BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Kinh tế Việt Nam’ Category

1435. Viễn tưởng từ chức

Posted by adminbasam on 03/12/2012

Tại sao một nhóm nhỏ lại dành hết mọi cơ hội về mình, rồi ban phát cho nhau, hết lần này đến lần khác, trong khi hầu hết 90 triệu Dân, kể cả 3hàng triệu đảng viên, đều không hề nhận được một cơ hội nào cả?

Tại sao những người đã gây ra quá nhiều thiệt hại cho Dân, cho Nước, lại được nhận thêm cơ hội để tái diễn tội lỗi, mà không cho 90 triệu Dân cơ hội để thoát khỏi tai họa do những người đó gây ra?

Blog Hoàng Xuân Phú

Viễn tưởng từ chức

Hoàng Xuân Phú *

1.  Tình hình kinh tế và xã hội quá bi đát. Những thông tin kinh khủng đã lộ ra mới chỉ là dấu hiệu, báo động những tháng ngày tồi tệ sắp tới. Không thể đổ lỗi cho thiên tai, địch họa. Không thể dùng khủng hoảng kinh tế trên Thế giới để biện hộ. Lãnh đạo ở tầng cao nhất phải chịu trách nhiệm chính về thực trạng này, cả với tư cách tập thể lẫn tư cách cá nhân. Không thể dùng trách nhiệm tập thể để che chắn cho trách nhiệm cá nhân. Và ngược lại, không thể chỉ thí một vài cá nhân để bao biện cho cả tổ chức.

Đối diện với khủng hoảng trầm trọng, lãnh đạo Đảng CSVN đã tiến hành một chiến dịch kiểm điểm hiếm có. Dư luận chờ đợi có ai đó ở thượng tầng sẽ bị cách chức, hay buộc phải từ chức, để giải tỏa một phần bức xúc của Nhân dân và cho họ một lý do để hy vọng. Song kết cục còn bất ngờ hơn cả vở kịch đầy kịch tính nhất: Đa số Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN khóa XI đã bỏ phiếu không chấp nhận đề nghị kỷ luật của Bộ Chính trị.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam, Tham nhũng, Đảng/Nhà nước | Tagged: | 86 Comments »

1407. Ngộp trong núi nợ!

Posted by adminbasam on 23/11/2012

“Những khoản nợ lớn của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước là đáng báo động. Rất mong Quốc hội sớm có nghị quyết cần thiết để cải cách thể chế quản lý về tập đoàn, tổng công ty để không thể trường diễn mãi tấn bi hài kịch quá đắt giá này”.

Người lao động

Ngộp trong “núi” nợ!

Thứ Năm, 22/11/2012 21:39

TS Lê Đăng Doanh

Khoản nợ rất lớn của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước đặt ra hàng loạt câu hỏi nghiêm túc về trách nhiệm giải trình, quy chế công khai minh bạch, trách nhiệm quản lý vốn của chủ sở hữu, quy chế bổ nhiệm…

Báo cáo số 336/BC-CP của Chính phủ ngày 16-11-2012 trình Quốc hội về tình hình làm ăn của các tập đoàn (TĐ), tổng công ty (TCT) Nhà nước cho thấy tình trạng tài chính không mấy khả quan, đang “ôm” một “núi” nợ phải trả rất lớn.
.

Posted in Kinh tế Việt Nam | Tagged: , , , | 31 Comments »

1406. Lộ 'đơn trình bày và nguyện vọng khẩn thiết' của ông Đặng Văn Thành, cựu Chủ tịch Sacombank

Posted by adminbasam on 23/11/2012

VinaCorp/ Bảo vệ Pháp luật (Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao)

Lộ ‘đơn trình bày và nguyện vọng khẩn thiết’ của ông Đặng Văn Thành 

Thứ Năm, 22/11/2012, 21:19

Báo Bảo vệ pháp luật nhận được đơn xin cứu xét của ông Đặng Văn Thành (SN 1960, hiện thường trú tại 32/89 Khuông Việt, phường Phú Trung, quận Tân Phú, TPHCM), nguyên Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (gọi tắt là Sacombank). 

Cụ thể,  theo đơn trình bày của ông Thành: Vào lúc 10h sáng ngày 01/11/2012, các thành viên trong gia đình ông gồm ông Thành, hai con Đặng Hồng Anh và Đặng Huỳnh Ức My (trừ vợ ông là Huỳnh Bích Ngọc bận đi công tác không đến được) đã được Cơ quan CSĐT Bộ công an (C46B) “mời” đến trụ sở Bộ công an phía Nam tại số 258 Nguyễn Trãi, Quận 1, TP Hồ Chí Minh.

Khi đến làm việc, ông Thành và hai con hoàn toàn bất ngờ và sửng sốt khi Cơ quan CSĐT đề nghị các thành viên trong gia đình ông giải trình một số vấn đề: Quá trình điều hành hoạt động của các thành viên trong gia đình ông với tư cách là các thành viên lãnh đạo trong Hội đồng quản trị của Sacombank; Việc mua bán tài sản của Sacombank với các đối tác khác của Sacombank; Làm rõ các khoản dư nợ của các Công ty mà Đoàn Thanh tra đánh giá là gia đình ông có tham gia góp vốn. Trong khi, cha con ông không hề được Cơ quan điều tra thông báo trước lý do phải giải trình.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật | Tagged: , | 14 Comments »

1398. Khoa học Việt Nam mắc kẹt trong phi chuẩn mực, hành chính hóa và tư duy ăn xổi

Posted by adminbasam on 19/11/2012

Khoa học Việt Nam mắc kẹt trong phi chuẩn mực, hành chính hóa và tư duy ăn xổi

Phạm Duy Hiển *

Việt Nam là nước đi sau về khoa học và công nghệ (KH-CN). Ta du nhập cách làm KH-CN, ban đầu từ các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu (ở miền Bắc), gần đây từ các nước tư bản Âu-Mỹ. Ý thức hệ và thiết chế của hai hệ thống hoàn toàn khác nhau, song tư duy và cách nghiên cứu khoa học lại khá giống nhau. Học họ, nhưng ta chẳng giống ai, có chăng chỉ là những bề nổi bên ngoài, như các danh hiệu giáo sư, tiến sỹ, còn cốt lõi bên trong thì theo cách tư duy của mình.

Từ chối chuẩn mực phổ quát trong nghiên cứu khoa học

Ở nước ngoài, chức danh tiến sỹ khẳng định anh đã vượt qua những đòi hỏi gắt gao về học thuật để có thể bắt đầu theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học, hoặc giảng dạy đại học. Ở ta, thiếu tấm bằng tiến sỹ chẳng những không vênh vang được với thiên hạ mà không thể chen chân vào nhiều chức quan. Có nơi còn quy định 50% cán bộ thuộc thành ủy quản lý phải có bằng tiến sỹ (TuanVietnam.net, 29/10/2012). Theo kế hoạch của Bộ GD-ĐT, đến năm 2020 Việt Nam phải có sáu vạn tiến sỹ để đáp ứng quy mô mở rộng hệ thống đại học với 450 sinh viên trên một vạn dân, không cần biết hiện có bao nhiêu người hướng dẫn và phòng thí nghiệm đáp ứng yêu cầu. Cách quy hoạch ngược đời này đang lạm phát ồ ạt bằng tiến sỹ, thực học không cần, chuẩn mực khoa học bị gạt bỏ, chưa kể bằng dởm, viết luận án thuê, đang tràn lan (ANTĐ, 28/10/2012).   

Đọc tiếp »

Posted in Giáo dục, Kinh tế Việt Nam, Đảng/Nhà nước | 28 Comments »

1378. LS Trần Vũ Hải bình luận về những ý kiến của GS Đặng Hùng Võ

Posted by adminbasam on 12/11/2012

LS Trần Vũ Hải bình luận về những ý kiến của GS Đặng Hùng Võ

LS Trần Vũ Hải

Cuộc trao đổi giữa Giáo sư Đặng Hùng Võ với đại diện những người dân bị thu hồi đất tại Văn Giang – Hưng Yên tại trụ sở Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN-MT) chiều ngày 08/11/2012 tập trung vào 02 Tờ trình của Bộ TN-MT mà  ông đã ký số 14/TTr-BTNMT ngày 12/03/2004 để Thủ tướng ký quyết định 303/QĐ-TTg ngày 30/03/2004; số 99/TTr.BTNMT ngày 29/06/2004 để Thủ tướng ký quyết định 742/QĐ-TTg, giáo sư Đặng Hùng Võ thừa nhận những điểm sau:

1. Ông ký 02 Tờ trình này trình Thủ tướng Chính phủ ra quyết định là trái pháp luật, vì thẩm quyền quyết định những nội dung liên quan là Chính phủ (không phải là Thủ tướng Chính phủ) theo quy định tại những thời điểm này.

Đọc tiếp »

Posted in Cưỡng chế đất đai, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , | 49 Comments »

1377. GS Đặng Hùng Võ: vụ 3.000 văn bản sai phạm – phá luật là để đơn giản thủ tục hành chính, vì dân, vì đầu tư nước ngoài

Posted by adminbasam on 12/11/2012

“Cũng có người nói rằng Chính phủ ra Nghị quyết giao cho Thủ tướng ban hành Quyết định mới chuẩn. Tại sao chúng ta lại cứ phải ‘tự lấy đá ghè vào chân mình như vậy’. Thực tế, người dân đang đòi hỏi đơn giản thủ tục hành chính, thủ tục phức tạp không chỉ gây bức xúc cho dân mà còn làm mất cơ hội đầu tư ở địa phương.

“Chúng ta đang phải thu hút đầu tư, đầu tư rất nhiều nơi, các tỉnh đều có yêu cầu đầu tư. Nếu quá phức tạp thì mất cơ hội đầu tư cho địa phương.” 

Ha ha! Đúng là cháy nhà mới ra mặt … “nhân tài”! Sẵn sàng âm thầm phá luật, kiếm bộn, nhưng khi bại lộ, bị dồn tới chân tường thì có ngay cớ là vì dân, vì nước, tại người đi trước phá nên phá theo? Thành quả của mấy chục năm “Đổi mới”, nhà nước pháp quyền là đây ư?

Giáo dục Việt Nam

GS. Đặng Hùng Võ: ‘Còn nhiều điều chưa thể nói khi gặp dân Văn Giang’

Thứ hai 12/11/2012 07:05

(GDVN) – “Khi người dân bắt phải theo luật một cách cứng nhắc trên giấy tờ thì tôi phải thừa nhận là sai. Tôi không thể nói là đúng theo lôgíc hình thức. Chúng ta hãy trở lại cốt lõi của hệ thống pháp luật, xây dựng pháp luật để làm gì nếu không phải là mục tiêu của sự phát triển đất nước”.

Đọc tiếp »

Posted in Cưỡng chế đất đai, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: , | 55 Comments »

1367. Ông Đặng Hùng Võ: 'Vụ Văn Giang không đơn giản'

Posted by adminbasam on 09/11/2012

Kinh hoàng! Suốt 11 năm, có trên 3.000 văn bản về đất đai thuộc thẩm quyền quyết định của chính phủ, nhưng lại được thủ tướng ký, dù có sự ủy quyền của chính phủ, thậm chí có một nghị định lúc nào đó “cho phép” theo kiểu lách luật, thì cũng là trái pháp luật.

Một vụ án chưa từng thấy, với tội danh “cố ý làm trái, gây hậu quả đặc biệt đặc biệt nghiêm trọng”?

VNExpress

Ông Đặng Hùng Võ: ‘Vụ Văn Giang không đơn giản’

Thừa nhận thẩm quyền giao đất là “không đúng” song ông Đặng Hùng Võ cho rằng, vụ Văn Giang không chỉ đơn giản như vậy. Còn Bộ Tài nguyên Môi trường khẳng định, cuộc đối thoại của ông Võ không phản ánh quan điểm của Bộ.

Đọc tiếp »

Posted in Cưỡng chế đất đai, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | 91 Comments »

1348. THẢM HỌA DƯỚI CÁI TÊN “NIỀM TỰ HÀO CỦA NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM”

Posted by adminbasam on 05/11/2012

THẢM HỌA DƯỚI CÁI TÊN “NIỀM TỰ HÀO CỦA NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM”

Tô Văn Trường

Bộ Tài chính công bố số nợ công nhưng nhiều chuyên gia cho rằng đấy là con số ảo, không phải số thật. Theo tính toán của chuyên gia Vũ Quang Việt nợ công năm 2011 ít nhất là 90 tỷ USD, bằng 74% GDP. Số này chưa tính hết nợ của Chính phủ đối với các nguồn từ trong nước như nợ qua phát hành trái phiếu. Con số này đã vượt 65% GDP mà Chính phủ dự kiến là trần cho năm 2015. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng số nợ của các Tổng công ty và các địa phương chưa được ghi đầy đủ, nếu cứ làm theo kiểu “đà điểu húc đầu vào cát”, không nhìn thẳng vào sự thật thì có ngày hối không kịp.

Theo quan điểm của người viết bài này, “nợ công đại vấn đề”  có phần duy ý chí khi phê duyệt và tiến hành thực hiện các dự án khủng, mà bài học điển hình có thể gọi thảm họa dưới cái tên “niềm tự hào của ngành dầu khí Việt Nam” chính là nhà máy lọc dầu Dung Quất. Bài học về Dung Quất là một nỗi đau không biết đến bao giờ mới nguôi không chỉ của ngành dầu khí  mà cả nền kinh tế Việt Nam. Câu chuyện này lại gợi lại ý Việt Nam nằm trong top ten của các quốc gia luôn sai lầm.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam | Tagged: , | 31 Comments »

1290. Sự thất bại của mô hình Tập đoàn kinh tế

Posted by adminbasam on 05/10/2012

Ghi chú: Một bài phỏng vấn giữa phóng viên Lao động với TS Nguyễn Quang A, đã được biên tập và đăng chính thức. Xin đưa dưới đây cả bản gốc ban đầu và bản được biên tập để tiện cho độc giả theo dõi.

Bản đầu tiên là bản gốc, những đoạn màu đỏ sẫm được biên tập thay thế bằng nội dung khác, còn những đoạn màu đỏ tươi đã bị lược bỏ ở bản được biên tập.

Sự thất bại của mô hình Tập đoàn kinh tế

Giải pháp cho các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước là chúng phải thuộc quyền quản lý của một Công ty quản lý tài sản quốc gia, thực hiện quản lý DNNN như một ông chủ tư nhân, Công ty này hoạt động theo một luật riêng do QH đưa ra, có trách nhiệm giải trình trước CP, trước QH và quan trọng nhất là trước công chúng. TS Nguyễn Quang A trao đổi với Lao động xung quanh việc 2 Tập đoàn VNIC và HUD kết thúc mô hình tập đoàn.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam | 17 Comments »

1251. Choáng về tư duy thượng tôn pháp luật

Posted by adminbasam on 13/09/2012

Choáng về tư duy thượng tôn pháp luật

 Nguyễn Quang A

“Đe” các ngân hàng không chịu hạ lãi suất, lấy tiền đâu ra thâu tóm ngân hàng, tội thâu tóm ngân hàng,… đấy là những cụm từ nóng trên báo chí trong những ngày gần đây.

Thông tin úp úp mở mở, đăng rồi gỡ xuống, chẳng còn biết đâu mà lần. Việc ấy tạo ra mảnh đất màu mỡ cho những tin đồn và không có gì hủy hoại lòng tin hữu hiệu hơn thông tin bất nhất, quanh co, mập mờ và những tin đồn.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam | Tagged: | 29 Comments »

1247. Dự án cảng Vân Phong của Vinalines-Cái chết được báo trước

Posted by adminbasam on 10/09/2012

Dự án cảng Vân Phong của Vinalines-Cái chết được báo trước

Võ Văn Tạo

Vịnh Vân Phong (Khánh Hòa) được giới chuyên gia kinh tế và hàng hải đánh giá có lợi thế hiếm có để xây dựng cảng nước sâu (22-30m), không bị bồi lấp, gần trục hàng hải Đông Tây, thuận lợi cho việc xây dựng cảng trung chuyển quốc tế như Singapore. Thậm chí, nếu kế hoạch đào kênh Kra ở miền Nam Thái Lan được triển khai, tàu bè sẽ chọn vào Vân Phong để trung chuyển hàng, không phải đi vòng xuống phía Nam để qua Singapore (vừa tốn kém, vừa nguy hiểm do nạn cướp biển).

Vì vậy, ngành hàng hải VN đã nghiên cứu xây dựng ở vịnh Vân Phong cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong (CTCQTVP). Trong quy hoạch hệ thống cảng biển VN đến 2020, Vân Phong là CTCQT duy nhất của VN. Quy hoạch này đã được các bộ ngành thống nhất, Chính phủ đã phê duyệt cách nay hơn chục năm. Nếu cảng này thành công, sẽ mang lại nguồn lợi lớn, tạo bước bứt phá về kinh tế cho VN.

Sau nhiều chậm trễ không đáng có, theo kế hoạch, ngày 25-1-2008, khởi công CTCQTVP. Bỗng ngày 15-1-2008, VPCP có công văn thông báo ý kiến Thủ tướng, yêu cầu “dừng khởi công Dự án CTCQTVP để làm rõ một số vấn đề có liên quan“.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam, Môi trường, Tham nhũng | Tagged: , , , , | 46 Comments »

1244. Thống đốc ngân hàng mới “vô tư” làm sao!

Posted by adminbasam on 07/09/2012

Lùm xùm Sacombank bị “nuốt”:

Thống đốc ngân hàng mới “vô tư” làm sao!

 Võ Văn Tạo

Mặc dù thông tin chính thức từ cơ quan điều tra công bố Bầu Kiên bị bắt do hành vi kinh doanh trái phép của 3 doanh nghiệp hạng nhỏ do Kiên đứng tên, nhưng “quả bom tí hon” này lại đánh sập sàn chứng khoán Việt Nam. Cổ phiếu, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, tuột dốc thê thảm. Dần chúng rùng rùng kéo nhau đi rút tiền gửi ngân hàng. 

Điều đó không ngẫu nhiên. Hồi đầu năm, báo chí rộ lên phản ánh những lùm xùm đáng ngờ trong vụ mấy chú “cá lẹp” “nuốt” con “cá mập” Sacombank. Trong giới đầu tư chứng khoán và trên các báo “không lề”, tin tức về Bầu Kiên cùng nhóm “chiến hữu”, khuynh đảo tiền tệ, tài chính quốc gia đã không còn là bí mật.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam | Tagged: , , , | 24 Comments »

1236. Việt Nam: Thông điệp về bình đẳng bị hố ngăn cách giàu nghèo thách thức

Posted by adminbasam on 03/09/2012

The New York Times

Việt Nam: Thông điệp về bình đẳng bị hố ngăn cách giàu nghèo thách thức

Tác giả: HOMAS FULLER

Người dịch: Huỳnh Phan

01-09-2012

HÀ NỘI, Việt Nam – Cô ta diện một bộ cánh màu hồng, tiệp màu với giày cao gót khi viếng một công trường xây dựng đầy bụi bặm. Chẳng bao lâu sau chuyến thăm của Tô Linh Hương hồi tháng 4, những bức ảnh chụp được lúc đó đã lan tràn trên Internet, nhưng không phải vì khiếu trang phục của cô Hương.

Phần lớn sự tức giận của dân chúngViệt Nam về vấn đề gia đình trị và điều hành kinh tế kém nhắm vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người đã được bầu lại thêm một nhiệm kỳ 5 năm hồi năm ngoái.

Con gái của một uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam, cơ quan chính trị có quyền lực nhất của đất nước này, chỉ vài ngày cô Hương được bổ nhiệm làm người đứng đầu của một công ty xây dựng quốc doanh. Các bình luận viên trên Internet đã bày tỏ sự phẫn nộ về việc một người quá trẻ – được biết mới 24 tuổi – giữ một chức vụ cao cấp như thế ở một tổng công ty.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Đảng/Nhà nước | Tagged: | 65 Comments »

1224. THÂU TÓM NGÂN HÀNG, THÂU TÓM ĐẤT ĐAI

Posted by adminbasam on 25/08/2012

THÂU TÓM NGÂN HÀNG, THÂU TÓM ĐẤT ĐAI

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

24-08-2012

1.  Hơn bốn mươi giờ sau khi ông Nguyễn Đức Kiên, người kinh doanh ngân hàng bị bắt, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liền lên tiếng trong phiên họp của Ban Chỉ đạo trung ương phòng chống tham nhũng, đòi hỏi cơ quan công an nhanh chóng điều tra làm rõ và xử lý nghiêm minh theo pháp luật bất cứ ai có hành vi vi phạm pháp luật nhằm thâu tóm ngân hàng gây mất ổn định hoạt động ngân hàng.

Một đòi hỏi, một chỉ đạo đúng đắn và đúng lúc. Nhưng thâu tóm ngân hàng gây rối loạn cả hệ thống ngân hàng chỉ vừa xảy ra gần đây và tội phạm này có tính cá biệt cao, rất ít người có thể phạm tội nên dễ bị phát hiện sớm và đấu tranh loại bỏ không phức tạp, không khó, không dây dưa kéo dài.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam, Pháp luật | Tagged: , , , , | 50 Comments »

1222. Việt Nam: Nợ xấu ám ảnh các tập đoàn khổng lồ chưa cải cách

Posted by adminbasam on 24/08/2012

Reuteurs

Việt Nam: Nợ xấu ám ảnh các tập đoàn khổng lồ chưa cải cách

Stuart Grudgings

Ngày 24-8-2012

Người dịch: Thủy Trúc

Hà Nội – Từ miền trung du đến những đô thị đông nghẹt xe cộ, khó mà không thấy sự hiện diện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Họ xây nhà, vận hành một ngân hàng, quản lý một công ty môi giới chứng khoán, cung cấp điện cho hàng triệu hộ gia đình và thuê 100.000 nhân công.

Hiện nay, theo một quan chức cao cấp trong ngành điện, rất am hiểu về ngành, thì nhà cung cấp điện bán lẻ duy nhất ở Việt Nam, mang tên EVN, có vẻ đã bành trướng thái quá. EVN là con quái vật khổng lồ gần đây nhất của nhà nước đang bị theo dõi chặt, trước tình cảnh quá nhiều nợ xấu đã làm rúng động lòng tin của giới đầu tư và thể hiện sự suy thoái của đất nước từng một thời nổi lên như là ngôi sao kinh tế mới của Đông Nam Á.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam | Tagged: , , , , , | 9 Comments »

1221. NHÀ MÁY ĐIỆN NGUYÊN TỬ TẠI VIỆT NAM- HÃY TỪ BỎ THƯƠNG VỤ XUẤT KHẨU KHÔNG ĐEM LẠI LỢI ÍCH QUỐC GIA

Posted by adminbasam on 24/08/2012

“Ở Việt Nam, đất nước độc tài đảng trị, tự do ngôn luận bị hạn chế. Không có gì bảo đảm thông tin về việc xây dựng nhà máy điện nguyên tử, một dự án cần minh bạch hơn các dự án khác, sẽ được công khai …”

“… Một dự án mà những thông tin cần thiết cho nhân dân cả 2 nước không được công khai như vậy cần sớm được bãi bỏ.”

Asahi (Nhật Bản)

NHÀ MÁY ĐIỆN NGUYÊN TỬ TẠI VIỆT NAM

HÃY TỪ BỎ THƯƠNG VỤ XUẤT KHẨU KHÔNG ĐEM LẠI LỢI ÍCH QUỐC GIA

Xã luận

Ngày 24-8-2012

Người dịch: TTH

Các quan chức chính phủ liên tục sang thăm Việt Nam để thúc đẩy sự hợp tác xây dựng nhà máy điện nguyên tử. Trong nước, Chính phủ đề xuất đường lối “từ bỏ điện nguyên tử”, nhưng mặt khác, lại thúc đẩy xuất khẩu. Tính nhất quán nằm đâu?

Tại Hà Nội, Edano Yukio, Bộ trưởng Kinh tế đã ký Bản ghi nhớ về việc Hợp tác xây dựng cơ chế bồi thường thiệt hại khi xảy ra sự cố nhà máy điện nguyên tử. Ông nói, “tiếp thu bài học sự cố nhà máy điện nguyên tử Fukushima số 1, chúng tôi muốn hợp tác xây dựng nhà máy điện nguyên tử bảo đảm tính an toàn ở trình độ cao nhất thế giới”.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam, Môi trường, Quan hệ quốc tế | Tagged: | 13 Comments »

1219. Việt Nam: Gia tăng nỗi sợ đổ vỡ kinh tế

Posted by adminbasam on 23/08/2012

New York Times

Việt Nam: Gia tăng nỗi sợ đổ vỡ kinh tế

Tác giả: Thomas Fuller

Người dịch: Đan Thanh

22-8-2012

TP.HCM, Việt Nam – Những đội thợ xây đã xây đến tầng một của công trình từng là cao ốc Sài Gòn (Saigon Residence) – một tòa nhà cao tầng ở trung tâm TP.HCM. Giờ thì tất cả những gì cái dự án bị hủy bỏ đó để lại, là những đống gạch vụn, những thanh kim loại gỉ, và một nhóm nhỏ bảo vệ; những người này đã biến nền xi măng của công trình thành một bãi trông xe máy.

Tại các đô thị lớn ở Việt Nam, thị trường bất động sản một thời bùng nổ bong bóng giờ đã đổ vỡ. Hàng trăm công trường xây dựng bị bỏ hoang là dấu hiệu rõ nhất của một nền kinh tế ốm yếu.

Một quan chức cao cấp trong Đảng Cộng sản Việt Nam, khi đứng nói chuyện trong phòng khách sang trọng của một tòa nhà xây kiểu Pháp, đã so sánh các vấn đề kinh tế của đất nước với vụ sụp đổ của thị trường cách đây 15 năm, đánh sập nhiều nền kinh tế châu Á.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Kinh tế Việt Nam, Đảng/Nhà nước | 13 Comments »

1169. Chủ tịch Vũ, ông vua cà phê ở Việt Nam

Posted by adminbasam on 28/07/2012

Forbes

Chủ tịch Vũ, ông vua cà phê ở Việt Nam

Tác giả: Scott Duke Harris

Người dịch: Dương Lệ Chi

25-07-2012

Một buổi sáng ấm áp ở Hà Nội, vào lúc 8 giờ kém 10’, triết gia và là ông vua ngành công nghiệp cà phê hùng mạnh của Việt Nam, đang hút điếu xì gà đầu tiên trong ngày của ông còn khoảng 2 inch (5 cm). Chủ tịch Vũ ăn mặc như thường ngày, đầu đội chiếc mũ Panama, nói ông thích xì gà hiệu Cohiba hơn, nhưng điếu này hiệu Davidoff, “một thương hiệu của Đức”, ông nói qua người phiên dịch. Ông mời tôi một điếu, nhưng dường như hơi sớm để hút xì gà.

Khi không thấy Đặng Lê Nguyên Vũ điều hành Công ty Cổ phần Cà phê Trung Nguyên tại trụ sở của công ty ở thành phố Hồ Chí Minh, người ta có thể tìm thấy ông tại một nơi ẩn dật rộng lớn của mình ở chỗ trồng cà phê trên Tây Nguyên, nơi mà ông có thể chọn 120 con ngựa trong chuồng để cưỡi.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam | 145 Comments »

1140. Sự kỳ diệu của Việt Nam chấm dứt

Posted by adminbasam on 13/07/2012

Foreign Policy

Sự kỳ diệu của Việt Nam chấm dứt

Đã là quá đủ cho câu chuyện thành công tiếp theo ở châu Á

Tác giả: Geoffrey Cain

Người dịch: Đan Thanh

11-7-2012

Thành phố Hồ Chí Minh – Tại cái nơi đã từng là một trong những thị trường đang nổi lên sôi động nhất châu Á, Nguyen Van Nguyen chỉ nhìn thấy phía trước là bầu trời ảm đạm. Kể từ năm 2008, công ty của ông ở thủ phủ kinh tế miền nam Việt Nam đã trải qua hai lần lạm phát rất đột ngột, đạt đỉnh vào tháng 8-2011 ở mức 23% – là mức lạm phát cao nhất châu Á vào thời điểm đó. Giờ đây, đề tự bảo hiểm trước rủi ro giá cả, ông chỉ nhận những đơn đặt hàng nhỏ từ nước ngoài cho nhà máy của mình – Bình Minh – nhà máy sản xuất mành trúc ở TP.HCM, từng một thời thịnh vượng. Ông bảo rằng khách hàng ở Australia, châu Âu, và Mỹ đều đã giảm bớt số đơn đặt hàng, sau khi nhu cầu toàn cầu suy thoái. Chi phí sản xuất trong ngành đã tăng xấp xỉ 30%, trong khi khách hàng chỉ còn sẵn sàng trả thêm chừng 10% nữa – theo ông Dang Quoc Hung, phó chủ tịch Hiệp hội Thủ công Mỹ nghệ và Đồ Gỗ ở TP.HCM. Ông Nguyen cũng thuê ít công nhân hơn cho mùa cao điểm là những tháng hè, và giảm lương của họ từ 200 USD xuống còn khoảng 120 USD/tháng. “Chúng tôi chỉ có thể làm chầm chậm thôi, mọi việc bây giờ khó khăn lắm” – ông than vãn như vậy hồi cuối tháng 6.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Kinh tế Việt Nam | 54 Comments »

1078. Thời kỳ phát triển kinh tế dễ dàng đã không còn ở Việt Nam

Posted by adminbasam on 12/06/2012

The Diplomat

Thời kỳ phát triển kinh tế dễ dàng đã không còn ở Việt Nam

Tác giả: Bridget O’Flaherty

Người dịch: Dương Lệ Chi

10-06-2012

Sự lạc quan trong thời kỳ bùng nổ kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn trước năm 2008 đã không còn nữa. Đảng Cộng sản biết rằng họ phải hành động. Nhưng dường như họ chẳng biết phải làm gì.

Một bên của ngôi chợ Hoà Bình kiên cố và rộng lớn ở quận 5, TP Hồ Chí Minh, là một “ngôi chợ trời”, nơi những người bán hàng lắp các bóng đèn nhỏ trên hàng hóa và thịt cá của họ, và dây điện quấn vòng qua những chiếc ô dù lớn. Trong những dịp đặc biệt như ngày lễ, cảnh sát có thể xua đuổi họ, thậm chí bắt giữ hàng chục người buôn bán này. Đôi khi, hàng hoá bị tịch thu. Nhưng đó không chỉ là vấn đề của họ hiện nay.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Kinh tế Việt Nam | 18 Comments »

1042. Người Trung Quốc nuôi cá trên vịnh Cam Ranh

Posted by adminbasam on 30/05/2012

Sài Gòn Tiếp thị

Người Trung Quốc nuôi cá trên vịnh Cam Ranh

Ngày 30.05.2012, 13:56 (GMT+7)

Tại thành phố Cam Ranh (Khánh Hoà), vùng nuôi cá mú được xem là lớn nhất Việt Nam, người Trung Quốc không chỉ thu mua mà còn sử dụng mặt nước vịnh để nuôi các loài hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, cá mú.

Điều đáng nói là tình trạng người Trung Quốc “núp bóng” nuôi cá tại một vịnh có vị trí quan trọng này diễn ra từ lâu, nhưng chính quyền tỏ ra lúng túng.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Kinh tế Việt Nam, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: | 168 Comments »

1031. Hãng tin Nhật Jiji Press đưa tin về bức thư của hàng trăm người Việt gửi TT Nhật liên quan điện hạt nhân VN

Posted by adminbasam on 25/05/2012

Thưa các chú, bác, các anh,

Xin kính gửi các chú bác và các anh nội dung đăng trên một số báo điện tử Nhật Bản về việc phía Nhật đã nhận được “Thư phản đối Chính phủ Nhật Bản viện trợ xây nhà máy ĐNT tại Việt Nam”. Nếu các chú bác và các anh chưa xem, xin bớt chút thời giờ tham khảo ạ.

Vì lý do thời gian nên cháu/em chỉ xin tạm dịch ra tiếng Việt tin mới nhất đăng trên Jiji Press ngày 24/5, phòng trường hợp có chú, bác, anh không quen đọc tiếng Nhật ạ. 

Tin đăng tải trên Jiji Press Vietnam (kể cả đa phần tin của Kyodo News) là thông tin không thể đọc miễn phí, vì vậy cháu/em xin copy lại nội dung gốc tiếng Nhật chứ không gửi link trực tiếp.

Ảnh chụp màn hình và một số đường link các tin tương tự khác trên Jiji Press qua Yahoo Japan,U.S Frontline nằm trong file đính kèm ạ.

Cám ơn các chú bác, các anh và chúc tất cả dồi dào sức khỏe, gặp thật nhiều điều may mắn, tốt đẹp ạ!

D.A.

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Môi trường | Tagged: | 139 Comments »

1023. Quốc Hội phải làm gì khi ra nghị quyết dựa trên những bằng chứng không đúng

Posted by adminbasam on 23/05/2012

Boxitvn

Quốc Hội phải làm gì khi ra nghị quyết dựa trên những bằng chứng không đúng

Phạm Duy Hiển *

Nguy cơ thiếu điện nghiêm trọng sau 2020 là lý do cơ bản khiến Quốc Hội phải cấp tốc phê duyệt dự án xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) tổng công suất 4000 MW do Bộ Công thương trình lên hồi tháng 11 năm 2009. Theo Bộ Công thương, vào năm 2020 sau khi đã khai thác hết các nguồn cổ điển như than, dầu, khí và thủy điện, chúng ta sẽ thiếu 115 tỷ kWh, một sản lượng điện rất lớn, tương đương với khả năng cung ứng của toàn bộ hệ thống hiện nay. Mà đây là phương án phụ tải cơ bản. Với phương án phụ tải cao cũng được trình lên Quốc Hội xem xét lúc bấy giờ, con số thiếu hụt còn lên đến 226 tỷ kWh.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Kinh tế Việt Nam, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | 90 Comments »

994. Tờ trình kêu cứu của nông dân Văn Giang gửi lãnh đạo đảng, nhà nước, quốc hội, chính phủ

Posted by adminbasam on 16/05/2012

.

Đọc tiếp »

Posted in Cưỡng chế đất đai, Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: , | 30 Comments »

987. MỜI KÝ TÊN VÀO THƯ PHẢN ĐỐI CHíNH PHỦ NHẬT BẢN VIỆN TRỢ XÂY NHÀ MÁY ĐIỆN NGUYÊN TỬ TẠI VIỆT NAM

Posted by adminbasam on 14/05/2012

MỜI THAM GIA KÝ TÊN THƯ PHẢN ĐỐI CHÍNH PHỦ NHẬT BẢN CHO  VIỆT NAM VAY TIỀN XÂY NHÀ MÁY PHÁT ĐIỆN NGUYÊN TỬ.

Chúng tôi vừa soạn lá thư gởi chính phủ Nhật Bản phản đối việc cho chính phủ hiện nay của Việt Nam vay khoảng 10 tỷ USD xây nhà máy phát điện nguyên tử trong khi đó tại chính Nhật Bản, trước sự chống đối và đòi hỏi của dân chúng Nhật Bản, tất cả 54 nhà máy điện nguyên tử đều phải ngưng hoạt động và kế hoạch xây thêm nhà máy phát điện hạch tâm mới tại Nhật bị hủy bỏ.

Xin giới thiệu lá thư phản đối tiếng Anh và tiếng Việt với đồng bào có quan tâm sâu xa đến những hậu quả tại hại không lường của việc dùng Uranium trong sản xuất điện tại Việt Nam.

Ngày 21 tháng 05 năm 2012 chúng tôi sẽ gởi thư này đến Thủ Tướng Nhật Bản, Bộ Ngoại Giao Nhật Bản, Toà Đại Sứ Nhật Bản tại Hà Nội và một số cơ quan công tư tại Nhật Bản.

Mời anh chị từ khắp nơi cùng tham gia ký tên với chúng tôi vào lá thư trước khi được chính thức gởi đi.

Xin liên lạc email chúng tôi qua địa chỉ: hungthuoc@yahoo.com

Chúng tôi hân hạnh đón nhận mọi ý kiến đóng góp.

Trân trọng

Giáo Sư Nguyễn Thế Hùng, Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, Kỹ Sư Nguyễn Hùng

email: hungthuoc@yahoo.com

 
Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam, Môi trường, Quan hệ quốc tế | Tagged: | 312 Comments »

982. Dự án Ecopark không xứng đáng được nhận giải Kiến trúc Xanh

Posted by adminbasam on 12/05/2012

Một cái giải lờm lợm hơi tiền, mới được lập ra, được trao cho một “công trình” còn lâu mới hoàn thiện, như thể một âm mưu nhắm “đi tắt đón đầu”.

Một nghi vấn mà dường như chưa ai nói tới, đó là (có lẽ có đến) ngàn vạn gốc cây rừng lâu năm bị chặt trụi lá, cành để “tái định cư” ở khắp công trình này. Nghe nói chúng được nhổ lên từ tận rừng núi Trường Sơn. Vậy không biết các vị trong hội đồng xét giải có lưu ý tới thành tích bứng, phá, làm thui chột cây rừng này không?

Và cùng với nghi vấn trên là một bằng chứng hiển hiện với hàng vạn cây cảnh của nông dân Văn Giang bị tàn phá, có nằm trong tiêu chí xét giải, là cướp phá môi trường xanh của đa số người nghèo, ban phát cho thiểu số kẻ giàu? 

RFI Tiếng Việt

Dự án Ecopark không xứng đáng được nhận giải Kiến trúc Xanh

Thụy My phỏng vấn KTS Ngô Viết Nam Sơn

Theo kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn, giảng viên đại học tại Bắc Mỹ, chuyên gia về kiến trúc và quy hoạch, thì việc “khu đô thị sinh thái Ecopark” có tên trong số dự án được Hội Kiến trúc sư Việt Nam trao giải Công trình Kiến trúc Xanh 2012 chỉ mang tính khuyến khích. Theo ông thì các dự án cần phục vụ cho cộng đồng, chứ không phải đẩy cộng đồng ra ngoài.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Môi trường, Văn hóa | Tagged: , | 49 Comments »

963. Vụ Ecopark-Văn Giang: Đơn tố giác "có dấu hiệu làm giả" tài liệu của Chính phủ

Posted by adminbasam on 05/05/2012

.

. Đọc tiếp »

Posted in Cưỡng chế đất đai, Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật, Tham nhũng, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , | 277 Comments »

958. TUYÊN BỐ VỀ VIỆC CƯỠNG CHẾ GIẢI TỎA ĐẤT ĐAI VĂN GIANG BẰNG VŨ LỰC

Posted by adminbasam on 04/05/2012

Đôi lời: Đã từng có vài lời ra tiếng vào, rằng cứ “Kiến nghị”, “Tuyên bố”, “Tuyên cáo” mà giới cầm quyền cứ lặng câm thì … ích gì.

Nghĩ vậy e là quá tiêu cực, lại trúng ý những kẻ đang làm bộ câm điếc. 

Không cho đa nguyên, đa đảng, nhưng có một thứ “đảng” lạ kỳ, không thể ngăn chặn, nở rộ mấy năm qua, đó là “đảng NET”, “đảng MẠNG”. Nó đoàn kết, chia sẻ giữa muôn người yêu nước, yêu tự do trên khắp thế giới, chỉ trong chớp mắt, ấm lòng những cảnh ngộ đơn độc bị đàn áp, cướp đoạt …

Chả thế mà người ta vẫn cứ phải cuốn cuồng, tìm mọi cách o ép, gây sự với những người ký tên kiểu này. 

Boxitvn

TUYÊN BỐ VỀ VIỆC CƯỠNG CHẾ GIẢI TỎA

ĐẤT ĐAI VĂN GIANG BẰNG VŨ LỰC

04/05/2012

Nếu đồng ý với Tuyên bố này, xin gửi e-mail về địa chỉ: BauxiteVN_Petition@yahoo.com . Trong thư, xin cho biết họ tên, địa chỉ, nghề nghiệp. Khi công bố, Bauxite Việt Nam chỉ ghi tỉnh (đối với người trong nước) hay nước (đối với người ở hải ngoại).

Bauxite Việt Nam

Đã cập nhật bản danh sách thứ 7. Tổng cộng có hơn 3000 chữ kỹ tính đến 6h sáng ngày 12-05-2012. 

Vụ cưỡng chế giải tỏa đất đai bằng vũ lực diễn ra sáng 24/4/2012 ở địa bàn huyện Văn Giang, Hưng Yên đang gây xúc động mạnh mẽ tất cả những người Việt Nam có lương tri, dấy lên nỗi lo lắng chưa từng có trong mọi người dân Việt biết suy tư về vận mệnh đất nước.

Cho đến hôm nay, đã có thể nhận rõ những sự thật đau lòng về bản thân vụ Văn Giang cũng như những sự thật nguy hiểm đối với đất nước đã được phơi bày từ vụ này.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật, Tham nhũng, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , | 184 Comments »

945. Sẽ còn nhiều vụ Văn Giang khác ở Việt Nam

Posted by adminbasam on 01/05/2012

 GS Tương Lai: “… câu nói ngày xưa ‘Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan’, chưa bao giờ trở thành một cách nhầy nhụa và trắng trợn như hiện nay.”

RFI – Tiếng Việt

Sẽ còn nhiều vụ Văn Giang khác ở Việt Nam

Thanh Phương

THỨ HAI 30 THÁNG TƯ 2012

Bản Audio 

Những cảnh đàn áp nông dân trong vụ cưỡng chế ở Văn Giang, Hưng Yên ngày 24/04 tiếp tục khấy động dư luận trong và ngoài nước. Một số nhà báo và nhà trí thức đã lên tiếng phản đối vụ cưỡng chế Văn Giang, trong số này có giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam.

So với vụ Tiên Lãng, vụ cưỡng chế ở xã Văn Quang, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên ngày 24/4 vừa qua gây chấn động mạnh trước hết là do tầm mức của sự kiện. Mặc dù theo nguồn tin chính thức, việc cưỡng chế chỉ tiến hành đối với 5,8 ha thuộc 166 hộ không chịu nhận tiền đền bù, nhưng có đến cả ngàn nông dân Văn Giang từ đêm hôm trước đã bám trụ tại những mảnh đất của họ để chống lại việc cưỡng chế. Phía chính quyền vì thế đã phải huy động hàng ngàn người gồm công an, cảnh sát cơ động, dân phòng và, theo tố cáo của dân, thì có cả thành phần xã hội đen, để thi hành lệnh cưỡng chế, biến việc này thành giống như là một trận càn quét trong chiến tranh, với hơi cay mờ mịt đồng, khói mù tỏa khắp nơi, tiếng súng vang rền trời.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: , | 27 Comments »

935. VỀ TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG

Posted by adminbasam on 28/04/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆTNAM

VỀ TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ tư, ngày 25/4/2012

TTXVN (Angiê 20/4)

Mạng tin “THEATRUMBELLI” mới đây đăng bài phân tích về tình hình Biển Đông của tác giả Laurent Garnier, nội dung như sau:

Những thách thức

Các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có diện tích bề mặt chưa quá 15 km2, là mục tiêu theo đuổi của những yêu sách và xung đột gia tăng kể từ những năm 1970. Những lợi ích từ yêu sách hai quần đảo này đối với các Nhà nước là gì?

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật, Quan hệ Việt-Trung, Quân sự | Tagged: , , , , , | 6 Comments »

933. Phải thay đổi tư duy thu hồi đất

Posted by adminbasam on 27/04/2012

“… có một thực tế tồi tệ phổ biến trong cưỡng chế. Đó là thiếu minh bạch, cản trở báo chí tác nghiệp. Mặc dù hoạt động cưỡng chế không thuộc phạm trù bí mật, hầu hết trường hợp, phóng viên đến hiện trường tác nghiệp đều bị lực lượng trực tiếp tham gia cưỡng chế cản trở hung hăng…”

Phải thay đổi tư duy thu hồi đất 

Nhà báo Võ Văn Tạo

 Vụ cưỡng chế Văn Giang

Vụ cưỡng chế quyết liệt ở huyện Văn Giang (tỉnh Hưng Yên) làm công luận cả nước và truyền thông quốc tế chấn động. Thật khó tin khi dư âm đau lòng vụ Tiên Lãng chưa dứt, lại tiếp đến Văn Giang rầm rộ cưỡng chế,  lửa khói ngút trời, súng nổ dữ dằn.

Trong vụ Tiên Lãng, Chính phủ và các cơ quan chức năng nhìn nhận chính sách đất đai, vấn đề đền bù giải tỏa, cưỡng chế còn nhiều bất cập… quan chức địa phương sai phạm, khuất tất, đẩy người dân vào đường cùng, phản ứng tiêu cực.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | 95 Comments »

930. Nhà nước của dân, do dân, vì dân không được phép trấn áp dân

Posted by adminbasam on 26/04/2012

“… tôi khẩn thiết yêu cầu các cơ quan trách nhiệm hữu quan cao nhất của Đảng, Quốc hội, Chính phủ cử những người có phẩm chất và năng lực với tính cách là các đại diện của mình về họp công khai với toàn thể các hộ dân các xã ở Văn Giang có đất đai bị thu hồi trong vụ cưỡng chế này để tìm hiểu tại chỗ sự việc.”

