thì không đúng.

Việc cho nổ hai quả bom nguyên tử đặc biệt đã gây sốc cho Liên Xô. Liên Xô đã sẵn sàng ký một thỏa thuận với Tưởng Giới Thạch, công nhận thực tế rằng Hoa Kỳ có phạm vi ảnh hưởng lớn nhất ở Trung Quốc. Ngược lại, Liên bang Xô viết muốn duy trì lợi ích đặc biệt của Nga ở vùng Đông Bắc và Tân Cương và bảo vệ nước Cộng hòa nhân dân Mông Cổ.

Lúc đó, Stalin đánh điện cho đồng chí Mao Trạch Đông, nói rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc nên hợp tác với Quốc Dân đảng thay vì bắt đầu một cuộc nội chiến và rằng nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc phát động nội chiến, đất nước Trung Quốc sẽ bị hủy hoại. Rõ ràng là Liên Xô đã bị bom nguyên tử đe dọa.

Chúng tôi nói rằng Stalin vẫn còn xứng đáng là một người Marxist-Leninist, vì ông ta có khả năng nhận ra lỗi lầm của mình. Sau khi giải phóng Thượng Hải, Lưu Thiếu Kỳ đến Moscow, nơi Stalin đã tự phê bình một cách âm thầm. Ông ta hỏi liệu bức điện tín ông gửi đến đồng chí Mao Trạch Đông hồi tháng 8 năm 1945 có làm suy yếu tiến trình chiến tranh giải phóng của Trung Quốc hay không. Lưu Thiếu Kỳ trả lời là không. Chắc chắn là không. Một lần, trong một bữa tiệc, Stalin đã nâng cốc, tuyên bố rằng ông ta đã già và rất sợ, sau khi chết những người đồng chí này (nói với Voroshilov, Molotov, Khrushchev và những người đang có mặt) sẽ sợ chủ nghĩa đế quốc. Bây giờ chúng ta có thể thấy rằng những tiên đoán của Stalin đã chứng minh đúng sự thật.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Tagged: , | Leave a Comment »

21. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp 11-04-1967

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Mao Trạch Đông, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp

11-04-1967

Mô tả: Mao Trạch Đông khuyến khích Phạm Văn Đồng tiếp tục chiến đấu và ca ngợi Việt Nam về khả năng phục hồi, không những trong cuộc chiến chống lại người Mỹ, mà còn chống Pháp và Nhật.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi rất vui khi thấy Mao Chủ tịch khỏe mạnh.

Mao Trạch Đông: Chỉ bình thường, không khỏe lắm … Trong tất cả các ông ở đây, có ai ở miền Nam không?

Võ Nguyên Giáp: Đồng chí Phạm Văn Đồng là người miền Nam.

Phạm Văn Đồng: Quê tôi ở tỉnh Quảng Ngãi [miền Trung Việt Nam], nơi mà mọi người đang chiến đấu dữ dội chống lại kẻ thù.

Võ Nguyên Giáp: Chỉ trong một năm, người dân Quảng Ngãi bắn rơi gần 100 máy bay trực thăng. Họ đang chiến đấu rất ác liệt để chống lại quân đội bù nhìn, quân Mỹ và Nam Hàn.

Mao Trạch Đông: Khi các ông chiến đấu, các ông có được kinh nghiệm, các ông hiểu được quy luật. Nếu các ông không chiến đấu các ông sẽ không có được kinh nghiệm, sẽ không biết được quy luật … Nhiều hay ít, nó tương tự như kháng chiến chống Pháp của các ông.

Phạm Văn Đồng: Hiện tại, chúng tôi chiến đấu tốt hơn và trận chiến hiện nay thì khốc liệt hơn.

Mao Trạch Đông: Vì vậy, tôi mới nói bây giờ các ông biết quy luật.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi mới bắt đầu có được như vậy.

Mao Trạch Đông: Vấn đề dĩ nhiên là trong quá trình tiến triển, những thay đổi có thể xảy ra. Những năm khó khăn nhất là 1956-1959 … Năm 1960 có một số thay đổi thuận lợi. Từ 1960-1961, các lực lượng vũ trang vẫn còn nhỏ. Nhưng trong năm 1963 và 1964, tình hình đã thay đổi. Và bây giờ, năm 1965 và 1966, các ông đã hiểu rõ quy luật hơn, dựa trên kinh nghiệm chiến đấu chống Pháp, Nhật, và hiện nay là quân đội Mỹ. Các ông cũng đã chiến đấu chống Nhật, phải không?

Võ Nguyên Giáp: Có, chúng tôi đã chống Nhật nhưng không nhiều, chỉ trong một cuộc chiến tranh du kích với quy mô nhỏ. Trong cuộc chiến của chúng tôi chống lại người Mỹ, chúng tôi luôn nhớ lời của các ông: cố gắng bảo tồn và phát triển lực lượng, vững chắc tiến về phía trước.

Mao Trạch Đông: Chúng tôi có một câu châm ngôn: “nếu giữ cho núi xanh, bạn sẽ không bao giờ phải lo thiếu củi“, Hoa Kỳ sợ chiến thuật của các ông. Họ mong các ông sẽ đưa các lực lượng bình thường ra chiến đấu, để họ có thể tiêu diệt các lực lượng chính của các ông. Nhưng các ông đã không bị lừa. Chiến đấu một cuộc chiến tranh tiêu hao giống như đang ăn: [cách tốt nhất] là không cắn một miếng quá lớn.

Chiến đấu với quân đội Hoa Kỳ, các ông có thể cắn một miếng cỡ như một trung đội, một đại đội, hoặc một tiểu đoàn. Đối với quân đội chế độ bù nhìn, các ông có thể cắn cỡ một trung đoàn. Nghĩa là chiến đấu tương tự như đang ăn, các ông nên cắn một miếng sau một miếng khác. Sau cùng, chiến đấu không phải là một nhiệm vụ quá khó. Cách tiến hành cũng tương tự như cách các ông ăn.

… Người ta nói với tôi rằng các ông muốn xây một đường sắt 100 km mới, các đối tác Trung Quốc của chúng tôi đồng ý giúp các ông?

Chu Ân Lai: Chúng tôi đã thảo luận về vấn đề này. Một số người sẽ được gửi [tới Việt Nam] để thực hiện một nghiên cứu khả thi.

Mao Trạch Đông: Không quá dài, ngắn hơn khoảng cách từ Bắc Kinh tới Thiên Tân.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi sẽ thực hiện các nghiên cứu khả thi cùng với các đồng chí Trung Quốc.

Mao Trạch Đông: Được rồi, vì lợi ích chiến tranh. Còn vấn đề cung cấp lương thực thì sao?
Chu Ân Lai: Chúng tôi đã trao đổi với đồng chí Lý Tiên Niệm (1). Chúng tôi sẽ cung cấp 100.000 tấn gạo, 50.000 tấn ngô.

Phạm Văn Đồng: Nên chỉ trong năm nay, Trung Quốc đã giúp Việt Nam khoảng 500.000 tấn lương thực. Sự giúp đỡ này là rất lớn.

Mao Trạch Đông: Chúng tôi có thể giúp các ông. Năm ngoái chúng tôi được mùa.

Phạm Văn Đồng: Cảm ơn Mao Chủ tịch.

Mao Trạch Đông: Nếu ông muốn nói lời cảm ơn, ông nên nói với nông dân chúng tôi … Sau này, khi ông ăn tối với đồng chí Chu, ông có thể hỏi đồng chí Vĩ Quốc Thanh  về việc đồng chí ấy đã bị Hồng Vệ binh chỉ trích như thế nào. Tôi biết đồng chí Vĩ vì đồng chí ấy thường xuyên thăm và báo cáo cho tôi khi đồng chí ấy trở lại từ các chuyến làm việc ở Việt Nam. Ai hiện là đại sứ mới của Việt Nam [tại Bắc Kinh]?

Chu Ân Lai: Đồng chí Ngô Minh Loan (2).

Mao Trạch Đông: [Loan] thuộc nhân vật [Trung Quốc] nào?

Chu Kỳ Văn: Giống chim Phượng Hoàng.

Mao Trạch Đông: loại chim này rất mạnh.

Phạm Văn Đồng: Đồng chí Loan sẽ cố gắng hết sức để tiếp tục công việc của đồng chí Trần Tử Bình (3), nghĩa là, tăng cường tình hữu nghị giữa hai nước.

Mao Trạch Đông: Tôi lấy làm tiếc vì đồng chí Trần Tử Bình qua đời.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi cũng rất đau buồn về chuyện này.

Mao Trạch Đông: Ông ấy bị bệnh gì vậy?

Phạm Văn Đồng: Cùng loại bệnh mà ông ấy bị trước và sau khi trở về nhà, ổng quá bận rộn.

Võ Nguyên Giáp: Ông ấy qua đời sau khi bị cảm nặng. Ổng ở cùng bệnh viện với Đại sứ Chu Kỳ Vân.

Chu Kỳ Văn: Bệnh viện Hữu nghị. Tôi cũng bị cao huyết áp.

Phạm Văn Đồng: Hôm nay, chúng tôi thực hiện chuyến viếng thăm đáp lễ với các ông, Mao Chủ tịch, Phó Chủ tịch Lâm [Bưu] và các đồng chí khác. Một lần nữa, cảm ơn các ông rất nhiều.

Mao Trạch Đông: Các ông đã dũng cảm chiến đấu ở cả hai miền Nam Bắc.

Phạm Văn Đồng: Đó là vì chúng tôi đang học tư duy quân sự của Mao Chủ tịch.

Mao Trạch Đông: Không nhất thiết như vậy. Không có nó, các ông vẫn có thể giành được chiến thắng. Trong quá khứ, các ông chiến đấu chống Nhật, Pháp. Bây giờ các ông đang chiến đấu chống Mỹ.

Phạm Văn Đồng: Cám ơn chính sách quân sự của Đảng chúng ta và cũng cám ơn tư duy quân sự của Mao Trạch Đông.

Võ Nguyên Giáp: Tôi còn nhớ, một thời trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đồng chí Chu đã gửi Hồ Chủ tịch một bức điện như thế này: “Bây giờ không phải là thời điểm thích hợp để có một giải pháp hòa bình. Ông nên tiếp tục chiến đấu”. [Ghi chú: ông Giáp đề cập đến cuối năm 1949 hoặc tháng 1 năm 1950].

Chu Ân Lai: Vào thời điểm đó, Pháp sắp công nhận chúng tôi. Nhưng vì chúng tôi công nhận Việt Nam, họ đã phớt lờ chúng tôi. Như Lênin đã dạy, các nước lớn có trách nhiệm khuyến khích cuộc cách mạng thế giới. Lúc đó cuộc cách mạng thắng lợi tại Nga, nên Lênin nghĩ tới Trung Quốc và Ấn Độ. Bây giờ, mong muốn của Lênin đã có được phân nửa: cuộc cách mạng Trung Quốc đã thành công. Tuy nhiên, thực tế chưa phát triển theo cách mà mọi người muốn. Một số nước nhỏ hơn đã có được chiến thắng trước đó. Chiến thắng tại Triều Tiên có được theo sau chiến thắng ở Việt Nam.

Ghi chú:

1. Lý Tiên Niệm là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, và là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính của Trung Quốc.

2. Ngô Minh Loan là Ủy viên dự khuyết Đảng Lao Đông Việt Nam từ năm 1960-1976, và là Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh từ năm 1967-1969. Đã từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Công Cghiệp nhẹ từ năm 1959-1967. Năm 1968, viếng thăm Pakistan như là “đặc phái viên” và đã hội đàm với Tổng thống Ayub Khan. Từ năm 1969-1971 Bộ trưởng Bộ Lương thực và Thực phẩm, giữ chức Bộ trưởng đến năm 1976.

3. Trần Tử Bình (bí danh Phạm Văn Phu) (1907-1967), thành viên lâu đời của Đảng Cộng sản Đông Dương, Tổng Thanh tra Quân đội Nhân dân Việt Nam trong ba năm thời Chiến tranh Đông Dương. Trần Tử Bình kế nhiệm Hoàng Văn Hoan làm đại sứ Bắc Việt tại Trung Quốc từ năm 1957 và phục vụ cho đến khi mất năm 1967; Ngô Minh Loan thay thế.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Tagged: , , | Leave a Comment »

20. Thảo luận giữa phái đoàn Trung Quốc và Việt Nam 11-04-1967

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa phái đoàn Trung Quốc và Việt Nam

11-04-1967

Mô tả: Chu Ân Lai kể lại mối quan hệ trước đây liên quan đến Đài Loan và Quốc Dân đảng, Mỹ và Liên Xô trong bối cảnh lịch sử hiện tại của Trung Quốc. Ông ta cũng nhấn mạnh sự cần thiết trong việc hỗ trợ Campuchia.

Chu Ân Lai: … Vì vậy, chúng tôi cho rằng chiến thắng càng gần hơn, thì cuộc đấu tranh của các ông với Liên Xô càng quyết liệt hơn. Bởi vì khi các ông tiến gần đến chiến thắng, Mỹ muốn gây áp lực nhiều hơn để chấm dứt chiến tranh, để họ có thể có phần ở miền Nam Việt Nam, không phải mất hoàn toàn. Hiện tại Pháp chỉ trích Mỹ, nhưng khi các ông tiến gần tới chiến thắng, Pháp có thể đến gần hơn với Mỹ, và các quốc gia dân tộc khác muốn thỏa hiệp, có thể đến nói chuyện như Mỹ.

Trung Quốc có một câu châm ngôn rằng, bạn thực sự bắt đầu một cuộc hành trình dài 100 dặm sau khi đã đi được 90 dặm đầu. Bởi vì 10 dặm cuối cùng luôn khó khăn như đi 90 dặm đầu tiên. Trên một con đường bằng phẳng, các ông không thể nhìn thấy rõ, nhưng các ông sẽ nhìn thấy rõ hơn khi các ông leo núi Hy Mã Lạp Sơn. Chúng tôi tin rằng các ông sẽ cố gắng hết sức để giành thắng lợi cuối cùng và chúng tôi sẽ khuyến khích người dân thế giới để hỗ trợ các ông. Nhưng Liên Xô sẽ bỏ cuộc.

Ở đây, tôi muốn nói cho các ông biết sự thật: ngay cả Stalin đã một lần làm như vậy. Năm 1945, Nhật đầu hàng. Hoa Kỳ hỗ trợ Tưởng giới Thạch. Liên Xô chiến thắng, nhưng bị thiệt hại trong cuộc chiến rất lớn. Vì vậy, Hội nghị Yalta là một trong những thỏa hiệp về phạm vi ảnh hưởng giữa Liên Xô và Mỹ sau Đệ nhị Thế chiến. Đó là một hội nghị sai lầm. Xem sự thỏa hiệp là một chiến thuật đúng đắn, nhưng thật là sai lầm khi xem nó như một chính sách. Hai quả bom nguyên tử của Hoa Kỳ đã làm Stalin bàng hoàng, làm cho ông ta sẵn sàng cho một thỏa hiệp. Vì vậy, ông ta đã ký một thỏa thuận với Tống Tử Văn (1) công nhận Mỹ có ảnh hưởng lớn nhất ở Trung Quốc, để đổi lấy sự công nhận của Mỹ về ảnh hưởng của Liên Xô ở vùng Đông Bắc [Trung Quốc] và ở Tân Cương cũng như Mông Cổ.

Stalin đã gửi một bức điện cho đồng chí Mao Trạch Đông, nói rằng, đảng Cộng sản Trung Quốc cần hợp tác với Quốc Dân đảng, [và] không bắt đầu một cuộc chiến bởi vì điều này có thể dẫn đến sự hủy diệt của dân tộc Trung Hoa. Rõ ràng là Stalin cảm thấy bị đe dọa do hai quả bom nguyên tử của Mỹ. Vào thời điểm đó, Lục Định Nhất (Lu Dingyi) (2), Stalin cũng đề nghị rằng đồng chí Mao Trạch Đông nên đến Trùng Khánh đàm phán với Tưởng [Giới Thạch]. Và không lâu sau đó, có một tin về lời mời chuyển đến đồng chí Mao từ Tưởng.

Lúc đó, chúng tôi đối mặt với thực tế là Cộng sản Quốc tế không còn tồn tại; cũng như họ không giữ vai trò trong việc ban hành các hướng dẫn chung. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng Trung Quốc là một phần của phong trào chung, và chúng tôi phải phục vụ mục đích chung. Dựa trên những suy nghĩ của đồng chí Mao Trạch Đông, chúng tôi giữ cho nội chiến không thể tiêu diệt dân tộc Trung Hoa. Chúng tôi cũng có thể chứng minh rằng nội chiến là do Quốc Dân đảng, chứ không phải do Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhưng vấn đề vào thời điểm đó là, liệu đồng chí Mao Trạch Đông có nên đến Trùng Khánh hay không. Nếu không, người ta cho rằng đảng Cộng sản Trung Quốc chịu trách nhiệm cho cuộc nội chiến.

Vì vậy, bây giờ các ông thấy, những suy nghĩ của Khrushchev đều có nguồn gốc của nó. [Sau đó] Khrushchev làm cho người Trung Quốc giết người Ấn Độ, nên cuộc xung đột biên giới Trung-Ấn do Trung Quốc gây ra. Dĩ nhiên, Stalin không nói như thế. Cho nên đồng chí Mao Trạch Đông quyết định đi Trùng Khánh. Vào thời điểm đó, toàn bộ lập trường của ĐCSTQ đã thống nhất: các thông điệp phản đối các cuộc đàm phán được gửi từ mọi miền đất nước tới ủy ban trung ương. Nhưng đồng chí Mao, đồng chí Vương Nhược Phi (3) và tôi đã khởi hành. Lúc đó, đồng chí Mao bổ nhiệm Lưu Thiếu Kỳ để thay mặt mình. Chuyện này đã 22 năm rồi.

Kết quả của chuyến đi Trùng Khánh của chúng tôi là, một mặt, Tưởng ký thỏa thuận, và mặt khác, bắt đầu nội chiến. Sau khi ký, đồng chí Mao trở về vùng giải phóng và một nhóm đàm phán gồm ba người, Trương Trung Trị, [phái viên Mỹ, George C.] Marshall, và Chu Ân Lai vẫn ở Trùng Khánh. Nhiều cuộc đàm phán đã được tiến hành và nhiều thỏa thuận đã được ký. Nhưng tháng 7 năm 1946, Quốc Dân đảng phát động các cuộc tấn công quy mô lớn, trước hết là vào quân lính do đồng chí Trần Nghị chỉ huy ở vùng giải phóng của Bắc Giang Tô. Quân của Tưởng chiếm đóng một số thành phố, đặc biệt là Trương Gia Khẩu, Andong… Nghĩ rằng chắc chắn có thể giành chiến thắng, họ triệu tập hội nghị của Quốc hội bù nhìn mà không tham khảo chúng tôi. Chúng tôi, những người đàm phán, lúc đó trở lại Duyên An.

Đầu năm 1947, Hồ Tông Nam (4) tiến hành một cuộc tấn công vào Duyên An, và chưa đầy sáu tháng, vào tháng 7 năm 1947, ông ta chiếm các thị xã, thành phố trong khu vực này. Lúc đó, đồng chí Mao chỉ huy chiến tranh du kích ở Thiểm Bắc, đồng thời lãnh đạo cuộc đấu tranh trên toàn quốc. Tôi ở bên đồng chí Mao. Một bác sĩ Liên Xô (5) đi cùng chúng tôi lúc đó, chuyển một thông điệp từ Stalin, mong đồng chí Mao đến Moscow. Không biết tại sao, chúng tôi nghĩ rằng [họ muốn đồng chí Mao đi đến] đó là để thảo luận về việc tiến hành cuộc chiến. Tuy nhiên, do tình hình trong nước, đồng chí Mao không thể đi.

Ngay sau đó, chúng tôi nhận được tin quân đội dưới quyền chỉ huy của đồng chí Lưu Bá Thừa (6) đã vượt sông Hoàng Hà và tấn công khu vực núi Đại Biệt [Sơn]. Điều này xảy ra chỉ một năm sau khi nội chiến bắt đầu. Trước đó, gần như tất cả các thành phố và thị đã được giải phóng [khỏi Nhật Bản] bị mất vào tay quân Tưởng. Cho nên, đa số quân của Tưởng lúc đó bận rộn trong các khu vực mới chiếm đóng.

Khi quân của Lưu Bá Thừa tấn công khu vực miền núi Đại Biệt [Sơn], điều này dường như đánh vào tâm can của Tưởng. Ông ta rất sợ hãi và đã phải sử dụng một mưu mẹo. Qua Tống Tử Văn, em trai của bà Tống Mỹ Linh (7), Tưởng đã gặp Federenko, lúc đó là Đại biện Liên Xô, yêu cầu Moscow thông báo cho ĐCS Trung Quốc rằng, ông ta sẵn sàng đàm phán nhằm chấm dứt chiến tranh. Vào thời điểm đó, mặc dù Tưởng bị đánh bại, nhưng ông ta vẫn còn hưởng lợi. Liên Xô chuyển thông điệp của ông ta cho chúng tôi và cho rằng chúng tôi nên đi đàm phán. Với Tưởng, chúng tôi không đóng cửa để đàm phán.

Khi tôi rời Nam Kinh vào cuối tháng 10 năm 1946, đồng chí Đồng Đổng Tất Vũ (8) rời Nam Kinh vào tháng 1 năm 1947, tôi nói đó là Quốc Dân đảng đã đóng cửa để đàm phán. Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng, sẽ là bất lợi nếu các cuộc đàm phán bắt đầu vào tháng 7 năm 1947. Bởi vì, như các ông đã nói, việc cân bằng lực lượng không có lợi cho chúng tôi. Kết quả là, chúng tôi tiếp tục chiến đấu cho đến năm 1949, năm mà chúng tôi có thể bảo đảm chiến thắng một cách quyết định.

Vào lúc đó, Tưởng đã rút lui và kêu Lý Tông Nhân (9) thay mặt ông ta đàm phán. Được thôi! Chúng tôi chấp nhận đàm phán và đưa ra một số nguyên tắc. Trương Trị Trung (10) đẫn đầu phía Quốc Dân đảng. Ông ta đến Bắc Kinh và các cuộc đàm phán diễn ra trong 20 ngày. Chúng tôi đề nghị [một dự thảo với] 8 chương và 24 điều khoản.

Trong khi đó, lực lượng vũ trang của chúng tôi đã sẵn sàng vượt sông Dương Tử. Nếu dự thảo được ký, sẽ không có chuyện gì xảy ra. Nếu không, chúng tôi sẽ vượt sông. Phái đoàn Quốc Dân đảng đồng ý ký vào bản dự thảo, nhưng khi đưa trở lại Nam Kinh, dự thảo đã bị Đại sứ Mỹ từ chối. Vì vậy, Lý [Tông Nhân] đã rút lui và một triệu binh sĩ của chúng tôi vượt sông Dương Tử.

Trong suốt chiến dịch, quân đội dưới quyền chỉ huy của đồng chí Lâm Bưu đã chiếm Vũ Hán. Có một tiến triển khôi hài: khi các cuộc đàm phán đang diễn ra, Lý Tông Nhân chuyển chính quyền của ông ta đến Quảng Châu, [và] Đại sứ Liên Xô đã đi với ông ta. Tuy nhiên, đồng nhiệm Mỹ vẫn ở lại Nam Kinh. Khi Nam Kinh được giải phóng, ông ta vẫn ở đó. Ông ta nói với một trí thức Trung Quốc rằng, nếu Chính phủ Cộng sản Trung Quốc muốn có quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, thì Hoa Kỳ sẽ không rút Đại sứ quán khỏi Trung Quốc, và thậm chí sẽ là nước đầu tiên công nhận nước Trung Quốc mới và sẵn sàng viện trợ cho Trung Quốc trị giá $5 tỷ đô la. Đại sứ Hoa Kỳ muốn mua chúng tôi, nhưng quân giải phóng không quan tâm, đột kích khu dinh thự [sứ quán] và ông ta đã trốn thoát. Nước Anh thì ngớ ngẩn hơn, gửi một tàu chiến đến bắn vào chúng tôi. Chúng tôi đã kết liễu chiếc tàu này.

Tuy nhiên, ở mức độ nào, chúng tôi vẫn nghĩ rằng Stalin là nhà Marxist Leninist vĩ đại. Sau khi Thượng Hải được giải phóng, Lưu Thiếu Kỳ đã đến Moscow. Stalin đã tự phê bình – một cách ngấm ngầm – hỏi câu hỏi này: “Điện tín của tôi gửi hồi tháng 8 năm 1945 có gây cản trở cuộc chiến tranh giải phóng của các ông không?” Lưu Thiếu Kỳ trả lời “Không” và đã không nói thêm [điều gì] nữa. Có lẽ đồng chí Giang Thanh (11) cũng có mặt tại cuộc họp đó vì bà ta đang ở Moscow để trị bệnh.

Khi nâng cốc chúc mừng, Stalin thậm chí còn nói: “Bây giờ tôi đã quá già. Mối quan ngại của tôi bây giờ là, sau khi tôi chết, các đồng chí này – ông ta chỉ vào Voroshilov, Molotov và những đồng chí khác – sẽ sợ chủ nghĩa đế quốc“. Lý do Stalin nói như vậy là vì ông ta chưa hết lo lắng về bom nguyên tử. Nhưng có lẽ, vấn đề bom nguyên tử đã cho ra một số giải pháp như nó đã có vào thời điểm năm 1949, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc 5 năm [trước], Cách mạng Trung Quốc đã kết thúc, nhưng Hoa Kỳ đã không sử dụng vũ khí nguyên tử. Điều mà Stalin đã nói bây giờ trở thành sự thật. Đó là để hỗ trợ quan điểm của tôi, rằng các ông càng đến gần chiến thắng, [các ông] sẽ càng bị những người xét lại Xô Viết phản bội cản trở – những người này chắc chắn không thể so sánh với Stalin. Có lẽ tôi hơi cường điệu. Sẽ tốt hơn nếu dự đoán này không thành sự thực. Nhưng tôi dựa trên kinh nghiệm quá khứ để cảnh báo các ông.

Võ Nguyên Giáp: Người ta nói rằng khi quân giải phóng đến sông Dương Tử, Stalin khuyên các ông không nên tiến thêm về phía Nam. Có thật vậy không?

Chu Ân Lai: Quân đội của chúng tôi tấn công Đại Biệt [Sơn] vào giữa năm 1947 và vượt sông Dương Tử vào năm 1949. Đại sứ quán Liên Xô cùng với Chính phủ [Quốc gia] của Lý Tông Nhân đến Quảng Châu. Lúc đó, Tưởng đã ở Ninh Ba. Đại sứ quán Mỹ vẫn ở lại Nam Kinh.

Đại sứ Mỹ ở lại Nam Kinh bởi vì ông ta hiểu rằng Tưởng không thể ngăn chúng tôi. Nhưng Liên Xô đã đi đến Quảng Châu bởi vì tình báo Liên Xô dự đoán rằng quân giải phóng không thể vượt sông Dương Tử. Theo họ, nếu chúng tôi làm như thế, Mỹ sẽ can thiệp, và sử dụng bom nguyên tử. Vì vậy, họ tin rằng sông Dương Tử cuối cùng sẽ là đường phân chia: miền Bắc sẽ do ĐCS Trung Quốc kiểm soát và miền Nam do Quốc Dân đảng. Mỹ thì nghĩ khác: nếu họ hỗ trợ Tưởng, tình hình sẽ không khác hơn. Nếu họ can thiệp, họ sẽ có thêm một gánh nặng khi các vấn đề châu Âu đã không được giải quyết.
….

Chu Ân Lai: Bây giờ tôi chuyển sang vấn đề thứ hai. Các ông đã nghe nói về những sự cố gần đây ở Battambang. Người ta nói rằng điều này là do các phần tử đỏ (Khơ me Đỏ?) [lực lượng Campuchia] gây ra. Tuy nhiên, có lẽ nó đã được gây ra bởi các lực lượng do Mỹ hậu thuẫn với mục đích chia rẽ các lực lượng của chúng ta (12).

Phạm Văn Đồng: Có thể lắm. Khu vực này dưới sự ảnh hưởng của nhóm Sơn Ngọc Thành (13) đến từ Thái Lan.

Trần Nghị: Không phải dưới sự ảnh hưởng của Đảng Campuchia?

Phạm Văn Đồng: Liên quan đến Đảng Campuchia, chúng tôi không thể nói liệu họ có bất kỳ vai trò nào [trong sự cố này] hay không.

Chu Ân Lai: Có nghi ngờ nào về vũ khí chúng tôi gửi cho các ông qua đường Campuchia đã được Đảng Campuchia phân phát cho người Trung Quốc [sống ở Campuchia] hay không?

Phạm Văn Đồng: Không, có lẽ đây là vũ khí cũ. Nhưng chúng tôi không chắc lắm. Khi chúng tôi trở về Hà Nội, chúng tôi sẽ hỏi và sau đó thông báo cho các ông về điều này.

Chu Ân Lai: Ngày 30 tháng 9, Douc Rasy, Phó Thủ tướng Campuchia nói rằng, Lon Nol có thể cải tổ nội các của ông ta. Sihanouk đã từng nói rằng Lon Nol nên mời một số phần tử đỏ (Khơ me Đỏ?) vào nội các, theo đó Chau Seng (14) sẽ được bổ nhiệm làm phó thủ tướng phụ trách tài chính, So Nem (15) sẽ thay thế Douc Rasy và sẽ là Bộ trưởng Bộ Kế hoạch. Có lẽ So Nem thật sự là một người tả khuynh, vì vậy ông ta đã bị từ chối. Chau Seng thuộc phe Sihanouk. Tuy nhiên, ông ta được cho là tả khuynh. Ông ta cũng nói rằng, nội các Lon Nol phải được cải tổ. Ông ta đề nghị một danh sách các ứng cử viên nhưng Lon Nol không đồng ý. Thông tin này do Meyer (16) tiết lộ. Nếu nội các Lon Nol sụp đổ, Sihanouk sẽ mời Penn Nouth (17) là người trung lập, để thành lập chính phủ.

Vào ngày 4 tháng 4 năm 1967, Quốc hội Campuchia đã tổ chức một phiên họp khẩn cấp. Một nghị quyết cho phép Sihanouk có đặc quyền đã được thông qua sau các cuộc tranh luận nảy lửa. Một số người đã tổ chức biểu tình ở trước Cung điện Hoàng gia. Sau đó họ được mời vào bên trong cung điện và đã được hoàng hậu đón tiếp. Sihanouk công bố nghị quyết Quốc hội và nói rằng ông ấy đã được xác định là người trung lập, chống cả những người cánh tả lẫn cánh hữu.

Đại sứ quán của chúng tôi đi đến kết luận rằng ông ta chủ yếu chống những người cánh tả. Nhưng tại sao ông ta bổ nhiệm Penn Nouth để lập chính phủ? Có một số mâu thuẫn ở đây. Sau đó, hoàng hậu kêu gọi người dân đoàn kết chống lại kẻ thù. Tại tỉnh Kamdan, đã có truyền đơn chống lại Khimsamthan người có thể là cánh tả. Và tại Kompong Chom và Stungstreng, đã có các cuộc biểu tình ủng hộ chính sách Sihanouk chống lại những người cánh tả.

Tóm lại, tình hình vẫn đang thay đổi sau sự kiện Battambang. Ở Campuchia, có hai nội các: một nội các chính thức và một nội các vô hình. Nội các vô hình đã viết: “Đất nước chúng ta đang bị đe dọa. Việt Minh đang mở mặt trận ở Battambang. Chúng ta phải đối phó với kẻ thù ở hai mặt trận: chống lại người Khmer cấp tiến và chống lại các phần tử Đỏ (Khơ me Đỏ?). Trong quá khứ, Chính phủ Campuchia chỉ chiến đấu chống lại đế quốc Mỹ và bây giờ còn có đế quốc Cộng sản. Thái độ của chúng ta đối với những người Cộng sản luôn đúng. Vậy tại sao bây giờ họ lại tấn công chúng ta?

Tại sao Campuchia có thái độ như thế đối với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam? Lý do mà tôi thấy đó là: Mặt trận Dân tộc GPMN cố gắng để kéo quân Mỹ đến biên giới Campuchia, làm cho lính Campuchia bắn vào họ (lính Mỹ), do đó làm cho Campuchia tham gia vào cuộc chiến. Mặt trận Dân tộc GPMN cố tình ra lệnh cho hơn 2.000 người đến Campuchia tị nạn. Có 7 bác sĩ hoạt động trong số những người này, để chăm sóc y tế và tác động đến người Campuchia.

Lon Nol bị những người cánh tả chỉ trích và ông ta cũng không hài lòng. Lon Nol nói rằng vì tình hình nghiêm trọng, ông ta ngưng giúp Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Tuy nhiên, ông ta không đề cập vũ khí đã đến Campuchia. Ông ta cũng ngưng vận chuyển gạo. Ngoài ra, Lon Nol ra lệnh kiểm soát chặt chẽ về buôn lậu biên giới để đe dọa Mặt trận Giải phóng miền Nam. Tuy nhiên, điều này chỉ mang tính hình thức, thực chất không có gì quan trọng.

Võ Nguyên Giáp: Một số trường hợp xảy ra gần đây ở khu vực biên giới giữa miền Nam Việt Nam và Campuchia. Gồm có: một cuộc tấn công do một tiểu đoàn Mỹ vượt biên giới. Lực lượng Quân Giải phóng của chúng tôi đã giúp các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang Campuchia chống trả lại. Các tiểu đoàn Mỹ đã phải rút lui. Trong Chiến dịch Junction City của Mỹ, thường dân và quân đội Việt Nam di tản sang Campuchia.

Phạm Văn Đồng: Một số bác sĩ y tế Việt Nam đến đó để điều trị cho người dân [Campuchia]. Tuy nhiên, chúng tôi phải rất cẩn thận về vấn đề này.

Chu Ân Lai: Đúng vậy. Bởi vì hiểu lầm có thể bắt nguồn từ những vấn đề nhỏ. Theo các nguồn tin của chúng tôi, những người đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, với chỉ thị từ Mặt trận, gặp gỡ đại diện của phe “nhân dân” ở Campuchia (Ghi chú của biên tập: Khmer Đỏ, do Pol Pot lãnh đạo) và trao đổi ý kiến ​​với họ về tình hình ở Campuchia. Bất đồng chủ yếu về chính sách đối phó với Lon Nol. Chúng ta chinh phục tình cảm của Lon Nol, nhưng họ phản đối ông ta. Đấu tranh có thể được gia tăng, nhưng không cần thiết tiến hành đấu tranh vũ trang ở Campuchia. Vào lúc này, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là chiến thắng.

Nếu các khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia bị phong tỏa, các lực lượng vũ trang ở miền Nam Việt Nam sẽ phải đối mặt với khó khăn, [và] lúc đó lực lượng cách mạng Campuchia sẽ không tiến lên. Cuộc đấu tranh của Việt Nam là vì lợi ích chung của các dân tộc Đông Dương và Đông Nam Á, và chiến thắng của cuộc đấu tranh này mang tính quyết định. Trong trường hợp này, đấu tranh của Campuchia, thậm chí đấu tranh vũ trang, hạn chế các mục tiêu. Vì vậy, ngay cả trong trường hợp có được chiến thắng, chiến thắng đó cũng bị hạn chế, về bản chất không dứt khoát, chưa nói đến việc những chiến thắng đó có thể bị mất dễ dàng. Vì vậy, về vấn đề này, phải biết làm thế nào để đặt lợi ích tổng thể lên trên những hạn chế.

Tuy nhiên, nếu cuộc đấu tranh này khởi đầu từ người dân, thì câu chuyện sẽ khác đi. Trong trường hợp đó, cuộc đấu tranh này không thể chống lại được, bởi vì tự nhiên người dân sẽ đứng lên chống lại áp bức. Họ sẽ phải trải qua đàn áp, nhưng họ cũng sẽ học những bài học. Công việc của một đảng cách mạng là lãnh đạo cuộc đấu tranh. Tóm lại, trong trường hợp cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam thành công, có hy vọng cho cuộc đấu tranh ở Campuchia. Lý luận này nên được thể hiện rõ ràng cho phe “nhân dân” ở Campuchia.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi thường cố gắp thuyết phục họ. Và chúng ta phải tiếp tục làm như vậy.

Chu Ân Lai: Đúng vậy, như mỗi bên đều có sự độc lập của nó.

Võ Nguyên Giáp: Nhưng trước khi họ đồng ý với chúng tôi.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi vẫn không biết rõ, ở mức độ nào thì cuộc đấu tranh được tổ chức, và ở mức độ nào thì bị khiêu khích bởi kẻ thù.

Võ Nguyên Giáp: Các đồng chí của chúng tôi ở miền Nam đã gửi người đi nói chuyện với phe “nhân dân”.

Phạm Văn Đồng: Thông tin Mặt trận Dân tộc Giải phóng liên lạc với phe “nhân dân” là đúng, bởi vì chúng tôi yêu cầu Trung ương Cục miền Nam liên hệ trực tiếp với phe này.

Chu Ân Lai: Đồng chí Nguyễn Thương (18) nói rằng, cần phát triển quan hệ tốt đẹp với Campuchia. Tôi thấy hai khả năng. Một là, Sihanouk sử dụng tình hình này để gây áp lực lên các lực lượng cách mạng Campuchia nhằm cân bằng các lực lượng cánh tả và cánh hữu. Đây là chiến thuật mà ông ấy thường sử dụng đến. Hai là, cho thấy chính sách trung lập của ông ta: tất cả các lực lượng ở Campuchia, dù là thân Trung Quốc và thân Việt Nam hay thân Mỹ, đều do ông ta kiểm soát. Nói chung, như tôi đã nói với các ông trước đây, chúng ta phải chinh phục tình cảm của ông ấy, đồng thời sẵn sàng cho việc cung cấp hàng hoá qua ngả Campuchia khi tình hình cho phép. Do đó cần phải duy trì liên lạc thường xuyên với Tổng Tham mưu Trung Quốc và Bộ Giao thông Vận tải và Truyền thông.

Ghi chú:

1. Tống Tử Văn: là em vợ của Tưởng Giới Thạch và là Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao Trung hoa Dân quốc.

2. Lục Định Nhất: là ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị ĐCS Trung Quốc, ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng, Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền Trung ương ĐCS TQ, và Phó Thủ tướng Trung Quốc cho đến khi bị thanh trừng hồi đầu năm 1966.

3. Vương Nhược Phi: là ủy viên Bộ Chính trị ĐCS TQ, đã chết trong một tai nạn máy bay năm 1946.

4. Hồ Tông Nam: là một trong những vị tướng hàng đầu của Quốc Dân đảng.
5. A.Y. Orlov (? -1949): còn có tên là Zhelepin và Terebin, viên chức tình báo quân đội Xô Viết, đã từng phục vụ như người liên lạc với lãnh đạo ĐCSTQ ở Úc Nam và sau đó ở miền bắc Sơn Tây và Hà Bắc.

6. Lưu Bá Thừa: là một trong những người chỉ huy quân sự quan trọng nhất của ĐCSTQ trong nội chiến Trung Quốc 1946-1949.

7. Tống Khánh Linh: là vợ của Tôn Trung Sơn và là chị vợ của Tưởng Giới Thạch. Bà là thành viên duy nhất trong gia đình họ Tống ủng hộ Cộng sản.

8. Đổng Tất Vũ: trong thập niên 1940, là ủy viên Bộ Chính trị và là Phó Tổng Bí thư Văn phòng phía Nam của ĐCSTQ, đứng hàng thứ hai sau Chu Ân Lai.

9. Lý Tông Nhân: quyền tổng thống của chính phủ Trung Hoa Dân quốc năm 1949 sau khi Tưởng Giới Thạch từ chức của vào tháng Giêng năm đó.

10. Trương Trị Trung: là trưởng phái đoàn đại diện cho Chính phủ Quốc gia tại các cuộc đàm phán hòa bình với Trung Cộng vào mùa Xuân năm 1949.

11. Giang Thanh: người vợ thứ ba của Mao Trạch Đông(vợ thứ tư, nếu tính luôn bà La Thị do cha mẹ Mao cưới ở quê nhà, nhưng không sống chung), đang ở Moscow để chữa bệnh hồi mùa Hè năm 1949.

12. Tham khảo “cuộc nổi dậy Samlaut” đầu năm 1967 ở tỉnh miền Tây Battambang, được nhắm tới chống lại chủ trương của Lon Nol, lúc đó là thống đốc tỉnh, thu mua lúa gạo với giá rất thấp so với giá thị trường.

13. Sơn Ngọc Thành: lãnh đạo phong trào quốc gia nhỏ ở Campuchia hồi thập niên 1930, giữ chức Thủ tướng trong một thời gian ngắn từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1945, chống lại Thái tử Sihanouk trong thập niên 1960, và làm thủ tướng một lần nữa dưới thời Lon Nol từ tháng 3 đến tháng 10 năm 1972.

14. Chau Seng: chính trị gia cánh tả Campuchia.

15. Sơn Ngọc Minh (Achar Mean) (1920-1972), một tu sĩ Phật giáo Campuchia, bút danh của ông được lấy từ hai người anh hùng của ông là Sơn Ngọc Thành và Hồ Chí Minh khi ông tham gia cuộc đấu tranh chống Pháp. Chủ tịch Mặt trận Issarak Khmer hồi thập niên 1950. Sau Hiệp định Geneva năm 1954, ông và 500 người Campuchia khác sống lưu vong ở miền Bắc Việt Nam. Nhiều người trong số họ đã trở lại chiến đấu chống lại Khmer Đỏ năm 1971-72, và biến mất ngay sau đó. Tin đồn ở Việt Nam là Sơn Ngọc Minh đã bị Ieng Sary đầu độc chết tại Bắc Kinh.

16. Charles Meyer: một cố vấn thân cận của Sihanouk.

17. Penn Nouth (1906 – 1985): là cố vấn chính trị thân cận nhất của Sihanouk, làm thủ tướng 1948-1949, 1952-1955, 1958, 1961-1962, và 1967-1969. Ông cũng đứng đầu Chính phủ Hoàng gia Liên minh các Dân tộc Campuchia, thành lập tại Bắc Kinh hồi tháng 5 năm 1970 và chào đón Sihanouk khi ông ta trở về Campuchia năm 1975.

18. Nguyễn Thượng: hành nghề ngoại giao và luật sư, sau khi làm đại sứ ở Guinea, trở thành đại diện Bắc Việt ở Campuchia vào năm 1966, và là đại sứ khi Bắc Việt công nhận Campuchia vào tháng 8 năm 1967. Phục vụ cho đến 1975 (từ năm 1970 với Chính phủ Hoàng gia Liên minh các Dân tộc Campuchia – GRUNK – của Sihanouk). Sau đó làm Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam (đến năm 1989).

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

19. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 10-04-1967

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng

10-04-1967

Mô tả: Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông giải quyết vấn đề khó khăn của Trung Quốc – Hồng vệ binh.

Chu Ân Lai: Đa số Hồng vệ binh Trung Quốc đã vượt biên giới vào Việt Nam, là tốt. Họ đã đến Việt Nam bởi vì họ muốn chiến đấu chống Mỹ. Nhưng họ đã không tôn trọng các quy tắc của hai nước chúng ta, nên gây một số chuyện phức tạp. Chúng tôi xin lỗi các ông về vấn đề này.

Mao Trạch Đông: Một số Hồng vệ binh không biết biên giới quốc gia có nghĩa là gì. Trong số những người đến Việt Nam, hầu hết đến từ Giang Tây, một số người đến từ Vân Nam. Các ông không cần phải đề phòng họ. Chỉ cần giải thích với họ và sau đó giao họ lại cho chúng tôi.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

18. Thảo luận giữa Chu Ân Lai với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp 10-04-1967

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp

10-04-1967

Khi xem xét viễn cảnh cuộc chiến, chúng ta nên có hai hoặc ba khả năng. Một khả năng là cuộc chiến sẽ tiếp tục và mở rộng. Luật của chiến tranh thường không do ý muốn của người dân quyết định, không phải do ý muốn chúng ta, cũng không theo ý muốn của kẻ thù. Chiến tranh có luật lệ riêng của nó. Ngay cả khi kẻ thù muốn chấm dứt chiến tranh cũng không thể được. Do đó, vì lợi ích tương lai, chúng ta phải chuẩn bị tiếp tục cuộc chiến và chuẩn bị mở rộng chiến tranh.

Một khả năng khác là kẻ thù sẽ phong tỏa bờ biển. Nếu kẻ thù tiến hành phong tỏa toàn bộ, thì rất có thể họ có ý định mở rộng chiến sự vào một cuộc chiến tranh tổng lực. Nếu kẻ thù chỉ muốn buộc các ông thỏa hiệp bằng cách phong tỏa bờ biển của các ông và nếu các ông từ chối thỏa hiệp, thì kẻ thù sẽ làm gì?

Kẻ thù phải có một kế hoạch tiếp theo. Việc phong tỏa toàn bộ bờ biển sẽ không là một vấn đề đơn giản. Sẽ liên quan đến việc triển khai nhiều hạm đội. Sẽ là một hoạt động lớn. Sẽ gây căng thẳng đến mối quan hệ của kẻ thù với các nước khác.

Khả năng thứ ba là điều mà hai ông vừa đề cập đến: thời điểm quan trọng sẽ là mùa khô năm tới. Các ông có thể đánh bại kẻ thù, buộc họ phải thừa nhận sự thất bại và rút khỏi Việt Nam. Về khả năng chiến tranh không kết thúc nhưng cũng không mở rộng mà chỉ đơn giản là tiếp diễn, điều đó không thể xảy ra được. Cuộc chiến tranh chắc chắn sẽ kết thúc và vấn đề là khi nào. Cuộc chiến không thể nào cứ tiếp diễn mãi mãi mà không có kết quả.

Liên quan đến vấn đề đấu tranh chính trị, rõ ràng là đấu tranh chính trị nên được thực hiện bất cứ lúc nào. Chiến tranh là hình thức cao nhất của sự phát triển đấu tranh chính trị. Không thể có chiến tranh mà không liên quan đến đấu tranh chính trị. Những việc như tăng cường tuyên truyền quốc tế, chiến thắng sự cảm thông, làm suy yếu và chia rẽ kẻ thù và khai thác các mâu thuẫn giữa kẻ thù, tất cả thuộc loại đấu tranh chính trị. Các ông đã làm được những điều này trong quá khứ và các ông phải tiếp tục làm như vậy trong tương lai.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

17. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 10-04-1967

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng

 10-04-1967

Mô tả: Chu Ân Lai thảo luận việc mở rộng chiến tranh Việt Nam, cũng như phát triển mặt trận mới ở Campuchia; cũng có một cuộc thảo luận về Hoàng thân Sihanouk và Lon Nol.

Chu Ân Lai: … Về việc vận chuyển hàng quá cảnh, thỏa thuận hạn ngạch là 10.000 tấn một tháng. Bây giờ, họ muốn tăng lên 30 ngàn. Tuy nhiên, họ không đề cập đến mặt hàng cụ thể nào, nên chúng tôi không muốn trả lời đề nghị một cách rõ ràng… Về các mặt hàng quân sự của Liên Xô, Liên Xô nên thông báo trước cho Việt Nam, và Việt Nam sẽ xem xét liệu lợi ích có phù hợp và hiệu quả hay không. Có nghĩa là các ông sẽ không lấy hết tất cả mọi thứ. Lúc đó, các ông sẽ thông báo cho chúng tôi [số lượng]. Cuối cùng, chúng tôi sẽ phải kiểm tra. Nếu đúng, chúng tôi sẽ tăng hạn ngạch.

Hiện cảng Hải Phòng không bị phong tỏa. Do đó, việc sử dụng các cảng của Trung Quốc chưa được xét đến. Liên Xô đã từng nói rằng, Hoa Kỳ sẽ không tấn công tàu của Liên Xô. Tất nhiên, trong trường hợp cảng Hải Phòng bị phong tỏa, và không còn có cảng nào khác có thể cập bến ở Việt Nam, các chuyến hàng nước ngoài đến Việt Nam sẽ phải được vận chuyển qua các cảng của Trung Quốc. Chúng tôi có một thỏa thuận cho dự phòng này. Về ích lợi của các cảng Trung Quốc đối với hàng viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam, chúng tôi sẽ cân nhắc tình hình và hoàn cảnh thực tế và sau đó thương lượng một thỏa thuận khác. Liên Xô muốn vào các cảng của Trung Quốc không chỉ vì các lô hàng viện trợ cho Việt Nam, mà còn có các động cơ khác sau này.

……

Chu Ân Lai: Có một mặt trận khác là Campuchia. Campuchia thì gắn liền với nước Pháp như Lào và miền Nam Việt Nam gắn với Mỹ. Pháp đã xác định không bỏ mặc Campuchia. Đôi khi Sihanouk chửi chúng tôi vì bực tức, điều đó dễ hiểu. Chúng tôi phải giành cho được sự cảm thông của ông ta, nhưng cùng lúc, chúng ta phải hiểu bản chất của ông ta. Mối liên hệ như thế này: bởi vì Pháp sẽ không bỏ mặc Campuchia, thì Campuchia cũng sẽ không bỏ mặc chúng ta. Nếu Campuchia làm như thế, sẽ mâu thuẫn với chính phủ liên minh ở miền Nam Việt Nam, trong đó phe thân Pháp sẽ được mời dự phần. Và nếu quan hệ Campuchia với Trung Quốc xấu đi, ảnh hưởng của Pháp ở vùng Viễn Đông sẽ tiếp tục giảm, do đó vị thế của Pháp trong quan hệ với Mỹ bị suy yếu. Khả năng để Mỹ để mở một mặt trận khác ở Campuchia là không lớn. Vì vậy, gây áp lực lên Campuchia có thể làm cho họ đồng ý với các chính sách của chúng ta.

Gần đây, Thủ tướng Úc, [Harold Holt], thăm Campuchia. Ông ấy hỏi Sihanouk rằng Campuchia có giúp Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam hay không. Sihanouk không hoàn toàn phủ nhận điều [này], nói rằng ông ấy giúp một chút trong vấn đề vận chuyển. Tôi biết Sihanouk hơn 10 năm nay và thấy rằng ông ta khôn hơn Sukarno (1). Có lẽ Sukarno sợ phong trào nhân dân, nhưng Sihanouk thì không sợ.

Khả năng giành được sự cảm thông của Sihanouk thì rất tốt. Tuy nhiên, cùng lúc chúng ta phải cân nhắc khả năng phong tỏa. Vì vậy, chúng tôi nghĩ rằng việc vận chuyển trang thiết bị trong mùa mưa này không chỉ cho năm nay, mà nên vận chuyển cho nhu cầu năm tới. Chúng tôi luôn luôn khai thác các cơ hội khi có sẵn.

Võ Nguyên Giáp: Hiện Mỹ muốn sử dụng phe thân Mỹ tại Campuchia để tiến hành phá hoại và  đảo chánh. Ông có ý kiến gì ​​về vấn đề này?

Chu Ân Lai: Chúng ta không loại trừ khả năng đảo chính. Sihanouk cũng giống như Sukarno đến mức ông ta trấn áp tất cả các mâu thuẫn để nắm giữ quyền lực. Tuy nhiên, ông ta không giống Ne Win (2) người kiểm soát các lực lượng vũ trang. Cùng lúc, Ne Win ngày càng quan trọng đối với các phe phái ở Miến Điện, và vì thế càng không được lòng dân. Tôi đã nói chuyện với ông ta nhiều lần về chiến lược cầm quyền, khuyên ông ấy giới hạn số đối thủ. Những gì tôi biết về ông ta qua U Thant (3) đó là ông ta dễ lĩnh hội từ người Mỹ, nhưng người Anh và người Pháp thì ở một mức độ thấp hơn. Ông ấy cũng duy trì quan hệ với Trung Quốc và Liên Xô.

Phạm Văn Đồng: Còn tình trạng nội chiến ở Miến Điện?

Chu Ân Lai: Các phong trào cách mạng ở đó không phát triển nhanh và có một số thay đổi trong chính sách của Đảng. Điều kiện và tình hình ở đó thì tốt, nhưng tôi không hiểu tại sao cuộc cách mạng đã không phát triển.

Phạm Văn Đồng: Ông nghĩ sao về Lon Nol? (4)

Chu Ân Lai: Ông ta không đáng tin cậy.

Phạm Văn Đồng: Ông ta đã dùng những lời lẽ tốt đẹp để nói về Trung Quốc với chúng tôi.

Chu Ân Lai: Ông ta cũng đã nói như thế với chúng tôi. Ông ta cũng nói rằng ông ta có mang dòng máu Trung Quốc. Phoumi Nousavan (5) cũng nói rằng ông ta có dòng máu Trung Quốc. Nhưng máu của họ là máu phong kiến, tư bản.

Trần Nghị: Lon Nol là người ủng hộ Mỹ. Sihanouk cũng biết điều này.

Chu Ân Lai: Một lần, Lon Nol đến thăm Trung Quốc và ông ta để lại một số ấn tượng. Nếu chúng ta chi tiền cho ông ta, ông ta có thể bị lợi dụng một thời gian. Mẹ của Sihanouk cũng đang làm chính trị, cái cách mà một số hoàng hậu Trung Quốc đã làm. Hai mẹ con đối nghịch với nhau. Nhưng họ cũng lợi dụng lẫn nhau. Bất lợi của Sihanouk đó là, không giống như Ne Win, ông ta không kiểm soát các lực lượng vũ trang.

Chu Ân Lai: Theo như đánh giá của chúng tôi về triển vọng của cuộc chiến, chúng tôi thực sự cần xem xét hai hoặc ba khả năng. Trước tiên, cuộc chiến tranh có thể tiếp tục và thậm chí có thể mở rộng hơn nữa. Nguyên tắc của chiến tranh không thể quyết định bởi lòng người, không phải bởi kẻ thù, cũng không phải bởi chúng ta. Chiến tranh có nguyên tắc riêng của nó. Ngay cả khi kẻ thù muốn dừng lại, cũng rất khó để cho họ dừng. Vì vậy, khi chúng tôi đánh giá triển vọng của cuộc chiến, chúng ta nên chuẩn bị cho việc tiếp tục và mở rộng hơn nữa.

Một khả năng khác là kẻ thù có thể phong tỏa bờ biển. Nếu ông ta bắt đầu phong tỏa toàn bộ, có nghĩa là đang chuẩn bị cho việc mở rộng chiến tranh, một cuộc chiến toàn diện. Nhưng nếu kẻ thù sử dụng một cuộc phong tỏa để buộc các ông phải thỏa hiệp và nếu các ông từ chối thỏa hiệp, thi ông ta sẽ làm gì? Ông ta phải làm một cái gì đó như là bám sát. Không đơn giản cho ông ta tiến hành phong tỏa toàn bộ dọc bờ biển, bởi điều này cần triển khai nhiều tàu. Hành động này rất lớn, và sẽ gây nhiều căng thẳng trong quan hệ của ông ta với các nước khác.

Khả năng thứ ba, như hai ông đã đề cập, đó là mùa khô năm tới sẽ là thời điểm quan trọng, và có thể đánh bại đối phương, buộc ông ta phải nhận lấy sự thất bại của mình và rút khỏi Việt Nam. Có thể nào cuộc chiến sẽ không kết thúc, cũng không mở rộng, mà  sẽ tiếp tục như hiện nay? Điều này không thể. Sớm hay muộn, cuộc chiến tranh sẽ kết thúc, chỉ là vấn đề thời gian. Không thể nào cuộc chiến tranh sẽ được kéo dài như thế này, không thắng cũng không bại (nguyên văn: không chết cũng không sống).

Đối với câu hỏi về đấu tranh chính trị, không có gì nghi ngờ về đấu tranh chính trị nên tiếp tục trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Chiến tranh là sự tiếp tục về chính trị dưới hình thức cao nhất, do vậy, không thể tiến hành cuộc chiến tranh mà không tiến hành đấu tranh chính trị. Để tăng cường tuyên truyền quốc tế, để chiến thắng sự cảm thông, để làm suy yếu và chia rẽ kẻ thù, và để tận dụng sự sa sút của kẻ thù, là tất cả các hình thức khác nhau về đấu tranh chính trị. Các ông đã làm điều này trong quá khứ. Các ông nên tiếp tục làm điều này trong tương lai.

Ghi chú:

1. Sukarno: (1901-1970) Chủ tịch nước Cộng hòa Indonesia 1945-1967. Bị mất quyền vào tay Tổng Suharto trong một cuộc đảo chính quân sự hồi tháng 10 năm 1965.

2. Ne Win: (1911-2002) tướng Miến Điện, người đứng đầu nước Miến Điện (Myanmar) từ năm 1962-1981.

3. U Thant: (1909-1974) Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc năm 1962-1971.

4. Lon Nol: (1913-1985) Tướng trong Quân đội Campuchia, Thủ tướng từ năm 1966 đến tháng 4 năm 1967. Trở lại nắm quyền trong chính phủ hồi tháng 4 năm 1968, đầu tiên là Bộ trưởng Quốc phòng và sau đó là quyền Thủ tướng. Bổ nhiệm làm thủ tướng vào tháng 8 năm 1969. Nắm quyền trong một cuộc đảo chính vào ngày 18 tháng 3 năm 1970, trong khi Sihanouk ở nước ngoài. Lon Nol là Tổng thống Cộng hòa Khmer 1972-1975.

5. Phoumi Nousavan: tướng Lào, một người mạnh mẽ, thuộc cánh hữu trong chính phủ từ 1960-1965.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

16. Ba cuộc thảo luận giữa Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp 07-04-1967

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (1)

07-04-1967

Mô tả: Chu Ân Lai nhận xét về tính cách quân sự của Mỹ.

Chu Ân Lai: Kinh nghiệm và truyền thống Mỹ dựa trên cuộc chiến giành độc lập, mà họ đã chiến đấu 190 năm trước. Cũng có cuộc nội chiến cách nay gần 100 năm. Suốt thời Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến, họ đạt nhiều [chiến thắng] ở giai đoạn cuối. Trong Đệ nhị Thế chiến, Hoa Kỳ đã đổ bộ [vào châu Âu] vào lúc Hitler đã suy yếu đáng kể. Họ sử dụng nhiều pháo binh, như thể họ đang tiến hành tập trận. Người chỉ huy ở mặt trận phía Tây lúc đó là Eisenhower, và tham mưu trưởng Quân đội Hoa Kỳ là [tướng George C.] Marshall. Marshall rất tự hào về kế hoạch đổ bộ, [tài liệu] dài hàng trăm trang. Có lần tôi hỏi ông ta đã đọc bản kế hoạch đó chưa. Ông ta nói rằng ông ta chỉ đọc đề cương. Mỗi phần [đề cương], ông ta chỉ đọc phần có liên quan đến ông ta.

Ghi chú:

1. Võ Nguyên Giáp (1912 -) là người thành lập đơn vị đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam vào năm 1944 và giữ chức Tổng Tư lệnh trong suốt chiến tranh Đông Dương. Suốt thập niên 1960 và gần suốt thập niên 1970 ông là Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, và Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Văn Tiến Dũng được cho là đã thay thế ông làm Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng Tư lệnh năm 1980, nhưng theo từ điển quân đội, xuất bản năm 1996 tại Hà Nội nói rằng, ông Dũng đã thay thế [ông Giáp] từ đầu năm 1978. Nếu điều này chính xác, thì ông Giáp không chịu trách nhiệm về quyết định xâm chiếm Campuchia, hoặc bảo vệ Việt Nam chống lại cuộc tấn công của Trung Quốc năm 1979. Ông Giáp vẫn còn trong Bộ Chính trị Đảng CSVN cho đến năm 1982 và còn chức ủy viên Trung ương Đảng cho đến năm 1991.

2. Đây là cuộc họp thứ ba giữa phái đoàn Trung Quốc và Việt Nam. Trong cuộc họp này, Võ Nguyên Giáp đã mô tả tình hình quân sự ở Việt Nam và mục tiêu chiến lược của Mỹ. Hai cuộc họp đầu tiên được tổ chức từ 11:30 sáng (không rõ kết thúc lúc mấy giờ) và từ 3:30-06:30 chiều ngày 29 tháng 3 năm 1967. Phái đoàn Việt Nam đã đi thăm Liên Xô và sau đó trở về Bắc Kinh.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

———-

Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (2)

07-04-1967

Mô tả: Chu Ân Lai củng cố cam kết của ông ta và của Trung Quốc đối với cuộc chiến tại Việt Nam, mặc dù ông ta gần bảy mươi tuổi.

Phạm Văn Đồng: Một số chiến lược chúng tôi đang áp dụng ở chiến trường miền Nam Việt Nam là làm theo những điều các ông đề nghị với chúng tôi trong quá khứ. Điều này cho thấy chiến lược quân sự của chúng tôi, cũng như của các ông, là đúng đắn, và cũng có những diễn biến mới.

Chu Ân Lai: Không chỉ có các chiến lược của các ông có những diễn biến mới, mà còn có những sáng tạo mới. Những người đến muộn trở thành người tới trước. Đây là điều Chủ tịch đã nói. Tôi viết cho các ông vài lời: những người đến muộn trở thành người đến đầu tiên… Chúng tôi đã không đánh một cuộc chiến nào trong suốt 14 năm. Cả ba chúng tôi đã già rồi. Tôi gần bảy mươi tuổi rồi. Đồng chí Diệp Kiếm Anh (2) bảy mươi tuổi rồi. Đồng chí Trần Nghị thì sáu mươi bảy tuổi. Chúng tôi vẫn muốn đánh, nhưng chúng tôi không còn nhiều thời gian.

Diệp Kiếm Anh: Đó là quy luật của tự nhiên.

Chu Ân Lai: Mặc dù tôi đã già, nhưng tham vọng của tôi vẫn còn đó. Nếu cuộc chiến ở miền Nam không kết thúc trong năm tới, tôi sẽ đến thăm các ông và quan sát xung quanh.

Diệp Kiếm Anh: Con ngựa già ở trong chuồng vẫn mơ đến những thành tích anh hùng; trái tim của một người anh hùng lúc tuổi già của ông ấy kiên cường hơn bao giờ hết.

Chu Ân Lai: Chủ tịch Mao đã trích dẫn những [lời này] từ một bài thơ của Tào Tháo (3) trong một bức thư gửi cho đồng chí Vương Quan Lan (4). Một nhân vật lịch sử trong thời kỳ phong kiến ​​vẫn có khát vọng của mình, còn chúng ta, những người vô sản, thì sao?

Ghi chú:

1. Đây là cuộc họp thứ tư giữa phái đoàn Trung Quốc và Việt Nam. Võ Nguyên Giáp bắt đầu cuộc họp bằng cách tiếp tục giới thiệu về tình hình quân sự ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam và chiến lược của Việt Nam.

2. Diệp Kiếm Anh: là phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương ĐCS Trung Quốc và là ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSTQ.

3. Tào Tháo: là một chính trị gia và là lãnh chúa thời Tam quốc của Trung Quốc (thế kỷ thứ 2-3).

4. Vương Quan Lan: là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phó GĐ Sở Nông thôn? (Deputy Head of the Rural Affairs Department) thuộc Trung ương ĐCS TQ. Ông bị bệnh tật kinh niên hồi thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, và Mao đã viết một lá thư khuyên ông ta nên kiên nhẫn trong việc đối phó với bệnh tật của mình.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

———–

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng

07-04-1967

Mô tả: Đề nghị của Liên Xô gia tăng viện trợ cho Việt Nam qua ngả Trung Quốc.

Phạm Văn Đồng: Các đề nghị của [Liên Xô] là: (1) Trung Quốc tăng hạn ngạch cho các lô hàng viện trợ của Liên Xô giúp [Việt Nam] qua ngả Trung Quốc từ 10.000-30.000 tấn một tháng. Nếu cần, Liên Xô sẽ gửi một số đầu máy xe lửa tới Trung Quốc. (2) Trung Quốc dành riêng 2 hoặc 3 cảng ở miền Nam để giao hàng viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam. Nếu cần nhiều thiết bị hơn cho các cảng này, Liên Xô sẽ trả tất cả chi phí (*).

(*) Chu Ân Lai có trả lời vấn đề này trong buổi thảo luận ngày 10-04-1967.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

15. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng và Hoàng Tùng ngày 23-08-1966

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng và Hoàng Tùng

23-08-1966

Mô tả: Chu Ân Lai đề nghị gửi thêm quân nhân vào Việt Nam, ông ta cũng chỉ trích báo chí Việt Nam viết về các cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc trong lịch sử.

Chu Ân Lai: Còn về vấn đề thực tế báo chí Việt Nam thời gian gần đây đã đưa một số tài liệu về các cuộc xâm lược của các triều đại phong kiến ​​Trung Quốc chống lại Việt Nam thì sao?

Hoàng Tùng: Không có tài liệu báo chí nào như thế. Tuy nhiên, một số viện nghiên cứu đang làm nghiên cứu về chủ đề lịch sử đó.

Chu Ân Lai: Nhưng các ông đang nghiên cứu vấn đề này trong khi các ông đang tranh đấu chống lại Hoa Kỳ. [Các ông muốn] ám chỉ cái gì?

Chu Ân Lai: Chúng ta nên tận dụng con đường bộ cũng như tuyến đường biển qua ngả Campuchia. Tuy nhiên, tốt nhất là đường mòn Hồ Chí Minh, con đường chạy qua Lào vào miền Nam Việt Nam. Và chúng ta cũng nên tìm những con đường khác. Chúng tôi đồng ý điều mà các ông yêu cầu [liên quan tới] quân tiếp viện của chúng tôi về phòng không, để bảo vệ đường sắt, đường bộ của chúng tôi, và sự giúp đỡ của chúng tôi để xây dựng các con đường giao thông. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng có những hạn chế về điều đó. Lực lượng này không phải là quân tình nguyện chiến đấu của chúng tôi. Họ là lực lượng hậu cần. Do đó, chúng ta có thể từ chối yêu cầu của một số nước gửi quân tình nguyện đến Việt Nam, [nói] rằng các tình nguyện Trung Quốc đã có mặt ở Việt Nam. Nếu nói rằng đã có quân tình nguyện Trung Quốc tại miền Bắc Việt Nam, thì Cuba, Algeria, và Liên Xô, vv…có thể yêu cầu phải có quân tình nguyện của họ tại Việt Nam.

Chu Ân Lai: … chiến lược đã được xác định: tiến hành một cuộc chiến kéo dài ở miền Nam, ngăn chặn các cuộc chiến mở rộng ra miền Bắc và sang Trung Quốc … ý kiến cơ bản của tôi là chúng ta nên kiên nhẫn. Kiên nhẫn đồng nghĩa với chiến thắng. Kiên nhẫn có thể gây nhiều khó khăn hơn, đau khổ hơn cho các ông. Tuy nhiên, trời, đất sẽ không sụp đổ và con người không thể bị tận diệt hoàn toàn. Vì vậy, kiên nhẫn có thể được đền bù bằng chiến thắng, làm thay đổi lịch sử, khuyến khích các nước châu Á, châu Phi, và châu Mỹ Latinh, và làm giảm tầm quan trọng của đế quốc Mỹ.

Chúng tôi đề nghị gửi một số nhân viên quân sự Trung Quốc phục vụ trong đội ngũ cán bộ chỉ huy, hậu cần, hóa học, kỹ thuật, các lực lượng huấn luyện chính trị, tổng số sẽ là 100 người, được tổ chức thành 4 hoặc 5 nhóm, đến miền Nam Việt Nam. Họ có thể đi xa tới tỉnh [Bình] Trị Thiên, Tây Nguyên, các vùng ngoại ô Sài Gòn, hoặc tới trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Ghi chú:

1. Hoàng Tùng (1920-2010), Giám đốc Nhà Xuất bản Sự Thật của Đảng Cộng sản Đông Dương (ICP) trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Là Tổng Biên tập báo Nhân Dân (People’s Daily) từ năm 1951-1982 (có nguồn ghi từ năm 1954-1982: ND), từ năm 1960 là Phó và sau này là Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương Đảng Lao Động VN. Nghỉ hưu vào cuối thập niên 1980.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

14. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Khang Sinh, Lê Duẩn và Nguyễn Duy Trinh 13-04-1966

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Khang Sinh, Lê Duẩn và Nguyễn Duy Trinh

13-04-1966

Mô tả: Trung Quốc nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam, trong khi chỉ ra [những điểm] có vẻ ngờ vực từ phía Việt Nam; Việt Nam dựa vào sự hỗ trợ của Trung Quốc.

Đặng Tiểu Bình: Các ông đã nói về sự thật cũng như đề cập đến sự công bằng. Vậy các ông vẫn còn sợ cái gì? Tại sao các ông lại sợ không làm vừa lòng Liên Xô, vậy còn Trung Quốc thì sao? Tôi muốn nói thẳng với các ông những điều hiện tại tôi cảm nhận: các đồng chí Việt Nam có những suy nghĩ khác về phương pháp giúp đỡ của chúng tôi, nhưng mà các ông chưa nói với chúng tôi.

Tôi nhớ đồng chí Mao phê bình chúng tôi, các viên chức Trung Quốc tham dự buổi nói chuyện giữa đồng chí Mao Trạch Đông và đồng chí Lê Duẩn tại Beidaihe (2) –  về việc “quá nhiệt tình” đối với đòi hỏi của Việt Nam. Bây giờ chúng tôi thấy đồng chí Mao nhìn xa trông rộng.

Lê Duẩn: Bây giờ, khi các ông nói lại điều này lần nữa, chúng tôi đã rõ. Tại thời điểm đó tôi không hiểu những gì đồng chí Mao nói bởi vì thông dịch quá tệ.

Đặng Tiểu Bình: Chúng tôi hiểu rằng đồng chí Mao phê bình chúng tôi, đó là đồng chí Chu Ân Lai, tôi và những người khác. Dĩ nhiên, không có nghĩa là đồng chí Mao không làm hết sức mình để giúp đỡ Việt Nam. Với các ông đã quá rõ là chúng tôi đáp ứng mọi yêu cầu của các ông bởi vì nằm trong khả năng của chúng tôi.

Bây giờ, có vẻ như đồng chí Mao Trạch Đông nhìn xa trông rộng trong vấn đề này. Trong những năm gần đây, chúng tôi có kinh nghiệm trong các mối quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Sự thật là sự quá nhiệt tình của chúng tôi đã gây nghi ngờ cho các đồng chí Việt Nam? Hiện chúng tôi có 130.000 người đang ở nước các ông. Việc xây dựng [căn cứ] quân sự ở Đông Bắc cũng như xây dựng tuyến đường sắt là các dự án mà chúng tôi đề xuất, và hơn nữa, chúng tôi đã gửi hàng chục ngàn quân lính tới biên giới.

Chúng tôi cũng đã thảo luận khả năng chiến đấu chung bất cứ khi nào cuộc chiến bùng nổ. Các ông có nghi ngờ chúng tôi vì chúng tôi quá nhiệt tình hay không? Người Trung Quốc có muốn kiểm soát Việt Nam hay không? Chúng tôi muốn nói thẳng cho các ông biết rằng chúng tôi không hề có ý định đó. Ở đây, chúng tôi không cần bất kỳ cuộc đàm phán ngoại giao nào. Nếu chúng tôi mắc phải sai lầm đã làm cho các ông nghi ngờ, có nghĩa là đồng chí Mao thật sự nhìn xa trông rộng.

Hơn nữa, hiện nay nhiều người làm cho Trung Quốc bị mang tiếng: Khrushchev (*) là người theo chủ nghĩa xét lại, và Trung Quốc thì theo chủ nghĩa giáo điều và mạo hiểm.

Vì vậy, chúng tôi hy vọng trong vấn đề này, nếu các ông có bất kỳ vấn đề gì, làm ơn nói thẳng cho chúng tôi biết. Thái độ của chúng tôi cho đến nay và từ bây giờ sẽ là: các ông đang ở tiền tuyến còn chúng tôi đang ở hậu phương. Chúng tôi đáp ứng mọi yêu cầu của các ông trong khả năng của chúng tôi. Nhưng chúng ta không nên có quá nhiều nhiệt tình.

Việc xây dựng các đảo phía Đông Bắc đã hoàn thành. Hai bên đã thảo luận việc xây dựng dọc bờ biển sẽ do những người lính trong quân đội của chúng tôi thực hiện. Gần đây, đồng chí Văn Tiến Dũng (3) đề nghị sau khi hoàn thành việc xây dựng ở phía Đông Bắc, binh lính của chúng tôi sẽ giúp các ông xây dựng các địa điểm pháo binh ở vùng trung tâm đồng bằng. Chúng tôi vẫn chưa trả lời. Bây giờ tôi đặt một câu hỏi để các ông cân nhắc: các ông có cần những người lính trong quân đội chúng tôi làm điều đó hay không?

Chu Ân Lai: [Đề nghị về] việc xây dựng 45 địa điểm pháo binh gần các vị trí tên lửa của Liên Xô.
Đặng Tiểu Bình: Chúng tôi không biết liệu có tốt cho mối quan hệ giữa hai đảng và hai nước hay không khi chúng tôi đã gửi 100.000 quân đến Việt Nam. Cá nhân, tôi nghĩ sẽ tốt hơn cho những người lính trong quân đội của chúng tôi trở về nhà ngay sau khi họ hoàn thành công việc. Về vấn đề này, chúng tôi không có bất kỳ ý định xấu nào, nhưng kết quả không phải là điều mà cả hai nước muốn.

Cách đây không lâu, có một chuyện đã xảy ra mà chúng tôi nghĩ không phải là ngẫu nhiên: Trên đường đến Hòn Gai để lấy than đá, một con tàu Trung Quốc đã không được phép cập cảng. Nó đã ở ngoài khơi 4 ngày. Yêu cầu để gọi vào bờ bị từ chối. Con tàu này đang thi hành nhiệm vụ theo một thỏa thuận thương mại, không phải là một tàu chiến.

Lê Duẩn: Chúng tôi không biết điều này.

Đặng Tiểu Bình: Bộ ngoại giao của chúng tôi đã gửi một thư báo cho các ông, nhưng chính phủ Việt Nam vẫn chưa trả lời. Những chuyện như thế này chưa từng xảy ra trong 10 năm qua.

Chu Ân Lai: Ngay cả tàu Trung Quốc yêu cầu được vào cảng Việt Nam trốn máy bay Mỹ, để được cung cấp nước ngọt và gọi điện thoại cũng bị từ chối. Một trong những cán bộ của chúng tôi, người phụ trách việc mua bán với nước ngoài, sau đó đã thảo luận với các nhà chức trách ở cảng nhiều lần, và sau đó con tàu mới có thể vào cảng của các ông. Các đồng chí phụ trách cảng Cẩm Phả thậm chí nói: đây là chủ quyền của chúng tôi, các ông chỉ có thể vào khi được phép. Khi đó, chúng tôi nói rằng tất cả các tàu và máy bay của Việt Nam có thể vào các cảng và sân bay của Trung Quốc bất cứ lúc nào nếu bị máy bay Mỹ truy đuổi.

Đặng Tiểu Bình: Bây giờ, tôi muốn nói về một khía cạnh khác trong mối quan hệ giữa hai đảng và hai nước. Trong số 100.000 lính Trung Quốc, những người hiện đang ở nước các ông, có thể có người nào đó làm sai. Và về phía các ông, cũng có thể có những người muốn sử dụng những sự cố này để gây chia rẽ giữa hai đảng và hai nước.

Chúng ta nên thẳng thắn nói về vấn đề này bây giờ bởi vì điều này không chỉ là mảng tối, mà còn gây thiệt hại cho quan hệ của chúng ta. Nó không chỉ là những vấn đề liên quan đến sự đánh giá của chúng tôi về sự trợ giúp của Liên Xô. Các ông có nghi ngờ Trung Quốc giúp Việt Nam vì mục đích riêng? Chúng tôi hy vọng rằng các ông có thể nói trực tiếp cho chúng tôi biết nếu các ông muốn chúng tôi giúp đỡ. Vấn đề sẽ được giải quyết dễ dàng. Chúng tôi sẽ rút quân ngay lập tức. Chúng tôi có rất nhiều điều cần làm ở Trung Quốc. Và những người lính trong quân đội đóng quân dọc theo biên giới sẽ được lệnh quay trở về đại lục (4).

Lê Duẩn: Tôi xin trình bày một số ý. Khó khăn là sự phán đoán của chúng ta khác nhau. Theo kinh nghiệm trong Đảng của chúng tôi cho thấy, cần có thời gian để làm cho các ý kiến khác nhau đi đến sự đồng thuận.

Chúng ta không nói chuyện công khai về các ý kiến khác nhau giữa chúng ta. Chúng tôi chắc rằng sự hỗ trợ của Liên Xô cho Việt Nam một phần là chân thành, cho nên chúng tôi không hỏi liệu Liên Xô sẽ bán đứng Việt Nam, cũng như chúng tôi không nói Liên Xô vu cáo Trung Quốc trong vấn đề vận chuyển viện trợ của Liên Xô. Bởi vì chúng tôi biết rằng nếu chúng tôi nói điều này, vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn. Đó là do hoàn cảnh của chúng tôi.

Vấn đề chính là đánh giá Liên Xô như thế nào. Các ông đang nói Liên Xô đang bán đứng Việt Nam, nhưng chúng tôi không nghĩ như vậy. Tất cả các vấn đề khác bắt nguồn từ sự phán đoán này. Liên quan đến sự trợ giúp của Trung Quốc cho Việt Nam, chúng tôi hiểu rất rõ và chúng tôi không có bất kỳ mối quan ngại về điều đó. Bây giờ đang có hơn 100.000 quân lính của quân đội Trung Quốc tại Việt Nam, nhưng chúng tôi nghĩ rằng bất cứ khi nào có chuyện nghiêm trọng xảy ra, có thể cần hơn 500.000 lính. Đây là sự hỗ trợ từ một đất nước anh em.

Chúng tôi nghĩ rằng là một đất nước xã hội chủ nghĩa anh em, các ông có thể làm điều đó, các ông có thể giúp chúng tôi như thế. Tôi đã có một cuộc tranh cãi với Khrushchev về một vấn đề tương tự. Khrushchev nói rằng người Việt Nam ủng hộ Trung Quốc sở hữu bom nguyên tử để Trung Quốc có thể tấn công Liên Xô. Tôi nói rằng điều đó không đúng sự thật, Trung Quốc sẽ không bao giờ tấn công Liên Xô.

Hôm nay, tôi nói rằng sự đánh giá của một đất nước xã hội chủ nghĩa đối với một đất nước xã hội chủ nghĩa khác phải dựa trên chủ nghĩa quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp của chúng tôi, [nếu] cuộc cách mạng Trung Quốc không thành công, thì cách mạng Việt Nam khó có thể thành công. Chúng tôi cần sự hỗ trợ từ tất cả các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng chúng tôi chắc rằng sự hỗ trợ của Trung Quốc là trực tiếp và rộng rãi nhất.

Như các ông đã nói, mỗi quốc gia nên tự bảo vệ mình nhưng họ cũng nên dựa vào sự trợ giúp quốc tế. Vì vậy, chúng tôi không bao giờ nghĩ rằng sự nhiệt tình của các ông có thể gây nguy hại trong bất kỳ tình huống nào. Ngược lại, các ông càng nhiệt tình sẽ càng có lợi cho chúng tôi. Sự giúp đỡ nhiệt tình của các ông có thể giúp chúng tôi đỡ hy sinh 2-3 triệu người. Đây là một vấn đề quan trọng. Chúng tôi đánh giá cao sự nhiệt tình của các ông. Một đất nước nhỏ như Việt Nam rất cần sự trợ giúp quốc tế. Sự trợ giúp này tiết kiệm cho chúng tôi rất nhiều xương máu.

Các mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ tồn tại không chỉ trong cuộc chiến tranh chống Mỹ mà còn trong tương lai lâu dài ở phía trước. Ngay cả khi Trung Quốc không giúp chúng tôi nhiều, chúng tôi vẫn muốn duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc, vì điều này bảo đảm cho sự sống còn của đất nước chúng tôi.

Đối với Liên Xô, chúng tôi vẫn duy trì mối quan hệ tốt đẹp với họ. Nhưng chúng tôi cũng chỉ trích Liên Xô nếu họ tiếp nhận những lời chỉ trích của chúng tôi.

Trong quan hệ giữa hai đảng chúng ta, chúng tôi cảm thấy tốt hơn khi có nhiều sự đồng thuận và chúng tôi lo ngại nhiều hơn khi có ít sự đồng thuận. Chúng tôi quan tâm không chỉ về sự trợ giúp của các ông mà còn quan tâm đến một vấn đề quan trọng hơn, đó là quan hệ giữa hai nước. Ủy ban Thường vụ Trung ương Đảng của chúng tôi luôn luôn nghĩ đến việc làm thế nào để tăng cường quan hệ hữu nghị giữa hai đảng và hai nước.

Về sự cố tàu Trung Quốc gặp khó khăn khi vào cảng Việt Nam, tôi không biết vấn đề này. Chúng tôi không quan tâm đến 130.000 quân lính của các ông ở đất nước chúng tôi, thì tại sao chúng tôi lại quan tâm đến một con tàu? Nếu đó là sai lầm của người phụ trách cảng, người này cũng có thể là một viên chức tiêu cực cố gây kích động. Hoặc sai lầm của người này có thể được những kẻ khiêu khích khác sử dụng. Đó là một sai lầm cá nhân. Điều chúng tôi nghĩ về Trung Quốc không bao giờ thay đổi.

Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi cần phải có một nghĩa vụ đối với các ông và đối với phong trào Cộng sản quốc tế. Chúng tôi tiếp tục đấu tranh chống Mỹ cho đến thắng lợi cuối cùng. Chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản. Vì lợi ích của phong trào cộng sản quốc tế và tinh thần quốc tế, chẳng có vấn đề gì nếu quá trình phát triển xã hội chủ nghĩa ở miền Nam Việt Nam kéo dài trong 30-40 năm.

Tôi muốn nói thêm một số ý kiến riêng của tôi. Hiện nay, có một phong trào cải cách tương đối mạnh mẽ trên thế giới, không chỉ ở Tây Âu mà còn ở Đông Âu và Liên Xô. Nhiều quốc gia áp dụng một trong hai con đường: chủ nghĩa cải cách hay chủ nghĩa phát xít, là những nước bị giai cấp tư sản cai trị. Vì vậy, tôi nghĩ rằng nên có một số nước cách mạng như Trung Quốc để đối phó với các nước cải cách, chỉ trích họ, và đồng thời hợp tác với họ, để đưa họ vào con đường cách mạng.

Họ là những nhà cải cách, do đó một mặt, họ phản cách mạng, đó là lý do tại sao chúng ta nên phê bình họ. Nhưng mặt khác, họ chống đế quốc, đó là lý do tại sao chúng ta có thể hợp tác với họ. Trong lịch sử cách mạng Trung Quốc, các ông đã làm điều tương tự. Đồng chí Mao Trạch Đông đã cùng với Tưởng Giới Thạch thành lập Mặt trận Thống nhất chống Nhật.

Vì vậy, ý kiến cá nhân tôi là, Trung Quốc, trong khi giữ nguyên các biểu ngữ cách mạng, nên hợp tác với các quốc gia cải cách để giúp họ thực hiện cuộc cách mạng. Đây là phán đoán cũng như chính sách của chúng tôi. Điều này không nhất thiết đúng, nhưng đó là cam kết chân thành của chúng tôi với cách mạng. Dĩ nhiên, vấn đề này rất phức tạp. Như các ông đã nói rằng, ngay cả trong một đảng cũng có ba thành phần: hữu khuynh, trung dung và tả khuynh, nên tình hình nằm trong một phong trào cộng sản lớn.
Sự khác biệt trong phán đoán mang lại những khó khăn, cần có thời gian để giải quyết. Cần có thêm nhiều mối liên hệ để đạt được sự đồng thuận về nhận thức.

Mối quan tâm của chúng tôi không phải là Trung Quốc đang cố gắng kiểm soát Việt Nam. Nếu Trung Quốc không phải là một đất nước xã hội chủ nghĩa thì chúng tôi thực sự quan ngại. [Chúng tôi tin rằng] các đồng chí Trung Quốc đến để giúp chúng tôi là vì chủ nghĩa quốc tế vô sản.

……….

Đặng Tiểu Bình: Câu hỏi về “sự nhiệt tình”, làm ơn hiểu thêm yêu cầu của Mao Chủ tịch muốn nói đến thực tế mối quan hệ giữa hai nước và hai đảng không đơn giản. Mối quan hệ giữa các đồng chí cũng không đơn giản.

Ghi chú:

1. Khang Sinh: lúc đó là ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Đảng Cộng sản và là Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong giai đoạn đầu Cách mạng Văn hóa, ông ta sớm trở thành Ủy viên Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc và là cố vấn cho “Nhóm Cách mạng Văn hóa,” cơ quan hàng đầu trong cuộc Cách mạng Văn hóa.

2. Beidaihe: là một nơi tham quan ven biển phía Đông Bắc của Bắc Kinh, nơi các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc thường xuyên nghỉ mát và có các cuộc họp quan trọng trong mùa hè.

3. Văn Tiến Dũng (1917 -) (**) là nhân vật lãnh đạo thứ hai trong quân đội Bắc Việt, sau tướng Võ Nguyên Giáp. Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1953-1978, chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1974-1975. Ông còn là ủy viên Bộ chính trị từ năm 1972-86, Phó Bộ trưởng cho đến khi trở thành Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa XHCN Việt Nam từ năm 1978-1980. Nghỉ hưu năm 1986.

4. Trong một cuộc trò chuyện riêng cùng ngày, Chu Ân Lai nói: “Sau khi Kosygin (***) đến thăm Việt Nam và hứa sẽ giúp đỡ Việt Nam, chúng tôi có những bất đồng mới với Liên Xô về yêu cầu của họ sử dụng hai sân bay của chúng tôi và đề nghị của họ vận chuyển vũ khí tới Việt Nam. Các ông ca ngợi Liên Xô giúp viện trợ rất nhiều cho các ông thì được. Nhưng mà các ông đề cập điều đó cùng với viện trợ của Trung Quốc là một sự xúc phạm đến chúng tôi“. Đặng Tiểu Bình nói thêm, “Vì vậy, từ bây giờ, các ông không nên nhắc đến sự viện trợ của Trung Quốc chung với sự viện trợ của Liên Xô“.

———-

Ghi chú của người dịch:

(*) Khrushchev: tức Nikita Sergeyevich Khrushchyov, là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, kế vị Stalin sau khi Stalin mất năm 1953. Khrushchev cũng giữ chức thủ tướng cùng với chức TBT từ năm 1958-1964. Đến năm 1964 Khrushchev bị chính những người đồng chí của mình hạ bệ, kể từ đó cho đến những năm còn lại của cuộc đời, Khrushchev luôn bị cơ quan tình báo KGB giám sát chặt chẽ.

(**) Bài nói chuyện này có từ năm 1966, lúc đó Văn Tiến Dũng còn sống, do đó người ghi chú bản chính không ghi năm mất của Văn Tiến Dũng là 2002.

(***) Kosygin: tức Aleksei Nikolayevich Kosygin là Thủ tướng Liên Xô từ năm 1964-1980, dưới thời Tổng bí thư Leonid Brezhnev.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

13. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Lê Duẩn 23-03-1966

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Lê Duẩn

23-03-1966

Mô tả: Chu Ân Lai cảnh báo Lê Duẩn, chống lại sự giúp đỡ của Liên Xô.

Chu Ân Lai: Hiện nay, người dân Việt Nam đang đi đầu trong cuộc đấu tranh chống Mỹ. Máu của nhân dân Việt Nam đã đổ ra cho cách mạng Việt Nam cũng như cho công cuộc cách mạng thế giới. Việt Nam là nước đi đầu, đại diện cho công cuộc cách mạng của nhân dân trên thế giới.


Chu Ân Lai: Đã có một số thay đổi đáng kể từ năm ngoái khi miền Bắc Việt Nam bắt đầu các cuộc đàm phán với Mỹ. Chúng tôi nên nói thẳng cho ông biết rằng những thay đổi bắt đầu từ khi lãnh đạo mới của Xô Viết lên nắm quyền, đặc biệt là sau chuyến thăm của Kosygin tới Vietnam (2). Sau khi Kosygin từ Hà Nội trở về, Liên Xô sử dụng viện trợ của họ cho Việt Nam để lấy lòng tin của các ông một cách gian dối. Mục đích của họ là làm cho mối quan hệ Việt – Trung gặp trở ngại, để chia rẽ giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhằm tiếp tục kiểm soát Việt Nam để cải thiện mối quan hệ của họ với Mỹ và cản trở cuộc đấu tranh và công cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam.

Chu Ân Lai: Có nhiều tranh cãi liên quan đến các yêu cầu của Việt Nam về các phi công tình nguyện viên từ các nước xã hội chủ nghĩa. Các ông sẽ gặp rắc rối. Liên Xô có thể tiết lộ bí mật cho kẻ thù. Do đó chúng tôi nghĩ rằng các hoạt động chung giữa những người tình nguyện là không thể được. Hơn nữa, ngay cả khi những người tình nguyện này chịu nghe theo lệnh của các ông, những người Xô-viết sẽ luôn có ý kiến ​​trái ngược nhau. Cái lợi mà các ông nhận được từ các phi công Liên Xô không đủ đền bù thiệt hại do họ gây ra.

Chu Ân Lai: Liên quan đến việc thành lập mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, chúng tôi muốn các mối liên hệ song phương hoặc đa phương. Điều đó tốt bởi vì chúng ta có thể thảo luận chi tiết. Chúng tôi cho rằng việc phản đối Mỹ nhất thiết phải đi đôi với việc chống chủ nghĩa xét lại. Hai điều này không thể tách rời nhau. Nếu không, không thể giáo dục mọi người.