Nhà nước của dân, do dân, vì dân 

không được phép trấn áp dân

Nguyễn Trung

          Xem và nghe các tin tức về vụ cưỡng chế thực hiện thu hồi đất cho dự án Ecopark ở Văn Giang, tôi không thể nén được trong lòng sự căm giận và nỗi hãi hùng. Căm giận vì không thể chấp nhận nhà nước của dân, do dân, vì dân lại hành xử với dân như vậy, hãi hùng vì thấy rằng hệ thống chính trị nước ta đã có được trong tay lực lượng vũ trang sẵn sàng thực hiện lệnh trấn áp như vậy đối với dân.

          Dù sao tôi cũng vẫn phải thầm cảm ơn trời đất là đã không xảy ra đổ máu. Bởi vì nếu điều đó xảy ra, rồi nếu tình hình vuột ra ngoài mọi sự kiềm chế có thể, hoặc một sự khiêu khích nào đó cố ý hủy hoại sự kiềm chế có thể, rồi lan truyền trong cả nước, nhất là báo chí cho biết từ sau sự kiện Đoàn Văn Vươn tình trạng khiếu kiện đất đai của nông dân ngày càng căng thẳng và đang tiếp diễn ở nhiều nơi …, như vậy đất nước này sẽ đi về đâu? Trong khi đó quá trình phát triển kết cấu hạ tầng, công nghiệp hóa và đô thị hóa của đất nước chắc chắn sẽ còn đòi hỏi phải chuyển đổi tiếp một khối lượng rất lớn đất đai của nông dân cho sự phát triển này.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , , | 124 Comments »

929. Đặt mình trong vị trí người dân Văn Giang

Posted by adminbasam on 26/04/2012

“…có thể sau thất bại trong vụ Đoàn Văn Vươn, Chính quyền muốn cứng rắn để dập tắt khát vọng đòi đất của những nông dân muốn noi gương anh Vươn. Thì, hình ảnh cuộc cưỡng chế hôm 24-4-2012 đã trở thành một vết nhơ trong lịch sử.

Một chế độ luôn lo sợ mất ổn định không nên nuôi dưỡng quá nhiều những mầm mống đang làm mất ổn định.”

Osin Facebook

Đặt mình trong vị trí người dân Văn Giang

Nhà báo Huy Đức

26-04-2012

Chính quyền Hưng Yên nói họ đã không sai khi tổ chức cưỡng chế 70 hecta đất của 160 hộ dân Văn Giang. Chưa có cơ sở để tin rằng Thủ tướng sẽ nói quyết định này của Hưng Yên là sai như ông đã làm với chính quyền Hải Phòng. Nhưng, cho dù bên thua trận là nhân dân thì hình ảnh hàng ngàn cảnh sát chống bạo động, “khiên-giáo” tua tủa, đối đầu với vài trăm nông dân cuốc xẻng trong tay không chỉ phản ánh mối quan hệ Chính quyền – Nhân dân hiện nay mà còn có tính dự báo không thể nào xem thường được.

Làm luật cũng là Chính quyền, giải thích luật cũng là Chính quyền, chỉ có người dân là thiệt. Kể từ năm 1993, Luật Đất đai theo tinh thần Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi 5 lần. Chỉ riêng các điều khoản thu hồi, nếu như từng được quy định khá chặt chẽ trong Luật 1993, đã trở nên rắc rối và dễ bị lũng đoạn hơn trong Luật 2003.

Đọc tiếp »

Posted in Báo chí, Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật, Tham nhũng, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , | 57 Comments »

878. Nhức nhối từ tái cấu trúc tập đoàn và tổng công ty nhà nước với kết quả thanh tra

Posted by adminbasam on 07/04/2012

Ghi chú: dưới đây là bản gốc bài viết của TS Lê Đăng Doanh và bản được biên tập lại, đăng trên báo Người lao động sáng nay. Những chữ màu đỏ tươi là được biên tập thay thế, những chữ màu đỏ sẫm là bị cắt bỏ.


Tái cấu trúc tập đoàn 
và tổng công ty nhà nước, nhìn từ kết quả thanh tra

Lê Đăng Doanh

Tiếp theo vụ án xét sử các cựu quan chức Vinashin về nhiều sai phạm nghiêm trọng, gần đây công luận lại rất bức xúc về những sai phạm với số tiền rất lớn được Thanh Tra Chính Phủ công bố: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam bị đề nghị xử lý tài chính 18.200 tỉ đồng, trong đó có nhiều khoản chi đầu tư không đúng quy định, chỉ định thầu trái quy định, tiền vốn cổ phần hóa chưa thu hồi 1.928 tỉ v.v.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Kinh tế Việt Nam, Tham nhũng, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , , , , | 72 Comments »

877. Ai đã gây ra đình đốn và nguy cơ thiểu phát?

Posted by adminbasam on 07/04/2012

Đôi lời: Sáng qua có điểm bàiĐình đốn và nguy cơ thiểu phát?“ trên VEF, nhưng rồi độc giả cho biết bài đã bị gỡ xuống (khỏi trang gốc). Lại có độc giả méc bài tương tự, cùng tác giả, trên trang Tầm nhìn:  Ai đã gây ra nguy cơ thiểu phát? Xin đăng lại cả hai. Bài của VEF chỉ còn trên trang Báomới.com nên không lưu tên tác giả Viết Lê Quân.

Đọc vô thấy thêm rõ là “của hiếm”!  Thêm nữa, việc phát hiện những bài báo nào đưa lên rồi lại gỡ xuống đôi khi cũng góp phần cho biết thêm chút ít về “sức khỏe chính trị” VN hiện ra sao.

VEF-VNN

Đình đốn và nguy cơ thiểu phát?

(VEF.VN) – Với thực trạng ngày càng trở nên khó khăn đối với khối sản xuất, những dấu hiệu của đình đốn đã xuất hiện và có nguy cơ dẫn đến thiểu phát kinh tế.

Hai đầu cán cân

Vào thời điểm tháng 11/2011, khi lần đầu tiên người đứng đầu ngành ngân hàng tuyên bố trước Quốc hội là sẽ không một ngân hàng nào phải phá sản, con số doanh nghiệp phải giải thể hoặc lâm vào tình cảnh tương tự qua một số thống kế đã lên đến gần 50.000.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Kinh tế Việt Nam | Tagged: , , , , , , | 28 Comments »

866. GS Nguyễn Minh Thuyết: gặp gỡ đầu Xuân & bàn về phí Giao thông

Posted by adminbasam on 04/04/2012

Gặp gỡ đầu Xuân Nhâm Thìn 2012 – do Tạp chí Tia sáng cùng Trung Nguyên tổ chức (Video do Ba Sàm thực hiện): 

.

Mời xem thêm: + 685. Gặp gỡ đầu xuân Nhâm Thìn 2012: phát biểu của ông Dương Trung Quốc ;+ 733. Gặp gỡ đầu xuân Nhâm Thìn 2012: phát biểu của PGS-TS Trần Ngọc Vương; +  ; + .

. Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | 43 Comments »

860. SỰ THẬT TÀN BẠO: ĐẠI TIỆC NAM HẢI ĐÃ BỊ CƯỚP ĐI MỘT CÁCH ĐIÊN CUỒNG

Posted by adminbasam on 02/04/2012

China.com

SỰ THẬT TÀN BẠO:  ĐẠI TIỆC NAM HẢI

ĐÃ BỊ CƯỚP ĐI MỘT CÁCH ĐIÊN CUỒNG

30.3. 2012

(Không có tên tác giả)

Người dịch:  Quốc Thanh

Tranh chấp Nam Hải đã đi từ tranh chấp tài nguyên đến đấu tranh địa-chính trị, mà nguồn lợi thu được từ đấu tranh địa-chính trị sẽ bù ngược trở lại cho tranh chấp tài nguyên, một số nước xung quanh Nam Hải đang áp dụng chiến lược giành giật toàn diện, nhất thể hóa đối với Trung Quốc, buộc Trung Quốc phải thỏa hiệp và thoái bộ.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Kinh tế Việt Nam, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Tagged: , , , , , | 38 Comments »

858. Giới chuyên gia cảnh báo về nguy cơ đập Sông Tranh 2

Posted by adminbasam on 02/04/2012

RFI Tiếng Việt

Giới chuyên gia cảnh báo về nguy cơ đập Sông Tranh 2

Đức Tâm phỏng vấn GS Nguyễn Khắc Nhẫn, Grenoble – Pháp

Nghe audio phỏng vấn

Đập thủy điện Sông Tranh 2 bị rò rỉ nghiêm trọng, gây lo ngại về an toàn cho người dân miền Trung. RFI phỏng vấn chuyên gia Nguyễn khắc Nhẫn, nguyên cố vấn Nha kinh tế, dự báo, chiến lược EDF Paris, giáo sư Viện kinh tế, chính sách năng lượng Grenoble, về những nguy cơ đối với dự án này.

RFI : Kính chào giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn, báo chí trong nước đưa tin đập Sông Tranh 2 bị rạn nứt, rò nước. Giáo sư có liên lạc với các đồng nghiệp bên nhà để biết thêm thông tin gì không và với những thông tin mà giáo sư có, thì giáo sư đánh giá tình trạng đập Sông Tranh 2 ra sao? Nguy hiểm đến mức độ nào?

GS Nguyễn Khắc Nhẫn : Kính chào anh, kính chào quý bạn thính giả. Anh bỏ điện hạt nhân, phỏng vấn tôi về năng lượng tái tạo thủy điện, tôi rất phấn khởi và xin cảm ơn anh. Thú thật với các bạn: từ gần 2 tuần nay, tôi theo dõi hơi thở của đập Sông Tranh 2 từng giờ phút, qua các tin tức của bạn bè trong nước hay trên mạng. Lý do cũng dễ hiểu thôi: Tôi rất lo sợ cho đồng bào miền Trung, nơi tôi sinh trưởng. Quê nội của tôi ở Tam Kỳ. Thủy điện là mối tình đầu của tôi trong nghề nghiệp năng lượng.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam, Môi trường | Tagged: , | 12 Comments »

817. Trà Vigia: Chăm trong lò hạt nhân

Posted by adminbasam on 19/03/2012

Inrasara.com

Trà Vigia: Chăm trong lò hạt nhân

Nhà thơ Inrasara *

Người xưa có câu: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe” cho nên tôi luôn thận trọng khi phải nói điều gì. Lời nói mây bay gió thoảng chỉ nên cao hứng khi trà dư tửu hậu, còn bút sa thì gà chết nên khi viết lại càng cân nhắc hơn! Khổ là: nghe người xưa chưa đủ mà còn phải biết nghe người nay mà hậu sinh thì luôn khả úy, và chưa chắc tôi đã thông minh hơn học sinh lớp Năm! Tất cả vì tương lai con em của chúng ta không chỉ là khẩu hiệu mà phải là hành động trong định hướng và dẫn đường. Sai một ly đi một dặm, những gì có thể nói và đáng được làm trong hôm nay thì không nên để ngày mai.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Môi trường | Tagged: , , , , | 67 Comments »

785. Dự án hạt nhân Việt Nam quá tham vọng?

Posted by adminbasam on 04/03/2012

BBC Việt ngữ

Dự án hạt nhân Việt Nam quá tham vọng?

Quốc Phương

BBC Tiếng Việt

Cập nhật: 13:56 GMT – thứ sáu, 2 tháng 3, 2012

Nhật Bản đóng cửa 52 lò phản ứng hạt nhân sau vụ Fukushima.

Việt Nam đang có một chương trình điện hạt nhân “tham vọng vào loại bậc nhất trên thế giới” với giấc mơ về hạt nhân đang “đâm hoa đua nở” trong lúc đang có lo ngại về chúng, theo tờ báo Mỹ The New York Times, 01/3/2012.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam, Môi trường | Tagged: , , , | 68 Comments »

783. Gặp gỡ đầu xuân Nhâm Thìn 2012: phát biểu của các vị cựu lãnh đạo

Posted by adminbasam on 03/03/2012

Cựu Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình 

(Mời xem lời giới thiệu cuộc Gặp gỡ đầu xuân Nhâm Thìn 2012, do Tia sáng và Trung nguyên tổ chức và phát biểu của ông Dương Trung Quốc, phát biểu của PGS-TS Trần Ngọc Vương, của GS Vũ Khiêu).

Báo Tia sáng đặt một vấn đề tôi thấy là rất đúng trong tình hình này, nhưng còn một vấn đề rất lớn. Vấn đề ấy là người Việt Nam là những người biết suy nghĩ thì vận mệnh đất nước có lẽ trong cái ngày này có nhiều suy nghĩ, để chúng ta nói rằng tình hình thế giới nhiều khó khăn. Đúng là nhiều khó khăn! Và cái khó khăn của thế giới nó đã ảnh hưởng đến chúng ta. Thì cái đó đã rõ rồi.

Nhưng mà phải nói là chúng ta cũng có cái khó khăn riêng của mình, cho nên cộng thêm cái phần khó khăn chung của thế giới thì quả là chúng ta luôn đứng trước những khó khăn rất nhiều và rất lớn.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | 96 Comments »

691. Báo Hải Phòng tiếp tục tố Đoàn Văn Vươn

Posted by adminbasam on 04/02/2012

Cổng thông tin Điện tử huyện Tiên Lãng

Những thông tin ít được nhắc đến chung quanh

vụ án giết người, chống người thi hành công vụ tại Tiên Lãng

Thời gian: 04/02/2012 – 09:14

Sau khi vụ án giết người và chống người thi hành công vụ xảy ra tại cuộc cưỡng chế thu hồi đất nuôi trồng thủy sản ở xã Vinh Quang (huyện Tiên Lãng)ngày 5-1-2012 vừa qua, các ban, ngành trung ương và thành phố đang khẩn trương tiến hành kiểm tra, rà soát, để kết luận làm rõ việc giao đất, thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng đối với hộ ông Đoàn Văn Vươn. Hiện có nhiều thông tin khác nhau liên quan đến vụ việc, cũng như bản thân Đoàn Văn Vươn, để bạn đọc có thêm thông tin khách quan và toàn diện, nhóm phóng viên Báo Hải Phòng cung cấp thêm một số thông tin liên quan còn ít được nhắc đến..

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật, Tham nhũng, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , | 136 Comments »

690. Vụ Đoàn Văn Vươn: ý kiến của một độc giả người Tiên Lãng trên trang Ba Sàm

Posted by adminbasam on 04/02/2012

Vụ Đoàn Văn Vươn:

Ý kiến của một độc giả người Tiên Lãng trên trang Ba Sàm

Đôi lời: Đây là phản hồi của một độc giả lấy bút danh là “Nông Dân”, đã được BS biên tập, bổ sung ghi chú, hình ảnh đôi chút, xin đăng lên để thêm thông tin về vụ việc thu hút sự quan tâm hiếm có của đồng bào cả nước chỉ trong một thời gian ngắn.

NÔNG DÂN

Là người đang sống ở Tiên Lãng, Nông dân tôi cố đưa ra cái nhìn khách quan nhất về sự kiện Đoàn Văn Vươn. Để tránh một phản hồi quá dài, tôi sẽ chia làm ba phần và nhờ AnhBaSam lần lượt gửi cho những ai quan tâm.

Phần 1: Đất và người Tiên Lãng (comment lúc 08:42 ngày 29/01/2012).

Phần 2: Quá trình khai thác bãi bồi ven sông, biển và cái gọi là thu hồi của huyện Tiên Lãng (comment lúc lúc 09:26 ngày 30/1/2012).

Phần 3: “Trấn áp tội phạm”, “Bảo vệ hiện trường” và cách xử lý hậu quả của lãnh đạo Hải Phòng.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật, Tham nhũng, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | 115 Comments »

688. Trí thức không thể "trùm chăn" chờ hiến kế!

Posted by adminbasam on 04/02/2012

Tuần Việt Nam

Trí thức không thể “trùm chăn” chờ hiến kế!

Tác giả: Trần Đình Bá *
Bài đã được xuất bản: 04/02/2012 05:00 GMT+7
.

Đã đến lúc tất cả các GS, TS chúng ta phải biết chui ra khỏi “tấm chăn” vị kỷ của mình. Cần dũng cảm minh bạch phản biện và tiếp thu phản biện trong từng luận án TS, phải đặt câu hỏi công trình đó nghiên cứu về cái gì? Dự án đó phục vụ cho ai, hiệu quả sẽ mang lại những gì, và phải chịu trách nhiệm nghiêm túc về tính khả thi.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam | Tagged: , | 44 Comments »

685. Gặp gỡ đầu xuân Nhâm Thìn 2012: phát biểu của ông Dương Trung Quốc

Posted by adminbasam on 03/02/2012

Phát biểu của Nhà sử học – Đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc

Tại cuộc Gặp gỡ đầu xuân Nhâm Thìn 2012, do Tia sáng và Trung nguyên tổ chức.

BS: Như đã hẹn sẽ lần lượt đăng tải nội dung cuộc Gặp gỡ đầu xuân Nhâm Thìn tại Hội quán Sáng tạo, 36 Điện Biên Phủ, do tạp chí Tia sáng  cùng Tập đoàn Cà phê Trung Nguyên tổ chức, chiều 31-1-2012, dưới đây là toàn văn phát biểu của ông Dương Trung Quốc.

Cuộc gặp có đủ các gương mặt già, trẻ, trong, ngoài nước, trong Nam ngoài Bắc, doanh nhân, cựu quan chức v.v.. như GS Vũ Khiêu 97 tuổi, GS Hoàng Tụy, cựu PCT nước Nguyễn Thị Bình, cựu PTT Vũ Khoan, Giản Tư Trung-hiệu trưởng trường doanh nhân PACE, Đặng Lê Nguyên Vũ-Chủ tịch Trung Nguyên, TS Nguyễn Trí Dũng-VK Nhật, TS Nguyễn Sĩ Dũng-Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, TS Lê Đăng Doanh, nhà sử học Dương Trung Quốc, TS Nguyễn Quang A, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, kinh tế gia Phạm Chi Lan, cựu Đại sứ Nguyễn Trung, GS Hồ Ngọc Đại, GS Văn Như Cương, TS Trần Đình Thiên, cựu bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển (hiện là cố vấn của Thủ tướng), Nhà báo Thu Hà-TBT tạp chí Tia sáng, … Nhiều phát biểu hay, rất bất ngờ, trong đó vụ Tiên Lãng và nhân vật Đoàn Văn Vươn đã được nhắc tới nhiều lần, đều mang thông điệp như một cảnh báo cho nguy cơ lớn liên quan tới chính sách phát triển kinh tế, xã hội.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , | 196 Comments »

634. Bắn vào Sheriff

Posted by adminbasam on 11/01/2012

Bắn vào Sheriff

Nguyễn Quang A

Ngay những ngày đầu năm 2012 dư luận chứng kiến một vụ cưỡng chế thu hồi đất có hậu quả tai họa. Tại xã Bắc Hưng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, sáu công an và cán bộ thi hành cưỡng chế thu hồi đất ngày 5-1-2012 đã bị mìn tự tạo và súng săn của những người bị thu hồi đất làm trọng thương. Ngày 7-1-2012 Cơ quan cảnh sát điều tra Hải Hòng đã khởi tố vụ án “giết người và chống người thi hành công vụ” và đã bắt tạm giam 6 người.

Vụ này chắc sẽ còn được bàn luận nhiều và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến việc sửa đổi Luật Đất Đai.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật | Tagged: , , , | 55 Comments »

572. VIỆT NAM: CẢI CÁCH NGÂN HÀNG

Posted by adminbasam on 17/12/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

VIỆT NAM: CẢI CÁCH NGÂN HÀNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ bảy, ngày 17/12/2011

(Đài RFA 7/12)

Hội nghị hàng năm của nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 6/12. Dưới chủ đề “Thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế và giảm nghèo”, nghị trình có một hồ sơ nóng mà cũng là mối quan tâm của nhiều người là hồ sơ tái cơ cấu khu vực tài chính và ngân hàng của Việt Nam. Nhân dịp này, Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về các vấn đề nổi cộm trong hệ thống ngân hàng Việt Nam qua phần trao đổi sau đây cùng chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa.

Tái cơ cấu tài chính

+ Xin chào ông. Sau khi lãnh đạo Việt Nam đề ra chủ trương cho 5 năm tới là tái cơ cấu hệ thống đầu tư, ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước, hội nghị năm nay của các nhà tài trợ cho Việt Nam cũng nêu trong nghị trình hồ sơ tái cơ cấu khu vực tài ‘chính và ngân hàng. Trước khi tìm hiểu hồ sơ đó, đề nghị ông trình bày bối cảnh về hội nghị của Nhóm Tư vấn các Nhà tài trợ cho Việt Nam.

Đọc tiếp »

Posted in Cải cách ngân hàng, Chính trị, Kinh tế Việt Nam | 1 Comment »

475. Cha con "Chúa Chổm" Vinashin bị kiện tại Anh

Posted by adminbasam on 09/11/2011

Bài này gồm 2 phần: Vinashin và trên 20 công ty con bị kiện tại Anh (Vef) và một phản hồi của độc giả Nicecowboy trên mục điểm tin hôm nay của trang Ba Sàm.

Vinashin và trên 20 công ty con bị kiện tại Anh

Vef (Theo BBC, SGTT). Bài đã được đăng lúc 11h, 9/11/2011.
.
Theo BBC, tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) cùng hơn 20 tổng công ty, công ty con tại Việt Nam vừa bị công ty Elliott VIN (Hà Lan) B.V. khởi kiện tại tòa ở London.

Việc một trong các chủ nợ của Vinashin có động thái khởi kiện có thể tạo thêm khủng khoảng cho nỗ lực tái cơ cấu nợ của tập đoàn Vinashin

Đơn kiện được Tòa Thương mại, chi nhánh Queen’s Bench thuộc Tòa Thượng thẩm nhận và mở hồ sơ ngày 1/11/2011.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Kinh tế Việt Nam, Đảng/Nhà nước | 124 Comments »

475. Cha con “Chúa Chổm” Vinashin bị kiện tại Anh

Posted by adminbasam on 09/11/2011

Bài này gồm 2 phần: Vinashin và trên 20 công ty con bị kiện tại Anh (Vef) và một phản hồi của độc giả Nicecowboy trên mục điểm tin hôm nay của trang Ba Sàm.

Vinashin và trên 20 công ty con bị kiện tại Anh

Vef (Theo BBC, SGTT). Bài đã được đăng lúc 11h, 9/11/2011.
.
Theo BBC, tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) cùng hơn 20 tổng công ty, công ty con tại Việt Nam vừa bị công ty Elliott VIN (Hà Lan) B.V. khởi kiện tại tòa ở London.

Việc một trong các chủ nợ của Vinashin có động thái khởi kiện có thể tạo thêm khủng khoảng cho nỗ lực tái cơ cấu nợ của tập đoàn Vinashin

Đơn kiện được Tòa Thương mại, chi nhánh Queen’s Bench thuộc Tòa Thượng thẩm nhận và mở hồ sơ ngày 1/11/2011.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Kinh tế Việt Nam, Đảng/Nhà nước | 124 Comments »

441. Cải cách toàn diện để phát triển đất nước

Posted by adminbasam on 27/10/2011

Lời giới thiệu: Xin trân trọng giới thiệu các bạn vài ý kiến của chúng tôi về hiện tình đất nước, và suy nghĩ về sự phát triển trong tương lai. Những ý kiến và suy nghĩ này đã được Gs Trần Văn Thọ khởi xướng và soạn ra lần đầu cách đây khoảng 3 tháng. Bản thảo đã qua rất nhiều lần bổ sung và chỉnh sửa, để đi đến sự đồng thuận và dung hòa những khác biệt về quan điểm và cách nhìn giữa chúng tôi. Những ý kiến và suy nghĩ được trình bày trong bài này đã được gửi cho giới lãnh đạo trong Đảng, Chính phủ, và Quốc hội. Mới đây, một số báo cũng đề cập đến một số khía cạnh trong bản ý kiến của chúng tôi. Hôm nay, chúng tôi chính thức công bố để chia sẻ cùng các bạn quan tâm.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | 163 Comments »

377. SỐNG VỚI NGƯỜI VIỆT (5)

Posted by adminbasam on 26/09/2011

SỐNG VỚI NGƯỜI VIỆT (5)

Tác giả: Philippe PapinLaurent Passicousset

Người dịch: Hoàng Hà. Hiệu đính: Diệu Linh

Tiếp theo 343. SỐNG VỚI NGƯỜI VIỆT (3); 354. SỐNG VỚI NGƯỜI VIỆT (4)

“BÀN TAY NHỚP NHÁP CỦA QUAN CHỨC”

Sớm hay muộn, mọi cuộc nói chuyện chân tình với người Việt bao giờ cũng đề cập đến chủ đề hối lộ hàng ngày. Việc cấp giấy tờ, xin giấy phép, đăng ký cho con đi học, đăng ký biển số xe máy : tất thảy đều phải qua khâu này. Hối lộ lặt vặt phổ biến đến nỗi được đặt tên là “nền văn minh phong bì”. Phong bì cho phép làm tất cả : mở rộng vườn nhà ra tận mặt phố, xây ban công chòi ra ngoài, đổi hướng hệ thống ống dẫn, mua với giá rẻ bèo khu đất của hợp tác xã vừa giải thể, lên chức lên quyền, đi học trái tuyến…vv…

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam, Tham nhũng, Đảng/Nhà nước | 61 Comments »

361. Chính phủ VN ra nhiều quy định quản, lao động TQ trái phép vẫn tràn ngập

Posted by adminbasam on 16/09/2011

VTV1 – Thời sự 19h, 15/09/2011

Chính phủ Việt Nam ra nhiều quy định quản,

lao động Trung Quốc trái phép vẫn tràn ngập

Đã hơn một tháng kể từ khi nhiều qui định mới về tuyển dụng, quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam do Chính phủ ban hành có hiệu lực. Nhưng tại nhiều công trình ở nhiều địa phương lao động phổ thông nước ngoài vẫn đang tràn ngập trong đó có hàng ngàn công nhân lao động trái phép. Vì sao lại tồn tại tình trạng này trong khi theo quy định mới thì việc đưa lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc chỉ được phép chấp thuận sau khi không thể tuyển được công nhân Việt Nam. Vì sao các cơ quan chức năng chính quyền địa phương và các chủ đầu tư trong nước biết rõ thực tế này nhưng vẫn làm ngơ. Phóng sự sau sẽ tìm hiểu căn nguyên của vấn đề này.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: | 47 Comments »

359. Hàng chục dự án điện chậm tiến độ, nhà thầu Trung Quốc không bị phạt

Posted by adminbasam on 14/09/2011

VTV1 – Bản tin Tài chính Kinh doan trưa 14-9-2011

Hàng chục dự án điện chậm tiến độ,

nhà thầu Trung Quốc không bị phạt

Kể từ ngày mai, ngày 15-09, nguồn khí nam Côn Sơn sẽ bắt đầu ngừng cung cấp trong nửa tháng do nhà máy này bảo dưỡng định kỳ và khả năng là nhiều nhà máy điện phía Nam sẽ ngừng hoạt động vì thiếu dầu chạy máy vì tập đoàn điện lực Việt Nam vẫn chưa lo được tiền mua dầu. Tình trạng thiếu điện vốn đã căng thẳng sẽ vẫn lại tiếp tục căng thẳng hơn. Lý do căn bản ở đây đó là hiện có hàng chục dự án điện của nước ta theo Bản quy hoạch điện 6 đến thời điểm này đã bị chậm tiến độ và có những dự án đã chậm từ 2 cho tới 3 năm . Việc các dự án điện chậm tiến độ sẽ đem đến hệ quả khó lường cho toàn bộ nền kinh tế. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội năng lượng Việt Nam, một chuyên gia lâu năm trong ngành điện và cũng từng là nhà quản lý nhiều năm trong lĩnh vực này.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , | 78 Comments »

354. SỐNG VỚI NGƯỜI VIỆT (4)

Posted by adminbasam on 13/09/2011

SỐNG VỚI NGƯỜI VIỆT (4)

Tác giả: Philippe PapinLaurent Passicousset

Người dịch: Hoàng Hà. Hiệu đính: Diệu Linh

Tiếp theo 343. SỐNG VỚI NGƯỜI VIỆT (3)

CÔNG, TƯ: NHỮNG MÁNH KHÓE LỪA ĐẢO CŨ RÍCH

Sau cơn bão Ketsana, chúng tôi đi tàu hỏa đến Đà Nẵng, thành phố khôn ngoan không để lộ ngay hết nét duyên thầm của mình. Nếu đến bằng đường quốc lộ, dù điểm vào thành phố là ở đâu thì cũng thấy đầy rẫy các loại xe tải và xe chở công ten nơ. Ầm ĩ và bụi bặm. Đâu đâu cũng thấy vận chuyển hàng hóa. Thành phố sống theo nhịp của cảng. Thành Tourane ngày xưa, trở thành căn cứ quân sự Mỹ trong chiến tranh, một thời gian dài sống nhờ vào cảng biển. Mới năm 2010 đây thôi, nhờ một địa điểm đặc biệt nằm lọt trong một vịnh vòng cung ba phần tư khép kín, thành phố thu hút rất nhiều tàu du lịch hạng sang, bổ sung thêm cho lượng khách du lịch đông đảo vẫn đổ xô đến bảo tàng Chàm, thánh địa Mỹ Sơn, Ngũ Hành Sơn và khu thương cảng cổ Hội An. Bãi biển Mỹ Khê tuyệt đẹp, nơi trong chiến tranh lính thủy đánh bộ Mỹ vẫn về nghỉ phép, cũng không hề tỏ ra thờ ơ với khách vãng lai. Tiếc thay, chúng tôi đến Đà Nẵng đâu phải để du lịch, càng không phải để đi tắm biển.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Kinh tế Việt Nam | 39 Comments »

157. HIỆN TRẠNG KINH TẾ VIỆT NAM

Posted by adminbasam on 06/07/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

HIỆN TRẠNG KINH TẾ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Bảy, ngày 02/07/2011

(Đài Ôxtrâylia 27/6)

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, tỉ lệ lạm phát trong tháng 6 vừa qua đã lên đến 21% khiến Việt Nam trở thành một trong năm nước có tỉ lệ lạm phát cao nhất thế giới hiện nay.

Sau thời kỳ siêu lạm phát vào những năm 1980, cách đây hơn hai năm (2008) người ta lại chứng kiến lạm phát tại Việt Nam tăng lên đến 28%. Chuyên gia kinh tế Adam McCarty, trưởng nhóm chuyên gia kinh tế của Công ty Tư vấn Mekong Econnomics, cho rằng lạm phát 2011 cũng sẽ tăng lên mức đỉnh điểm 25%.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam | 17 Comments »

121. Ngư dân Việt Nam đang ở tuyến đầu trong cuộc xung đột với Trung Quốc

Posted by adminbasam on 22/06/2011

The Financial Times

Ngư dân Việt Nam đang ở tuyến đầu

trong cuộc xung đột với Trung Quốc

Ben Bland có mặt tại Đảo Lý Sơn

Ngày 20 tháng 6 năm 2011

Khi thuyền trưởng Trần Hiền 31 tuổi đang điều khiển một chiếc thuyền đánh cá của Việt Nam chạy ở vùng biển  gần Quần đảo Trường Sa đang có tranh chấp bỗng nhìn thấy một chiếc tàu lớn của Trung Quốc thì ông đã biết chắc chuyện gì sắp xảy ra.

Đám nhân viên của cơ quan thủy sản Trung Quốc nhảy sang chiếc thuyền đánh cá dài 15 mét của ông và bất chấp hai bên không hiểu tiếng của nhau, họ cướp số cá và thiết bị trị giá gần 3000 đô la.

“Lúc đó chúng tôi đang ở vùng biển của Việt Nam và chúng tôi hoàn toàn có quyền đi lại ở đó, nhưng thuyền của chúng tôi không cách nào chạy nhanh hơn tàu của họ,” ông Hiền kể lại sự việc xảy ra vào lúc khoảng 9 giờ sáng ngày 14 tháng 6.

Ông Hiền là một trong số rất nhiều ngư dân Việt Nam từ đầu năm đến nay đã bị các tàu tuần tra của Trung Quốc cướp bóc thiết bị, cá hoặc thậm chí cướp cả tàu thuyền giữa lúc căng thẳng giữa hai nước láng giềng này về vùng biển tranh chấp ở Biển Hoa Nam [Biển Đông] đang sôi lên sùng sục.  

Hà Nội tuyên bố rằng một số ngư dân của họ đã bị tàu tuần tra của Trung Quốc bắn và việc quấy nhiễu ngư dân của họ là vi phạm luật pháp quốc tế. Bắc Kinh thì vẫn nói đi nói lại rằng họ chỉ bắt giữ những người xâm phạm chủ quyền của họ hoặc không có giấy phép hợp lệ.

Đây là một trong những vấn đề tranh chấp kéo dài đã lâu ở những khu vực đánh bắt cá ở châu Á nơi mà những ngư dân chất phác chỉ vì muốn gỡ lại những khoản tiền đầu tư lớn cho nên họ đâu có bao giờ để ý đến “các vùng đặc quyền kinh tế” được thừa nhận trong luật pháp quốc tế.

Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam cái mối quan hệ được ngầm hiểu là “bạn bè tốt, láng giềng tốt, đồng chí tốt” thì thời gian gần đây nó đã sụt giá xuống tới mức thấp thảm hại sau khi Việt Nam tuyên bố Trung Quốc đã phá hoại các tàu thăm dò dầu khí của họ và làm nổ ra những cuộc biểu tình hiếm thấy xưa nay trên đường phố ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.  

Các cuộc tranh chấp ở Biển Hoa Nam – Brunei, Malaysia, Philippine và Đài Loan đều tuyên bố họ có chủ quyền đối với một phần hoặc toàn bộ biển này – có thể bị cuốn theo rất nhiều yếu tố khác nhau trong đó có sự bất đồng chung về ranh giới trên biển và nhu cầu duy trì quyền sử dụng các tuyến đường hàng hải thương mại. Một số nước còn tin rằng Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa đang tranh chấp có chứa trữ lượng rất lớn dầu mỏ và khí đốt, một lời khẳng định cho đến nay vẫn chưa được chứng minh.

Song một nguyên nhân lớn gây ra sự căng thẳng ấy là vị thế của khu vực này như là một trong những nguồn cung cấp tài nguyên thiên nhiên quan trọng thứ hai của thế giới: cá.

Khoảng 10% nguồn cung cấp cá của toàn thế giới là có nguồn gốc từ vùng biển này, theo nguồn tin từ Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc, trong khi  có tới 1,9 triệu tàu thuyền thường xuyên đánh bắt cá tại đây, theo lời của Simon Funge-Smith, quan chức cấp cao về ngành thủy sản làm việc cho Tổ chức Nông lương của Liên Hiệp Quốc tại Băng Cốc.

Trong khi Trung Quốc là nước tiêu thụ và xuất khẩu cá lớn nhất thế giới thì nền kinh tế của Việt Nam vẫn còn đang phụ thuộc vào ngành này như là một nguồn thu nhập. Năm ngoái hải sản là nguồn thu nhập ngoại tệ lớn thứ hai của nước này, chiếm 7% lượng hàng hóa xuất khẩu trị giá 71,6 tỉ đô la.

Bất chấp những mối rủi ro phải chịu đựng do các tàu tuần tra của Trung Quốc gây ra – khoan hãy nói đến sự thách thức  của việc đi biển tại vùng biển thường xuyên có bão này – ông Hiền và thuyền phó Lê Tân của ông là người đã bị cướp chiếc thuyền đánh cá trị giá 20 ngàn đô la hồi năm 2006 vẫn có những lý do thích đáng để tiếp tục theo đuổi nghề cá.  

Họ có thể kiếm được những khoản tiền lãi kha khá nếu vớ được mẻ lớn những loại cá xuất khẩu nổi tiếng như cá ngừ, cá mú và cá chỉ vàng và họ chẳng có lựa chọn nào khác ở một vùng biển mà nghề thủy sản từ đang hoạt động hết công suất.

Ngoài ra còn có một yếu tố khác có tính quyết định. Chính phủ Việt Nam cũng như các chính phủ khác trong khu vực đang muốn đẩy ngư dân của họ mạo hiểm đánh bắt xa bờ nhằm làm giảm áp lực đặt lên ngư trường gần bờ hiện đã bị khai thác quá mức và đồng thời là để có bằng chứng dự phòng khi cần chứng minh các tuyên bố chủ quyền của họ.

Nếu trước những tuyên bố của Trung Quốc mà Việt Nam cứ mặc nhiên đồng ý thế thì Việt Nam sẽ “bị coi là hoàn toàn công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với vùng biển tranh chấp này [Biển Đông]”, Nguyễn Đăng Thắng, một chuyên gia Việt Nam về luật biển đã viết như vậy trong một bài viết dành cho Khoa Nghiên cứu Quốc tế của Trường S. Rajaratnam ở Singapore.

Việt Nam, cũng như các nước khác, đã từng bao cấp xăng dầu cho các tàu thuyền đánh bắt xa bờ cũng như cho vay vốn lãi suất thấp hoặc hỗ trợ tài chính cho những chủ tàu thuyền nào muốn nâng cấp phương tiện đánh bắt cá. Bộ nông nghiệp của Việt Nam cũng đang tiến hành một chương trình trang bị hệ thống định vị vệ tinh cho 3000 tàu thuyền đánh bắt xa bờ.

Một số nhà phân tích thậm chí còn cho rằng chính phủ Việt Nam có thể đang cung cấp những ưu đãi tài chính trực tiếp cho những ngư dân dám mạo hiểm đánh bắt cá ở những khu vực họ có thể gặp nhiều nguy hiểm nhất bị các tàu tuần tra của Trung Quốc bắt giữ. Ngư dân và các quan chức chính quyền địa phương đã phủ nhận tuyên bố nói trên.

Ông Hiền nói: “Cuộc sống của chúng tôi cực lắm, chúng tôi chỉ ao ước được chính phủ hỗ trợ nhiều hơn nữa.”

“Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục đuổi bắt ngư dân Việt Nam để trấn lột cho tới khi những người ngư dân Việt Nam nhẵn túi, nhưng mà còn lâu nhé.”

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

 

Posted in Biển Đông/TS-HS, Gia đình/Xã hội, Kinh tế Việt Nam, Quan hệ Việt-Trung | 19 Comments »

118. Biển Đông:tranh chấp leo thang TQ&VN gây thiệt hại rất lớn về kinh tế

Posted by adminbasam on 21/06/2011

International Business Times

Biển Hoa Nam [Biển Đông]:

Tranh chấp leo thang giữa Trung Quốc và

Việt Nam gây thiệt hại rất lớn về kinh tế

Michael Martin

Ngày 16 tháng 6 năm 2011

Hôm nay [16 tháng 6 năm 2011] Bắc Kinh đã cử một chiếc tàu tuần dương tới Biển Hoa Nam.

Ấy thế nhưng phát ngôn viên của Bộ ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi vẫn xác nhận rằng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ “không sử dụng sức mạnh” trong tranh chấp gia tăng với Việt Nam và năm nước và vùng lãnh thổ về chủ quyền đối với vùng nước có giá trị lớn này.

Nhưng đến giờ thì thực sự cũng chẳng ai biết có bao nhiêu khí thiên nhiên và dầu mỏ ở bên dưới đáy biển Hoa Nam.

Một số nguồn tin của Trung Quốc ước tính trữ lượng là trên 200 tỉ thùng, tức là xấp xỉ 80% trữ lượng dầu mỏ của Ả-Rập Saudi, song số khác lại cho rằng đó là một sự thổi phồng quá mức.

Lợi thì chưa thấy đâu nhưng ngay bây giờ thì Trung Quốc đã có thể tính toán được rằng tình hình tranh chấp leo thang với Việt Nam về vùng biển nói trên sẽ gây thiệt hại thế nào tới nền kinh tế của Trung Quốc.

Nhìn sơ sơ thôi thì chi phí thiệt hại đã là 12,7 tỉ đô la Mỹ – tổng số tiền thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc trong năm 2010, theo nguồn tin của Tổng cục Thống Kê của Việt Nam.

Số tiền đó bằng bảy phần trăm thặng dư thương mại của Trung Quốc trong năm ngoái, một con số tuy nhỏ nhưng là một khúc quan trọng trong thu nhập của nước này.

Mặt khác, các nhà phân tích cho rằng nếu Trung Quốc dốc toàn lực cho cuộc chiến tranh có thể xảy ra thì tổn thất phải tính đến sẽ lớn hơn rất nhiều.

Đáp trả cuộc tập trận bắn đạn thật kéo dài sáu tiếng đồng hồ của Việt Nam ở Biển Hoa Nam – một tiếng đồng cho mỗi một nước và vùng lãnh thổ đang tuyên bố khẳng định chủ quyền đối với vùng biển này – phát ngôn viên của Bộ ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi tuyên bố rằng Trung Quốc “sẽ không sử dụng sức mạnh” để đáp trả điều họ coi là những cuộc tấn công vào một khu vực mà nước Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa đang khẳng định có “chủ quyền không thể tranh cãi”.”

“Tôi nghĩ rằng kinh tế dứt khoát có mối liên quan nào đó trong lời tuyên bố này,” chuyên gia kinh tế trưởng Nariman Behravesh của tổ chức phân tích kinh tế hàng đầu thế giới IHS Global Insight đã nói như vậy trong một cuộc điện đàm từ Luân Đôn.

“Trung Quốc đang có mối liên kết thương mại ngày càng phát triển với tất cả các nước châu Á, nhất là những nước quan tâm tới Quần đảo Trường Sa,” Behravesh nói trong lúc ám chỉ tới những hòn đảo đang có tranh chấp ở ngoài khơi bờ biển chung của Trung Quốc và Việt Nam.

Các nhà phân tích tin rằng bất chấp Trung Quốc đang dùng những từ ngữ gay gắt tuôn ra dồn dập tại thời điểm này để buộc tội Việt Nam đe dọa quyền tự trị của Trung Quốc ở khu vực này, song Trung Quốc có lẽ rồi sẽ thực hiện đúng lời hứa của họ là sẽ giảm bớt căng thẳng trong quan hệ hai nước.

“Có một cách để đánh giá khả năng có thể dẫn đến xung đột vũ trang,” Tiến sĩ Donald K. Emmerson giám đốc Diễn đàn Đông Nam Á của Đại học Stanford đã nói như vậy.

Emmerson đã tham dự cuộc đối thoại Shangri-La 2011 tại Singapore sau khi tàu của Trung Quốc cắt đứt cáp của tàu khảo sát của PetroVietnam hồi cuối tháng trước. Trung Quốc vẫn giữ giọng điệu hòa giải vào thời điểm đó và cho đến tận lần tấn công tiếp theo vào hôm 9 tháng 6 khi một chiếc tàu khác của Trung Quốc đã cắt đứt cáp của tàu của PetroVietNam trong một diễn biến mà phát ngôn viên của Bộ ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga gọi là một cuộc tấn công “có suy tính trước”.

“Trung Quốc ngày càng phụ thuộc vào lượng nhập khẩu nhiên liệu từ Trung Đông. Nhiên liệu nhập khẩu này đi qua Eo biển Malacca để đi vào Biển Hoa Nam. Nếu Trung Quốc tiến hành một cuộc chiến tranh tại khu vực vận chuyển quá cảnh nhiên liệu quan trọng bậc nhất này thì quyết định đó sẽ là không khôn ngoan,” Emmerson nói.

Đó là một lý do để chiến tranh không xảy ra ở Biển Hoa Nam.

Một lý do khác nữa để các nước Đông Nam Á và các vùng lãnh thổ đang có tranh chấp ở vùng biển này – tổng số là sáu, trong đó có Việt Nam, Philippine và Đài Loan – không gây chiến với Trung Quốc ấy là để duy trì sự ổn định địa chính trị trong vùng.

“Các nước có chung biên giới [biển] hiểu rằng một cuộc chiến tranh thực sự với những chiếc tàu chở dầu bị nổ tung trên biển sẽ là điều quá nguy hiểm đối với những quốc gia liên quan,” ông nói đồng thời giải thích rằng nền kinh tế thế giới sẽ rung chuyển dữ dội bởi sự gián đoạn của tuyến đường vận chuyển quan trọng này.

Hàng năm một nửa số tàu thuyền thương mại của thế giới tính theo khối lượng hàng hóa đi qua Biển Hoa Nam, Emmerson nói.