Ghi chú:

1. Phái đoàn Việt Nam do Lê Duẩn dẫn đầu, viếng thăm Trung Quốc từ ngày 22 đến ngày 25 tháng 3 năm 1966.

2. Thủ tướng Liên xô, Aleksei Kosygin, viếng thăm Việt Nam từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 2 năm 1965.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

10. Thảo luận giữa Trần Nghị và Nguyễn Duy Trinh 17-12-1965

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Trần Nghị và Nguyễn Duy Trinh

17-12-1965

Mô tả: Trần Nghị ủng hộ việc sử dụng đàm phán song song với chiến đấu.

Trần Nghị: Chúng tôi hoàn toàn hiểu rằng các ông quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng và để vạch trần bộ mặt thật của kẻ thù. Cá nhân tôi nghĩ rằng chính sách này là đúng đắn và tôi đồng ý với các ông.

Trong lịch sử của cuộc cách mạng Trung Quốc, cũng như trong lịch sử đấu tranh của Việt Nam, chiến đấu trong khi đàm phán đã diễn ra trong một giai đoạn nào đó. Chúng ta chiến đấu chống kẻ thù và khi chúng ta đạt được các giai đoạn nhất định, chúng ta bắt đầu đàm phán. Mục đích là để vạch mặt kẻ thù. Đúng vậy. Cho đến giờ, chúng tôi cho rằng cuộc chiến Việt Nam cuối cùng sẽ giành chiến thắng và một kết cục hòa bình. Hai đảng chúng ta thống nhất rằng, không có dấu hiệu nào cho thấy Hoa Kỳ muốn có hòa bình. Họ chỉ muốn mở các cuộc đàm phán để đánh lừa dư luận. Chúng ta cũng mở cuộc đấu tranh chính trị để vạch mặt họ. Nếu họ muốn đàm phán, lúc đó chúng ta sẽ nói chuyện. Đây là ý kiến ​​cá nhân của tôi.

Ghi chú:

1. Nguyễn Duy Trinh (1910-1985), là lãnh đạo Đảng CS Đông Dương/ Đảng Lao Động VN liên khu 5 (khu vực phía Nam miền Trung, Việt Nam) thời Chiến tranh Đông Dương. Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Bắc Việt cho đến năm 1965, Bộ trưởng Ngoại giao và Ủy viên Bộ Chính trị từ năm 1965-1979 (có nguồn ghi đến năm 1982).

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

9. Mao Trạch Đông nói chuyện với đoàn đại biểu của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 20-10-1965

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Mao Trạch Đông nói chuyện với đoàn đại biểu của Đảng và Nhà nước Việt Nam DCCH

20-10-1965

Các ông đang đánh một trận đánh tuyệt vời. Cả hai miền Nam – Bắc đang chiến đấu anh dũng. Người dân trên toàn thế giới, gồm những người đã thức tỉnh và những người chưa thức tỉnh, đang hỗ trợ các ông. Thế giới hiện nay không phải là một thế giới hòa bình. Không phải người Việt Nam đang xâm lược Hoa Kỳ, cũng không phải người Trung Quốc đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược chống lại Mỹ.

Cách nay không lâu, báo Nhật, Asahi Shimbun và Yomiuri Shimbun đã đăng tải một số tin tức của phóng viên Nhật từ miền Nam, Việt Nam. Báo chí Mỹ mô tả những bài báo này không công bằng, nên gây ra một cuộc tranh luận. Tôi không đề cập đến báo Cộng sản Nhật Bản, tờ Akahata. Tôi đang nói về những tờ báo tư sản Nhật. Điều này cho thấy phương tiện truyền thông không ủng hộ Hoa Kỳ. Gần đây, các cuộc biểu tình của người Mỹ chống lại chính sách Việt Nam của chính phủ Mỹ đã phát triển. Lúc này, chủ yếu là trí thức Mỹ đang gây rắc rối.

Nhưng tất cả những điều này là các điều kiện bên ngoài. Thực ra, trận đánh mà các ông đang đánh sẽ giải quyết vấn đề. Dĩ nhiên, các ông có thể tiến hành đàm phán. Trong quá khứ, các ông đã tổ chức các cuộc đàm phán ở Geneva. Nhưng Mỹ đã không tôn trọng lời hứa sau các cuộc đàm phán.

Chúng tôi đã có các cuộc đàm phán với cả Tưởng Giới Thạch và Hoa Kỳ. Ông Rusk (*) nói rằng Hoa Kỳ đàm phán với Trung Quốc nhiều nhất. Nhưng chúng tôi bám sát vào một điểm: Hoa Kỳ phải rút khỏi Đài Loan, và sau đó tất cả các vấn đề khác có thể giải quyết dễ dàng. Hoa Kỳ không chấp nhận điểm này. Trung Quốc và Hoa Kỳ đã điều đình trong mười năm và chúng tôi vẫn lặp lại những lời nói cũ. Chúng tôi sẽ không từ bỏ quan điểm đó. Một lần, Hoa Kỳ muốn trao đổi phái đoàn báo chí với chúng tôi. Họ lập luận rằng, khi chúng ta bắt đầu từ các vấn đề nhỏ, chúng ta có thể giải quyết những vấn đề lớn tốt hơn sau này. Chúng tôi lập luận rằng chỉ có cách bắt đầu bằng các vấn đề quan trọng, các vấn đề nhỏ có thể giải quyết dễ dàng.

Các ông đã rút các lực lượng vũ trang ra khỏi miền Nam theo quy định của Hiệp định Geneva. Kết quả là, kẻ thù bắt đầu giết người ở miền Nam, và các ông đã trở lại đấu tranh vũ trang. Lúc đầu các ông ưu tiên đấu tranh chính trị, bổ sung bằng đấu tranh vũ trang. Chúng tôi hỗ trợ các ông. Trong giai đoạn hai, khi các ông tiến hành đấu tranh chính trị song song với đấu tranh vũ trang, một lần nữa chúng tôi hỗ trợ các ông. Trong giai đoạn ba, khi các ông ưu tiên đấu tranh vũ trang, bổ sung bằng đấu tranh chính trị, chúng tôi vẫn hỗ trợ các ông. Quan điểm của tôi, kẻ thù đang dần dần leo thang chiến tranh, các ông cũng vậy.

Trong 2-3 năm kế tiếp, các ông có thể gặp khó khăn. Nhưng cũng khó có thể nói, có thể không như thế. Chúng ta cần cân nhắc khả năng này. Miễn là các ông chuẩn bị mọi thứ, ngay cả khi tình huống khó khăn nhất xảy ra, các ông sẽ không thấy nó đi quá xa những cân nhắc ban đầu của các ông. Lập luận như thế có tốt không? Do đó, có hai điểm quan trọng: thứ nhất là cố gắng để có được tình hình thuận lợi nhất, và thứ hai là chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất.

Các ông có thể tham khảo kinh nghiệm của Angiêri. Có thể trong năm thứ tư hoặc thứ năm trong cuộc chiến của họ, một số nhà lãnh đạo Angiêri bắt đầu lo lắng. Lúc đó, Thủ tướng Arbas của họ đến nói chuyện với chúng tôi. Họ nói rằng, dân số Angêri mười triệu người, rất ít. Một triệu người đã chết. Trong khi kẻ thù có một đội quân 800.000 lính, các lực lượng thường xuyên của họ (Angiêri) chỉ khoảng 30.000 đến 40.000 lính. Thêm các du kích quân, tổng cộng lực lượng của họ chưa tới 100.000 quân.

Lúc đó, tôi nói với họ rằng kẻ thù sắp bị đánh bại và rằng dân số của họ sẽ tăng lên. Sau đó, sau các cuộc đàm phán, Pháp bắt đầu rút quân. Bây giờ họ đã hoàn thành việc rút quân, chỉ để lại một vài căn cứ hải quân nhỏ. Cách mạng Angiêri là một cuộc cách mạng dân chủ quốc gia do giai cấp tư sản lãnh đạo. Hai đảng của chúng ta là cộng sản. Về việc huy động quần chúng và thực hiện chiến tranh nhân dân, hai đảng chúng ta khác với Algêri.

Tôi đã nói chuyện về chiến tranh nhân dân trong bài viết của tôi. Một số tuyên bố đề cập đến các vấn đề cụ thể hồi 10-20 năm trước. Bây giờ, các ông đương đầu với một số điều kiện mới. Nhiều phương pháp của các ông khác với phương pháp của chúng tôi trong quá khứ. Chúng ta nên có sự khác biệt. Dần dần chúng ta cũng được học về chiến tranh. Lúc đầu chúng tôi bị thua. Chúng tôi đã không thực hiện một cách trôi chảy như các ông thực hiện.

Tôi không chú ý đến những vấn đề mà các ông đã đàm phán với Hoa Kỳ. Tôi chỉ chú ý đến việc các ông đánh đuổi Mỹ như thế nào. Các ông có thể đàm phán ở một thời điểm nhất định, nhưng các ông không nên hạ mình. Các ông nên lên giọng hơn một chút. Hãy chuẩn bị, đối phương có thể đánh lừa các ông.

Chúng tôi sẽ hỗ trợ các ông cho đến thắng lợi cuối cùng. Sự tự tin trong chiến thắng đến từ đấu tranh mà các ông đã hoàn thành và từ cuộc đấu tranh các ông đã thực hiện. Ví dụ, một kinh nghiệm chúng tôi có được rằng người Mỹ có thể bị đánh. Chúng tôi có được kinh nghiệm này chỉ sau khi đánh nhau với người Mỹ. Người Mỹ có thể bị đánh và có thể bị bại. Chúng ta phải phá hủy huyền thoại rằng người Mỹ không thể bị đánh và không thể bị bại trận. Hai đảng chúng ta có nhiều kinh nghiệm. Cả hai nước chúng ta đã chiến đấu với Nhật Bản. Các ông cũng đã chiến đấu chống Pháp. Hiện các ông đang chiến đấu chống Mỹ.

Người Mỹ đã huấn luyện và dạy người Việt Nam. Họ đã dạy chúng ta và người dân trên toàn thế giới. Theo tôi, có người Mỹ cũng tốt. Một nhà giáo dục như thế thì không thể thiếu. Để đánh bại Mỹ, chúng ta phải học hỏi từ những người Mỹ. Các tác phẩm của Marx không dạy chúng ta chiến đấu chống Mỹ như thế nào. Sách vở của Lenin cũng không viết về cách chiến đấu chống Mỹ. Chủ yếu chúng ta học từ những người Mỹ.

Nhân dân Trung Quốc và nhân dân trên toàn thế giới hỗ trợ các ông. Càng có nhiều bạn, thì càng tốt hơn cho các ông.

Nguồn: Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung tâm Nghiên cứu Tài liệu Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao Zedong Waijiao wenxuan – Tuyển tập các tác phẩm ngoại giao của Mao Trạch Đông (Beijing: Central Documentary Press and World Knowledge Press 1994), trang 570 -573.

Đoàn đại biểu Việt Nam do Phạm Văn Đồng dẫn đầu.

Ghi chú của người dịch:

(*) Rusk: tức David Dean Rusk, Ngoại trưởng Mỹ nhiệm kỳ 1961-1969, dưới thời tổng thống Kennedy và Johnson.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

8. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 09-10-1965

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng

09-10-1965

Mô tả: Chu Ân Lai nói với Phạm Văn Đồng rằng [ông ta] không hỗ trợ ý kiến về các tình nguyện viên Liên Xô đến Việt Nam và thảo luận về sự tham gia của Campuchia trong chiến tranh.

Chu Ân Lai: … Trong thời kỳ Khrushchev nắm quyền, Liên Xô không thể chia rẽ chúng ta vì Khrushchev đã không giúp các ông nhiều. Bây giờ Liên Xô đang giúp các ông. Nhưng sự giúp đỡ của họ không phải thật lòng. Mỹ rất thích điều này. Tôi muốn nói cho ông biết ý kiến ​​của tôi. Tốt hơn là không cần sự trợ giúp của Liên Xô. Đây có thể là ý kiến của những người cánh tả quá khích. Tuy nhiên, đó là ý của tôi, không phải của Trung ương ĐCS Trung Quốc.

… Bây giờ, vấn đề các tình nguyện viên quốc tế đến Việt Nam sẽ rất phức tạp. Nhưng như ông đã đề cập đến vấn đề này, chúng ta sẽ thảo luận và lúc đó ông có thể đưa ra quyết định của mình.

Như ông hỏi ý kiến ​​của tôi, tôi muốn nói với ông một điều sau đây: Tôi không ủng hộ ý kiến về các tình nguyện viên của Liên Xô đến Việt Nam, tôi cũng không [ủng hộ] sự viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam. Tôi nghĩ không có viện trợ thì tốt hơn. Đó là ý kiến ​​của riêng tôi, không phải ý kiến ​​của Trung ương Đảng. Đồng chí Bành Chân và La Thụy Khanh (2) có mặt ở đây hôm nay cũng đồng ý với tôi.

[Đối với] Việt Nam, chúng tôi luôn muốn giúp đỡ. Trong tâm trí của chúng tôi, suy nghĩ của chúng tôi, chúng tôi không bao giờ nghĩ đến việc bán đứng Việt Nam. Nhưng chúng tôi luôn sợ những người theo chủ nghĩa xét lại đứng giữa chúng ta (3).

Chu Ân Lai: … chiến tranh đã mở rộng ra ở miền Bắc Việt Nam. Do đó, Lào và Campuchia không thể không tham gia. Sihanouk hiểu điều đó. Khi chúng tôi đang đi tham quan ở Dương Tử, tôi hỏi ông ấy, làm thế nào đối phó với tình trạng này và liệu ông ấy có cần vũ khí hay không. Hiện nay, Trung Quốc đã cung cấp cho Campuchia 28.000 khẩu súng. Sihanouk nói với tôi rằng số lượng này đủ để trang bị cho các lực lượng thường xuyên và cấp tỉnh của Campuchia và rằng tất cả vũ khí của Mỹ đã được thay thế.

Tôi cũng hỏi ông ta xem liệu ông ta có cần thêm vũ khí không. Sihanouk trả lời rằng, bởi vì ông ấy không có đủ khả năng để gia tăng số quân, các loại vũ khí này đã đủ. Ông ấy chỉ yêu cầu máy bay chống pháo và vũ khí chống tăng.

Đó là những gì ông ấy trả lời câu hỏi của tôi về vũ khí. Ông ấy cũng nói thêm rằng nếu chiến tranh bùng nổ, ông ấy sẽ rời khỏi Phnom Penh, đến các vùng nông thôn, nơi ông ấy đã xây dựng các căn cứ. Năm ngoái, Chủ tịch Lưu [Thiếu Kỳ] nói với Sihanouk: “đánh nhau quy mô lớn ở nước ông không bằng [đánh nhau] ở biên giới của chúng tôi“. Nếu Hoa Kỳ tấn công dọc biên giới Trung Quốc, Trung Quốc sẽ đưa các lực lượng tới đó, do vậy, làm giảm gánh nặng cho Campuchia. Bây giờ Sihanouk đã hiểu và chuẩn bị để về nông thôn và để lấy lại các vùng thành thị khi có điều kiện thuận lợi. Đó là những gì ông ấy nghĩ. Tuy nhiên, liệu các cán bộ của ông ta có thể thực hiện chính sách này hay không, lại là chuyện khác.

Những thay đổi về tình hình này cho thấy rằng, Sihanouk đã chuẩn bị để hành động trong trường hợp có một cuộc xâm lược của Mỹ. Hiện nay, Sihanouk hỗ trợ mạnh mẽ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, bởi vì ông ta biết rằng các ông càng chiến đấu chống Mỹ thì dân Campuchia càng bớt gặp khó khăn hơn. Hơn nữa, Sihanouk hiểu rằng ông ta cần Trung Quốc. Nhưng cùng lúc, Sihanouk không muốn đứng về phía bên nào, bởi vì ông ta sợ mất sự hỗ trợ của Pháp, làm mất vị trí trung lập của ông ta. Ít ra, những gì ông ta nói, cho thấy, ông ta có vẻ suy nghĩ và hiểu được tính logic của chiến tranh: nếu Hoa Kỳ mở rộng chiến tranh tới Bắc Việt, thì Hoa Kỳ sẽ mở rộng khắp nơi Đông Dương (4).

Ghi chú:

1. Phạm Văn Đồng nói chuyện với Chu Ân Lai tại Bắc Kinh trước khi đi thăm Moscow. Đây là cuộc họp thứ ba của phái đoàn Việt Nam tại Bắc Kinh.

2. La Thụy Khanh là Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng và là Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc cho đến khi bị thanh trừng vào tháng 12 năm 1965.

3. Trong cuộc hội đàm tổ chức tại Quảng Đông, ngày 8 tháng 11 năm 1965, Chu Ân Lai nói với Hồ Chí Minh rằng, “Mục đích của Liên Xô viện trợ cho Việt Nam là: (a) để cô lập Trung Quốc (b) cải thiện quan hệ Xô-Mỹ, (c) tiến hành các hoạt động lật đổ cũng như hành vi phá hoại, gây khó khăn cho Trung Quốc, và cũng có thể cho Việt Nam”.

4. Buổi nói chuyện này được xem như mối quan hệ tam giác giữa ĐCS Trung Quốc, Việt Nam, và Campuchia. Pol Pot (1923-1998) trở thành Tổng Bí thư Đảng Lao động Campuchia hồi năm 1963 (sau đó đổi tên thành Đảng Cộng sản Campuchia, và nói chung được gọi là Khơ-me đỏ), đã đến Hà Nội vào tháng 6 năm 1965 và đi đến Bắc Kinh vào cuối năm 1965. Ông ta đã gặp các nhà lãnh đạo đảng lỗi lạc của hai nước. Các bất đồng nghiêm trọng đã nảy sinh giữa ông ta và Lê Duẩn ở Hà Nội: Xem thên Thomas Engelbert và Christopher E. Goscha, “Falling Out Of Touch: Một nghiên cứu chính sách Cộng sản Việt Nam về một phong trào Cộng sản Campuchia đang trỗi dậy, 1930-1975” (Clayton, Victoria, Australia: Đại học Monash , 1995); và David Chandler, “Brother Number One: Tiểu sử chính trị của Pol Pot” (Boulder, CO: Westview, 1992), trang 73-77.

Trong giai đoạn này, Pol Pot muốn đấu tranh vũ trang ở Campuchia, nhưng tại thời điểm này cả Việt Nam và Trung Quốc luôn muốn tránh bất kỳ cuộc đấu tranh nào chống lại Sihanouk. Họ muốn thấy Sihanouk tiếp tục chính sách trung lập của ông ta hơn, và nếu Hoa Kỳ can thiệp vào Campuchia, họ hy vọng rằng Sihanouk và những người cộng sản Campuchia sẽ tham gia lực lượng.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

7. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Hoàng Văn Hoan 16-07-1965

Posted by adminbasam on 29/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Hoàng Văn Hoan

16-07-1965

Mô tả: Mao Trạch Đông khuyên Hoàng Văn Hoan leo thang [chiến tranh] mà không cần do dự, khi chiến tranh đã bắt đầu như thế.

Mao Trạch Đông: … Tất cả chúng ta đều tin tưởng vào Hiệp Định Genève, nhưng kẻ thù đã không tôn trọng. Sau khi các ông tập hợp quân đội, họ bắt đầu giết người. Họ giết người ở miền Nam để dạy cho những người này một bài học. Lúc đầu, phương châm của chúng ta chủ yếu là đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự chỉ là thứ yếu. Sau đó, đấu tranh chính trị và quân sự như nhau. Và sau này là đấu tranh quân sự sẽ là chính, đấu tranh chính trị sẽ hỗ trợ cho đấu tranh quân sự. Do vậy, chúng ta cũng leo thang từng bước.

Lúc đầu, chúng ta tiêu diệt một trung đội và sau đó một đại đội. Sau đó chúng ta tiêu diệt một tiểu đoàn và một hoặc hai trung đoàn. Bằng cách đó, chúng ta có thể tiêu diệt 4-5 tiểu đoàn trong mỗi chiến dịch. Chúng ta nên leo thang và chúng ta nên biết leo thang từng bước bằng cách nào.

Ghi chú:

Hoàng Văn Hoan đứng đầu đoàn đại biểu Quốc hội Bắc Việt tới Trung Quốc.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

6. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình và Hồ Chí Minh 17-05-1965

Posted by adminbasam on 29/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai,

Đặng Tiểu Bình và Hồ Chí Minh

 17-05-1965

Mô tả: Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình đề nghị, thay mặt Bắc Việt trừng phạt những người theo chủ nghĩa xét lại của Liên Xô.

Chu Ân Lai: [Về quan hệ Việt – Xô], những người theo chủ nghĩa xét lại của Liên Xô muốn Bắc Việt đàm phán với Hoa Kỳ, đặt Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sang một bên và bán đứng những người anh em của mình.

Đặng Tiểu Bình: Những người Liên Xô viện trợ cho các ông vì mục đích riêng của họ … Tóm lại, sự viện trợ của Liên Xô nhằm mục đích phục vụ cho chiến lược của họ. Nếu Việt Nam cảm thấy bất tiện để phơi bày thực tế này, chúng tôi sẽ làm điều đó thay các ông.

Ghi chú:

Đặng Tiểu Bình lúc đó là Tổng Bí thư Trung ương ĐCS Trung Quốc và là Phó Thủ tướng Trung Quốc. Ông ta bị thanh trừng trong giai đoạn đầu của Cách mạng Văn hóa, được phục hồi năm 1973, và bị thanh trừng một lần nữa năm 1976. Sau khi Mao chết hồi tháng 9 năm 1976, ông ta xuất hiện trở lại và trở thành lãnh đạo ưu tú của Trung Quốc.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

5. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh 16-05-1965

Posted by adminbasam on 29/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh

16-05-1965

Mô tả: Hồ Chí Minh yêu cầu Mao Trạch Đông giúp đỡ xây dựng các tuyến đường dọc biên giới miền Nam Việt Nam; Mao đồng ý.

Hồ Chủ tịch: Chúng tôi phải cố gắng xây dựng đường giao thông mới. Chúng tôi đã thảo luận với đồng chí Đào Chú (1) về vấn đề này. Nếu Trung Quốc có thể giúp chúng tôi xây dựng một số tuyến đường ở miền Bắc, gần biên giới với Trung Quốc, chúng tôi sẽ gửi các lực lượng để dành cho công việc này ở miền Nam.

Mao Trạch Đông: Đó là một chính sách hay.

Đào Chú: Tôi đã báo cáo điều đó qua điện thoại với đồng chí Chu Ân Lai. Ông ấy nói: Trung Quốc có thể làm điều đó.

Hồ Chủ tịch: Trước hết, chúng tôi cần Trung Quốc giúp chúng tôi xây dựng 6 tuyến đường từ các khu vực biên giới. Những con đường này chạy qua hậu phương của chúng tôi về phía Nam. Và trong tương lai nó sẽ được kết nối với mặt trận.

Hiện tại, chúng tôi có 30 ngàn người xây dựng các tuyến đường này. Nếu Trung Quốc giúp chúng tôi, những người này sẽ được gửi vào Nam. Đồng thời chúng tôi phải giúp đỡ các đồng chí Lào để xây dựng các tuyến đường từ đường Samneua đến Xiengkhoang và từ Xiengkhoang đến Hạ Lào, và đến miền Nam Việt Nam.

Mao Trạch Đông: Vì chúng tôi sẽ đánh những trận đánh quy mô lớn trong tương lai, sẽ rất tốt nếu chúng tôi xây dựng các tuyến đường tới Thái Lan …

Hồ Chủ tịch: Nếu Mao Chủ tịch đồng ý, Trung Quốc sẽ giúp chúng tôi, chúng tôi sẽ gửi người của chúng tôi vào Nam.

Mao Trạch Đông: Chúng tôi đồng ý theo yêu cầu của ông. Chúng tôi sẽ làm điều đó. Không có vấn đề gì (2).

Ghi chú:

(1) Đào Chú: là Ủy viên Bộ Chính trị và Bí thư Thứ nhất Trung ương ĐCS Trung Hoa – Cục Hoa Nam. Sau này, ông ta bị thanh lọc trong cuộc Cách mạng Văn hóa.

(2)  Vào ngày 13 [tháng 5 năm 1965], tại Hà Nội, Đào Chú đã nói với ông Hồ rằng “Trung ương Đảng và Mao Chủ tịch đã đưa bốn tỉnh biên giới của chúng tôi chịu trách nhiệm làm hậu phương trực tiếp cho Việt Nam. Dĩ nhiên, toàn bộ Trung Quốc là hậu phương của Việt Nam. Nhưng bốn tỉnh này đại diện trực tiếp”.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

4. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Nguyễn Văn Hiếu và Nguyễn Thị Bình 16-05-1965

Posted by adminbasam on 29/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai,

Nguyễn Văn Hiếu và Nguyễn Thị Bình

16-05-1965

Mô tả: Chu Ân Lai nói chuyện với Nguyễn Văn Hiếu và Nguyễn Thị Bình liên quan đến các bước nên thực hiện nếu Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam và mở rộng vào Trung Quốc, so sánh Việt Nam với Triều Tiên.

Chu Ân Lai: Tôi đã có các cuộc hội đàm với ông Ayub Khan khi ông ấy chuẩn bị cho chuyến đi Mỹ theo lời mời gần đây. Tôi nhờ ông ấy nói với Hoa Kỳ bốn điều sau đây. Tôi chắc chắn rằng Hoa Kỳ sẽ hỏi ông ấy rằng Pakistan, có quan hệ tốt với Trung Quốc, có biết ý kiến của Trung Quốc hay không. Lúc đó, ông ấy nên nói với họ những điều này và nói rằng đó là ý kiến ​​của Thủ tướng Trung Quốc.

Điều đầu tiên: Trung Quốc sẽ không bao giờ khởi động một cuộc chiến chống Mỹ. Đài Loan là một ví dụ. Trung Quốc đã có các cuộc đàm phán với Hoa Kỳ trong 10 năm. Chúng tôi kiên định với nguyên tắc, Mỹ nên rút khỏi Đài Loan. Tuy nhiên, Mỹ không đồng ý và vấn đề không thể được giải quyết.

Cần chung sống hòa bình nhưng điều này phải dựa trên 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, chứ không phải vô điều kiện. Hoa Kỳ đã không chấp nhận bởi vì họ không muốn rút khỏi Đài Loan. Vì họ không muốn rút khỏi Đài Loan, điều đó cũng có nghĩa là họ không muốn rút khỏi miền Nam, Việt Nam. Người dân Đài Loan đã không nổi dậy như ở miền Nam Việt Nam. Chúng ta phải tự kiểm điểm những thiếu sót của chúng ta, không hướng dẫn họ nổi dậy.

Điều thứ hai: Những lời lẽ và hành động của Trung Quốc thì nhất quán. Chúng tôi sẽ [đưa quân] vào Việt Nam nếu Việt Nam cần, như chúng tôi đã làm với Triều Tiên.

Điều thứ ba: Bây giờ Trung Quốc đã sẵn sàng. Rõ ràng là các tỉnh giáp biên giới với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sẵn sàng. Toàn bộ Trung Quốc cũng đã sẵn sàng.

Điều thứ tư: Cuộc chiến sẽ không có giới hạn nếu Hoa Kỳ mở rộng vào lãnh thổ Trung Quốc. Mỹ có thể đánh một cuộc chiến trên không. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng có thể đánh một cuộc chiến trên bộ.

Ghi chú:

1. Nguyễn Văn Hiếu (1922-1991) là nhà báo và là Bộ trưởng lưu động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, thực hiện nhiều chuyến đi thiện chí ở nước ngoài. Ông là Tổng thư ký của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam VN từ năm 1961-1963. Năm 1967 là đại sứ danh nghĩa của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam VN ở Campuchia, nhưng được xem như người chịu trách nhiệm về đối ngoại cho Mặt trận Giải phóng. Năm 1976 ông trở thành Bộ trưởng Văn hóa nước CHXHCN Việt Nam.

2. Nguyễn Thị Bình (1927-) là trưởng đại diện của MTDTGPMN tại các cuộc hội đàm Paris từ năm 1968, là Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam từ khi thành lập hồi tháng 6 năm 1969. Dẫn đầu phái đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời trong các cuộc đàm phán bốn bên ở Paris. Bà trở thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục năm 1976, được bầu làm Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đầu thập niên 1990, và tái đắc cử hồi năm 1997.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 1 Comment »

3. Thảo luận giữa Lưu Thiếu Kỳ và Lê Duẩn 08-04-1965

Posted by adminbasam on 29/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Lưu Thiếu Kỳ và Lê Duẩn

08-04-1965

Mô tả: Trung Quốc cung cấp dịch vụ quân sự cho Việt Nam với điều kiện Việt Nam mời họ trước. Việt Nam chấp nhận.

Lê Duẩn: Chúng tôi muốn có một số phi công tình nguyện, lính tình nguyện… và các tình nguyện viên khác, gồm cả các đơn vị kỹ thuật cầu đường.

Lưu Thiếu Kỳ: Chính sách của chúng tôi là, chúng tôi sẽ làm hết sức mình để hỗ trợ các ông. Chúng tôi sẽ cung cấp bất cứ thứ gì các ông cần và chúng tôi có thể giúp các ông trong khả năng của chúng tôi… Nếu các ông không mời chúng tôi, chúng tôi sẽ không đến, và nếu các ông mời một đơn vị quân đội của chúng tôi, chúng tôi sẽ gửi đơn vị đó tới các ông.  Thế chủ động ​​sẽ hoàn toàn thuộc về các ông.

Lê Duẩn: Chúng tôi muốn các phi công tình nguyện Trung Quốc giữ vai trò ở bốn khía cạnh: (1) hạn chế các vụ đánh bom của Mỹ vào các khu vực phía Nam vĩ tuyến 19 hoặc 20; (2) bảo vệ sự an toàn cho Hà Nội, (3) bảo vệ một số đường giao thông chính, và (4) nâng cao tinh thần nhân dân Việt Nam.

Ghi chú:

Cùng ngày, Bắc Việt ban hành thể thức bốn điểm hòa bình để đáp lại tuyên bố của Tổng thống Johnson sẵn sàng cho “các cuộc thảo luận vô điều kiện“.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

2. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh 01-03-1965

Posted by adminbasam on 28/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh 

01-03-1965

Mô tả: Chu Ân Lai thảo luận về lãnh đạo mới của Liên Xô, một tuyên bố chung hỗ trợ Việt Nam từ các nước Xã hội Chủ nghĩa và quan sát chặt chẽ các hoạt động quân sự của Liên Xô.

Chu Ân Lai và Hồ Chí MINH (1)
Hà Nội, ngày 1 tháng 3 năm 1965

Chu Ân Lai: Khi Khrushchev bước xuống (thực ra Khrushchev bị các đồng chí của ông ta hạ bệ) và lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Liên Xô lên nắm quyền [giữa tháng 10 năm 1964], chúng tôi nghĩ rằng chính sách của họ sẽ thay đổi phần nào. Đó là lý do tại sao chúng tôi đề nghị tất cả chúng ta nên đến Moscow để ăn mừng, cùng lúc quan sát tình hình ở đó. Nhưng kết quả đã làm cho chúng tôi vô cùng thất vọng.

Về phần các lãnh đạo mới của Liên Xô, chúng tôi tin rằng chỉ quan sát một lần sẽ không đủ, chúng ta nên quan sát thêm nhiều lần nữa. Bây giờ thì đã rõ. Lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Liên Xô không thực thi điều gì khác, ngoại trừ chủ nghĩa Khrushchev. Họ hoàn toàn không thể thay đổi.


Kosygin cho rằng các nước xã hội chủ nghĩa nên có một tuyên bố chung để hỗ trợ Vietnam (2). Tôi bảo ông ấy rằng, mỗi nước có lập trường và quan điểm riêng của mình, cho nên sẽ tốt nếu mỗi nước có tuyên bố riêng. Tuy nhiên, trong chuyến thăm Việt Nam, họ (những người Liên Xô) có thể có một tuyên bố chung [với Việt Nam].

….
Vì vậy, trong quá trình cách mạng, và trong cuộc đấu tranh của chúng ta chống lại Hoa Kỳ, những vấn đề bí mật hàng đầu không nên tiết lộ cho họ. Dĩ nhiên, chúng ta có thể đề cập đến các nguyên tắc, mà chúng tôi cũng muốn công bố công khai. Chúng tôi phản đối các hoạt động quân sự của [Liên Xô], bao gồm việc gửi hàng tiểu đoàn sử dụng tên lửa và 2 máy bay MiG-21, cũng như đề nghị thiết lập một cầu không vận, sử dụng 45 máy bay để vận chuyển vũ khí.

Chúng ta cũng phải cảnh giác với các giảng viên quân sự. Các chuyên gia Liên Xô đã rút đi, vậy thì mục đích của họ là gì [khi họ] muốn quay trở lại? Chúng tôi có kinh nghiệm trong quá khứ khi có những hoạt động lật đổ ở Trung Quốc, Triều tiên, và Cuba. Do đó, chúng tôi để mắt tới các hoạt động của họ, cụ thể là việc vận chuyển vũ khí và huấn luyện quân sự của họ. Nếu không, quan hệ giữa hai nước chúng ta có thể chuyển từ tốt sang xấu, ảnh hưởng đến hợp tác giữa hai nước.

Ghi chú:

1. Phía Trung Quốc có những người tham dự buổi họp: Chu Ân Lai, Bành Chân (Ủy viên Bộ Chính trị TW Đảng và Thị trưởng Bắc Kinh), Dương Thành Vũ (Yang Cheng wu), Phó Tổng Tham mưu Quân đội Trung Quốc, quyền Tổng Tham mưu cho đến khi bị thanh trừng hồi tháng 3 năm 1968, Ngô Lãnh Tây (Wu Lengxi), Giám đốc Tân Hoa Xã và Tổng biên tập của báo Renmin ribao – Nhân dân Nhật báo.

Phía Việt Nam gồm có: Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và Phạm Hùng.

2. Từ ngày 4 đến ngày 11 tháng 2 năm 1965, Thủ tướng Liên Xô Aleksei Kosygin viếng thăm Bắc Kinh và Hà Nội và tổ chức hàng loạt cuộc hội đàm với lãnh đạo Trung Quốc và Việt Nam, gồm năm cuộc họp với Chu Ân Lai và một cuộc họp với Mao Trạch Đông.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 2 Comments »

1. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Phạm Văn Đồng 05-10-1964

Posted by adminbasam on 27/04/2011

Cold War International History Project

Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Phạm Văn Đồng

 05-10-1964

Mô tả: Mao Trạch Đông tư vấn cho Phạm Văn Đồng về cách xử lý cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam và bảo vệ miền Bắc Việt Nam.

Mao Trạch Đông với Phạm Văn Đồng (1) Hoàng Văn Hoan (2)
Bắc Kinh, 05 tháng 10 năm 1964, từ 7-7:50 (tối?)

Mao Trạch Đông: Theo đồng chí Lê Duẩn (3), đồng chí đã có kế hoạch điều động một sư  đoàn [vào Nam]. Có lẽ đồng chí chưa gửi sư đoàn đó đi (4). Thời điểm nào đồng chí nên gửi đi thì rất quan trọng. Liệu Hoa Kỳ sẽ tấn công miền Bắc hay không, họ vẫn chưa đưa ra quyết định. Bây giờ, ngay cả Hoa Kỳ vẫn chưa có quan điểm trong việc giải quyết vấn đề miền Nam Việt Nam. Nếu họ tấn công miền Bắc, [có thể họ cần] chiến đấu trong một trăm năm, và họ sẽ bị mắc kẹt ở đó. Vì vậy, cần phải cân nhắc cẩn thận.

Người Mỹ đã đưa ra các tuyên bố đáng sợ. Họ tuyên bố rằng họ sẽ đuổi theo [các ông], và sẽ đuổi vào đất nước các ông, và họ sẽ tấn công lực lượng không quân của chúng tôi.

Theo tôi, những lời lẽ này có nghĩa là họ không muốn chúng tôi chiến đấu một cuộc chiến lớn, và rằng [họ không muốn] lực lượng không quân của chúng tôi tấn công các tàu chiến của họ. Nếu [chúng ta] không tấn công tàu chiến của họ, họ sẽ không đuổi theo các ông. Có phải đó là những điều họ muốn nói? Mỹ đang che giấu điều gì đó.

Phạm Văn Đồng: Đây cũng là suy nghĩ của chúng tôi. Hoa Kỳ đang đối mặt với nhiều khó khăn, và không phải dễ dàng để họ mở rộng chiến tranh. Vì vậy, điều mà chúng tôi cân nhắc đó là chúng ta nên cố gắng hạn chế cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam trong phạm vi chiến tranh đặc biệt và phải cố gắng để đánh bại kẻ thù trong phạm vi chiến tranh đặc biệt. Chúng ta nên cố gắng hết sức không để cho đế quốc Mỹ biến cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam thành chiến tranh giới hạn, và cố gắng hết sức không để cho cuộc chiến mở rộng ra miền Bắc Việt Nam. Chúng ta phải thông qua một chiến lược rất khéo léo và không nên kích động họ (Hoa Kỳ). Bộ Chính trị của chúng tôi đã ra quyết định về vấn đề này, và hôm nay tôi xin báo cáo với Mao Chủ tịch. Chúng tôi tin rằng điều này là hoàn toàn khả thi.

Mao Trạch Đông: Vâng.

Phạm Văn Đồng: Nếu Hoa Kỳ dám bắt đầu một cuộc chiến tranh giới hạn, chúng tôi sẽ đánh lại và sẽ giành chiến thắng.

Mao Trạch Đông: Vâng, các ông có thể giành chiến thắng (5). Chế độ bù nhìn miền Nam Việt Nam có vài trăm ngàn quân. Các ông có thể chiến đấu chống lại họ, các ông có thể loại bỏ một nửa, và các ông có thể loại bỏ tất cả. [Các ông] dư sức thực hiện nhiệm vụ này. Hoa Kỳ không thể gửi nhiều quân đến miền Nam Việt Nam.

Mỹ có tổng cộng 18 sư đoàn. Họ phải giữ một nửa, tức là chín sư đoàn ở nhà và có thể gửi ra nước ngoài chín sư đoàn. Trong các sư đoàn này, một nửa ở châu Âu, và một nửa ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Và họ có nhiều đơn vị đóng quân ở châu Á [hơn những nơi khác trong khu vực], cụ thể là ba sư đoàn. Một ở Nam Hàn, một ở Hawaii, và sư đoàn thứ ba thì ở nơi nào không rõ. Họ cũng chưa có tới một sư đoàn thủy quân lục chiến ở Okinawa, Nhật Bản.

Hiện tất cả lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam thuộc về hải quân và họ là những đơn vị thuộc hệ thống hải quân. Theo hải quân Hoa Kỳ, họ đã đưa thêm tàu vào Tây Thái Bình Dương nhiều hơn ở châu Âu. Ở Địa Trung Hải, có Đệ lục Hạm đội, ở đây (Thái Bình Dương) có Đệ thất Hạm đội. Họ đã triển khai bốn tàu sân bay gần các ông, nhưng họ đã bị các ông xua đuổi.

….

Mao Trạch Đông: Nếu người Mỹ dám chấp nhận rủi ro để đưa chiến tranh vào miền Bắc, cuộc xâm lược này cần được xử lý như thế nào? Tôi đã thảo luận vấn đề này với đồng chí Lê Duẩn. Dĩ  nhiên, [trước tiên] cần xây dựng các công trình phòng thủ dọc theo bờ biển. Cách tốt nhất là xây dựng các công trình phòng thủ như những công trình mà [chúng tôi đã xây dựng] trong cuộc chiến Triều Tiên, để các ông có thể ngăn chặn kẻ thù xâm nhập vào bên trong đất liền. Tuy nhiên, thứ hai, nếu Mỹ quyết tâm xâm chiếm đất liền, các ông có thể để cho họ làm chuyện đó. Các ông nên chú ý đến chiến lược của mình. Các ông không nên để lực lượng chính tham gia một cuộc đối đầu với họ, và phải duy trì lực lượng chính của các ông. Ý kiến ​​của tôi là, nếu núi xanh còn đó, các ông lo gì chuyện thiếu củi?

Phạm Văn Đồng: Đồng chí Lê Duẩn đã báo cáo ý kiến ​​của Mao Chủ tịch với Ủy ban Trung ương của chúng tôi. Chúng tôi tiến hành đánh giá tổng thể tình hình ở miền Nam và miền Bắc, và ý kiến ​​của chúng tôi giống như ý kiến của Mao Chủ tịch. Ở miền Nam Việt Nam, chúng tôi nên tích cực đấu tranh chống lại [kẻ thù], và ở Bắc Việt Nam, chúng tôi nên chuẩn bị [cho kẻ thù leo thang chiến tranh]. Nhưng chúng tôi cũng nên thận trọng.

Mao Trạch Đông: Ý kiến ​​của chúng tôi cũng giống như vậy. Một số người khác nói rằng chúng ta đang tham chiến. Thực tế là, chúng ta đang thận trọng. Nhưng có thể nói [rằng chúng ta đang tham chiến].

….

Mao Trạch Đông: Các ông càng đánh bại họ một cách triệt để, họ càng cảm thấy thoải mái hơn. Ví dụ như, các ông đánh bại người Pháp và họ sẵn sàng đàm phán với các ông. Người Algérie đánh bại người Pháp và Pháp sẵn sàng đi đến hòa bình với Algeria. [Thực tế] chứng minh rằng, các ông càng đánh bại họ, thì họ càng cảm thấy thoải mái hơn.

….

Mao Trạch Đông: Có đúng là ông được mời tham dự các cuộc họp ở Hội đồng Bảo an [LHQ]?

Chu Ân Lai: Điều này vẫn còn bí mật. Lời mời đã được U Thant (6) thực hiện.

Mao Trạch Đông: Và U Thant đã mời qua ai?

Chu Ân Lai: Liên Xô.

Mao Trạch Đông: Vậy Liên Xô là trung gian.

Phạm Văn Đồng: Theo Đại sứ Liên Xô tại Việt Nam, một mặt, họ đã gặp U Thant, và mặt khác họ đã gặp [Ngoại trưởng Mỹ Dean] Rusk.

Mao Trạch Đông: Không hẳn là một điều tệ hại để thương lượng. Ông có đủ khả năng để đàm phán. Một vấn đề khác là liệu việc đàm phán sẽ thành công hay không. Chúng ta cũng có đủ trình độ để thương lượng [với người Mỹ]. Chúng ta đang đàm phán với Mỹ về vấn đề Đài Loan, và các cuộc đàm phán Trung – Mỹ cấp đại sứ hiện đang chuẩn bị ở Warsaw. Các cuộc đàm phán đã kéo dài hơn chín năm.

Chu Ân Lai: Hơn 120 cuộc họp đã được tổ chức.

Mao Trạch Đông: Các cuộc đàm phán sẽ tiếp tục. Một lần, trong một cuộc họp tại Geneva, họ không muốn tiếp tục đàm phán. Họ rút những người đại diện, chỉ để lại một người ở đó phụ trách vấn đề truyền thông và liên lạc. Chúng tôi đã cho họ một đòn bằng cách gửi họ một lá thư, ra thời hạn cho họ gửi đại diện trở lại. Họ đã quay trở lại đàm phán sau đó, nhưng họ đã không trở lại đúng thời hạn chúng tôi đưa ra, họ đã trở lại trễ vài ngày. Họ nói rằng đó là tối hậu thư của chúng ta. Lúc đó, một số người của chúng ta tin rằng, chúng ta không nên ra thời hạn cho họ, cũng không nên đưa ra tuyên bố gay gắt, và rằng làm như vậy đã trở thành tối hậu thư. Nhưng chúng ta đã làm và người Mỹ đã [trở lại đàm phán].

Ghi chú:

1. Phạm Văn Đồng: (1906 – 2000), thành viên lâu năm của Đảng Cộng sản Đông Dương (ICP), làm việc gần gũi với Hồ Chí Minh và là Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) cho đến năm 1980 (từ năm 1976, trở thành nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

2. Hoàng Văn Hoan: (1905-1991), thành viên lâu năm của ĐCS Đông Dương và là ủy viên Bộ Chính trị Đảng Lao Động VN từ năm 1960-1976. Hoan là cầu nối quan trọng giữa Bắc Việt và Trung Quốc, đại sứ Bắc Kinh năm 1950-1957; dẫn đầu nhiều đoàn đại biểu đến Trung Quốc như Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Bắc Việt vào thập niên 1960. Bị mất ảnh hưởng sau cái chết của Hồ Chí Minh vào tháng 9 năm 1969. Năm 1973, một lần nữa Hoan đến Trung Quốc sắp xếp cho chuyến thăm [Trung Quốc] của Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng. Ông ta đã đào thoát sang Trung Quốc hồi tháng 7 năm 1979. Năm 1986, ông ta xuất bản cuốn hồi ký của mình (Giọt nước trong biển cả), đã đưa ra một cái nhìn thoáng qua, hiếm hoi về cuộc sống bên trong của các ủy viên ĐCS Đông Dương/ Đảng Lao Động Việt Nam.

3. Lê Duẩn (1908-1986), Bí thư Xứ ủy Nam Bộ (khu vực phía Nam), sau đó là Trung ương Cục miền Nam thời Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Gửi thư cho các lãnh đạo đảng phản đối Hiệp định Geneve năm 1954. Từ 1956, quyền Tổng Bí thư Đảng Lao Động Việt Nam. (Hồ Chí Minh chính thức làm Tổng Bí thư). Từ năm 1957-1959, là nhân vật quan trọng đã đưa các cuộc đấu tranh vũ trang trở lại miền Nam. Từ năm 1960 đến khi mất năm 1986, Lê Duẩn là Tổng Bí thư Đảng Lao Động Việt Nam (năm 1976 đổi tên thành Đảng Cộng sản Việt Nam).

4. Ngay sau sự cố Vịnh Bắc Bộ, Lê Duẩn đến thăm Bắc Kinh và gặp Mao vào ngày 13 tháng 8 năm 1964. Hai lãnh đạo trao đổi các báo cáo tình báo về hai sự kiện. Lê Duẩn xác nhận với Mao rằng, sự cố đầu tiên (ngày 2 tháng 8 ) là kết quả của các quyết định do người chỉ huy Việt Nam thực hiện tại hiện trường và Mao Trạch Đông nói với Lê Duẩn rằng, theo thông tin tình báo Bắc Kinh đã nhận được, sự cố thứ hai vào ngày 4 tháng 8 “không phải là một cuộc tấn công có chủ ý của người Mỹ“, nhưng gây ra do “phán đoán sai lầm của người Mỹ, dựa trên thông tin sai“. Có cảm giác triển vọng về cuộc chiến sẽ được mở rộng vào miền Bắc Việt Nam, Mao nghĩ rằng “có vẻ như người Mỹ không muốn chiến tranh, các ông không muốn  chiến tranh, và chúng tôi không nhất thiết muốn chiến tranh“, và rằng “vì không ai muốn có một chiến tranh, chiến tranh sẽ không xảy ra“. Lê Duẩn đã nói với Mao rằng: “Sự hỗ trợ từ Trung Quốc là không thể thiếu, nó thực sự có liên quan đến số phận của quê hương chúng tôi… Những người theo chủ nghĩa xét lại của Liên Xô muốn làm cho chúng ta mặc cả, điều này đã rõ ràng“.

Ghi chú của ban biên tập tiếng Anh: Trong một số chú thích cuối trang, chúng tôi có thêm thông tin bổ sung từ các nguồn tài liệu như các tài liệu của họ.

5. Ngày 22 tháng 1, năm 1965, Chu Ân Lai nói với một phái đoàn quân sự Việt Nam: “Theo như cuộc chiến tranh ở Việt Nam, chúng ta nên liên tục loại bỏ các lực lượng chính của kẻ thù khi họ ra ngoài để tiến hành các hoạt động càn quét, do đó khả năng chiến đấu của lực lượng kẻ thù sẽ bị suy yếu, trong khi quân đội của chúng ta sẽ được củng cố. Chúng ta nên cố gắng tiêu diệt hầu hết các ấp chiến lược của kẻ thù vào cuối năm nay. Nếu điều này được thực hiện, ngoài sự phá sản chính trị của kẻ thù, có khả năng chiến thắng sẽ đến sớm hơn mong đợi ban đầu của chúng ta“.

6. U Thant (1909-1974): Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc từ năm 1962-1971.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Posted in Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 1 Comment »

Vì sao Bức tường Berlin sụp đổ

Posted by adminbasam on 10/11/2009

THE WALL STREET JOURNAL

Vì sao Bức tường Berlin sụp đổ

Từ Truman cho tới Reagan, những lợi ích của sự rành rẽ về đạo lý

Ngày 9-11-2009

Trong cuộc tranh luận quanh vấn đề xem ai xứng đáng được ghi danh trong việc đã gây nên sự sụp đổ của Bức tường Berlin vào đêm mùng 9 tháng Mười một năm 1989, nhiều cái tên đã hiện diện trong tâm trí mọi người, cả ở cấp cao lẫn cấp thấp.

Có Günter Schabowski, phát ngôn viên của bộ chính trị Đông Đức khi tình tình trở nên hỗn loạn, người tham gia vào một cuộc họp báo được truyền hình trực tiếp vào buổi tối hôm đó với việc loan báo bất ngờ rằng những hạn chế đi du lịch của nước này đã được dỡ bỏ “ngay tức khắc”. Có Mikhail Gorbachev, người đã tuyên bố rõ rằng Liên Xô sẽ không đàn áp khốc liệt sức mạnh của nhân dân tại các nước chư hầu như nó đã từng làm trong những thập kỷ trước tại Czechoslovakia và Hungrari. Có những người anh hùng trong phong trào công đoàn Đoàn Kết Ba Lan, ít nhất là có Giáo hoàng John Paul II, người đã làm được nhiều điều để phơi bày sự phá sản hoàn toàn về đạo đức của chủ nghĩa cộng sản.

Và có Ronald Reagan, người đã tin rằng công việc của nghệ thuật quản lý nhà nước phương Tây là tập trung tài lực tinh thần, chính trị, kinh tế và quân sự để không chỉ đơn giản là ngăn chặn khối Số Viết, mà còn phải chôn vùi nó. “Những gì tôi đang mô tả lúc này là một kế hoạch và một niềm hy vọng cho dự tính lâu dài – cuộc tuần hành vì tự do và dân chủ sẽ ném chủ nghĩa Marx-Lenin vào đống tro tàn lịch sử,” ông đã tuyên bố như vậy năm 1982, trước sự ngạc nhiên và chế nhạo của những người chỉ trích mình. Giờ đây, một niềm hy vọng táo bạo.

Tất cả các nhân vật này đã đóng vai trò riêng của mình, khi họ là thế hệ những nhà lãnh đạo đi trước từng khẳng định rằng phương Tây có một bổn phận đạo lý để bảo vệ cho vùng đất tự do nhỏ nhoi lọt thỏm giữa Berlin.

Việc làm trọn bổn phận đó đã phải trả một cái giá – 71 quân nhân Anh và Mỹ đã hy sinh cuộc đời mình trong thời gian thực hiện cuộc Không vận khẩn cấp vào Berlin * – mà những nhà chính trị “thực dụng” hơn có lẽ đã từ bỏ một cách vui vẻ trước lời hứa có những mối quan hệ tốt đẹp hơn với những người Sô Viết. Không phải chỉ có một ít các tướng lĩnh trong Khối NATO đã nghĩ rằng việc bảo vệ Berlin đã làm lộ ra một cách không cần thiết các lực lượng quân sự của họ tại một vị trí không thể chống giữ được về quân sự, khi đem tới cho người Nga một cơ hội tống tiền phương Tây như họ đã từng chủ động thực hiện tại địa điểm có ý nghĩa sống còn hơn về chiến lược, đặc biệt là Cuba.

Tuy nhiên, nếu như lập trường của phương Tây ở Berlin giải thích mọi điều, thì có nghĩa là lời cam kết đạo lý có một cách gặt hái những cổ tức chiến lược vượt thời gian. Bằng cách ra lệnh tổ chức cuộc không vận khẩn cấp vào năm 1948, Harry Truman đã cứu được một thành phố đang chết đói và bất chấp hành động bắt nạt của Liên Xô. Để có ý nghĩa quan trọng, ông đã cho thấy rằng Hoa Kỳ sẽ không bỏ rơi Âu châu lại cho những kẻ chuyên trả thù, như nó đã từng có sau cuộc Đệ nhất Thế chiến, vì vậy mà Hoa Kỳ đã giúp mở đường cho việc thành lập khối quân sự NATO vào tháng Tư năm 1949.

Với việc giữ vững trong 40 năm qua, Truman và những người kế vị ông đã biến đổi những gì được cho là điểm yếu nhất của khối liên minh Đại Tây Dương thành thứ vững mạnh nhất của nó. Để biết về những gì mà phương Tây đã phải chịu đựng trong hầu hết quãng thời gian của những năm đó, người ta đã phải tới Berlin, nhìn thấy Bức tường, xém xét mục đích của nó, và quan sát những sự tương phản giữa khung cảnh phồn vinh đầy sức sống ở bên này thành phố với trạng thái đơn điệu buồn tẻ trong cảnh bị áp bức ở phía bên kia.

Những tương phản đó thậm chí còn rõ ràng hơn đối với những người Đức mắc kẹt lại bị giam hãm bên kia Bức tường. Dây thép gai, những khu quân sự khép kín và cỗ máy tuyên truyền cộng sản có thể giữ cho khung cảnh thịnh vượng của phía Tây không lọt vào tầm nhìn của hầu hết người dân sống bên phía đông của Bức Màn Sắt. Song điều đó không đúng đối với người dân Đông Berlin, nhiều người trong số họ chỉ nhìn ra ngoài cửa sổ nhà mình là hiểu được mức độ vô nghĩa và vô đạo lý ra sao trong những lời hứa hẹn về chủ nghĩa xã hội so với thực tế của hệ thống thị trường tự do.

Tuy nhiên điều này lại nảy sinh sự khơi gợi rằng thậm chí những thực tế chính trị hiển nhiên đó lại lờ mờ khó hiểu đối với nhiều người dân từng sống trong xã hội tự do và họ cần phải được biết rõ hơn nữa. “Bất chấp những gì mà nhiều người Mỹ suy nghĩ, hầu hết người Liên Xô không thấy khát khao chủ nghĩa tư bản hay nền dân chủ theo hình mẫu phương Tây,” đó là nhận xét của Dan Rather của đài CBS chỉ hai năm trước khi Bức tường sụp đổ. Và khi Reagan đọc bài phát biểu lịch sử của ông kêu gọi ông Gorbachev hãy “kéo đổ bức tường này,” ông đã làm như vậy sau khi được các cố vấn cao cấp của mình cảnh báo rằng cách diễn đạt đó “không phải là với cương vị tổng thống,” và sau khi hàng ngàn người biểu tình đã tuần hành trên khắp phía Tây Berlin với thái độ đối lập.

Nó là một thứ tặng vật cho phẩm hạnh và quyết tâm chiến lược của Reagan, như với bất cứ ai khác từng tham dự phần mình vào việc hạ bệ Bức tường, rằng họ có thể hiểu thấu những lời lẽ ngụy biện của các tuyên truyền viên Sô Viết, những gã du khách phương Tây của họ, và những bè lũ ăn nói đạo lý lập lờ và những kẻ xã giao xảo trá và đơn giản là hãy mở to mắt mà nhìn vào Bức tường.

“Để nhìn vào những gì ngay trước mũi của mình thì cần có một nỗ lực không ngừng,” George Orwell đã từng nói. Đó là những gì mà những người anh hùng của năm 1989 đã làm một cách bình thản với lòng trung thực và can đảm trong nhiều năm liên tục cho đến, ít nhất, là khi Bức tường đổ nhào.

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


* The Berlin Airlift – còn được gọi là The Berlin Blockade (24 June 1948 – 12 May 1949): là chiến dịch bao vây phong tỏa Tây Berlin của Liên Xô, dẫn tới cuộc không vận khẩn cấp của Hoa Kỳ, một trong những cuộc khủng hoảng quốc tế lớn đầu tiên của Chiến tranh Lạnh (wikipedia).

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Khối XHCN sụp đổ, Lịch sử | Leave a Comment »

Hàn gắn những vết thương khổ đau từ Bức tường Berlin

Posted by adminbasam on 02/11/2009

Daily Mail

Hai mươi năm qua đi, người Đức đã

bằng cách nào hàn gắn những

vết thương khổ đau từ Bức tường Berlin

Chủ nhật, ngày 1-11-2009

Thứ Hai tuần tới là tròn hai mươi năm Bức tường Berlin – biểu tượng đáng sợ của Bức màn Sắt dài 96 dặm – sụp đổ, hợp nhất thành phố sau 28 năm và báo hiệu sự cáo chung của quyền lực cộng sản ở Đông Âu.

Ba bộ đôi hình ảnh đặc biệt này, được chụp tại cùng một địa điểm nhưng cách nhau hàng thập kỷ, tiết lộ về cách thức mà cuộc sống bình thường đã trở lại ra sao cho thành phố từng bị chia cắt trong những năm tháng bị can thiệp, với cuộc đi bộ tuần hành không gì ngăn cản được trong tiến trình dần dần phá hủy hoàn toàn bức tranh của cuộc Chiến tranh Lạnh nghiệt ngã.

Cổng Brandenburg – khởi đầu được xây dựng bởi Vua William Frederick II của nước Phổ năm 1788 – là vật tượng trưng có sức thuyết phục nhất cho sự chia cắt.

CỔNG BRANDENBURG

Trong bức ảnh đầu tiên, được chụp năm 1988, những khách tham quan leo lên một chiếc bục quan sát đặt bên khu vực do người Anh kiểm soát ở Tây Berlin để nhìn được rõ hơn cái biểu tượng qua bức tường cao 12 bộ. Trên chiếc bục quan sát đó, một tấm biển đề nhắc nhủ những người dân Berlin: “Tự do của các bạn là nhiệm vụ của chúng tôi.”

Giữa thời điểm kết thúc cuộc Đệ nhị Thế chiến và việc xây dựng lên Bức tường vào năm 1961, đã có 3,5 triệu người Đông Đức chạy trốn sang phía tây. Sau khi nó được dựng lên, có chưa tới 5.000 người trốn thoát.

Hôm nay, quảng trường Pariser Platz, nơi có chiếc Cổng Brandenburg, lại lần nữa là một quảng trường đông đúc nhộn nhịp.

Chiếc cổng giờ đây được bao bọc bởi những tòa nhà mới với kiến trúc cổ điển: phía bên trái là bảo tàng Liebermann Haus, trong khi bên phải là Sommer Haus, nơi trú đóng đại bản doanh của một ngân hàng và tòa đại sứ Hoa Kỳ. Tòa đại sứ các nước Anh, Pháp và Hungari quây tụ ở gần đó.

PHỐ BERNAUER

Tầng trệt của khu nhà ở nằm bên phải bức ảnh đầu tiên – được chụp từ khu vực do người Pháp trú đóng ở Tây Berlin năm 1985 – đã bị nhà chức trách Đông Đức xây bít kín lại sau khi nó được sử dụng cho một loạt các cuộc đào thoát liều lĩnh.

Vào hai đêm của tháng Mười năm 1964, 57 người Đông Đức đã tìm cách trốn thoát sang phía Tây qua một loạt những đường hầm được đào từ tòa nhà chung cư. Những nỗ lực đó đã bị phát hiện và có những phát súng nổ qua lại giữa lính gác biên giới và những người đào hầm.

Dần dần, những tòa nhà nằm kế bên Bức tường đã bị phá hủy nhằm tránh việc có những người trốn chạy liều lĩnh nhảy qua các cửa sổ và nóc nhà – để hoặc là được tự do hoặc là chết. Quân đội Anh đã giúp phá hủy phần Bức tường ở khu vực này, và ngày nay Bernauer Strasse là một con đường và tuyến xe điện chính đông đúc.

Phía nam của Phố Bernauer đã trở thành bộ phận của “mảnh đất chết” ô nhục – một khu vực cấm qua lại, rộng tới 500 thước Anh mà nhiều điểm đã bị dọn sạch để cho lính biên phòng của Đông Đức có được không gian quan sát ngắm bắn thuận lợi, với mệnh lệnh phải bắn những đối tượng nằm trong tầm ngắm của mình. Tổng cộng, đã có 239 người chết khi cố gắng vượt qua Bức tường. Người cuối cùng là Chris Gueffroy, ngày 6 tháng Hai, năm 1989.

Đường băng này có đèn pha chiếu sáng và được kiểm soát chặt bởi 116 tháp canh, 20 trung tâm chỉ huy và chó canh phòng. Nó bao gồm cả những chướng ngại vật ngăn chặn xe cộ – có thể nhìn thấy cận cảnh trên bức ảnh đầu tiên – và được rải sỏi dày kín, khiến ta không thể chuyển động mà không gây nên tiếng ồn được, trong khi đinh được rải bên dưới các ban công nhô ra từ tầng các tòa nhà.

PHỐ EBERT

Bức ảnh thứ nhất được chụp năm 1962, một năm sau khi “Hàng rào Bảo vệ Chống Phát-xít” – là cái tên mà bộ chính trị Đông Đức đặt cho Bức tường – được dựng lên, và cho thấy trọn vẹn quy mô của con đường băng chết chóc này.

Nhìn dọc theo Phố Ebert về phía Cổng Brandenburg, hướng bên trái chỉ còn lại tòa nhà từ thời trước Đệ nhị Thế chiến nằm trong khu vực này. Còn hầu hết đều hoặc bị phá hủy hoặc bị cảnh sát biên phòng dọn sách để làm nhụt chí những người chạy trốn.

Ngày nay, khu vực này đã được gìn giữ và quy hoạch lại để trở thành một khối nhà làm văn phòng nhìn xuống con phố giờ đây đông đúc, đầy những cửa hàng mua bán, các du khách tới thăm và những doanh nhân. Những tòa nhà mới bất ngờ mọc lên trên nền đất hoang cũ – những công trình kỷ niệm một nước Đức mới, và tất nhiên, về chủ nghĩa tư bản phương Tây đã mang tới cho nó.

Sau khi tái thống nhất, Berlin đã chi ra 50 triệu bảng Anh để giật đổ Bức tường, xóa bỏ những dấu vết của nó và trang trí lại những công trình kiến trúc mà chủ nghĩa cộng sản đã để cho rơi vào tình trạng đổ nát, với việc con đường băng chết chóc trở thành thứ bất động sản được săn lùng và đắt đỏ nhất của thành phố.

Ở cuối Phố Ebert, cách xa nửa dặm, là Potsdamer Platz nổi tiếng, nơi từng là một trong những khu mua sắm bận rộn nhất ở Berlin thời tiền chiến.

Trong suốt những năm tháng dài của cuộc Chiến tranh Lạnh, giao lộ và quảng trường đông đúc bận rộn đó đã bị con đường băng chết chóc nuốt chửng – song giờ đây nó đã lần nữa lại vươn dậy như trái tim mới đầy sức sống của thành phố được trẻ lại này. 

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Posted in Khối XHCN sụp đổ, Lịch sử | Leave a Comment »

Lenin đã chết vì căn bệnh giang mai

Posted by adminbasam on 23/10/2009

Daily Mail

Lenin, lãnh tụ cách mạng Nga đã chết do

căn bệnh tình dục giang mai, chứ không phải

vì một cơn đột quỵ, các sử gia tuyên bố

Phóng viên Daily Mail

Ngày 23-10-2009

Các sử gia từ lâu đã thống nhất rằng lãnh tụ Cách mạng Nga Vladimir Ilyich Lenin đã phải chịu đựng ba cơn đột quỵ liên tục để cuối cùng dẫn đến cái chết của ông.

Nhưng chứng cứ mới được phát hiện cho thấy Lenin qua đời vì căn bệnh lây truyền qua đường tình dục: giang mai.

Liên Xô đã cố gắng hết sức để che giấu lý do thực sự cho lối hành xử bất thường và những cơn thịnh nộ xảy ra thình lình trong nhiều năm của Lenin đã dẫn đến cái chết của ông vào năm 1924.

Nhưng giờ đây tác giả người Anh tên là Helen Rappaport tin rằng cô đã tìm thấy bằng chứng, chứng minh rằng Lenin bị luetica endartitis – giang mai thần kinh – một loại bệnh có ảnh hưởng đến não.

Trong hồ sơ lưu trữ tại Đại học Columbia ở New York, cô [Helen Rappaport] đã tìm thấy bản tham chiếu liên quan đến sự thật hiển nhiên về căn bệnh của Lenin do nhà khoa học lỗi lạc người Nga Ivan Pavlov (*) ghi lại.

Chủ nhân giải Nobel – người nổi tiếng với thí nghiệm về phản xạ có điều kiện của chó – đã có lần nói rằng ‘cách mạng đã được thực hiện bởi một người điên rồ mắc bệnh giang mai não,’ cô [Helen] đã phát hiện ra [Pavlov nói vậy].

Rappaport – người đã viết vài cuốn sách về lịch sử Nga – tin rằng: có khả năng ông ta (Lenin) đã bị lây bệnh từ một gái mại dâm ở Paris vào khoảng năm 1902.

Liên Xô quy cho những hành vi thất thường của Lenin là do xơ cứng động mạch – một căn bệnh ảnh hưởng đến não và có nhiều đặc tính giống như bệnh giang mai.

Từ cuối năm 1921 ông ta đã bị những cơn đau dữ dội dẫn đến bại liệt.

Rappaport  nói rằng vào lúc cái chết đến với mình, ông ta đã bị tàn tật, bất lực, không thể tự đi đứng được, và bệnh tật đã tước đi cái tài diễn thuyết và ông thường có cái nhìn chòng chọc, điên dại.
Rappaport đã tiết lộ sự thật này tiếp theo sau việc xuất bản cuốn sách của mình nhan đề: ‘Âm mưu: Lenin sống tha hương’ như cô ấy đã khẳng định để chứng minh cho những gì cô xác nhận.

Cô nói: “Đó là niềm tin ngấm ngầm của các nhà khoa học và bác sĩ hàng đầu trong điện Kremli rằng Lenin chết vì bệnh giang mai, nhưng nhiều thập kỷ qua họ đã bị các nhà chức trách bắt buộc phải giấu đi.

Nhưng xem qua tất cả [hồ sơ], không có tiếng nói nào mạnh hơn việc khẳng định về sự thật này là Ivan Pavlov, vị giáo sư vĩ đại phát minh ra học thuyết [phản xạ có điều kiện] về chó.

Lenin nói chuyện các chiến sĩ quân đội Liên Xô tại Quảng trường Đỏ ở Matxcơva ngày 25 tháng 5 năm 1919

Thi hài của lãnh tụ Bôn-sê-vích Vladimir Lenin nằm trong lăng bên trong Quảng trường Đỏ ở Matxcơva

‘Sau cuộc cách mạng năm 1917, Pavlov đã trở nên chống đối quyết liệt với những người Bôn-sê-vích (Bolshevic) và những gì ông nhìn thấy đều như là ‘Phòng thí nghiệm kiểu Sô Viết’ khổng lồ mà ở đó con người bị đối xử còn tệ hơn cả lũ ếch nhái trong phòng thí nghiệm.

‘Tuy nhiên, nhận thấy thiên tài và khả năng hữu ích của Pavlov đối với đất nước, nên Lenin đã không ngừng ve vãn ông’.

Rappaport kể rằng Pavlov đã được phép đưa ra tuyên bố gây tranh cãi như thế về tình trạng của Lenin là vì lãnh tụ nước Nga đã ban cho ông quyền miễn trừ do đã nhận ra sự hữu dụng của ông đối với đất nước này như thế nào.

Trên đường tới một cuộc họp ở London, Pavlov đã dừng lại để thăm một người bạn cũ ở Paris, bác sĩ Mikhail Zernov.

‘Trong cuộc trò chuyện, Pavlov đã xác nhận với Zenov rằng Lenin đã mắc bệnh giang mai và trong thời gian là nhà lãnh đạo Sô Viết, ông đã biểu lộ tất cả những dấu hiệu thông thường của những người bị bệnh với chứng bại liệt ngày càng lộ rõ do hậu quả của căn bệnh xã hội mang lại,’ Rappaport nói.

‘Pavlov biết rằng từng có các nhà khoa học xuất chúng được mời tới để nghiên cứu bộ não Lenin sau cái chết của ông năm 1924 và tất cả đều đồng ý với chẩn đoán này

‘Đó là một bí mật mà ai cũng biết trong số chúng tôi, song tất nhiên là không ai công bố công khai và không có hồ sơ chính thức nào của Liên Xô chứng minh điều này.

‘Các bác sĩ của Kremlin từng nghiên cứu về Lenin đều bị cấm nói về chuyện này –  có thể phải chịu hình phạt tử hình – và đã bị buộc phải tiêu hủy tài liệu chính thức.’

Có nhiều tên tuổi nổi tiếng khác trong quá khứ, từng mắc phải chứng bệnh giang mai như Nietzsche, Maupassant, Goethe và Donizetti (**), những người đã phải trải qua những giai đoạn có những hành vi bất thường khủng khiếp, tiếp theo sau những cơn vật vã do cơ thể bị suy sụp hoàn toàn.

—–

Ba Sàm chú thích:

* Ivan Pavlov: là nhà sinh lý học, tâm lý học, thầy thuốc người Nga. Ông là người đã giành giải Nobel về Sinh lý và Y khoa năm 1904 về công trình nghiên cứu hệ tiêu hóa. Thập niên 1890, Pavlov đã nghiên cứu chức năng dạ dày của chó bằng cách quan sát dịch vị của chó tiết ra. Ông để ý rằng chó thường tiết dịch vị khi phát hiện ra các tín hiệu báo sự xuất hiện của thức ăn. Ông đã làm hàng loạt thí nghiệm trên loài chó để sau đó cho ra định luật cơ bản mà ông gọi là “phản xạ có điều kiện”.

** Nietzsche (1844-1900): triết gia đồng thời là tác gia văn chương vĩ đại người Đức

Henri René Albert Guy de Maupassant (1850-1892): Nhà văn Pháp nổi tiếng

Domenico Gaetano Maria Donizetti (1797-1848): Nhà soạn nhạc người Ý

Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832): Nhà thơ, kịch tác gia, triết gia, nhà thần học, … vĩ đại người Đức


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Bài được dịch đăng trên Ba Sàm từ năm 2009, nhưng do bị tin tặc phá, xóa mất, phải đăng lại, nên những phản hồi ban đầu không còn.

Posted in Khối XHCN sụp đổ, Lịch sử | 8 Comments »

Phỏng vấn cựu Ngoại trưởng LX Shevardnadze

Posted by adminbasam on 22/10/2009

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Cựu Ngoại trưởng Liên Xô Eduard Shevardnadze:

“Tôi đã góp phần vào việc

kết thúc chiến tranh lạnh”

Thứ Hai, ngày 19-10-2009 *

Trong phòng làm việc của cựu ngoại trưởng Liên Xô, nguyên tổng thống Grudia Eduard Shevardnaze có một mảnh bức tường Berlin với dòng chữ “Eduard, danke” (Eduard, cảm ơn ông), và các bức chân dung của những nhân vật đã gắn liền với sự kiện lịch sử ấy vào cuối thế kỷ 20, Baker, Reagan, Gorbachev, Giáo hoàng John Paul II. Shevardnadze, mái tóc đã bạc trắng nhưng đôi mắt còn rất sáng và nói năng hết sức minh mẫn, bình luận: “Lịch sử không có sự khoan dung. Đó là một quá trình dài và không ai có thể ngăn cản được, và nó mạnh hơn con người. Chúng ta đã đi qua được cuộc Chiến tranh Lạnh và rồi một cuộc chiến khác lại đang mở ra. Bao thập kỷ sau Chiến tranh lạnh, con người chẳng học được gì từ bài học lịch sử”.

Ngôi nhà của vị ngoại trưởng cuối cùng của Liên bang Xô viết nằm trên một ngọn đồi ở thủ đô Tbilisi của Grudia, được bảo vệ nghiêm ngặt bởi những con chó hung dữ giống Cápcadơ và những cây thông cổ thụ. Tại đó, người đàn ông 81 tuổi từng có một thời có ảnh hưởng hết sức lớn lao lên nhân loại đã đưa ra từ hồi ức của mình về các sự kiện của những năm cuối thập niên 1980. Được coi là một trong những kiến trúc sư của thời kỳ lịch sử ấy, “con sói già” của ngành ngoại giao Liên Xô không hề ngạc nhiên trước sự sụp đổ của bức tường Berlin: “Tôi biết là trước sau gì thì điều đó cũng sẽ xảy ra. Trách nhiệm của một nhà ngoại giao là phải nhìn thấy được những diễn biến của tương lai, nhưng Moscow không hề giúp đỡ hay tìm cách ngăn chặn quá trình đó và để cho sự việc xảy ra theo cách đó là chuyện riêng của những người Đức”. Vành đai sắt bao quanh Đông Âu và khối XHCN bấy giờ bung từng mảng một, từ Tiệp Khắc cho đến Hungari, và dòng người Đông Đức ùa vào. Buổi sáng ngày 10/9/1989, khi Budapet mở cửa biên giới với Áo, chỉ trong vài tuần lễ, 67 nghìn người đã tràn qua ngả đó, và rồi, ngày 9/11/1989 … Shevardnadze trả lời phỏng vấn nhật báo Italia “Il Riformista”.

– Ngài ở đâu vào thời điểm đó?

+ Tại Moscow, khi vừa trở về từ Berlin. Sự sụp đổ của bức tường trên thực tế chỉ là bước cuối cùng của một quá trình, mà điểm khởi đầu của nó đã diễn ra từ trước. Tôi nhận được thông tin một cách chi tiết và cập nhật thông qua đại sứ quán Liên Xô ở Berlin. Sự thay đổi lúc ấy diễn ra từng giờ, ai cũng có thể cảm nhận được, thậm chí nghĩ là sờ mó được, nhưng không ai biết là sự việc sẽ đi đến đâu.

– Bức tường sụp đổ. Suy nghĩ của ngài lúc đó ra sao?

+ Đấy là sự kết thúc của một thời kỳ, nhưng cũng là sự mở ra của một thời kỳ khác. Gió đã đổi chiều. Bức tường trở thành một biểu tượng cần phải đạp đổ.

– Người ta đã tính tới khả năng sử dụng can thiệp quân sự hoặc can thiệp của KGB?

+ Nguy cơ ấy là có, vì thời điểm đó có 500 nghìn quân Liên Xô đồn trú ở Đông Đức. Gorbachev và tôi bay tới Berlin để tránh cho điều xấu nhất xảy ra. Nếu tôi đến đó một mình thì không ăn thua, còn ông ấy là người đứng đầu Liên Xô và quân đội không được phép chống lại ông ấy. Quân đội, do đó, đã không hề can thiệp và chúng tôi đã tránh được một cuộc chiến tranh.

– Phản ứng của Moscow lúc đó ra sao?

+ Thất vọng tràn trề. Đối với những ủy viên trung ương đảng đã ủng hộ tiến trình perestroika (cải tổ chế độ kinh tế và chính trị của Liên Xô) của Gorbachev, thì việc đập bỏ bức tường Berlin chỉ là sự khởi đầu cho quá trình kết thúc Chiến tranh Lạnh, nhưng hầu hết các thành viên cao cấp của đảng thì bị sốc. Họ tự hỏi, sau sự sụp đổ của bức tường sẽ là gì?

– Các ngài có sợ sự ra đời của một nhà nước Đức mới và thống nhất nằm ở trung tâm của châu Âu?

+ Hơn 20 triệu người Liên Xô đã thiệt mạng trong Chiến tranh thế giới thứ 2, đừng quên điều đó. Đối với nhiều người, để mất Đông Đức cũng là một cách chứng tỏ hy sinh của hàng triệu người chống chủ nghĩa phát xít là vô ích.

– Sau khi bức tường sụp đổ, là quá trình thống nhất nước Đức … [đoạn này có thể được TTXVN cắt bỏ? – BS]

– Bức tường sụp đổ thì quá trình tái thống nhất là không thể tránh khỏi. Vài tháng sau đó, vào tháng 2/1990, tôi có mặt ở Ottawa, Canada, để thảo luận về một vấn đề khác, dự án “những bầu trời rộng mở”, do tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE) đề xuất, nhưng trên thực tế, các nhà ngoại giao bàn luận về vấn đề nước Đức thống nhất ra sao. Trong suốt mấy tháng trước đó, Mỹ đã ra sức thuyết phục Anh và Pháp ủng hộ việc này. Cuối cùng, OSCE đề nghị lập ra một nhóm có tên gọi tắt là 2+4, nghĩa là 2 nước Đức và 4 nước chiến thắng trong cuộc Thế chiến II là Pháp, Anh, Liên Xô và Mỹ, sẽ chịu trách nhiệm về các vấn đề lớn mang tính đối ngoại của quá trình tái thống nhất (gia nhập NATO ra sao, quân đội thế nào …). Nhưng trách nhiệm thực hiện các công việc chính là do 2 nước Đức tự thu xếp với nhau.

– Gorbachev có đồng ý không?

+ Lúc đầu thì không. Tôi gọi điện cho ông ấy từ Ottawa để có được sự chấp thuận của Gorbachev. Tôi giải thích cho ông ấy dự án của “nhóm liên lạc”. Chúng tôi nói chuyện trong chưa đầy 2 phút, nhưng cảm thấy đấy là một cuộc điện đàm dài kinh khủng. Thế rồi ông ấy bảo, “được rồi, cứ tiến hành đi.”

– Ngài và Gorbachev đã tiến hành quá trình perestroika để chấm dứt sự tồn tại của chủ nghĩa cộng sản. Thế nhưng, trong chính hệ thống ấy, ngài đã lớn lên và nhờ nó mà ngài leo lên đến đỉnh cao chính trị. Điều này có phải trái ngược không?

+ Liên bang Xô viết lúc ấy đang trở thành một đế chế suy tàn, một cỗ xe lớn cần phải được tu sửa. Lịch sử dạy chúng ta rằng, các đế chế không thể tránh khỏi sụp đổ.

– Ngài đã nhắc đến một cuộc Chiến tranh lạnh mới …

+ Thế giới ngày nay chắc chắn là an toàn hơn, nhưng không hề dễ dàng đạt được điều ấy. Trong những năm qua, gió đã đổi chiều, mối căng thẳng giữa Mỹ và Nga đã trở lại. Và rồi Obama xuất hiện.

– Điều gì đã thay đổi với sự xuất hiện ấy?

+ Obama chính là niềm hy vọng, một tổng thống trẻ và khôn ngoan. Quyết định không tiếp tục theo đuổi việc đặt hệ thống lá chắn tên lửa ở Ba Lan và Cộng hòa Séc đã làm thay đổi lại cán cân lực lượng và bàn cờ ngoại giao. Nước Nga không thể không tiến hành một hành động như thế, do đó có lẽ sẽ dừng kế hoạch hoặc làm chậm lại chương trình lắp đặt tên lửa của mình ở Kaliningrad.

– Hiện nay, Nga và Mỹ đang đối đầu nhau …

+ Nhưng bây giờ có thêm nhiều nhân vật mới xuất hiện, như Trung Quốc và Liên minh châu Âu, những người có vai trò then chốt trên bàn cờ ngoại giao. Điều quan trọng nhất là chúng ta không trở về với quá trình chạy đua vũ trang. Số tiền dành cho trang bị quân sự nên được dành cho nhân dân.

– Liên Xô là một đế chế suy tàn như ngài nói, nhưng rất nhiều người nhớ tiếc nó.

+ Những khó khăn trong cuộc sống làm sống lại các hồi ức là điều đương nhiên, ở Nga cũng như ở Đông Đức trước đây. Nhưng giấc mơ lớn của người Đức là thống nhất đất nước, và họ đã làm được điều đó.

– Ngài tự hào về điều gì?

+ Về việc tôi đã đóng góp phần quan trọng trong quá trình thống nhất nước Đức, sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh và đã ngăn chặn được quá trình chạy đua vũ trang và mối đe dọa hạt nhân. Tôi đã gặp Reagan 8 lần và thành công trong việc thuyết phục người Mỹ rằng chúng tôi không phải là một chế độ xấu xa.

– Những sai lầm và nuối tiếc của ngài?

+ Trên bình diện quốc tế thì không. Nhưng với Grudia thì có. Nhưng đấy lại là một câu chuyện khác.

——

* Mời xem thêm: Gorrbachov: “Tôi đã để cho Bức tường Berlin sụp đổ như thế đấy”.

Posted in Khối XHCN sụp đổ, Lịch sử | Tagged: , , , | 4 Comments »

Sự thật về “anh hùng Lê Văn Tám”

Posted by adminbasam on 10/10/2009

Sự thật về “anh hùng Lê Văn Tám”

Posted in Lịch sử | Tagged: , , | 2 Comments »

TRIỀU NGUYỄN VỚI THIÊN CHÚA GIÁO

Posted by adminbasam on 29/07/2009

CHÍNH SÁCH CỦA TRIỀU NGUYỄN ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA GIÁO

PGS.TS. Đỗ Bang *

Trường Đại học Khoa học Huế

 

Thiên Chúa giáo du nhập vào Việt Nam từ năm 1533, đây không chỉ là vấn đề thuần túy của tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa mà là vấn đề chính trị-xã hội rất nhạy cảm qua các thời kỳ lịch sử có chế độ chính trị khác nhau. Tính độc tôn và tính kiêu hãnh của Thiên chúa giáo cùng những nghi thức mang tính tương khắc với văn hóa truyền thống và sự lạm dụng chính trị của các thế lực bên ngoài đối với Thiên chúa giáo là nguyên nhân dẫn đến các chính sách đối với Thiên chúa giáo của nhà cầm quyền Việt Nam trong đó có triều Nguyễn.

Những người truyền giáo cho rằng chi phái Cơ đốc truyền vào Việt Nam là dòng chính thống trực thuộc tòa thánh La Mã, đại diện cho sự ưu việt và tính hoàn vũ nhất so với bất kỳ tôn giáo nào. Nên việc truyền giáo và bảo vệ đạo là nhiệm vụ thiêng liêng của nhân loại văn minh, họ không những không muốn thỏa hiệp với bất cứ tôn giáo nào mà phải xóa sạch các tôn giáo bản địa để xây dựng một Thiên chúa giáo độc tôn, một đức tin tuyệt đối về Chúa. Do vậy, họ đưa ra các điều cấm kỵ như cấm lạy xác người chết, cấm dâng hương đốt nến cho người chết, cấm đọc văn tế, cấm mặc tang phục. Những định hướng và giải pháp mang tính siêu hình và cưỡng chế nói trên đã chạm mạnh vào tư tưởng dân tộc và văn hóa truyền thống nên dễ gây ngộ nhận, kích động dẫn đến chính sách kỳ thị, cấm đạo của triều đình nhà Nguyễn và được đông đảo nhân dân vốn mang nặng tính ngưỡng sùng bái tổ tiên đồng tình ủng hộ.

1. Triều Gia Long (1802 – 1819)

Trong các vua triều Nguyễn ở thời kỳ tự chủ, Gia Long là người rất có thiện chí với Thiên chúa giáo nhưng ông vẫn chủ trương bảo vệ Nho giáo và nghi lễ thờ cúng tổ tiên; ông cũng cho rằng địa ngục, thiên đàng của luận thuyết Thiên chúa giáo là sự dị đoan chỉ làm mê hoặc, quyến rũ những người thiếu hiểu biết1.

Nhưng quan điểm của vua Gia Long cho rằng người theo Thiên chúa giáo cũng là công dân nếu họ không tin tưởng vào thờ cúng tổ tiên và các thần linh thì cũng không nên cấm đoán họ 2.

Không một lệnh cấm đạo nào được ban hành dưới thời Gia Long, các giáo sĩ đều cho rằng đây là giai đoạn thuận lợi cho việc truyền giáo ở Việt Nam.

Tuy nhiên, Gia Long vẫn thấy nguy cơ về mất chủ quyền mỗi khi cơ hội đến với phương Tây thông qua con đường bảo vệ đạo Thiên chúa nên ông căn dặn người kế vị (Minh Mạng) không nên đối xử phân biệt giữa các đạo Nho, Phật, Thiên chúa giáo. Việc khủng bố tôn giáo sẽ là nguyên nhân dẫn đến các biến động xã hội và gây ra thù oán trong nhân dân; đôi khi làm sụp đổ cả ngôi vua.

2. Triều Minh Mạng (1820-1840)

Chọn Minh Mạng kế vị, Gia Long đã nhận thấy được khả năng quyết đoán của một con người cứng rắn có thể giải quyết các công việc phức tạp của triều đình, đặc biệt là đối với phương Tây trong đó có vấn đề truyền giáo luôn làm cho nhà vua trăn trở, âu lo.

Năm 1824, chính phủ Pháp cử J. B. Chaigneau sang Huế để duy trì hoạt động ngoại giao có từ thời Gia Long. Năm đó, có một tàu Pháp đến Đà Nẵng mang thư và lễ vật của vua Pháp gửi đến vua Minh Mạng nhưng bị Minh Mạng từ chối, một số giáo sĩ nhân đó trốn lên được đất liền để truyền giáo.

Năm 1825, vua Minh Mạng ban hành dụ cấm đạo: “Các tôn giáo sai trái của người Tây Dương làm hư hỏng lòng người. Đã từ lâu nhiều tàu Tây Dương đến đây buôn bán và đã để lại các đạo trưởng trong vương quốc này. Các đạo trưởng đã lôi kéo và làm hỏng nhân tâm, làm suy thoái thuần phong mỹ tục. Đó chẳng phải tai họa lớn cho đất nước. Vậy phải chống lại sự lạm dụng này để đưa dân chúng trở lại con đường chính… phải canh phòng cẩn thận mặt hải cảng, miền núi, tất cả mọi ngả đường thủy bộ để ngăn không cho các đạo trưởng Tây Dương xâm nhập lén lút, trà trộn vào dân chúng để gieo rắc bóng đen trên vương quốc”3. (?) õ hoạt động truyền giáo, Minh Mạng lệnh cho các giáo sĩ về kinh đô Huế lấy cớ là để dịch sách.

Năm 1831, chính phủ Pháp cử một tàu đến Huế đặt lại quan hệ ngoại giao nhưng bị vua Minh Mạng cự tuyệt. Những động thái đối ngoại đầy kiêu kỳ này của Minh Mạng đã gây sự phản ứng cho nhiều giới chức Pháp.

Năm 1832, Minh Mạng ra dụ: “Cái thuyết thiên đường, tóm lại chỉ là chuyện hoang đường, không có bằng chứng. Hơn nữa nếu không kính thần minh, không thờ tiên tổ thì rất trái với chính đạo. Những việc trái luân lý, hại phong hóa, điều ấy kể ra còn nhiều, thực đã phạm đến pháp luật. Đạo ấy quy là tà đạo hơn đạo nào hết”4.

Năm 1832, nhân vụ giáo sĩ người Pháp có tên là Phạm Văn Kinh ở họ đạo Dương Sơn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên bí mật truyền đạo, cầu kinh. Quan phủ Thừa Thiên nhiều lần gọi đến công đường khuyến cáo nhưng không một ai chịu bỏ đạo. Năm đó, Minh Mạng ra lệnh cho các quan tỉnh “ khuyến cáo bỏ đạo, ai thành thực bước qua cây Thập tự thì miễn tội, nhà thờ, nhà giảng cho hủy diệt đi, ai cố tình không tuân bị tội nặng”5.

Châu bản triều Nguyễn có ghi lại việc theo dõi giáo sĩ Phạm Văn Kinh qua bản tâu của Bộ Hình ngày 25 tháng 5 năm Minh Mạng 19 (1838) như sau: Có tên Phạm Văn Kinh, người Tây Dương, tháng 5 năm Minh Mạng 13 (1832), can án về truyền đạo Gia Tô ở làng Cổ Lão, phủ Thừa Thiên bị kết án giảo giam hậu mong ơn phát làm kinh ở phủ Thừa Thiên nhưng vẫn không chừa, ngày đêm giảng đạo tà giáo, lại đày đi đồn phủ ở Ai Lao, sau lại cho trở về an trí ở huyện Cam Lộ. . . Bộ chúng tôi cho người lên Cam Lộ mật thám xem Phạm Văn Kinh có lén thông tin tức gì chăng. Biết rằng Phạm Văn Kinh ở trên ấy, ngày thường có nhiều người tới lui, tiền bạc ăn tiêu dư giả, vã xem bộ kiêu căng không sợ gì cả. Vừa rồi dân Quảng Trị có người theo tà đạo, không chịu bước qua hình chữ thập, vậy xin giao Phạm Văn Kinh cho tỉnh Quảng Trị tra tấn cho ra việc”6. Qua đó mới thấy sự cẩn trọng, khoan dung của triều đình Huế đối với các giáo sĩ nước ngoài và vấn đề cấm đạo không đơn giản như các tội phạm khác.

Năm 1834, Minh Mạng ban hành “Thập điều giáo huấn”, nhà vua chỉ ra rằng: Đạo Gia tô lại càng vô lý “Trai gái chung đụng hỗn tạp, việc làm này giống như cầm thú. . . Đó là làm cho bại hoại luân lý, hư hỏng giáo hóa, không thể tin được. Nếu người nào đó bị dỗ dành thì nên mau chóng bỏ đi. Phần các việc quan, hôn, tang, tế đều phải theo lễ tục nước nhà. . . ”7.