“Đó là một tuyến đường huyết mạch khổng lồ của thương mại toàn cầu. Mặc dù đúng là Biển Hoa Nam là hành lang [tốt nhất], song còn có những tuyến đường lựa chọn khác đòi hỏi chi phí cao hơn, ấy là đi tiếp về phía đông qua Philippine và Indonesia.”

Nếu chọn các giải pháp đó thì cả Emmerson lẫn Behravesh làm việc tại Global Insight đều coi tương lai của Trung Quốc nằm ở sự hợp tác của nước này với các đối tác ASEAN ở phía Nam.

Và điều này là có tiền lệ.

Emmerson giải thích rằng vào tháng 7 năm 2005 Trung Quốc, Trung Quốc, Philippine và Việt Nam đã cùng nhau tiến hành một dự án khảo sát địa chấn biển – các bên tham gia ký kết là các công ty như PetroVietnam chứ không phải là các ngoại trưởng hoặc thủ tướng. Dự án được tiến hành với danh nghĩa công việc chung giữa các công ty nhằm bắt đầu tìm kiếm để biết xem trữ lượng dầu dưới đáy biển là bao nhiêu. 

“Lúc đầu điều họ muốn là dự án thăm dò chung rồi sau đó mới là khai thác chung. Sau đó thì dự án này đã hết hiệu lực vào năm 2008,” ông nói thêm.

Nếu Trung Quốc cứ dứt khoát bám lấy lợi ích từ nguồn dầu mỏ có thêm này [từ Biển Đông] trong cuộc chạy đua không ngừng nhằm cung cấp nhiên liệu cho nền kinh tế đang tăng trưởng, thế thì Việt Nam cũng sẽ bám lấy lợi ích của họ.

“Tôi dĩ nhiên nghĩ rằng Việt Nam có đủ năng lực để khai thác nguồn dự trữ đó [dầu mỏ và khí đốt ở Biển Đông] thông qua các liên doanh,” Behravesh nói đồng thời giải thích rằng một mối quan hệ đối tác hai bên cùng có lợi trong lĩnh vực dầu mỏ có thể góp phần làm dịu sức nóng địa chính trị trong khu vực và cho phép sự khai thác chung các nguồn tài nguyên của khu vực.  

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Posted in Biển Đông/TS-HS, Kinh tế Việt Nam, Quan hệ Việt-Trung | 1 Comment »

116. Đình công làm cho VN giảm bớt sức hấp dẫn nhân công rẻ hơn TQ

Posted by adminbasam on 19/06/2011

Bloomberg

Các cuộc đình công đang làm cho

Việt Nam giảm bớt sức hấp dẫn

nhân công rẻ hơn Trung Quốc

Ngày 16 tháng 6 năm 2011

Công ty sản xuất động cơ của Nhật Minebea Co. đã chọn Kampuchia chứ không phải Việt Nam để xây dựng một nhà máy sử dụng 5000 lao động trong một dấu hiệu cho thấy các cuộc tranh chấp lao động đang làm tổn thương sức hấp dẫn của Việt Nam như là một sự lựa chọn thay thế cho Trung Quốc vì nhân công rẻ. 

“Một cuộc đình công có thể dẫn đến tình trạng rối loạn,” Yasunari Kuwano, một người phát ngôn của Công ty Mineba đóng tại Tokyo đã nói như vậy về nhà máy trị giá 62 triệu đô la chuyên chế tạo động cơ điện cho các dụng cụ và thiết bị điện tử. “Nhân công là vấn đề chính chúng tôi nhắm tới khi quyết định chọn Kampuchia. Chúng tôi cần nhân công đáng tin cậy.”

Trong khi Mineba khởi công vào tháng trước ở Phnong Penh thì tập đoàn sản xuất cáp Volex Group Plc có trụ sở ở Luân Đôn và tập đoàn sản xuất đồ may mặc của Nhật Wacoal Holding Corp nằm trong số những nhà đầu tư tại Việt Nam đã phải đối mặt với những cuộc đình công bất hợp pháp nổ ra bất ngờ. Người lao động đòi được trả lương cao hơn sau khi lạm phát với tỉ lệ cao chưa từng có đã ảnh hưởng tới sức mua của họ.

Các cuộc đình công đã làm sứt mẻ mục tiêu của Việt Nam trong 25 năm qua là thu hút các nhà đầu tư nước ngoài bằng cách chào mời nhân công đáng tin cậy với mức lương tối thiểu hiện nay chỉ bằng nửa các mức lương tối thiểu ở Trung Quốc nhằm gây dựng các trung tâm sản xuất. Đầu tư nước ngoài trực tiếp [FDI] tại Việt Nam đã giảm 48% trong 5 tháng đầu của năm 2011 xuống còn 4,7 tỉ đô la.

“Đất nước đang đứng trước một bước ngoặt mang tính quyết định” giám đốc quốc gia của Ngân hàng thế giới tại đất nước Đông Nam Á này đã nói như vậy tại Hà Nội “Việt Nam không thể mặc nhiên cho rằng FDI sẽ tiếp tục. Tiền có thể chạy sang nước khác.”

Thách thức từ lạm phát

Tháng 5 vừa qua, Lạm phát đã tăng nhanh lên mức cao là 19,8% so với 29 tháng trước đó, một mức lạm phát mà Ngân hàng Thế giới trong một bản báo cáo trong tháng này đã cho là “có thể chấp nhận được”. Ngân hàng phát triển [Ngân hàng Thế giới] cho rằng lạm phát sẽ lên đến mức cao nhất trong quý này rồi sau đó sẽ giảm dần xuống còn 15% vào cuối năm nay, đã  nói rằng Việt Nam phải kiên trì với các chính sách thắt chặt tiền tệ cho tới khi tỉ lệ lạm phát giảm xuống ít nhất một nửa.

Giá cả tăng vọt và tình hình mất ổn định trong các nhà máy đã khiến cho thị trường chứng khoán và thị trường tiền tệ của Việt Nam là kém cỏi nhất ở châu Á trong năm ngoái. Chỉ số chứng khoán VN Index đã giảm 13% so với cùng kỳ năm ngoái còn tiền đồng thì mất giá 7,8% so với đồng đô la.

Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hồi tháng 3 đã chuyển trọng tâm từ khuyến khích mở rộng kinh tế sang chống lạm phát và đã giảm mục tiêu tăng trưởng năm của năm 2011 từ mức cao nhất là 7,5 % xuống 6%. Với việc các công ty  xếp hạng tín nhiệm đã đánh tụt điểm định mức nợ quốc gia của nước này một phần vì sự yếu kém trong hoạch định chính sách kinh tế cho nên nhiều nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài đang cảnh giác với việc đặt cược lâu dài vào Việt Nam.

Srithai Superware PCL (SITHSI), một công ty có trụ sở tại Băng Cốc chuyên sản xuất các bộ đồ ăn trong tháng này đã hoãn một kế hoạch mở rộng trị giá 5 triệu đô la tại nhà máy của họ ở miền Nam do “sự bất ổn kinh tế,” tổng giám đốc của nhà máy tại Việt Nam Santi Sakgumjorn, đã nói như vậy. Công ty này tuyên bố họ sẽ mở một chi nhánh tại nước láng giềng Lào.

“Mất lòng tin”

“Trong ngắn hạn chúng tôi không tin tưởng vào tình hình kinh tế ở Việt Nam,” Sakgumjorn nói như vậy trong một bức thư điện tử. Nhà máy đã gặp trở ngại do chi phí sản xuất gia tăng sau hai lần tăng lương trong năm nay, ông nói.

Người lao động tại Việt Nam nói rằng họ hầu như chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài đình công khi giá cả tăng cao. Tại một khu công nghiệp ở Hà Nội, anh công nhân Lê Kiên đọc lướt các mục quảng cáo việc làm sau ca làm việc của anh tại một nhà máy lắp ráp các loại cáp dùng cho xe máy của hãng Honda Motor và Yamaha Motor.

“Giá cả của mọi thứ – thực phẩm, xăng, điện – đều tăng nhanh hơn đồng lương tôi nhận được,” Kiên, 24 tuổi đã nói như vậy, lương tháng của anh tương đương với 87 đô la. “Tôi thậm chí không đủ tiền để cưới vợ. Làm sao tôi có đủ tiền để mua sữa cho con cơ chứ.”

Đấy là ngay cả sau khi Kiên và hầu hết 500 đồng nghiệp của anh đã tiến hành một cuộc đình công bất hợp pháp hồi tháng 4 và đã đòi được tăng lương 13%. Hãng của Đài Loan mà anh đang làm việc đã tăng lương cho công nhân hồi tháng 1, anh nói.

Yamaha tạm ngừng sản xuất

Các vụ tranh chấp lao động đã tấn công các nhà máy liên doanh sản xuất và cung cấp phụ tùng cho các công ty như Yamaha, Panasonic Corp., và Adidas AG. Yamaha đã buộc phải tạm ngừng việc sản xuất xe máy tại Hà Nội khi 4000 người lao động đã đình công hồi tháng 3. Nhà máy đã tăng lương cho công nhân để họ quay lại làm việc, người phát ngôn của hãng tại Tokyo là Shinichiro Irie đã nói như vậy.

Đã có 336 cuộc đình công xảy ra ở Việt Nam trong bốn tháng đầu năm nay, theo nguồn tin từ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Cứ cái đà này thì năm 2011 sẽ phá kỷ lục 762 cuộc đình công của năm 2008. Nhiều cuộc đình công chỉ là những vụ ngừng lao động không chính thức và không có giấy phép hợp pháp, theo lời của Tổ chức Lao động Quốc tế đóng tại Geneva [ILO].

“Ngày nào cũng có một vụ đình công xảy ra ở đâu đó trên đất nước này,” Youngmo Yoon, một chuyên gia của ILO về người lao động Việt Nam đã nói như vậy. “Hầu hết các cuộc đình công đều do công nhân tổ chức một cách tự phát.” Trong nhiều trường hợp thì người lao động đã giành được thắng lợi là được trả lương cao hơn,” ông nói.

Mức tăng lương cao nhất trong khu vực

Lương của người lao động Việt Nam dự kiến sẽ tăng gần 12% trong năm nay, đây là mức tăng cao nhất ở khu vực châu Á Thái Bình Dương và gần gấp đôi mức tăng trung bình trong khu vực, theo khảo sát các xu hướng tiền lương do tổ chức ECA International thực hiện. Việt Nam đã tăng mức lương tối thiểu lên 14% trong tháng trước.

“Đây là một cái vòng luẩn quẩn,” Prakriti, một nhà kinh tế làm việc tại Barclays Capital tại Singapore đã nói như vậy. “Lạm phát liên tục tăng, người lao động đình công vì bất mãn, tăng lương, và như thế là tất cả đều đổ dồn vào người tiêu dùng.”

Một số công ty vẫn tiếp tục đầu tư vào Việt Nam nơi mà 60% trong số 87 triệu dân là dưới 35 tuổi và mức lương tối thiểu là 85 đô la một tháng dựa trên sức mua tương đương [purchasing-power parity]  vẫn đang ở vị trí thấp nhất thứ hai so với các nền kinh tế châu Á khác như theo đánh giá của ILO vào năm 2009. Việt Nam chỉ đứng trên Bangladesh, trong khi mức lương tối thiểu ở Trung Quốc là 173 đô la. Chính phủ Việt Nam cam kết mục tiêu 20 tỉ đô la FDI vào Việt Nam trong năm nay.

First Solar Inc. (FSLR), hãng sản xuất tấm pin mặt trời hàng đầu thế giới có kế hoạch đầu tư ban đầu 300 triệu đô la cho một nhà máy ở miền nam Việt Nam. Nokia Oyj, hãng sản xuất điện thoại di động của Phần Lan hồi đầu năm nay đã nói rằng họ dự định khai trương một nhà máy trị giá 200 triệu euro (287 triệu đô la) ở gần Hà Nội trong năm 2012 để sản xuất điện thoại di động giá rẻ.

Sức ép lợi nhuận

Đối với những công ty đang hoạt động ở đất nước này [Việt Nam] thì việc tăng lương cho người lao động sẽ gây sức ép lên lợi nhuận, theo lời của Alan Phạm, giám đốc phụ trách hoạch định kế hoạch kinh tế của VinaCapital Investment Management Ltd., nhà quản lý quỹ [fund manager] lớn nhất tại Việt Nam.

“Nó càng làm tăng thêm tác động tiêu cực tới tâm lý của nhà đầu tư,” Ông Alan Phạm nói. Một sự sụt giảm đầu tư nước ngoài đang gây ra sự lo lắng đặc biệt bởi nó có thể làm  xấu thêm tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai, làm tăng sức ép lên tiền “đồng”, ông nói.

Chỉ có 15 trên 284 công ty niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Hồ Chí Minh có cổ phiếu tăng giá trong năm 2011.

Gần một phần ba các cuộc đình công trong năm nay diễn ra tại các cơ sở của các công ty của Hàn Quốc, theo tin của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Phần lớn các cuộc đình công xảy ra tại các nhà máy sản xuất hàng may mặc, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Hàn Quốc tại TP Hồ Chí Minh Kim Soon Ok cho biết. Nhiều chủ lao động đã bị bất ngờ trước những vụ ngừng làm việc khiến cho nhà máy phải hoãn việc gửi hàng và hậu quả là những “khoản lỗ khổng lồ,” bà nói.

“Rủi ro nghiêm trọng”

Sự bất ổn về lao động là “một rủi ro nghiêm trọng” đối với các doanh nghiệp nước ngoài, Bath làm việc tại công ty tư vấn chuyên về đánh giá rủi ro Maplecroft Ltd đóng tại Luân Đôn đã nói như vậy hồi tháng 5. Năng suất lao động của Trung Quốc gấp 2,6 lần năng suất lao động của Việt Nam trong khi Thái Lan có năng suất lao động gấp 4,3 lần Việt Nam, theo một bản báo cáo tháng 1 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam. Sự việc lại càng tồi tệ thêm bởi vấn đề xung đột lao động và điều đó đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ trở nên bớt hấp dẫn các nhà đầu tư, giám đốc của Maplecroft là Alyson Warhurst nói.

“Các công ty đang chờ đợi để xem liệu Việt Nam có đủ khả năng quản lý lạm phát và sức ép tiền lương, Warhurst nói. “Nếu Việt Nam quản lý tồi, các công ty đa quốc gia sẽ có những lựa chọn thay thế khác. Họ có thể quay trở lại Trung Quốc. Họ có thể tìm nơi khác.”

— Bài viết của K. Oanh Ha và Diep Ngoc Pham tại Hà Nội. Có sự đóng góp của With Nick Heath và  Nguyen Dieu Tu Uyen tại Hà Nội, Makiko Kitamura ở Tokyo và Suttinee Yuvejwattan tại Băng Cốc. Biên tập: Adam Majendie, Chris Anstey, Anne Swardson

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Posted in Kinh tế Việt Nam | Tagged: , , | 6 Comments »

110. Việt Nam nửa tư bản nửa cộng sản

Posted by adminbasam on 16/06/2011

International Business Times

Việt Nam nửa tư bản nửa cộng sản

Graeme Mackay

Ngày 15 tháng 6 năm 2011

Sau một hiệp định đình chiến [Hiệp định Paris], những người lính Mỹ cuối cùng đã rời Việt Nam vào năm 1973 và năm 1975 thì Sài Gòn (nay đã được đổi tên chính thức thành Thành phố Hồ Chí Mình) đã rơi vào tay Quân đội Bắc Việt. Một cuộc di tản lớn đã diễn ra sau khi Sài Gòn thất thủ, người ra đi không chỉ là những người có quan hệ gần gũi với chính quyền và quân đội Nam Việt Nam mà còn có cả những người giàu có, những người thuộc tầng lớp có học thức và các nhà kinh doanh. Những người thuộc các nhóm này không kịp chạy thoát khi Cộng sản tiếp quản Sài Gòn thì hầu hết đều bị ngược đãi và việc thành lập tràn lan các hợp tác xã nông nghiệp và hợp tác xã sản xuất là nguyên nhân khiến cho hàng triệu người phải chạy trốn khỏi Việt Nam, rất nhiều người đã đi bằng thuyền. Chữ “Thuyền Nhân” đã trở thành đồng nghĩa với Việt Nam.  

Trong hơn 10 năm sau 1975, nền kinh tế của nước Việt Nam thống nhất đã ở trong tình trạng trì trệ, đấy là nói bằng ngôn từ đẹp đẽ nhất. Chỉ bắt đầu từ năm 1986 sau khi đã loại bỏ đám “vệ binh già” thì chính quyền Cộng sản mới bắt đầu thực hiện các bước tự do hóa nền kinh tế và cố gắng tạo ra tăng trưởng kinh tế, nhất là trong lĩnh vực xuất khẩu. Được gọi bằng cái tên là Đổi Mới, chính sách này đã cho phép tư nhân hóa các nông trại và các cơ sở kinh doanh nhỏ.  

Vai trò lớn nhất của chính sách nói trên trong 25 năm [kể từ năm 1986] là nó rút cục đã làm cho người ta quên đi đi hầu hết những tổn thương và tàn phá do cuộc chiến tranh kéo dài ở Việt Nam gây ra. Tăng trưởng trong thời kỳ của chính sách Đổi mới đã thực sự hồi phục quãng năm 1990 và trong giai đoạn từ năm 1990 đến 1997, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của Việt Nam là trên 8%.  Chính vào lúc mức tăng trường đã bị chững lại ở mức vẫn được coi là lớn là 7% thì sự sụp đổ của thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Mỹ đã khiến cho Việt Nam bị mất 20% lượng hàng hóa xuất khẩu.

Đến lúc này thì các bộ phận của chính phủ đã chợt đặt câu hỏi về tốc độ tăng trưởng chậm, lạm phát cao, sự phá giá tiền “đồng” ở mức nghiêm trọng cho dù vẫn ở trong tầm kiểm soát có liên quan tới những yếu kém ở chỗ nào và tại sao – đó là những câu hỏi được nêu vậy thôi chứ chẳng hề liên quan tới một nền kinh tế bị kiểm soát theo kiểu cộng sản. Cũng như chẳng liên quan gì đến việc tìm kiếm sự hỗ trợ của Mỹ!  

Mặc dù khu vực quốc doanh vẫn đang chiếm 40% nền kinh tế – ở thành phố Sài Gòn năng động nhất đất nước thì là 33% – song dường như sự thịnh vượng và chủ nghĩa thực dụng sẽ là những động lực thúc đẩy của đất nước này, hãy tạm gác chính trị sang một bên, bởi vì không nghi ngờ gì nữa Việt Nam, giờ đây với hơn 90 triệu dân, đang muốn là một trong những nước “phát triển” trên thế giới vào năm 2020. Điều gì ngăn cản Việt Nam thực hiện được mong muốn đó?

Hôm 8 tháng 6 năm 2011, Thông tấn xã Việt Nam đã đưa tin về diễn biến một hội nghị về kinh tế biển quốc nội diễn ra tại thành phố Khánh Hòa ở miền Trung. Theo báo chí của nhà nước Việt Nam thì “kinh tế biển” giúp Việt Nam có thu nhập hơn 10 tỉ đô la mỗi năm. Nhưng thông điệp quan trọng của ông Nguyễn Văn Cư tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo lại gần như là phủ nhận điều nói trên. Kinh tế Biển đã “không đạt được tiềm năng đầy đủ … cơ sở hạ tầng biển và các vùng ven biển cũng như hải đảo vẫn còn kém …Cảng biển vẫn còn nhỏ và thiết bị thì lạc hậu.”

Để nêu bật vấn đề cơ sở hạ tầng không tương xứng nói trên, một bản tin được phát tại hội nghị đã cho thấy rằng khối lượng hàng hóa xếp dỡ tính trên mỗi nhân viên làm việc tại các cảng của Việt Nam chỉ bằng 0,14% của Singapore. So sánh với Malaysia và Thái Lan cũng không làm cho Việt Nam hãnh diện cho lắm: chỉ bằng 14% so với Malaysia và 20% so với Thái Lan.

Đại biểu Phạm Trung Lương của Tổng cục Du lịch than phiền tại hội nghị rằng Việt Nam đã không đủ sức thu hút khách du lịch nước ngoài mặc dù Việt Nam có một bờ biển dài và luôn được coi là rất đẹp.  

Hầu hết đều đồng ý là “kinh tế biển đang hoạt động không hiệu quả”. Mức độ nhất trí cũng tương đương đối với nhu cầu phải đầu tư vào cơ sở hạ tầng, quy hoạch dài hạn cho tới năm 2020 và 2030 và phát triển cảng biển phải được phối hợp với một hệ thống vận tải quốc gia. Phạm Hữu Tấn, giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Cảng Cam Ranh tuyên bố rằng: “Cảng biển phải trở thành những trung tâm “logistic” [tạm dịch là “hậu cần”] của các vùng.”

“Kinh tế biển” chỉ là một trong những mặt trận trong đó Việt Nam đang phải giải quyết những vấn đề kinh tế nghiêm trọng. Trong khi dĩ nhiên là nhiều nơi trên đất nước này vẫn đang phải chịu hậu quả của các chất hóa học do Không lực Hoa Kỳ sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam nhằm không cho đối phương có chỗ ẩn nấp thì bản thân người Việt Nam kể từ sau khi chiến tranh kết thúc đã góp phần rất lớn vào tình trạng chặt phá rừng, xói lở đất và thoái hóa môi trường sinh học ở chính đất nước của họ.  

Điều này xảy ra là do một số yếu tố. Tình trạng khai thác nguồn tài nguyên gỗ, một yếu tố quan trọng trong tăng trưởng dựa vào xuất khẩu của Việt Nam và là một yếu tố sống còn để giảm bớt thâm hụt tài khoản vãng lai tương đối lớn, đã gây ra nạn xói lở đất, thoái hóa môi trường sinh học và gia tăng tốc độ dòng chảy của nước mặt [nguyên nhân gây ra lũ]. Tốc độ tăng trưởng Xuất khẩu Lâm sản hàng năm hiện nay là khoảng 20%.  Chính phủ đang giải quyết vấn đề nói trên nhưng là dưới sự bảo trợ của Tổ chức Nông Lương của Liên Hiệp Quốc [UN Food and Agriculture Organisation], theo Nghiên cứu Tầm nhìn Lâm nghiệp Việt Nam (cho tới năm 2020).

Các phương pháp canh tác lạc hậu, trong đó có “đốt rừng làm nương rãy” là nguyên nhân gây ra tình trạng tăng đáng kể tốc độ thấm của nước mặt và làm tăng những lo ngại về ô nhiễm nước. Với gần 50% dân số sống nhờ vào nông nghiệp, song chỉ đóng đóng góp 17% cho GDP thì chỉ riêng vấn đề nói trên đã hoàn toàn có thể là vấn đề kinh tế lớn nhất của đất nước này.

Hiện nay chỉ có khoảng 30% dân số là dân đô thị mặc dù tốc độ đô thị hóa là 3% mỗi năm khi người dân, đặc biệt là thanh niên, đang tìm kiếm cuộc sống và thu nhập tốt hơn ở các thị trấn và thành phố. Điều này không tránh khỏi dẫn đến việc đất nông nghiệp có giá trị thì lại đang được sử dụng để phát triển nhà ở và phát triển công nghiệp ở nơi đang cần sự ban hành các luật về ô nhiễm môi trường cái đã chứ chưa bận tâm tới việc củng cố luật chắc chắn. Vì thế quy hoạch của chính phủ về đất đai cho tới năm 2020/2030 sẽ phải biến đổi biến số nói trên  thành yếu tố [factoring in] giá như bởi vì một phần tư dân số là từ 15 tuổi trở lên.  

Vấn đề thực sự lớn hiện nay đối với Việt Nam rõ ràng là phải sắp xếp lại trật tự tài chính trong nước. Hôm 23 tháng 12 năm 2010, Bloomberg News đưa tin rằng hãng xếp hạng tín nhiệm Standard & Poor đã hạ định mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam xuống mức BB – tức là mức không có triển vọng [negative] – kém ba mức so với điểm đầu tư [investment grade] – đang gây sức ép buộc chính phủ phải giải quyết lạm phát đang gia tăng (trên 11% trong năm 2010) và tiền “đồng” đang suy yếu.

S&P cũng lưu rằng tăng trưởng cho vay mạnh và sự bất ổn kinh tế vĩ mô “đã làm suy yếu bản cân đối thu chi của các ngân hàng của nước này [Việt Nam] … là nơi thiếu sự minh bạch…” và lo ngại về “những dòng vốn vẫn đang liên tục chảy ra khỏi các ngân hàng trong nước [capital outflows] …

Ngay sau khi Standard & Poor hạ định mức tín nhiệm thì Moody lại hạ tiếp định mức tín nhiệm của Việt Nam thêm một nấc nữa xuống thành B1 (dưới 4 điểm so với điểm đầu tư) khi hãng này đưa ra các lý do cụ thể ấy là khả năng khủng hoảng số dư các khoản thanh toán, dự trữ ngoại tệ sụt giảm và lạm phát tăng vọt  (+11% trong năm 2010) và tiền “đồng” suy yếu.

Không hề xem nhẹ những lo ngại của các hãng đánh giá tín nhiệm nói trên, Việt Nam đang là một trong những nền kinh tế “mở” nhất ở châu Á và những khu vực có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất là sản xuất, công nghệ thông tin và công nghệ cao, và tin vui dành cho ông Phạm Trung Lương đó là số lượng khách du lịch đã khôi phục trở lại từ chỗ giảm 10% xuống còn 3,77 triệu vào năm 2009 đã tăng lên thành 4,4 triệu vào năm 2010. Số liệu của bốn tháng đầu năm 2011 cũng có vẻ rất lạc quan với mức gia tăng 10,5% so với cùng thời kỳ năm ngoái. Trong những năm trước đó thì Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ dẫn đầu trong lĩnh vực nói trên.

Gác chuyện gươm đao lại để làm kinh tế, đó là ví dụ của thành phố Nha Trang (300 000 dân) thủ phủ của tỉnh Khánh Hòa. Một thành phố du lịch nằm bên một bờ biển với những bãi tắm còn nguyên sơ, Nha Trang đang nổi danh là một trung tâm dành cho khách du lịch thích bơi lặn [scuba diving]. Thành phố này đã từng tổ chức cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ hồi năm 2008 và Hoa hậu Trái đất năm 2010 và vào năm 2016 sẽ tổ chức các môn thi đấu trên bãi biển của các nước châu Á [Asian Beach Games]. Căn cứ Không quân Mỹ trước đây ở Cam Ranh nay đang được dùng làm Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh.

Không biết có nên gọi đây là chủ nghĩa cộng sản hay không! Nhưng khoan hãy đặt phòng khách sạn. Ở ngoài Biển Hoa Nam [Biển Đông] đang có một vấn đề khá nghiêm trọng liên quan đến lãnh hải tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện đã lên đến đỉnh điểm. Hôm 14 tháng 6 năm 2011, tờ Financial Times đã đưa tin rằng Trung Quốc đã yêu cầu “các nước thứ ba”, tức họ ám chỉ Mỹ, hãy đừng can thiệp vào những tranh chấp lãnh thổ của họ. Việt Nam thì cuối tuần trước đã tuyên bố rằng Việt Nam sẽ hoan nghênh những nỗ lực của Mỹ nhằm giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ và Thủ tướng của Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã “ban hành một nghị định hướng dẫn chi tiết đối tượng nào sẽ được miễn nhập ngũ nếu chiến tranh nổ ra”.

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Posted in Chính trị, Kinh tế Việt Nam | 13 Comments »

433. Việt Nam: khổ vì nợ nần

Posted by adminbasam on 02/04/2011

Financial Times

Ngày 30 tháng 3 năm 2011

Ben Bland

Ở Việt Nam, những ý kiến lo lắng về khoản nợ nước công nước ngoài quá lớn thường được dàn xếp bằng những ngôn từ nói về tác động của nợ đối với khả năng chính phủ và các doanh nghiệp có thể tiếp tục đi vay với lãi suất phải chăng.

Nhưng người nghèo rút cục sẽ chẳng được hưởng lợi gì cả từ việc đi vay đó trừ phi Việt Nam thực hiện biện pháp “cấp bách” nhằm giảm bớt thâm hụt buôn bán và ngân sách ở mức khổng lồ đồng thời ngăn chặn nợ nước ngoài tiếp tục gia tăng, một chuyên gia của Liên Hợp Quốc tại Hà Nội đã cảnh báo như vậy vào hôm thứ Ba.

Đọc tiếp »

Posted in Kinh tế Việt Nam | Tagged: , | Leave a Comment »

Tuyên bố của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS

Posted by adminbasam on 14/09/2009

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc

Tuyên bố của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS


Ngày 24-7-2009 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ban hành danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ (sau đây gọi là Quyết định 97), có hiệu lực từ ngày 15-09-2009.

Viện Nghiên cứu phát triển IDS nhận thấy Quyết định 97 có những sai phạm nghiêm trọng sau đây:

Một là: Điều 2 của Quyết định 97 không phù hợp với thực tế khách quan của cuộc sống.

Khoản 2, điều 2 trong quyết định này ghi: cá nhân thành lập tổ chức khoa học công nghệ “chỉ hoạt động trong lĩnh vưc thuộc Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này. Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ý kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ.”

Như vậy khoản 2 của điều 2 bao gồm 2 điểm chính là

(1)            các lĩnh vực được phép nghiên cứu quy định trong danh mục kèm theo Quyết định, và

(2)            không được công bố công khai ý kiến phản biện với danh nghĩa của một tổ chức khoa học và công nghệ.

Về vấn đề danh mục các lĩnh vực được phép tổ chức nghiên cứu:

Cuộc sống vô cùng phong phú, có nhiều vấn đề chưa biết đến, luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển, luôn luôn đặt ra những đòi hỏi mới, cần có các quyết sách mới và các giải pháp thích hợp. Vì vậy không thể bó khuôn mọi vấn đề được phép nghiên cứu trong cuộc sống vào một danh mục dù danh mục ấy có rộng đến đâu. Quy định như vậy sẽ bó tay các nhà khoa học, những người nghiên cứu độc lập, hạn chế sự đóng góp của họ vào việc xây dựng chính sách đổi mới và phát triển đất nước.

Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo nhằm khám phá các quy luật vận động trong tự nhiên và xã hội; từ đó tạo ra công nghệ mới, hoạch định chính sách phát triển và nâng cao dân trí để thúc đẩy xã hội tiến lên. Trong cuộc sống còn có những lĩnh vực, những vấn đề đã trở nên lỗi thời hoặc đã bị vượt qua. Thực tế này cũng là một đối tượng quan trọng của công việc nghiên cứu, nhất là trong tình hình một quốc gia phải ra sức phấn đấu khắc phục tình trạng nghèo nàn và lạc hậu. Trong một xã hội tiến bộ, công việc nghiên cứu với tính cách như vậy không thể đóng khung trong một danh mục gồm các lĩnh vực được quy định như đã nêu trong Quyết định 97.

Trong khi đó, công văn ngày 8-9-2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp (thừa ủy quyền của Thủ tướng trả lời thư ngày 6-8-2009 của Viện IDS gửi Thủ tướng) cho rằng cách quy định một danh mục các lĩnh vực cho phép cá nhân được thành lập tổ chức nghiên cứu là thông lệ ở nhiều nước trên thế giới, có nước quy định một danh mục cho phép, có nước quy định một danh mục cấm, hoặc cả hai. Chúng tôi đã tìm hiểu kỹ thì chưa thấy nước nào có quy định danh mục các lĩnh vực được phép nghiên cứu khoa học. Vì vậy cách trả lời trong công văn của Bộ Tư pháp là không trung thực, thiếu trách nhiệm. Cho đến nay, trên thế giới, việc phân loại các lĩnh vực khoa học là để thống kê, so sánh, không thể lấy đó làm căn cứ để quy định các lĩnh vực được phép nghiên cứu. Cách làm như Quyết định 97 sẽ bị dư luận chê cười, làm hại uy tín của lãnh đạo và của đất nước.

Ý kiến trong công văn của Bộ Tư pháp cho rằng Quyết định vẫn để mở, sẽ tiếp tục nghiên cứu bổ sung dần các lĩnh vực cho phép, là môt cách biện bạch gượng gạo, bởi vì “cho phép” thì không bao giờ đủ. Không ai có thể “cho phép” đời sống sẽ được phát triển đến đâu. Thực chất với Quyết định này, “cho phép” tức là cấm, và vùng cấm rộng gấp ngàn lần vùng được phép.

Về vấn đề  phản biện:

Quá trình đi lên của đất nước chưa có con đường vạch sẵn, cuộc sống có vô vàn vấn đề thuộc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cần được phản biện để có thể xử lý đúng đắn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có rất nhiều ý kiến phản biện về đường lối chính sách bị cất hầu như không có thời hạn trong các “ngăn kéo” của các cơ quan chức năng hoặc của những người có thẩm quyền có liên quan. Có quá nhiều phản biện dưới mọi dạng như kiến nghị, đề nghị, thư, tài liệu nghiên cứu… không bao giờ được hồi âm.

Ví dụ nổi bật nhất là cải cách giáo dục – một vấn đề sống còn của sự phát triển đất nước, một yêu cầu bức xúc của xã hội đang được dư luận và giới nghiên cứu trong và ngoài nước rất quan tâm, phản biện công khai sôi nổi từ nhiều năm nay nhằm thực hiện những nghị quyết của Đại hội Đảng và các Hội nghị Trung ương Đảng về cải cách giáo dục. Tuy vậy, sự phản biện này chưa được đánh giá và tiếp thu nghiêm túc.

Một ví dụ khác gần đây là vấn đề bô-xít, được coi là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Sự phản biện công khai, quyết liệt vừa qua của rất nhiều nhà khoa học và các hiệp hội thuộc các lĩnh vực khác nhau đã góp phanà thúc đẩy việc ban hành quyết định ngày 24-04-2009 của Bộ Chính trị lưu ý những vấn đề phải quan tâm trong khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Tuy vậy, còn biết bao nhiêu phản biện quan trọng khác trong vấn đề khai thác bô-xít ở Tây Nguyên vẫn còn bị bỏ ngỏ.

Trong tình hình nêu trên, cấm các tổ chức khoa học công nghệ do các cá nhân thành lập phản biện công khai như nêu trong Quyết định 97 thực chất là cấm phản biện xã hội, hệ quả sẽ khôn lường.

Khoản 2 trong điều 2 của Quyết định 97 không viết thành văn nhưng hàm ý để ngỏ khả năng: cá nhân được phép phản biện công khai với tư cách riêng của mình. Như vậy, sẽ không thể giải thích:

(a) Tại sao cá nhân thì được phản biện công khai, còn tổ chức, tức trí tuệ tập thể và liên ngành được tập họp để có thể có chất lượng cao hơn, thì lại không? Quy định chỉ cho phép cá nhân phản biện công khai tạo thuận tiện cho việc vô hiệu hóa hay hình sự hóa việc phản biện của cá nhân? Phải chăng quy định như vậy ngay từ đầu đã mang tính chất không khuyến khích phản biện, mà có hàm ý làm nản lòng thậm chí hăm dọa sự phản biện của cá nhân.

(b)   Tại sao trong nhà nước pháp quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa, một văn bản pháp quy có tầm quan trọng như vậy lại có thể được thiết kế như một cái bẫy và để ngỏ khả năng cho việc vận dụng cái bẫy đó?

Hai là: Việc cấm phản biện công khai là phản khoa học, phản tiến bộ, phản dân chủ.

–       Cấm như vậy là phản khoa học, bởi lẽ: Bất kể một phản biện nào nếu không chịu sự “sát hạch” công khai, minh bạch trong công luận, sẽ khó xác định phản biện ấy là đúng hay sai, độ tin cậy của nó, sự đóng góp hay tác hại nó có thể gây ra, khó lường được các khả năng sử dụng hoặc lợi dụng việc phản biện này.

–       Cấm như vậy là phản tiến bộ, bởi lẽ: Người dân sẽ không biết đến các phản biện đã được đề xuất hay các vấn đề đang cần phải phản biện, càng không thể biết chất lượng và tác dụng của những phản biện ấy, không biết nó sẽ được cơ quan có thẩm quyền đánh giá, tiếp thu hay xử lý như thế nào. Phản biện và tiếp thu phản biện không công khai sẽ không thể tranh thủ được sự đóng góp xây dựng từ trí tuệ trong và ngoài nước, hạn chế khả năng sáng tạo tìm ra con đường tối ưu cho sự phát triển đất nước và vứt bỏ lợi thế của nước đi sau. Trên hết cả, cấm như vậy là cản trở việc nâng cao trí tuệ và bản lĩnh của người dân, cản trở vai trò làm chủ đất nước của nhân dân. Cấm như vậy chẳng khác nào biểu hiện chính sách ngu dân.

–       Cấm như vậy là phản dân chủ, bởi lẽ:  Nhân dân – người chủ của đất nước – sẽ thiếu những thông tin để tự mình tìm hiểu, đánh giá mọi vấn đề có liên quan của đất nước mà họ không thể không quan tâm. Cấm như vậy là tước bỏ hay làm giảm sút khả năng của nhân dân giám sát, kiểm tra, đánh giá hay đóng góp xây dựng, hình thành và nói lên các ý kiến của họ, tán thành hay bác bỏ một chủ trương nào đó; trên thực tế là cấm hay ngăn cản quyền của nhân dân tham gia vào công việc của đất nước. Cấm như vậy là ngược với tiêu chí Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Ba là: Quyết định 97 có nhiều điểm trái với đường lối của Đảng và vi phạm pháp luật của Nhà nước.

–       Trước hết, đối với Hiến pháp, điều 2 trong Quyết định 97 vi phạm Điều 53 quy định công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương; Điều 60 quy định công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng tác; Điều 69 quy định công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.

–       Đối với Luật Khoa học và công nghệ, điều 2 Quyết định 97 không phù hợp với tinh thần của Luật này coi khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, khuyến khích sự tham gia nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân, Nhà nước đảm bảo và hỗ trợ sự thực hiện những kết quả nghiên cứu, khuyến khích các hội khoa học và công nghệ có trách nhiệm tổ chức, động viên các thành viên tham gia tư vấn, phản biện, giám định xã hội và tiến hành các hoạt động khoa học và công nghệ… v.v.

–       Đặc biệt quan trọng là Quyết định 97 có nhiều điểm trái với tinh thần và nội dung Nghị quyết số 27 – NQ/T.Ư “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” mới được ban hành tháng 10-2008. Nghị quyết này nhấn mạnh thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

–       Việc ban hành Quyết định 97 còn vi phạm khoản 2 và khoản 4 Điều 67 trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể là đã bỏ qua trình tự bắt buộc phải công bố dự thảo quyết định trước ít nhất 60 ngày  trước khi kí để bảo đảm sự tham gia ý kiến của dân. Trong công văn trả lời  Viện IDS, Bộ trưởng Bộ Tư pháp lập luận rằng: quyết định 97 được xây dựng và ban hành đúng luật vì toàn bộ các bước soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định dự thảo quyết định đã được hoàn tất trong năm 2008 khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi năm 2008) phải đến 1-1-2009 mới có hiệu lực. Sự biện bạch này không thể chấp nhận được. Quá trình soạn thảo, thẩm định bắt đầu từ bao giờ, kéo dài bao lâu, là việc nội bộ của các cơ quan hữu trách. Nhân dân, là những người chịu tác động của Quyết định, chỉ có thể biết ngày ban hành chính thức của Quyết định 97 là ngày 24-7-2009, hơn 7 tháng sau khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực. Như vậy rõ ràng là việc ban hành Quyết định 97 vi phạm luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Vì sao một quyết định quan trọng liên quan đến một lĩnh vực lớn được coi là quốc sách hàng đầu, lại được thực hiện môt cách vội vã và tùy tiện như vậy.

Có thể kết luận, Quyết định 97 nếu được thực hiện sẽ làm nặng nề thêm thực trạng thiếu công khai minh bạch rất nguy hại cho việc xây dựng và thực thi pháp luật,  làm trầm trọng thêm tình trạng tụt hậu hiện nay của đất nước.

*

*   *

Trong gần 2 năm hoạt động, Viện Nghiên cứu phát triển IDS đã làm được một số việc có ích cho đất nước, đóng góp ý kiến xây dựng đối với một số vấn đề hay chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, được dư luận xã hội, đặc biệt là giới nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Mọi hoạt động của Viện IDS từ ngày thành lập cho đến nay đều tiến hành đúng pháp luật, công khai, minh bạch.

Tuy nhiên trong thời gian qua, tồn tại dai dẳng một số nhận xét sai lệch của cơ quan an ninh về Viện IDS, thậm chí cho rằng Viện nhận tiền của nước ngoài và có hoạt động chống đối Nhà nước…Ngày 16-01-2009 Viện IDS  đã có thư gửi các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước nêu rõ quan điểm của Viện về những nhận định sai trái này, song tiếc rằng cho đến nay bức thư này của Viện chưa nhận được bất kể một hồi âm nào.

Ngay sau khi có Quyết định 97, Hội đồng Viện IDS đã thảo luận, phân tích những chỗ sai cả về thủ tục và nội dung của quyết định này. Với ý thức tôn trọng Chính phủ và Thủ tướng, và để biểu thị thiện chí của mình, Hội đồng Viện chúng tôi nhất trí chưa bày tỏ ‎ý kiến công khai mà trước hết gửi thư ngày 6-8-2009 nêu rõ với Thủ tướng những chỗ sai của Quyết định 97 và kiến nghị cách giải quyết nhằm tránh các hệ quả bất lợi về nhiều mặt.

Sau khi gửi thư, đại diện của Hội đồng Viện được mấy vị lãnh đạo mời gặp, riêng Thủ tướng mời gặp hai lần; nhân dịp đó chúng tôi trình bày rõ thêm và trao đổi ý kiến thẳng thắn về những nhận xét và kiến nghị đã nêu trong thư.

Viện IDS đã kiên tâm chờ đợi. Ngày 11-9-2009, Chủ tịch Hội đồng Viện IDS được Bộ trưởng, chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ thừa ủy quyền của Thủ tướng mời đến VPCP và trao cho hai văn bản. Một là công văn số 3182/BTP-PLDSKT ngày 8-9-2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền của Thủ tướng trả lời Hội đồng Viện Nghiên cứu phát triển IDS về những điều nêu trong thư của Viện gửi Thủ tướng ngày 6-8-2009. Hai là công văn số 1618/TTg-PL ngày 10-9-2009 của Bộ trưởng Chủ nhiệm VPCP thừa ủy quyền của Thủ tướng yêu cầu Bộ Khoa học và công nghệ ra văn bản hướng dẫn thi hành Quyết định 97 và thu thập ý‎ kiến để kiến nghị bổ sung danh mục ban hành theo quyết định này.

Hai công văn này cho thấy tất cả các kiến nghị của Viện IDS về Quyết định 97 đều không được chấp nhận.

Toàn viện IDS và từng thành viên đã hết sức đề cao tinh thần trách nhiệm công dân, ý thức kỷ luật và thiện chí, nhưng những cố gắng đó đã không được đáp ứng.

Trước tình hình như vậy, với một quyết định hạn chế đến mức vô lý quyền nghiên cứu của một tổ chức khoa học, Viện nghiên cứu phát triển IDS không thể tiếp tục hoạt động theo sứ mệnh đã xác định trong mục tiêu ghi vào Điều lệ của mình. Chấp nhận hoạt động theo Quyết định 97, viện IDS và các thành viên sẽ không thể làm đúng tinh thần của Nghị quyết Trung ương Đảng về trí thức mới ban hành, đồng thời không thể làm tròn trách nhiệm công dân và nghĩa vụ người trí thức của mình

Ngày 14-09-2009, Hội đồng Viện IDS đã họp phiên toàn thể, quyết định tự giải thể để biểu thị thái độ dứt khoát của Viện đối với Quyết định 97. Quan điểm của Viện chúng tôi được trình bày trong tuyên bố này và được công bố kèm theo các tài liệu liên quan[1]. Chúng tôi cũng giữ quyền sử dụng tiếp các công cụ pháp lý để bảo vệ sự trong sáng của luật pháp.