Năm 1835, Phan Bá Đạt, Phó đô ngự sử Viện Đô sát tâu: Cố đạo Mã Song (Marchand) ở Gia Định đồng lõa với Lê Văn Khôi khi bị bắt khai rằng “Thầy thuốc người Tây Dương khoét mắt người sắp chết để chế thuốc”, còn “Tà giáo Tây Dương cho một trai, một gái ở chung một nhà có tường gạch ngăn cách, khi động tình dục, rập cho chúng chết bẹp, ép lấy nước xác chết, hòa làm bánh cho người theo đạo ăn khiến cho họ mê đạo không bỏ được”; rồi nghe nói “Trai gái lấy vợ, lấy chồng, đạo trưởng đem người con gái vào nhà kín với danh nghĩa giảng đạo thực ra để dâm ô…”8. Những chuyện này được phịa ra trong dân gian và quan Đô ngự sử Phan Bá Đạt đã khéo thêu dệt thành những mẩu chuyện ly kỳ, hấp dẫn nên dễ gây ấn tượng trong triều đình và tạo nên sự phẫn nộ trong công chúng. Việc giết đạo từ đó càng khốc liệt hơn.

Từ năm 1825 – 1838 có 4 Giám mục, 9 Linh mục ngoại quốc, 20 Linh mục người Việt và hàng trăm giáo dân bị sát hại 9.

Tháng 10 năm 1839, Minh Mạng ban hành dụ cấm đạo: Buộc tất cả những người theo đạo phải bỏ đạo trong vòng một năm, xây dựng chùa chiền vào những nơi trước đây xây dựng nhà thờ. Tất cả thần dân phải tích cực trông nom chùa chiền.

Dụ cấm đạo mới này đã gây sự căm phẫn trong giáo đồ và giới chức Thiên chúa giáo, làm chấn động xã hội. Tuy nhiên, chính phủ Pháp và triều đình Huế cũng mong muốn có sự hiểu biết cần thiết và thiện chí từ cả hai phía để có thể xích lại gần và cải thiện tốt hơn tình thế gay cấn vốn có. Năm 1840, Minh Mạng cử Phan Thanh Giản cầm đầu một phái đoàn sang Pháp để tìm hiểu tình hình với mong muốn xây dựng quan hệ ngoại giao tốt hơn. Nhưng điều mà cả hai phía không muốn đã xảy ra là khi phái đoàn của triều đình Huế đến Pháp bị các giới chức trong giáo hội thừa sai Paris phản đối kịch liệt và vận động một cuộc tẩy chay trên báo chí, làm áp lực mạnh mẽ với nhà vua nên vua Pháp buộc phải từ chối tiếp phái đoàn của triều đình Huế.

Tuy thế, số giáo dân dưới thời Minh Mạng vẫn được tiếp tục tăng, vào năm 1840, cả nước có 3 Giám mục, 2 Phó giám mục, 24 Linh mục ngoại quốc, 144 Linh mục người Việt và 420. 000 giáo dân 10.

3. Triều Thiệu Trị (1841 – 1847)

Dưới thời Thiệu Trị, nhà vua vẫn duy trì chính sách cấm đạo được ban hành từ thời Minh Mạng nhưng không tỏ ra tích cực như triều vua trước. Phần lớn các giáo sĩ bị bắt đều được Thiệu Trị cho lãnh án “trảm giam hậu” (tội chết nhưng giam đợi xét), rồi cuối cùng cũng được trả tự do. Đối với các quan theo đạo nhà vua kiên trì thuyết phục tạo cho họ có cơ hội bỏ đạo đó là trường hợp quan thủ ngự Hồ Văn Dường ở tỉnh Đồng Nai đã tự nguyện bỏ đạo bằng cách bước qua cây Thánh giá nhưng vẫn chưa chịu dự lễ tế thần ở miếu Kỳ, trình nhà vua xem xét 11.

Năm 1841, các giáo sĩ Miche, Duclos, Galy, Berneux và Charries bị bắt và bị kết án tử hình nhưng Thiệu Trị không cho thi hành án. Năm 1843, tàu chiến Pháp Héroine tự tiện đến Đà Nẵng, thuyền trưởng Felix Favin Lévecque yêu cầu triều đình Huế thả các giáo sĩ trên. Thiệu Trị chấp thuận và trao các giáo sĩ cho viên thuyền trưởng nói trên; tàu Pháp rời cảng Đà Nẵng ngày 16-3-1843.

Tháng 11 năm Thiệu Trị thứ 7 (4-1-1848), Bộ Hình dâng sớ phóng thích quan phạm, trong đó có trường hợp Nguyễn Văn Thiện ở tỉnh Phú Yên: “Thiện theo dạo Gia Tô, không chịu bỏ bị ghép tội giảo giam hậu (giam đợi ngày thắt cổ) qua đến tháng 6 năm thứ 6 (1846), y được tha chết, đày ra làm lính ở Hưng Hóa, quan tỉnh nhiều lần khuyên giải, y cũng không chịu bỏ đạo. Nay gặp dịp ân xá, y được tha về quê” 12.

Chính sách mềm dẻo về cấm đạo thời Thiệu Trị đã làm cho số giáo dân được tăng thêm nhất là tại Trung và Nam Kỳ.

Năm 1844, địa phận giáo hội được chia ra như sau:

– Địa phận Huế gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên do Pellerin làm Giám mục.

– Địa phận Quy Nhơn gồm các tỉnh Trung Kỳ còn lại do Cuénot làm Giám mục.

– Địa phận Sài Gòn gồm các tỉnh Nam Kỳ còn lại do Lefèbre làm Giám mục.

Tuy nhiên, trong nhận thức Thiệu Trị vẫn cho Thiên chúa giáo luôn là nguy cơ của mất chủ quyền và đảo lộn phong hóa dân tộc. Nhà vua xem Thiên chúa giáo cũng là mầm gây tai họa không kém gì thuốc phiện và đều do người phương Tây mang lại. Năm 1847, nhân triều đình bàn về việc người phương Tây đến xin buôn bán và truyền giáo, nhà vua ra dụ: “ Người Tây Dương lòng vốn xảo trá, nếu bỏ cấm đạo thì Anh Cát Lợi nghe thấy cũng cầu xin bỏ cấm thuốc phiện. Nhưng địch là giống sài lang, không thể thỏa mãn được nó. . . Vả lại đạo Gia tô là tà giáo, cái hại rồi sẽ đến bởi chuyện ngoài biên, mở đường cho chinh chiến. Thuốc phiện là thứ thuốc mê, cái hại của nó rồi sẽ khuynh gia bại sản, hại đến tính mạng người ta. Hai việc ấy đều nghiêm cấm trong nước…”13.

Năm 1847, Đô đốc Cécille chỉ huy hải quân Pháp đến uy hiếp, 5 chiến thuyền của triều đình ở cửa biển Đà Nẵng bị tàu Pháp tấn công. Tức giận vì bị sỉ nhục, vua Thiệu Trị ra lệnh chém các quan đã không hoàn thành nhiệm vụ giữ cảng, rồi chỉ thị cho các quan địa phương nghiêm khắc thực hiện lệnh bắt đạo trên cả nước.

4. Triều Tự Đức (1848 – 1883)

Những áp lực quân sự và ngoại giao của Pháp đã đưa đến những sóng gió dưới triều đình Tự Đức đã gây ra nhiều biến cố trong giáo hội Thiên chúa giáo ở Việt Nam.

Giai đoạn 1848 – 1862 là thời kỳ khốc liệt trong cuộc chiến Việt – Pháp không cân sức cũng là thời kỳ sát đạo gay gắt của triều đình Huế với các nhà truyền giáo và giáo dân.

Năm 1848, lúc mới lên ngôi vua, Tự Đức đã phê duyệt lệnh cấm đạo: “Phàm những đạo trưởng Tây Dương đến nước ta thì cho quân dân mọi người ai có thể bắt được nộp quan, thưởng cho 300 lạng bạc. Còn người đạo trưởng Tây Dương ấy do quan sở tại xét hỏi rõ ràng lý lịch, lập tức đem việc dâng tâu, cho đem đích thân nạn nhân ấy ném xuống biển. Còn những đạo trưởng và bọn theo đạo là người nước ta, xin do các nha lại xét việc hình hai, ba lần mới báo cho biết tội, nếu họ biết hối cải bỏ đạo bước qua cây giá chữ thập thì thả ra ngay. Người nào không chịu nhảy qua cây giá chữ thập thì người đạo trưởng cũng nên xử tử, các con chiên theo đạo hãy tạm thích vào mặt, đuổi về cho vào sổ dân. Nếu họ biết hối cải thì cũng cho đến quan để trừ bỏ thích chữ ấy đi”14.

Giải pháp bắt bỏ đạo bằng cách bước qua cây Thánh giá đối với giáo sĩ và giáo dân trong buổi đầu của triều Tự Đức tuy không mới nhưng phương thức thực hiện mềm dẻo hơn và có tính phân biệt trong việc xét xử nhằm tạo cơ hội cho người Việt theo đạo có thể trở về quê quán làm ăn bình thường.

Năm 1851, sau vụ Hồng Bảo, con trai trưởng của vua Thiệu Trị mưu lật đổ Tự Đức không thành, do nghi ngờ liên kết với Thiên chúa giáo nên Tự Đức ban hành dụ cấm đạo gay gắt hơn: “Để làm sáng tỏ chính đạo, cần phải bắt và ném xuống sông các đạo trưởng Tây Dương hoặc là người Việt Nam, dù chúng có chà đạp hay không chà đạp lên cây Thập tự giá, phải chặt chúng ra làm hai để cho mọi người cùng biết sự nghiêm ngặt của pháp luật nước ta”15. Việc bắt đạo từ đó càng ráo riết và giết đạo càng khốc liệt hơn.

Năm 1857, Tự Đức ra lệnh chém quan Tam phẩm Thái bộc Tự khanh Hồ Đình Hy vì viên quan theo Thiên chúa giáo nhưng không chịu bỏ đạo lại ngấm ngầm tiếp xúc với giặc, mưu phản quốc. Vụ án này có 29 giáo dân bị bắt, trong số đó có 17 người không chịu bỏ đạo nên bị lưu đày.

Tiếp theo là sự xuất hiện một số giáo sĩ và giáo dân trong đội quân viễn chinh Pháp trong các cuộc tấn công vào Đà Nẵng, Gia Định năm 1858, 1859, 1861 làm cho triều đình Tự Đức có đủ chứng cứ về âm mưu sử dụng tôn giáo của giặc Pháp và phản bội của một số giáo dân 16 nên triều đình đã ban hành nhiều lệnh dụ cấm đạo bằng cách xử tử hình, đạp lên Thánh giá, bắt buộc bỏ đạo, thích chữ vào mặt, đi đày. . .

Năm 1861, Tự Đức ra sắc lệnh “Phân tháp giáo dân” nhằm phân tán, cô lập, kiểm soát và tiêu diệt mầm chống dối của giáo dân 17. Chỉ dụ này được các cấp chính quyền chấp hành nghiêm chỉnh là một đòn chính trị, tâm lý đánh vào cân não và tình cảm của giáo dân và tổ chức của giáo hội Thiên chúa giáo; làm phá hủy các làng và các cơ sở Thiên chúa giáo, các gia đình theo Thiên chúa giáo buộc phải ly tán để tự tiêu vong, họ hàng, bà con xa lánh. Giáo dân không có cơ hội để làm lễ, sinh hoạt hội đoàn, cách ly với các giáo sĩ và các tổ chức tôn giáo; bản thân những người theo đạo thường xuyên bị giám sát, con cái bị cách ly khỏi môi trường tôn giáo và làm con tin.

Với chính sách giết đạo oan nghiệt này, ngoài các giáo sĩ phương Tây bị sát hại, trong thời gian này có đến 115 linh mục người Việt bị giết, 50 nữ tu viện bị phá hủy, 2600 nữ tu phải di tản, 100 nữ tu bị giết, khoảng 100 làng giáo dân bị san thành bình địa, 10. 000 chức sắc trong các họ đạo bị bắt giam, trong số đó hơn một nửa bị giết; 2000 xứ đạo bị triệt hạ, 300. 000 giáo dân bị phân tháp, trong số đó có 50. 000 người bị giết.

Giai đoạn 1862-1874 là thời kỳ hiệp thương, nhân nhượng của triều đình nên Thiên chúa giáo được tự do truyền giảng. Khoản 2 của hiệp ước Nhâm Tuất (1862) quy định: “Công dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha có thể hành đạo Gia Tô trong nước Việt Nam và công dân của nước này, bất luận ai, nếu muốn theo đạo Gia Tô thì theo và không bị ngăn trở; nhưng không được cưỡng bức ai trở thành tín đồ Gia Tô nếu người ấy không muốn”18.

Năm 1865, Tự Đức lại ra một chỉ dụ chính thức cho phép các giáo sĩ tự do truyền giáo và dân chúng được tự do theo đạo.

Tuy nhiên, sự nhượng bộ của triều đình không những đã dẫn đến bức xúc, phản đối kịch liệt của các sĩ tử dự kỳ thi Hương ở Huế, Hà Nội, Nam Định năm 1864 làm triều đình Tự Đức mất uy thế mà cũng là cớ để Pháp leo thang đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ năm 1868.

Năm 1874, Pháp ép triều đình Huế ký hiệp ước công nhận chủ quyền của Pháp ở Nam Kỳ và được tự do truyền giáo.

Theo hiệp ước Giáp Tuất (1874), người theo đạo Thiên chúa có quyền dự các kỳ thi do triều đình tổ chức và tham gia vào bộ máy nhà nước các cấp, tham dự vào các hoạt động chính trị, xã hội của đất nước như một công dân bình thường, bình đẳng như mọi công dân khác.

Giai đoạn 1874-1883 là thời kỳ Thiên chúa giáo được hoạt động hợp pháp, nhiều nhà thờ được xây dựng trên cả nước, đất đai, tài sản của giáo hội được mở rộng, giáo dân cũng gia tăng.

Hiệp ước Giáp Tuất tránh được các cuộc đổ máu từ triều đình, nhưng đây lại là thời kỳ đẫm máu do các phong trào văn thân phản đối nghị hòa của triều đình và phong trào “Bình Tây sát tả” diễn ra rất mạnh ở Trung và Bắc Kỳ, làm nhiều làng theo đạo bị tàn phá, nhiều linh mục và giáo dân bị giết, làm cho uy thế triều đình Tự Đức giảm sút nghiêm trọng, tình hình xã hội càng phức tạp hơn, tạo lợi thế cho Pháp và những tay sai nhanh chóng dùng vũ lực để chiếm đoạt đất nước ta.

* * *

Tuy không thực hiện chính sách cấm đạo nhưng việc truyền giáo dưới thời Gia Long cũng không phải thuận lợi vì tính chất ý thức hệ giữa một triều đình chọn Nho giáo làm khuôn mẫu chính trị với đội ngũ quan chức từ các nho gia được đào tạo ngày càng đông đảo lên nắm quyền trở nên bảo thủ và một bên là Thiên chúa giáo và những người truyền đạo tự nhận là tôn giáo siêu việt của loài người mang tính độc tôn cần được truyền bá hệ tư tưởng và văn minh đó trên toàn cầu. Cả hai đều muốn thu phục, cảm hóa người dân về phía mình bằng “đức tin” để có một hậu thuẫn xã hội, rộng rãi và vững chắc.

Dưới triều Minh Mạng và Thiệu Trị khi vấn đề truyền giáo trở nên cấp bách đối với các nước phương Tây và kèm theo là áp lực quân sự, tôn giáo trở thành vấn đề chính trị bức thiết và sâu sắc đối với triều đình Huế. Lệnh cấm đạo được triều đình ban hành nhưng các giáo sĩ vẫn lén lút truyền giáo. Để ngăn chặn nguy cơ về chủ quyền sẽ bị mất, tình hình xã hội sẽ hỗn loạn và vấn đề văn hóa truyền thống bị xâm hại, triều đình Huế huy động cả hệ thống chính trị và xã hội để đương đầu. Đó là một hệ thống nhà nước và pháp luật từ trung ương đến địa phương cùng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thần linh trong toàn xã hội làm công cụ để ngăn chặn và chiến đấu, đã dẫn đến nhiều vụ tàn sát đẫm máu, dã man làm những người theo đạo vốn có khoảng cách nay bị đào sâu thêm hố chia cách, một nguy cơ mới của dân tộc sắp đến gần.

Dưới triều Tự Đức lệnh cấm đạo vẫn được ban hành cùng những biến động trong cung đình và xã hội đã làm cho thế nước rã rời, suy yếu. Lấy cớ bảo vệ giáo sĩ và giáo dân bị sát hại, liên quân Pháp – Tây Ban Nha đem quân tấn công vào Đà Nẵng (1858) có một số giáo sĩ và giáo dân làm nội ứng, tình hình sát đạo trở nên phổ biến và khốc liệt hơn, nhất là sau khi triều đình cho thực hiện lệnh “phân tháp giáo dân” năm 1861. Một cuộc chiến tranh mang tính trả thù của người nắm quyền lực đối với những làng theo đạo và giáo dân không vũ khí tự vệ vô cùng dã man chưa từng thấy trong lịch sử nước ta. Triều đình Huế tưởng đó là giải pháp sáng suốt và hiệu quả nhằm tiêu diệt giáo dân và giáo xứ thì không ngờ sau đó thế nước lại rã rời hơn, Pháp cho quân đánh chiếm Gia Định buộc triều đình Huế ký hiệp ước năm 1862, chấp nhận cho các giáo sĩ được truyền giáo và quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân.

Thấy rõ truyền giáo là mục tiêu quan trọng của Pháp nên triều đình Tự Đức bãi bỏ lệnh cấm đạo, xoa dịu các giáo sĩ và giáo dân bị hại, phê phán các cuộc khởi nghĩa chống Pháp, đặc biệt là các thủ lĩnh phong trào “Bình Tây sát Tả”. Sự tỉnh ngộ của Tự Đức đúng lúc nhưng triều đình Huế từ đó bị cô lập trước sức tấn công của quân Pháp và các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân, lại bị đại bộ phận nhân dân bỏ rơi kể cả những người theo đạo và những người chống đạo. Một triều đình cô thế, không còn được hậu thuẫn của nhân dân và thiếu quyết tâm đánh giặc là nguyên nhân dẫn đến những thất bại liên tiếp cho đến năm Tự Đức qua đời (1883), quân Pháp đánh vào cửa Thuận An, buộc triều đình Huế ký hiệp ước Quý Mùi, chấp nhận sự đô hộ của thực dân Pháp đối với toàn cõi nước ta.

Chính sách cấm đạo của các vua Nguyễn là một trong những nguyên nhân để liên quân Pháp – Tây Ban Nha đánh vào Đà Nẵng (1858) và cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến sự thất bại của triều đình Tự Đức trong cuộc chiến chống Pháp vào thế kỷ XIX.

Chính sách đối với Thiên chúa giáo có liên quan trực tiếp đến chủ quyền và vận mệnh dân tộc là một sai lầm của triều Nguyễn để cả dân tộc phải trả giá bằng máu xương và sự sĩ nhục là bài học muôn thuở để các thế hệ Việt Nam tìm cho mình một chính sách tôn giáo đúng đắn, phù hợp trong từng giai đoạn lịch sử và bối cảnh chính trị trong nước và quốc tế khác nhau.

————

 

* Ghi chú của Ba Sàm:  Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” . Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;

Và các bài tham luận trong Hội thảo đã được đăng trên Nhật báo Ba Sàm:

92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ

93:QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP

149:QUAN HỆ VN-LX ‘65-’75

150:SÁCH ĐỊA CHÍ Ở MIỀN NVN(’54-’75)

156.CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN

162.TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH

191.CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM ĐỔI MỚI

217.VN-TQ THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

219.TUẦN TRA,KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ:1802-1858

224.SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGƯỜI HOA Ở VN

229.NGƯỜI HOA TRUNG-NAM BỘ VN(XVII-XIX)

232.LỊCH SỬ TRANH CHẤP HOÀNG SA,TRƯỜNG SA:NGUYÊN NHÂN-GIẢI PHÁP

235.PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX

240.NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI BÁO CHÍ VÀ CHỮ QUỐC NGỮ

243.TỰ DO DÂN CHỦ CỦA MỸ Ở MIỀN NVN 54′-73′

————

 

1 Tây dương Gia tô bí lục, sách in năm 1812, bản dịch Ngô Đức Thọ, Nxb Khoa học xã hội, H.1981, tr 291. Sách cho biết: Giám mục Ignatio (Ynêkhu) bí mật vào truyền đạo ở các làng Quần Anh, Trà Lũ, Ninh Cường vào năm Quý Tỵ, niên hiệu Nguyên Hòa, đời vua Lê Trang Tông (1533), đến đâu cũng cho tiền, phát thuốc khiến nhiều kẻ mang ơn mà chịu nghe giảng đạo. Từ đó đạo Gia tô mới bắt đầu lan đến nước ta.

2 Nguyễn Văn Kiệm, Sự du nhập của đạo Thiên chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, 2001, tr.198.

3 Phan Phát Huồn, Việt Nam giáo sử, tập I, Sài Gòn, 1958, tr.191.

4 Võ Đức Hạnh, La place du Catholicisme dans le relation en de la France le Vietnam de 1858 à 1870, Tập II, tr.282.

5 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XI, NXB Khoa học, Hà Nội, 1960, tr.235.

6 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XI, NXB Khoa học, Hà Nội, 1960, tr.136.

7 Mục lục Châu bản triều Nguyễn, Triều Minh Mạng, bản thảo viết tay, Tập 68, tờ 152-154,

8 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XI, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1964, tr.136.

9 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XXVII, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1973, tr.247.

10 Trong đó có Gagelin (1833), Marchand (1835), Corray (1837), Jacard (1838) De Lamothe (1840); các Giám mục Havard (1837), Borie (1838). . .

11 So với năm 1800 số giáo dân tăng thêm 110.000 người.

12 Mục lục Châu bản triều Nguyễn, Triều Thiệu Trị, bản thảo viết tay, Tập 49, tờ 24-25,

13 Mục lục Châu bản triều Nguyễn, Triều Thiệu Trị, bản thảo viết tay, Tập 47, tờ 40-4.

14 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XXVI, Nxb Khoa học Xã hội, H.1973, tr.276.

15 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XXVI, Nxb Khoa học Xã hội, H.1973, tr.111.

16 Phan Phát Huồn, Sđd, tr.280.

17 Giám mục Pellerin (địa phận Huế) tích cực vận động chính phủ Pháp đem quân đánh Việt Nam, Giám mục Lefèbre (địa phận Sài Gòn) tích cực giúp quân Pháp tấn công Gia Định. Hưởng ứng lời kêu gọi của các giáo sĩ Pháp, nhiều giáo dân đầu quân theo giặc để chống lại triều đình. Khi quân Pháp đánh Đà Nẵng nhiều giáo dân Bắc Kỳ vào Đà Nẵng đầu quân cho Pháp. Đội quân này do tướng chỉ huy Rigaule de Genouilly thành lập đóng ở bán đảo Sơn Trà, họ đã tham gia đánh đánh Đà Nẵng và sau đó vào nam đánh đồn Chí Hòa (Nguyễn Văn Kiệm, Sđd, tr.235).

18 Dụ được ban hành vào tháng 7 năm 1861, có các khoản chính sau: Khoản 1: Tất cả các giáo dân, đàn ông và đàn bà, giàu cũng như nghèo, người già cũng như trẻ con đều phải phân tán vào các làng bên lương. Khoản 2: Tất cả các làng bên lương phải chịu trách nhiệm canh gác các giáo dân đã được tha về theo tỷ lệ cứ 5 người lương một người theo đạo. Khoản 3: Tất cả các làng giáo đều phải san bằng, phá hủy đất đai, vườn tược sẽ được chia cho các làng bên lương xung quanh, các làng này có nghĩa vụ phải nộp thuế. Khoản 4: Giáo dân đàn ông phải tách ra khỏi giáo dân đàn bà, đàn ông đưa đi một tỉnh, đàn bà đưa đến một tỉnh khác để họ không được sum họp, trẻ con sẽ giao cho các gia đình bên lương nào muốn nuôi chúng. Khoản 5: Trước khi đưa đi, tất cả giáo dân đàn ông, đàn bà, trẻ con đều phải thích chữ vào mặt: Ở má trái là hai chữ tà đạo, ở má phải là tên tổng, huyện gửi tới, để chúng không thể chạy trốn.

19 Cao Huy Thuần, Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914), NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2003, tr.132.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

 

Posted in Lịch sử, Tôn giáo | Tagged: , , | Leave a Comment »

TỰ DO DÂN CHỦ CỦA MỸ Ở MIỀN NVN 54′-73′

Posted by adminbasam on 23/07/2009

SỰ THIẾT LẬP NỀN “TỰ DO DÂN CHỦ” CỦA MỸ Ở MIỀN NAM VIỆT

NAM, 1954 – 1973

TS. Nguyễn Ngọc Dung *

Trường ĐHKHXH & NV, ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh

 

Theo quan điểm của người Mỹ thì chủ nghĩa cộng sản là chế độ độc đoán, đối lập với bản chất tự do dân chủ của chủ nghĩa tư bản. Vì vậy, chiến lược “ ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản đồng thời cũng là chiến lược mở rộng nền dân chủ trên thế giới theo cách hiểu của người Mỹ.

Tuy nhiên, chủ nghĩa cộng sản, hiện thực qua phong trào cộng sản quốc tế lại không phải là một thực thể thuần nhất, mà là một hiện tượng phức tạp bao gồm nhiều lực lượng, trong đó chủ yếu là những quốc gia – dân tộc với trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau, thân phận lịch sử khác nhau, đeo đuổi những mục tiêu chính trị khác nhau. Nhưng đối với chủ nghĩa đế quốc Mỹ, tất cả họ đều là kẻ thù của nền dân chủ.

Cho nên, để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, từ sau 1945 Mỹ đã can thiệp vào công việc nội bộ của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Dưới sự bảo trợ của Mỹ, chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam đã ra đời, về phương diện chính trị, nhằm thực thi những giá trị dân chủ của Mỹ và phương Tây.

Trọng tâm của bài viết là tìm hiểu quá trình thiết lập nền tự do dân chủ của Mỹ ở miền Nam Việt Nam vốn được các chính khách Mỹ gắn liền với mục tiêu chống cộng . Dân chủ và chống cộng trở thành lá bài chiến lược trong suốt thời kỳ Mỹ can thiệp vào miền Nam Việt Nam, 1954 – 1973. Bên cạnh đó, bài viết còn góp thêm cái nhìn vào bản chất cuộc chiến tranh ở Việt Nam 1954 – 1975.

1. Chiến lược “ngăn chặn” Containment) của Mỹ ở Đông Nam Á và mục tiêu xây dựng một quốc gia dân chủ ở miền Nam Việt Nam.

Ngay sau khi chiến tranh thế giới lần II kết thúc, hai cường quốc Xô – Mỹ đã hoàn tất việc phân chia ảnh hưởng của mình qua Hội nghị Postdam nhóm họp từ ngày 17/7 – 2/8/1945. Từ đây, nước Mỹ trở thành đồng đạo diễn với Liên xô trên kịch trường chính trị châu Âu (sau đó trên toàn thế giới). Lịch sử nhắc nhở chúng ta đừng quên rằng hơn một thế kỷ trước, người Mỹ vẫn còn lo lắng thế lực của các cường quốc châu Âu can thiệp vào công việc châu Mỹ qua học thuyết Monroe. Còn đối với Liên xô, những mất mát lớn lao trong chiến tranh cũng được bù đắp xứng đáng khi vào đầu thập niên 1950, hầu hết các quốc gia Đông Âu, sau khi được Hồng quân giải phóng, đã thiết lập được các nhà nước kiểu xô viết, trở thành vùng đệm của Liên Xô; như vậy, sau Chiến tranh thế giới lần II, vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng của Liên Xô xã hội chủ nghĩa đã rộng hơn rất nhiều so với vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng của nước Nga Sa hoàng phong kiến trước kia.

Ở châu Á, cuộc tranh giành ảnh hưởng Xô – Mỹ bắt đầu từ Trung Quốc. Việc chính quyền Truman quyết định giúp Quốc Dân đảng của Tưởng Giới Thạch trong cuộc nội chiến với Đảng Cộng sản Trung Quốc những năm 1946 – 1949, đã buộc Liên xô phải lựa chọn Đảng cộng sản Trung Quốc làm đối tượng ủng hộ. Tháng 10 năm 1949 nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời. Dưới con mắt của phương Tây, ở châu Á bấy giờ đã hình thành trục chiến lược Trung – Xô nhằm kiểm soát vùng châu Á – Thái Bình dương, khu vực mà hơn một trăm năm trước, Mỹ đã tốn nhiều công sức buộc một số quốc gia trong khu vực phải “mở cửa” cho hoạt động thương mại Mỹ.

Biến cố quan trọng thứ hai ở châu Á trong thời gian này là cuộc chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên (1950 – 1953), cuộc đụng đầu lịch sử đầu tiên giữa hai lực lượng quốc tế nhằm chia cắt sự thống nhất của một quốc gia. Chiến tranh Triều Tiên nổ ra đúng vào thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam đi vào giai đoạn thắng lợi cuối cùng. Song, dưới cái nhìn ý thức hệ, nhiều người Mỹ lại hiểu rằng chiến tranh Việt Nam và Triều Tiên là “Hai cuộc xung đột theo mỗi cách khác nhau. Nhưng rõ ràng mỗi xung đột đều có vị trí trong một tổng thể phức tạp mang tính chính trị và chiến lược. Chúng đều chia sẻ một sự kiện căn bản. Mỗi cái là kết quả từ cuộc bành trướng của thế lực Xôviết tới khu vực, đẩy vệ tinh của họ về phía trước, lợi dụng để chống lại phương Tây và chủ nghĩa quốc gia…”1

Trong sự tưởng tượng dồi dào của người Mỹ thời điểm đó, ảnh hưởng của khối Trung – Xô đang lan tỏa mạnh mẽ xuống vùng châu Á – Thái Bình Dương, khiến giới lãnh đạo Mỹ nghĩ ra học thuyết Domino, coi rằng sự sụp đổ của Đông Dương sẽ kéo theo phản ứng dây chuyền khắp vùng Đông Nam Á, đến tận Úc châu. Có thể thấy quan điểm này qua lời phát biểu của Tổng thống Eisenhower trong cuộc họp báo ngày 5 tháng 4 năm 1954: “Nhưng khi chúng ta đối diện với một khả năng có thể tuần tự, sự mất Đông Dương, Thái Lan, bán đảo Mã Lai và Indonesia tiếp theo; thì chúng ta bắt đầu nói về một khu vực không chỉ làm tăng gấp bội những bất lợi mà chúng ta sẽ phải hứng chịu qua việc mất mát vật chất, tài nguyên, mà còn nói về hàng triệu, hàng triệu con người … cuối cùng (là) vị trí địa – chính trị đã có (của khu vực), vì thế làm được rất nhiều việc. Điều đó quay trở lại cái gọi là chuỗi đảo phòng thủ Nhật Bản, Đài Loan, Philippines và đến tận phía Tây, dẫn đến đe dọa cả Úc châu và Tân Tây Lan …Như vậy, kết cục mất mát có thể là mở rộng đến cả thế giới Tự do.”2

Như vậy, người Mỹ nhìn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để giành lại độc lập của nhân dân Việt Nam là cuộc đấu tranh cho chủ nghĩa cộng sản. Trước tình thế này, phản ứng của người Pháp và người Mỹ rất khác nhau: người Pháp chọn “giải pháp Bảo Đại”, công nhận Việt Nam độc lập nằm trong Liên hiệp Pháp tháng 3 năm 1949, dựng lên một chính phủ bù nhìn do Bảo Đại làm Quốc trưởng, hòng gạt bỏ Việt Minh khỏi quyền lực thực tế; còn người Mỹ thì muốn loại trừ ảnh hưởng của Pháp ở Việt Nam, xây dựng một chế độ chống Cộng và chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam.

Để thực hiện mục tiêu chống cộng và chia cắt lâu dài Việt Nam, người Mỹ đã từ chối ký vào Hiệp định Geneva và lựa chọn con bài chính trị Ngô Đình Diệm để xây dựng một nhà nước dân chủ ở miền Nam Việt Nam. Ngô Đình Diệm là người vừa có tinh thần chống cộng và chống Pháp, một tín đồ Kitô giáo cuồng tín. Ông sinh năm 1911, mới 31 tuổi đã được bổ nhiệm làm Thượng thư bộ Lại (1932), tuy nhiên khoảng một năm sau thì ông đã từ chức. Suốt thời gian từ 1933 – 1945 Ngô Đình Diệm tạm gác đời sống chính trị của mình. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh có mời ông tham chính cho nền cộng hòa non trẻ nhưng ông từ chối3. Một thời gian ông đã qua Mỹ (1950 – 1953) và sống tại tu viện Maryknoll, giao thiệp với nhiều lãnh tụ Kitô giáo, sau đó ông sang Bỉ, tiếp tục sống cuộc đời tu sĩ của mình cho đến khi được người Mỹ hậu thuẫn, ông trở về Việt Nam 4.

Người có vai trò to lớn trong việc đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam Việt Nam chấp chính là thượng nghị sỹ Mỹ Mike Manafield và đức Hồng y Spellman5. Tuy nhiên Ngô Đình Diệm còn nhân được sự ủng hộ nồng nhiệt của người đứng đầu nước Mỹ. J F. Kennedy trước khi trở thành tổng thống Mỹ, ông đã tham gia câu lạc bộ “Tổ chức những người bạn Mỹ của Việt Nam” (năm 1955). Sau này, trong một bài phát biểu tại Thượng viện, dưới nhan đề “Lập trường của Mỹ tại Việt Nam” ông nhấn mạnh:

Việt Nam thể hiện là hòn đá tảng của Thế giới Tự do ở Đông Nam Á, là viên đá chốt của mái đá vòm, xương sống của con đê. Miến Điện, Thái Lan, Ấn Độ, Nhật Bản, Philippines và tất nhiên cả Lào và Cambodia là trong số đó; nền an ninh của các nước này có thể bị đe dọa nếu làn sóng cộng sản đổ vào Việt Nam.

Việt Nam thể hiện khả năng cung cấp thứ dân chủ nền tảng tại châu Á. Dù rằng chúng ta có thể xem thường hay phản đối điều này. Sự lớn mạnh về uy tín và ảnh hưởng của Trung cộng ở Á châu là một sự kiện không gì có thể thách thức. Việt Nam thể hiện sự thay thế đối với chế độ độc tài cộng sản. Nếu sự thể nghiệm dân chủ này mà sụp đổ, nếu vài triệu người tị nạn buộc phải từ bỏ chế độ độc đoán tại miền Bắc để không tìm thấy gì sự an toàn ở miền Nam thì thật sự là yếu kém chứ không phải là hùng mạnh – sẽ mang ý nghĩa đặc trưng của nền dân chủ trong suy nghĩ của những người châu Á khác nữa. Nước Mỹ chịu trách nhiệm trực tiếp về sự thử nghiệm này… chúng ta không cho phép sự thử nghiệm này thất bại.

Chúng ta không có ý đồ mua lấy tình bạn của những người Việt Nam. Chúng ta không thể giành lấy trái tim họ bằng cách buộc họ phải phụ thuộc vào đôi tay chúng ta. Thứ mà chúng ta phải đưa ra cho họ là một cuộc cách mạng – cuộc cách mạng về chính trị, kinh tế, xã hội vượt xa với những gì mà những người cộng sản có thể đề xuất – hòa bình hơn nhiều, dân chủ hơn nhiều và kiểm soát cục bộ được hơn nhiều. Một cuộc cách mạng như thế sẽ đòi hỏi rất nhiều từ nước Mỹ cũng như rất nhiều từ Việt Nam 6 …

Ngay cả những người cộng sản cũng thật khó phê phán quan điểm trên của Tổng thống Kennedy, nhưng đây chỉ là lời nói của một chính khách. Hầu hết nội dung tư tưởng này đã vắng bóng trên thực tế, ngoại trừ nguyên tắc kết hợp giữa mục tiêu chống cộng và xây dựng nền dân chủ giả hiệu ở miền Nam Việt Nam là được người Mỹ theo đuổi mà thôi

2. Chống cộng kết hợp với xây dựng nền dân chủ – cuộc thử nghiệm lần thứ nhất

Những người đặt viên gạch thiết kế một chính quyền chống cộng – dân chủ ở miền Nam Việt Nam là trung tướng Ó Daniel, Trưởng phái bộ viện trợ và cố vấn quân sự Mỹ (Military Assistance and Advisory Group), đại tá W.Lansdale sỹ quan CIA (sau được phong cấp tướng) và giáo sư tiến sỹ W. Fishel, Trưởng phân bộ Khoa Chính trị, Đại học Michigan Mỹ.

Kể từ tháng 7/1954 khi vừa lên nắm quyền, Ngô Đình Diệm đã mời giáo sư Fishel, người có tư tưởng chống cộng đến miền Nam Việt Nam làm cố vấn. Đến tháng 9/1954 có thêm bốn giáo sư chuyên ngành khác: Arthur Brandstat chuyên gia về hành chính, James Denission chuyên gia về quan hệ cộng đồng, Eward chuyên gia chính trị học, Charles Killingsworth chuyên gia kinh tế. Nhóm giáo sư Fishel cùng với nhóm sỹ quan CIA của Lansdale trở thành cầu nối giữa Ngô Đình Diệm với chính phủ Mỹ.

Ngay khi lên làm thủ tướng cho Bảo Đại, Ngô Đình Diệm đã phải đối mặt với hai thácthức to lớn; thứ nhất, quyền lực của trung tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng tham mưu trưởng quân đội quốc gia, người có tư tưởng thân Pháp và được lực lượng Pháp tại Việt Nam ủng hộ; thứ hai, các phe phái đối lập như giáo phái Cao đài, Hòa hảo và lực lượng Bình xuyên với lãnh địa rộng lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của chính quyền Bảo Đại. Vì vậy, chỉ sau 3 tháng nhậm chức, chính phủ Ngô Đình Diệm đã rơi vào một cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng, có nguy cơ sụp đổ.Nhưng nhờ có sức mạnh của đồng đô – la rót từ chính phủ Mỹ, nhất là sự lèo lái trực tiếp của Lansdale và Fishel, chính phủ Diệm đã đứng vững. Các phe đối lập Diệm lần lượt bị triệt hạ. Trong những năm từ 1954 – 1959, Mỹ đã viện trợ cho chính phủ Ngô Đình Diệm khoảng 1,2 tỷ đô – la; khoảng 80% chi phí quân sự và 50% chi phí phi quân sự của chính phủ Diệm được Washington bao trả 7.

Dưới sự chỉ đạo của nhóm cố vấn Mỹ, Ngô Đình Diệm đã tổ chức “trưng cầu dân ý “ phế truất Bảo Đại (23 tháng 10 năm 1955), tổ chức tuyển cử riêng rẽ để lập quốc hội (4 tháng 3 năm 1956), ban hành hiến pháp, dựng lên chính thể Việt Nam Cộng hòa, cự tuyệt miền Bắc hiệp thương tuyển cử thống nhất đất nước. Bên cạnh đó, Phái bộTrường Đại học Michigan còn ký với chính phủ Diệm một hợp đồng lớn về tổ chức và phát triển cơ quan an ninh, mật vụ cảnh sát8. Cho nên, từ 1956 – 1959 Fishel cùng nhóm khoảng 30 chuyên gia Đại học Michigan phụ trách Uỷ ban tư vấn đào tạo cán bộ, công chức hành chính, cảnh sát cho bộ máy chính quyền Ngô Đình Diệm . Fishel cũng giúp chính quyền Diệm tiến hành cải cách điền địa theo mô hình Philippines và Đài Loan9 Đến cuối 1959, về cơ bản, người Mỹ đã dựng lên ở miền Nam Việt Nam một chính phủ dân sự hợp hiến theo mô hình chính thể Mỹ. Nó được chính phủ Mỹ và đồng minh của họ công nhận là “quốc gia độc lập, dân chủ”, thuộc về thế giới tự do. Trong diễn văn đáp từ cho Phó Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson khi ông này viếng thăm Sài gòn tháng 5/1961, Ngô Đình Diệm đã nói “Biên giới của thế giới tự do chạy dài từ Alaska đến sông Bến Hải” 10

Tuy nhiên, mọi nỗ lực của người Mỹ chỉ đủ khoác lên chính phủ Ngô Đình Diệm một thứ dân chủ hình thức. Chính thể cộng hòa đã nhanh chóng biến thành chính thể gia đình trị. Anh em Diệm – Nhu cùng đảng Cần lao Nhân vị thao túng quyền lực ở trung ương, cấp chính quyền địa phương (tỉnh, huyện) ngay từ năm 1957 đã bị họ quân sự hóa. Tính đến đầu năm 1963, trong số 44 tỉnh cả nước đã có 38 tỉnh trưởng là sỹ quan quân đội.

Song song với tình trạng quân sự hóa chính quyền là chính sách chống cộng, giết hại hàng nghìn tù chính trị trong vụ thảm sát tại nhà tù Phú lợi (tháng 12/1958). Tháng 5/1959 Diệm đã ban hành Luật chống cộng, giết hoặc bỏ tù bất kể ai bị nghi ngờ là cộng sản. Theo những khuyên bảo của cố vấn Mỹ, ông ta cũng xây dựng các “khu trù mật” “ấp chiến lược” nhằm tách quần chúng khỏi những người cộng sản.Cuối năm 1963, có gần 7000 ấp chiến lược được xây dựng, tập trung khoảng 8 triệu nông dân vào đó sinh sống. Ấp chiến lược là một hình thức quản thúc người dân, tước đi của họ hầu hết mọi quyền tự do tối thiểu.

Cùng với chính sách chống cộng là chính sách đàn áp các tôn giáo khác, nhất là Phật giáo, mặc dù là không có bằng chứng thuyết phục về sự ủng hộ của Phật giáo đối với người cộng sản. Những chính sách phát xít trên làm phẫn nộ nhiều chính phủ trên thế giới, kể cả Anh và Pháp. Tháng 2/1963, Thượng nghị sỹ Mansfield, người ủng hộ nhiệt thành Ngô Đình Diệm trước đây, đã đọc phúc trình trước Thượng viện Mỹ sau chuyến đi thực tế của 6

ông tại miền Nam Việt Nam, kết luận rằng “Điều rất đáng lo ngại là sau 7 năm theo chế độ cộng hòa, miền Nam Việt Nam lại còn bất ổn định hơn so với giai đoạn đầu, càng xa rời với bộ mặt một chính phủ xuất phát từ dân chúng”11.

Như vậy, toàn bộ những nỗ lực của chính phủ Mỹ nhằm xây dựng một chế độ cộng hòa dân chủ ở miền Nam Việt Nam thời Ngô Đình Diệm đã trở nên hão huyền. Đã đến lúc người Mỹ phải thay ngựa giữa đường. Tiếc rằng, lý do thay ngựa lại không phải vì mục tiêu thiết lập nền tự do dân chủ ở miền Nam Việt Nam. Dẫu sao, việc thay con bài Ngô Đình Diệm đã cho thấy chủ trương kết hợp chống cộng với xây dựng nền dân chủ của Mỹ ở miền Nam Việt Nam bước đầu bị phá sản. 3. Chống cộng kết hợp với xây dựng nền dân chủ – lần thử nghiệm thứ hai. Lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm, người Mỹ đã chính thức vứt bỏ sự thử nghiệm xây dựng chính quyền tay sai dân sự ở miền Nam Việt Nam theo mô hình “quốc qia dân chủ, độc lập” dưới sự chỉ đạo trực tiếp của hệ thống cố vấn Mỹ. Họ chuyển sang một hình thức linh hoạt hơn là thiết lập một chính phủ bán dân sự mà thành phần cốt cán là những tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa. Là người cầm đầu cuộc đảo chính quân sự chống Diệm, tướng Dương Văn Minh được người Mỹ ủng hộ, đã được bổ nhiệm làm Quốc trưởng tháng 11/1963, đồng thời là chủ tịch “Hội đồng quân nhân cách mạng”. Hội đồng này nắm quyền lập pháp và hành pháp; nó chỉ định ra một chính phủ lâm thời do Nguyễn Ngọc Thơ làm Thủ tướng, tuy nhiên, thành phần nội các chủ yếu là các sỹ quan cao cấp. Bên cạnh Chính phủ lâm thời còn có “Hội đồng nhân sỹ” 60 người do Trần Văn Lắm làm Chủ tịch.

Về hình thức, chế độ Dương Văn Minh là bước thụt lùi của dân chủ so với chế độ Ngô Đình Diệm. Nó đánh dấu một khuynh hướng quân sự hóa bộ máy nhà nước của Việt Nam Cộng hòa. Song, sự tồn tại của chế độ Dương Văn Minh chỉ kéo dài trong 3 tháng (từ tháng 11/1963 – đến 1/1964) cho thấy tính chất mong manh của một chính phủ bán dân sự ở miền Nam Việt Nam. Hình như người Mỹ hiểu được điều này nên đã để cho tướng Nguyễn Khánh tổ chức một cuộc đảo chính khác (30/1/1964) để lật đổ “Hội đồng quân nhân cách mạng”, thành lập một chính phủ mới mang màu sắc dân chủ hơn.