Làm tại Hà Nội ngày 14-09-2009

Các thành viên Hội đồng IDS đã ký

Số thứ tự

Tên thành viên

1 Hoàng Tụy, Chủ tịch Hội đồng IDS
2 Nguyễn Quang A, Viện trưởng
3 Phạm Chi Lan, Phó Viện trưởng
4 Phan Đình Diệu
5 Lê Đăng Doanh
6 Vũ Kim Hạnh
7 Chu Hảo
8 Phạm Duy Hiển
9 Vũ Quốc Huy
10 Tương Lai
11 Phan Huy Lê
12 Nguyên Ngọc
13 Trần Đức Nguyên
14 Huỳnh Sơn Phước
15 Trần Việt Phương
16 Nguyễn Trung

[1]Các tài liệu gửi kèm:

  1. Thư ngày 6-8-2009 của Viện IDS gửi Thủ tướng và các vị lãnh đạo
  2. Công văn trả lời IDS số 3182/BTP-PLDSKT của Bộ trưởng Bộ Tư pháp
  3. Văn thư ngày 16-1-2009 của IDS gửi các vị lãnh đạo và Thứ trưởng Bộ Công An

* Toàn văn Bản Tuyên bố này và 3 tài liệu đính kèm Ba Sàm được TS Nguyễn Quang A gửi tới trực tiếp hồi 20h ngày 14-9-2009

Posted in Chính trị, Kinh tế Việt Nam | 3 Comments »

Việt Nam đang rơi vào quĩ đạo của Trung Quốc

Posted by adminbasam on 06/07/2009

Việt Nam đang rơi vào quĩ đạo của Trung Quốc

The Straits Times (Singapore)
July 4, 2009 Saturday

Người dịch: Trần Hoàng

 

Thông thường các vị tướng không phải là những người yêu thích các cây cỏ thiên nhiên, nhưng vị anh hùng thời chiến Võ Nguyên Giáp đã gây xôn xao gần đây khi ông công khai phản đối nhà cầm quyền Hà Nội về việc chấp thuận kế hoạch khai thác tài nguyên bauxite ở Tây Nguyên.

Trong một đất nước nơi mà người dân thông thường bị tù vì việc chỉ trích chính sách của nhà nước, hành động bất ngờ của Đại tướng Giáp làm nổi bật lên cho thấy xã hội dân sự ở Việt Nam đang tiến triển ra sao. Được sự hỗ trợ bởi những người chỉ trích khác, tướng Giáp đã nói kế hoạch 15 tỉ đô la của Hà Nội để khai thác tài nguyên bauxite sẽ làm tổn hại môi trường Tây Nguyên, di dời chỗ ở của các nhóm dân tộc thiểu số, và đe dọa an ninh quốc gia.

Hành động bộc phát của Đại tướng Giáp – người mà trong những ngày còn phong độ đã từng đánh thắng quân đội Pháp và Mỹ – là đáng cân nhắc xem xét. Có một sự thù địch và ghét bỏ lẫn nhau giữa Việt Nam và Trung Quố c mà không có gì che đậy được. Ngoại trừ một khoảng thời gian hữu nghị vào những năm 1960, Trung Quốc đã từng đô hộ Việt Nam 1000 năm. Cả hai quốc gia đã đánh nhau một trận chiến ngắn ngủi vào năm 1979.

Tuy vậy, dù có mối nghi ngờ thâm căn cố đế về nước láng giềng phương bắc, chính phủ Việt Nam đã đồng ý từ lâu về một thỏa thuận ngầm bán bautxite cho Trung Quốc. Điều nầy đã nhấn mạnh một mối quan ngại thích đáng: Chiến lược lớn của Trung Quốc là sục sạo khắp thế giới để tìm các tài nguyên năng lượng và khoáng sản quan trọng mà không cần quan tâm tới các hậu quả liên quan.

Một bài báo trong tập san đối ngoại đã bàn luận rằng Trung Quốc đã và đang điều chỉnh cho chính sách đối ngoại của họ sao cho thích hợp với chiến lược phát triển bên trong nước tới một mức độ chưa từng có trước đây bằng cách khuyến khích các công ty quốc doanh do nhà nước làm chủ đi tìm kiếm các hợp đồng ở Phi Châu. Điều đáng lo ngại là Trung Quốc đang chạy đuổi theo các hợp đồng như thế — và cung cấp hối lộ tiền bạc, trợ giúp chính trị cho bất cứ ai ở quốc gia ấy ủng hộ việc làm của họ — trong lúc xem nhẹ, không chú ý gì tới các vấn đề  như vi phạm nhân quyền, buôn bán vũ khí và làm xuống cấp môi trường sống.

Chiến lược phát triển của Bắc Kinh với bất cứ giá nào vẫn có khả năng nổi lên như một sự có lợi cho cả hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc. Cả hai quốc gia vẫn có thể có được phúc lợi một cách thương mại từ mối liên doanh mỏ bauxite, nếu như Hà Nội trở nên nhạy bén hơn nữa tới những điều quan ngại đã được nêu lên bởi Tướng Giáp và những ngươi ủng hộ ông ta [1].  Gần đây, Hà Nội đã gần như đi theo hướng nầy, và đang nói rằng Hà Nội sẽ xem xét lại tác động môi trường của dự án nấy và sẽ trì hoãn việc khai thác trên diện rộng.

Tuy vậy, trong sự tính toán sau cùng nầy, hấp lực của nền của nền kinh tế Trung Quốc có thể đã chứng tỏ quá mạnh mẽ mà Hà Nội không thể nào chống lại được. Việt Nam hiện đang ở trong những tình trạng nguy nan của sự tuyệt vọng về kinh tế. Các khoản đầu tư trực tiếp của ngoại quốc (FDI) đã và đang giảm xuống, trong lúc Hà Nội đang bị thâm thủng thương mại với Trung Quốc. Trung Quốc là bạn hàng thương mại lớn nhất của Việt Nam.

Người ta chỉ cần nhìn vào lịch sử của Úc gần đây để tiên đoán tình thế đối diện với Trung Quốc của Việt Nam. Sau  khi bỏ túi những mối lợi to lớn từ việc bán các tài nguyên cho Trung Quốc, chính sách đối ngoại của Úc hiện nay đang nghiêng hẳn hướng về Trung Quốc và xa lìa khỏi nước Mỹ, một đồng minh truyền thống của họ. Điều tương tự như thế đang áp dụng cho Việt Nam; có sự phản đối của người trong nước hay không, thì thỏa thuận ngầm bán bauxite nầy chẳng bao lâu nữa sẽ đẩy Việt Nam gần hơn vào quỹ đạo của Trung Quốc.

 

Lời Bình của Trần Hoàng:

[1] Ở đoạn văn nầy, ta thấy tác giả bài báo rất nhầm lẫn, tác giả viết rằng: “Cả hai quốc gia vẫn có thể có được phúc lợi một cách thương mại từ mối liên doanh mỏ bauxite, nếu như Hà Nội trở nên nhạy bén hơn nữa tới những điều quan ngại đã được nêu lên bởi Tướng Giáp và những ngươi ủng hộ ông ta…”

Tác giả không hiểu rằng: đại tướng VNG và những người phản đối kế hoạch bauxite hoàn toàn không muốn Trung Quốc (hay bất cứ nước nào) khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Tướng Giáp và nhóm phản đối khai thác bauxite đưa ra 4, 5 điểm chính để hổ trợ cho quan điểm của họ.

_Trước hết, họ phản đối không muốn cho TQ khai thác bauxite ở Tây Nguyên vì mặt an ninh quốc phòng.

_Kế đến là việc khai thác bauxite ảnh hưởng lớn đến vấn đề môi trường và gây thiệt hại trên mức độ quá lớn và quá lâu dài cho sinh thái, ô nhiễm nguồn nước tiêu dùng, ảnh hưởng sức khỏe người dân, không có chỗ chứa các loại bùn quá độc hại, …

_Thứ ba là về mặt kinh tế, việc khai thác là không có lợi vì VN phải đầu tư vốn vào quá lớn. Thí dụ VN không có đập thủy điện đủ cung ứng cho khai thác, rồi mặt tốn tiền nhiều nhất là VN cần phải xây 270 Km đường xe lửa để chuyển vận bột nhôm ra hải cảng tốn ít lắm là 5-7 tỉ đô la, rồi phải đầu tư xây hải cảng cho TQ chở nhôm về nước của họ tốn ít nhất là 2 tỉ Mỹ kim. (tổng giám đốc tập đoàn Than và Khoán Sản VN cũng cho rằng việc lời lỗ chỉ là 50/50). Chưa kể  giá bột oxit nhôm là do TQ quyết định và hiện nay các hãng TQ đang bán lỗ vì không ai mua bột nhôm do kinh tế xuống.

_Thứ Tư là yếu tố văn hóa xã hội. Việc di dời người dân tộc ra khỏi mảnh đất của họ là không thể chấp nhận được.

Tóm lại, ở đoạn văn nầy, tác giả không am hiểu về sự nguy hại của khai thác bauxite đối với người VN trong các mặt : an ninh, môi trường, kinh tế, văn hóa xã hội, và sức khỏe.

http://www.lantabrand.com/cat1news1282.html

———————–

 

The Straits Times (Singapore)
July 4, 2009 Saturday

Vietnam: Heading into China’s orbit

Editorial

Generals are not natural tree-huggers, but Vietnamese war hero Vo Nguyen Giap caused a stir recently when he publicly opposed Hanoi’s approval of a Chinese plan to exploit bauxite reserves in his country’s Central Highlands. In a state where people are routinely jailed for criticising government policy, General Giap’s outburst highlights how Vietnam’s civil society is evolving. Supported by other critics, he said Hanoi’s US $15 billion (S $22 billion) plan to tap the country’s bauxite reserves would damage the environment, displace minority populations and threaten national security.

The outburst by Gen Giap – who in his heyday defeated the French and American armies – is significant. There is no love lost between Vietnam and China. Save for a period of amity in the 1960s, China dominated Vietnam for 1,000 years. The two countries fought a brief war in 1979.

Despite its ingrained suspicion of its northern neighbour, however, Vietnam had approved the bauxite deal. This underscores a pertinent concern: China’s grand strategy of scouring the world to find vital energy and mineral resources, never mind the consequences.

A Foreign Affairs article argues that China has adapted its foreign policy to its domestic development strategy to an unprecedented level by encouraging state-controlled companies to seek out contracts in Africa. The worry is that China has pursued such contracts – and political patronage – while giving scant regard to issues such as human rights abuses, arms proliferation and environmental degradation.

Still, Beijing’s growth-at-all-costs strategy could emerge as a win-win for both Vietnam and China. Both countries can still benefit commercially from the bauxite venture, if Hanoi becomes more sensitive to the concerns raised by Gen Giap and his supporters. Recently, Hanoi appeared to be moving in this direction, saying it would review the project’s environmental impact and delay its full implementation.

In the final calculation, however, the magnetic pull of China’s economy might prove too compelling for Hanoi. Vietnam is in dire economic straits. Foreign direct investment has plunged, while Hanoi runs a trade deficit with China – its biggest trading partner. One only needs to look at Australia’s recent history to predict Vietnam’s position vis-a-vis China. After reaping massive benefits from selling resources to China, Canberra’s foreign policy is now tilting more towards China and away from its traditional ally, the United States. The same applies to Vietnam as well; domestic opposition or no, the bauxite deal could soon push it closer to China’s orbit.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Kinh tế Việt Nam, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước | Tagged: , | Leave a Comment »

SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGƯỜI HOA Ở VN

Posted by adminbasam on 04/07/2009

NGƯỜI HOA TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

TS Châu Thị Hải *

Viện Khoa học xã hội Việt Nam

 

Trong cuộc Hội thảo Việt Nam học lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội vào mùa thu năm 1998, tôi đã có dịp đưa ra thảo luận vấn đề: Diễn biến địa lý và lịch sử trong quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hoá Việt – Hoa. Tôi có dự định sẽ thảo luận những vấn đề tiếp theo như: người Hoa với quá trình hình thành và phát triển các đô thị thương mại ở Việt Nam; người Hoa với các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc; với quá trình đổi mới đất nước; đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới hiện nay,… tại cuộc hội thảo Việt Nam học lần thứ hai. Nhưng đáng tiếc là thời gian đó tôi chưa có cơ hội để tham gia. Thực ra, những vấn đề này không phải là hoàn toàn mới, ở chừng mực nào đó chúng đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu của tôi và các nhà khoa học ở Việt Nam (1). Nhưng để nhận thức một cách đầy đủ về đặc điểm của cộng đồng người Hoa qua các thời kỳ lịch sử Việt Nam; những đặc điểm đó bắt nguồn từ đâu; chúng có những biểu hiện tích cực và tiêu cực như thế nào đến sự phát triển của cộng đồng này nói riêng và của lịch sử Việt Nam nói chung; làm thế nào để hạn chế những biểu hiện tiêu cực và phát huy những yếu tố tích cực cho sự phát triển cộng đồng,…cho đến nay thiết nghĩ vẫn cần tiếp tục đưa ra thảo luận. Tuy nhiên, trong phạm vi một bản báo cáo khoa học, tôi không thể trình bày một cách dàn trải tất cả những vấn đề đặt ra mà chỉ tập trung thảo luận sự hiện diện của cộng đồng người Hoa và vai trò của họ trong lịch sử Việt Nam. Do giới hạn số trang trong bản báo cáo khoa học, tôi chỉ trình bày tập trung vai trò của họ trong thời kỳ hình thành và phát triển của các đô thị thương mại thời kỳ cổ trung cận đại Việt Nam và cũng chỉ tập trung vào những hoạt động kinh tế của họ. Thời kỳ từ khi Việt Nam thực hiện chính sách Đổi mới đến nay sẽ đưa ra thảo luận trong một dịp nào đó (mặc dù một số những hoạt động của người Hoa trong thời kỳ này chúng tôi cũng đã công bố trong ít nhiều công trình nghiên cứu của mình).

Khác với nhiều thành phần dân tộc cư trú trên đất nước Việt Nam, cộng đồng người Hoa là một thành phần dân tộc “phi nguyên trú”, họ di cư từ các tỉnh phía Nam Trung Hoa sang. Có thể nói do đặc điểm địa lý, so với các nước trong khu vực, người Hoa đến Việt Nam khá sớm. Theo nguồn thư tịch cổ Việt Nam, họ đến đây từ thế kỷ thứ III trước công nguyên. Không kể binh lính và các đội quân xâm lược, người Hoa di cư vào Việt Nam rồi định cư ở đây thường diễn ra phổ biến từ sau các cuộc nội chiến ỏ Trung Quốc. Đó là các thời kỳ cuối Đường – đầu Tống (960 – 1279); cuối Tống – đầu Nguyên (1279 – 1368); cuối Nguyên – đầu Minh 1368 – 1644); cuối Minh – đầu Thanh (1644 – 1911). Theo dòng lịch sử cùng với sự biến động của lịch sử Trung Quốc, số lượng người Hoa đến Việt Nam ngày càng tăng dần. Họ cư trú khá tập trung ở những nơi có điều kiện buôn bán làm ăn, dần dần hình thành các khu phố Khách (Chinatowns). Tại Việt Nam có bốn trung tâm thương mại nổi tiếng mà ở đó người Hoa đã đóng một vai trò trung tâm trong hoạt động thương mại. Đó là đô thị thương mại Vân Đồn thế kỷ XV, đô thị Phố Hiến thế kỷ XVI, đô thị Hội An thế kỷ XVII và Sài Gòn – Chợ Lớn thế kỷ XVIII, XIX. Trong đó các đô thị Vân Đồn, Phố Hiến, Hội An vai trò người Hoa chỉ nổi lên trong một thời gian rồi suy yếu cùng với sự suy tàn của các đô thị này. Nhưng ở Sài Gòn – Chợ Lớn vai trò hoạt động thương mại của người Hoa vẫn trường tồn theo năm tháng và ngày càng phát triển từ đô thị thương mại trong thế kỷ XVIII đến nay đã trở thành một thành phố thương mại sầm uất nhất của nước Việt Nam.

Trước hết nói đến các đô thị thương mại ở Đàng Ngoài. Theo Ngô Thì Sỹ, ở Đàng ngoài đến cuối thế kỷ XVII có khoảng 5, 6 vạn người Hoa ở rải rác nhiều nơi, nhưng tập trung nhiều thương nhân nhất lúc bấy giờ là hai trung tâm buôn bán: Kẻ Chợ (Thăng Long – Hà Nội ngày nay) và Phố Hiến (Hưng Yên). Trung tâm Kẻ Chợ là nơi tập trung hàng hóa từ các miền phục vụ cho các tầng lớp quan lại và người dân kinh thành. Còn Phố Hiến là trung tâm giao dịch hàng hoá quốc tế, vừa là nơi tập kết nhưng cũng vừa là nơi phân phối hàng hóa cho các vùng miền khác nhau. Cũng theo Ngô Thì Sỹ, ở Phố Hiến lúc bấy giờ có khoảng 2000 nóc nhà phân bố ở 10 phường khác nhau, trong số đó nhà của người Hoa và người Nhật tập trung tại hai khu phố riêng biệt là “Phố Khách” (phố người Hoa) và “phố người Nhật”1. Họ làm chủ thị trường nội địa và tuyến hàng giao dịch giữa Phố Hiến và các đô thị trong nước; giữa Phố Hiến và các thuyền buôn Trung Quốc và các nước đến từ khu vực Đông Nam Á. Với vai trò này, các trung tâm buôn bán của người Hoa ở Phố Hiến trở thành các khu trung chuyển hàng hoá. Sách Hoà – Hán* tam tài đô hội có ghi một số mặt hàng cụ thể từ Phố Hiến được xuất khẩu sang Nhật Bản do người Hoa đảm nhiệm. Đó là lụa, lĩnh, đũi, nhung, tơ, bông, xạ hương,…chưa kể đến lượng hàng hóa được xuất khẩu sang các nước Anh, Pháp, Hà Lan, Philippin, như trong tấm bia “Anh linh Vương” ở Phố Hiến có nhắc đến., chắc chắn các mặt hàng từ bốn phương trong cả nước và có thể từ một số nước đã tụ hội về Phố Hiến thông qua vai trò của Hoa thương.

Trước và sau Phố Hiến một thời gian, ở Việt Nam còn có các đô thị hoạt động mà ở đó vai trò buôn bán của người Hoa cũng nổi lên khá rõ nét. Đó là cảng thị Vân Đồn, Vạn Ninh, Cần Hải và Hội An. Trước hết nói đến cảng thị Hội An nằm bên bờ sông Thu Bồn, cách Thành phố Đà Nẵng 25 km về phía Nam và 8 km từ biển vào, ngay từ đầu thế kỷ, Hội An đã trở thành cảng khẩu và trung tâm thương mại lớn nhất của Việt Nam thời giờ và là địa điểm trung chuyển hàng hóa quan trọng không chỉ của khu vực Đàng Trong của Việt Nam mà còn là của cả khu vực Đông Nam Á.

Những thương gia Trung Quốc đến buôn bán và cùng với những dòng người di cư đến đây đã hình thành nên khu “Phố Khách” sầm uất, cùng với khu “Phố người Nhật” đã làm cho bộ mặt của Hội An trở thành một đô thị vừa mang tính thương mại vừa mang tính đô thị kiều dân giống như đô thị Phố Hiến ở Đàng ngoài của Việt Nam. Họ đến đây từ đầu thế kỷ XVII nhưng đến giữa thế kỷ XVII – khi triều Minh bị quân đội Mãn Châu lật đổ, số người nhập cư tăng lên nhanh chóng làm cho số lượng người Hoa ở Hội An chiếm phần chủ yếu trong cơ cấu dân cư đô thị.

Chúa Nguyễn đã cho họ cư trú trong từng khu riêng biệt gọi là Minh Hương xã (làng Minh Hương). Thế kỷ XVII, dân số Minh Hương khoảng 6 nghìn người. Khi nói đến người Hoa và người Nhật, người truyền giáo Ch.Borri đã viết: “Người Hoa và người Nhật là những người buôn bán chính trong phiên chợ kéo dài 4 tháng hàng năm. Chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã cho phép họ xây dựng một thị trấn nơi họ đã chọn để cư trú. Thị trấn này gọi là Faifo, nó khá rộng và được chia thành hai khu phố riêng biệt của người Nhật và người Hoa. Họ có cơ quan quản lý riêng và sống theo phong tục tập quán riêng của mỗi nước. Sau khi chính phủ Nhật Bản thi hành chính sách đóng cửa, dân số người Nhật giảm sút nhanh chóng từ hàng ngàn gia đình chỉ còn lại 5 gia đình. Trong khi đó dân số người Hoa vẫn tiếp tục tăng lên và giao lưu buôn bán giữa Trung Quốc và Hội An hoặc giữa Trung Quốc và các nước qua vai trò trung chuyển của Hội An vẫn tiếp tục phát triển. Hàng hóa buôn bán của người Hoa ở đây khá đa dạng. Họ phân phối các loại hàng do các thuyền buôn từ Trung Quốc và các nước Xiêm, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Hà Lan,…mang đến như đồng, tơ lụa, đồ sứ, thuốc chữa bệnh,…và thu gom các loại sản phẩm như lụa, trầm hương, kỳ nam, quế, hồ tiêu, yến sào, xạ hương,… đặc biệt là vàng để bán lại cho các chủ tàu từ các nước nói trên 2. Như vậy, người Hoa ở Hội An thực sự đã trở thành một lực lượng buôn bán chính và là một lực lượng môi giới quan trọng trong quá trình giao lưu thương mại giữa Việt nam và các nước ngoài khu vực và trên thế giới. Không những thế, cùng với đặc trưng cư trú của mình, người Hoa còn góp phần vào quá trình định hình bộ mặt đô thị thuơng mại Hội An.

Hình thành muộn hơn Phố Hiến ở Đàng Ngoài và Hội An ở Đàng Trong, Sài Gòn – đô thị ở vùng phía Nam của Việt Nam cũng là một trung tâm thương mại sầm uất mà ở đó người Hoa cũng đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động buôn bán. Sài Gòn là một đô thị thương nghiệp với vô số chợ lớn nhỏ: chợ Bến Nghé, chợ Cây Đa còm, chợ Bến Thành, chợ Tân Kiểng, chợ Quán, chợ Nguyễn Thục, chợ Bình An,…, khu phố Chợ Lớn là trung điểm của mọi hoạt động buôn bán mà người Hoa là lực lựợng chủ lực của trung điểm này. Sau khi bị quân Tây Sơn phá huỷ khu trung tâm thương mại Cù Lao Phố (Biên Hoà), thương gia người Hoa đã chạy xuống khu vực Tây Cống (Chợ Lớn ngày nay) năm 1778. Họ tụ hội tại đây và hình thành nên một phố chợ để tiếp tục hoạt động buôn bán (gọi là Bazar Chinois – chợ người Hoa). Trước khi hình thành Bazar Chinois, ở đây đã có khu phố thị của người Việt, tuy chợ của người Hoa xây sau nhưng lại bề thế hơn nên gọi là Chợ Lớn (sau này thương gia người Hoa Quách Đàm tiếp tục lập ra Chợ Lớn mới nay là chợ Bình Tây). Chợ Lớn trên thực tế là khu vực tiếp nhận sự di dời của cả một cảng thị lớn của vùng Nam Bộ ở Cù Lao Phố (Biên Hoà) nên tuy mới hình thành nhưng nó đã thừa kế được tiềm năng hoạt động buôn bán của khu vực cũ, các thương gia người Hoa chỉ chuyển đổi hình thức hoạt động từ thu mua lâm sản sang hình thức dịch vụ xay xát, xuất khẩu lúa gạo và cung cấp nhu yếu phẩm cho vùng đồng bằng sông Cửu Long đang trong thời kỳ phát triển. Dưới thời nhà Nguyễn, đặc biệt là dưới thời Lê Văn Duyệt, do chính sách mở rộng giao lưu và khuyến khích tiếp nhận tàu buôn nước ngoài đến buôn bán làm ăn ở khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn, người Hoa có điều kiện phát huy khả năng hoạt động xuất nhập khẩu lúa gạo và vai trò môi giới của mình. Dưới thời Lê Văn Duyệt, Chợ Lớn đã trở thành một trung tâm giao dịch sôi động và là thời kỳ làm ăn thịnh vượng của người Hoa kể từ sau khi cuộc tàn sát của quân Tây Sơn. Vì thế, cho đến tận bây giờ, ngưòi Hoa ở khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn vẫn xem họ Lê như một vị thần tài của Sài Gòn 3.

Như vậy, trước khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, người Hoa đã đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thưong nghiệp. Vai trò này có điều kiện phát huy sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, nhất là qua hai cuộc khai thác thuộc địa vào đầu thế kỷ XX. Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự chuyển biến kinh tế của Việt Nam. Nó đã tạo điều kiện hình thành mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa, thúc đẩy quá trình hoạt động buôn bán của người bản xứ, đặc biệt là người Hoa, trong đó tư bản thương mại người Hoa chiếm vị trí quan trọng, chiếm 62% trong tổng số vốn thương mại, còn tư bản Pháp chỉ chiếm 38%. Nếu trong tổng số vốn tư bản thuộc địa ở Việt Nam là 224 triệu Fr. thì tư bản Pháp và tư bản người Hoa đã chiếm tới 222 triệu Fr., còn tư bản người Việt và người các nước khác chỉ có 2 triệu Fr., chiếm 0,5%. 4 Một mặt nhờ tính đa dạng về nghề nghiệp, tính tổ chức chặt chẽ, tính tương đồng về ngôn ngữ trong quá trình thiết lập hệ thống kinh doanh mạng, người Hoa có lợi thế trong nắm bắt thị trường; mặt khác, lại được chính quuyền Mãn Thanh và chính quyền thuộc địa Pháp có chính sách ưu ái đối với họ. Chính quyền Mãn Thanh thi hành chính sách bất bình đẳng trong hoạt động thương mại với Việt Nam như cấm người Việt vào sâu trong nội địa của Trung Quốc để buôn bán, kể cả đường bộ lẫn đường thuỷ, trong khi đó người Hoa vẫn được phép vượt biên giới mỗi tháng 6 lần sang Trung Quốc và Việt Nam để mua bán lúa gạo. Biện pháp này đã giúp người Hoa làm chủ thị trường Việt Nam cho đến khi hàng hoá phương Tây tràn ngập thị trường này, sự độc quyền của người Hoa không còn nữa. Họ phải tiến hành cạnh tranh quyết liệt với các lực lượng tư bản nước ngoài. Nhưng chính sự cạnh tranh này đã giúp họ năng động hơn trong khi lựa chọn ngành nghề hoạt động. Lợi dụng ưu thế về ngôn ngữ vừa biết tiếng Việt vừa có tiếng Hoa, họ nhanh chóng thiết lập mạng lưới kinh doanh của mình trong hệ thống buôn bán lúa gạo ở vùng đồng bằng Nam Bộ và khu vực Sài Gòn – Chợ lớn. Những thương gia Hoa cũng như những mạng lưới của họ ở khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn đã thực sự mang lại quyền lợi cho tư bản Pháp trong việc tiến hành thu mua và xuất khẩu lúa gạo ở “vựa thóc Nam Kỳ”. Như vậy, trước khi ngành công nghiệp thực sự đưa lại sự giàu có cho Đông Dương, ngành xuất khẩu (chủ yếu là xuất khẩu lúa gao và sắt thép) là ngành tiêu biểu cho sự giàu có của cả khu vực này. Về ngành thương mại nói chung và ngành xuất khẩu nói riêng chủ yếu nằm trong tay thương nhân Hoa 5.

So với tư sản người Việt, tư sản người Hoa là chỗ dựa xã hội đáng tin cậy của người Pháp ở Đông Dương, vì dù sao tư sản người Việt còn có tinh thần dân tộc, cơ sở kinh tế lại quá bé nhỏ nên không đủ sức đảm nhiệm vai trò môi giới chuyển giao hàng hóa giữa ngoại quốc và nội địa, mà chỉ có “Hoa kiều là những người duy nhất có đủ sức mua và có đủ tư cách mua những hàng hoá của Pháp để dùng ở khu vực thành thị, họ trở thành những người trung gian tuyệt vời giữa người ngoại quốc và người bản xứ. Tất cả những đặc điểm đó đã làm cho người Pháp kiêng nể họ. Các vị Toàn quyền Pháp ở Đông Dương đã thừa nhận vai trò, vị trí của người Hoa, không bao giờ thấy Hội đồng dân biểu Đông Dương đòi hỏi chính quyền phải có những biện pháp hạn chế đối với họ, không những thế, trong phiên họp ngày 3/8/1900, Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ còn ra quyết nghị miễn cho người Hoa nộp khoản tiền đăng bạ năm đầu khi họ mới đến”6.

Tuy đã dành cho người Hoa phần ưu ái như vậy, nhưng người Pháp không bao giờ quên rằng họ phải chiếm độc quyền trong hoạt động thương mại ở Việt Nam. Để có thể chiếm được vị trí độc quyền trong hoạt động thương mại, người Pháp đã lập ra Ngân hàng Đông Dương (Banque de L’Indochine) năm 1873 trên cơ sở hợp nhất các tổ chức tài chính: “Chiết khấu ngân hàng quốc gia” (Comptoi r national d’ Escompte), “Ngân hàng kỹ nghệ và thương mại” (Crédit Industriel et Commercial), ngân hàng Paris và Hà Lan (Banque de Paris et des Pays – Bas), và Tổng công ty (Société générale). Từ đó Ngân hàng Đông Dương trở thành trung tâm phát hành giấy bạc và trở thành một bộ phận chủ chốt của hệ thống khai thác thuộc địa. Trong điều kiện như vậy, các nhà buôn người Hoa lập ra các tổ chức tài chính của mình để tham gia cạnh tranh với tư bản độc quyền Pháp. Ngân hàng Pháp – Hoa đã được thành lập bên cạnh các ngân hàng Đức, Anh 7. Tuy nhiên, hệ thống tài chính non trẻ của người Hoa không thể cạnh tranh được với các tổ chức tài chính dày dạn kinh nghiệm của tư bản Pháp và tư bản người Âu khác, các thương gia người Hoa ở Sài Gòn thành lập “Phòng thương mại” trên cơ sở các tổ chức tín dụng của người Hoa. Đây là một tổ chức tài chính khá chặt chẽ theo hệ thống khép kín có khả năng điều hoà giá cả trên thị trường và điều khiển những hoạt động buôn bán của người Hoa ở Việt Nam. Nhờ hệ thống tài chính này, người Hoa đã vượt qua được cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1919 – 1923 và 1929 – 1933 để cạnh tranh với các thế lực tư bản nước ngoài ở Việt Nam và tiếp tục đứng vững trên nhiều lĩnh vực hoạt động kinh doanh. Trong các ngành tư bản khác, vốn của tư bản người Hoa cũng khá lớn, chiếm 24%, trong tổng số vốn của tư bản thuộc địa, chỉ đứng sau tư bản Pháp. Không chỉ ở Sài Gòn – Chợ Lớn và trong ngành xay xát lúa gạo, ngay trong nhiều ngành công nghiệp nhẹ ở Hải Phòng, Hà Nội, người Hoa cũng nắm trong tay nhiều xí nghiệp vừa và nhỏ. Năm 1939 ở Hải Phóng có 70 xí nghiệp, người Hoa chiếm 24, người Pháp 38, và người Việt chỉ có 6. Hầu hết các xí nghiệp của người Hoa thuộc loại vừa và nhỏ nên số vốn đầu tư của họ không lớn. Năm 1943 vốn đầu tư của người Hoa ở Đông Dương chỉ có 82 triệu Fr. chiếm 20% trong khi đó, tổng số vốn đầu tư tư bản nước ngoài là 4 tỉ Fr.8 Nói tóm lại, người Hoa đã xuất hiện trong xã hội Việt Nam từ khá sớm và cùng đồng hành với lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ. Từ khi nền kinh tế hàng hoá Việt Nam mới hình thành trong các thế kỷ XVI, XVII, XVIII, và phát triển trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Ở thời điểm nào hình ảnh và vai trò, vị trí kinh tế của người Hoa cũng khá nổi bật. Từ vai trò môi giới, trung gian trong giao dịch hàng hoá, đến làm chủ các hãng buôn xí nghiệp, người Hoa đã thể hiện khá thành công những đặc tình kinh doanh của mình. Đó là cách thức vận dụng các mối quan hệ họ hàng, sự tương đồng về văn hóa, ngôn ngữ để thiết lập một hệ thống kình doanh khép kín. Họ đặc biệt tôn trọng và tận dụng chữ “tín” để giải quyết các hợp đồng nóng khi thời cơ đến. Khả năng tự huy động nguồn vốn có hiệu quả qua các hình thức tín dụng gia đình,….là những yếu tố dẫn đến thành công của họ qua các thời kỳ lịch sử. Những yếu tố này sẽ được phát huy như thế nào trong quá trình tiếp tục khẳng định vai trò và vị trí của họ trong nền kinh tê đổi mới của Việt Nam cũng như trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay, chúng ta sẽ tiếp tục thảo luận trong một dịp khác.

 

* Ghi chú của Ba Sàm:  Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” . Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;

Và các bài tham luận trong Hội thảo đã được đăng trên Nhật báo Ba Sàm:

92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ

93:QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP

149:QUAN HỆ VN-LX ‘65-’75

150:SÁCH ĐỊA CHÍ Ở MIỀN NVN(’54-’75)

156.CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN

162.TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH

191.CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM ĐỔI MỚI

217.VN-TQ THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

219.TUẦN TRA,KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ:1802-1858

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lâm Kim Chi. Xem xét một số vấn đề Hoa kiều Nam Dương qua sách ghi lịch sử dòng họ tộc phả của quê hương Hoa kiều Phúc Kiến. Tạp chí Bắc Kinh số 3, 1980. 2. Hoa kiều chí (Tổng chí). Uỷ ban Hoa Kiều chí Đài Loan biên soạn, 1956. 3. Ngô Văn Hoà, Dương Kinh Quốc. Giai cấp công nhân Việt Nam những năm trước khi thành lập Đảng. Nxb KHXH, Hà Nội, 1978. 4. Trần Văn Đỉnh. Vấn đề Hoa kiều Nam Dương. Tạp chí Quê Hương, Sài Gòn, số 15 (1960), số 19 (1961), số 20 ( 1962). 5. Khương Hữu Điểu. “Người Việt gốc Hoa và nền kinh tế Việt Nam”. T/c Cấp Tiến, Sài Gòn, 1970. 6. Đô Thị Hội An. Nxb KHXH, Hà Nội, 1991. 7. Lê Quý Đôn. Phủ biên tạp lục. Hà Nội, 1964. 8. Trần văn Giàu. Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1987.. 9. Châu Hồng Liên (Châu Thị Hải). Các loại hình liên kết khác nhau trong cộng đồng người Hoa ở Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XX, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 – 1991. 10. Châu Hải. Các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam.Nxb KHXH, Hà Nội, 1992. 11. Châu Hải. Triều Nguyễn với cộng đồng người Hoa ở Việt Nam thế kỷ XIX. T/c Nghiên cứu lịch sử. số 4 (275) VII – VIII, 1994. 12. Châu Thị Hải (đồng chủ biên). Bước đầu tìm hiểu quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt -Hoa trong lịch sử. Nxb Thế giới. 1998. 13. Châu Thị Hải. Vị trí kinh tế người Hoa ở các nước ASEAN. Nghiên cứu Đông Nam Á, 1998. 14. Châu Thị Hải. Người Hoa với liên kết khu vực trong bối cảnh toàn cầu hóa. Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4 – 2001. 15. Châu Thị Hải. Người Hoa Việt Nam và Đông Nam Á: hình ảnh hôm qua và vị thế hôm nay. Nxb KHXH, H.2006. 16. Đào Trinh Nhất. Thế lực khách trú và di dân vào Nam Kỳ. Hà Nội, 1924. 17. Lý Trường Phó. Trung Quốc thực dân sử. Thương vụ ấn thư quán phát hành, Đài Loan, năm 1936. 18. Sài Gòn xưa và nay. T/c Xưa và nay, Nxb Trẻ, 1998. 19. Vương Hồng Sến. Sài Gòn năm xưa. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1997. 20. Amer Ramses. The Ethnic Chinese in Vietnam and Sino – Vietnamese Relation. Forum, Kualalumpur, 1991. 21. Amer Ramses. The Study of Ethnic Chinese in Vietnam. Trends, Issue and Challeges, Asian Culture, Singapore, 1998, June, No.22. 22. Chau Hai. The Chinese in Pho Hien and their relation with the other Chinese in other Urban Areas of Vietnam”/PHO HIEN: the Centre of International Comerce in the XVII – XVIII Centuries. The Gioi Publishers, Hanoi – 1994. 23. Chau Thi Hai. Trade Activities of the Hoa along the Sino – Vietnamese Border/ Where CHINA Meets SOUTHEAST ASIA: Social & Cultural Change in the Border Region ( eds. By Grant Evants, Christopher Huton, & Kuah Khun Eng). published by Institute of Southeast Asian Studies, Singapore – 2000. 8

24. Chau Hai. The Policies on Chinese residents (Hoa) through various Historical periods in Vietnam/ Ethnic Minorities and Policies in Southeast asia (eds. By thomas Engelbert, Hans dieter Kubitscheck). PETER LANG, Frankfurtam Main – Berlin – Bern – Bruxelles – New York – oxford – Wien,2004. 25. Pursell.V. The Chinese in Southeast Asia, London, 1965. 26. Pierre Rechard Ferey. Le Viet nam au XXe siecle, Presses Universitaires de France, Paris, 1979. 27. Tsai Maw Kuey. Les Chinois au sud Viet Nam, Paris, 1968.

 

1 .Phan Huy Lê – Chu Thiên – Vương Hoàng Tuyên – Đinh Xuân Lâm. Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Tập III, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1960, tr.165. * “Hoà “là Nhật và “Hán “là Hoa

2 Lê Quý Đôn. Phủ Biên tạp lục. Hà Nội, 1964, tr.105

3 Sơn Nam. Người Hoa. Tạp chí Xưa và nay, Nxb Trẻ, 1998, tr.155.

4 Đào Trinh Nhất. Thế lực Khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ, H.1924, tr. 20

5 Pierre – Richard Ferey Le Viet Nam au XXe sìecle, Presses Universitaires de France, Paris, 1979, tr.45…

6 Pierre – Richard Ferey Le Viet Nam au XXe sìecle, Presses Unive rsitai ré de France, Pải s, 1979, tr..45.

7 Pie rre – Richard Ferey. Le Viet Nam au XXe sìecle, sách đã dẫn, tr. 48 – 49

8 Ngô Văn Hoà, Dương kinh Quốc.Giai cấp công nhân Việt nam những năm trước khi thành lập Đảng. Nxb KHXH, Hà Nội, 1978, tr.197. 7

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Kinh tế Việt Nam, Lịch sử, Trung Quốc | Tagged: , , , , | Leave a Comment »

Những dấu hiệu nguy hiểm về kinh tế ở Việt Nam

Posted by adminbasam on 02/07/2009

THE WALL STREET JOURNAL

Nhiều người đã nhìn thấy những dấu hiệu nguy hiểm trong các giải pháp

kích cầu của Việt Nam

JAMES HOOKWAY PATRICK BARTA

Ngày 2-7-2009

 

Việt Nam đang khoe khoang rằng mình là một trong những nền kinh tế mau phục hồi nhất trên thế giới trong năm nay, thế nhưng các kinh tế gia đang lo ngại là sự thành công nầy đang che giấu những vấn nạn nghiêm trọng, khi những rủi ro trong các khoản cho vay lỏng lẻo, trực tiếp, không rõ ràng của nhà nước đang đẩy Việt Nam vào trong một cơn ảo tưởng đầu cơ mới.

Những mối quan ngại này đã được nhấn mạnh vào hôm thứ Ba, khi Fitch Ratings (một tổ chức xếp hạng, đánh giá mức độ tín dụng, tài chánh, kinh tế,… của các quốc gia, tập đoàn, hãng xưởng của toàn thế giới) đã hạ thấp giá trị của đồng nội tệ của Việt Nam xuống, bằng việc dẫn ra “một nhịp độ giảm giá trị đều đặn trong vị thế tài chính của quốc gia này” và một hệ thống ngân hàng “có thể bị tổn thương vì căng thẳng tiềm tàng trong hệ thống nầy” trong khi nền kinh tế bị ngập lụt vì các khoản tín dụng mà chính phủ đổ vào.

Những mối lo âu tương tự đang ảnh hưởng lên Hoa Kỳ và Trung Quốc, các nước nầy đang ở dưới áp lực để chuẩn bị làm chậm lại hoặc ngưng bớt các khoản tiền của chính phủ bơm vào để thúc đẩy nền kinh tế. Song những nỗi lo là đặc biệt không thể nào nhầm lẫn được ở Việt Nam, một trong những nền kinh tế đang nổi lên được (các nước) theo dõi sít sao nhất và là một nơi ngày càng có sức cuốn hút quan trọng đối với đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Phần lớn nền kinh tế của nước này bị thống trị  bởi các doanh nghiệp nhà nước, mà các doanh nghiệp này hiện có một lịch sử là  thực hiện những khoản đầu tư dại dột ra bên ngoài lĩnh vực kinh doanh chính của họ, các khoản đầu tư nầy góp phần cho hành vi may rủi, có cơ nguy thua lỗ rất cao vừa qua và cho những thời kỳ phát triển quá nóng.

Kể từ khi khởi đầu của cơn khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các ngân hàng của nhà nước VN đã đổ ít nhất 19 tỉ đô la những khoản vay vào trong nền kinh tế, tương đương với khoảng 1/5 tổng sản phẩm quốc nội của nước này, theo tin từ chính phủ cho hay. Lượng tiền nầy là một mục hổ trợ chủ chốt của một chương trình kích cầu mà trong đó nhà nước cung cấp các khoản trợ cấp lãi suất (thấp) cho các ngân hàng để họ có thể thực hiện nhiều khoản cho vay nhằm giúp các doanh nghiệp nhà nước và các nhà xuất khẩu.

Các biện pháp nầy tỏ ra đang được phát huy hiệu quả trong ngắn hạn, với dự báo tăng trưởng của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF là 3,3% trong năm nay, trong khi các nước láng giềng như Thái Lan và Malaysia phải đối mặt với những suy giảm nặng nề.

Hôm thứ Tư, chính phủ cho biết tổng sản phẩm quốc nội GDP đã tăng lên 3,9% trong nửa đầu năm so với một năm trước, với mức tăng trưởng đang lên sẽ đạt 4,5% vào quý 2, từ mức 3,1% của quý một. Nền kinh tế của Việt Nam đã tăng trưởng 6,2% trong năm 2008 và 8,5% năm 2007.

Hiện nay, giá cả trên thị trường chứng khoán cũng đột ngột tăng cao hơn, với chỉ số điểm chuẩn của Việt Nam lên tới 86% kể từ đầu tháng Ba. Theo các kinh tế gia cho biết, thì giá nhà ở đang leo thang tại nhiều nơi ở thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm buôn bán và là nơi trú đóng của thị trường chứng khoán.

Cung cấp nhiều khoản tín dụng là “một chiến lược đúng đắn. Các giải pháp kích cầu của chúng tôi buộc các ngân hàng phải cho vay mượn một cách có hiệu quả,” theo nhận xét ông Lê Xuân Nghĩa, phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, một trong những người đảm trách điều chỉnh vấn đề tài chính trọng yếu của quốc gia.

Thế nhưng với quá nhiều tiền bạc được rót vào nền kinh tế, nhiều người dân mà chúng tôi gặp trên đường phố đã lo ngại cho một sự quay trở lại của lạm phát (đồng tiền mất giá), từng vọt lên tới 28% vào giữa năm 2008 trước khi lắng dịu ở mức 5,6% vào tháng Năm này.

Nhiều người Việt Nam đang phản ứng lại bằng cách đầu tư bất cứ khoản tiền nào mà họ có thể gom góp với nhau được vì lo ngại lạm phát hồi sinh. Ví dụ, như trong những vùng ngoại ô nghẹt thở vì bụi ở Hà Nội, một cơn bùng nổ bất động sản hiện đang ở vào cao nhất. Một loạt các doanh nghiệp nhà nước và các công ty tư nhân đang dựng lên một vòng cung các khu thị trấn vệ tinh nằm quanh trong khu vực để nới lỏng tình trạng tắc nghẽn trong lòng Hà Nội cũ, nơi mà những chiếc xe hơi và các xe tải chen lấn chèn ép ngang vượt qua hàng đàn xe gắn máy và xe đạp.

Nguyễn Thị Huyền, một người môi giới bán nhà cửa cho dự án Khu đô thị Mới Văn Khê, cho biết cô đang có liền khoảng 10 hoặc nhiều hơn các khoản đầu tư trong một tháng cho những dự án phát triển này, tăng hai tới ba lần so với cùng kỳ năm ngoái. Một số các ngôi nhà đã bán qua tay chủ khác năm lần hoặc hơn và giá cả đã được nhân lên tới sáu lần kể từ khi dự án được khởi động vào thời đỉnh điểm của cuộc bùng nổ năm 2007 ở Việt Nam, cô cho biết.

Những người mua “đang lo sợ về tình trạng lạm phát và muốn đầu tư tiền bạc của họ vào đâu đó cho an toàn,” cô Huyền cho biết trong khi thắp lên một ngọn nến trên một cái bàn thờ đặt trong văn phòng của mình, nơi có hàng đống những miếng giấy in hình tờ bạc 100 đô la được đặt lên để lấy may.

Một số kinh tế gia ở Việt Nam lo ngại là các nhà lãnh đạo chính trị của nước này đang cứ dính chặt vào  trong những kế hoạch kinh tế năm năm hướng vào tăng trưởng quá đến nổi họ sẽ không muốn  khóa cái vòi nước tiền bạc kích cầu lại cho tới khi lạm phát đã ngóc đầu dậy một lần nữa. Vào tháng Tư, chính phủ đã nới rộng lên hai năm một chương trình cho vay kích cầu với khoản hỗ trợ lãi suất là 4% mọi khoản vay từ các ngân hàng Việt Nam cho khu vực kinh doanh, khích lệ các ngân hàng hăng hái cho vay mượn tiền hơn.

“Họ đang cố vặn ngược chiếc kim đồng hồ trở lại năm 2006 và 2007, khi tên của trò chơi đã từng là xuất khẩu càng nhiều càng tốt cho những người Mỹ tiêu pha hoang phí. Thế nhưng, người Mỹ có thể sẽ không quay trở lại thói quen chi tiêu như trước nữa, và chúng tôi có thể đi đến kết cục với một loạt vấn nạn lạm phát một lần nữa,” một nhà kinh tế, có hiểu biết gần với quan điểm của chính phủ, cho biết.

Trong khi “chính phủ đã thành công trong việc giữ ổn định nền kinh tế” trong những tháng gần đây, thì các quan chức “cũng cần xem xét tới những rủi ro trong dài hạn, ví như khả năng thanh toán bằng tiền mặt phát triển quá độ trong hệ thống ngân hàng và khả năng tiềm ẩn để gây bùng nổ nạn lạm phát,” theo ông Trần Lê Khanh, trưởng ban đầu tư của Prudential Vietnam Fund Management, công ty quản lý quỹ tại Việt Nam của Prudential PLC.

Ngân hàng Thế giới (WB) đã cảnh báo chính phủ Việt Nam trong một báo cáo vào tháng trước rằng việc cho vay trực tiếp từ nhà nước có thể làm chậm lại việc sửa chữa, xây dựng lại các doanh nghiệp quốc doanh, và thay vào đó Việt Nam có thể tập trung vào việc trợ giúp dân chúng là những người bị mất việc làm trong cuộc suy thoái này. “Có lẽ là tốt để tạm dừng lại và suy nghĩ xem liệu việc nâng đỡ các hoạt động kinh tế có nên tiếp tục là một quyền ưu tiên duy nhất hay không,” Ngân hàng Thế giới gợi ý.

Các nhà phân tích (kinh tế và tài chánh) khác thì lo ngại là việc cho vay nhiều có thể làm gia tăng các vấn nạn nợ xấu trong khu vực ngân hàng. Về mặt chính thức, các khoản cho vay không đòi lại được đang ở mức 2,6%, tăng từ 2,2% vào cuối năm ngoái. Thế nhưng Việt Nam đã không tính tới những tỉ lệ nợ xấu (cho vay nhưng không đòi lại được) theo các tiêu chuẩn quốc tế. Fitch Rating mới đây đã đánh giá con số thực của các món nợ cho vay mà không đòi lại được tiền có thể cao vào khoảng 13% trong tổng số các khoản vay nợ cho tới cuối năm 2008. Vào hôm thứ Ba, trong bảng xếp hạng hạ thấp Việt Nam xuống của tổ chức này, tổ chức này cho biết chương trình hỗ trợ cho vay của nước này “hầu như chắc chắn sẽ làm cho nhiều vấn đề xấu thêm.”

Hiệu đính: Trần Hoàng

———————-

 

The Wall Street Journal

Danger Signs Seen in Vietnam Stimulus

JULY 2, 2009

By JAMES HOOKWAY and PATRICK BARTA

HANOI — Vietnam boasts one of the developing world’s most resilient economies this year, but economists fear the success masks serious problems, as loose state-directed lending risks pushing Vietnam into a new speculative bubble.

Those concerns were highlighted Tuesday, when Fitch Ratings downgraded Vietnam’s local currency rating, citing “a steady deterioration in the country’s fiscal position” and a banking system that’s “vulnerable to potential systemic stress” as the government floods the economy with credit.

Similar worries affect the U.S. and China, which are under pressure to prepare to pull in the reins of government stimulus. But the fears are especially pronounced in Vietnam, one of the most-closely watched emerging economies and an increasingly important magnet for foreign direct investment. Much of its economy is dominated by state enterprises that have a history of making ill-advised investments outside their core businesses, which have contributed to past speculative behavior and bouts of overheating.

Since the onset of the global economic crisis, state banks have poured at least $19 billion in loans into the economy, equivalent to about one-fifth of the country’s annual gross domestic product, according to the government. The money is a key plank of a stimulus program in which the state provides interest-rate subsidies to banks so they can make more loans to help state enterprises and exporters.

The measures appear to be paying off in the short term, with the International Monetary Fund forecasting growth of 3.3% this year, while neighbors such as Thailand and Malaysia face steep contractions.

On Wednesday, the government said GDP expanded 3.9% in the first half of the year compared with a year earlier, with growth accelerating to 4.5% in the second quarter from 3.1% during the first quarter. Vietnam’s economy expanded 6.2% in 2008 and 8.5% in 2007.

Stock market prices are also sharply higher, with Vietnam’s benchmark index up 86% since the beginning of March. Residential property prices are climbing in many parts of Hanoi, the capital, and Ho Chi Minh City, the center of commerce and home to the stock exchange, economists say.

Providing lots of credit is “a good strategy. Our stimulus measures force banks to lend productively,” says Le Xuan Nghia, vice chairman of the National Financial Supervisory Commission, one of the country’s main financial regulators.

But with so much money being funneled into the economy, many people on the street fear a return of inflation, which accelerated to 28% in mid-2008 before easing to 5.6% in May.

Many Vietnamese are responding by investing whatever cash they can scrape together as fears about inflation revive. In the dust-choked eastern suburbs of Hanoi, for instance, a property boom is in full swing. A series of state and privately owned companies are erecting an arc of satellite towns in the area to ease congestion in old Hanoi, where cars and delivery trucks struggle to squeeze past swarms of motor-scooters and bicycles.

Nguyen Thi Huyen, a broker for the Van Khe New Urban City project, says she is putting together 10 or more deals a month at the development, up from just two or three this time last year. Some units have changed hands five times or more and prices have risen six-fold since the project was launched at the peak of Vietnam’s boom in 2007, she says.

Buyers are “worrying about inflation and want to invest their money somewhere safe,” Ms. Huyen says, lighting a candle at a shrine in her office where several piles of facsimile $100 bills are stacked up for good luck.

Some economists in Vietnam fear the country’s politicians are so enmeshed in their growth-oriented five-year economic plans that they won’t be willing to turn off the stimulus tap until inflation has already reared its head again. In April, the government extended by two years a lending-stimulus program that pays four percentage points of interest on any loans by Vietnamese banks to the business sector, encouraging banks to lend more aggressively.

“They are trying to turn back the clock to 2006 and 2007, when the name of the game was exporting as much as possible to profligate Americans. But Americans might not resume spending again in the same way, and we could end up with a serious inflation problem again,” says an economist with close knowledge of government thinking.

While the “government’s been successful at stabilizing the economy” in recent months, officials “also need to consider the longer-term risks, such as excess liquidity in the banking system and its potential to spark inflation,” says Tran Le Khanh, chief investment officer at Prudential Vietnam Fund Management, Prudential PLC’s Vietnam fund business.

The World Bank cautioned the Vietnamese government in report last month that state-directed lending could be hampering overhauls at state enterprises, and Vietnam might instead want to focus on helping people who have lost their jobs in the downturn. “It might be good to pause and reflect whether sustaining economic activity should remain the single priority,” the World Bank said.

Other analysts worry the lending spree could escalate bad debt problems in the banking sector. Officially, non performing loans stand at 2.6%, up from 2.2% at the end of last year. But Vietnam doesn’t calculate bad-debt rates according to international standards. Fitch Ratings recently estimated the real figure may have been as high as 13% of total loans at the end of 2008. In its ratings downgrade Tuesday, it said the country’s loan-subsidy program “is almost certain to make matters worse.”

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Kinh tế Việt Nam | Tagged: , | Leave a Comment »

Mekong 2009:Dòng sông câm nín

Posted by adminbasam on 01/07/2009

Đài Pháp RFI

Mekong 2009 : Dòng sông câm nín

Bài đăng ngày 01/07/2009

Bài viết sau đây của tác giả Ngô Thế Vinh cung cấp cho bạn đọc những thông tin không chỉ về chuỗi 14 con đập bậc thềm Vân Nam mà là một cái nhìn toàn cảnh về những bước khai thác hủy hoại trên suốt chiều dài của dòng sông kể cả khúc hạ lưu với thêm 11 con đập mới. Theo tác giả, nan đề của Việt Nam thế kỷ 21 là tham vọng bành trướng vô hạn, liên tục của Trung Quốc đang từng bước “Tây Tạng hóa” biển Đông, khống chế toàn con sông Mekong.


Gửi Nhóm bạn Cửu Long

LỜI DẪN_ Dư luận mới đây lại một thoáng xôn xao khi có phúc trình của Liên Hiệp Quốc đề cập tới con đập mẹ Xiaowan/ Tiểu Loan cao nhất thế giới vừa hoàn tất, cùng với những tác hại của chuỗi đập Vân Nam như một “mối đe dọa duy nhất-lớn nhất / the single greatest threat”đối với hệ sinh thái sông Mekong. Báo chí trong nước có vẻ đang được phép mạnh dạn lên tiếng “Hãy Cứu Sông Mekong” dĩ nhiên với rất ít đụng chạm tới nước lớn Trung Quốc mà chỉ với các nước láng giềng nhỏ như Thái Lan, Lào, Căm Bốt khi nói tới nguy cơ thêm 11 con đập thủy điện chắn ngang dòng chính sông Mekong khúc Hạ Lưu. Rất đáng lưu ý là Trung Quốc đã có liên hệ trực tiếp đầu tư tới 4 trong số 11 con đập ấy, không kể 14 con đập bậc thềm Vân Nam đã là sở hữu của riêng họ.

Nhưng không lẽ chờ tới năm 2009, sắp qua đi thập niên đầu của thế kỷ 21, đứng trước “sự đã rồi”giới khoa học trong nước mới “dè dặt” lên tiếng bày tỏ mối quan ngại về việc Trung Quốc xây đập và hồ chứa nước trên thượng nguồn sông Mekong. Đối với các nhà hoạt động môi sinh bên ngoài, trong đó có “Nhóm Bạn Cửu Long” họ đã biết rõ và liên tục lên tiếng báo động từ hơn một thập niên qua về hiểm họa các dự án xây đập của Trung Quốc và cả các con đập hạ lưu.

Với sự đồng ý của tác giả, RFI và báo Khởi Hành cùng giới thiệu bài viết mới của bác sĩ nhà văn Ngô Thế Vinh, tác giả 2 cuốn Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng và Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch nhằm cung cấp cho bạn đọc những thông tin không chỉ về chuỗi 14 con đập bậc thềm Vân Nam mà là một cái nhìn toàn cảnh về những bước khai thác hủy hoại trên suốt chiều dài của dòng sông kể cả khúc hạ lưu với thêm 11 con đập mới. Cũng để thấy rằng nan đề của Việt Nam thế kỷ 21 là tham vọng bành trướng vô hạn không ngưng nghỉ của nước lớn Trung Quốc đang từng bước “Tây Tạng hóa” biển Đông, khống chế toàn con sông Mekong và đã cắm được mũi dao nhọn vào cuống họng Tây Nguyên vốn là một địa bàn chiến lược sinh tử của Việt Nam.

TIN CHẤN ĐỘNG: THÊM 11 CON ĐẬP HẠ LƯU

“Cứu Lấy Sông Mekong”, đó là tiêu đề của một kiến nghị mới đây được dịch ra 7 thứ tiếng với hơn 15000 chữ ký (18-06-2009) được gửi tới thủ tướng Thái Lan Abhisit Vejjajiva cùng với các chánh phủ khác trong lưu vực như Lào, Căm Bốt, Việt Nam, bày tỏ mối quan ngại về dự án chuỗi 11 con đập Hạ Lưu chắn ngang dòng chính sông Mekong, nhất là với hai con đập Ban Koum 2330 MW và Pak Chom 1079 MW của Thái Lan. Kiến nghị trên đã không được gửi tới Bắc Kinh mặc dù Trung Quốc đã và đang xây những đập thủy điện Vân Nam lớn hơn các dự án vùng Hạ Lưu rất nhiều, và ngay cả trong số 11 dự án đập Hạ Lưu, đã có 4 con đập do các công ty Trung Quốc trực tiếp đầu tư vào.

“Nỗi Sợ Hãi Trung Quốc/ Sinophobia” có thể nói là mẫu số chung của các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

Đâu phải là bất ngờ mà nẩy ra kế hoạch 11 con đập lớn Hạ Lưu chắn ngang dòng chính sông Mekong. Đó là một tiến trình phát triển liên tục từ nhiều năm, khi nhanh khi chậm, do cấu kết của các công ty tư bản xây đập với các chánh phủ độc tài trong vùng. Phản ứng ồn ào của các nhóm cư dân liên hệ và cả những nhà hoạt động môi sinh chỉ có giá trị biểu trưng chứ không có thực lực đối trọng để có thể ngăn chặn hay thay đổi tiến trình ấy.

Cách đây hơn hai năm, theo tin báo The Nation Bangkok (04/11/2007), bộ Năng lượng Thái cho tiến hành khảo sát tính khả thi của dự án đập thủy điện khổng lồ Ban Koum công suất 2230 Megawatt chắn ngang dòng chính sông Mekong nơi tỉnh Ubon Ratchathani đông bắc Thái với dự trù kinh phí lên tới 2,5 tỉ Mỹ kim.

Theo Prakob Virojkut, viện trưởng đại học Ubon Ratchathani, dự án này sẽ bị các quốc gia láng giềng như Lào, Căm Bốt và Việt Nam chống đối. “Chẳng phải dễ dàng để thực hiện một công trình xây đập lớn như vậy do những ảnh hưởng rộng rãi trên địa phương và liên quốc gia”. Lào sẽ là quốc gia đầu tiên chống dự án này vì ảnh hưởng tới dịch vụ bán điện của Lào sang Thái Lan. Lào vẫn được coi như một “xứ Kuwait thủy điện” của Đông Nam Á.

Đa số cư dân Thái đều có thái độ chống đối dự án đập vì họ đã từng trải qua kinh nghiệm đắng cay về con đập Pak Moon 15 năm trước đây. Pak Moon là một con “đập-dòng-chảy / run-of-river” trên sông Moon, phụ lưu sông Mekong, cao 17m, hoàn tất tháng 11/1994 với công suất 136 MW là con đập đầu tiên có thang cá / fish ladder, nhưng cá đã chẳng có trí thông minh như người để biết “leo thang” về nguồn. Đập Pak Moon rõ ràng là một thất bại toàn diện về điện năng với thêm bao nhiêu tác hại cho nguồn cá và môi sinh đến mức cư dân Thái đòi hỏi phá con đập.

Không phải là mới, các dự án đập thủy điện chắn ngang sông Mekong vùng Hạ lưu đã có từ thời Ủy Ban Sông Mekong. Cũng vị trí những con đập ấy đã được các cơ quan tham vấn Canada và Pháp tái đề xuất và Ban Thư Ký Sông Mekong ấn hành năm 1994. Đây sẽ là một chuỗi “đập-dòng-chảy” cao từ 30 tới 40 mét, gồm chuỗi những hồ chứa với tổng chiều dài khoảng 60 km, và sẽ có  khoảng 57000 dân phải di rời. Nhưng rồi các dự án ấy bị gác lại vì quá tốn kém và cả do mối e ngại về tác hại rộng rãi trên môi sinh.

Kể từ đầu năm 2006, các công ty Thái Lan, Mã Lai và Trung Quốc – lại vẫn Trung Quốc, lại được phép tiếp tục thực hiện những cuộc khảo sát về tính khả thi của 6 con đập, sau đó tăng lên tới 11 con đập vùng Hạ Lưu, bao gồm từ bắc xuống nam:

1/ Đập Pak Beng, Lào 1320 MW; bảo trợ dự án: công ty “Trung Quốc” Datang International Power Generation Co. và chánh phủ Lào.

2/ Đập Luang Prabang, Lào 1410 MW; bảo trợ bởi Petrovietnam Power Co. và chánh phủ Lào.

3/ Đập Xayabouri, Lào, 1260 MW, tỉnh Xayabouri, Lào; bảo trợ bởi công ty Thái Lan Karnchang và chánh phủ Lào.

4/ Đập Pak Lay, Lào, 1320 MW tỉnh Xayaburi; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc” Sinohydro Co. tháng 6, 2007 để khảo sát của dự án.

5/ Đập Xanakham, Lào, 1000MW; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc” Datang International Power Generation Co.

6/ Đập Pak Chom, biên giới Lào Thái, 1079 MW

7/ Đập Ban Koum, biên giới Lào Thái,  2230 MW, tỉnh Ubon Ratchathani; bảo trợ bởi Italian-Thai Development Co., Ltd và Asia Corp Holdings Ltd. và chánh phủ Lào.

8/ Đập Lat Sua, Lào, 800 MW; bảo trợ bởi Charoen Energy and Water Asia Co. Ltd. /Thái Lan và chánh phủ Lào.

9/ Đập Don Sahong 360 MW, tỉnh Champasak, Lào: được bảo trợ bởi công ty Mã Lai Mega First Berhad Co.

10/ Đập Stung Treng, Cam Bốt, 980 MW; bảo trợ bởi chánh phủ Nga

11/ Đập Sambor, Cam Bốt; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc”/ China Southern Power Grid Co. / CSGP.

Bắc Kinh đã sở hữu 14 con đập bậc thềm Vân Nam hoàn toàn trong lãnh thổ Trung Quốc, nay lại có mặt thêm nơi 4 / 11 dự án thuộc khu vực Hạ Lưu, đó là các con đập Pak Beng, Pak Lay, Xanakham, Sambor.

Riêng Việt Nam (Petrovietnam Power Co.) thì bảo trợ cho dự án đập Luang Prabang 1410 MW. Do chỉ thấy lợi lộc ngắn hạn, với chọn lựa theo “tiêu chuẩn nước đôi / double standard”, Hà Nội sẽ chẳng thể còn kêu ca được gì trước Liên Hiệp Quốc khi nói về tác hại của chuỗi đập Mekong đối với Việt Nam.

HÃY CỨU SÔNG MEKONG

Khi mà những lượng giá chi tiết về xã hội và môi sinh của từng con đập không được công khai hoá, thì đã có nhiều tổ chức và các nhà hoạt động môi sinh nêu rõ những tác hại nghiêm trọng và lâu dài trên hàng triệu cư dân sống bằng nguồn nước nguồn cá của dòng sông Mekong.

Vào tháng 5/2007 hơn 30 nhà khoa học đã cùng một lúc gửi giác thư lên các chánh phủ thuộc lưu vực và Ủy Hội Sông Mekong lưu tâm tới những sự kiện khoa học hiển nhiên về ảnh hưởng tác hại trên ngư nghiệp của con đập Don Sahong ở tỉnh Champasak, Lào. Tương tự như vậy, con đập Sambor, Căm Bốt sẽ chặn cá từ Biển Hồ di chuyển lên thượng nguồn, tác hại nghiêm trọng tới nguồn cá của Căm Bốt, chiếm tới 12% tổng sản lượng quốc gia – GDP.

Kết quả nghiên cứu 2004 của Ủy Hội Sông Mekong đã nhận định việc xây đập cho nhu cầu thủy điện đã coi nhẹ tương lai nguồn cá và ngư nghiệp của sông Mekong. Trái với những rêu rao của các tập đoàn tư bản xây đập cho rằng nếu điều hợp tốt thì có thể giảm thiểu hậu quả tiêu cực từ những con đập nhưng đã không có một biện pháp nào có thể giảm thiểu tác hại trên nguồn cá.

Ủy Hội đã rất thụ động trước sự tái phục hoạt của các dự án đập thủy điện lớn đe dọa tới toàn hệ sinh thái. Không những thế, Ủy Hội đã không có thông báo gì cho cư dân ven sông mối hiểm nguy của những con đập lớn hạ lưu, kể cả tránh phổ biến những tin tức bất lợi với hậu quả tiêu cực của các dự án đập. Với sự bất lực ấy, người ta tự hỏi về tương lai và vai trò tổ chức này có còn hữu ích gì không trong tiến trình bảo vệ dòng Sông Mekong?

Các nhà hoạt động môi sinh kêu gọi tinh thần trách nhiệm cũng như sự trong sáng trong tổ chức liên chánh phủ này. “Ủy Hội cần chứng tỏ là một tổ chức hữu ích cho quần chúng, chứ không phải là cho các nhà đầu tư,” Surichai Wankaew, giám đốc Viện Nghiên Cứu Xã Hội, Đại học Chulalongkorn, nói tiếp, ông mong muốn nhiệm vụ Ủy Hội thay đổi, thay vì “tạo thuận / facilitation” cho việc xây đập, thì nay phải là “diễn đàn / platform” cho cư dân bị ảnh hưởng nói lên mối quan tâm của họ. Cũng trước đó một ngày, đã có hơn 200 tổ chức môi sinh từ 30 quốc gia yêu cầu Ủy Hội và các nhà tài trợ ngưng ngay các dự án xây đập.

Tuy nhiên, Suchart Sirichan Sakul, là thành viên Ủy Hội Quốc gia Mekong Thái Lan lập luận rằng Ủy Hội không có thẩm quyền để cấm hay cho phép xây các con đập. Ông nói tiếp: “Tôi sợ rằng các tổ chức phi chánh phủ đã hiểu lầm về sự kiện rằng chúng tôi chỉ là một tổ chức tham vấn nên không có quyền “nói có hay không” với bất cứ một dự án xây đập nào. Các nhà hoạt động môi sinh nên nhắm vào chánh phủ của chính quốc gia có dự án xây đập.

Thêm kháng thư gửi Ủy Hội Sông Mekong và các Cơ quan Tài trợ nhân cuộc họp tại Siem Reap vào ngày 15/11/2007: “Chúng tôi, những nhóm công dân viết lá thư này để bày tỏ mối quan tâm về sự tái phục hoạt các chương trình xây đập trong vùng Hạ lưu sông Mekong, cùng với sự bất lực của Ủy Hội thực hiện Thỏa Ước Mekong 1995 trong tình hình nghiêm trọng hiện nay. Chúng tôi được biết các chánh phủ Thái, Lào và Căm Bốt đã cho phép các công ty Thái Lan, Mã Lai và Trung Quốc – lại vẫn Trung Quốc,  thực hiện các cuộc khảo sát về tính khả thi 6 con đập thủy điện lớn vùng Hạ lưu sông Mekong. Đây cũng chính là 6 địa điểm đã được các cơ quan tham vấn của Canada và Pháp đề xuất từ 1994, nhưng kế hoạch lúc đó đã không được tiến hành vì bị cho là quá tốn kém và gây hủy hoại môi sinh nghiêm trọng. Trong cuộc hội thảo kỹ thuật lần thứ 6 của Ủy Hội năm 2003 về cá trên sông Mekong, các chuyên gia đã đưa tới kết luận rằng “bất cứ con đập nào trên dòng chính sông Mekong cũng tàn hại trên nguồn cá và vị trí con đập Sambor có thể coi là tệ hại nhất.”

Lẽ ra Ủy Hội có thể lên tiếng khuyến cáo ngăn chặn các dự án xây đập của các quốc gia ven sông nhưng họ thì vẫn cứ im lặng một cách đáng ngạc nhiên. Những cuộc khảo sát của các công ty Thái Lan, Mã Lai và Trung Quốc bao giờ cũng nói tới những lợi lộc của các con đập nhưng lại rất ít quan tâm tới ảnh hưởng lâu dài trên sinh cảnh môi trường và trước mắt là hàng bao nhiêu chục ngàn cư dân ven sông sẽ phải di dời tới một nơi và một tương lai vô định.

Mekong là một con Sông Quốc Tế, với nguồn tài nguyên mà tất cả các quốc gia ven sông đều có quyền cùng chia sẻ chứ không chỉ để phục vụ cho các nhóm tài phiệt hay một quốc gia riêng lẻ nào.

Khi mà không một quốc gia nào còn có quyền phủ quyết theo điều lệ mới của Ủy Hội Sông Mekong 1995, người ta có thể thấy trước được là trong thực tế sẽ vẫn mạnh ai nấy làm và Ủy Hội Sông Mekong chưa hề là một tổ chức đoàn kết có tầm vóc để được coi là đối trọng trong các cuộc tranh chấp với các tập đoàn tư bản và nhất là với nước lớn Trung Quốc.

MỘT THOÁNG ÔN CỐ TRI TÂN

Nhìn lại hơn nửa thế kỷ từ ngày thành lập Ủy Ban Sông Mekong, cũng là thời điểm đánh dấu con sông Mekong trước dồn dập những nguy cơ. Trên trang Web WWF / World Wide Fund for Nature, đã ghi nhận: Mực nước con sông Mekong tụt thấp xuống tới mức báo động kể từ 2004 và trở thành những hàng tin trang nhất trên báo chí. “Trung Quốc làm kiệt mạch sống sông Mekong – New Scientist”; “Sông Mekong cạn dòng vì các con đập Trung Quốc – Reuters AlertNet”; “Xây đập và con sông chết dần – The Guardian”; “Sông cạn do các con đập Trung Quốc – Bangkok Post”. Hầu hết đều mạnh mẽ quy trách nhiệm cho việc xây các con đập thủy điện của Trung Quốc trên khúc sông thượng nguồn. Và cũng chính WWF đặt câu hỏi: Thế nhưng bức tranh toàn cảnh ra sao, từ ngày khai sinh ra tổ chức Ủy Ban Sông Mekong ?

ỦY BAN SÔNG MEKONG

Năm 1957, giữa thời kỳ chiến tranh lạnh, với bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, một Ủy Ban Sông Mekong (Mekong River Committee) được thành lập bao gồm 4 nước Thái, Lào, Căm Bốt và Nam Việt Nam, với kế hoạch đầy tham vọng phát triển toàn diện vùng Hạ Lưu sông Mekong nhằm cải thiện cuộc sống cho toàn thể cư dân sống trong lưu vực.

Cho dù có một nửa chiều dài sông Mekong chảy qua Vân Nam nhưng Trung Quốc lúc đó dưới thời Mao Trạch Đông đang là một quốc gia toàn trị và hoàn toàn khép kín nên không được nhắc tới.

Trước xa Trung Quốc, Ủy Ban Sông Mekong đã có “viễn kiến” đánh giá được tiềm năng thủy điện vô cùng phong phú của con sông nên đã phác thảo kế hoạch xây những đập thủy điện lớn trên dòng chính nơi vùng hạ lưu và đã có các dự án được coi là ưu tiên lúc đó:

– Dự án Pa Mong: cách Vạn tượng 15 dặm và là đập chứa nước chính của hệ thống đập sông Mekong, sẽ kiểm soát lưu lượng toàn con sông ra tới biển Đông. Cung cấp nguồn điện khoảng 2000 MW với hồ nước có chiều dài 210 dặm sẽ dìm sâu một vùng đất đai nhà cửa của khoảng 60000 dân cư phải di rời, nhưng sẽ cải thiện thủy lộ, nâng cao mức sống và phát triển của toàn miền đông bắc Thái.

– Dự án Sambor: cách Nam Vang 140 dặm về phía bắc, trong lãnh thổ Căm Bốt. Công trình sẽ khiến mức nước dâng cao, làm ngập suốt 50 dặm ghềnh thác và mở ra triển vọng giao thông đường sông giữa hai nước Lào và Căm Bốt, công suất lên tới 1000 MW, đủ cung cấp cho nhu cầu kỹ nghệ và dân dụng, đồng thời dùng cho việc bơm tưới các vùng đất đai canh tác thuộc Căm Bốt và Nam Việt Nam.

– Dự án Tonle Sap: là một đập chắn cửa vào Biển Hồ, như một hồ chứa thiên nhiên của con sông Mekong. Cửa đập sẽ mở ra trong mùa lũ để nước chảy ngược vào Biển Hồ tới mức dự trữ cao nhất và sẽ giảm thiểu lũ lụt. Trong mùa khô, cửa đập sẽ lại được mở ra từng phần, duy trì mức sông sâu cho tàu biển vẫn có thể ra vào sông Mekong và đồng thời giảm thiểu lượng nước mặn xâm nhập vào đồng bằng sông Cửu Long, từ đó có thể khai thác thêm các vùng đất đất bỏ hoang vì muối phèn, hạn hán hay lũ lụt. Với mực nước được giữ cao hơn trong mùa nước thấp, sẽ có hiệu quả làm gia tăng lượng cá trong Biển Hồ đang bị sa sút trầm trọng mà cá là nguồn protein chính cho người dân Căm Bốt.

Còn một số địa điểm khác cũng được Ủy Ban Sông Mekong nghiên cứu cho những con đập khác như:  Pak Beng, Pak Lay, Luang Prabang, Bang Kan, Thakhek, Pakse ở Nam Lào; Stung Treng ở Căm Bốt…

NHỮNG QUYỀN LỢI MÂU THUẪN

Khi mà mỗi kế hoạch đã ẩn chứa những mâu thuẫn về quyền lợi giữa các nước thành viên, nếu chỉ đứng trên quan điểm quốc gia hạn hẹp.

Một ví dụ liên quan tới dự án Pa Mong rất được Thái nhiệt tình cổ võ không chỉ do tiềm năng thủy điện lớn lao cung cấp cho kỹ nghệ và dân dụng mà còn do kế hoạch bơm tưới cho cả một vùng đông bắc Thái rộng lớn khô cằn với dân cư chiếm tới 2/5 tổng số dân Thái. Nhưng còn hậu quả môi sinh của Pa Mong đối với hai nước hạ nguồn Căm Bốt và Việt Nam ra sao thì đó lại không phải là mối quan tâm của Thái !

Ví dụ thứ hai, dự án Tonle Sap và Sambor rất được Việt Nam quan tâm, ngoài mục đích sản xuất điện, hai hồ chứa này có khả năng điều hòa mực nước hai mùa lũ lụt và khô hạn đồng thời ngăn chặn nước mặn từ biển lấn sâu vào vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhưng 2 dự án ấy đã bị Căm Bốt nghi kỵ bắt nguồn từ ám ảnh lịch sử vốn thiếu thân thiện giữa hai nước. Căm Bốt đã không coi vấn đề tăng lượng cá trong Biển Hồ và ngăn lũ là quan trọng nên đã tỏ ý không hợp tác.

Nhưng rồi từ thập niên 60 do cuộc chiến tranh Việt Nam lan ra cả 3 nước Đông Dương nên kế hoạch xây dựng các đập thủy điện lớn vùng Hạ Lưu của Ủy Ban Sông Mekong đã phải gián đoạn và con sông Mekong còn giữ được vẻ hoang dã thêm một thời gian nữa.

Trong khi đó “rất âm thầm nhưng với quyết tâm” từ phía bắc bên Trung Quốc đã mau chóng hình thành những kế hoạch “vĩ mô” khai thác nguồn thủy điện sông Mekong với dự án 7 con đập lớn sau tăng lên 14 con đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam (Mekong Cascades) và đã có 4 con đập hoàn tất ngay trong thập niên đầu của thế kỷ 21, để thấy rằng “Trung Quốc tuy đi sau nhưng đã sớm tới trước”.

ỦY BAN MEKONG LÂM THỜI

Chiến Tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975, nhưng vẫn còn một cuộc chiến diệt chủng của Khmer Đỏ diễn ra trên Xứ Chùa Tháp. Không có Căm Bốt, chỉ còn một Ủy Ban Mekong Lâm Thời (IMC/ Interim Mekong Committee) với hoạt động hạn chế.

Cũng trong thời gian này, Thái Lan có 2 kế hoạch táo bạo [Kong-Chi-Mun và Kok-Ing-Nan] chuyển dòng sông Mekong đưa một lượng nước lớn vào nội địa Thái không chỉ nhằm “cứu hạn” cho những cánh đồng lúa mà còn tiếp nước cho hồ chứa con đập thủy điện mang tên hoàng hậu Sirikit quanh năm thiếu nước.

Đó là các dự án của riêng Thái, không có trong kế hoạch ban đầu của Ủy Ban Sông Mekong. Khi gặp sự chống đối của Việt Nam, Thái phủ nhận tính cách pháp lý của Ủy Ban Sông Mekong, viện lý do là tổ chức này đã không còn phù hợp với những thay đổi về chánh trị, kinh tế và xã hội trong vùng. Trong điều kiện  phân hóa như vậy, Ủy Ban Mekong Lâm Thời hầu như bị tê liệt.

ỦY HỘI SÔNG MEKONG NHƯ MỘT XUỐNG CẤP

Bước vào thời bình do nhu cầu phát triển, sông Mekong đã trở thành mục tiêu khai thác của 6 quốc gia trong toàn Lưu Vực Lớn Sông Mekong. Cùng là những nước ven sông nhưng mỗi quốc gia lại có những ưu tiên về phát triển khác nhau với những quyền lợi mâu thuẫn. Do đó, phục hồi một tổ chức điều hợp liên quốc gia tương tự như Ủy Ban Sông Mekong trước đây là cần thiết.

Ngày 05 tháng 04 năm 1995, 4 nước hội viên gốc của Ủy Ban Sông Mekong  đã họp tại Chiang Rai, bắc Thái cùng ký kết một “Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong” và đổi sang một tên mới là Ủy Hội Sông Mekong (Mekong River Commission), với một thay đổi cơ bản trong Hiệp Ước mới này – thay vì như trước đây theo điều lệ của Ủy Ban Sông Mekong, mỗi hội viên có “Quyền Phủ Quyết/ veto power” bất cứ dự án nào bị coi là có ảnh hưởng tác hại tới dòng chính sông Mekong – thì nay, không một thành viên nào có quyền phủ quyết và trong ngôn từ để chuẩn y các dự án thì rất mơ hồ như chỉ qua thông báo và tham khảo. Đại diện Việt Nam là Ngoại Trưởng Nguyễn Mạnh Cầm đã thiếu thận trọng khi đặt bút ký cho một Hiệp Ước có thể nói là  “Không Bền Vững” này, để lại những di lụy cho Việt Nam vì là quốc gia cuối nguồn. Có thể nói Ủy Hội Sông Mekong là “biến thể và xuống cấp” của Ủy Ban Sông Mekong trước kia.

Mỗi quốc gia thành viên đều có một Ủy Ban Mekong Quốc Gia, và Ủy Ban Mekong Việt Nam có một địa chỉ rất nghịch lý: 23 phố Hàng Tre, Hà Nội nơi châu thổ Sông Hồng cách xa đồng bằng sông Cửu Long hơn 1600 km.

Khác với tham vọng chiến lược ban đầu của Ủy Ban Sông Mekong nay mục tiêu của Ủy Hội Sông Mekong có phần rất khiêm tốn và thu hẹp bao gồm: ba Chương Trình Nòng Cốt [Chương Trình Sử Dụng Nước, Chương Trình Phát Triển Lưu Vực; Chương Trình Môi Trường];  năm Chương Trình Khu Vực  [Canh Nông, Thủy Lâm, Ngư nghiệp, Giao Thông, Du lịch];  và một Chương Trình Yểm Trợ. (1)

Ủy Hội Sông Mekong được bảo trợ bởi các tổ chức quốc tế và quốc gia, các viện nghiên cứu, và cả hội tư nhân và đón nhận được sự  tài trợ lên tới 28 triệu đô la Mỹ năm 2000. Ủy Hội đã hoàn tất được vài thành quả ban đầu như đạt được thỏa thuận chia sẻ thông tin giữa 4 nước thành viên, thiết lập đưa vào sử dụng “mạng lưới internet” tiên đoán lũ lụt và theo dõi dòng chảy mùa khô và nhất là đạt được thỏa ước (04/ 2002) có thể gọi là lịch sử về trao đổi dữ kiện thủy văn [hydrological data exchange agreement] với Trung Quốc.

MỘT TRUNG QUỐC ĐI SAU NHƯNG VỀ TRƯỚC

Sau thời kỳ chiến tranh lạnh, Trung Quốc vẫn là một quốc gia toàn trị nhưng đã mở cửa ra với thế giới bên ngoài và vươn lên như một siêu cường.

Các dự án khai thác sông Mekong của Trung Quốc đã có từ thập niên 70. Mãi tới năm 1989, người ta mới được biết tới các dự án thủy điện qua một cuốn sách tiếng Hoa của nhà xuất bản Vân Nam Nhân Dân Thư Xã dày hơn 600 trang nhan đề “Lan Thương Giang: Tiểu Thái Dương / Lancang Jiang: Xiao Taiyang” gồm 45 bài viết về các đề tài khác nhau, nhưng tựu chung là chỉ đề cập tới những lợi lộc về thủy điện và nguồn nước của chuỗi những con đập trên sông Mekong tỉnh Vân Nam.

Do con sông Mekong từ Tây Tạng xuống Vân Nam chảy rất siết với rất nhiều ghềnh thác có nơi cao hơn 600 mét và được coi là lý tưởng cho việc xây cất một chuỗi những con đập khổng lồ, lại trên vùng  thưa dân nên không phải tốn kém trong việc tái định cư các nạn nhân trong vùng xây đập.

Vì thiếu ngân sách, nên mãi tới năm 1986, Trung Quốc bắt đầu xây con đập thủy điện lớn đầu tiên chắn ngang dòng chính sông Mekong:  (1) Đập Mạn Loan / Manwan cao 126 m, công suất 1500 MW, hoàn tất 1993. Tiếp đến là con đập thứ hai (2) Đập Đại Chiếu Sơn / Daichaosan cao 118 m, công suất 1350 MW, hoàn tất 2003. Rồi con đập thứ ba (3)] Đập Cảnh Hồng / Jinghong cao 107 m 1350 MW, đã hoàn tất 2007. Và gây chấn động nhất mới đây là con đập thứ tư vừa hoàn tất (4): Con đập Mẹ Tiểu Loan / Xiaowan, như một tháp Eiffel 292 mét, cao nhất thế giới, với công suất 4200 MW. Từ mùa hè năm nay 2009, đập Tiểu Loan bắt đầu ào ạt lấy nước từ con sông Mekong vào hồ chứa dài 150 dặm, dự trù phát điện vào năm tới 2010. Đập Tiểu Loan có khả năng cung cấp điện cho tới các tỉnh duyên hải rất xa như Thượng Hải.

Song song với con đập Tiểu Loan, những dự án chuỗi đập lớn Vân Nam khác vẫn được mạnh mẽ triển khai. Đáng sợ nhất là con “khủng long” Nọa Trác Độ /  Nuozhadu đang xây cất, dự trù hoàn tất năm 2014, với công suất 5500 MW, gấp 3 lần công suất đập Mạn Loan, với dung lượng hồ chứa 22740 Triệu mét khối / Million Cubic Meter, lớn hơn cả con đập Mẹ Tiểu Loan.

CHUỖI NHÂN TAI TỪ VÂN NAM

Theo Fred Pearce, vào đầu thập niên tới, chuỗi đập Vân Nam sẽ có khả năng giữ lại hơn nửa lưu lượng dòng chảy của con sông Mekong trước khi ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc. Đối với Bắc Kinh, con sông Mekong đã trở thành “Tháp Nước và Nhà Máy Điện” của riêng họ.(10)

Với hậu quả là nhịp độ “hai mùa khô lũ có từ ngàn năm” của con sông Mekong vốn dũng mãnh sẽ không còn nữa, cái quyền “hô phong hoán vũ” ấy nay đã nằm trong tay các công trình sư Đại Hán điều khiển giàn turbines của các con đập Vân Nam.

Vào tháng 05/2009, Chương Trình Môi Sinh Liên Hiệp Quốc đã phải lên tiếng cảnh báo rằng “chuỗi đập Vân Nam” là “mối đe dọa duy nhất – lớn nhất / the single greatest threat” đối với tương lai và sự phồn vinh của con sông Mekong, sẽ giết chết nhịp đập thiên nhiên của dòng sông vốn như một kỳ quan của thế giới.

Aviva Imhoff, giám đốc truyền thông Mạng Lưới Sông Quốc Tế / IRN đưa ra nhận định: Trung Quốc đang hành xử một cách hết sức vô trách nhiệm. Chuỗi đập Vân Nam sẽ gây ra những tác hại vô lường nơi hạ lưu, gây rối loạn toàn hệ sinh thái con sông Mekong xa xuống tới Biển Hồ, nó như một chuông báo tử cho ngư nghiệp và nguồn cá vốn là thực phẩm của hơn 60 triệu cư dân sống ven sông.

Để độc giả có một ý niệm về tầm vóc của chuỗi đập bậc thềm Vân Nam, ta hãy so sánh với một công trình khác được coi là “rất vĩ đại” của Mỹ: TVA  (Tennessee Valley Authority) với hệ thống các đập thủy điện trên con sông Tennessee. Số con đập Vân Nam là 14 trong khi TVA chỉ có 9. Độ dốc của của chuỗi đập Vân Nam là 1500 m, 12 lần cao hơn chuỗi đập TVA; tổng công suất chuỗi đập Vân Nam gấp 13 lần tổng công suất TVA. Như vậy đối chiếu với chuỗi đập Vân Nam thì đại công trình TVA nổi tiếng là vĩ đại bấy lâu của Mỹ nay đã trở thành một bóng mờ. [H.2]

Có dịp đến thăm đập Hoover trên sông Colorado gần Las Vegas, con đập tưởng như vĩ đại cao 221 mét, công suất 2080 MW, nhưng thực ra chỉ lớn hơn con đập Mạn Loan 1500 MW và chưa bằng nửa công suất của con đập Tiểu Loan  4200 MW. Do Mỹ đã tận dụng nước khúc thượng nguồn nên con sông Colorado đã cạn dòng không còn nước để ra tới biển, gây thảm cảnh cho bao nhiêu triệu cư dân Mễ sống nơi cuối nguồn. Phải chăng, đó cũng là tương lai của đồng bằng sông Cửu Long, sông sẽ cạn dòng để thay thế bằng ngập mặn và rồi ra không có một giống lúa hay cây trái nào sống sót được trong biển nước mặn ấy.

Rõ ràng trong mấy thập niên vừa qua, Trung Quốc đã không chỉ ào ạt xây thêm và xây thêm nữa những con đập thủy điện khổng lồ chắn ngang dòng chính sông Mekong, mà còn thực hiện kế hoạch phá đá và khai thông các khúc sông ghềnh thác để mở thủy lộ cho các con tàu 700 tấn đi về phương Nam và bất chấp hậu quả dùng sông Mekong làm con đường vận chuyển dầu khí từ giang cảng Chiang Rai lên Vân Nam.(2)

Tất cả đã và đang gây ảnh hưởng tích lũy tới nguồn nước là cá, nguồn phù sa là lúa gạo và cả gây ô nhiễm nghiêm trọng cho các quốc gia hạ nguồn. Đó là chưa kể tới nguy cơ vỡ đập do Vân Nam là vùng động đất.

Không chỉ đơn giản vì “thiếu mưa”, sự kiện sông Mekong cạn dòng với mực nước đột ngột tụt thấp xuống nơi vùng hạ lưu xuống xa tới tận Biển Hồ năm 1993 và 2003 mà không vào mùa khô, trùng hợp với thời điểm Trung Quốc bắt đầu lấy nước vào hồ chứa của 2 đập thủy điện Mạn Loan và Đại Chiếu Sơn trên Vân Nam.

Rồi vào nửa năm đầu 2004, mực nước đã xuống thấp hơn nữa trong toàn Vùng Hạ Lưu, không phải chỉ ở Thái Lan, Lào mà cả ở Căm Bốt và đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam.

Odd Bootha, 38 tuổi, anh lái đò bến Chiang Khong bắc Thái, đã than thở, “Nếu Trung Quốc cứ xây thêm đập thì sông Mekong chỉ còn là một con lạch.” Tình cảm bài Hoa rất mạnh ở vùng bắc Thái, chính dân làng đã công khai chống lại kế hoạch phá đá phá ghềnh thác khai thông sông Mekong của Trung Quốc.

Với Căm Bốt, ai cũng biết rằng trái tim Biển Hồ chỉ còn nhịp đập khi sông Mekong còn đủ nước chảy ngược vào Biển Hồ trong mùa lũ, như  một bảo đảm cho nguồn cá và vựa lúa của người dân xứ Chùa Tháp. Và chưa hề có bảo đảm nào cho một tương lai như vậy nếu không muốn nói là đã có những dấu hiệu xấu về một Biển Hồ đang chết dần.