Chính phủ mới này, ngoài phái quân sự còn có Nguyễn Tôn Hoàng, lãnh tụ của phái Tân Đại việt. Ông là nhân vật thân Mỹ, được người Mỹ nhiều lần giới thiệu vào chính phủ Ngô Đình Diệm, nhưng bị Diệm từ chối. Lần này Nguyễn Tôn Hoàng được bổ nhiệm làm Phó thủ tướng thứ nhất12. Đảng Đại việt của ông sẽ thay thế đảng “Cần lao Nhân vị” của Ngô Đình Diệm, tạo ra một thể chế chính trị – quân sự song đôi trong chính phủ mới, giữ phần nào tính dân chủ hình thức cho chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Nhưng sự thử nghiệm hình thức chính phủ bán dân sự của người Mỹ ở miền Nam Việt Nam là con dao hai lưỡi, không đảm bảo cho một chính thể dân chủ thực sự. Tướng Nguyễn Khánh đã từng nói câu nổi tiếng “Quân đội là cha quốc gia”, sự lạm quyền của khối tướng lãnh quân đội là điều khó tránh khỏi. Tháng 8/1964, chỉ sau 6 tháng đảo chính, Nguyễn Khánh đã phế truất Nguyễn Tôn Hoàng, tự công bố bản “Hiến chương Vũng Tàu”, một mình làm Chủ tịch Hội đồng quốc gia, Thủ tướng chính phủ và Tổng tư lệnh quân đội.

Hành động chuyên quyền của tướng Nguyễn Khánh đã gây nên làn sóng công phẫn trong nhiều tầng lớp xã hội. Không để cho đường lối độc tài quân sự của Nguyễn Khánh gây nguy cơ phá vỡ sự thể nghiệm xây dựng chính phủ bán dân sự của người Mỹ, họ đã buộc ông phải từ chức, hủy bỏ Hiến chương Vũng Tàu, thành lập “Tam đầu chế” gồm Nguyễn Khánh, Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm để giải thể chế độ quân phiệt.

“Tam đầu chế” chỉ là bước quá độ để người Mỹ quay trở lại việc thiết lập một chính phủ bán dân sự mới. Từ tháng 10/1964 – 1/1965 người Mỹ đưa ê kíp mới là Phan Khắc Sửu (Quốc trưởng), Trần Văn Hương (Thủ tướng) lên làm bức bình phong dân chủ ; bên trong vẫn là các tướng lĩnh: Nguyễn Văn Thiệu (Phó thủ tướng), Trần Văn Minh (Tổng trương quân lực), Linh Quang Viên (Tổng trưởng Bộ chiến tranh tâm lý), Nguyễn Cao Kỳ (Tổng trưởng Thanh niên).

Sau chính phủ của Trần Văn Hương lại đến chính phủ của Phan Huy Quát (từ tháng 2 – 6/1965). Phan Huy Quát thuộc phái Đại Việt miền Bắc, muốn hợp tác với một số nhân vật Quốc dân Đảng là Trần Văn Tuyến (Phó Thủ tướng), Nguyễn Hòa Hiệp (Tổng trưởng Nội vụ). Tuy nhiên, bản chất mong manh của một chính phủ bán dân sự chỉ cho phép nó tồn tại trng vòng 4 tháng. Tính ra Phan Huy Quát là chính phủ thứ 9 được thành lập, kể từ khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ.

4. Chống cộng kết hợp với xây dựng nền dân chủ – lần thử nghiệm thứ ba.

Những chính phủ bán dân sự từ thời Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Khánh, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát đều là những bước thụt lùi về dân chủ nhưng vẫn đảm bảo tính chất chống cộng đầy đủ như chính phủ của Ngô Đình Diệm trước đây. Tuy nhiên, việc xây dựng những chính phủ bán dân sự như thế không đưa lại cho người Mỹ những kết quả mong muốn ; trái lại, làm hạn chế khả năng thực hiện các mục tiêu chống cộng, do sự bất ổn triền miên về chính trị ở miền Nam Việt Nam. Điều này giải thích vì sao người Mỹ quyết định vứt bỏ mô hình chính phủ bán dân sự để đi đến xây dựng một chính phủ quân sự thuần túy gồm những tướng lĩnh có lập trường chống cộng khét tiếng, đáp ứng mục tiêu của Mỹ lúc này là can thiệp mạnh mẽ vào miền Nam Việt Nam bằng chiến lược “Chiến tranh cục bộ”.

Sự kiện khởi đầu của sách lược xây dựng chính phủ quân sự ở miền Nam Việt Nam là cuộc đảo chính ngày 11/6/1965 do các tướng trẻ lưu manh Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ thực hiện, lật đổ chính phủ dân sự Phan Huy Quát. Từ đây, con đường quân phiệt hóa chế độ Việt Nam Cộng hòa đã được xác lập.

Nguyễn Văn Thiệu sinh năm 1923 tại Ninh Thuận, một tỉnh miền Trung của Việt Nam. Ông từng là sỹ quan trong quân đội Liên hiệp Pháp. Từ 1955, Nguyễn Văn Thiệu gia nhập quân lực Việt Nam Cộng hòa và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội. Sau khi giải tán chính phủ bán dân sự Phan Huy Quát, Nguyễn Văn Thiệu trở thành quốc trưởng, Nguyễn Cao Kỳ được bổ nhiệm làm thủ tướng chính phủ mới. Trái ngược với nền Đệ nhất Cộng hòa Ngô Đình Diệm, nền Đệ nhị Cộng hòa của Nguyễn Văn Thiệu là một chính phủ quân sự độc tài, nhưng, được sơn phết một cách hoàn hảo thứ độc lập và dân chủ giả hiệu.

Để khoác lên mình lớp áo “chính phủ dân sự”, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đã tổ chức “Đại hội chính trị toàn quốc” (12/4/1966), sau đó thành lập “Uỷ ban lãnh đạo quốc gia mở rộng” và bầu cử “Quốc hội lập hiến” (tháng 8/1966). Thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1967, Nguyễn Văn Thiệu trở thành vị tổng thống của nền Đệ nhị Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1967 – 1975). Tình trạng quân sự hóa thành phần nội các chính phủ làm cho Phan Huy Quát, nguyên Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa đã phải thốt lên rằng “Công việc của họ (tướng lĩnh quân sự) là đánh nhau ở mặt trận, vậy mà họ nhào vào hết các lĩnh vực, làm tổng thống, phó tổng thống, làm thủ tướng, chiếm hết các ghế bộ trưởng, tỉnh trưởng. Ở miền Nam này chỉ có một đảng chính trị thôi, đó là đảng quân đội”13.

Cũng giống như Ngô Đình Diệm, trong quá trình tập trung quyền lực cá nhân, Nguyễn Văn Thiệu đã dần loại bỏ những lực lương đối lập, xây dựng một chế độ dựa trên lực lượng quân đội và cảnh sát, đưa cả miền Nam vào cuộc chiến chống cộng với quy mô chưa từng có. Để kiểm soát số dân cư khoảng 10 triệu sinh sống trên vùng đất thuộc chính quyền Sài gòn và phục vụ chiến tranh, Nguyễn Văn Thiệu xây dựng một lực lượng vũ trang hùng hậu gồm khoảng 1,1 triệu binh lính, 12 vạn cảnh sát. Ông bố trí các sỹ quan thân tín của mình vào tất cả các vị trí chủ chốt trong bộ máy hành chính và tư pháp ở các tỉnh, thành. Đầu năm 1973, với sắc luật số 60/72, ông tổ chức ra Đảng Dân chủ và xóa bỏ cùng lúc gần 30 đảng phái chính trị khác. Ông tăng cường quyền hành pháp cho mình bằng cách cải tổ nội các, đặt thêm các “Phủ tổng ủy”, “Văn phòng cố vấn đặc biệt” trực thuộc Phủ Tổng thống để tước bớt quyền hành của Thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Ngay trong quân đội, ở cương vị Tổng tư lệnh, Nguyễn Văn Thiệu bỏ qua vai trò Tổng tham mưu trưởng của tướng Cao Văn Viên, liên lạc trực tiếp với các quân khu qua hệ thống thông tin đặt tại Dinh Độc lập14. Như vậy, Ngô Đình Diệm thiết lập chế độ độc tài với cả một gia đình, còn Nguyễn Văn Thiệu – với chỉ một cá nhân.

5. Chống cộng kết hợp với xây dựng nền dân chủ – nguyên nhân thất bại.

Mặc dù người Mỹ nhìn nhận vai trò quan trọng của Việt Nam như “hòn đá tảng của thế giới tự do ở Đông Nam Á”, có khả năng “cung cấp thứ dân chủ nền tảng tại Á châu”, nhưng thứ tự do, dân chủ mà người Mỹ tạo dựng ở miền Nam Việt Nam hoàn toàn xa lạ với chính bản thân xã hội Mỹ. Tự do dân chủ ở đây không phải là mục tiêu, mà là phương tiện, là lý do để người Mỹ gây chiến tranh xâm lược, lừa gạt người dân Việt Nam, cộng đồng thế giới và cả người dân Mỹ.

Vì bản chất lừa gạt, nên người Mỹ rất khó khăn thực hiện mục tiêu xây dựng một quốc gia tự do dân chủ ở miền Nam Việt Nam, nhất là khi ý thức một dân tộc thống nhất đã được cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 và cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954 chiếu sáng trong tâm khảm của tuyệt đại đa số người Việt Nam lúc bấy giờ. Trong điều kiện lịch sử như vậy, chiến lược chống cộng kết hợp với thiết lập nền dân chủ kiểu Mỹ là một sai lầm về chính trị. Kết quả, là chỉ tạo ra một loại chính phủ bù nhìn. Thứ chính phủ này luôn phải tự vật lộn trong mâu thuẫn sâu sắc giữa “độc lập” quốc gia và “lệ thuộc” ngoại bang, giữa “tự do, dân chủ” và “độc tài quân sự” để phục vụ chiến tranh đế quốc, đi ngược lại nguyện vọng hòa bình thống nhất nước nhà.

Trong mối quan hệ với mục tiêu chống cộng ở miền Nam Việt Nam, quân sự hóa hệ thống chính quyền là khuynh hướng tất yếu. Chỉ có quân sự hóa chính quyền miền Nam mới đáp ứng được những đòi hỏi của các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” “Chiến tranh cục bộ” hay “Việt Nam hóa chiến tranh” của người Mỹ. Rõ ràng chống cộng dẫn đến triệt tiêu dân chủ xã hội.

Có thể giai cấp tư sản và các đảng phái chính trị ở miền nam Việt Nam căn bản thống nhất với nhau về mục tiêu chống cộng, nhưng bị chia rẽ vì mục tiêu dân chủ. Số lượng đảng phái chính trị khá lớn, có thời kỳ lên tới hơn 100 tổ chức chính trị và tôn giáo. Họ bị cuốn vào vòng tranh đấu quyền lực cá nhân hoặc phe phái hơn là tranh đấu vì một nền dân chủ tư sản đích thực như ở phương Tây.

Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất làm sụp đổ mưu đồ chống cộng là cuộc đấu tranh anh dũng, bền bỉ của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và chính quyền tay sai Sài Gòn. Ở Việt Nam, lập trường chống cộng thực chất là lập trường chống lại nhân dân, chống lại sự nghiệp thống nhất đất nước. Các chế độ độc tài từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu,càng thực hiện những biện pháp chống cộng bao nhiêu thì càng trực tiếp đánh vào dân bấy nhiêu. Vì vậy, chính quyền Sài gòn bị mất dần cơ sở chính trị lẫn cơ sở xã hội. Họ trở thành một nhóm nhỏ đối lập với biển cả nhân dân, chỉ còn biết dựa vào những người Mỹ xâm lược; khi người Mỹ rút thì họ phải sụp đổ.

6. Thay lời kết luận

– Chống cộng kết hợp với xây dựng chế độ dân chủ kiểu Mỹ là hai mục tiêu chiến lược mà người Mỹ muốn thực hiện ở miền Nam Việt Nam. Nhưng trong quá trình thực hiện, mục tiêu chống cộng không thể nào đi cùng với mục tiêu dân chủ. Đã chống cộng thì không thể nào xây dựng được dân chủ.

– Song người Mỹ đã cố gắng lèo lái thực hiện hai mục tiêu chống cộng và dân chủ bằng cách thiết lập các chính phủ từ dân sự đến bán dân sự, sau cùng, chuyển sang chính phủ quân sự thuần túy. Dù là chính phủ kiểu nào, cũng chỉ là những chính phủ độc đoán, tính chất quân phiệt của chúng gia tăng cùng với diễn tiến can thiệp ngày càng sâu của người Mỹ vào công việc nội bộ Việt Nam.

– Mặc dù cố tình tạo ra thứ dân chủ giả hiệu cho chính quyền Sài gòn, nhưng từ sau năm 1965, vấn đề dân chủ hóa miền Nam Việt Nam không còn là mối quan tâm của người Mỹ nữa. Họ đã vứt bỏ thứ “quốc gia độc lập, dân chủ” của Việt Nam Cộng hòa, đổ quân xâm lược Việt Nam. Quá trình người Mỹ xây dựng nền dân chủ cho miền Nam Việt Nam thực sự là quá trình thiết lập các chính thể phát xít phản động, được mở đầu bằng chế độ Ngô Đình Diệm và kết thúc bằng chế độ Nguyễn Văn Thiệu.

– Sự thất bại của chiến lược chống cộng và thiết lập chế độ dân chủ kiểu Mỹ ở miền Nam Việt Nam bắt đầu từ chính những mâu thuẫn bên trong của chiến lược này. Trước tiên là người Mỹ không thể xây dựng được ở miền Nam Việt Nam một quốc gia độc lập mà không lệ thuộc Mỹ. Mặt khác, người Mỹ luôn cố gắng khoác cho các chính phủ phát xít hoặc quân phiệt của Việt Nam Cộng hòa chiếc áo dân chủ, giả hiệu như chính nền độc lập của nó ; từng buớc leo thang chiến tranh chống lại nhân dân Việt Nam. Họ đã quên những ý tưởng khôn ngoan mà Tổng thống Kennedy từng tuyên bố: “Chúng ta không có ý đồ mua lấy tình bạn của những người Việt Nam. Chúng ta không thể giành lấy trái tim họ bằng cách buộc họ phải phụ thuộc vào đôi tay chúng ta. Thứ mà chúng ta phải đưa ra cho họ là một cuộc cách mạng – cuộc cách mạng về chính trị, kinh tế, xã hội vượt xa với những gì mà những người cộng sản có thể đề xuất – hòa bình hơn nhiều, dân chủ hơn nhiều và kiểm soát cục bộ được hơn nhiều…”

———-

 

* Ghi chú của Ba Sàm:  Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” . Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;

Và các bài tham luận trong Hội thảo đã được đăng trên Nhật báo Ba Sàm:

92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ

93:QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP

149:QUAN HỆ VN-LX ‘65-’75

150:SÁCH ĐỊA CHÍ Ở MIỀN NVN(’54-’75)

156.CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN

162.TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH

191.CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM ĐỔI MỚI

217.VN-TQ THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

219.TUẦN TRA,KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ:1802-1858

224.SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGƯỜI HOA Ở VN

229.NGƯỜI HOA TRUNG-NAM BỘ VN(XVII-XIX)

232.LỊCH SỬ TRANH CHẤP HOÀNG SA,TRƯỜNG SA:NGUYÊN NHÂN-GIẢI PHÁP

235.PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX

240.NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI BÁO CHÍ VÀ CHỮ QUỐC NGỮ

———-

 

1 Jacques Soustelle, “ Indochina and Korea: One front”, Foreign Affairs 29.Oct 1950, pp.56 – 66.

2 Eisenhower Press Conference, 7 April 1954, in Foreign Relation of the United States, 1952 – 1954, vol 13. Indochina, pp.1280 – 81.

3 Gary R. Hess, Vietnam and the United States, Origins and Legacy of War. Twayne Publishers. An Imprint of Simon Schuster Macmillan, New York, pp. 56

4 Tường Hữu, Những điều ít được biết về cuộc chiến tranh Việt Nam 1945 – 1975. Nxb Công An, tr.249 – 55.

5 John Cooney, The American Pope : the Life and Time of Francis Cardinal Spellman. A Dellbook, New York.

6 William Conrad Gibbons, The US Government and the Vietnam War. Part II, 1961 – 1964. Princeton Univ Press, pp.5 – 6

7 Gary R. Hess, Vietnam and the United States, Origins and Legacy of War. Twayne Publishers. An Imprint of Simon Schuster Macmillan, New York, pp.60

8 Tường Hữu, Những điều ít được biết về cuộc chiến tranh Việt Nam 1945 – 1975. Nxb Công An, tr.267 – 68.

9 Tường Hữu, Những điều ít được biết về cuộc chiến tranh Việt Nam 1945 – 1975. Nxb Công An, tr.267 – 68.

10 http://www.wikipedia / Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm.

11 Sđd, tr. 308.

12 Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Phông Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (phần chính trị, nội an, ngoại giao).

13 Tài liệu đã dẫn

14 http://www.wikipedia/ Đại tướng Việt Nam cộng hòa Cao Văn Viên.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

 

Posted in Chiến tranh VN, Dân chủ/Nhân Quyền, Lịch sử | Tagged: , | Leave a Comment »

NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI BÁO CHÍ VÀ CHỮ QUỐC NGỮ

Posted by adminbasam on 20/07/2009

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA GUYỄN VĂN VĨNH VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN

BÁO CHÍ TIẾNG VIỆT VÀ TRUYỀN BÁ CHỮ QUỐC NGỮ

Nguyễn Thị Lệ Hà *

Viện Sử học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

 

1. Vài nét về thân thế của Nguyễn Văn Vĩnh

Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 30 tháng 4 năm Nhâm Ngọ, (tức ngày 15.6.1882), tại số nhà 46 phố Hàng Giấy, Hà Nội, nguyên quán làng Phượng Dực, thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Phú Xuyên). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, đông con ở vùng đồng chiêm trũng, quanh năm đói kém, nên bố mẹ ông phải bỏ quê ra Hà Nội kiếm sống. Tám tuổi ông làm nghề kéo quạt ở trường Thông ngôn của Pháp mở tại đình Yên Phụ.

Năm 11 tuổi nhờ chăm chỉ và ham học ông được Hiệu trưởng D’Argence đồng ý cho dự thi tuyển vào lớp thông ngôn tập sự ngạch Tòa công sứ, niên khóa 1893-1895. Ông đỗ thứ 12 trong tổng số 40 học sinh. Ông đã đỗ thủ khoa khi mới 13 tuổi và được tuyển làm phiên dịch của Tòa công sứ Lào Cai, Tòa công sứ Hải Phòng, sau lại làm thông ngôn ở Tòa công sứ Bắc Giang (từ 1902-1905).

Ngoài công việc chính ở Tòa công sứ, Nguyễn Văn Vĩnh còn là cộng tác viên của hai tờ báo tiếng Pháp: “Courrier de Hai Phong”, và “Tribune Indochinoise” của Schneider. Chính nhờ những hoạt động năng nổ này của Nguyễn Văn Vĩnh được viên Công sứ Bắc Giang Hauser tuyển làm thư ký riêng. Cho nên khi Hauser được cử về làm Đốc lý Hà Nội, ông cũng đưa Nguyễn Văn Vĩnh về theo.

Đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều biến đổi: phong trào “châu Á thức tỉnh” nổi lên; Nhật thắng Nga trong chiến tranh Nga -Nhật (1904-1905). Ở trong nước phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân phát triển rầm rộ. Trước tình hình này, sau khi được bổ nhiệm làm Toàn quyền Đông Dương P.Beau nhận thấy cần cải cách nền giáo dục Việt Nam để có thể theo kịp được những biến động xã hội, đồng thời chú ý đến các công việc từ thiện nhằm xoa dịu sự phản kháng của nhân dân trước chính sách hà khắc của chính quyền thuộc địa. Toàn quyền P.Beau giao nhiệm vụ cho Đốc lý Hauser trực tiếp vận động và giúp đỡ người Việt làm đơn và thảo điều lệ xin phép lập các trường, các hội, rồi dịch ra tiếng Pháp để đệ trình lên Phủ thống sứ. Nguyễn Văn Vĩnh được Hauser tín nhiệm và giao cho đảm trách toàn bộ công việc này. Chính vì vậy, Nguyễn Văn Vĩnh là sáng lập viên của các hội, các trường được thành lập ra lúc bấy giờ trong đó tiêu biểu là:

– Hội Trí Tri ở 59 phố Hàng Quạt, Chủ hội là ông Nguyễn Liên. Nguyễn Văn Vĩnh là sáng lập viên, đồng thời là Chủ tịch Ban diễn thuyết và giảng sách mỗi tuần một lần, cùng với ông Nghiêm Xuân Quảng và Trần Tán Bình là Uỷ viên.

– Trường Đông Kinh Nghĩa Thục thành lập năm 1907 ở phố Hàng Đào, Nguyễn Văn Vĩnh là người thảo điều lệ và viết đơn xin thành lập, đồng thời là giáo viên giảng dạy tiếng Pháp, dạy cách viết văn và diễn thuyết.

– Thành lập “Hội dịch sách”, “Hội giúp đỡ người Việt đi sang Pháp học trung, đại học và kỹ thuật”, cùng nhiều trường, nhiều hội khác…

Năm 1906, Pháp mở Hội chợ thuộc địa tại Thành phố Marseille. Đốc lý Hauser được giao tổ chức gian hàng Bắc Kỳ. Đốc lý Hauser đã rất tin tưởng Nguyễn Văn Vĩnh và giao tất cả công việc từ thu thập sản phẩm hàng hoá, thiết kế trưng bày đến tuyển thợ đi Marseille dựng gian hàng. Đồng thời, ông được giao quản lý luôn gian hàng Hội chợ thuộc địa từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1906, khi đó ông mới 24 tuổi.

Hội chợ thuộc địa kết thúc, Nguyễn Văn Vĩnh ở lại Marseille một tháng, được Đốc lý Hauser đưa thăm quan nhà in và báo “Revue de Paris”, Nhà xuất bản Hachette, Nhà xuất bản Từ điển Larousse.

Năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam đầu tiên gia nhập Hội Nhân quyền Pháp.

Sau khi về nước, ông xin nghỉ việc và cùng với một người Pháp tên là Dufour thành lập nhà in. Ông cùng với Phan Kế Bính dịch và xuất bản hai tác phẩm đầu tiên là Tam Quốc Truyện Kiều. Trong Lời tựa của cuốn Truyện Kiều ông đã đưa ra câu nói nổi tiếng: “Nước Nam ta mai sau này hay hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ. Câu nói này đã trở thành lời kêu gọi của các nhà truyền bá chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX, nó được in trên tất cả các bìa sách do nhà in của Nguyễn Văn Vĩnh xuất bản. Đồng thời, đây cũng là mục đích trong suốt cuộc đời làm báo và xuất bản của ông. Từ đó, Nguyễn Văn Vĩnh chuyển hẳn sang nghề làm báo và xuất bản. Ông đã quyết định “tự cách tân” mình, bỏ búi tó, khăn xếp, bỏ áo dài, mặc quần áo theo kiểu Âu, đội mũ cát két, cắt tóc ngắn, đi giầy da, dùng xe môtô mang từ Pháp về. Năm 1907 là năm đầu tiên ông thực sự bước vào làng báo với nhiều bút danh khác nhau như: Tân Nam Tử, Đào Thị Loan, V, Bản Quán… tuỳ theo từng thể văn.

Bên cạnh đó, ông cũng là hội viên rất tích cực của hai hội lớn là Trí Tri và Khai Trí Tiến Đức. Song song với công việc mà cả cuộc đời ông say mê kể trên, ông còn tham gia hoạt động chính trị, làm Uỷ viên Hội đồng Thành phố Hà Nội khi mới 25 tuổi (1907), trong nhiều khoá liên tiếp làm hội viên Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ (tức Viện Dân biểu) từ năm 1913, và thành viên của Đại Hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương (cơ quan tư vấn tối cao về kinh tế của Chính phủ Liên bang Đông Dương). Ông còn tham gia Hội Nhân quyền Pháp tại Việt Nam và Hội Tam điểm Quốc tế.

Có thể nói, Nguyễn Văn Vĩnh là một trong số rất ít người Việt Nam lúc đó tham gia vào tất cả các tổ chức tư vấn của Chính quyền Pháp. Chính vì thế, một số người cho rằng ông hoàn toàn phục vụ quyền lợi cho thực dân Pháp. Nhưng có một thực tế là ông đã hai lần từ chối Bắc Đẩu bội tinh, một huân chương mà người Việt và người Pháp thời ông đều mơ ước.

Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những người Việt Nam đầu tiên tiếp nhận văn hoá Âu Tây và tích cực truyền bá vào Việt Nam. Chính ông là một trong những người đánh những tiếng trống đầu tiên mở màn cho việc phát triển báo chí tiếng Việt, một nghề hoàn toàn mới đối với người Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đồng thời, ông cũng là một trong những người có công lớn nhất cho cuộc cách mạng chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ thời kỳ này có rất ít người chấp nhận sử dụng, trong khi đó chữ Hán, chữ Nôm đã tồn tại lâu đời và được tất cả mọi người chấp nhận nó như là một thứ chữ truyền thống.

2. Những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh với việc phát triển báo chí tiếng Việt

Cho đến nay, phần lớn các tác giả khi nghiên cứu về Nguyễn Văn Vĩnh đều cho rằng ông là người thông minh, có tài và đặc biệt xuất sắc trong nghề làm báo và xuất bản. Có thể nói, Nguyễn Văn Vĩnh là người làm chủ nhiệm, chủ bút nhiều nhất trong lịch sử báo chí Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX:

Ông chính thức làm chủ bút tờ Đăng Cổ Tùng báo số ra đầu tiên ngày 28-3-1907, thay cho tờ Đại Nam Đồng văn nhật báo. Tờ Đăng Cổ Tùng báo chỉ tồn tại được 9 tháng, đến ngày 14-11-1907 thì ngừng hẳn. Sau khi tờ Đăng Cổ Tùng báo đình bản, ông chủ trương ra tờ báo tiếng Pháp Notre Journal (1908-1909). Một năm sau vào năm 1910 ông lại ra tờ Notre Revue nhưng cũng chỉ tồn tại được 12 số, và cùng năm đó, ông làm chủ bút tờ Lục Tỉnh tân văn ở Sài Gòn.

Đầu năm 1913, ông ra Hà Nội làm chủ bút tuần báo Đông Dương tạp chí, số đầu ra ngày 15-5-1913. Năm 1915 ông kiêm làm chủ bút luôn cả tờ Trung Bắc tân văn. Từ đây, tờ Đông Dương tạp chí chỉ chuyên về những bài đại luận, bài văn chương, bài sư phạm, còn những bài thời sự và tạp luận thì chuyển hết sang tờ Trung Bắc tân văn. Cả 3 tờ báo tiếng Việt mà Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút đều do một người Pháp là Schneider sáng lập [1]. Năm 1919 tuần báo Đông Dương tạp chí một lần nữa được đổi thành Học báo vẫn do ông làm chủ nhiệm. Học báo là chuyên san về những vấn đề sư phạm, nhằm giúp các giáo viên dạy tốt và đặt ra phương pháp mới để dạy chữ Quốc ngữ. Cùng năm, ông mua lại tờ Trung Bắc tân văn và cho xuất bản nhật báo. Đây là tờ nhật báo đầu tiên ở Bắc Kỳ trong lịch sử báo chí Việt Nam.

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cuối những năm 20 – đầu những năm 30 thế kỷ XX đã ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các lĩnh vực. Ngành báo chí và kinh doanh nhà in của Nguyễn Văn Vĩnh cũng không tránh khỏi những khó khăn. Báo, sách in ra không phát hành được. Mặt khác, do tình hình chính trị trong nước giai đoạn này có những thay đổi lớn với phong trào cách mạng lên cao và sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương. Chính quyền thuộc địa Pháp cũng kiểm duyệt gắt gao báo chí tiếng Việt. Năm 1931, ông cho ra tờ báo tiếng Pháp “Annam Nouveau” (An Nam mới). Ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút cho tới năm 1936. Trong 30 năm tròn ông vừa là một cây bút viết một cách say mê trong tất cả mọi lĩnh vực, vừa là người quản lý nhà xuất bản.

Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết một khối lượng bài viết khổng lồ thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đăng trên các báo do ông làm chủ nhiệm, chủ bút hoặc trên nhiều tờ báo ra cùng thời. Điều đặc biệt của Nguyễn Văn Vĩnh là ông có thể viết một lúc nhiều thể loại báo chí khác nhau mà vẫn đưa được vào trong các tác phẩm của mình sự uyên bác, thông tuệ của một người trí thức mẫn cảm với thời cuộc: “…viết luôn một bài xã thuyết cho báo l’Annam nouveau, thảo một bức thư cho viên toàn quyền Pháp đưa xuống dưới nhà đánh máy luôn, dịch miệng “Tê Lê Mạc phiêu lưu ký” cho Đông Lĩnh Dương Phượng Dực ngồi ám tả, trong khi chính ông lại quay sang nói chuyện với ông Tụng về chuyện thống sứ Pháp “có ý muốn giúp ông tiền bất cứ lúc nào, bao nhiêu cũng được”, miễn là ông tạm gác ý kiến đả kích Pháp và ngưng chống nhà vua“[2,72]

Nguyễn Văn Vĩnh là một nhà báo đa tài. Ông có thể viết tin, nghị luận (xã thuyết), làm thơ, khảo cứu, phóng sự và dịch tiểu thuyết. Ở bất cứ chuyên mục nào những bài viết của ông cũng đều sắc sảo, thể hiện được trình độ học thức sâu và tầm nhìn rộng. Nhưng một trong những sở trường của Nguyễn Văn Vĩnh là báo nghị luận. Do thời kỳ ông viết báo chưa có một hệ thống lý thuyết phân định rạch ròi thể loại báo chí nên có thể liệt báo nghị luận gồm các bài viết (theo lối gọi khi ấy) là các bài xã thuyết, luận thuyết và một số bài có khuynh hướng thể loại giống như nhàm đàm, phiếm luận trên báo chí Việt Nam sau này. Những bài viết nghị luận của ông tương đối ngắn, nội dung phong phú đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Với bút danh Tân Nam Tử, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết nhiều bài nghị luận về các vấn đề khác nhau đăng ngay từ những số đầu tiên của tờ Đăng Cổ tùng báo như: Tại người hay tại đất? (thói lười biếng dẫn tới nghèo đói) số 2; Thói tệ (nói về lối sống thờ ơ không quan tâm đến nhau trong các đô thị), số 6; Phận làm dân (kêu gọi người dân thực hiện quyền bầu người đại diện trong nghị viện), số 17; Chết về gạo(về sự độc canh cây lúa mà dân vẫn đói), số 26; Hội Kiếp Bạc (về thói mê tín buôn thần bán thánh ở các đền chùa), số 28. Ngay số 2 trên Đông Dương tạp chí Nguyễn Văn Vĩnh đã có bài Học hành (nói về thói học vẹt, không sáng tạo trong tiếp thu kiến thức); Luận về việc du học (nói về sự vần thiết phải cử người đi du học nước ngoài), số 30… Trong những bài nghị luận của mình, bên cạnh những luận điểm, dẫn chứng để so sánh, phân tích các vấn đề nêu ra. Nguyễn Văn còn “nhìn thấy trước” các vấn đề trong xã hội. Thực tế cho thấy, nhiều vấn đề Nguyễn Văn Vĩnh đặt ra đến nhiều thập kỷ sau, thậm chí hàng trăm năm sau người Việt Nam vẫn phải đối mặt. Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ dừng lại ở việc đưa ra được những vấn đề xã hội mà ông còn đi sâu phân tích, mổ xẻ nguyên nhân, thực trạng và quan trọng hơn ông còn đưa ra các giải pháp để hạn chế các mặt tiêu cực của những hiện trạng đó. Chính sự phân tích khách quan, khoa học cộng với tầm nhìn xa của một người làm báo khiến cho các bài báo nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh có sự bền vững của thời gian.

Tuy nhiên, Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ viết những bài nghị luận, mà ông tham gia viết rất nhiều chuyên mục khác nhau với nhiều giọng điệu phù hợp với từng chuyên mục. Đồng thời, giữ vai trò là chủ bút ông có đóng góp rất lớn trong lịch sử báo chí Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, khi ông luôn chủ động thay đổi nội dung tờ báo hoặc mở ra những chuyên mục riêng với phong cách, giọng điệu rất riêng giúp phù hợp với tâm lý và thị hiếu của người đọc trong từng thời kỳ. Và mỗi chuyên mục riêng đó, ông đều viết với ngữ điệu khác nhau khiến người đọc dễ tiếp thu, tiếp nhận những ý kiến, tư tưởng mà nhà báo muốn truyền đạt như chuyên mục Nhời đàn bà, và một loạt bài Xét tật mình… được đăng trên Đăng cổ tùng báo và Đông Dương tạp chí.

Hầu hết các bài trong mục Nhời đàn bà trên cả Đăng Cổ tùng báo (20 bài) và Đông Dương tạp chí (53 bài) đều không có tựa đề riêng mà chỉ gộp chung lại trong mục Nhời đàn bà và đều ký tên Đào Thị Loan. Các bài trong mục Nhời đàn bà bàn đến mọi vấn đề, mọi góc cạnh trong đời sống của người phụ nữ: từ chuyện mang thai, nuôi dạy con, chăm sóc chồng con, trang phục, vệ sinh, nữ công gia chánh, đối nhân xử thế…Giọng điệu trong các bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh ở mục này đã mở ra hơi hướng của thể loại báo chí phiếm đàm (hoặc phiếm luận, nhàn đàm…) trên báo chí quốc ngữ sau này. Nhiều bài viết trong mục Nhời đàn bà đã tiến đến gần hình thức của những tiểu phẩm báo chí. Với việc viết đều kỳ cho mục Nhời đàn bà trên Đăng Cổ tùng báo và Đông Dương tạp chí, Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những nhà báo đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam đảm nhiệm công việc viết chuyên mục dài ngày trên một tờ báo. Mặc dù được viết trong cả khoảng thời gian dài nhưng mỗi bài viết của ông luôn có nội dung mới, hấp dẫn người đọc. Nghiên cứu những bài viết nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh trên các tờ báo tiếng Việt có thể nhận thấy một văn phong rất riêng, đặc thù cho một thể loại báo chí nghị luận. Đây là đóng góp rất lớn của Nguyễn Văn Vĩnh với việc phát triển báo chí tiếng Việt. Báo chí Việt Nam sau này đã có sự thừa hưởng thành quả mà Nguyễn Văn Vĩnh đã vô tình hay hữu ý để lại .

Bên cạnh chuyên mục Nhời đàn bà Nguyễn Văn Vĩnh còn viết 19 bài Xét tật mình đăng nhiều kỳ thành hẳn một mục độc lập trên Đông Dương tạp chí nêu lên tất cả những tật xấu của quan lại và người dân Việt Nam như: Tính ỷ lại trong cuộc sống số 8; Coi ăn uống là việc quan trọng hàng đầu số 10; Ăn mặc suồng sã hớ hênh số 14; Lối học cổ hủ thông qua tiếng Trung Hoa, tác hại đến hoạt động trí tuệ của dân tộc số 16; Lợi dụng đau khổ của đồng bào để trục lợi số 17….Mục đích của ông khi viết một loạt bài này là nhằm làm cho nhân dân nhanh chóng vứt bỏ những thói tục xấu, tiếp thu những tri thức mới của phương Tây. Để có được những bài viết phản ánh được đúng thực trạng xã hội đòi hỏi nhà báo phải có tri thức và phong văn hóa rộng nhưng điều quan trọng là tác giả phải dũng cảm viết đúng sự thật. Những sản phẩm để lại qua 30 năm làm báo và xuất bản của Nguyễn Văn Vĩnh đã minh chứng được: ông hội tụ được đầy đủ những tố chất của một nhà báo tài ba, chân chính và ông xứng đáng là một tấm gương sáng cho nhiều thế hệ nhà báo sau học tập.

Có thể thấy rằng theo dòng thời gian-từ Đăng Cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí đến Trung Bắc Tân văn -bút lực của Nguyễn Văn Vĩnh ngày càng trở nên sắc sảo, đa dạng. Không chỉ làm công việc của một người quản lý tờ báo, ông còn đảm nhiệm viết rất nhiều mục, nhiều thể loại trên báo của mình. Đặc biệt, những bài báo nghị luận của Nguyễn Văn Vĩnh dù được viết dạng “chính thống” với giọng điệu nghiêm túc, chuẩn mực hay dưới dạng “phá cách” như trong mục Nhời đàn bà, Xét tật mình …Những bài viết của ông ở thể loại này dù vô tình hay hữu ý đã tạo ra một phong cách riêng biệt và trở thành một trong những hình mẫu về thể loại báo chí nghị luận mà báo chí quốc ngữ đã tựa vào đó để hình thành và phát triển trong nhiều năm sau này.

Một trong những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh trong việc phát triển báo chí tiếng Việt là ở chỗ ông là một trong những người đi tiên phong trong việc viết phóng sự. Qua hai phóng sự Từ triều đình Huế trở về Một tháng với những người đi tìm vàng (đang viết dở thì ông chết) được đăng trên tờ L’Annam nouveau. Tuy chưa hẳn đã là những hình mẫu chuẩn mực của phóng sự nhưng rõ ràng đây là những bài đầu tiên mang đậm dấu ấn thể loại phóng sự mà nhiều nhà báo sau này đã vận dụng và tiếp tục sáng tạo trong nền báo chí tiếng Việt.

Một đóng góp rất quan trọng khác của Nguyễn Văn Vĩnh trong lịch sử báo chí tiếng Việt là việc ông với vai trò là chủ bút Đông Dương tạp chí, đã cho đăng rất nhiều công trình dịch thuật của các tác phẩm văn chương đặc sắc của nước ngoài. Nhưng người có nhiều công trình dịch thuật nhất lại chính là Nguyễn Văn Vĩnh. Ông dịch tất cả các thể loại, không chỉ riêng tiếng Pháp mà cả chữ Hán, chữ Nôm, và dịch ngược từ chữ Nôm ra chữ Pháp, nổi tiếng nhất là Truyện Kiều. Tìm hiểu các công trình dịch thuật của Nguyễn Văn Vĩnh đăng trên Đông Dương tạp chí và Trung Bắc tân văn, ta thấy có sự thay đổi đáng lưu ý. Lúc đầu ông thường thiên về dịch các tác phẩm học thuật tư tưởng của các bậc danh sĩ nổi tiếng nước Pháp như Emile Zola, Pascal. Nhưng dần về sau, ông chuyển sang dịch tiểu thuyết và hài kịch. Có lẽ, ông muốn thu hút nhiều người đọc báo hơn, vì đọc tiểu thuyết và hài kịch thường gây lối cuốn hơn đọc tư tưởng triết học. Những tác tác phẩm dịch tiểu thuyết, văn xuôi, thơ… của Nguyễn Văn Vĩnh giúp cho người dân Việt Nam hiểu biết những tư tưởng mới, những điều hay của Phương Tây và phương Tây cũng qua những tác phẩm dịch ngược của ông mà biết được nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam và Phương Đông. Do đó, có thể khẳng định Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những người đầu tiên bắc chiếc cầu nối giữa hai nền văn hóa Đông và Tây. Đây là đóng góp rất lớn của Nguyễn Văn Vĩnh với nền văn hóa Việt Nam nói chung và nền báo chí nói riêng những năm đầu thế kỷ XX.

Nghiên cứu một cách hệ thống các tác phẩm báo chí của Nguyễn Văn Vĩnh qua từng thời kỳ (Đăng Cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn), ta có thể nhận thấy sự tiến triển rõ rệt trong các bài viết từ xây dựng cấu trúc đến tu sửa câu văn. Vì vậy, các bài viết của ông ngày càng bớt rườm rà, ngô nghê để trở nên trong sáng, giản dị và xúc tích hơn.

Về cơ bản, các tác phẩm báo chí của Nguyễn Văn Vĩnh, dù với thể loại nào, đều được thể hiện bằng một nghệ thuật báo chí bậc thầy trong thời điểm xuất hiện. Với tài sử dụng ngôn từ hiếm có và một vốn văn hóa dồi dào được tích hợp trong môi trường giao thoa văn hóa Đông -Tây, Nguyễn Văn Vĩnh đã thể hiện xuất sắc các tác phẩm báo chí, mang lại cho chúng những giá trị lâu bền.

3. Những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh với việc cổ vũ và truyền bá chữ Quốc ngữ

Phát minh ra chữ Quốc ngữ là công của các giáo sĩ phương Tây (Francisco de Pina, Gaspar do Ammarl, Antonio de Barbosa, Alexandre de Rhodes). Tuy nhiên, vào thời kỳ đầu (TK XVII-XIX) chữ Quốc ngữ chỉ là chữ dùng mẫu tự La tinh để thể hiện ngữ âm Việt Nam, giúp các giáo sĩ dễ dàng truyền đạo vào Việt Nam. Cho đến giữa thế kỷ XIX rất ít người Việt Nam biết và dùng được chữ Quốc ngữ. Phải đến khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ thì chữ Quốc ngữ mới đắt đầu được dạy và được phổ biến.

Người Việt Nam có công truyền bá chữ Quốc ngữ đầu tiên là Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của. Khi đó Trương Vĩnh Ký đã đem những sách đọc dễ hiểu và gần gũi với tâm lý người Việt như Lục súc tranh công, Phan Trần truyện, Lục Vân Tiên in ra bằng chữ Quốc ngữ. Mục đích của ông là để truyền bá dễ dàng chữ Quốc ngữ trong nhân dân. Năm 1868, Trương Vĩnh Ký viết sách: “Tiếng Annam thực hành, dùng cho trường thông ngôn”. Năm 1876, ông xuất bản cuốn: “Sách học đánh vần quốc ngữ”. Tuy nhiên, cả hai ông lại không phát động, hô hào và dấy lên một phong trào học chữ Quốc ngữ sâu rộng như Nguyễn Văn Vĩnh sau này ở miền Bắc. Nguyễn Văn Vĩnh và nhóm Đông Dương tạp chí (Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế Bính, Nguyễn Bá Học…) đã sớm nhận thấy ở chữ Quốc ngữ là một thứ vũ khí lợi hại cần thiết cho dân tộc ta trong sự nghiệp phục hưng nước nhà. Nguyễn Văn Vĩnh từng nói năm 1907: “Nước ta sau này hay hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ”. Và ông đã lấy chính chữ Quốc ngữ để truyền tải những điều mới lạ của văn hoá phương Tây cho đông đảo nhân dân ta, như ông đã nêu rõ tại Hội quán Trí Tri (ngày 4-8-1907): “… Nước Nam ta muốn chóng bước lên đường tiến hoá thì phải mau thu thái lấy những tư tưởng mới. Muốn cho những tư tưởng mới trong văn hoá Âu Tây truyền bá khắp trong dân gian, thì phải cần phiên dịch những sách chữ nước ngoài ra Việt Nam…”. Sáu năm sau (1913), ông lại đưa vấn đề này trên báo Đông Dương tạp chí: “Bản quán định đem hết những bài luận hay về các công nghệ, về việc buôn bán, dịch ra quốc văn cho người Annam được tận hưởng” [3].

Từ khi bắt đầu bước vào nghề làm báo và tham gia giảng dạy ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Nguyễn Văn Vĩnh đã cổ động nhân dân học chữ Quốc ngữ. Năm 1913, trên số 2 của tờ Đông Dương tạp chí, ông đã cổ động nhân dân Việt Nam học chữ Quốc ngữ để thay thế chữ Hán, chữ Nôm: “Mở ngay tờ nhật báo này ra mà ngẫm xem bấy nhiêu điều luận trong báo, thử nghĩ: giá thử luận bằng chữ Nho thì có mấy người đọc được, mà trong những người đọc được, thì có mấy người hiểu cho hết nghĩa. Thế mà chữ Quốc ngữ, thì không những là người biết chữ Quốc ngữ đọc được, hiểu được, một người đọc cả nhà nghe cùng hiểu được, từ đàn ông cho đến các bà (không dám nói đàn bà sợ các bà quở) trẻ con cũng nghe được mà chỉ với chúng ta trong cuộc luận bàn thế sự thì có phải nó vui việc ra là bao nhiêu”. Đồng thời, ông cũng cho rằng để đọc, viết được chữ Quốc ngữ rất dễ “ai có ý chí vài ngày, ngu đần là một tháng cũng phải thông” [4]. Trong khi đó học chữ Nho thì phải “mất hàng nửa đời người, mà trăm người học không được một người hay, học được hay cũng chỉ ích lấy một mình, không đem ra mà dùng cho đời được nhờ cái học vấn của mình chẳng qua là một cái thú rung đùi mà thôi” [5]. Còn chữ Nôm thì dễ hơn, nhưng có cái khó là mỗi miền, mỗi người lại có cách viết và hiểu khác nhau. Do vậy nó cũng gây khó khăn cho việc học, hiểu và phổ biến rộng rãi.