Cũng vẫn theo Fred Pearce, tác giả cuốn sách “Khi Những Con Sông Cạn Dòng, Nước – Khủng Hoảng của Thế Kỷ 21” xuất bản 2006, trong chương sách viết về con sông Mekong đã có ghi nhận:

“… Cuối năm 2003 và đầu năm 2004 là thời gian tuyệt vọng trên Biển Hồ. Cơn lũ mùa hè thấp hơn. Thời điểm con sông Tonle Sap chảy ngược vào Biển Hồ đến trễ hơn và cũng chấm dứt sớm hơn. Thay vì 5 tháng con sông đổi dòng nay chỉ còn có 3 tháng. Rừng lũ / flooded forest thiếu ngập lũ và cá thì không đủ thời gian để tăng trưởng… Và mùa thu hoạch cá chưa bao giờ thấp như vậy. Tại sao ? Đa số ngư dân đổ tại con sông cạn dòng. Khi con nước cạn trước hoàng cung, thì sẽ không có cá dưới sông.”(3)

Cũng dễ hiểu là để có đủ nước vận hành những turbines trong các đập thủy điện Vân Nam, Trung Quốc đã thường xuyên đóng các cửa đập khiến mực nước sông đã xuống tới mức thấp nhất. Phía tả ngạn bên Lào, chỉ riêng trong tháng 3/2004, tổ chức du lịch đã phải hủy bỏ 10 chuyến du ngoạn trên sông chỉ vì những khúc sông quá cạn.  Chainarong Sretthachau, giám đốc Mạng Lưới Sông Đông Nam Á cho rằng “Trung Quốc đã có quyền lực để kiểm soát dòng sông Mekong.”

Sự chối từ của Trung Quốc tham gia vào Ủy Hội Sông Mekong khiến tổ chức này trở nên vô nghĩa trong nỗ lực điều hợp khai thác và phát triển bền vững nguồn tài nguyên của con sông Mekong.

CƠN KHÁT NĂNG LƯỢNG CỦA TRUNG QUỐC

Thực hiện thông điệp của Đặng Tiểu Bình “Chỉ Có Một Lựa Chọn: Sự Phát Triển”, Bắc Kinh đã chọn con đường phát triển bằng mọi giá, bất kể hậu quả môi sinh ra sao ngay cả trong đất nước Trung Quốc kể gì tới các quốc gia hạ nguồn. Do nhu cầu điện năng gia tăng 5-6% mỗi năm, để đáp ứng tốc độ phát triển kinh tế nhảy vọt, trước viễn tượng nguồn dầu khí ngày càng cạn kiệt, Trung Quốc ngoài việc gia tăng tốc độ xây thêm các lò điện nguyên tử, từ 1 tới 2 lò mới mỗi năm (National Geographic, Aug 2005). Đi xa hơn nữa, nếu không gặp sự chống đối mạnh mẽ từ các nhà lập pháp Mỹ, Công Ty Dầu Khí Ngoài Khơi Nhà Nước Trung Quốc CNOOC đã thành công mua đứt Unocal, công ty dầu khí lớn thứ hai của Mỹ với 18.5 tỉ Mỹ kim để sở hữu nguồn dầu khí chiến lược và cả khống chế quyền khai thác các túi dầu trên toàn Biển Đông. [NY Times, Aug 3, 2005].

Với khát vọng vô hạn về năng lượng, rõ ràng không có dấu hiệu nào và cũng là ảo tưởng nếu nghĩ rằng Trung Quốc sẽ dừng bước hay chậm lại các kế hoạch khai thác nguồn thủy điện vô cùng phong phú của con sông Mekong.

Nhận định về các kế hoạch khai thác sông Mekong của Trung Quốc, Tyson Roberts thuộc Viện Nghiên Cứu Nhiệt Đới Smithsonian [Mỹ] đã phát biểu: “Xây các đập thủy điện, khai thông thủy lộ, với tàu bè thương mại quá tải sẽ giết chết dòng sông… Các bước khai thác của Trung Quốc sẽ làm suy thoái hệ sinh thái, gây ô nhiễm tệ hại, khiến con sông Mekong đang chết dần, cũng giống như con sông Dương Tử  và các con sông lớn khác của Hoa Lục.”

Như một điệp khúc, chỉ có tác dụng ru ngủ, Bắc Kinh lúc nào cũng khăng khăng với lập luận là ảnh hưởng chuỗi đập Vân Nam trên sông Mekong là không đáng kể và còn có lợi nữa. Các con đập sẽ tạo thuận cho “chu kỳ lũ hạn hàng năm”, khai thông dòng sông sẽ làm gia tăng trao đổi thương mại trong vùng và giúp giảm nghèo.

Nhưng cũng công bằng mà nói, không phải tất cả suy thoái của con sông Mekong là đến từ Trung Quốc. Cũng phải kể tới phần ảnh hưởng phụ cộng thêm vào từ những con đập phụ lưu của Thái, Lào và Việt Nam, và mới đây là kế hoạch phục hoạt xây thêm 11 con đập lớn chắn ngang dòng chính sông Mekong dưới Hạ Lưu, chắc chắn sẽ càng làm suy thoái trầm trọng thêm toàn hệ sinh thái và giết chết dòng sông Mekong cũng là mạch sống của đồng bằng sông Cửu Long.

Sự thịnh vượng cho Lưu Vực là điều hứa hẹn nhưng chưa tới, và đã tới những hậu quả nhãn tiền do các bước khai thác tự hủy và thiếu trách nhiệm của Trung Quốc đối với nguồn tài nguyên sông Mekong, vốn là một con sông quốc tế, gây ảnh hưởng tác hại trực tiếp tới 70 triệu dân cư sống ven sông.

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HÂM NÓNG TOÀN CẦU

Tổ chức WWF đã đưa ra lời cảnh báo khối băng tuyết trên rặng Hy Mã Lạp Sơn, vốn là nguồn nước cho 7 con sông lớn của châu Á (sông Mekong, Salween, Dương Tử, Hoàng Hà và con sông Hằng, Indus, Brahmaputra), do hiện tượng hâm nóng toàn cầu, nay đang bị co lại với vận tốc từ 10 tới 15 mét / năm, do gia tăng tốc độ tuyết tan, với hậu quả ngắn hạn là làm tăng lưu lượng nước các dòng sông. Nhưng theo Jennifer Morgan, giám đốc Chương Trình Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu  (WWF for Nature’s Global Climate Change Programme), chỉ vài thập niên sau đó, tình hình sẽ đảo ngược với mực nước các con sông sẽ xuống rất thấp trong đó có con sông Mekong.(5)

WWF đã báo động tới nhóm các quốc gia kỹ nghệ G8 : “Thế giới sẽ phải đương đầu với thảm họa nếu mức độ hâm nóng toàn cầu không được giảm thiểu.” Tưởng cũng nên nhắc tới ở đây, siêu cường kỹ nghệ Hoa Kỳ dưới triều đại Bush là nước duy nhất trong số 155 quốc gia từ chối ký tên vào Nghị Định Thư Kyoto. Không phải chỉ có Trung Quốc, chính sách môi sinh thiển cận của tổng thống Bush trong một tương lai xa, cũng đã góp phần khiến những con sông thêm cạn dòng.

GIẢI PHÁP NGẮN HẠN ĐỂ SỐNG CÒN

Với Việt Nam, trong cuộc phỏng vấn của phóng viên Ánh Nguyệt / RFI [12/2004] khi được hỏi về tình trạng nhiễm mặn ngày càng trầm trọng nơi đồng bằng sông Cửu Long từ ngày Trung Quốc không ngừng tiến hành xây những con đập khổng lồ Vân Nam, giáo sư Võ Tòng Xuân, từng là trưởng Khoa Nông Học Đại Học Cần Thơ, một tên tuổi được gắn liền với giống lúa cao sản Thần Nông, nguyên viện trưởng Đại Học An Giang, đã phát biểu:  “Nông dân đồng bằng sông Cửu Long thích nghi nhanh, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, bỏ hẳn giống lúa cổ truyền, chuyển sang trồng lúa cao sản, nên chủ động tránh được lũ cũng như hạn hán. Ở những vùng bị nhiễm mặn, thay vì trồng lúa thì chuyển qua những loại cây khác hay chuyển qua sản xuất nuôi tôm xú chịu được nước lợ, rồi phong trào nuôi cua biển đang phát triển mạnh, người nông dân sẽ dùng nguồn nước mặn này để nuôi thủy sản với giá thành cao hơn là trồng lúa.

Hiện nay, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long đang vận dụng công nghệ sinh học, tìm những genes chịu mặn nhằm lai tạo những giống lúa cao sản tương đối chịu mặn hơn các giống lúa thường. Xa hơn nữa, Việt Nam đang cùng với nhóm MEREM / Mekong Resources Economic Management, do Nhật Bản tài trợ, nhằm nghiên cứu những thay đổi môi trường nước cũng như của đa dạng sinh học trên sông Mekong, để từ đó có thể khuyên cáo những chánh phủ liên hệ nên sử dụng nguồn nước sao cho an toàn hơn.”

THÁCH ĐỐ CỦA THẾ KỶ 21

Vẫn không có câu trả lời ai sẽ thực sự trách nhiệm “duy trì dòng chảy tối thiểu” của con sông Mekong trong mùa khô cũng như mùa lũ để có dòng chảy ngược từ con sông Mekong vào Biển Hồ, để nước mặn từ ngoài biển Đông không tiếp tục lấn vào sâu và xa hơn nữa nơi đồng bằng sông Cửu Long ?

Hình ảnh ước lệ của hơn nửa thế kỷ trước về một đồng bằng sông Cửu Long, với ruộng vườn thẳng cánh cò bay, tôm cá đầy đồng, thì nay tất cả đã đi vào quá khứ. Gần đây có dịp trở lại viếng thăm, để chỉ thấy trên toàn cảnh là một đồng bằng sông Cửu Long đang suy thoái và cứ nghèo dần đi.

Nước ngày càng khan hiếm, với kinh nghiệm của người xưa “thượng nguồn tích thủy hạ nguồn khan” tưởng như là hiển nhiên nhưng vẫn cứ bị Bắc Kinh phủ nhận và cả các chánh phủ vùng Hạ Lưu xem nhẹ.

Rồi ra thời gian sẽ cho chúng ta “một bài học” nhưng sẽ là quá trễ nếu hệ sinh thái con sông Mekong đã suy thoái tới mức không còn có thể đảo nghịch. Rồi ra các thế tương lai sẽ chẳng bao giờ được biết tới những con cá Pla Beuk, cá Dolphin là những chủng loại quan trọng / flagship species, vì đó là biểu trưng cho sự trong lành của hệ sinh thái sông Mekong đang trên đà bị tiêu diệt.

TÌM MỘT NGỌN HẢI ĐĂNG CHO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Cho dù không có phương cách nào có thể ngăn Trung Quốc không tiến hành kế hoạch điện khí hóa vĩ đại của họ nhưng ở một chừng mực nào đó thì “những khiếm khuyết và thiếu an toàn trong mỗi dự án xây đập của Trung Quốc và nay thêm 11 con đập Hạ Lưu, phải được biết tới, để theo dõi và bổ sung.”

Điều ấy đòi hỏi cho một chiến lược bảo vệ môi sinh với “tầm nhìn xa”, với một đội ngũ chuyên viên không chỉ có trình độ mà còn có lòng thiết tha với công việc chuyên môn của họ.

Cách đây 39 năm trong bài diễn văn “xuất trường” của Viện Đại Học Cần Thơ (19/12/1970), Giáo sư Đỗ Bá Khê đã có một tầm nhìn rất xa về vai trò của Viện Đại Học này đối với tương lai vùng đồng bằng sông Cửu Long : “Trong thời đại khoa học kỹ thuật, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đang trông chờ nơi ánh sáng soi đường của Viện Đại Học Cần Thơ và ước mơ một chân trời mới, tô điểm bằng những cành lúa vàng nặng trĩu, những mảnh vườn hoa quả oằn cây, dân cư thơ thới, một cộng đồng trù phú trong một xã hội công bằng.”

Với con Sông Mekong đang cạn dòng, đồng bằng sông Cửu Long ngày thêm nhiễm mặn, thì vai trò “Ngọn Hải Đăng Trí Tuệ” của Đại Học Cần Thơ với Phân Khoa Sông Mekong chưa bao giờ cấp thiết đến như vậy. Đó sẽ là một “think tank”? một trung tâm nghiên cứu giảng dạy và là nguồn cung cấp chất xám không chỉ cho đồng bằng sông Cửu Long, mà cả cho toàn lưu vực sông Mekong. Với từng bước thực hiện:

– Xây dựng một thư viện chuyên ngành với tất cả sách vở tài liệu liên quan tới con sông Mekong.

– Thiết lập ban giảng huấn ngoài thành phần cơ hữu của nhà trường, sẽ bao gồm các chuyên gia của Ủy Hội Sông Mekong, nhóm Chuyên Viên Tham Vấn Quốc Tế bên cạnh Ủy Hội. Họ sẽ được mời như những giáo sư thỉnh giảng, cho Phân Khoa Sông Mekong. Tài liệu giảng của họ sẽ là nguồn thông tin vô cùng quý giá do từ những đúc kết qua thực tiễn.

– Tuyển sinh từ thành phần ưu tú biết ngoại ngữ, nhằm hướng tới đào tạo các kỹ sư môi sinh, ngoài phần lý thuyết họ sẽ được tiếp cận với thực tế bằng những chuyến du khảo qua các trọng điểm của con sông Mekong, qua các con đập, và không thể thiếu một thời gian thực tập tại các cơ sở của Ủy Hội Sông Mekong. Họ sẽ ra trường với một tiểu luận tốt nghiệp về những đề tài khác nhau liên quan tới hệ sinh thái của con sông Mekong.

– Về phương diện chánh quyền, cần thiết lập ngay một mạng lưới “Tùy Viên Môi Sinh” (Đã có những tùy viên quân sự, văn hóa trong mỗi tòa đại sứ, tại sao không thể có tùy viên môi sinh), đặc trách sông Mekong trong các tòa đại sứ và sứ quán tại các quốc gia trong lưu vực, như tòa lãnh sự Việt Nam ở Côn Minh Vân Nam, bốn tòa đại sứ Việt Nam ở Miến Điện, Thái  Lan, Lào và Căm Bốt. Họ sẽ là tai mắt, là những trạm quan sát sống cho Phân Khoa sông Mekong và bộ Bảo Vệ Môi Trường.

Trước 1975, Thái Lan đã có Viện Y Khoa Nhiệt Đới Đông Nam Á, tại sao không thể nghĩ tới một Phân Khoa Sông Mekong tại Viện Đại Học Cần Thơ cho 6 quốc gia trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong. Thành phần sinh viên không phải chỉ có Việt Nam mà có thể cả những sinh viên đến từ Thái Lan, Lào và Căm Bốt và cả từ Trung Quốc, Miến Điện.

Việc cấp học bổng cho các sinh viên đến từ các quốc gia trong lưu vực sẽ đến từ cấp Nhà Nước. Phải xem đây như  một kế hoạch đầu tư dài hạn và rất ý nghĩa cho “Một Tinh Thần Sông Mekong” trong toàn bộ các kế hoạch hợp tác và phát triển vùng.

Với trình độ kiến thức và tinh thần liên đới của đám sinh viên đa quốc gia sẽ là nguồn chất xám bổ sung cho Ủy Hội Sông Mekong, cho các chánh phủ địa phương đang bị thiếu hụt nhân sự trầm trọng. Lớp chuyên viên trẻ đầy năng động này cũng sẽ là mẫu số chung nối kết mở đường cho các bước hợp tác phát triển bền vững của 6 quốc gia trong toàn lưu vực sông Mekong.

Dĩ nhiên, có một cái giá phải trả để bảo vệ con Sông Mekong và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Với tâm niệm rằng “nói tới nguy cơ là còn thời gian, trong khi tiêu vong là mất đi vĩnh viễn”.

Ngô Thế Vinh

California, July 2009

 

Tham Khảo:

1/  Agreement on the Cooperation for the Sustainable Development of The Mekong River Basin, Chiang Rai, Thailand 05 Apr 1995

2/  Sparks fly as China moves oil up Mekong, Marwaan Macan-Makar, Bangkok 01-09-2007;  IPS and Asia Times Online

3/ When The Rivers Run Dry, Water – The Defining Crisis of The Twenty First Century.  Fred Pearce, Beacon Press, Boston, Massachusetts 2006

4/  Hiroshi Hori. The Mekong: Environment and Development. United Nations University Press, Tokyo 2000.

5/   Global Warming is causing Hymalayan glaciers retreat, threatening to cause water water shoratges, Geneva, Mar 14, 2005, [AFP]

6/  Progress In Water Management at the Mekong River Basin, MRC Presentation at Third WWF, INBO Official Session 20 Mar 2004

7/ Plan for Massive Dam On Mekong, Project likely to draw protests from neighbours, The Nation Bangkok Thailand, November 04, 2007

8/ Construction of a Major Hydroelectric Dam on the Mekong River in Thailand Could Have Grave Implication. Fergal Quinn and Lor Chandara, The Cambodia Daily November 7, 2007

9/ Mainstream Dams: An Engineer’s Dream, A Fisher’s Curse, Gary Lee

Watershed, Vol.12 No.3 November 2008

10/ The Damming of The Mekong: Major Blow to An Epic River,

Fred Pearce, Yale Environment 360 Jun 17, 2009

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Kinh tế Việt Nam, Trung Quốc | Tagged: , , | Leave a Comment »

Trung Quốc tiếp tục cấm ngư phủ Việt Nam đánh cá cho đến ngày 1-8

Posted by adminbasam on 26/06/2009

YAHOO! NEWS

Ngư dân Việt Nam cho biết việc đánh bắt cá bị ngáng trở bởi các hoạt động tuần tra của Trung Quốc

Ian Timberlake

Ngày 26-6-2009

 

ĐÀ NẴNG, Việt Nam (AFP) – Bộ Ngoại giao Việt Nam đã loan báo vào đầu tháng Sáu rằng Trung Quốc đã đưa ra một lệnh cấm đánh bắt cá trên một số vùng thuộc Biển Đông [Biển Nam Trung Hoa] “bao gồm những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam”.

Các ngư dân Việt Nam cho biết họ cố tránh những khu vực đang tranh chấp, nhưng sự tăng cường việc cấm đánh bắt cá ngày càng tăng của Trung Quốc đã làm cho thu nhập của họ rơi vào tình cảnh nguy ngập, trong khi một số ngư phủ bạn bè của họ đã bị bắt giữ tại đảo Hải Nam hoặc lưới và cá tôm đánh bắt bị tịch thu.

Ngư dân người Việt Huỳnh Minh On và các ngư dân khác cho biết họ đã và đang thấy  một lượng ngày càng nhiều tàu thuyền Trung Quốc trong vòng hai tháng qua trên những vùng biển đang tranh chấp quanh quần đảo Hoàng Sa [của Việt Nam], và gần Đảo Hải Nam của Trung Quốc.

Ông On, 50 tuổi, đã kể rằng thu nhập hàng tháng từ chiếc tàu đánh cá của ông gần đây đã rớt nhanh mất một nửa, xuống còn vào khoảng 40 đến 50 triệu đồng (2.222 đến 2.777 đô la).

“Chủ yếu là do người Trung Quốc,” ông On khẳng định trong khi đang ngồi dựa lưng vào mấy đống lưới cá chất bên chiếc tàu của mình ở cảng cá chính ở Đà Nẵng, miền trung Việt Nam.

Các tàu thuyền thông báo cho nhau tình hình qua điện đài “để chúng tôi có thể chạy thoát được” khi phát hiện ra những tàu kiểm soát của Trung Quốc , thế nhưng việc này tốn nhiều thời gian và tiền bạc, ông nói.

Bộ [Ngoại giao Việt Nam] cho biết Trung Quốc đã tăng cường các chuyến tuần tra và thực hiện nhiều cuộc bắt giữ trong những vùng biển, mà một phần trong đó được cơ quan này gọi là Biển Đông.

“Chuyện này ảnh hưởng lớn đến việc kiếm sống của tôi,” theo lời ông Nguyễn Nuôi, 38 tuổi. Người ngư dân này cho biết ông và các bạn chài đã phải chịu mất đi hai phần ba khoản thu nhập do hậu quả của tình hình này.

“Bất cứ khi nào tôi nhìn thấy tàu thuyền Trung Quốc là tôi phải chạy xa ngay,” ông kể, vì nếu như tàu của ông bị bắt trên vùng biển đang tranh chấp, thì “họ sẽ tịch thu  bánh lái tàu và lưới của chúng tôi”.

Hôm qua thứ Năm, một tuyên bố của bộ ngoại giao đã lặp lại rằng lệnh cấm đó, kéo dài cho tới mùng 1 tháng Tám, là “không thể chấp nhận được” bởi vì lệnh cấm bao gồm cả những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Hôm qua thứ Năm, chúng tôi đã không thể liên lạc được với một ai trong tòa đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội để có lời bình luận về vấn đề này.

Một cuộc tranh cãi kéo dài giữa Việt Nam và Trung Quốc gần đây đã và đang leo thang về  chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và một quần đảo nằm tuốt xa về phía nam, quần đảo Trường Sa.

Các ngư dân Việt Nam bị mắc kẹt giữa tình thế tranh chấp nầy.

“Tôi chẳng hiểu các ông lãnh đạo ở trên cao phân chia vùng biển thế nào cả. Chỉ một chuyện độc nhất mà chúng tôi biết là chúng tôi đang đánh cá trên những vùng biển này trong bao nhiêu năm rồi và giờ thì chúng tôi bị cấm, và chúng tôi thấy vùng biển của Việt Nam cứ bị nhỏ dần nhỏ dần đi,” theo lời ông On, ngư dân với 28 năm trong nghề cùng một chiếc tàu cá và một thủy thủy đoàn 10 người.

Một thuyền trưởng khác, ông Phạm Văn Phước, 44 tuổi, cho biết trong năm nay ông đã trông thấy sự gia tăng số lượng các tàu tuần tiễu của Trung Quốc, các tàu nầy tăng cường lệnh cấm của họ bằng cách giăng cờ trắng bất cứ khi nào các tàu thuyền Việt Nam bị họ cho là đang đi vào vùng cấm.

Mặc dù những vùng bị cấm là nơi tập trung cao độ của cá tôm, nhưng ông Phước kể là ông cố tránh những vùng cấm đó. Chẳng có cách gì mà chạy thoát khỏi người Trung Quốc, ông kể, bởi vì tàu của họ lớn hơn và chạy nhanh hơn những chiếc tàu các làm bằng gỗ của người Việt Nam.

Những chiếc tàu Trung Quốc cũng được trang bị súng máy đặt trên mạn và các thủy thủ có loại tiểu liên, các ngư dân Việt Nam kể.

“Nếu họ không có súng thì chúng tôi có thể đánh lại được họ,” ông Đông Ơn, 56 tuổi, vừa cười vừa kể lại, ông mới trở về từ ngoài khơi sau hơn một tuần đánh bắt cá.

“Có nhiều tàu thuyền của cảnh sát biển và tàu kiểm soát đánh cá của Trung Quốc.”

Ông Đông Ơn cho biết ông đã học được kinh nghiệm rất khó khăn để tránh khỏi những phiền phức.

Bốn năm trước, khi ông đang đánh cá ngay vùng phía tây đảo Hải Nam thì có mấy cảnh sát biển Trung Quốc nhảy lên boong tàu và yêu cầu các thủy thủ của ông lái tàu vào đảo Hải Nam, ông kể. Họ đã bắt phải chi ra 80 triệu đồng, nhưng vì không có tiền nên các ngư phủ đã phải gọi điện thoại về nhà để thu xếp nhờ một người bán hàng lưu động mang tiền đến trả, ông kể.

Trong lúc chờ được thả, họ đã phải ở lại dưới tàu của mình trong khoảng một tháng mà không được lên bờ.

“Khi chúng tôi gần hết sạch lương thực thực phẩm thì họ mới cho chúng tôi một ít và luôn luôn có một cảnh sát túc trực để canh không cho chúng tôi lên đảo, hoặc chạy trốn,” ông Ơn kể.

“Kể từ khi chúng tôi bị bắt bốn năm trước tới nay, tôi cố không vi phạm cái lệnh cấm này.”

Ông Đông Ơn không bị bắt lại lần nào nữa nhưng những người bạn chài khác thì lại bị bắt, các ngư dân cho biết.

“Theo tôi biết thì trong 10 ngày qua đã có khoảng 50 thủy thủ của 5 chiếc tàu đã bị bắt,” ông Huỳnh minh On cho biết.

Các thủy thủ khẳng định là họ đã phải chi ra hàng ngàn đô la tiền phạt để bảo đảm việc trả tự do cho thủy thủy đoàn.

Ông Trần Văn Linh, phó chủ tịch hiệp hội đánh bắt cá Đà Nẵng, đã nói rằng từ cuối tháng Năm cho tới giữa tháng Sáu đã có một số tàu đánh cá phải nằm bờ, một phần bởi vì lệnh cấm của Trung Quốc, nhưng một phần cũng vì những lý do khác trong đó có việc giá dầu trên thế giới vừa mới tăng vọt.

Ông không thể cho biết được hiện có bao nhiêu trong tổng số 175 tàu đánh cá xa bờ phải ngưng hoạt động vào thời gian này.

“Thế nhưng sau đó, chúng tôi đã có nhiều cuộc họp  … và đã khuyến khích các ngư phủ ra biển để bảo đảm quyền đánh bắt cá của họ,” ông Linh nói.

“Tôi nghĩ là hiện giờ các ngư dân đang cẩn thận hơn trước,” ông nhận xét.

Hiệu đính: Trần Hoàng

———————

 

YAHOO! NEWS

Vietnam fishermen say trade hit by Chinese patrols

by Ian Timberlake Ian Timberlake – 1 hr 15 mins ago

DANANG, Vietnam (AFP) – Vietnam’s foreign ministry announced in early June that China had ordered a fishing ban in some areas of the South China Sea “including those under Vietnam’s sovereignty”.

The fishermen say they try to avoid the controversial areas but China’s stepped-up enforcement has put their incomes at risk, while some of their colleagues have allegedly been detained on Hainan or had their nets and fish seized.

Vietnamese fisherman Huynh Minh On and other fishermen say they have seen an increasing number of the Chinese ships over the past two months in disputed waters around the Paracel archipelago, and near China’s Hainan Island.

On, 50, said the monthly earnings of his fishing boat have dropped by about half recently, to around 40 million or 50 million dong (2,222-2,777 dollars).

“It is mainly because of the Chinese,” On says, reclining on bags of fishing nets piled beside his boat at the key fishing port of Danang, in central Vietnam.

Boats radio each other “so we can run away” when Chinese enforcement ships are spotted but this eats up time and money, he said.

The ministry said China had increased its patrols and made more arrests in the areas, part of what it calls the East Sea.

“It greatly affects my business,” said Nguyen Nuoi, 38. The fisherman said he and his colleagues had experienced a two-thirds drop in income as a result.

“Whenever I see the Chinese ships I just run away,” he said, because if his boat is caught in the disputed area, “they will take our gear”.

On Thursday a foreign ministry statement reiterated that the ban, running until August 1, is “unacceptable” because it includes areas under Vietnamese sovereignty.

No one from the Chinese embassy in Hanoi could be reached to comment on the issue Thursday.

A long-standing dispute between Vietnam and China over sovereignty of the Paracels and a more southerly archipelago, the Spratleys, has recently escalated.

Fishermen are caught in the middle.

“I don’t know how the senior officials divide the sea territory. The only thing we know is that we have been fishing in these areas for many years and now we are banned, and we see the sea territory of Vietnam getting smaller and smaller,” said On, a fisherman for 28 years who owns his own boat with a crew of 10.

Another fishing captain, Pham Van Phuoc, 44, said he had seen this year an increasing number of Chinese patrol boats, which enforce their ban by raising white flags whenever Vietnamese vessels are deemed to be encroaching.

Although the banned areas are home to a higher concentration of fish, Phuoc said he tries to avoid them. There is no point trying to outrun the Chinese, he said, because their ships are bigger and faster than the wooden Vietnamese fishing boats.

The Chinese ships are also armed with deck guns and the crews have rifles, Vietnamese fishermen say.

“If they didn’t have guns we would beat them,” laughs Dong On, 56, just returned from more than a week at sea.

“There are a lot of Chinese sea police and fishing control ships.”

Dong On says he learned the hard way to stay out of trouble.

Four years ago he was fishing just west of Hainan when several Chinese police jumped aboard and told his crew to head for the island, he said. They were ordered to pay 80 million dong but without the cash they had to call home to arrange for a travelling salesman to act as the money courier, he said.

Waiting for their release, they spent about one month unable to leave their boat.

“When we almost ran out of our food they would give us some and there was always a policeman to prevent us coming onto the island, or running away,” On said.

“Since we got caught four years ago, I try to obey the law.”

Dong On has not been detained again but others have, the fishermen say.

“As far as I know, over the past 10 days there are about 50 sailors from five vessels that have been caught,” Huynh Minh On said.

Sailors allege thousands of dollars in fines have to be paid to secure a crew’s freedom.

Tran Van Linh, vice-president of the fishermen’s association in Danang, said that from late May until mid-June some fishing boats stayed in port, partly because of the Chinese ban but also for other reasons including a fresh jump in global oil prices.

He could not say how many of Danang’s roughly 175 offshore fishing boats were idle at the time.

“But after that, we had many meetings… and moved to encourage the fishermen to go to the sea to ensure their rights to fishing,” said Linh.

“I think now that the fishermen are more careful than before,” he said.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Biển Đông/TS-HS, Kinh tế Việt Nam, Trung Quốc | Leave a Comment »

Mở rộng điều tra vụ in tiền polymer(liên quan VN)

Posted by adminbasam on 23/06/2009

Sydney Morning Herald

Việc điều tra những thỏa thuận in tiền giấy

Nick McKenzie Richard Baker

Ngày 22-6-2009

 

Cảnh sát Liên bang Úc [AFP] đang bắt đầu một cuộc điều tra trên quy mô lớn về những nghi vấn rằng một công ty con của Ngân hàng Dự trữ Liên bang Úc (Reserve Bank của Úc) đã tham dự vào dịch vụ thương mại sai trái liên quan tới nước ngoài để giành cho được các hợp đồng in tiền giấy.

Hành động của ban kinh tế và tác vụ đặc biệt của Cảnh sát Liên Bang Úc đang diễn ra để khởi đầu cho một cuộc điều tra trên bình diện rộng sau khi có  một cuộc điều tra sơ khởi kéo dài ba tuần của một nhóm nhỏ các nhân viên cảnh sát liên bang.

Ngân hàng Dự Trữ Liên bang đã hỏi ý kiến Cảnh sát Úc vào tháng trước để đánh giá những sự tiết lộ trên tờ báo Herald rằng Secureancy Pty Ltd, một công ty in tiền do Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang Uc (RBA ) sở hữu một nửa bị cáo buộc đã chi trả những khoản hoa hồng rất hậu hỉnh cho những thương gia nước ngoài có quan hệ mật thiết và những người nầy đã từng giúp cho họ giành được nhiều hợp đồng.

Một trong số những người nước ngoài này trước đây đã từng bị liên quan vào các cuộc điều tra về tham nhũng trong chính quyền ở châu Phi và châu Á, và một số tiền hoa hồng đã được trả vào những tài khoản không khai báo vì thế chủ nhân của các tài khoản nầy không bị đóng thuế lợi tức trên món tiền gởi ngân hàng hoặc chỉ đóng thuế rất thấp. [1]

Các nhân viên cảnh sát cao cấp ở Canbera đã phê duyệt một kế hoạch tiến-dẫn cần phải làm gì để bắt đầu một cuộc điều tra rộng lớn với nhiều nhân viện đặc vụ được bổ sung và nhiều kinh phí hơn, sau khi các đặc vụ tại Melbourne hoàn tất việc đánh giá thông tin tài chính và thực hiện các cuộc điều tra sơ bộ.

Cảnh Sát Liên Bang Úc đã xác nhận với các nhà báo của tờ báo Herald rằng vụ việc của Securency đã được tiến hành từ một giai đoạn đánh giá cho tới một cuộc điều tra, song đã từ chối bình luận thêm về vụ việc.

Quyết định của Cảnh sát Liên bang Úc để thực hiện một cuộc điều tra trên quy mô rộng lớn sẽ tạo thêm sức ép ngày càng tăng lên Ngân hàng Dự trữ Liên Bang Úc Reserve Bank để ngân hàng nầy phải giải thích xem liệu họ có biết gì về, và có chấp thuận không, về những hoạt động của công ty Securency, là công ty chuyên in ra tiền bằng (loại giấy) polymer đã từng được sử dụng ở Úc, Nigeria và Việt Nam và 23 quốc gia khác.

Cuộc điều tra công ty Securency đã phát hiện ra rằng những người trong nội bộ công ty này đã liên quan tới việc chi trả những khoản tiền hoa hồng cho các đại lý ở nước ngoài với những bối cảnh (câu chuyện) rất đáng ngờ đã làm gia tăng thêm sự phơi bày về các lời tình nghi về các hành động tham nhũng ở công ty Securency này, ví như các vụ lại quả (hối lộ) cho các quan chức nước ngoài.

Securency đã trả 10 triệu đô la tiền hoa hồng (tiền cò) cho một đại lý của họ ở Việt Nam, công ty CFTD.

Đại lý này đã thuê (trong một thời gian ngắn) con trai của thống đốc ngân hàng trung ương Việt Nam, ông thống đốc nầy là người đã ra quyết định sử dụng tiền polymer của Securency.

Cùng với hàng triệu đô la trong tiền hoa hồng  bao gồm một số chi trả vào các tài khoản ngân hàng ở đảo quốc Seychelles (thuộc Ấn Độ dương), Thụy Sĩ và đảo quốc Bahamas, các nhân viên của Securency đã tới Sudan đề thảo luận các thỏa thuận tiềm năng.

Hoa Kỳ đã cấm những thỏa thuận mua bán với quốc gia Sudan này vì những mối liên hệ của chính phủ Sudan với hoạt động khủng bố và những vi phạm nhân quyền. Cuộc điều tra của Cảnh Sát Liên Bang Úc chắc chắn sẽ bao gồm cả việc kiểm tra kỹ lưỡng công ty chị em với Securency là Note Printing Australia (NPA), công ty NPA nầy thuộc sở hữu hoàn toàn của Reserve Bank.

Trái ngược với Securency, Note Printing Australia (NPA) đã ngưng thực hiện việc trả tiền hoa hồng (tiền cò) cho các đại lý của họ ở nước ngoài từ năm 2007 do những quan ngại về đạo đức và liêm chính. Công ty in tiền NPA đã cử hai nhân viên tới Iraq vào năm 1998 để thảo luận về các sản phẩm giấy bạc của họ với chế độ Saddam Hussein, bất chấp những trừng phạt quốc tế cấm có những thỏa thuận tài chính với Iraq.

Cả hai công ty in tiền Securency và NPA đều được lãnh đạo bởi trợ lý thống đốc Reserve Bank, ông Robert Rankin, và Ngân hàng Dự Trử Liên Bang Úc (RBA) có một vai trò trong kiểm tra sổ sách tài chánh của hai công ty này.

Chính phủ Liên bang Úc đã yêu cầu mọi người gởi toàn bộ các nghi vấn về công ty in tiền Securency tới cho Ngân Hàng Dự trử Liên Bang (Reserve Bank).

Lãnh đạo của đảng Xanh, Bob Brown, và tổ chức Minh bạch Quốc tế phi chính phủ chống tham nhũng đã yêu cầu Reserve Bank trả lời các câu hỏi về các hoạt động của Securency.

Hiệu đính: Trần Hoàng

 

[1] Theo luật pháp nước ngoài, số tiền gởi vào ngân hàng của mỗi người đều phải được ngân hàng ấy khai báo với (1) sở thuế của quốc gia của chủ nhân tài khoản ấy, và (2) báo cáo với chủ tài khoản về số tiền gởi, và số tiền lời từ món tiền gởi ấy, mục đích để chủ tài khoản khai thuế thu nhập (lợi tức hàng năm) với sở thuế.

Thời điểm: Vào đầu tháng giêng hàng năm, ngân hàng sẽ gởi một bản báo cáo tóm tắt tới địa chỉ của người chủ tài khoản, VÀ gởi thêm một bản tương tự như thế tới sở thuế. Mẫu báo cáo tóm tắt ấy có tên là  1098 – INT.

Dựa theo mẫu báo cáo 1098-INT, sở thuế và người chủ tài khoản biết được số tiền mà người nầy hiện có trong ngân hàng vào thời điểm ấy là bao nhiêu? tiền lời hàng năm của số tiền ấy được ngân hàng trả cho chủ nhân của tài khoản ấy là bao nhiêu tiền?

Số tiền lời nầy được gọi là lợi tức của người có tài khoản ấy. Dựa trên tiền lời đó, và tiền làm việc hàng năm, chính phủ sẽ đánh thuế bao nhiêu phần trăm vào khoản tiền lời…(ít khỏi trả, nhiều quá thì phải trả).

Để thu hút tiền bạc của các nhà giàu thích trốn thuế, tiền bạc của các viên chức cao cấp tham nhũng, tiền bạc của thương gia chi trả cho nhau bằng tiền mặt để tránh sự dòm ngó của các chính phủ,…Ngân hàng Thụy Sĩ thường không dùng mẫu đơn 1098 Int để báo cho chính phủ biết. Đây là một hình thức che dấu nguồn tài chánh (bất chính, tham nhũng, trốn thuế) mà các ngân hàng Thụy Sĩ bảo vệ các thân chủ và nhờ đó mà các ngân hàng nầy nổi tiếng và sống được hàng trăm năm qua.

Việc làm của ngân hàng Thụy Sĩ và các ngân hàng của các đảo quốc ở Bahamas, Caymans, …là dung chứa tội phạm tham nhũng.

——————-

 

Sydney Morning Herald (Australia)

June 22, 2009 Monday
First Edition

Inquiry into banknote deals

Nick McKenzie and Richard Baker

THE Australian Federal Police is launching a full-scale investigation into allegations that a Reserve Bank of Australia subsidiary engaged in improper business dealings overseas to win banknote printing contracts.

The move by the AFP’s economic and special operations division to begin a full inquiry comes after a three-week preliminary probe by a small team of federal agents.

The AFP was asked by the Reserve last month to assess revelations in the Herald that Securency Pty Ltd a bank-note company half-owned by the RBA had allegedly paid lucrative commissions to shady, well-connected overseas businessmen who helped it win contracts.

Some of these foreign agents have previously been implicated in official corruption inquiries in Africa and Asia, and some commission payments have been paid into tax haven accounts.

Senior police officials in Canberra approved a recommendation to begin a major inquiry with additional agents and resources, after agents in Melbourne finished assessing financial intelligence and conducting preliminary inquiries.

The AFP confirmed to the Herald that the Securency case had progressed from an assessment phase to an investigation, but declined to comment further. The AFP’s decision to commit to a full-scale investigation will add to the growing pressure on the Reserve Bank to explain if it knew of, and approved, the activities of Securency, which makes polymer bank notes used in Australia, Nigeria, Vietnam and 23 other countries.

The investigation into Securency revealed that company insiders were concerned that the payment of commissions to overseas agents with questionable backgrounds increased the company’s exposure to allegations of corrupt practices, such as kickbacks to foreign officials.

Securency paid $10 million in commissions to its agent in Vietnam, CFTD. The agent briefly employed the son of the Vietnam central bank governor who made the decision to use Securency’s plastic notes.

Along with millions of dollars in commissions including some paid to accounts in the Seychelles, Switzerland and the Bahamas Securency officials have travelled to Sudan to discuss potential deals.

The US has banned dealings with Sudan because of its links to terrorism and human rights abuses. The AFP investigation is likely to include scrutiny of Securency’s sister company, Note Printing Australia, which is fully owned by the Reserve Bank.

In contrast to Securency, Note Printing Australia (NPA) stopped making commission payments to its foreign agents in 2007 due to integrity concerns. NPA sent two employees to Iraq in 1998 to discuss its banknote products with the regime of Saddam Hussein, despite international sanctions banning financial dealings with the country.

Securency and NPA are both chaired by the Reserve Bank’s assistant governor, Robert Rankin, and the RBA has a role in auditing both companies.

The Federal Government has referred all questions about Securency to the Reserve Bank.

The Greens leader, Bob Brown, and the anti-corruption NGO Transparency International have demanded the Reserve Bank answer questions about Securency’s operations.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Kinh tế Việt Nam, Tham nhũng | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Xe gắn máy động cơ điện kỹ thuật Nano sắp được bán ra ở Việt Nam

Posted by adminbasam on 22/06/2009

Xe chạy bằng điện hiệu Neue của Texas

Làm thế nào một động cơ điện thuộc loại công nghệ Nano của tiểu bang Texas Hoa kỳ có thể thay đổi bộ mặt đường phố ở Việt  Nam

By Matt Steinglass – GlobalPost

Ngày 21-6-2009

 

HÀ NỘI – Thật là khó khăn để tìm được một nơi nào đó ở Hà Nội mà ở đấy bạn không phải nghe tiếng xe gắn máy.

Thành phố nầy có tới 1,8 triệu con “quái vật” được nuôi bằng xăng, gần như là mỗi hai người dân trong thành phố nầy có một chiếc xe gắn máy.

Xe gắn máy là phương tiện đi lại chính, và là nguồn gốc của hầu hết ô nhiễm không khí chứa chất acid của thành phố nầy.

Một nghiên cứu năm 2006 đã phát hiện là những khách bộ hành ở khu buôn bán Hà Nội đang hít thở những hạt bụi lớn ở mức gần 500 phần triệu (của 1 mm), cao gấp mười lần bản hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới WHO.

Thế nhưng Christian Okonsky, một kỹ sư đến từ Austin, bang Texas, chế được một thiết bị có thể làm thay đổi toàn bộ tình hình đó.

Thiết bị này là một chiếc xe máy chạy điện với một lõi mô tơ bằng hợp chất thuỷ tinh-nano. Kích cỡ của mô tơ này bằng một chiếc đĩa đựng thức ăn, và sức kéo của nó mạnh hơn một động cơ của xe mô tô 600 phân khối.

Công ty của Okonsky, tên là KLD Energy, đang cung cấp loại mô tơ này cho công ty xe máy Việt Nam Sufat và vào cuối năm nay ông Okonsky trông đợi sẽ gây sửng sốt cho Hà Nội bằng một thứ mà người dân ở đây chưa từng thấy trước đây – một chiếc xe ga scooter bằng điện chạy êm ru và sạch sẽ có thể tăng tốc độ từ không cho tới 96 km  một giờ trong vòng chưa tới 10 giây đồng hồ.

Ít nhất, đó là những gì mà chiếc xe kiểu mẫu có thể làm được. Vẫn còn có một vài trở ngại để cải thiện loại xe này.

“Chúng tôi hy vọng làm xong việc hoàn thiện chiếc xe nầy vào cuối năm,” ông Okonsky cho biết vào tháng Năm 2009, khi ông đang ngồi kế bên chiếc xe kiểu mẫu của ông trên vỉa hè, trước cửa văn phòng tại Hà Nội của công ty KLD. “Công nghệ của chúng tôi đang trong bước phát triển.”

Chiếc xe mẫu nầy, mà viên kỹ sư trưởng của KLD Hector Moya vừa mới tháo dỡ ra từ một kiện hàng được gửi đường hàng không từ Hoa Kỳ, đã không chạy được. Okonsky và Moya đang sờ mó để điều chỉnh sửa chửa chiếc xe trong nửa giờ qua.

Nhưng hóa ra là vấn nạn nầy thật là đơn giản – Nhưng hóa ra là vấn nạn nầy thật là đơn giản – bộ phận kiểm soát và điều chỉnh (động cơ) bên trong có mạch vi tính có chứa một chương trình (phần mềm); chương trình nầy cần phải được khởi động lại. Thế rồi sau đó, chiếc xe vận hành tuyệt vời trong mấy ngày liền. Nhưng đến cuối tuần thì bình điện của xe đã bị cháy. (Mời các bạn xem thêm phần comment)

Những việc nói trên là những cơ nguy việc vận hành với thứ công nghệ mới. Nếu như những vấn nạn của bước ban đầu có thể được giải quyết, thì chiếc xe máy điện của KLD, được sản xuất dưới nhãn hiệu “Neue,” có  khả năng ghi lại một dấu tích chính để cải thiện cho bầu không khí ô nhiễm và phát ra khí carbon ở Việt Nam – và còn đi xa hơn nữa.

Okonsky đã chọn Việt Nam làm nơi trình diễn lần đầu tiên công nghệ này vì đất nước này có tỉ lệ cao nhất trên thế giới về số xe máy trên đầu người: 22 triệu xe trong một số dân 85 triệu.

Nếu như những chiếc xe tay ga của Sufat đạt được thành công ở Việt Nam, thì công ty KLD sẽ mở rộng công nghệ này tới các quốc gia đam mê xe máy khác, như Malaysia, Đài Loan và Ấn Độ.