Ý thức được rằng sẽ rất khó khăn nếu chỉ một mình xông xáo trong cuộc cách mạng chữ viết, truyền bá nó tới tất cả mọi người, Nguyễn Văn Vĩnh luôn vận động, kêu gọi “những bậc tài hoa, những người có học thức trong nước, phải chuyên vào nghề văn quốc ngữ”, và cả những “bậc có Pháp học, thì tuy rằng cái ngoại tài ấy phải chuyên làm cách tren – cạnh, làm mối kiếm ăn, nhưng hễ muốn nhân việc lập thân mà lại có ích cho cả đồng bào mình, thì phàm luyện được chút tài nào của người, cũng nên dùng quốc văn mà phát đạt nó ra cho cả người đồng – bang được hưởng” [6].

Thời gian đầu văn chương Quốc ngữ vẫn còn vụng về, lủng củng, Nguyễn Văn Vĩnh thấy cần thiết phải khắc phục những mặt hạn chế đó để khi nói, viết diễn tả được đúng ý và chuẩn xác. Ông đã đề xuất một biện pháp đơn giản và hiệu quả là tất cả các thể loại như: báo, sách, văn chương, thơ, tiểu thuyết, nghị luận, đơn từ đến những câu đối, câu phúng, lời chúc mừng bạn bè… đều phải viết bằng chữ Quốc ngữ, để cho người dân làm quen dần và đồng thời cũng luyện cho người viết trôi chảy, chau chuốt hơn.

Bên cạnh việc vận động mọi người cùng tham gia cổ động và viết chữ Quốc ngữ, vấn đề ngữ pháp tiếng Việt cũng được ông đưa ra bàn luận để đi đến thống nhất trong toàn quốc về cách đặt câu, cách viết, chấm phẩy, cách nói, viết cho cả 3 miền và cần phải có một thể lệ chung “Nay bản báo lấy việc cổ động cho chữ Quốc ngữ làm chủ nghĩa, tưởng cũng nên đem hết các khuyết điểm, các nơi không tiện ra mà bàn lại, chẳng dám đem cách nào mới mà xin thế vào lối cũ, sợ thiên hạ lại bảo vẽ vời, song cũng nên bàn các nơi bất tiện ra để ai nấy lưu tâm vào đó, thì dễ có ngày tự dưng chẳng phải ai làm mà chữ Quốc ngữ tự đổi dần dần đi” [7].

Là người từng đi dọc 3 miền đất nước, Nguyễn Văn Vĩnh có điều kiện chú ý giọng nói, cách viết của 3 miền và thấy có sự khác biệt nhau rõ nét như chữ ch với chữ tr ngoài Bắc không phân biệt mấy nhưng “ở Nam Kỳ thì thật có phân biệt. Như con trâu mà viết thành châu (hạt châu) thì người Nam Kỳ không hiểu… Sự này tôi đã có ý nghiệm từ Thanh Hoá vô tới Quảng Nam và ở Sài Gòn”. Hay chữ s với chữ x: ngoài miền Bắc và miền Trung thì không phân biệt hai chữ này còn người miền Nam thì “chữ s uốn lưỡi như chữ ch tây, còn chữ x thì đọc như chữ s tây. Chữ gi, chữ d, chữ r thì ở Bắc Kỳ ta không phân, còn ở Nam Kỳ và Trung Kỳ phân biệt được chắc chữ r mà thôi, còn d với gi cũng đọc như chữ y, mà không mấy người biết chắc được tiếng nào đáng viết d hay gi” [8]. Mục đích của ông khi ông đưa ra sự so sánh giữa 3 miền là mỗi miền nên học những tiếng chuẩn của nhau, mỗi bên có thể “nhường nhịn” nhau một chút, như ngoài Bắc nên theo trong Nam mấy tiếng “gi thành tr, d thành nh, nh thành l… để dùng cho đều trong văn tự, ba miền cùng dễ hiểu cả”. Ông đã liệt kê ra một số từ:

“1. Gi đổi ra tr: trả để thay cho tiếng giả, trai gái – giai, trăng gió – giăng, trao đổi – giao, trầu không – giầu, tro tàn – gio, trồng cây – giồng, trở về – giở.

2. s đổi ra tr: trống mái để thay cho tiếng sống.

3. d đổi ra nh: mạng nhện để thay tiếng dện, nhọn – dọn, nhốt gà – dốt, nhơ bẩn – dơ…

4. nh đổi ra l: lạt để thay tiếng nhạt, lát (chốc) – nhát, lầm (lẫn) – nhầm, lẹ – nhẹ…” [9]. Theo ông nếu mỗi miền chịu học những từ chuẩn của nhau thì chữ Quốc ngữ ngày càng trở nên rõ ràng và trên văn tự có sự thống nhất trong cả nước.

Theo Nguyễn Văn Vĩnh chữ Quốc ngữ trong thời gian đầu “viết có mẹo mực lối lăng. Lối chỉ có một, không phân ra lắm cách như bây giờ, cho nên dễ nhận. Lối ấy, tất là lối của những người Âu châu sang đây trước nhứt, tức là các cố đạo”. Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh muốn chữ Quốc ngữ phải là một lối viết có luật lệ, có kinh điển để “xứng đáng làm văn chương riêng của nước Nam ta” [10]. Cho nên ông cho rằng sự khác biệt giữa 3 miền và việc học hời hợt chữ Quốc ngữ của một số người đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của chữ Quốc ngữ, vì nhiều khi các chữ viết không đúng đã làm cho người đọc phải suy nghĩ và dễ gây hiểu sai nghĩa. Từ thực tế đó ông sợ chữ Quốc ngữ dần dần “thành một lối chữ hỗn độn, không ai hiểu được nữa” [11]. Ông đã đề nghị các quan cai trị xét trong các đơn từ nếu đơn nào viết sai lỗi chính tả thì không nhận, trừ những việc khẩn cấp. Nếu được “như thế thì chắc rằng chẳng bao lâu bắt được người Annam phải viết chữ Quốc ngữ theo phép chớ không viết liều được nữa” [12].

Trên Đông Dương tạp chí ngay từ những số đầu năm 1913, đã có những bảng mẫu chữ cái Quốc ngữ bao gồm một số nguyên âm và phụ âm, nguyên âm đôi, các vần ghép: bơ, cơ, dơ, gơ, hơ, kơ… và một số đếm đơn giản từ 1 đến 9 và số 0. Bảng chữ cái viết hoa to và các chữ thường theo sau là cách phát âm khá chuẩn xác. Chúng tôi thấy đủ 23 chữ cái, 6 nguyên âm ngắn và 11 phụ âm. Cách phát âm các từ này có kèm theo tranh vẽ dễ hiểu như sách học vần của các em lớp 1 hiện nay, ví dụ: Dép (vẽ đôi dép), Tháp (vẽ cái tháp), lọ (vẽ cái lọ), người mẹ, cái chợ, con quạ… đều có vẽ tranh nhỏ minh họa. Đặc biệt ở Đông Dương tạp chí năm 1918 còn có bài hướng dẫn cách cầm bút, cách ngồi, cách viết… Tất cả những công việc này đều có đóng góp quan trọng bậc nhất của chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh, người đã hết lòng cho việc cổ suý chữ Quốc ngữ phát triển sâu rộng trong quảng đại quần chúng nhân dân.

Để chữ Quốc ngữ ngày càng hoàn chỉnh, giúp cho mọi người đọc và hiểu được dễ dàng, bên cạnh việc chỉnh sửa những chữ còn sai khi nói và viết (chính tả) thì cần phải thống nhất cách phiên âm tên đất, tên người nước ngoài khi dịch ra chữ Quốc ngữ. Thông thường người dịch theo tiếng Trung Quốc, mặc dù rất dễ đọc và nhớ nhưng lại bị sai với nguyên bản, còn nếu dịch thẳng từ tiếng nước ngoài ra chữ Quốc ngữ thì nhiều người lại không hiểu, còn để nguyên như bản gốc thì những người không biết tiếng nước ngoài lại không đọc được. Từ những khó khăn đó Nguyễn Văn Vĩnh đã đưa ra hai cách phiên âm: “Bao nhiêu những tên nước lớn, ai cũng biết theo tiếng Tàu rồi như là Pháp, Anh, Nga, Đức, Bỉ-lị-thì, áo, thì cứ để tiếng biết rồi mà dùng… Còn bao nhiêu những chỗ chưa mấy biết thì dịch theo cách mới, lấy cho gần nguyên âm”, tức là “ khi viết lẫn những tên ấy vào văn quốc ngữ thì nên viết tiếng dịch trước rồi vòng hai bên hai cái viết nguyên dạng chữ vào sau cho người đã biết tiếng Tây dễ nhận ra” [13]. Đây là một vấn đề rất cần thiết và rất thời sự đối với báo chí, xuất bản lúc bấy giờ.

Với mong muốn đưa chữ Quốc ngữ nhanh chóng trở thành một chữ viết phổ thông, Nguyễn Văn Vĩnh đã tham gia viết nhiều thể loại, từ nghị luận, dịch tiểu thuyết, thơ ngụ ngôn… bằng chính chữ Quốc ngữ, để chữ Quốc ngữ dần hoàn chỉnh, có khả năng truyền tải được tất cả tư tưởng, tình cảm của con người. Những người không biết chữ Hán và chữ Pháp thì qua chữ Quốc ngữ cũng có thể tiếp cận được những áng văn hay, những tư tưởng mới của nước ngoài. Nguyễn Văn Vĩnh còn biên soạn một quyển sách tự học chữ Quốc ngữ để phát cho những người mua báo. Nguyễn Văn Vĩnh luôn tận dụng mọi điều kiện, mọi khả năng về phương diện báo chí mà mình có để có thể tuyên truyền cho chữ Quốc ngữ.

Chữ Quốc ngữ có tới 5 dấu thanh: nặng, sắc, huyền, hỏi, ngã và những râu ở chữ đ, ơ, ư. Nguyễn Văn Vĩnh đã đề xướng cải cách ngay trên tờ báo do ông làm chủ bút (Đông Dương tạp chí, Trung Bắc Tân văn). Theo đó chữ F thay dấu huyền, chữ W thay dấu sắc… Sự cải cách của ông rất tiện lợi trong thời kỳ máy chữ mua của Pháp. Nhưng những việc làm đó của ông không được nhiều người cùng thời hưởng ứng. Mãi sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, và sau ngày hoà bình lập lại, ngành bưu điện Việt Nam đã áp dụng chính hệ thống “chữ Quốc ngữ cải cách của Nguyễn Văn Vĩnh” trong các điện tín.

Trong số những người cùng chí hướng với ông thời gian đó như Phan Kế Bính, Trần Trọng Kim, Nguyễn Đỗ Mục, Phạm Quỳnh… thì Nguyễn Văn Vĩnh được coi là người đứng đầu của phong trào cổ vũ và truyền bá chữ Quốc ngữ ở Việt Nam. Ông luôn thực hiện bằng cả hai hình thức: diễn thuyết và xuất bản (hay ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết).

Với mục đích đào tạo một số người trở thành phiên dịch phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa, cho nên trong chương trình giảng dạy, chữ Quốc ngữ chỉ chiếm thời lượng rất ít mà phần lớn thời gian dành cho việc học chữ Pháp. Vì vậy, Nguyễn Văn Vĩnh, cùng với việc truyền bá văn hoá phương Tây đã rất tích cực tuyên truyền, cổ vũ người dân học chữ Quốc ngữ, dùng chữ Quốc ngữ để truyền tải những cái hay cái đẹp của nền văn minh Việt, phổ biến những tư tưởng Đông – Tây để làm cho nhân dân vừa hiểu được nền văn hoá Pháp, vừa giữ được bản sắc văn hoá dân tộc. Ông đã từng nói “Nước Nam ta mất vì những trí thức nho học chỉ biết làm văn Tàu. Chúng ta bây giờ đừng để trở thành những người trí thức mới chỉ biết làm văn chương Tây” [14].

Chữ Quốc ngữ lúc đầu rất phức tạp vì chữ có rất nhiều nguyên âm (72 nguyên âm), cho nên việc in ấn gặp rất nhiều khó khăn do các máy chữ mua của phương Tây không có nhiều dấu như vậy. Do đó, việc cải cách chữ Quốc ngữ cho bớt dấu đi là rất cấp thiết và quan trọng. Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những người đầu tiên đề xướng việc cải cách chữ Quốc ngữ để tiện in ấn, xuất bản. Theo Hồ Lân Trinh trong “Sự cải cách vần chữ Việt” thì “Muốn cho chủ và thợ nhà in áp dụng những tiến bộ về kỹ thuật ấn loát cho chữ Việt, thì phải cải cách chữ viết thế nào cho ít dấu chữ chừng nào hay chừng nấy. Đi từ ý này và đưa ý đó đến chỗ cùng tột, Nguyễn Văn Vĩnh đề nghị hạn chế các dấu lại còn 26: đó là số người Anh hùng. Như vậy bất cứ máy sắp chữ mua ở thị trường nào trên thế giới cũng có thể phụng sựchữ Việt được. Nhưng làm sao để nhốt 72 nguyên âm Việt vào trong phạm vi chật chội của 7 nguyên âm Anh? Nguyễn Văn Vĩnh liền đề nghị hai ước lệ: thay thế một số nguyên âm bằng những nguyên âm đôi và đánh dấu giọng thấp cao bằng những phụ âm không ở cuối vần mà người sẽ để ở chót tiếng” [15].

Đến năm 1918 [16] năm kết thúc của tờ Đông Dương tạp chí, đồng thời cũng là năm chữ Quốc ngữ thắng lợi hoàn toàn, thì không còn ai có thể nghi ngờ khả năng của chữ Quốc ngữ nữa. Chữ Quốc ngữ đã có thể dịch được tất cả những áng văn hay của nước ngoài, cũng như diễn tả được những tư tưởng và cảm xúc một cách chân thực. Chữ Quốc ngữ đã được sử dụng rộng rãi thay thế chữ Hán và chữ Nôm (chữ Hán bị bãi bỏ trong thi cử năm 1915 ở Bắc Kỳ, và chấm dứt trên cả nước năm 1919 ở Trung Kỳ). Từ đây chữ Quốc ngữ đã trở thành thứ chữ phổ thông chiếm vị trí quan trọng và được tất cả người dân Việt Nam ưa dùng.

Để đạt được thành quả đó, những người đi tiên phong cổ vũ và cải cách chữ Quốc ngữ như Nguyễn Văn Vĩnh đã trải qua rất nhiều khó khăn. Vì trong chương trình học của nước ta lúc đó, chỉ 3 năm đầu cấp tiểu học được học bằng chữ Quốc ngữ, đến bậc trung học chữ Quốc ngữ chỉ còn là một môn sinh ngữ, trong khi tiếng Pháp được nâng lên trong tất cả các môn học. Và đến bậc cao đẳng, đại học thì chữ Việt mất hẳn, chỉ còn lại chữ Pháp. Đồng thời, họ phải đối đầu với ý thức hệ phong kiến lạc hậu, bảo thủ trong xã hội Việt Nam. Vì vậy việc cổ động cho việc học chữ Quốc ngữ từ thành thị đến nông thôn là một việc rất vất vả. Trước thực tế đó việc lên tiếng bảo vệ, cổ động cho chữ Quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh và những người cùng chí hướng với ông là một việc làm rất đáng kể, rất đáng trân trọng.

Mặc dù chữ Quốc ngữ và những người truyền bá chữ này được đặt dưới sự bảo trợ của Chính quyền thuộc địa, nhưng người Pháp không thể ngờ rằng, khi loại chữ này đã trở thành chữ viết của dân chúng để truyền đạt tư tưởng và nguyện vọng, thì chính quyền thuộc địa lúc này đã không thể kiểm soát được nữa và nó đã trở thành nhân tố quan trọng trong công cuộc giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam sau này cũng nhận thấy việc truyền bá chữ Quốc ngữ là một biện pháp để giáo dục quần chúng và đưa quần chúng đi theo con đường cách mạng của Đảng và Mặt trận Việt Minh tiến tới Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi. Chữ Quốc ngữ đã được giảng dạy trong tất cả các trường từ bậc tiểu học đến đại học.

4. Một vài nhận xét về Nguyễn Văn Vĩnh

Những năm cuối đời, Nguyễn Văn Vĩnh gặp nhiều khó khăn trong công việc báo chí, xuất bản lẫn trong chính trường. Từ năm 1930 trở đi, Nguyễn Văn Vĩnh đã nợ Ngân hàng Đông Dương rất nhiều tiền nên chính quyền thuộc địa Pháp buộc ông phải lựa chọn một trong ba con đường do Pháp đặt ra: Một là vào Huế làm quan Thượng thư; Hai là vào tù; Cuối cùng là phải đi biệt xứ sang Lào tìm vàng về trả nợ. Ông đã chọn phương án thứ ba để bảo vệ nhân cách của mình, đồng thời ông cũng muốn qua chuyến đi này có thể khảo sát thêm và có điều kiện tiếp tục viết báo. Nhưng ông đã chết trong lần thứ hai đi tìm vàng trên dòng sông Sê-băng-ghi, trên một chiếc thuyền độc mộc, trong người không có lấy một đồng xu, nhưng trên tay vẫn đang cầm một quản bút và một bài phóng sự đang viết dở “Một tháng với những người đi tìm vàng”, mà mấy bài đầu ông gửi về đăng trên tờ Annam Nouveau. Ông mất vào ngày 1-5-1936.

Như phần trên đã nói, Nguyễn Văn Vĩnh lúc đầu gặp nhiều hạn chế về học hành, nhưng bù lại ông lại có một trí thông minh tuyệt vời. Bằng nỗ lực cá nhân ông đã vươn lên và trưởng thành một cách nhanh chóng. Về chữ Quốc ngữ ông là người đóng góp nhiều và quan trọng nhất, để có được một thứ chữ như ngày hôm nay cho chúng ta dùng. Nguyễn Văn Vĩnh còn là người mở đầu và có đóng góp rất lớn cho một ngành mới trong những năm đầu thế kỷ XX: đó là ngành báo chí mà bây giờ rất phát triển và quan trọng. Đồng thời ông cũng mở đầu cho một nghề mới: nghề in ấn và xuất bản. Nghề này, được phát triển nhanh chóng và trở thành nghề tối quan trọng không thể thiếu được ở các quốc gia văn minh. Nguyễn Văn Vĩnh cũng là người khởi đầu cho các thể loại như thơ mới, truyện ngắn, tiểu thuyết mà đến những năm 1930-1945 đạt đến đỉnh cao và giai đoạn này đã ghi được một nét sâu đậm trong lịch sử phát triển của nước nhà. Đồng thời, ông còn là người khơi nguồn và cổ động nhiệt tình cho một loại hình nghệ thuật hoàn toàn mới mẻ đối với dân tộc Việt Nam lúc đó là kịch nói và điện ảnh. Về văn hoá ông đóng góp rất lớn trong việc truyền bá văn hoá phương Tây vào Việt Nam thông qua dịch thuật. Những tác phẩm của ông để lại bây giờ theo thống kê của con cháu ông có đến hàng ngàn cuốn sách viết, dịch và hàng vạn bài báo bằng tiếng Việt, tiếng Pháp. Có thể nói, cho đến ngày hôm nay cái tài viết của ông gồm đủ các thể loại, với nội dung phong phú từ viết tin, dịch thơ, phóng sự, khảo cứu, dịch tiểu thuyết, dịch hài kịch.. . ít ai vượt qua được. Một khối lượng khổng lồ làm ra trong vòng có 30 năm (1906-1936), quả thật đáng kính nể và là những tài liệu quý.

Cụ Hoàng Đạo Thuý, một trí thức yêu nước người Hà Nội đã nhận xét về Nguyễn Văn Vĩnh: “Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những thông ngôn đầu tiên giỏi tiếng Pháp, có học thức, tinh khôn, tài hoa, lại có óc kinh doanh. Vĩnh rất hăng hái trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ… Sau Nguyễn Văn Vĩnh kinh doanh nghề in, cải tiến nhà in, ra được nhiều sách đẹp, lại làm việc kinh doanh nữa. Đã kinh doanh thì va ngay vào các quyền lực tài chính của thực dân Pháp và bị đè bẹp” [17]. Khi ông mất có rất nhiều các bậc danh tiếng thời đó như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Trọng Kim, Phan Bội Châu, Nguyễn Văn Tố… đã gửi tới viếng ông những câu đối, trướng, liễn với biết bao tình cảm tiếc thương và kính trọng.

Việc nghiên cứu, đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh còn cần phải đầu tư nhiều công sức và thời gian.

Bài viết này chỉ góp một phần rất nhỏ vào việc nhận định, đánh giá một số đóng góp Nguyễn Văn Vĩnh về văn hóa như phát triển báo chí tiếng Việt và cổ vũ và truyền bá chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX.

———-

 

* Ghi chú của Ba Sàm:  Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” . Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;

Và các bài tham luận trong Hội thảo đã được đăng trên Nhật báo Ba Sàm:

92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ

93:QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP

149:QUAN HỆ VN-LX ‘65-’75

150:SÁCH ĐỊA CHÍ Ở MIỀN NVN(’54-’75)

156.CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN

162.TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH

191.CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM ĐỔI MỚI

217.VN-TQ THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

219.TUẦN TRA,KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ:1802-1858

224.SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGƯỜI HOA Ở VN

229.NGƯỜI HOA TRUNG-NAM BỘ VN(XVII-XIX)

232.LỊCH SỬ TRANH CHẤP HOÀNG SA,TRƯỜNG SA:NGUYÊN NHÂN-GIẢI PHÁP

235.PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

 

Posted in Báo chí, Lịch sử, Văn hóa | Tagged: , | Leave a Comment »

PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX

Posted by adminbasam on 15/07/2009

VỊ TRÍ QUAN TRỌNG CỦA PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX

TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VĂN HOÁ VIỆT NAM

PGS.TS. Chương Thâu, Viện Sử học *

 

Khoảnh khắc giao thời giữa hai thế kỷ (XIX và XX) ở vùng Đông Á lúc bấy giờ diễn ra nhiều sự kiện trọng đại, nhất là ở Nhật và ở Trung Quốc. Vận động duy tân ở Nhật Bản, bắt đầu tới Minh Trị Thiên hoàng, đưa đến kết quả rực rỡ. Nước Nhật tiến lên thành một cường quốc, đánh thắng được nước Nga. Cả thế giới, đặc biệt là Đông Á và Đông Nam Á, thừa nhận là nhờ có duy tân, nước Nhật mới đạt được thành tựu lớn như vậy. Vận động duy tân ở Trung Quốc, bắt đầu với vua Quang Tự, gặp sự cản trở của thế lực phong kiến, rồi sự xâu xé của các liệt cường, trải nhiều biến cố mới đi đến cuộc Cách mạng Tân Hợi. Nhưng chính cuộc vận động này đã dồn dập xuất hiện rất nhiều tác phẩm lý luận chính trị xã hội, làm cho giới nho sĩ ở Trung Quốc sực tỉnh, chuyển biến theo đường lối mới, và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước ở trong vùng. Cả khu vực Đông Á đang bắt đầu thức tỉnh, trong đó có Việt Nam.

Riêng ở đất nước ta, tình hình đầu thế kỷ này cùng đầy biến động. Phong trào Cần Vương đã bị dập tắt, nhưng tinh thần diệt thù cứu nước vẫn chưa chìm xuống. Tiếng vang từ các cuộc khởi nghĩa (từ Phan Đình Phùng đến Đề Thám) vẫn còn ảnh hưởng lớn, vẫn thôi thúc mọi người. Lớp văn thân trước kia, có vai trò chỉ đạo các cuộc nổi dậy, tuy không còn người lãnh tụ tiêu biểu nữa, song cái chí nguyện độc lập, tự do, chống bọn xâm lăng của họ vẫn còn đó, còn nung nấu chí nguyện phục thù. Một số nhà nho kế cận vẫn còn bị hấp dẫn bởi những ngọn cờ quật khởi, vẫn ước mong được vì “non nước tuốt gươm ra”. Tuy nhiên, đã phảng phất cái quan niệm nhận thấy rằng những biện pháp đấu tranh: lập căn cứ riêng, cướp thành, giành đất như các cuộc khởi nghĩa trước đây có lẽ là không ổn. Phải gánh đích bằng những phương sách khác phải tiến hành cách mạng bằng các hình thức đấu tranh khác. Thời kỳ bình định cơ bản đã qua rồi, chính quyền thực dân đang chuyển sang đường lối khai thác, và vì thế mà đất nước này mang thêm những cục diện mới. Vừa muốn kìm hãm xã hội, nhưng lại cũng vừa cần phải có sự đổi thay mới hợp với sự điều hành của kẻ cầm quyền. Miền Bắc, miền Trung chưa có bao nhiêu, nhưng miền Nam đã đổi thay nhiều lắm. Tổ chức quản lý khác việc học hành phải theo chương trình Pháp, khoa cử bị bỏ, việc đào tạo trước nhất là kiếm người phục vụ cho bọn thực dân. Việc kinh doanh được mở mang, các đồn điền, nhà máy bắt đầu phát triển. Khá quan trọng là sự ra đời của những người làm nghề tự do, và sự tiếp thu văn hoá mới từ phương Tây đưa đến. Bấy nhiêu biến cố đã làm cho các nhà nho phải nhìn thế cuộc bằng con mắt khác. Rõ ràng là xã hội đang có cái mới, ngày càng nhiều và phát triển, nhà nho không muốn chấp nhận cái mới ấy cũng không được. Đúng lúc ấy thì có khuynh hướng duy tân – nhất là từ bên Nhật đưa sang. Những nhà nho còn dồi dào nhiệt huyết nhất bỗng thấy tăng sức mạnh cho “giống da vàng đánh bại bọn da trắng”. Vậy là phải duy tân, và có thể bắt chước hướng duy tân của Nhật Bản. Một số nhà nho mạnh bạo nhất, có ý chí phục thù quyết liệt nhất, đã thiên về khuynh hướng ấy.

Nếu tấm gương duy tân Nhật Bản kích thích một bộ phận nhà nho Việt Nam một cách sôi nổi, thì ở một bộ phận nhà nho khác, tình huống cuộc duy tân Trung Quốc lại có phần đậm đà hơn. Lý do đơn giản là vì sách báo của Trung Hoa vào Việt Nam dễ hơn, đọc nhanh và cũng hiểu nhanh hơn. Chưa thấy nói có tác phẩm nào của Nhật Bản bằng tiếng Nhật được lưu hành ở nước ta, và những hiểu biết về Nhật Bản lúc đó, cũng chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ của Trung Quốc. Lúc đó, ở Trung Quốc tư tưởng duy tân càng thêm sôi nổi. Một loạt tác giả mới, sách báo mới của những hội nghiên cứu, hội chính trị mới đã ra đời, đều có tính hướng đến Việt Nam. Tất cả đều nhất loạt hô hào cái mới, lên án Thanh triều hủ bại, đòi bỏ khoa cử, phủ nhận chế độ phong kiến, đề cao dân chủ, tán thành dân quốc. Các tác phẩm phương Tây cổ xuý cho tư tưởng dân chủ đều được dịch ra, những tên tuổi mới lạ được phiên âm thành Hán tự ta trở nên quen thuộc: Mạnh Đức Tư Cưu (Montesquieu), Lư Thoa (J.J Rousseau), Phúc Lộc Đắc Nhĩ (Voltaire), v.v… Các nhà nho Việt Nam đã được đọc những sách ấy và hào hứng tiếp thu, trân trọng những kiến giải mà họ cho là hợp lý nhất, mới nhất đúng nhất với lịch sử nhân loại tiến hoá. Họ cảm thấy phải đi theo con đường này, và đó cũng là con đường cứu nước hiệu nghiệm. Cũng như một số nhà nho trên, lòng yêu nước của họ chưa hề nguội lạnh, con đường duy tân này cũng là con đường thích hợp mà có phần nào chưa phải trực tiếp đương đầu với gươm súng của bọn thực dân.

Thế là hình thành ra hai phái trong công cuộc vận động cứu nước. Một phái chủ trương giành độc lập trước nhất, phải vũ trang bạo động, nếu sức mình chưa đủ thì tìm viện trợ ở ngoài. Hoạt động theo hướng này, nếu ở ngay trong nước thì phải tiến hành một cách bí mật, nếu ở ngoài nước thì hăng hái học tập Nhật Bản và Trung Quốc, tất nhiên phải đề phòng sự khủng bố truy lùng của địch. Những nhà nho đi con đường này được xem là nằm trong tổ chức bí mật, gọi là ám xã. Phe ám xã sang Tàu, nhất là sang Nhật, tức là làm nhiệm vụ Đông du. Còn phe kia, tiến hành vận động đổi mới ngay trong nước, tìm cách khai thác triệt để những điều kiện công khai, hô hào nâng cao dân trí, với danh nghĩa là thúc đẩy cho quần chúng thấy rõ cái hủ bại của đất nước dưới chế độ phong kiến quân chủ. Việc làm này có thể tiến hành đàng hoàng trước bộ máy chính quyền thực dân và tay sai. Vì thế, người ta gọi họ là ở trong phái minh xã. Minh xã hay ám xã, thì vẫn cùng chung mục đích đổi mới đất nước, giải phóng dân tộc.

Trong quá trình tuyên truyền giải thích chủ trương, có trường hợp các nhà nho trong hai phái này tranh luận với nhau, thậm chí phản đối nhau kịch liệt, nhưng thật ra thì họ “tương phản nhi tương thành” (chữ dùng của Huỳnh Thúc Kháng). Dân chúng không hề nhầm lẫn điều đó, mà vẫn kính trọng, vẫn ủng hộ cả hai với nhiệt tình ca ngợi và tuân thủ như nhau. Họ đều được xem là những nhà chí sĩ cứu nước. Có người còn nghĩ rằng, chính các nhà nho phân công nhau, chia việc cho nhau và để cùng đi tới kết quả. Bản thân hai phái nhà nho này, trong nhiều trường hợp, đã có cách nói như nhau, đặt vấn đề phục vụ dân tộc như nhau, chứ không hề trái ngược gì nhau cả.

Hai ông Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu không nhất trí với nhau về đường lối, nhưng vẫn là bạn đồng chí, đồng tâm, và phong trào được gọi là Duy Tân (bao gồm cả Đông Kinh nghĩa thục) cũng có quan hệ với Duy Tân hội và với Quang Phục hội. Bọn thực dân và tay sai, hiểu rõ điều này hơn ai hết, và đã tìm cách khủng bố cả hai phái ám xã, minh xã với biện pháp khắc nghiệt như nhau.

Việc vận động duy tân trong nước chủ yếu là do phái minh xã. Cách tiếp nhận tư tưởng duy tân của hệ, chủ yếu là bằng tân thư, nghĩa là bằng sách báo ở Trung Quốc, ở Nhật Bản truyền sang. Có thể nhận ra trong kho sách này những loại tài liệu sau đây:

1. Loại sách giới thiệu, thuyết minh về tư tưởng duy tân dân chủ (tân thư). Có những bộ phận sách tiêu biểu như Đại đồng thư của Khang Hữu Vi, nhất là bộ sách Ẩm Băng Thất tùng thư của Lương Khải Siêu. Bộ sách này có ảnh hưởng rất lớn đến các nhà nho Việt Nam. Đọc Trung Quốc hồn, người ta cảm thấy Lương Khải Siêu không chỉ nói về Trung Quốc mà đang nói về Việt Nam với tất cả các lạc hậu của xã hội, những hiểm hoạ đối với nòi giống trước tình hình mới. Quyển sách Mậu Tuất chính biến ký, kể rõ cuộc vận động duy tân thất bại của Quang Tự, cho thấy được những xáo động lớn lao của Trung Quốc và đã thôi thúc nho sĩ Việt Nam cần phải kịp thời đổi mới, thấy rõ hơn bộ mặt và bản chất phản động của chế độ phong kiến quân chủ. Hai tác giả Khang, Lương trở thành những lý thuyết gia chỉ lối đưa đường cho các nhà nho duy tân.

2. Cùng với Mậu Tuất chính biến ký, còn có một số sách có tính cách là những tập vịnh sử, ký sự về tình hình hiện đại của Nhật Bản như Nhật Bản duy tân tam thập niên sử (bản dịch chữ Hán của La Hiếu Cao), v.v… Tấm gương duy tân của các nước láng giềng được các sách này vẽ ra trước mắt các nhà nho, càng tăng thêm hào hứng và quyết tâm đi vào hoạt động.

3. Nhiều tập sách nêu những tấm gương chiến đấu của các chí sĩ các nhà hoạt động chính trị, hoạt động cách mạng của toàn thế giới cũng được các nhà nho đón đọc một cách say sưa. Có tập như Kinh quốc mỹ đàm, nêu gương phụ nữ: Các bà Qua Đặc (Jeane d’Arc), bà La Lan (Roland); có tập như Cận thế chi quái kiệt, đề cập đến đủ loại anh hùng, đều là những người anh hùng có công đổi mới đất nước của họ, dù đó là vua chúa hay tổng thống, giám quốc: Vua Bỉ Đắc (Pierre le Giand) ở Nga, Hoa Thịnh Đốn (Washington) ở Mỹ, Nã Phá Luân (Napoléon) ở Pháp, Tỉ Sĩ Mạch (Bismarck) ở Đức v.v… Nhiều sách báo khác cũng nêu những tấm gương như Mã Chí Nê (Mazzini), Gia Lý Ba Đích (Garibaldi) ở Ý, như Phúc Trạch Dụ Cát (Fukuzawa Yukichi), Cát Điền Tùng Âm (Yoshida Syoin) ở Nhật, v.v… Tóm lại, nhà nho Việt Nam lúc này đã được làm quen và sùng mộ tất cả những nhà ái quốc cổ kim. Tất cả đều được xem là thần tượng và đều được đưa vào văn chương cổ động Việt Nam: người đọc nếu không hiểu, phải tìm lấy mà hiểu 1. Thậm chí, có những người lấy ngay tên các thần tượng ấy đặt làm biệt hiệu của mình. Phan Châu Trinh tự đặt tên mình là Hy Mã (Mã Chí Nề: Mazzini).

4. Cùng với loại sách này là những tập sách dịch các luận thuyết của các nhà tư tưởng thế kỷ XVIII ở phương Tây (có nhiều bản dịch ra Hán văn của nhiều tầng lớp dịch giả). Được quen thuộc nhất là bộ Vạn pháp tinh lý của Mạnh Đức Tư Cứu (Esprit aes Lois của Montesquieu), bộ Dân ước của Lư Thoa (Contrat social của J.J. Rousseau). Rồi những sách của Đạt Nhĩ Văn (Đarwin), Tư Tân Tắc Nhĩ (Spencer), v.vTư tưởng dân chủ trong các lý thuyết này có giá trị chi đạo rất lớn, và các lý thuyết gia này luôn được ca ngợi. Phan Bội Châu khi viếng Phan Châu Trinh đã phải viết:

Cậy Tây học dặn dò phương tự chủ, Lư Thoa, Mạnh Đức so sánh người xưa.

Câu văn ấy đã nói đủ ý tứ sùng mộ của các nhà nho thời ấy.

5. Cuối cùng, còn phải nhắc đến các báo chí (tân văn) nhất là của Trung Quốc được truyền sang Việt Nam lúc bấy giờ, đều là tài liệu quý được các nhà nho đón nhận. Đặc biệt là tờ Dân báo của Trung Quốc Đồng minh do Chương Thái Viêm làm chủ bút. Cùng với các ông Đàm Tự Đồng, Trâu Dung, Lương Khai Siêu, v.v… Chương Thái Viêm là một kiện tướng xuất sắc trong trường ngôn luận lúc bấy giờ.

Cùng với những loại sách báo này, người ta cùng tìm cách cho lưu hành những văn bản của những người Việt Nam tiên giác như Các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, bản Thiên hạ đại thể luận của Nguyễn Lộ Trạch. Ngoài ra, khuynh hướng chú trọng về thực nghiệm khiến cho một số nhà nho cũng tìm cách nghiên cứu một số vấn đề khoa học. Các sách cũ (không thuộc thời kỳ duy tân) ở Trung Quốc lại được lục ra để tìm hiểu về nhiều lĩnh vực: Sách nông nghiệp như Nông chính toàn thư, sách thiên văn như Quản khu trắc lệ. Rồi những sách theo dạng tu tri (toán pháp, cách trí, v.v…) đều được tìm đọc. Đã nói cách học xưa là học hư văn, thì học mới phải chuyên về thực nghiệp. Điều đó được các nhà nho nhận thức một cách sâu sắc và cảm động, khiến cho họ phải tìm cách tự trang bị kiến thức, trong hoàn cảnh giáo dục lúc bấy giờ.

Tiếp thu tân thư tân văn như vậy, đồng thời các nhà nho minh xã cũng bắt tay vào hành động. Việc làm của họ tập trung vào một chủ đích lớn là thức tỉnh đồng bào, cốt nhằm cho nhân dân quần chúng cả nước thấy rõ nguyên nhân vì đâu mà chúng ta sống trong tình trạng “người ngu, nước yếu “(chữ dùng của Ngô Đức Kế). Họ trực tiếp đả kích cái học cũ, đầu óc hủ nho và lối văn chương bát cổ làm mê muội con người. Họ công kích những thói hư tật xấu và lên án chế độ phong kiến, chế độ quân chủ, nhắc nhở đến lịch sử cha ông, vạch rõ những thảm cảnh của đất nước lâm vòng nô lệ. Hướng đi của họ là nhằm cổ động cái học mới (tân học) và cổ động cho thực nghiệp. Để thực hiện cho chủ trương này, việc làm cụ thể của họ là:

Mở các trường học: Các nhà Duy Tân ở Quảng Nam (Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp) đi đầu trong việc đề xướng khai dân tự với việc mở hàng loạt trường ở hầu khắp các làng quê của xứ Quảng. Đó là các ngôi trường kiểu mới của dân tộc đầu thế kỷ trước. Nhưng tiêu biểu hơn cả là trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội (đã có nhiều tài liệu viết về trường này). Nhà trường có chương trình đường lối như Văn minh tân học sách, có tổ chức quy mô thu nhận hàng nghìn học sinh, có nhiều hình thức hấp dẫn: “Buổi diễn thuyết người đông như hội/ Kỳ bình văn khách tới như mưa

– Nhà trường có nhiều tác phẩm xuất sắc được lưu hành, phổ biến ra cả ngoài trường như những tài liệu tuyên truyền cứu nước. Nhiều địa phương khác trong Nam ngoài Bắc đã cố gắng phỏng theo mô hình này, dù ở quy mô nhỏ hẹp hơn. – Tổ chức diễn thuyết ở nhiều nơi, nói về các đề tài liên quan đến vận động học mới, đả kích tư tưởng, phong tục cổ hủ, đề cao dân chủ dân quyền. Rất nhiều nhà nho có uy tín (các vị tiến sĩ, cử nhân, tú tài, các ông đốc học, giáo thụ, huấn đạo) tham gia công việc này, gây một phong trào truyền bá tân học rất sôi nổi.

– Lập các hội buôn, các nhà hàng để giới thiệu, thông thương các hàng nội hoá, bán sách tân thư. Cửa hàng Hồng Tân Hưng (nối theo Đông Kinh nghĩa thục) miền Bắc, cửa hàng Triệu Dương thương quán (Nghệ An), cửa hàng Liên Thành (miền Nam Trung Bộ),là những thí dụ.

– Ngoài những hình thức trên đây, ở một số nơi khác trong nước, còn có những phong trào đột khởi, cũng do những nhà nho duy tân tiến hành. Khởi đầu, có lẽ là do sáng kiến của một vài vị thân sĩ nào đó, sau được lớp nhà nho trẻ tuổi thực hiện một cách ào ạt. Thí dụ như phong trào cắt tóc: cắt cái búi tóc được xem là một hình thức tiêu biểu cho cái cục hủ cổ truyền của Việt Nam.

Những hành động như trên, cố nhiên là do sự chỉ đạo, sự thôi thúc của các nhà nho trong phái minh xã. Nhưng trong phạm vi bí mật, không phải không có tác động của phái ám xã. Tài liệu học tập ở Đông Kinh nghĩa thục có những thơ văn cổ động của phái Đông Du được dịch và lưu hành (Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu được Lê Đại dịch). Có cả những liên lạc kín đáo giữa phong trào Đề Thám với trường này. Và ở miền trong, sự thân tình của Phan Bội Châu (lãnh tụ phái ám xã) cùng các ông Đặng Nguyên Cẩn, Trần Quý Cáp càng chứng tỏ họ cùng chung mục đích. Bản án kết tội Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, Nguyễn Thành, Lê Bá Trinh của thực dân, nói rõ là những người này (minh xã) đã thông đồng với Phan Bội Châu (ám xã).

Rồi như chúng ta đã biết, tất cả thế hệ nhà nho này, từ Nam chí Bắc, đều bị khủng bố. Hàng trăm nhà nho đều bị đưa ra Côn Đảo giam cầm. Trong cuộc đàn áp phong trào chống thuế, một số nhà nho cầm đầu đã bị địch tử hình (Trần Quý Cáp, Trịnh Khắc Lập, Nguyễn Bá Loan…). Huỳnh Thúc Kháng nói đây là giai đoạn “mạt kiếp của chữ Hán” (Thi tù tùng thoại).

Điều đặc biệt đáng ghi nhận ở đây là những nhà nho trong phái duy tân, có khá nhiều là những cây bút văn chương xuất sắc. Họ trung thành với chủ trương đánh thức đồng bào, bài xích hư văn, hô hào thực nghiệp. Có lẽ lần đầu tiên đất nước Việt Nam này mới có một chương trình vận động văn hoá có bài bản, có lý luận hẳn hoi. Trước đây, văn chương và học thuật Việt Nam không đề xuất được một tí lý luận nào, ngoài cái phương châm “văn dĩ tải đạo” quen thuộc từ bên ngoài đưa đến. Mãi sau này, vào giữa thế kỷ XX, một vài năm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản mới đưa ra Đề cương văn hoá, đề xuất lý luận quan điểm tiến bộ về phương diện này. Vinh dự cho các nhà nho duy tân, cho Đông Kinh nghĩa thục là đã đưa ra bản Văn minh tân học sách, chỉ rõ được bốn nguyên nhân kìm hãm văn hoá dân tộc và đề ra sáu phương châm vận động văn hoá mới. Giờ đây, ta có thể thấy nhiều bất cập trong đường lối chính sách đó, nhưng đặt vào hoàn cảnh đương thời, thì đó phải xem là một thành tựu lớn trong lịch sử phát triển văn hoá Việt Nam. Tiếp theo đường lối cơ bản đó là những tác phẩm có giá trị nhất định cả về văn chương và tư tưởng. Các nhà văn của Đông Kinh nghĩa thục có rất nhiều sáng kiến biến hoá, sử dụng nhiều thể loại phục vụ mục đích tuyên truyền giáo dục của mình:

– Họ viết rất nhiều các bài thơ cổ động, dùng vần điệu lục bát, nhắc nhở quần chúng về từng nhiệm vụ duy tân cụ thể. Họ có sáng kiến tìm những đầu đề hấp dẫn, khêu gợi, rất hợp với tâm lý quần chúng. Bài thơ ngắn này là Kêu hồn nước, bài ca trù gọn nhẹ kia là để hú hồn thanh niên. Rồi những lời mẹ dạy con, vợ khuyên chồng rất thích hợp với sự tiếp nhận của đại đa số quần chúng.

– Họ viết những bài thơ có tính cách chuyên đề, đi hẳn vào những yêu cầu tố cáo thói hư tật xấu, hoặc hướng dẫn một nhiệm vụ cụ thể, chỉ rõ từng vấn đề thiết cốt trong nhiệm vụ duy tân. Đây là bản Cáo hủ lậu văn, kia là bản Giác thế tân thanh, rồi đến những bài Khuyên học quốc ngữ, học chuyên môn, học công nghệ, học buôn bán. Kia là những bài khuyên đoàn kết, khuyên hợp quần. Tất cả những gì cần thiết cho sự đổi mới, Đông Kinh nghĩa thục tiêu đề cập đến một cách gọn gàng, thiết thực.

– Đông Kinh nghĩa thục là một trường học. Nhà trường phải có tài liệu giáo dục, có sách giáo khoa. Cũng là lần đầu tiên mà đất nước ta có những bài dạy lịch sử, địa lý Việt Nam bằng văn chương quốc ngữ. Những tập sách như Quốc dân độc bản đã được biên soạn và phát hành với số lượng lớn, được quần chúng cả nước hoan nghênh. Nhiệm vụ duy tân thể hiện bằng phương pháp giáo dục công khai trước mũi của chính quyền thực dân, phải nói là sáng kiến tài tình và là điều rất mới trong lịch sử giáo dục. Từ xưa, các nhà nho chỉ biết giáo khoa là Ngũ kinh Tứ thư quá lắm nữa là các bài giảng về đạo đức, các sách gia huấn hoặc sách từ vựng chứ đã biết đến những hình thức giáo khoa này đâu. Đó thực sự là nét duy tân của phong trào, có ý nghĩa lịch sử.