Những chiếc xe máy chạy điện như thế không phải là mới mẻ ở Việt Nam. “Chúng đã được bán ở Việt Nam trong một thời gian dài,” Trần Thế Loan, phó trưởng Ban Kiểm soát Ô nhiễm của Việt Nam cho biết. “Nhưng chúng không có khả năng thâm nhập thị trường.”

Lý do là những chiếc xe chạy điện hiện thời rất yếu không hợp với sở thích của người Việt Nam. Hầu hết chúng được sản xuất tại Trung Quốc, nơi mà nền công nghiệp nầy đạt được thành công sau khi các thành phố như Bắc Kinh và Thượng Hải cấm xe máy chạy xăng vào những năm 1990.

Những chiếc xe gắn máy chạy điện của Trung Quốc có thể chạy liên tục với tốc độ 48 km một giờ, và có thể chạy khoảng đường dài 88 km giữa hai lần sạc bình điện. Vào năm ngoái, dân Trung Quốc đã mua 30 triệu chiếc xe loại này.

Thế nhưng người Việt Nam sử dụng những chiếc xe máy của họ như là một chiếc xe hơi gia đình. Các cư dân thành thị thường đèo ba hoặc bốn người trên một chiếc xe; Còn những người nông dân sử dụng xe gắn máy của họ để chở gà, lợn, và những chiếc tủ lạnh. Và các thanh thiếu niên thích đua xe máy với tốc độ 96 km một giờ.

“Những chiếc xe máy chạy điện không được ưa chuộng ở Việt Nam do, trước hết, chúng chạy quá chậm so với xe chạy xăng,” một người chạy xe ôm ở Hà Nội tên là Dương Văn Hướng cho biết. “Thứ hai, giá quá cao. Thứ ba, bình điện không dùng được lâu. Chỉ những người già mới dùng loại này.”

Ông Hướng cũng không thích một trong chính những điều mà không  một người Việt Nam ưa thích những chiếc xe điện này: xe chạy rất êm không gây tiếng ồn.

“Động cơ điện không gây ra tiếng ồn nào, cho nên nó không thu hút sự chú ý của những người lái xe khác,” ông Hướng nói. “Điều đó rất dễ xảy ra tai nạn.”

Nhà thiết kế đồ hoạ Nguyễn Thắng Trung, 27 tuổi, đã cho biết vấn đề ở chỗ là mẫu thiết kế vụng về của loạt xe điện hiện thời. “Nếu như các nhà sản xuất phát triển nhiều mẫu xe hơn và hình dáng chúng thích hợp hơn cho giới trẻ, và giá cả hợp lý, điều đó sẽ rất tốt,” anh Trung nói.

Những chiếc xe máy mà Sufat và KLD sản xuất có thể giải quyết được tất cả những vấn đề này. Okonsky muốn chế tạo những chiếc bình điện cho loại xe mới này dễ lấy ra lắp vào, nên chúng có thể nạp điện được ở chỗ làm việc, hoặc đổi lấy một bình điện  đã nạp điện đầy tại các trạm bán xăng.

Công ty đang hướng tới những mẫu thiết kế trang nhã, mà mẫu ấy gây chú ý tới sự thiếu vắng của một động cơ nổ. Thậm chí vấn đề tiếng động có thể không là quan trọng nữa: (vì) động cơ của xe Neue phát ra một tiếng vo vo rất mạnh mẽ khi nó tăng tốc.

Tuy nhiên, sự khác biệt chính là những động cơ điện của KLD hoàn toàn mạnh mẽ hơn nhiều so với những động cơ trên những chiếc xe điện truyền thống, bởi vì chúng sử dụng một công nghệ khác biệt.

Những động cơ điện hoạt động do sự thay đổi xen kẽ sự phân cực (bắc/nam) của vài chiếc nam châm, khi thì bắc, khi thì nam, luân phiên nhau qua lại như thế, gây cho bộ phận quạt quay tròn.

Hầu hết các vật liệu đều sinh ra sức nóng (nhiệt năng) mỗi khi có sự thay đổi điện cực, và nếu tần số của sự thay đổi luân phiên nầy tăng lên quá cao, thì động cơ sẽ bị quá nóng (sẽ gây chết máy.)

Thế nhưng vật liệu tinh thể bằng-nano trong lõi động cơ KLD này hiếm khi nóng lên khi có sự thay đổi cực nam châm. Điều đó có nghĩa là động cơ KLD có thể chuyển đổi cực nhanh hơn nhiều, sinh ra nhiều sức  mạnh hơn.

Động cơ KLD rất mạnh và rất nhỏ quá đến nổi nó không cần một hệ thống truyền lực, hay hộp số. Một cách đơn giản, động cơ nầy được lắp vào bánh xe sau của chiếc xe máy, để nó quay tròn một cách trực tiếp, giống như đạp một chiếc xe đạp một bánh.

Bỏ được hệ thống truyền lực làm tiết kiệm năng lượng và cải thiện được độ tin cậy – vì có ít bộ phận bị hư hỏng.

Những chiếc xe mới này dự kiến sẽ được bán với giá giữa 1.500 tới 2.000 đô la Mỹ. Đó là cái giá hợp lý trên thị trường Việt Nam; một chiếc xe máy Honda hiệu Future chạy xăng trung bình được bán với giá 1.700 đô la, trong khi nhiều chiếc xe máy thời trang hơn, ví như Piaggio, Honda SH, được bán với giá 4.000 đô la hoặc hơn.

Thế nhưng mọi thứ còn phụ thuộc vào việc người tiêu dùng hiểu biết xe máy của Việt Nam sẽ phản ứng ra sao trước những loại xe máy tay ga chạy điện đời mới này. Hầu hết người Việt từng nghe về chiếc xe này đều giữ một thái độ chờ đợi để được tận mắt chứng kiến.

“Phản ứng chủ yếu theo tôi nghĩ là cũng tương tự như phản ứng của nhiều người ở Hoa Kỳ có, với một mức độ nào đó, nghĩa là: Chiếc xe loại nầy có khả năng tồn tại được không, và nó không thực sự làm thay đổi lối sống của họ, thì họ vui vẻ chấp nhận nó,” ông Okonsky nói. “Nếu họ có thể nạp điện (một cách dễ dàng) và có thể làm những việc tương tự mà họ đang làm hiện nay với những chiếc xe gắn máy chạy xăng của họ, và giá cả tương tự, thì họ vui vẻ dùng nó.”

Hiệu đính: Trần Hoàng

——————————————–

 

GlobalPost

All-electric, all-Texas

By Matt Steinglass – GlobalPost

Published: June 21, 2009 11:04 ET
Updated: June 21, 2009 22:52 ET

HANOI — It’s hard to find a place in Hanoi where you don’t hear motorbikes.

The city has 1.8 million of the gasoline-powered beasts, roughly one for every two inhabitants. They are the dominant mode of transit, and the source of most of the city’s caustic air pollution. A 2006 study found pedestrians in downtown Hanoi breathe particulate matter levels of almost 500 parts per million, ten times higher than WHO guidelines.

But Christian Okonsky, an engineer from Austin, Texas, has a device that could change all that.

The device is an electric motor with a nano-crystalline core. It is the size of a casserole dish, and more powerful than a 600cc motorcycle engine. Okonsky’s company, KLD Energy, is supplying the motor to the Vietnamese motorbike company Sufat and by the end of the year he expects to startle Hanoi with something it has never seen before — a clean, quiet electric scooter that can accelerate from zero to 60 miles per hour in under 10 seconds.

At least, that’s what the prototype can do. There are still a few kinks to work out.

“We’re hoping to have it done by the end of the year,” Okonsky said in May, sitting next to his prototype on the sidewalk in front of KLD’s Hanoi office. “Our technology is on pace.”

The prototype, which KLD’s lead engineer, Hector Moya, had just unpacked from a crate air-freighted from the U.S., was not working. Okonsky and Moya had been fiddling with it for half an hour.

As it turned out the problem was simple — the software on the computerized motor controller had to be rebooted. After that, the bike ran perfectly for several days. But by the end of the week, its battery had burnt out.

Such are the perils of working with new technology. If the teething problems can be solved, KLD’s electric motor, produced under the trademark name “Neue,” could make a major dent in air pollution and carbon emissions in Vietnam — and beyond.

Okonsky picked Vietnam to debut the technology because it has the world’s highest ratio of motorbikes per person: 22 million motorbikes in a population of 85 million. If Sufat’s electric scooters take off in Vietnam, KLD will spread the technology to other motorbike-crazy countries, like Malaysia, Taiwan and India.

Electric motorbikes, as such, aren’t new to Vietnam. “They have been sold in Vietnam for a long time,” said Tran The Loan, deputy director of Vietnam’s Department for Pollution Control. “But they have not been be able to penetrate the market.”

The reason is that current electric motorbikes are underpowered for Vietnamese tastes. Most are made in China, where the industry took off after major cities like Beijing and Shanghai banned gas-powered motorbikes in the 1990s. Chinese electric scooters can do a solid 30 miles per hour, and can go up to 55 miles between recharges. Last year Chinese bought 30 million of them.

But Vietnamese use their motorbikes as the equivalent of a family car. Urban residents routinely ride three or four to a bike; farmers use their motorbikes to haul chickens, pigs, and refrigerators. And teenagers like to drag-race them at 60 miles per hour.

“Electric motorbikes are unpopular in Vietnam because, first of all, they’re much slower than gas engines,” said Hanoi motorbike taxi driver Duong Van Huong, 40. “Second, the price is too high. Third, the batteries don’t last long. Only old people use them.”

Huong also dislikes one of the very things non-Vietnamese like about the electric scooters: the quiet.

“The motor doesn’t make any noise, so it doesn’t attract attention from other drivers,” Huong said. “It’s easy to get into traffic accidents.”

Graphic designer Nguyen Thang Trung, 27, said the problem was the ungainly designs of the current crop of electric motorbikes. “If manufacturers develop more designs and forms suitable suitable for young people, and the price is reasonable, it will be good,” Trung said.

The bikes Sufat and KLD make could solve all of these problems. Okonsky wants to make the new bikes’ batteries easily removable, so they can be recharged at work, or exchanged for fully loaded ones at gas stations. The company is coming up with elegant designs that accentuate the absence of a combustion motor. Even the noise issue may not be relevant: the Neue motor generates a powerful whirr when it revs up.

The main difference, though, is that KLD’s electric motors are simply much stronger than those on traditional electric scooters, because they use a different technology. Electric motors work by alternating the polarity of several magnets back and forth, causing a rotor to spin. Most materials release heat each time their polarity shifts, and if the frequency of alternation goes too high, the motor will overheat.

But the nano-crystalline material at the core of a KLD motor scarcely heats up when its polarity shifts. That means the motor can alternate much faster, generating more power. The KLD motor is so strong and so small that it doesn’t need a drivetrain, or gears. It is simply built into the motorbike’s rear wheel, which it turns directly, like pedaling a unicycle. Eliminating the drivetrain saves energy and improves reliability — there are fewer parts to break down.

The new bikes are slated to sell for between $1,500 and $2,000 U.S. dollars. That’s a reasonable price in the Vietnamese market; a mid-range Honda Future gas-powered bike sells for $1,700, while more chic bikes, such as the Piaggio Honda SH, sell for $4,000 or more.

But everything will depend on how Vietnam’s motorbike-savvy consumers react to the new electric scooters. Most Vietnamese who’ve heard about the bikes have taken a wait-and-see attitude.

“The main reaction is I think the same reaction that a lot of people in the U.S. have at some level, which is: if it’s viable, and it doesn’t really change their lifestyle, they’re happy to do it,” Okonsky said. “If they can recharge (easily) and can do the same things that they currently do with their gas scooters, and the cost is similar, they’re happy to do it.”

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Kinh tế Việt Nam | Leave a Comment »

Công nhân VN mắc kẹt tại Czech

Posted by adminbasam on 07/06/2009

Cuộc khủng hoảng làm những công nhân Việt Nam mắc kẹt vào một tình

thế lửng lơ tại Czech

DAN BILEFSKY

Ngày 5-6-2009

 

PRAGUE – Đối với Triệu Đình Văn, 25 tuổi, chặng đường dài mà hai năm trước đây từ những vùng lúa gạo miền bắc Việt Nam tới một nhà máy hàn xe tải ở miền đông xứ Bohemia đã được tưởng tượng là cung cấp cho anh một đời sống kinh tế khá hơn. Thay vào đó, anh Văn, đứa con của những nông dân nghèo khổ, đang bị thất nghiệp, không có nơi cư ngụ và nợ nần chồng chất trên một vùng đất xa lạ.

Anh Văn cho biết cha mẹ già của anh đã dùng ruộng đất của gia đình ký thác cầm thế chân để vay một khoản tiền 10.000 bảng Anh, tức khoảng 14.000 đô la, chi trả cho một đại lý để có vé máy bay và thị thực nhập cảnh làm việc cho anh.

Thế nhưng chưa đầy một năm sau khi tới Cộng hòa Czech, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm mất đi chỗ làm việc có mức lương 8 bảng Anh một giờ của anh tại Kogel, một nhà máy sản xuất xe tải của Đức, và anh không còn tiếp tục gửi tiền về nhà được nữa. Giờ đây anh lo ngại sẽ phải xin trợ cấp của gia đình để sống qua ngày.

“Trở lại Việt Nam sẽ không có lợi cho tôi,” anh cho biết vào một ngày gần đây, và tự hỏi không biết mình sẽ ở lại đêm nay ở nhà nào. “Tôi mà về nhà với hai bàn tay trắng thì không thể cưới vợ hay xây nhà được. Đó là một sự quá nhục nhã cho tôi.”

Anh Văn là một trong 20.000 công nhân Việt Nam đã tới đây trong năm 2007 *, một phần của làn sóng nhập cư của những người nghèo từ Việt Nam, Trung Quốc, Monggolia và những nước khác được tuyển mộ đưa vào Đông Âu để trở thành những người công nhân thiếu kỹ năng làm việc dành cho các nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ khi đó. Thế nhưng khi các nền kinh tế khắp trong miền nầy bắt đầu co rút lại vào đầu năm nay, hàng ngàn người đã trở thành thất nghiệp và mất hết nhà ở thuê và của cải.

Tại Romania, hàng trăm người Trung Quốc nhập cư đã dựng trại trong thời tiết băng giá ở Bucharest trong nhiều tuần để phản đối các nhà thầu đã ngừng trả lương cho họ.

Các quan chức Czech cho biết họ đang lo sợ tình trạng rối loạn xã hội trong lúc xuất khẩu sút giảm mạnh và nạn thất nghiệp theo các nhà kinh tế cho biết là có thể vọt lên tới 8% vào cuối năm nay, thúc đẩy càng nhiều người Tiệp hơn  đi tìm kiếm những công việc lương thấp mà họ đã từng để dành cho các nhân công người nước ngoài.

Mặc dù hàng ngàn người Việt từng đến nước Tiêp theo những chương trình hợp tác lao động giữa các nước XHCN anh em vào những năm 1970 đã ghi dấu một cách thành công ở đây, song có những mối tranh chấp mâu thuẫn  đang hiện diện. Chính phủ Czech đang hy vọng rằng những người nhập cư thất nghiệp sẽ trở về quê nhà bởi vì họ lo ngại rằng những người di dân bị thất nghiệp có thể làm gia tăng trầm trọng một không khí giận dữ đang sôi sục chống lại những sắc dân thiểu số.

Vào tháng trước, một bé gái cùng cha mẹ người Romani đã bị thiêu cháy một cách dã man sau khi những nghi can là những kẻ cực hữu ném bom xăng vào nhà họ tại thị trấn Vitkov đông bắc nước này. Một số người trong cộng đồng Việt Nam đang lo sợ rằng cả họ nữa cũng có thể là mục tiêu (của những người Tiệp cực hữu hung hăng nầy).

“Người Tiệp không thích chúng tôi, bởi vì chúng tôi trông khác họ,” anh Văn nói và thêm rằng, trước đó anh ta đã từng bị những cư dân ở Chocen, thị trấn nhỏ miền đông xứ Bohemia, xáp tới hỏi han, rồi thét lên, “người Việt Nam, cút về nước đi!” Theo anh, các lao động Việt Nam cũng bị từ chối không cho vào các sàn nhảy và các nhà hàng.

Theo một chính sách được bắt đầu vào tháng Hai, bất cứ người lao động nước ngoài nào bị thất nghiệp muốn về nước thì hội đủ điều kiện để nhận được một vé máy bay một chiều không phải trả tiền hoặc được cấp một vé xe lửa một chiều và hưởng thêm một số tiền mặt là 500 bảng Anh (hay 700 đô la).

Trong hai tháng đầu, khoảng 2000 người Mongolia, Ukrainia và Kazakhstan đã chấp nhận đề nghị này. Song nhiều người Việt như anh Văn, người đang chồng chất trên lưng những món nợ, thì ưa thích ở lại và chờ đợi đến thời thế khả quan hơn.

Ivan Langer, bộ trưởng nội vụ đã đưa ra kế hoạch cho chính sách hồi hương này, đã cho biết là ông lo ngại rằng một lượng công nhân nước ngoài thất nghiệp ước lên tới 12.000 người dễ tổn thương sẽ bị lôi kéo vào tội phạm có tổ chức, hoặc bị khai thác như là lao động nô lệ.

Theo Trung tâm Chống Ma tuý Quốc gia Tiệp, vào năm ngoái cảnh sát đã phá 79 cửa hàng trồng cây cần sa có quy mô lớn, 70 cửa hàng trong số đó được điều hành bởi người Việt Nam. Vào tháng Một, một người đàn ông Việt Nam từ thành phố Brno miền đông nam nước này, bị nghi ngờ buôn bán heroin, đã bị cảnh sát đánh đến chết.

Julie Liên Vrbkova, một chuyên gia người Việt đang làm việc như một phiên dịch tại một số nhà máy sản xuất xe hơi có thuê các công nhân Việt Nam, đã cho biết chị đã bị sốc trước những điều kiện làm việc “như nô lệ”, bao gồm những ngày làm việc với 12 giờ đồng hồ một ngày, suốt khoảng thời gian nầy những công nhân đã bị đánh đập nếu như họ ngưng làm việc.

Bất chấp những căng thẳng gần đây, cộng đồng người Việt tại Cộng hòa Tiệp vẫn là một trong những câu chuyện thành công lâu dài nhất của sắc dân thiểu số ở đây. Nhiều người Việt làm sở hữu chủ những cửa hàng tạp hóa nhỏ phát đạt, nói được tiếng Czech và gửi con cái vào trường học của Czech, nơi chúng thường được đứng đầu lớp trong kết quả học tập.

Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản năm 1989, có thêm hàng ngàn người Việt Nam gia nhập vào những người Việt khác đã tới đây trước vào những năm 1970. Ngày nay, tại Cộng hòa Czech có một lượng người Việt ước tính tới 70.000, là cộng đồng người nước ngoài lớn thứ hai sau cộng đồng người Ukraina.

Những người đứng đầu trong cộng đồng người Việt tại đây cho biết họ lo ngại rằng tầng lớp những công nhân mới bị trắng tay này sẽ đe doạ gây xáo trộn một nếp sống chung mà họ đã xây dựng nên trong hàng mấy chục năm nay. Trong một cuộc khảo sát vào tháng Tư bởi Stem, một hãng thăm dò dư luận đóng tại Prague, có 66% người Czech nói rằng họ không thích có một người Việt Nam như là một láng giềng của mình.

Linh Nguyễn, 22 tuổi, một người Czech gốc Việt thuộc thế hệ thứ hai, hiện đang vận động chính phủ để cải thiện các chính sách hoà nhập sắc tộc, đã nói rằng những người Việt siêng năng lao động thích lặng lẽ làm ăn phát đạt, trong khi người Czech thì bằng lòng với việc giả bộ như không có người Việt Nam ở đó. Anh than vãn là trong bốn thập kỷ sau khi những người châu Á nhập cư tới Cộng hòa Czech, chẳng thấy có khuôn mặt Á châu nào xuất hiện trên truyền hình, trong hoạt động văn hóa đại chúng hay trong Quốc hội Tiệp .

Ông Langer, cựu bộ trưởng nội vụ, biện minh rằng Cộng hòa Czech, đã ngưng cho nhập cư trong thời gian diễn ra chiến tranh lạnh, nên đã không được trang bị những điều kiện để đối phó với những người nhập cư mới. “Không giống như ở Pháp hay Đức, dân chúng ở đây vẫn chưa quen nhìn thấy những gương mặt Á châu hay Phi châu trong trường lớp của họ.”

Để cố cải thiện cho việc hòa nhập xã hội, chính phủ Czech mới đây đã đưa ra những quy định mới buộc những người nhập cư nào muốn có được giấy phép kinh doanh thì phải có 120 giờ được học hỏi về đất nước và người Czech; thế nhưng chi phí cho những khóa học này là vào khoảng 200 bảng Anh – là mức phí mà ít người nhập cư với những khoản nợ nần có thể đủ khả năng chi trả.

Jiri Kocourek, một nhà xã hội học chuyên nghiên cứu về Việt Nam, đã biện luận rằng những ngộ nhận về văn hóa đã làm tình hình thêm xấu hơn bởi vì sự thờ ơ của người Czech. Ví dụ như trong sách ngữ pháp chính thức của Czech không cho phép những âm trong bảng chữ cái tiếng Việt được dùng trong các văn bản chính thức như các bằng lái xe chẳng hạn. Điều đó, ông phân tích, đã gây cho các giới chức người Czech những bối rối rất lớn trong việc phân biệt những cá nhân trong một cộng đồng mà nơi ấy hàng ngàn người có chung một họ Nguyễn.

Những mối thách thức tương tự thể hiện rành rành tại Sapa, một khu chợ của người Việt nằm tại vùng ngoại ô Prague, nơi những người di trú mới tới có thể tìm thấy mọi thứ từ những người thợ làm tóc gội đầu người Việt cho tới các công ty bảo hiểm Việt Nam, cũng như một loại công việc của “người trung gian” Việt Nam nói tiếng Tiệp, những người nầy lấy lệ phí từ 20-5000 bảng anh để sắp xếp có được giấy nhập cảnh, hoặc dẫn các người VN tới khám bác sĩ và tham dự các buổi họp phụ huynh học sinh với tính cách như những người đỡ đầu cho học sinh (ấy).

Trần thu Trang, 21 tuổi, một blogger người VN, đã đến Cọng Hòa Tiệp khi mới 13 tuổi – và bây giờ tự gọi tên là Tereza, đặt theo tên của một ngôi sao ca nhạc thính phòng Tiệp – đã cho biết rằng sự xây dựng một thế giới sống song song và tách riêng có ý nghĩa rằng nhiều người VN, bao gồm cả những người đã ở đây hàng mấy chục năm, cũng không thể nào nói được tiếng Tiệp, và đã buộc lòng gọi điện thoại nhò một người trung gian để thông dịch, thậm chí ngay cả khi bị cảnh sát Tiệp ra lệnh tắp xe vào lề đường để hỏi giấy tờ.

Trần Quang Hùng, một giám đốc điều hành chợ Sapa, đã cho biết rằng nhiều người di dân đã đến chợ nầy để tìm kiếm việc làm nhưng không được. Ông Hùng nói rằng ông ta đã đề nghị chính quyền Tiệp xây dựng một trường học dành cho người di dân, nơi đây họ có thể học tiếng Tiệp và trở thành có khả năng làm việc được. Nhưng ông ta nói rằng lời đề nghị của ông đã bị chính phủ bác bỏ.

“Giờ đây nền kinh tế đang xuống thấp, những người Tiệp không muốn những người di dân nầy ở đây. Người Tiệp chỉ muốn những người di dân nầy trở về nước,” ông Hùng phát biểu.

Hiệu đính: Trần Hoàng

 

* Trần Hoàng bình: Thật là một món làm ăn có lợi khủng khiếp mà chỉ có các quan chức nằm trong đường dây làm giấy nhập cảnh hốt được một số tiền 260.000.000 đô la trong năm 2007 thật là êm thắm.

Nếu một  người VN  muốn qua Tiệp làm việc (chừng 10 đô la/ 1 giờ/8 giờ mỗi ngày/5 ngày mỗi tuần), mà phải chi ra 14 ngàn đô, thì với 20.000 người VN  nhập cảnh Tiệp năm 2007, các quan chức nằm trong dường dây nầy đã có được trong tay: 20.000 x 14.000 = 280.000.000 đô la. (trước khi trừ tiền vé may bay ra tạm cho là 1000 đô/ 1 vé. Tính tổng cộng 20.000 người thì vé máy bay cũng chỉ khoảng 20 triệu đô mà thôi).

Dịch vụ xuất khẩu người qua Tiệp kiếm tiền đút túi nhẹ nhàng và êm thắm.  Các quan chức “ta” nên tiếp tục làm như bao nhiêu năm qua.

Không nên khai thác mỏ bauxite,  vì làm cả năm chỉ mới tính trên giấy tờ cũng chỉ thu được 150.000.000 đô, theo ông tổng giám đốc Than Khoáng Sản Kiển cho biết. Nhưng hiện nay, chỉ mới ký hợp đồng mua máy, và máy vẫn chưa lắp đặt được, mà đã bị dư luận phản đối mạnh mẻ suốt hơn 6 tháng qua. So với phi vụ làm ăn xuất khẩu 20.000 người qua Tiệp quá êm thắm. Mà những người nầy qua bển sống, hàng tháng còn gởi về chừng 100-200 đô (hay mỗi năm chừng 1000 đô) vậy là nhà nước có thêm 20 triệu nữa. Nhà nước thu tiền vào mà không mất một giọt mồ hôi (vì chỉ cần in tiền đồng  VN ra, đổi lấy tiền đô ấy là xong).

—————–

 

New York Times

Crisis Strands Vietnamese Workers in a Czech Limbo

By DAN BILEFSKY

Published: June 5, 2009

PRAGUE — For Trieu Dinh Van, 25, the long journey two years ago from the rice paddies of northern Vietnam to a truck-welding factory in eastern Bohemia was supposed to provide an economic life line. Instead Mr. Van, the son of poor, peasant farmers, is jobless, homeless and heavily indebted in a faraway land.

Mr. Van said his elderly parents put up the family farm as collateral for a loan of €10,000, or about $14,000, to pay an agent for his plane ticket and a working visa. But less than a year after he arrived in the Czech Republic, the global financial crisis claimed his €8-an-hour job at Kogel, a German truck manufacturer, and he can no longer send money home. Now he fears he will have to ask his family for a handout to survive.

“It would not be good for me to go back to Vietnam,” he said on a recent day, wondering where he would spend the night. “I would return home with empty hands and couldn’t marry or build a house. That would be a great shame for me.”

Mr. Van is one of 20,000 Vietnamese workers who arrived here in 2007, part of an influx of poor from Vietnam, China, Mongolia and elsewhere who were recruited in Eastern Europe to become low-skilled foot-soldiers for then-booming economies. But when economies across the region began to contract earlier this year, thousands became jobless and dispossessed.

In Romania, hundreds of Chinese migrants camped out in freezing temperatures in Bucharest for several weeks to protest against contractors who had stopped paying them.

Czech officials say they fear social unrest as exports plummet and unemployment, which economists say could hit 8 percent by the end of the year, pushes ever more Czechs to seek the low-wage work they once left to foreign laborers.

Although several thousand Vietnamese who came to Communist Czechoslovakia under fraternal work programs in the 1970s have successfully carved out a niche here, friction remains. The Czech government hopes that jobless migrants will go home because it fears that unemployed migrants could aggravate an already simmering backlash against minorities.

Last month, a Roma child and her parents were severely burned after suspected rightist radicals firebombed their home in the northeast town of Vitkov. Some in the Vietnamese community fear they, too, may be targeted.

“The Czechs don’t like us, because we look different,” said Mr. Van, who added that he had already been accosted in Chocen, the small town in eastern Bohemia where he worked, by local residents shouting, “Vietnamese, go home!” Vietnamese laborers, he said, were also denied access to discos and restaurants.

Under a policy begun in February, any unemployed foreign worker who wants to go home is eligible for a free one-way air or rail fare and €500 in cash. In the first two months, about 2,000 Mongolians, Ukrainians and Kazakhstanis took up the offer. But many Vietnamese like Mr. Van, who are saddled with debts, prefer to stay and wait for better times.

Ivan Langer, who as interior minister devised the return policy, said he worried that an estimated 12,000 jobless foreign workers were vulnerable to being drawn into organized crime, or being exploited as slave labor.

According to the National Anti-Drug Center, the police last year uncovered 79 large-scale marijuana grow-shops, 70 of which were run by Vietnamese. A Vietnamese man from the southeast city of Brno, suspected of heroin dealing, was beaten to death by the police in January.

Julie Lien Vrbkova, a Vietnamese expert who has worked as a translator at several automobile factories employing Vietnamese workers, said she had been shocked by “slave-like” working conditions, including 12-hour days during which workers were beaten if they stopped working.

Despite recent tensions, the Vietnamese community in the Czech Republic is one of Central Europe’s most abiding minority success stories. Many own thriving corner shops, speak Czech and send their children to Czech schools, where they are routinely at the top of their classes.

After the overthrow of communism in 1989, thousands more Vietnamese joined those who had arrived in the 1970s. Today, there are an estimated 70,000 Vietnamese in the Czech Republic, the second-largest foreign community after Ukrainians.

Vietnamese leaders here say they fear that the new class of dispossessed workers threatens to disturb a coexistence they have built over decades. In an April survey by Stem, a Prague-based polling firm, 66 percent of Czechs said they would not like to have a Vietnamese person as a neighbor.

Linh Nguyen, 22, a second-generation Vietnamese Czech, who is campaigning for the government to improve its integration policies, said the hard-working Vietnamese preferred to quietly prosper while the Czechs were content to pretend the Vietnamese were not there. He lamented that four decades after the first Asian migrants arrived in the Czech Republic, there were no Asian faces on television, in Czech popular culture or in Parliament.

Mr. Langer, the former interior minister, argued that the Czech Republic, closed off to immigration during the cold war, was ill-equipped to deal with newcomers. “Unlike in France or Germany, people here are still not used to seeing Asian or African faces in schools.”

To try to improve integration, the Czech government recently introduced new rules forcing immigrants who want to acquire a business license to have 120 hours of introductory Czech; but the lessons cost about €200 — which few indebted migrants can afford.

Jiri Kocourek, a sociologist specializing in Vietnam, argued that cultural misunderstandings had been made worse because of Czech ignorance. For example, official Czech grammar does not allow for the tones of the Vietnamese alphabet to be used on official documents such as drivers’ licenses. That, he said, had caused Czech authorities enormous confusion in distinguishing individuals in a community where thousands share the family name Nguyen.

The challenges of assimilation are evident at Sapa, a sprawling Vietnamese market on the outskirts of Prague, where newly arrived migrants can find everything from Vietnamese hairdressers to Vietnamese insurance companies, as well as a thriving business of Czech-speaking Vietnamese “middlemen,” who for fees ranging from €20 to €5,000 can arrange for visas, take fellow Vietnamese to the doctor and attend parent-teacher meetings as surrogates.

Trang Thu Tran, 21, a Vietnamese blogger who came to the Czech Republic when she was 13 — and now calls herself Tereza, after a Czech soap opera star — said the construction of a separate and parallel world meant that many Vietnamese, including those here for decades, couldn’t speak Czech, and were forced to phone a middleman to translate, even when pulled over in their cars by the Czech police.

Tran Qang Hung, the managing director of Sapa, said many migrants were coming to the market in a vain search for work. He said he had proposed to the Czech government that it build a school for the migrants, where they could study Czech and become more employable. But he said he had been turned down.

“Now that the economy is bad, the Czechs don’t want these people here,” he said. “They only want them to go home.”

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 


Posted in Kinh tế Việt Nam, Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài | Leave a Comment »

Việt Nam thiếu hụt ngoại tệ

Posted by adminbasam on 05/06/2009

Financial Times

Những lo ngại thâm hụt tài chính thử thách khả năng phục hồi của Việt Nam

Tin Johnston

Ngày 4-6-2009

 

Nền kinh tế của Việt Nam đã chứng tỏ là có sức mạnh hơn nhiều người bi quan đã từng tin, song các nhà phân tích đang cảnh báo rằng một số mặt mạnh của nó có thể bị hao mòn do những tình trạng không rõ ràng về tiền tệ và sự thiếu hụt thanh khoản (tiền bạc chi trả) hiện nay.

Hầu hết các nhà phân tích đang tin rằng nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng từ 3 tới 5% trong năm nay, nhưng giá trị của tiền đồng Việt Nam đang tiếp tục trượt dốc.

Trong nhiều tháng qua, tiền đồng đã được trao đổi chính thức ở mức đáy của biên độ cho phép và khi ấy, vào tháng Ba, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nới rộng biên độ từ 3% lên 5% giới hạn cố định cả mức sàn và đáy, thì giá trị của nó đã rơi xuống  mức cực tiểu mới.

Hối suất chính thức của tiền đồng, đã giảm giá trị 9% vào năm ngoái, hiện lại giảm xuống 2% trong sáu tháng đầu năm nay.

Thế nhưng nó lại đã mất 4,1% trên thị trường không chính thức và theo John Shrimpton, một đồng sáng lập và là giám đốc quỹ Dragon Capital tại thành phố Hồ Chí Minh, nói rằng ông sẽ không ngạc nhiên nếu như đã có một sự mất giá hơn nữa là 5%.

Chính phủ, với chỉ 20 tỉ đô la dự trữ ngoại tệ – tương đương chưa đầy 4 tháng giá trị nhập khẩu – đã phải hạn chế biên độ can thiệp, dẫn đến một tình trạng thiếu tiền đô la trên thị trường tự do.

Chính phủ ở Hà Nội không muốn bắt các công ty chuyển đổi tài sản bằng đô la của họ, một giải pháp có thể làm nổ ra một cuộc tháo chạy tiền tệ, song họ đang sử dụng những công cụ nào mà họ có thể nới lỏng vấn đề thanh toán bằng đô la. Ba trong số những ngân hàng lớn nhất Việt Nam – BIDV, Việtinbank và Vietcombank – vào hôm thứ Hai đã cắt giảm mức ký quỹ bằng đô la từ 2% xuống 1,5%: tỉ lệ ký quỹ có kỳ hạn bằng tiền đồng hiện đang ở mức hơn 9%.

Vào tuần trước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết họ sẽ chấp nhận những công khố phiếu gắn với đồng đô la khi thế chấp cho những khoản vay.

Một phần của trong nan đề này là sự mất mát niềm tin – các nhà xuất khẩu đang nắm giữ lợi tức của họ bằng đồng đô la hơn là chuyển đổi sang tiền đồng Việt Nam – thế nhưng có một yếu tố khác là một sự thiếu hụt quyết toán thường kỳ đã trở thành kinh niên lên tới 8,4 tỉ đô la, tức chiếm tới 9,3% tổng sản phẩm quốc nội GDP, trong năm 2008.

Bức tranh kinh tế dường như đã hiện lên sáng hơn vào quý đầu năm nay, song hầu hết của sự cải thiện nầy là nhờ các nhà đầu tư trong nước thanh toán các cổ phần của họ bằng vàng khi giá trên thị trường thế giới của mặt hàng này tăng lên.

Xuất khẩu vàng đã vọt lên tới 2,5 tỉ đô la trong ba tháng đầu năm, tăng tới 1600% (tăng 16 lần) so với cùng kỳ năm ngoái, và các nhà phân tích đang cảnh báo về sự thay đổi này là không chắc sẽ chống đỡ được lâu.

“Việc gia tăng giá trị xuất khẩu sẽ không chống đỡ được khi các nguồn dự trữ vàng đang suy giảm và toàn bộ các xuất khẩu đang trượt dốc xuống tới mức báo động,” theo Prakriti Sofat, một kinh tế gia làm việc cho ngân hàng HSBC, đã nhận định trong một bài nghiên cứu.

Ông Shrimpton cho là một khoản thâm hụt thương mại quan trọng không phải là dị thường đối với một quốc gia đang ở giai đoạn phát triển như Việt Nam và đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), (ở mức tháo khoán tiền bạc là 2,8 tỉ đô la vào năm nay), vào Việt Nam sẽ tiếp tục yếu đi.

Nhưng tình trạng tiếp tục yếu kém của đồng tiền đang gây khó khăn hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam gom góp tiền trên các thị trường và đối với chính phủ khi phải huy động vốn cho kế hoạch kích thích kinh tế 8 tỉ đô la của họ – một số việc như bán trái phiếu, (bán cho ngoại quốc hay bán cho thị trường trong nước)  đã và đang dậm chân tại chỗ (thất bại).

Hiệu đính: Trần Hoàng

————

 

Financial Times

Deficit worries test Vietnam resilience

By Tim Johnston

Published: June 4 2009 20:17 | Last updated: June 4 2009 20:17

Vietnam’s economy has proved to be far more robust than many pessimists believed but analysts are warning that some of its strength could be sap ped by uncertainties about the currency and the current account deficit.

Most analysts believe the economy will grow 3-5 per cent this year but the value of the Vietnamese dong is continuing to slide.

For months, the dong has traded officially at the bottom of its permitted band and when, in March, the State Bank of Vietnam widened the band from 3 per cent to 5 per cent either side of the set point, the value plummeted to the new minimum.

The official exchange rate of the dong, having depreciated by 9 per cent last year, is down 2 per cent in the first six months of this year.

But it has lost 4.1 per cent on the unofficial market and John Shrimpton, a co-founder and director of Dragon Capital in Ho Chi Minh city, says he would not be surprised if there were to be a further 5 per cent fall.

The government, with only $20bn in foreign reserves – the equivalent of fewer than four months of imports – has limited latitude for intervention, resulting in a shortage of dollars on the open market.

The Hanoi administration does not want to force companies to convert their dollar holdings, a measure that would trigger a currency flight, but they are using what tools they can to ease the dollar liquidity problem. Three of Vietnam’s largest banks – BIDV, Vietinbank and Vietcombank – on Monday cut their dollar deposit rates from 2 per cent to 1.5 per cent: dong term deposit rates are running at more than 9 per cent.

Last week, the State Bank of Vietnam said it would accept dollar-denominated bonds as collateral for loans.

Part of the problem is a loss of confidence – exporters are holding their revenue in dollars rather than converting into dong – but another factor is a chronic current account deficit that reached $8.4bn, or 9.3 per cent of gross domestic product, in 2008.

The picture appeared to brighten in the first quarter of this year but most of the improvement was due to domestic investors liquidating their stocks of gold as the world price rose.

Gold exports hit $2.5bn in the first three months, up 1,600 per cent year on year, and analysts warn the shift is unlikely to be sustained.

“The boost to exports is not sustainable as gold stocks are running down and overall exports are going to slip deeper into the red,” Prakriti Sofat, an economist with HSBC, said in a research note.

Mr Shrimpton says a substantial trade deficit is not abnormal for a country at Vietnam’s stage of development and foreign direct investment, at $2.8bn disbursed this year, will take up some of the slack.

But the continuing weakness of the currency is making it harder for Vietnamese businesses to raise money in the markets and for the government to raise funds for its $8bn stimulus plan – a number of bond sales, sovereign and commercial, have fallen flat.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Kinh tế Việt Nam | Leave a Comment »

Phát biểu của đại biểu quốc hội Nguyễn Minh Thuyết

Posted by adminbasam on 30/05/2009

Mời các bạn xem phát biểu của đại biểu quốc hội Nguyễn Minh Thuyết

Phát biểu của ông Thuyết  có nhắc đến  tiền bạc đầu tư để xây dựng mỏ ở Đắc nông. Số tiền nầy rất gần khớp với số tiền 500 tỷ yen trong hợp đồng liên quan tay ba, giữa Việt  Nam, Trung Quốc và Nhật. Theo nghị quyết 167 của chính phủ,  các nước ngoài (Trung Quốc) có thể  đầu tư vốn 100% vào dự án nầy, (vì hãng Alcoa của Mỹ đã rút lui) và Việt Nam không có tiền. Hãng Marubeni của Nhật đứng làm trung gian, làm chứng, làm cố vấn pháp luật, và chế tạo, bán máy móc trang bị cho dự án bauxite, còn hãng Chienko của Trung Quốc lắp đặt máy…

Theo bài phát biểu:

* “Vốn đầu tư từ đây đến 2025 là : 190 nghìn -250 nghìn tỉ đồng VN (10 tỷ -15 tỉ đô la Mỹ).

Tổng số tiền đầu tư xây dựng dưới đây gần đúng với số 500 tỷ yen trong bài 158 (link phía dưới)

_”xây dựng 4 nhà máy chế biến bauxite thành alumina ở 4 tỉnh  Lâm Đồng, Đắc Nông, Gia Lai, Bình Phước* (là tỉnh Bình Dương + tỉnh Phước Long gộp lại)

_xây đường  xe lửa dài 270 km, từ độ chênh lệch 700 mét.

_tiêu tốn là 3,1 tỉ  đô la Mỹ.

_Và xây dựng hải cảng ở hòn Kê Gà  hoặc Hòn Gió.

Số lượng bùn đỏ mỗi năm là 10 triệu tấn kể từ 2015, hay 1,5 tỉ tấn bùn đỏ trong toàn bộ công trình tính tới năm 2015.  Đây là các quả bom bùn treo ở trên cao, treo trên đồng bằng Nam bộ vào nam Trung bộ.

Tiền tính vào đâu? Nếu tính vào sản phẩm alumin thì giá (vốn) rất cao, và như thế chúng ta bán hoàn toàn không có lãi. Còn nếu như không tính vào sản phẩm alumin mà coi là công trình dân dụng thì có thể nói là vô hình chung chúng ta lấy tiền thuế của dân  để mà làm lợi cho doanh nghiệp.

Quyết định 167 cho phép vốn đầu tư nước ngoài 100% chỗ nầy chúng tôi cho là chính phủ có phần chủ quan.

Còn về bây giờ xử lý như thế nào thì tôi xin đề nghị là hãy coi đây là công trình quan trọng cấp quốc gia bởi vì chúng tôi thấy  cả cụm ấy tiêu một số tiền gấp 10 lần* tiêu chí tiền cho 1 công trình quan trọng cấp quốc gia, cho nên tôi đề nghị là phảỉ đưa (dự án ấy) vào công trình quan trọng cấp quốc gia, quốc hội phải kiểm tra, và cuối năm nay chúng ta phải xem xét quyết định chứ không nên quyết định vội.

Nếu chúng ta không tính cả cụm dự án, mà chúng ta làm như khi ở Cà Mau, chúng ta cứ tách từng dự án ra để nói chưa đến số tiền Quốc hội yêu cầu đưa vào công trình trọng điểm cấp quốc gia, thì tôi cho như thế là chúng ta lách luật.”

*Để cho một dự án được coi là công trình quan trọng cấp quốc gia,thì dự án ấy phải có liên quan đến một số tiền bằng/hay lớn hơn 600 triệu đô la. (Ông Thuyết nói cả cụm dự án ấy tiêu một số tiền gấp 10 lần tiêu chí cho công trinh cấp quốc gia, thì có phải là khoảng 6 tỉ đô la không? Số tiền gấp 10 lần nầy có phải là cũng gần bằng 500 tỉ yen không? Giống như bài 158 mà TH đã dịch vào ngày 11-5-2009 đọc ở đây.)

**Trong 4 công trình khai thác mỏ bauxite,  có 1 cái nằm ở tỉnh Bình  Phước (Bình Long và Phước Long nhập lại). Vị trí nầy chỉ cách Sài Gòn chừng 200km.  Nếu khai thác bauxite ở đây, thì toàn bộ các con sông ở các vùng nầy bị ô nhiễm bùn đỏ (sông Đồng Nai, các hồ). Mời các bạn xem hình các thắng cảnh hồ, thác, … của Bình  Phước ở đây. Đất ở Bình Phước cũng có màu đỏ y hệt như Tây Nguyên.  Các bạn nhấp chuột (click) vào chữ vietnam sẽ thấy hiện ra hình ảnh vệ tinh, dùng các mũi tên, và dấu +, dấu –  để xem vùng Bình  Phước và khắp VN: World Map; Vietnam ; Tà Nhum.

————-

 

Ba Sàm bình: Nhưng qua câu nầy: “Trước hết tôi xin khẳng định là tôi hoàn toàn nhất trí với chủ trương phát triển công nghiệp khai khoáng bô-xít và chế tạo nhôm kim loại”, thì với người dân nói chung không có khả năng đi sâu hiểu những vấn đề chánh trị/kinh tế/kỹ thuật, họ có thể cho là ông Thuyết nhất trí với hiện trạng, chỉ có “băn khoăn” thôi, dù ông không nói rõ ra là “chủ trương của  đảng, nhà nước”. Bởi nếu ông không nói câu trên, hay chí ít không nhấn mạnh “tôi khẳng định”, “hoàn toàn”, thì sẽ không bị đánh giá như vậy.

Một lời nói của những người có ảnh hưởng lớn tới xã hội, là vô cùng quan trọng .