– Ngoài ra, tài liệu của Đông Kinh nghĩa thục còn là những tài liệu cổ động của các nhà cách mạng ở nước ngoài, như bản Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu, Tỉnh quốc hồn ca của Phan Châu Trinh đã được các thầy giáo Đông Kinh nghĩa thục cho phổ biến rộng rãi. Còn phải nhắc đến những bài nói chuyện, bài diễn thuyết của nhiều trí thức, có chân trong phong trào Duy Tân hay không, đều dược chấp nhận, miễn là góp phần vào sự thức tỉnh quốc dân mà các chí sĩ duy tân đang thiết tha cổ vũ. Chắc có thể có cả những tài liệu của các học giả nước ngoài, những loại tân thư của Trung Quốc như trên đã nói.

Có kế hoạch tổ chức quy mô như vậy, có trình độ biên soạn, tuyên truyền và huấn luyện như vậy, điều không đáng ngạc nhiên là Đông Kinh nghĩa thục đã đạt được những thành công. Chính quyền thực dân nhất định phải e sợ tổ chức của các nhà duy tân, và đã thành lập những kiểu trường gọi là trường Tân Quy 2 đã tranh giành ảnh hưởng. Nhưng tranh giành sao được, khi mà những con người do đế quốc thực dân chỉ định không có lý tưởng duy tân, và nhất là không có được niềm tin của quần chúng. Bọn cầm quyền chỉ có cách cuối cùng là bóp chết Đông Kinh nghĩa thục. Nhưng cũng không có cách nào để bóp chết, mà chỉ mượn cớ vu vạ cho các chí sĩ duy tân đã chỉ đạo phong trào chống thuế, liên lạc với phái ám xã, để dồn tất cả vào ngục tù, không cho phát huy ảnh hưởng nữa. Đông Kinh nghĩa thục bị dập tắt, nhưng thành tích của nó là to lớn. Những tác phẩm của nó đã tồn tại với thời gian, trong đó ngoài những giá trị lịch sử, còn phải nói đến giá trị n chương. Một số người như Nguyễn Quyền, Lê Đại, Ngô Quý Siêu,xứng đáng là những ngòi bút xuất sắc. Thêm một điểm cũng đáng lưu ý nữa, là với văn chương của Đông Kinh nghĩa thục, các thể văn như lục bát, song thất lục bát, ca trù, v.vđược có thêm một giá trị sử dụng hơn. Trước đây, ta chỉ gặp nó trong những truyện Nôm, những bài ca phong hoa tuyết nguyệt, thì giờ đây, nó thực sự trở thành văn chương cổ động – điều mà trước đây văn học Việt Nam chưa biết đến, và sau này các chiến sĩ trong phong trào vận động cách mạng phản đế, cách mạng vô sản sẽ rút kinh nghiệm để phục vụ chính trị một cách tích cực hơn.

Chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, trên dưới chục năm, những hoạt động của các chiến sĩ duy tân ở cả ba miền Trung Nam Bắc đã viết nên những trang sử đẹp đẽ cho đất nước này ở cả hai bình diện chính trị và văn học (nói chung là văn hóa). Lịch sử Việt Nam ở đầu thế kỷ XX này ghi nhận công lao của họ, và lịch sử văn hoá cũng phải thừa nhận sự đóng góp của họ là to lớn.

Vấn đề trước nhất, xứng đáng được tôn vinh là tinh thần yêu nước, nguyện vọng thiết tha của họ đối với độc lập tự do của xứ sở, với danh dự của dân tộc, của giống nòi. Nói minh xã hay ám xã thực ra là để cho dễ nhận, dễ phân biệt phạm vi lĩnh vực hay biện pháp hoạt động mà thôi, chứ thực ra cả hai phái này đều chung mục đích phấn đấu, cùng chung đối tượng đấu tranh. Giữa một số người lãnh đạo phong trào, có khi có sự không nhất trí trong cách thức điều hành, trong phương pháp vận động, nhưng họ vẫn nhận là bạn trong tâm, đồng chí với nhau. Thậm chí có khi họ kịch liệt phê phán nhau một cách công khai, nhưng chỉ là để cho tiện xử lý một vài trường hợp cụ thể (như việc Phan Châu Trinh sang Nhật để gặp Phan Bội Châu), chứ thực ra yêu cầu khôi phục nền độc lập, lật đổ chế độ quân chủ, đưa nước nhà lên cõi văn minh, vẫn là mục tiêu chung của tất cả những người yêu nước. “Vấn mục đích, bất vấn thủ đoạn (chữ dùng của Phan Bội Châu) là điều mà có lẽ tất cả những người được xem là trong phái minh xã hay ám xã đều nhất trí. Có một sự thực là minh hay ám, chỉ là để gây ấn tượng với kẻ địch mà thôi, chứ với nhân dân quần chúng thì không hề có sự phân biệt này. Người duy tân hay người đông du trước dân tộc, trước đồng bào đều là những chí sĩ và chiến sĩ. Đối với chính quyền thực dân hay với bọn tay sai cũng vậy. Chúng vẫn nhận ra được: minh hay ám, đều là những người đang gây nguy hiểm cho chúng, và chúng đã thẳng tay đối phó, không trừ một hành động tàn bạo nào. Nhưng nói như vậy, không có nghĩa là không thế căn cứ vào những hoạt động cụ thể của các thành phần chí sĩ đầu thế kỷ XX này để nhận chân những đóng góp của họ đối với quốc gia dân tộc.

Mặt khác, bên cạnh những thành tựu rực rỡ của các nhà chí sĩ theo khuynh hướng bạo động, chúng ta cũng phải định vị cho các chiến sĩ văn hoá trên mặt trận đấu tranh công khai này. Họ là những chiến sĩ duy tân tiên phong của đất nước, họ xứng đáng nhận được sự tôn vinh của các thế hệ. Những nhà duy tân đã làm cho chúng ta được làm quen với văn hoá thế giới, văn hoá khu vực.

Người Pháp đem văn hoá của họ sang ta, cho đến thời điểm đó đã có đến trên bốn mươi năm, nhưng ngoài những chương trình đào tạo những kẻ tay sai, những người giúp việc, nào có giới thiệu cho chúng ta được gì. Phải có các nhà duy tân, chúng ta mới được làm quen với những lý thuyết mới, những nhân vật mới trên khắp toàn cầu. Cho đến những thập kỷ 30 trở về sau, thì cái mới theo âu hoá, theo văn minh tư sản, cũng không phải là những cái mới tiến bộ nhất, phù hợp với cuộc tiến hoá của lịch sử nhân loại. Công lao của phái duy tân đầu thế kỷ này chính là ở đó.

Và cũng chính ở hướng tiến bộ đó, mà các nhà duy tân phát hiện ra được căn bệnh truyền kiếp loay hoay với cách học từ chương khoa cử, cái căn bệnh hư văn làm thui chột những tài năng, làm lệch lạc những tâm hồn. Sự “nhiệt thành cáo hủ” ở đầu thế kỷ này, xét về một mặt nào đó, có giá trị như một cuộc cách mạng. Phải nhờ có các cuộc duy tân này, mà lớp trí thức – loại ông nghè, ông cống – và cả đại đa số quốc dân nữa mới hiểu cái câu “thiên ngoại hữu thiên”! Trên cái đà đổi mới nhận thức này, chúng ta mới thực sự được tiếp xúc nơi khoa học, kỹ thuật (tuy chỉ là ở bước đầu), và nhất là đối với khuynh hướng thực nghiệp. Phải nói rằng đây cũng chính là điều mà hàng trăm năm qua, những thức giả Việt Nam không phải là không biết đến. Dưới các triều đại cũ đã có những học giả mong muốn thay đổi cách học, thay đổi thể văn. Cả thế kỷ XIX, đã có những nhà nho “Giật mình khi ở xó nhà, văn chương chữ nghĩa khéo là buồn tênh” (Cao Bá Quát); đã có những con người tiên giác viết ra những điều trần tâm huyết. Nhưng tất cả hoặc chìm trong quên lãng, hoặc bị rẻ rúng nghi ngờ, thì đến đây mới thực sự được các nhà duy tân thức tỉnh. Ưu điểm của phái duy tân là biết khai thác lòng yêu nước để hướng dẫn vấn đề, biết đi vào quần chúng để vận động. Đó là cái rất mới trong sự nghiệp vận động văn hoá ở nước ta. Dựa vào lòng yêu nước, dựa vào lực lượng quần chúng thì có thể thổi những tia le lói thành ngọn lửa. Đông Kinh nghĩa thục gây được phong trào, tân thư trở thành động lực thôi thúc quần chúng Nam Ngãi, Nghệ An rồi cả Bắc, Trung, Nam chính là vì lẽ đó.

Và cũng chính trên cơ sở của khuynh hướng cơ bản đó, mà phái duy tân, đã cùng với phái bạo động xuất dương viết nên trang sử hiện đại, mở đầu cho thế kỷ XX ở đất nước này. Cả hai phái đều xứng đáng với quê hương, với dân tộc và trong thực tế đã gây nên bước chuyển mạnh mẽ trong tiến trình lịch sử và lịch sử văn hoá nước nhà.

 

* Ghi chú của Ba Sàm:  Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” . Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;

Và các bài tham luận trong Hội thảo đã được đăng trên Nhật báo Ba Sàm:

92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ

93:QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP

149:QUAN HỆ VN-LX ‘65-’75

150:SÁCH ĐỊA CHÍ Ở MIỀN NVN(’54-’75)

156.CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN

162.TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH

191.CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM ĐỔI MỚI

217.VN-TQ THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

219.TUẦN TRA,KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ:1802-1858

224.SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGƯỜI HOA Ở VN

229.NGƯỜI HOA TRUNG-NAM BỘ VN(XVII-XIX)

232.LỊCH SỬ TRANH CHẤP HOÀNG SA,TRƯỜNG SA:NGUYÊN NHÂN-GIẢI PHÁP

1 Thí dụ hai câu trong một bài hát nói: Tỉ diện, Cách mi quân đối cánh Qua tình, La tứ thiếp tân trang Nghĩa là: – Bộ mặt của ông Ti Tư Mạch (Bismarck), lông mày của ông Cách Lan Tư Đốn (Gladstone), anh nên soi gương. – Tấm tình của bà Qua Đặc (Jeana d’Ars), tinh thần của bà La Lan (M. Roland), thiếp xin tô điểm theo. Trong phong trào cố động đương thời, những điển tích ấy trở nên dễ hiểu và rất được ưa chuộng.

2 Trường Tân Quy (Học quy tân trường) được toàn quyền Beau ra Nghị định thành lập ngày 24-91907 do Nguyên Tái Tích (anh ruột nhà thơ Tản Đà) làm Hiệu trưởng. Trường khai giảng ngày 11-11-1907, nhằm “đối trọng” với Đông Kinh nghĩa thục, nhưng số “sinh viên” đăng ký chưa đầy 50 người. Và chỉ hoạt động được vài tháng thì phải đóng cửa, trường phải giải thể!

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

 

Posted in Giáo dục, Lịch sử | Tagged: , , | Leave a Comment »

NGƯỜI HOA TRUNG-NAM BỘ VN(XVII-XIX)

Posted by adminbasam on 09/07/2009

VAI TRÒ CỦA NGƯỜI HOA TRONG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT

TRIỂN CÁC ĐÔ THỊ Ở TRUNG VÀ NAM BỘ VIỆT NAM (THẾ KỈ

XVII-XIX)

ThS. Tống Thị Quỳnh Hương *

Đại học Sư phạm Hà Nội

 

Đặt vấn đề Người Trung Hoa đến Việt Nam khá sớm, ít nhất cũng vào khoảng đầu Công nguyên. Trải qua nhiều thế kỉ, người Hoa đã xuất hiện trên khắp ba miền của nước ta, tuy nhiên, những người Hoa di cư đến miền Bắc chủ yếu là quan lại và binh lính của các đội quân xâm lược nhiều hơn là thương nhân đến buôn bán (ngoại trừ một bộ phận người Hoa ở Phố Hiến, Thăng Long), do vậy ở miền Bắc nước ta, những cộng đồng người Hoa thường nhỏ lẻ, không có quy mô lớn và tiêu biểu như ở miền Trung và miền Nam. Cũng như người Hoa ở các nước Đông Nam Á khác, người Hoa đến Việt Nam trải qua một quá trình sinh sống và buôn bán lâu dài, họ đã lập nên những làng, những phố của mình, hình thành nên những cộng đồng người Hoa ổn định và phát triển, trở thành một bộ phận cư dân của cộng đồng dân tộc Việt. Trong khoảng từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, cùng với sự hình thành các cộng đồng người Hoa, ở miền Trung và Nam Việt Nam cũng đã xuất hiện nhiều đô thị, trung tâm thương mại rất sầm uất với vai trò nổi bật của các Hoa thương. Những đô thị này đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế nước ta trong nhiều thế kỉ. Một số đô thị như: Thanh Hà, Bao Vinh, Cù Lao Phố, Hội An, Chợ Lớn… đã trở thành những trung tâm buôn bán, trung chuyển hàng hóa quan trọng trong khu vực và quốc tế.

1. Bối cảnh định cư của người Hoa ở Việt Nam thế kỉ XVII – XIX

Thế kỉ XV, sau thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn giải phóng đất nước khỏi sự thống trị của nhà Minh, nhà Lê sơ được thành lập, quốc gia Đại Việt trở thành một vương quốc cường thịnh ở Đông Nam Á. Nền kinh tế hàng hóa phát triển tạo điều kiện để có thể phát triển một nền thương mại toàn diện. Thuyền bè các nước láng giềng vẫn thường xuyên qua lại trao đổi ở các cảng Vân Đồn, Vạn Ninh (thuộc Quảng Ninh), Càn Hải, Hội Thống (thuộc Nghệ An)… Tuy nhiên, để giữ vững an ninh, nhà nước đặt các trạm kiểm soát ở cảng khẩu để kiểm soát chặt chẽ những thương nhân nước ngoài ra vào buôn bán ở nước ta 1, bởi vậy những mối quan hệ thương mại với Trung Hoa và các nước trong khu vực có phần bị hạn chế. Năm 1527, triều Mạc (1527 – 1592) thay thế triều Lê, tuy không giữ được sự ổn định và thống nhất đất nước, nhưng chính sách kinh tế nhất là chính sách đối với thương nghiệp của nhà Mạc tỏ ra cởi mở hơn triều Lê. Nhưng cũng từ giữa thế kỉ XVI, nhà Minh chuyển từ việc kiểm soát chặt chẽ ngoại thương bằng chính sách “Hải cấm” sang nới lỏng ngoại thương thì Việt Nam lúc này lại lâm vào tình trạng chia cắt kéo dài cho đến tận cuối thế kỉ XVIII. Khởi đầu là sự tái lập triều Lê (1532) dẫn đến cuộc chiến tranh Lê- Mạc (1539-1592), tiếp theo là thời kì phân chia Đàng Trong – Đàng Ngoài, biểu hiện là cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn kéo dài (1627 – 1672). Trong những thời kì nội chiến đất nước chia cắt gây nhiều tổn hại cho nhân dân, nhưng cũng chính trong nhu cầu cạnh tranh gây dựng lực lượng, các chính quyền Đàng Trong và Đàng Ngoài đều phải chăm lo phát triển kinh tế, tranh thủ sự hỗ trợ của ngoại thương. Trong thời kì Đàng Trong – Đàng Ngoài thì thái độ mỗi bên đối với hoạt động ngoại thương có khác nhau, đặc biệt là đối với Hoa thương. Đàng Ngoài của họ Trịnh có phần dè dặt và thận trọng đối với hoạt động buôn bán của Hoa thương, chính quyền Trịnh tìm cách tách Hoa thương khỏi người Việt. Nhưng chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng Trong lại có thái độ hoàn toàn khác, họ hiểu rằng cần phải có buôn bán nếu Đàng Trong muốn tồn tại lâu dài. Chính vì thế, người Nhật và người Hoa không những được tạo điều kiện thuận lợi cho sinh sống và buôn bán ở Đàng Trong mà còn được tham gia vào bộ máy chính quyền ở đây.

Bắt đầu từ nửa sau thế kỉ XVII trở đi, những kiều dân Trung Hoa được phép định cư ở những trung tâm kinh tế, đô thị, hải cảng của Việt Nam, đặc biệt là những vùng đất thuộc miền Trung và Nam Bộ ngày nay. Do đó, trong thời gian này, các cộng đồng người Hoa đã dần hình thành nên những phố chợ, trung tâm kinh tế tại nhiều nơi như Phố Hiến, Hội An, Chợ Lớn, Gia Định, Hà Tiên…Sự nhập cư ồ ạt của người Hoa và sự hình thành các cộng đồng của họ như một thực thể dân cư tương đối ổn định trong cơ cấu dân cư- dân tộc Việt Nam bắt đầu từ thế kỉ XVII, một phần là kết quả của chính sách đón tiếp “nồng hậu” của chúa Nguyễn và sau đó là triều Nguyễn đối với những di dân người Trung Hoa 2. Người Trung Hoa không những được phép cư trú vĩnh viễn tại Việt Nam mà họ còn nhận được rất nhiều ưu đãi từ phía chúa Nguyễn (1592 – 1771) và sau đó là triều đình Nguyễn (1802 – 1945) như được hưởng quyền công dân như người Việt Nam (nếu có nguyện vọng sinh sống lâu dài), không phải làm nghĩa vụ quân dịch và lao động công ích, được trao quyền thu thuế đối với những người giỏi nghề buôn bán và giao dịch, họ còn được hưởng nhiều chính sách ưu đãi khác trong lĩnh vực kinh tế…Nhà Nguyễn cũng cho phép người Hoa được lập nên những Bang hội truyền thống của họ. Tổ chức đồng hương (Bang) của người Hoa đầu tiên được thành lập ở Việt Nam vào năm 1787. Vào năm 1814, dưới thời vua Gia Long (1802 – 1819), tổ chức Bang được chính thức hóa về mặt pháp lý. Bang được thành lập dựa trên cơ sở đồng hương, đồng phương ngữ, nhằm mục đích bảo vệ sự an toàn tính mạng, của cải vật chất của người Trung Hoa di cư trên đất khách quê người. Mặt khác, thông qua các Bang, nhà Nguyễn có thể quản lý việc làm ăn, sinh hoạt và đi lại của người Hoa một cách dễ dàng hơn 3. Nhờ những chính sách của triều Nguyễn, rất nhiều người Trung Hoa di cư đã tạo dựng được cơ nghiệp một cách vững chắc ở Việt Nam. Điều này đã thu hút thêm những làn sóng di cư mới của người Hoa đến nước ta, công việc buôn bán phát đạt của người Hoa đã góp phần không nhỏ trong việc hình thành nên những trung tâm buôn bán, những đô thị sầm uất ở những nơi họ sinh sống.

2. Vai trò của người Hoa với việc hình thành và phát triển các đô thị ở Trung và Nam Bộ Việt Nam (Thế kỉ XVII- XIX)

2.1. Phố cảng Thanh Hà ở Thuận Hóa

Phố Thanh Hà lập ra năm nào, không có tư liệu ghi chép. Nhưng có lẽ là trong khoảng thời gian từ 1636 đến 1687, khi phủ Chúa Nguyễn rời về Kim Long, Chúa bèn cho phép tiên hiền trong làng kiến thiết khu chợ, tức phố Thanh Hà. Có thể niên đại thành lập phố Thanh Hà là khoảng vài năm sau khi chúa Nguyễn rời phủ đến Kim Long “Kim Long là miền đất văn hóa ở gần kề ngôi chùa cổ kính nổi tiếng. Từ trạm trung chuyển cuối cùng này, chỉ cách trung tâm Huế ngày nay 3 Km- cái bàn đạp để việc nhích tới Phú Xuân vào năm 1687 đã được tạo ra cho đất thủ phủ được gần miền đất kinh tế Bao Vinh, Thanh Hà hơn…”4. Phố cảng Thanh Hà ra đời từ một làng quê, nhưng với vị trí thuận lợi, trên bến dưới thuyền, cư dân sẵn có truyền thống buôn bán, Thanh Hà đã trở thành nơi hội tụ hàng hóa của nhân dân các vùng lân cận. Người Hoa đến Thanh Hà đã góp phần không nhỏ vào sự phồn thịnh của thương cảng này. Thanh Hà nhanh chóng trở thành một thương cảng lớn nhất thời Kim Long – Phú Xuân. Thanh Hà là địa chỉ thương mại hấp dẫn của thương khách nhiều nước, trước hết là thương nhân Trung Quốc, Nhật Bản của châu Á, của các nước phương Tây như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp…5

Trong thời kỳ thịnh đạt, phố Thanh Hà phần lớn nằm trong tay Hoa thương nên gọi là “Đại Minh khách phố”. Về mặt hành chính, buổi đầu phố Thanh Hà trực thuộc phố Hội An ở Quảng Nam, đến thời Tây Sơn (1786 – 1801) mới tách riêng thành một đơn vị hành chính độc lập với tên gọi “Minh Hương xã Thanh Hà phố”. Vào đầu triều Nguyễn đặt làm “Thanh Hà – chợ Dinh nhị phố Minh Hương xã”6.

Đầu tiên, Thanh Hà phố chỉ rộng 1 mẫu 5 thước 4 tấc (mẫu ta), đến năm 1669 mở rộng lên 7 mẫu 5 sào 8 thước 2 tấc. Về sau thương nhân người Hoa mua thêm trên bờ sông 4 mẫu 1 sào 3 thước để cất phố buôn bán, cụ thể là: Năm 1685, Hoa thương đã xây dựng Thiên Hậu cung (còn gọi là chùa Bà) ngay trên điểm cư trú buôn bán đầu tiên của mình để làm nơi tế tự chung cho Hoa kiều và cũng là mốc giới phía Bắc của phố Thanh Hà. Tại điểm tận cùng phía Nam của phố, người Hoa mua đất của làng Địa Linh để lập phố và xây dựng đền thờ Quan Thánh (còn gọi là chùa Ông) để làm đền thờ chung, đồng thời đây cũng là mốc giới giữa phố Thanh Hà và làng Địa Linh. Phố xá ban đầu chỉ là một dãy nhà tranh, sau thành hai dãy song song nhau dọc theo bờ sông. Đến khoảng thời gian trước hoặc sau năm 1770, Hoa thương đã được chúa Nguyễn cho phép xây dựng phố bằng gạch và lợp ngói để phòng hỏa hoạn. Một người Pháp là Pierre Poivre khi đến Thuận Hóa đã từng trú ngụ trong một gian phố gạch ấy. Ông cho rằng cách bày trí nhà cửa giống hệt Trung Hoa, giữa hai dãy phố có con đường rải đá, cư dân buôn bán sầm uất “Vào mùa mưa, các đường phố chật hẹp, lầy lội, chỉ có phố hay khu Trung Hoa có một lối đi rộng và lát gạch. Dọc hai bên đường người ta dựng lên những nhà gạch lợp ngói khá sung túc”. Phố bao gồm những cửa hàng, cửa hiệu, các đại lý xuất nhập khẩu và những nhà cho thuê dành cho thương khách ở xa, chủ yếu là thương nhân Trung Quốc mới đến.

Đầu thế kỉ XX, Morineau đến khảo sát Thanh Hà, căn cứ trên dấu tích còn lại, tác giả đã khôi phục khu phố như sau: “Những làng của người Hoa lai Việt, một số sắp thành hàng trên bờ sông, đó là những túp lều tranh dựng trên những bộ cọc nhà sàn. Một số khác là cửa hàng giàu có xây gạch và lợp ngói chiếm phía Bắc con đường mòn hoặc đường phố thành một dãy phố chạy dài đến tận các đồng lúa. Đất phố mà trên đó gồm các công trình kiến trúc xây dựng rộng rãi từ đền thờ Quan Công dựng lên khi làng Minh Hương mới thành lập đến tận đường mòn Thanh Hà, nơi vị trí bây giờ ở cầu một nhịp. Đó là các dòng chảy đổ vào các ruộng lúa trên con đường mòn cũ”

Năm 1789, theo số liệu từ một tờ đơn bẩm quan của Hương Lệ xã Minh Hương thì dân số Thanh Hà phố lúc này là 792 dân nội tịch. Trải qua nhiều biến động của chiến tranh, đến năm này còn lại số dân đó, chứng tỏ trước đây phố Thanh Hà còn đông hơn. Thanh Hà khi đó đã trở thành một đầu mối giao thương quan trọng của vùng Thuận Hóa “Khách buôn Quảng Đông có người họ Trần, quen mua bán. Hắn nói rằng từ phủ Quảng Châu, do đường biển đến trấn Thuận Hóa, được gió thuận thì chỉ ba ngày ba đêm, vào cửa Eo, đến phố Thanh Hà ở Phú Xuân…”8, “Đấy là hàng đến. Còn hàng đi. Cũng tập kết ở Thanh Hà, đặc biệt là những thổ sản xứ Huế: hồ tiêu và cam…”9. Cảnh buôn bán nhộn nhịp ở phố cảng Thanh Hà vào giữa thế kỉ XVIII đã được Jean Koffler ghi nhận: “Hàng năm có khoảng 80 chiếc thuyền Hoa thương từ các tỉnh đến đó, chắc chắn chứng tỏ rằng ở đây có nền kinh doanh phồn thịnh”10 Khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, do sự bồi lấp của sông Hương, thương thuyền lớn không thể cập bến Thanh Hà phố được nữa. Người Hoa dời về Bao Vinh làm ăn. Thanh Hà phố dần dần rơi vào quên lãng. Phố cảng Bao Vinh từ đầu triều Nguyễn đã thay thế vị trí của trung tâm phố cảng Thanh Hà.

2.2. Đô thị Hội An Đô thị Hội An nằm bên bờ sông Thu Bồn, cách Đà Nẵng 26 km về phía Đông Nam, là một thương cảng lớn nhất của Việt Nam trong các thế kỉ XVI – XVIII. Thương cảng Hội An ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XVI và phát triển mạnh trong thế kỉ XVII, XVIII. Khác với Phố Hiến, hầu như toàn bộ hoạt động buôn bán ở Hội An đều nằm trong tay các thương nhân nước ngoài, đặc biệt là các thương nhân Trung Hoa và Nhật Bản.

Những biến động trong nội địa Trung Quốc vào giữa thế kỉ XVII (nhà Minh sụp đổ, nhà Thanh giành được quyền thống trị – 1644) làm cho người Hoa qua Hội An ngày càng đông, vì Hội An nằm ở một vị trí thuận lợi trên đường biển quốc tế, không quá gần biên giới Trung Quốc như các tỉnh phía Bắc Việt Nam, nhưng cũng không quá xa như các nước Nam Dương, Mã Lai, lại nằm trong khu vực có tài nguyên phong phú, nên có sức hút nhất định đối với số dân di cư này. Hơn nữa, Quảng Nam là trấn giàu nhất trong xứ, phần nhiều sản vật quý đều do đất ấy sản xuất ra, lại ở gần Chiêm Thành, Quy Nhơn, nên dễ tập hợp những sản vật mà thuyền buôn ngoại quốc cần dùng. Thêm vào đó là lý do chính trị: nước ta đã có giao thương với Trung Quốc từ thời Tiền Lê, Lý, Trần, Lê sơ. Vì sợ người ngoại quốc giả mạo thương nhân để do thám, nên triều nào cũng chỉ cho phép họ tụ hợp lại những nơi nhất định, gọi là các “bạc dịch trường” để buôn bán và cấm cho họ đến kinh đô. Đời Lý đã lập bạc dịch trường ở Vân Đồn, tàu thuyền ngoại quốc đến buôn bán cũng chỉ được vào hải cảng ấy và thương khách cư trú tại đó. Đến thời Lê Thái Tổ chỉ định thêm mấy nơi nữa ngoài Vân Đồn cho thương khách làm nơi cư trú, nhưng cấm người Trung Quốc ra vào Thăng Long. Thời Trịnh- Nguyễn phân tranh, ngoài Vân Đồn, chúa Trịnh còn cho thương khách tập trung ở Phố Hiến, cho họ lập phố xá để tiện việc kiểm soát, và vẫn cấm họ ra vào Thăng Long. Chúa Nguyễn ở Đàng Trong đối với Hoa thương và thương khách ngoại quốc cũng áp dụng chính sách ngăn ngừa như các triều đại trước. Do đó, Hội An, nằm ở xa Phú Xuân, được chọn làm nơi tập trung của thương khách, cũng như Vân Đồn, Phố Hiến ở Đàng Ngoài ở xa Thăng Long11.

Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí”, mục tỉnh Quảng Nam đã viết về Hội An như sau: “Phố Hội An ở hai bên bờ sông lớn phía nam xã Hội An và Minh Hương, nhà ngói liên tiếp độ hai dặm, người Tàu cư trú có 5 bang: Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam và Gia Ứng, đều buôn bán hàng Tàu, trong có đình chợ, hội quán, khách buôn tụ tập. Phía nam có đầm Trà Nhiêu làm chỗ cho ghe thuyền nam bắc đến đậu, cũng là chỗ đại đô hội vậy”. Một giáo sĩ dòng Tên người Ý là Cristoforo Borri đã sống ở Đàng Trong từ 1618 đến 1622 cũng đã viết khá rõ về Hội An như sau: “Hải cảng đẹp nhất, tất cả người ngoại quốc đều tới đó và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng…Chúa Đàng Trong xưa kia cho người Nhật, người Hoa chọn một địa điểm và nơi thuận tiện để lập một thành phố cho tiện việc buôn bán…Thành phố này gọi là Faifo, thành phố này khá lớn và chia làm hai khu vực, một dành cho người Hoa và một dành cho người Nhật, mỗi bên có quan cai trị riêng, người Hoa theo tục lệ Trung Quốc, người Nhật theo tục lệ Nhật Bản”12 và “…Người Trung Quốc và người Nhật Bản là những thương nhân chủ yếu của chợ phiên này, năm nào cũng mở và kéo dài trong vòng 4 tháng. Người Nhật thường đem lại 4,5 vạn nén bạc, người Trung Quốc thì đi một thứ thuyền buồm đem lại nhiều tơ lụa tốt và sản vật đặc biệt của họ. Do chợ này, quốc vương thu được số tiền thuế lớn, toàn quốc cũng được nhiều lợi ích”13. Nói “hai thành phố”, nhưng thực ra chỉ là hai khu kiều dân. Khu kiều dân Nhật đông hơn, có ảnh hưởng lớn hơn. Nhưng từ năm 1614, sau khi Nhật hoàng Daifusama ra lệnh trục xuất các giáo sĩ ra khỏi lãnh thổ Nhật Bản thì những người Nhật theo đạo Thiên Chúa bắt đầu đến Đàng Trong ngày càng đông. Để ngăn chặn làn sóng người Nhật di cư đó, Nhật hoàng công bố lệnh sẽ xử tử những người trốn ra nước ngoài. Sau vụ giết đạo ở Nagasaki (1640), nước Nhật hoàn toàn đóng cửa với bên ngoài. Từ đó, khu kiều dân Nhật ở Hội An bị cắt đứt với nước mẹ, cứ tàn lụi dần, trong khi đó, khu kiều dân Trung Quốc thì vẫn tiếp tục gia tăng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động thương mại ở Hội An. Do đó, những hoạt động buôn bán của Hoa thương ngày càng tỏ ra chiếm ưu thế ở khu vực này. Họ đã tiến về phía Đông cầu Nhật Bản, mua 14,5 mẫu đất của các làng Hội An, Cẩm Phô, Cổ Trai, lập nên làng Minh Hương và mở rộng khu phố để kinh doanh.

Đến cuối thế kỉ XVII (năm 1695), một tàu buôn người Anh cập bến Hội An, T.Bowyear đã ghi lại: “Hải cảng chỉ có một phố lớn nằm bên bờ sông. Hai bên có hai dãy nhà chừng một trăm nóc, toàn là người Trung Hoa ở”. Cũng năm đó, Thích Đại Sán đến Hội An không còn thấy bóng dáng của Phố Nhật trước đây nữa, mà chỉ thấy: “Hội An là một mã đầu lớn, nơi tập hợp của thương khách các nước; thẳng bờ sông một con đường dài 3, 4 dặm gọi là Đại Đường Nhai, hai bên là phố ở liền khít rịt. Chủ phố thảy là người Phúc Kiến vẫn còn ăn mặc theo lối Tiền Triều (nhà Minh). Phần đông phụ nữ coi việc mua bán. Những khách trú ở đây hay cưới vợ bản xứ cho tiện việc thương mãi…”14và “Quốc vương nói: các năm trước, thuyền ngoại thương đến buôn một năm chừng 5, 6 chiếc, năm nay số ấy lên đến 16, 17 chiếc, nhờ đó trong nước tiêu dùng được dư dã”15. Theo Pierre Poivre, một lái buôn phương Tây nhiều lần đến Hội An, thì vào thời phồn thịnh nhất của thương cảng này (giữa thế kỉ XVII), số người Hoa ở đây đạt con số kỉ lục là 6000 người “Ở Cochinchine (Đàng Trong) có nhiều cảng. Quan trọng nhất là hải cảng nà người Bồ Đào Nha gọi là Faifo và người Cochinchine gọi là Loja…Cảng sâu và an toàn, đặc biệt thuận lợi cho thương nhân, vì tàu có thể cập bến ngay trước sở thương chính. Faifo là hải cảng năng động nhất của xứ Cochinchine. Ở đấy có khoảng 6000 người Trung Hoa và là những thương nhân cỡ lớn. Họ lấy vợ bản xứ và nộp thuế cho nhà vua…” (trích “Hồi kí về xứ Cochinchine” của Pierre Poivre)16.

Lê Quý Đôn trong sách “Phủ biên tạp lục” hoàn thành năm 1776, đã viết về trung tâm thương nghiệp Hội An như sau: “Ở nơi đây (tức phố Hội An), vì các vị khách buôn Trung Quốc đều tới mua hàng đưa về Tàu, nên buổi trước hàng hóa rất nhiều, dầu có một trăm chiếc thuyền lớn chuyên chở hàng hóa trong một lúc không thể chở hết được”, “Các hàng hóa đều bán rất chạy, không có món hàng nào bị ế và ứ đọng cả. Bao nhiêu những hàng hóa mà y (nhà buôn Trung Hoa) đưa sang đây như sa, đoạn, gấm vóc ngũ sắc, vải tấm, trăm thứ thuốc bắc, giấy vàng, giấy bạc, dây vàng, dây bạc, các sắc dầu thơm, các hạng chỉ liệu (giấy), các sắc dây tơ, các màu thuốc nhuộm, các sắc quần, áo, giầy, giép, nhung, lược, kính hay gương pha lê, giấy, bút, mực, kim, khuy, cúc áo, bàn ghế, sa sao, đồ ăn uống thì có trầu lá, cam, lê, chanh, táo, bánh thị, bánh mì, miến, mì, nước mắm, dầu trám, đậu tương, đậu hủ, vôi, men, rượu, gừng, mộc nhĩ, hương tín (nấm hương),v.v…kẻ có người không, cùng nhau đổi chác, không ai là không thỏa được sở thích”17. Như vậy, qua những ghi chép của Lê Quý Đôn, có thể thấy việc buôn bán của các thương nhân người Hoa ở Hội An rất phát đạt và thuận lợi. Cũng theo ghi chép của Lê Quí Đôn thì các nhà buôn Trung Hoa ở Hội An thường mua đồng thau và các vật dụng bằng đồng từ các tàu buôn của người châu Âu và bán lại tại phố chợ Minh Hương18. Một nguồn thư tịch cổ khác cho biết vào thế kỉ XVIII, hầu như toàn bộ sản phẩm khai thác ở các mỏ vàng thuộc khu vực miền Trung của Việt Nam chủ yếu dành để xuất khẩu và thông qua trung gian, môi giới người Trung Hoa ở Hội An. Các thuyền buôn Trung Hoa thường đến Hội An vào mùa xuân, mang đến đây những vật phẩm như vũ khí, tơ lụa, trà, đồ gốm sứ, giấy quấn hương và các vật phẩm làm nghi lễ thờ cúng…Những mặt hàng này luôn là nhu cầu của thị trường Việt Nam lúc đó.

Ngoài Hội An, từ đầu thế kỉ XVII, người Trung Hoa cũng đến buôn bán ở Tân Châu (Quy Nhơn) và Đề-gi (cũng thuộc phủ Quy Nhơn) nhưng chỉ một số ít. Trong công việc kiểm soát ngoại thương, thu thuế thương thuyền, cứu giúp những thuyền ngoại quốc bị bão trôi giạt đến, các Chúa Nguyễn đã đặt ở Hội An một cơ quan gọi là Tàu vụ ty, trong đó có nhiều chức quan. Người Trung Quốc và người Minh Hương vốn có nhiều tri thức và kinh nghiệm về ngoại thương hơn người Việt, nên thường được Chúa giao phó giữ các chức quan ấy. Ngoài dân các xã Minh Hương có nhiệm vụ xem xét cân lượng, định giá hàng các tàu buôn và làm thông ngôn cho các tàu Trung Quốc và ngoại quốc. Công việc ấy cũng là sưu dịch rồi nên dân Minh Hương được miễn các thứ sưu dịch, sưu sai, quét chợ và tuần đò. Ước tính số tiền thu thuế do Tàu vụ ty thu được là không dưới 1 vạn quan, nhiều là hơn 3 vạn quan. Số thuế thu được ấy mỗi năm đem nạp vào kho 6 phần, còn 4 phần thì chia cho quan, lại, quân, dân đã phụ trách các công việc19. Bên cạnh đó, để xúc tiến các công việc kinh doanh của mình một cách thuận lợi, các nhà buôn Trung Hoa tại Hội An đã lập nên các Hội đoàn như “Hội xúc tiến thương mại đường biển” (thành lập năm 1715). Chức năng chính của Hội là ủng hộ về vật chất và tinh thần, khuyến khích mở rộng các hoạt động buôn bán tư nhân của các nhà buôn Trung Hoa trên đất Việt Nam. Như vậy, chính những hoạt động buôn bán của người Hoa đã góp phần làm cho Hội An trở thành một trung tâm thương nghiệp phồn thịnh và là trung tâm ngoại thương của cả Đàng Trong khi ấy.

2.3. Nông Nại Đại Phố (hay Cù Lao Phố) Khi đến Đàng Trong, nhóm di dân do Trần Thượng Xuyên lãnh đạo đã sớm phát hiện ra ưu thế của Cù Lao Phố và tập trung Hoa thương đến đây sinh sống và buôn bán. Cù Lao Phố vốn là một bãi sa bồi hoang sơ nằm giữa sông Hương Phước (một đoạn của sông Đồng Nai), trải dài trên 7 dặm, chiều ngang bằng 2/3 chiều dài. Tuy nằm cách xa biển, nhưng lại là nơi sông sâu, nước chảy, có thể ngược lên phía Bắc khai thác nguồn hàng lâm thổ sản, xuống tận phía Nam, ra cửa Cần Giờ, và có thể sang tận Cao Miên. Bởi vậy, phần lớn Hoa thương đã chuyển từ vùng đất định cư ban đầu là Bàn Lăng (Biên Hòa) về Cù Lao Phố. Sau đó, họ phát hoang, dựng nhà, lập bến, mở đường, xây dựng phố chợ. Chỉ trong vài thập niên, đến đầu thế kỉ XVIII, những di dân người Hoa đã biến Cù Lao Phố thành một thương cảng xuất nhập khẩu lớn thu hút thuyền buôn Nhật Bản, Trung Hoa và các nước phương Tây.

Nông Nại Đại Phố nằm giữa cù lao trên sông Đồng Nai, đã được Trịnh Hoài Đức miêu tả trong “Gia Định thành thông chí” như sau: “Ở đầu phía Tây bãi là Đại Phố. Khi mới khai thác, tướng quân Trần Thượng Xuyên chiêu tập lái buôn người Trung Quốc lập ra phố xá, nhà ngói, tường vôi, lầu cao chót vót, quán mấy tầng rực rỡ bên sông dưới ánh mặt trời, liên tục năm dặm mở ra ba đường phố. Phố lớn lát đường đá trắng, phố ngang lát đường đá ong, phố nhỏ lát đường đá xanh, bằng phẳng như đá mài. Khách buôn tụ tập đông, thuyền biển, thuyền sông, tránh gió bỏ neo, lớn nhỏ sát nhau, là một nơi đô hội…”20. Tuy nhiên, sự thịnh vượng của Cù Lao Phố chỉ kéo dài đến nửa đầu thế kỉ XVIII thì bắt đầu đi xuống, vì nhiều nguyên nhân song chủ yếu do sự tàn phá của chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Cù Lao Phố từ khi hình thành và phát triển cho đến khi bị tàn phá, đã tồn tại được 97 năm (1679 – 1776).

2.4. Đất Hà Tiên của họ Mạc

“Hà Tiên nguyên đất của Chân Lạp, tục xưng là Mang Khảm, tiếng Tàu gọi là Phương Thành, khi ban đầu Mạc Cửu – người xã Lê Quách, huyện Khang Hải, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông nước Đại Minh, vào năm niên hiệu Khang Hy thứ 19 (1680) đời Đại Thanh, nhà Minh mất, ông Cửu không phục chánh sách nhà Thanh để tóc dài, qua Nam Vang nước Cao Miên…”21. Tuy nhiên, trong “Mạc thị gia phả” lại viết rằng: “…Cuối đời nhà Minh, đất Trung Quốc đại loạn, Mạc Thái Công húy Cửu, người Lôi Châu, sinh ngày mùng 8 tháng 5 năm Ất Mùi, niên hiệu Vĩnh Lịch nhà Minh năm thứ chín (tức là năm 1655), do không chịu được sự nhiễu loạn của giặc Hồ, bèn vượt biển đi về phương Nam, trú ngụ ở Chân Lạp. Sự kiện này xảy ra vào năm Tân Hợi (tức là năm 1671). Năm đó Mạc Thái Công 17 tuổi. Thái Công được Quốc Vương Chân Lạp sủng ái và tin dùng, các việc buôn bán đều ủy thác cho Mạc Thái Công trông coi hết…”22. Như vậy, Mạc Cửu ra đi và đến Chân Lạp năm nào, bắt đầu xây dựng vùng đất Hà Tiên vào năm nào vẫn chưa có sự thống nhất. Tuy nhiên, chắc chắn là Mạc Cửu ra đi khi nhà Thanh đã lên nắm quyền thống trị ở Trung Hoa.

Sau khi đến Chân Lạp, Mạc Cửu đã xin Quốc Vương Chân Lạp cho ra trấn thủ ở đất Mang Khảm, “Lúc bấy giờ, Quốc Vương (Chân Lạp) nghe tâu rằng, nếu được ra Mang Khảm, Thái Công sẽ lo chiêu tập người buôn kẻ bán khắp bốn phương, thu lợi cho quốc gia không phải là nhỏ, bèn vui vẻ chuẩn y ngay, lại còn phong cho Thái Công làm Ốc nha. Thái Công ngày đêm lo chiêu tập người ở khắp hải ngoại đến buôn bán, tàu thuyền ra vào rất nhộn nhịp, người Việt, người Đường, người Liêu, người Man đua nhau kéo đến trú ngụ, hộ khẩu ngày một đông, tiếng tăm của Thái Công ngày một lừng lẫy”23.

Năm Mậu Tí (1708), đời vua Hiếu Tông Hiếu Minh Hoàng đế (Nguyễn Phúc Chu) sắc cho Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên, phong tước Cửu Ngọc hầu. Mạc Cửu đã lập dinh trại đồn trú ở đất Phương Thành, nhân dân quy tụ ngày càng đông đảo 24.

Năm Ất Mão (1735), Tổng binh trấn Hà Tiên là Mạc Cửu mất, con là Mạc Thiên Tứ (còn gọi là Mạc Thiên Tích) kế cha là Đô đốc trấn Hà Tiên. Lúc đó, Hà Tiên đã bắt đầu phồn thịnh, nên Chúa đã cho Thiên Tứ quyền hạn rộng rãi hơn: được cấp cho ba chiếc thuyền Long bài miễn thuế để thông thương với hải ngoại, được phép đúc tiền. Thiên Tứ là một vị Nho học, giỏi thơ văn, có nhiều tài năng. Thiên Tứ đã cho xây dựng thành lũy, lập quân ngũ, đặt nha thuộc, khuếch trương phố, chợ, tàu thuyền buôn bán ngoại quốc tới lui càng đông, ông cũng cho thuyền sang mậu dịch với Nhật Bản. Thiên Tứ lại vời những người văn học Việt, Hoa để lập ra nơi để cùng nhau giảng bàn học vấn, xướng họa thơ văn, gọi là Chiêu Anh Các,