BBT  bình : “Trước hết tôi xin khẳng định là tôi hoàn toàn nhất trí với chủ trương phát triển công nghiệp khai khoáng bô-xít và chế tạo nhôm kim loại”. Câu nầy có 2  ý nghĩa:

_ Khi nói câu đó, ông ngụ ý rằng: tui muốn có ý kiến, nhưng tui lo sợ khác ý kiến với cấp trên và như thế, và như thế, tui có thể bị gạt phăng ra khỏi tổ chức, và rời khỏi chúc vụ  ĐBQH … do đó câu ấy là ông dùng để nói cho  cấp trên nào đó “hữu hinh lẫn vô hình” chắc chắn đang lắng nghe, ghi âm lại, và để dành đó…

_câu ấy cũng nói lên rằng: tui cùng phe với mấy người à nghen. Nhưng sau khi tui đọc tài liệu của các ông giao cho, tui quá  ngạc nhiên:  tại sao việc đầu tư quá nhiều tiền như thế, mà kết quả là quá sức phiêu lưu, lời lỗ thì bấp bênh như vậy, chưa bàn kỹ mà muốn làm cấp tốc.

_ Cũng có nghĩa là như một câu chào mở đầu…mà ai ai cũng cần phải nói câu đó trước để thủ. Riết thành ra quen.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 


Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Kinh tế Việt Nam | Leave a Comment »

So sánh hiệu quả giữa công ty quốc doanh, tư nhân, và FDI từ 2000-2008

Posted by adminbasam on 26/05/2009

Địa vị và vai trò của các tập đoàn kinh tế nhà nước

Nguyễn Quang A*

Viện Nghiên cứu Phát triển IDS

Các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam được thí điểm thành lập, nhưng địa vị pháp lý của chúng không có. Không có bất cứ luật hiện hành nào làm cơ sở cho việc thành lập các tập đoàn kinh tế cả. Tuy nhiên một số tổng công ty nhà nước lớn đã được chuyển đổi theo luật doanh nghiệp thành các công ty mẹ (holdings) và các thành viên của tổng công ty đó trở thành các công ty do công ty mẹ đó kiểm soát (toàn bộ hay một phần) vốn. Một nhóm công ty như vậy tạo thành một “tập đoàn” theo nghĩa thông thường (conglomerate, kairetsu, chaebol). Chính vì thế, thay cho nghiên cứu riêng các “tập đoàn” báo cáo này điểm lại địa vị và vai trò mà Đảng Cộng sản Việt Nam trao cho các doanh nghiệp nhà nước mà các “tập đoàn” là nòng cốt. Sau đó báo cáo sẽ khảo sát các số liệu thực tế trong gần một thập kỷ để xem các doanh nghiệp nhà nước sử dụng bao nhiêu nguồn lực xã hội và đạt những thành tích gì so với các thành phần kinh tế khác. Các số liệu mà báo cáo này phân tích là những số liệu thống kê chính thức do Tổng cục Thống kê công bố, trên cơ sở đó khó có thể nói các doanh nghiệp nhà nước có thể đảm đương được địa vị và vai trò mà Đảng Cộng sản Việt Nam mong đợi. Báo cáo cũng đưa ra vài gợi ý để cải thiện hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước.

  1. I. Vai trò của khu vực kinh tế nhà nước

Vai trò của khu vực kinh tế nhà nước đã có những thay đổi trong quan niệm của Đảng CSVN và được ông Trần Đức Nguyên tóm tắt lại như sau:

Đối với kinh tế quốc doanh[1], nhận thức về vị trí của khu vực kinh tế này được điều chỉnh từng bước trong tiến trình đổi mới. Đại hội VI (12-1986) gắn vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh với việc “chiếm tỷ trọng lớn cả trong sản xuất và lưu thông”; Hội nghị Trung ương 6 khoá VI (3-1989) vẫn đặt quốc doanh vào vị trí chủ đạo, nhưng “không nhất thiết chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành, nghề”. Vào đầu thập kỷ 90 (thế kỷ trước), kinh tế quốc doanh đang nắm vai trò chi phối nền kinh tế với 12 nghìn xí nghiệp (toàn bộ vốn đều thuộc Nhà nước), chiếm tỷ trọng lớn và giữ những vị trí then chốt trong các ngành phi nông nghiệp[2]. Cương lĩnh 1991[3] chỉ nêu gọn “Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế”.  Chiến lược 1991[4] nói rõ hơn: “Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển trong những ngành và lĩnh vực then chốt, nắm những doanh nghiệp trọng yếu và đảm đương những hoạt động mà các thành phần khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư kinh doanh… Những cơ sở không cần giữ hình thức quốc doanh thì Nhà nước chuyển hình thức kinh doanh, hình thức sở hữu hoặc giải thể, đồng thời có chính sách giải quyết việc làm và đời sống cho người lao động”.

Quan điểm này một mặt tạo tiền đề cho sự phát triển khu vực kinh tế ngoài nhà nước, nhất là kinh tế tư nhân; mặt khác, không coi vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh là điều mặc nhiên mà phải gắn với việc “sắp xếp lại, đổi mới công nghệ và tổ chức quản lý, kinh doanh có hiệu quả, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác, thực hiện vai trò chủ đạo và chức năng của một công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Các xí nghiệp quốc doanh hoạt động theo nguyên tắc tự chủ kinh doanh, tự trang trải và tích luỹ trong môi trường hợp tác, cạnh tranh; Nhà nước chỉ tài trợ có thời hạn cho một số cơ sở thật sự cần thiết”.

Chủ trương đó đã thúc đẩy việc đổi mới khu vực kinh tế quốc doanh, giảm mạnh số xí nghiệp[5], tiến hành cổ phần hóa và đổi mới cơ chế, nâng cao tính tự chủ của xí nghiệp quốc doanh. Tuy nhiên, khu vực quốc doanh chưa thật sự đảm nhiệm được vai trò chủ đạo vì nhìn chung kém hiệu quả hơn các khu vực khác, vẫn còn dựa dẫm, ỷ lại vào các chính sách ưu đãi của Nhà nước dưới nhiều hình thức và còn bị ràng buộc bởi cơ chế “chủ quản” của cơ quan hành chính.

Từ thực tế đó, để định hướng, dẫn dắt, hỗ trợ, kiểm soát được các hoạt động trong nền kinh tế, Nhà nước phải sử dụng toàn bộ sức mạnh kinh tế của mình, không chỉ có các doanh nghiệp nhà nước, mà còn có các nguồn lực quan trọng khác, như ngân sách nhà nước, vốn Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp khác (ngoài doanh nghiệp nhà nước), dự trữ nhà nước, tài nguyên quốc gia, đặc biệt là đất đai. Với nhận thức đó, Đại hội VIII (6-1996) xác định vai trò chủ đạo đối với nền kinh tế không chỉ đặt vào các doanh nghiệp nhà nước mà dựa vào toàn bộ kinh tế nhà nước bao gồm đẩy đủ các nguồn lực nêu trên. Quan điểm này điều chỉnh sự đánh giá quá mức về vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy mạnh hơn công cuộc cải cách các doanh nghiệp này. Tuy nhiên, cho đến nay, công cuộc cải cách này vẫn chưa đi kịp yêu cầu của cuộc sống, cả về mặt sắp xếp lại, chuyển đổi sở hữu, đổi mới quản trị doanh nghiêp cũng như về cơ chế quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp. [6]

Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng CSVN khoá IX về các Văn kiện Đại hội X của Đảng CSVN có nêu: “Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”. Trong Bản trình bày của đoàn Chủ tịch về ý kiến thảo luận của các đại biểu đối với các văn kiện Đại hội X của Đảng CSVN có giải thích về vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước như sau: “… vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước không phải thể hiện ở số lượng doanh nghiệp nhiều hay ít, tỉ trọng đóng góp GDP cao hay thấp mà ở chỗ, đó là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển”. Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN khóa IX ngày ngày 10 tháng 4 năm 2006 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010 (gọi là Báo cáo phát triển Kinh tế-Xã hội), cụm từ “vai trò chủ đạo”  xuất hiện 1 lần duy nhất trong “vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương”. Nghị quyết số 21-NQ/T.Ư Hội nghị lần thứ 6 BCHTW Đảng CSVN khóa X “về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã nhiều lần nhắc lại “vai trò chủ đạo” của kinh tế nhà nước.

Ở đây có sự chưa rõ ràng về khái niệm: khu vực kinh tế nhà nước nghĩa là gì? Nó có đồng nghĩa với khu vực của các doanh nghiệp nhà nước không? Có vẻ nó rộng hơn, như nêu ở trên nhưng cụ thể là gì thì chưa được nêu một cách tường minh. Cũng trong báo cáo phát triển kinh tế-xã hội có nói: “khu vực kinh tế nhà nước đang được tổ chức lại, đổi mới và chiếm 38,4% GDP, chi phối nhiều ngành kinh tế then chốt và tập trung hơn vào những lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế”. Nếu hiểu theo nghĩa này thì gần như khu vực kinh tế nhà nước đồng nhất với khu vực các doanh nghiệp nhà nước. Tuy còn có những điểm chưa rõ, nhưng người ta vẫn hiểu các doanh nghiệp nhà nước có “vai trò chủ đạo”. Báo điện tử ĐCSVN ngày 2-4-2008 khẳng định trong khó khăn của nền kinh tế hiện nay, thì “đây là lúc khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước”.  Có lẽ nên thay khái niệm “khu vực kinh tế nhà nước” bằng  “khu vực công” và “khu vực doanh nghiệp nhà nước cho thật rõ ràng.

Tuy đã được giải thích, “vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước không phải thể hiện ở số lượng doanh nghiệp nhiều hay ít, tỉ trọng đóng góp GDP cao hay thấp” nhưng chắc chắn những chỉ số như vậy cũng quan trọng trong “vai trò chủ đạo” ấy. Chúng ta hãy xem các con số nói lên điều gì.

  1. II. Vài sự thực

1. Sử dụng nguồn lực và thành tích của các khu vực

Đầu tiên chúng ta xem các khu vực nhà nước, khu vực tư nhân trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) sử dụng các nguồn lực gì của xã hội và tạo ra những thành tích gì cho xã hội.

1.1. Vốn đầu tư xã hội

Theo Niên giám thống kê tóm tắt 2008, vốn đầu tư (tính bằng giá năm 1994) của khu vực kinh tế nhà nước luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Từ năm 2000 đến năm 2006, tỷ trọng này luôn trên 50%, cụ thể, năm 2000, vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước chiếm 59,17%; lên đỉnh 59,81% năm 2001; rồi bắt đầu giảm từ từ nhưng đến 2006 vẫn chiếm 52%; sau đó giảm khá mạnh xuống 42,67% năm 2007 và năm 2008 chỉ còn 33,55% kém của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Đến 2008 tỷ trọng vốn đầu tư của cả ba khu vực đã gần ngang nhau. Số vốn đầu tư tính theo giá năm 1994 diễn biến như sau:

Bảng 1: Vốn đầu tư theo giá so sánh 1994 phân theo thành phần kinh tế (ngàn tỷ đồng)

Năm: 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Tổng số 115,1 129,4 148,0 166,8 189,3 213,9 243,3 309,1 328,8
Khu vực N.N 68,1 77,4 86,7 95,5 105,1 115,2 126,6 131,9 110,3
Khu v.ngoài N.N 26,3 29,2 35,1 42,8 53,5 62,8 72,9 92,5 104,5
Khu vực FDI 20,7 22,8 26,2 28,5 30,7 35,9 43,8 84,7 114,0

Cơ cấu %

Khu vực N.N

59,17

59,81

58,58

57,25

55,52

53,86

52,04

42,67

33,55

Khu v.ngoài N.N

22,85

22,57

23,72

25,66

28,26

29,36

29,96

29,93

31,78

Khu vực FDI

17,98

17,62

17,70

17,09

16,22

16,78

18,00

27,40

34,67

Nguồn: CSO, Niên giám thống kê tóm tắt 2008

Hình 1. Tỷ trọng vốn đầu tư tính (giá 1994) theo thành phần kinh tế (%) [2000-2008]

Nguồn: CSO, Niên giám thống kê tóm tắt 2008

Cũng theo Niên giám đó, số vốn đầu tư huy động hàng năm chiếm tỷ trọng cao trong GDP (từ 34,2% GDP năm 2000, tăng liên tục đến 46,5% GDP năm 2007 rồi xuống 41,3% GDP năm 2008), có thể nói tăng trưởng GDP của Việt Nam dựa nhiều vào vốn đầu tư.

Bây giờ xem thành tích của các khu vực này ra sao.

1.2. Thành tích của các khu vực

Như cách tiếp cận sơ bộ, hãy lấy đóng góp vào GDP và số lao động của mỗi khu vực

để đánh giá thành tích của chúng.

1.2.1. Đóng góp vào GDP

Bảng sau cho thấy đóng góp của các khu vực vào GDP (tính theo giá thực tế).

Bảng 2: Tỷ lệ đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế (%)

Năm: 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Khu vực N.N 38,52 38,40 38,38 39,08 39,10 38,40 37,39 35,93 34,35
Khu v.ngoài N.N 48,20 47,84 47,86 46,45 45,77 45,61 45,63 46,11 46,97
Khu vực FDI 13,28 13,76 13,76 14,47 15,13 15,99 16,98 17,96 18,68

Nguồn: CSO

Có thể thấy đóng góp vào GDP của khu vực kinh tế nhà nước không tương xứng với nguồn lực (vốn đầu tư) mà nó sử dụng. Chúng sử dụng nhiều nguồn lực song tạo ra ít giá trị.

*Khu vực tư nhân nói chung (trong nước và FDI) tạo ra gần 2/3 GDP. {Khu vực tu nhân và FDI chiếm gần 62%; trong số nầy, FDI chỉ chiếm 13% — BBT}

1.2.2. Tạo công ăn việc làm

Bảng 3: Tỷ lệ lao động vào ngày 1 tháng 7 hàng năm (%)

Năm: 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Khu vực N.N 9,31 9,34 9,49 9,95 9,88 9,50 9,11 9,00 9,10
Khu v.ngoài N.N 89,70 89,49 89,01 88,14 87,83 87,84 87,81 87,52 87,2
Khu vực FDI 0,99 1,16 1,49 1,91 2,29 2,66 3,08 3,49 3,70

Nguồn: CSO

Có thể thấy

_khu vực nhà nước tạo ra từ 9 đến 10% công ăn việc làm. Tỷ lệ tăng từ 9,31% năm 2000 lên 9,95% năm 2003 rồi giảm dần xuống 9% năm 2007 và tăng một chút năm 2008.

_Tỷ lệ của khu vực FDI tuy còn nhỏ nhưng tăng liên tục.

_Đại bộ phận lao động do khu vực tư nhân tạo ra ở mức trên 87% đến 89,7%.

So với tỷ lệ vốn đầu tư chúng ta cũng thấy thành tích của khu vực nhà nước cũng không cao. Khu vực tư nhân (gồm kinh tế hộ gia đình, các doanh nghiệp tư nhân chính thức và phi chính thức, các doanh nghiệp FDI, các tổ chức phi chính phủ, …) luôn đảm bảo hơn 90% chỗ làm việc.

Lưu ý rằng các số liệu nêu trên là của các khu vực. Khu vực nhà nước không chỉ gồm “khu vực doanh nghiệp nhà nước” mà còn cả “khu vực công” nữa (giáo dục, y tế, văn hóa xã hội, an ninh, quốc phòng…), và “khu vực công” cũng có đóng góp đáng kể vào phần GDP và vào phần tạo công ăn việc làm của khu vực nhà nước.

Tiếp theo chúng ta xem xét việc sử dụng nguồn lực và thành tích của khu vực doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài nhà nước (cũng được nhắc tới như khu vực tư nhân), và doanh nghiệp có cốn đầu tư nước ngoài (FDI).

2. Khu vực doanh nghiệp:  những nguồn lực sử dụng và các thành tích

Các doanh nghiệp được đề cập trong phần này là các doanh nghiệp chính thức (có đăng ký kinh doanh) thuộc các thành phần kinh tế khác nhau (nhà nước, tư nhân, FDI). Một phần rất lớn của khu vực tư nhân là các doanh nghiệp phi chính thức (không có đăng ký kinh doanh) và kinh tế hộ gia đình không được đề cập đến trong phần này. Đầu tiên hãy xem các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực thế nào.

2.1. Nguồn lực sử dụng của các doanh nghiệp

Nguồn lực mà các doanh nghiệp sử dụng bao gồm vốn kinh doanh, vốn cố định, quyền kinh doanh, vị thế, nguồn lực con người và khoa học công nghệ, thông tin, … Do dựa chủ yếu vào số liệu của các cuộc điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê, nên dưới đây chỉ xét đến 2 loại nguồn lực là vốn kinh doanh và giá trị tài sản cố định.

Các doanh nghiệp nhà nước còn sử dụng các nguồn lực rất lớn khác như đặc quyền kinh doanh, về vị thế và vai trò mà Đảng CSVN trao cho chúng, nhân lực, thông tin, khoa học công nghệ và nhất là đất đai và tài nguyên chưa được xem xét về định lượng ở đây. Và nếu có thể đánh giá được việc sử dụng các nguồn lực này, thì có thể thấy nguồn lực mà khu vực doanh nghiệp nhà nước sử dụng còn cao hơn rất nhiều.

2.1.1. Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp

Theo điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê, tổng số vốn kinh doanh bình quân (theo giá ghi sổ ngày 31 tháng 12 hàng năm) của doanh nghiệp ở Việt Nam đã tăng nhanh trong thời gian qua; và tổng số vốn năm 2007 là 4.157,9 nghìn tỷ đồng, tăng gấp hơn 4 lần so với năm 2000.

Về thành phần kinh tế, trong cùng thời gian, số vốn của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã tăng gần 3 lần (từ khoảng 670 ngàn tỷ đồng lên gần 1957 ngàn tỷ đồng);

Số vốn của các doanh nghiệp tư nhân trong nước tăng khoảng 14,7 lần, từ 98,3 ngàn tỷ lên hơn 1.442 ngàn tỷ VNĐ.

Số vốn của các doanh nghiệp FDI tăng lên khoảng 3,3 lần, từ 229,8 lên 758,7 ngàn tỷ VNĐ.

Như vậy, đến năm 2007, tuy số lượng DNNN giảm mạnh, số vốn của các DNNN vẫn lớn hơn gần 1,4 lần số vốn của các doanh nghiệp tư nhân trong nước (Bảng 4).

Bảng 4. Vốn sản xuất kinh doanh bình quân của các doanh nghiệp

 

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

 

vốn bình quân (tỷ đồng)

Tổng số

998.423

1.186.014

1.352.076

1.567.179

1.966.512

2.430.727

3.035.418

4.157.900

DNNN

670.234

781.705

858.560

932.942

1.128.831

1.333.935

1.575.959

1.956.900

DN ngoài N.N

98.348

142.202

202.396

289.625

422.892

607.271

854.848

1.442.300

DN FDI

229.841

262.107

291.120

344.611

414.789

489.521

604.609

758.700

 

Cơ cấu (%)

Tổng số

100.00

100.00

100.00

100.00

100.00

100.00

100.00

100.00

DNNN

67,13

65,91

63,50

59,53

57,40

54,88

51,92

47,10

DN ngoài N.N

9,86

11,99

14,97

18,48

21,50

24,98

28,16

34,70

DN FDI

23,02

22,10

21,53

21,99

21,09

20,14

19,92

18,20

Nguồn: GSO- Điều tra doanh nghiệp & Niên giám Thống kê 2008

Số liệu về cơ cấu vốn trong Bảng 4 cũng được thể hiện trên Hình 2.

Hình 2. Tỷ trọng vốn sản xuất kinh doanh bình quân (%) [2000-2007]

Nguồn: CSO, Điều tra doanh nghiệp

Cơ cấu vốn của doanh nghiệp theo thành phần kinh tế cũng đã thay đổi đáng kể. Tỷ trọng vốn kinh doanh của DNNN đã giảm xuống từ khoảng 67% vào năm 2000 xuống còn khoảng 47% năm 2007; tỷ trọng của doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI tăng lên tương ứng từ khoảng 10 và 23% vào năm 2000 lên 34,7 và 18,2% năm 2007. Đây cũng là một xu hướng về tiếp cận đến vốn rất đáng khích lệ (Hình 2). Tuy nhiên, DNNN vẫn tiếp tục nắm giữa hơn ½ tổng số vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế cho đến 2006. Có thể thấy khả năng tiếp cận đến vốn của khu vực tư nhân ngày càng tăng.

2.1.2. Tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn

Theo điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê, về giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp, thì tổng giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp đã tăng lên 4,57 lần trong thời kỳ 2000-2007, trong đó DNNN tăng hơn 3,91 lần, doanh nghiệp tư nhân trong nước tăng hơn 17,4 lần và doanh nghiệp FDI tăng gần 2,64 lần. Tuy vậy, giá trị tăng thêm về tài sản cố định của DNNN trong thời kỳ nói trên vẫn chiếm hơn hơn một nửa số giá trị tăng thêm về tài sản cố định của các doanh nghiệp và cao gấp gần 2 lần so với doanh nghiệp tư nhân trong nước như có thể thấy ở bảng dưới đây:

Bảng 5. Tài sản cố định và đầu tư  tài chính dài hạn tại 31-12 hàng năm (Tỷ đồng)

 

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

                 
   
Tổng số

411.713

476.515

552.326

645.505

744.573

952.437

1.429.782

1.882.000

DNNN

229.856

263.153

309.084

332.077

359.988

486.561

794.194

900.600

DN ngoài N.N

33.916

51.049

72.663

102.945

147.222

196.200

298.296

591.200

DN FDI

147.941

162.313

170.579

210.483

237.363

269.676

337.292

390.200

 

Cơ cấu (%)

Tổng số

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

DNNN

55,83

55,23

55,96

51,44

48,35

51,09

55,55

47,90

DN ngoài N.N

8,24

10,71

13,16

15,95

19,77

20,60

20,86

31,40

DN FDI

35,93

34,06

30,88

32,61

31,88

28,31

23,59

20,70

                   

Nguồn: GSO- Điều tra doanh nghiệp & Niên giám Thống kê 2008

Về cơ cấu của giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn trong thời kỳ 2000-2007, tỷ trọng của DNNN giảm nhẹ, sau đó lại tăng lên gần mức ban đầu, rồi giảm mạnh vào năm 2007, nhưng ở mức gần 48%; trong khi đó, tỷ trọng của doanh nghiệp tư nhân trong nước đã tăng mạnh từ 8,24% năm 2000 lên 31,4% năm 2007; và tỷ trọng của doanh nghiệp FDI giảm tương ứng từ 35,9% xuống còn 20,7% trong cùng thời kỳ (Bảng 5, Hình 3).

Hình 3. Tỷ trọng vốn cố định và đầu tư tài chính dài hạn hàng năm (%) [2000-2007]

Nguồn: CSO, Điều tra doanh nghiệp & Niên giám thống kê 2008

Có thể thấy tỷ trọng vốn cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp tư nhân tăng liên tục, trong khi tỷ trọng của các doanh nghiệp nhà nước vẫn khoảng một nửa.

2.1.3 Đất đai

Đất đai là tư liệu sản xuất vô cùng quan trọng, đáng tiếc chúng ta không có số liệu thống kê chính thức về việc sử dụng đất đai của các khu vực doanh nghiệp. Tuy nhiên, ai cũng biết các doanh nghiệp nhà nước được ưu ái nhất và đứng đầu trong việc sử dụng nguồn lực này.

2.1.4. Đặc quyền kinh doanh và các nguồn lực khác

Các doanh nghiệp nhà nước được trao đặc quyền kinh doanh mà các khu vực khác không thể có và khiến cho nhiều doanh nhiệp nhà nước có thế độc quyền. Địa vị và vai trò mà Đảng CSVN trao cho các doanh nghiệp nhà nước, mối quan hệ khăng khít giữa chúng và nhà cầm quyền cũng tạo ra “lợi thế” (đôi khi bất chính) cho chúng. Các doanh nghiệp nhà nước cũng thừa hưởng được đội ngũ, những cơ sở và thông tin khoa học kỹ thuật (có thể không nhiều) mà nhà nước đã đầu tư từ trước.

Có thể nói, trong 6-7 nguồn lực được liệt kê ở trên (trong đó có hai nguồn lực được định lượng chi tiết) khu vực doanh nghiệp nhà nước luôn đứng đầu trong việc sử dụng mỗi nguồn lực đó. Thế thành tích của nó ra sao?

2.2. Thành tích của các doanh nghiệp

Chúng ta sẽ lần lượt xem xét thành tích về các mặt: doanh thu, tạo công ăn việc làm, đóng góp vào sản lượng công nghiệp, nông lâm ngư nghiệp, thương mại nội địa, xuất nhập khẩu, tính hiệu quả.

2.2.1 Doanh thu

Doanh thu thuần của các doanh nghiệp có thể thấy ở Bảng 6.

Bảng 6. Doanh thu thuần

 

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

                 
 

tỷ đồng

Tổng số

809.786

897.856

1.194.902

1.436.151

1.720.339

2.157.785

2.684.341

3.459.800

DNNN

444.673

460.029

611.167

666.022

708.898

838.380

961.461

1.089.100

DN ngoài N.N

203.156

260.565

362.657

482.181

637.371

851.002

1.126.356

1.635.300

DN FDI

161.957

177.262

221.078

287.948

374.070

468.403

596.524

735.500

 

Cơ cấu (%)

Tổng số

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

DNNN

54,91

51,24

51,15

46,38

41,21

38,85

35,82

31,500

DN ngoài N.N

25,09

29,02

30,35

33,57

37,05

39,44

41,96

47,30

DN FDI

20,00

19,74

18,50

20,05

21,74

21,71

22,22

21,20

Nguồn: GSO- Điều tra doanh nghiệp & Niên giám Thống kê 2008

Với tỷ trọng vốn kinh doanh và tài sản cố định cao nhất, các doanh nghiệp nhà nước đạt mức doanh thu không tương xứng. Từ 2000 đến 2004 tỷ trọng doanh thu của các doanh nghiệp nhà nước tuy có giảm đều đặn song luôn ở mức cao nhất, từ 2005 các doanh nghiệp tư nhân nội địa đã soán ngôi. Lấy doanh thu thuần (Bảng 6) chia cho vốn bình quân cho ta một chỉ số (một đồng vốn kinh doanh tạo ra mấy đồng doanh thu, Bảng 7).

Có thể thấy về tiêu chí này các doanh nghiệp tư nhân đứng đầu (tuy chỉ số giảm liên tục song luôn luôn lớn hơn 1), các doanh nghiệp FDI đứng thứ hai, và kém nhất là các doanh nghiệp nhà nước. Thành tích của các doanh nghiệp tư nhân luôn gấp hơn 2 đến hơn 3 lần của các doanh nghiệp nhà nước và hơn từ 1,2 đến 2,9 lần các doanh nghiệp FDI (xem thêm phần về hệ số ICOR ở sau).

Bảng 7. Một đồng vốn kinh doanh tạo ra mấy đồng doanh thu thuần?

 

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

Tổng số

0,811

0,757

0,884

0,916

0,875

0,888

0.884

0.832

DNNN

0,663

0,588

0,712

0,714

0,628

0,629

0,610

0,557

DN TN

2,066

1,832

1,792

1,665

1,507

1,401

1,318

1,134

DN FDI

0,705

0,676

0,759

0,836

0,902

0,957

0,987

0,969

                 

So thành tích này của các doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI (lần)

TN/N.N

3,1

3,1

2,5

2,3

2,4

2,2

2,2

2,0

TN/FDI

2,9

2,7

2,4

2,0

1,7

1,5

1,3

1,2

2.2.2. Công ăn việc làm

Thành tích tạo công ăn việc làm là một chỉ số quan trọng. Bảng 8 trình bày số lao động đang làm việc tại thời điểm 31-12 hàng năm trong các khu vực doanh nghiệp.

Bảng 8: Lao động của các doanh nghiệp

 

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

                 
 

Người

Tổng số

3.536.998

3.933.226

4.657.803

5.175.092

5.770.671

6.237.396

6.715.166

7.382.200

DNNN

2.088.531

2.114.324

2.259.858

2.264.942

2.250.372

2.037.660

1.899.937

1.763.100

DN TN

1.040.902

1.329.615

1.706.857

2.049.891

2.475.448

2.979.120

3.369.855

3.933.200

DN FDI

407.565

489.287

691.088

860.259

1.044.851

1.220.616

1.445.374

1.685.900

 

Cơ cấu (%)

Tổng số

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

DNNN

59,05

53,76

48,52

43,77

39,00

32,67

28,29

23,90

DN TN

29,42

33,80

36,65

39,61

42,90

47,76

50,18

53,30

DN FDI

11,53

12,44

14,84

16,62

18,11

19,57

21,52

22,80

Nguồn: GSO, Điều tra doanh nghiệp & Niên giám Thống kê 2008

Có thể thấy tổng số lao động làm việc tại các doanh nghiệp năm 2007 là 7.382,2 nghìn người, tăng 3.845,2 nghìn người so với năm 2000. Trong đó, số lao động làm việc trong DNNN đã giảm mất 352,4 ngàn người; trong doanh nghiệp tư nhân tăng thêm 2.892,3 ngàn người và trong các doanh nghiệp FDI tăng thêm 1.278,3 ngàn người.

Kể từ năm 2003 DNNN đã không tạo thêm việc làm mới nào, tổng số việc làm mất đi từ 2003 đến 2007 là hơn nửa triệu việc làm (kể từ 2000 đã mất đi hơn 350 nghìn chỗ làm việc)[7].

Như vậy, số lao động làm việc trong doanh nghiệp tư nhân trong nước đã tăng gần 3,8 lần trong những năm 2000-2007, từ hơn 1 triệu lên gần 4 triệu người.

Tương tự, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI đã tăng hơn 4 lần, từ hơn 407 ngàn người năm 2000 đã tăng lên gần 1,7 triệu lao động năm 2007.

Số lao động làm việc trong các DNNN chỉ còn chiếm gần 24% tổng số lao động trong khu vực doanh nghiệp, giảm hơn một nửa so với (mức 59,05%) năm 2000.

Trong khi đó, tỷ trọng lao động của doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp FDI đã tăng lên tương ứng từ 29,4% và 11,5% năm 2000 lên 53,3 và 22,8% vào năm 2007.  Số liệu cơ cấu lao động trong bảng 8 cũng được thể trên hình sau.

Hình 4. Tỷ trọng lao động trong các loại doanh nghiệp (%) [2000-2007]

Nguồn: CSO, Điều tra doanh nghiệp & Niên giám thống kê 2008

Số vốn bình quân cho một chỗ làm việc (Bảng 4 chia Bảng có thể thấy ở Bảng 9.

Có thể thấy vốn kinh doanh bình quân cho một việc làm tăng liên tục. Về mặt tích cực, điều đó có nghĩa số vốn kinh doanh cho mỗi lao động ngày càng tăng. Song xét về cần bao nhiêu vốn bình quân để có một việc làm thì ngược lại. Năm 2006, mỗi chỗ làm việc tại doanh nghiệp cần một khoản vốn trung bình là 0,45 tỷ; trong đó tại DNNN là 0,83 tỷ, doanh nghiệp tư nhân là 0,25 tỷ và doanh nghiệp FDI là 0,42 tỷ. Như vậy, số vốn trung bình cần thiết tại DNNN cao gấp 2 lần so với doanh nghiệp FDI và cao hơn 3 lần so với doanh nghiệp tư nhân trong nước.

Bảng 9: Vốn kinh doanh bình quân cho một chỗ làm việc

 

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

                 
 

Tỷ đồng

Tổng số

0,282

0,302

0,290

0,303

0,341

0,390

0,452

0,563

DNNN

0,321

0,370

0,380

0,412

0,502

0,655

0,829

1,110

DN TN

0,094

0,107

0,119

0,141

0,171

0,204

0,254

0,367

DN FDI

0,564

0,536

0,421

0,401

0,397

0,401

0,418

0,450

Nguồn: Tính từ Bảng 4 và bảng 8

Lấy số vốn kinh doanh của năm tính toán trừ đi số của năm trước (Bảng 4), rồi đem chia cho số lao động mới tạo ra (số lao động năm hiện thời trừ số năm trước ở Bảng cho ta số vốn kinh doanh cần thêm để tạo ra một việc làm mới. Năm 2006, cứ trung bình 1,27 tỷ vốn mới thì tạo được một chỗ làm việc mới; trong đó, khu vực tư nhân trong nước là 0,634 tỷ và doanh nghiệp FDI là 0,512 tỷ. Các con số tương tự của 2007 còn tồi hơn: 1,7 tỷ nói chung và của doanh nghiệp tư nhân và FDI là 1,04 tỷ và 0,64 tỷ cần để tạo ra một việc làm mới. Điều đáng nói thêm là số vốn mới cần thiết để tạo ra một chỗ làm việc tại doanh nghiệp tư nhân trong nước vào năm 2003 mới là 0,15 tỷ, và tại doanh nghiệp FDI là 0,40 tỷ. Như có thể thấy từ Bảng 8, từ năm 2003 trở đi lao động làm việc tại các doanh nghiệp nhà nước đã giảm; và số vốn 828 nghìn tỷ tăng thêm của DNNN trong ba năm 2004-2007 đã không tạo thêm tạo thêm việc làm mới nào cho người lao động.[8]

Có thể thấy thành tích về tạo công ăn việc làm của các doanh nghiệp nhà nước rất tồi và hoàn toàn không tương xứng với những nguồn lực to lớn mà chúng sử dụng. Nếu so với tổng số lao động của cả nước, 43,35 triệu lao động, thì số lao động trong các DNNN chỉ chiếm dưới 4,4% trong năm 2006. Tuyệt đại bộ phận người lao động (trên 95,6%) gồm nông dân, những người lao động tự do và những người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân và FDI sử dụng khoảng ½ tổng đầu tư của xã hội còn chưa đến 4,4% lao động trong khu vực kinh tế nhà nước lại sử dụng gần ½ tổng đầu tư xã hội!

2.2.3. Đóng góp vào sản lượng nông lâm ngư nghiệp

Chúng tôi không kiếm được số liệu thống kê phân theo thành phần kinh tế trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp. Song có lẽ có thể khẳng định rằng trong khu vực này vai trò của khu vực kinh tế nhà nước và FDI là không đáng kể.

2.2.4. Đóng góp vào sản lượng công nghiệp

Bảng sau cho chúng ta thấy thành tích của các thành phần kinh tế trong giá trị sản xuất công nghiệp.

Tỷ trọng của kinh tế nhà nước trong công nghiệp giảm là dấu hiệu lành mạnh, nhưng các con số giá trị sản xuất công nghiệp do kinh tế nhà nước tạo ra so với mức nguồn lực mà nó sử dụng là rất không tương xứng, thành tích rất kém.

Bảng 10: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế (%)

Năm: 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Khu vực N.N 34,2 31,4 31,4 29,3 27,4 25,1 22,4 20,0
Khu vực ngoài N.N 24,5 27,0 27,0 27,6 28,9 31,2 33,4 35,4
Khu vực FDI 41,3 41,6 41,6 43,1 43,7 43,7 44,2 44,6

Nguồn: CSO, Niên giám thống kê 2008

2.2.5. Đóng góp cho thương mại nội địa

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế năm 2007 ước đạt 726,1 nghìn tỷ đồng, tăng 23,3% so với năm 2006,

Trong đó kinh tế cá thể chiếm 56,2% và tăng 25,9%;

Kinh tế tư nhân chiếm 28,8% và tăng 30,3%;

khu vực kinh tế Nhà nước chiếm 10,9%, giảm 1,3% so với năm 2006.[9]

Bảng 11: Cơ cấu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng phân theo thành phần kinh tế (%)

Năm: 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Khu vực N.N 17,8 16,7 16,2 15,7 15,0 12,9 12,7 10,7 9,8
Khu vực ngoài N.N 80,6 81,7 79,9 80,2 81,2 83,3 83,6 85,6 86,8
Khu vực FDI 1,6 1,6 3,9 4,1 3,8 3,8 3,7 3,7 3,4

Nguồn: CSO, Niên giám thống kê 2008

Có thể nói vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong thương mại nội địa không lớn và theo xu hướng tái cơ cấu rất đáng khích lệ này vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong thương mại nội địa sẽ trở nên không đáng kể trong tương lai.

2.2.6. Đóng góp vào xuất nhập khẩu

Không có số liệu thống kê chi tiết về xuất nhập khẩu phân theo khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân trong nước và khu vực tư nhân ngoài nước (FDI), chúng tôi chỉ có thể lấy những số liệu của Tổng cục thống kê về xuất nhập khẩu, phân ra khu vực kinh tế trong nước và khu vực kinh tế FDI, như có thể thấy ở Bảng 12 dưới đây.

Một điều hết sức đáng lưu ý là khu vực kinh tế trong nước liên tục nhập siêu với mức độ ngày càng tăng suốt 13 năm, từ 1995 đến 2008, trong khi khu vực kinh tế FDI liên tục xuất siêu cũng với nhịp độ ngày càng tăng. Đây là một hiện tượng rất bất bình thường và hoàn toàn không phải “bình thường” như các nhà chức trách đã lý giảisuốt cả chục năm nay rằng “chúng ta nhập siêu máy móc, nguyên vật liệu để tạo ra sản phẩm xuất khẩu trong tương lai” và họ mới chỉ chấp nhận coi sự mất cân đối này là nguy hiểm từ tháng 3-2008.

Có thể thấy cách lý giải ấy của các nhà chức trách liên quan là hoàn toàn vô căn cứ và mang tính ngụy biện. Cái nằm đằng sau sự bất cân đối cán cân thương mại nghiêm trọng này là chính sách “thay thế hàng nhập khẩu” vẫn được duy trì từ lâu, và khu vực kinh tế nhà nước là khu vực đi đầu trong việc gây ra mất cân đối nghiêm trọng này. Tổng hợp các số liệu thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê về xuất nhập khẩu, chúng ta có bảng sau.

Bảng 12: Xuất nhập khẩu phân theo thành phần kinh tế (triệu USD)

NK = Nhập khẩu; XK = Xuất khẩu; D = Khu vực kinh tế trong nước; FDI

Năm

NK(D)

XK(D)

X-N(D)

NK(FDI)

XK(FDI)

X-N(FDI)

1995

6687,3

3975,8

-2711,5

1468,1

1473,1

5,0

1996

9100,9

5100,9

-4000,0

2042,7

2155,0

112,3

1997

8396,1

5972,0

-2424,1

3196,2

3213,0

16,8

1998

8831,6

6145,3

-2686,3

2668,0

3215,0

547,0

1999

8359,9

6859,4

-1500,5

3382,2

4682,0

1299,8

2000

11284,5

7672,4

-3612,1

4352,0

6810,3

2458,3

2001

11233,0

8230,9

-3002,1

4985,0

6798,3

1813,3

2002

13042,0

8834,3

-4207,7

6703,6

7871,8

1168,2

2003

16440,8

9988,1

-6452,7

8815,0

10161,2

1346,2

2004

20882,2

11997,3

-8884,9

11086,6

14487,7

3401,1

2005

23121,0

13893,4

-9227,6

13640,1

18553,7

4913,6

2006

28401,7

16812,3

-11589,4

16489,4

23013,9

6524,5

2007

40900,0

20600,0

-20300,0

21700,0

27900,0

6200,0

2008*

52113,8

27785,1

-24328,7

28600,0

34900,0

6300,0

Nguồn: CSO; * xuất FDI (kể cả dầu thô, nếu trừ dầu thô, thì khu vực FDI cũng nhập siêu lần đầu tiên năm 2008)

Rất tiếc chúng tôi không có số liệu để tách các số liệu xuất nhập khẩu của khu vực kinh tế trong nước thành của khu vực kinh tế nhà nước và của khu vực kinh tế tư nhân, nhưng chúng tôi phỏng đoán rằng khu vực tư nhân trong nước không phải là thủ phạm chính trong gây ra sự mất cân đối này, mà thủ phạm chính là khu vực doanh nghiệp nhà nước. Để tạo cơ sở chứng cớ cho phỏng đoán này cần nghiên cứu chi tiết hơn. Nhưng có thể cảm nhận thấy cơ sở của phỏng đoán này khi xem xét cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam (Bảng 13 dưới đây).

Có thể thấy gì qua bảng cơ cấu xuất nhập khẩu này? Rõ ràng hàng công nghiệp nhẹ chủ yếu do các doanh nghiệp tư nhân và FDI xuất khẩu, hàng tiểu thủ công nghiệp do khu vực tư nhân trong nước làm ra. Các mặt hàng nông sản, thủy sản và lâm sản chủ yếu do khu vực tư nhân trong nước làm ra (tuy một phần có thể được xuất khẩu qua trung gian của vài doanh nghiệp nhà nước). Các khoản này chiếm khoảng 2/3 xuất khẩu. Nói cách khác phần xuất khẩu của khu vực tư nhân trong nước là đáng kể. Xuất khẩu của các doanh nghiệp nhà nước chủ yếu là dầu thô, than đá (tức là đào tài nguyên của đất nước đem bán).

Bảng 13: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu (XK) và nhập khẩu (NK) (%)

  2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
XK: Hàng CN nặng và khoáng sản 37,2 34,9 31,8 32,2 36,4 36,0 35,2
XK: Hàng CN nhẹ và tiểu thủ CN 33,9 35,7 40,6 42,7 41,0 41,0 40,7
XK: Hàng nông sản 17,7 16,1 14,3 13,3 12,8 13,8 15,7
XK: Hàng Thủy sản 10,1 12,1 12,1 10,8 9,1 8,4 8,4
XK: Hàng lâm sản 1,1 1,2 1,2 1,0 0,7 0,8
NK:Máy móc, thiết bị, d. cụ, p.tùng 30,6 30,5 29,8 31,6 28,8 25,3 24,0
NK: Nguyên nhiên vật liệu 63,2 61,6 62,3 60,6 64,5 66,6 69,3
NK: hàng tiêu dùng 6,2 7,9 7,9 7,8 6,7 8,1 6,7

Nguồn: CSO

Về nhập khẩu: chủ yếu là tư liệu sản xuất (luôn hơn 61%) trong đó nhiên liệu chỉ do các doanh nghiệp nhà nước nhập khẩu, nguyên vật liệu và máy móc cả 3 khu vực đều nhập (song FDI luôn xuất siêu, nên không ảnh hưởng gì) và rất có thể khu vực tư nhân trong nước nếu không xuất siêu thì tỷ lệ nhập siêu cũng không thể lớn. Nói cách khác phỏng đoán của chúng tôi rằng khu vực kinh tế nhà nước là tác nhân gây nhập siêu chính có vẻ có cơ sở [dầu, than, một phần hàng CN nhẹ là do các doanh nghiệp nhà nước xuất; trừ các thứ này hầu như mọi thứ nhập khẩu của các tập đoàn đều phục vụ cho sản xuất các hàng hóa thay thế nhập khẩu; tỷ lệ nhập hàng tiêu dùng chỉ ở mức 6-8% minh chứng cho chính sách thay thế hàng nhập khẩu vẫn rất thịnh hành bất chấp ý định “không muốn thế” của nhà nước]. Sẽ là một nghiên cứu lý thú để có số liệu chứng minh hay bác bỏ phỏng đoán này, song chúng tôi nghĩ số liệu như vậy có nhiều khả năng sẽ củng cố phỏng đoán trên của chúng tôi.

2.2.7 Hiệu quả của vốn

Theo chuyên gia thống kê Bùi Trinh, chúng ta sử dụng thuật ngữ chưa được rõ ràng và các số liệu thống kê cũng vậy, nên làm cho việc so sánh gặp rất nhiều khó khăn. Đầu tư (Investment: I) là phần sản lượng được tích lũy nhằm tăng năng lực sản xuất tương lai của nền kinh tế (tương đương với mục tích lũy tài sản trong các số liệu của Tổng cục Thống kê). Còn vốn (hay tư bản – capital: K) tại một thời điểm nào đó được định nghĩa bằng giá trị tổng các đầu tư qua các năm, tính đến thời điểm đó. Hệ thống thống kê Việt nam đưa ra chỉ tiêu “vốn đầu tư…”, chẳng phải là vốn (K) cũng không hoàn toàn là đầu tư (I), thực chất chỉ tiêu “vốn đầu tư” ở đây là nguồn tiền bỏ ra trong một năm của các thành phần kinh tế nhằm mục đích đầu tư nhưng chưa chắc đã đi vào sản xuất, điều này được thể hiện qua số liệu trong Bảng 14.

Bảng 14: Sự khác biệt giữa Vốn đầu tư và Tích lũy tài sản (theo giá 1994, ngàn tỷ đồng)

 

Năm

Vốn đầu tư (VĐT)

Tích lũy tài sản (I)

I/VĐT (%)

Chênh lệch (%)

1995

64,68 53,25 82,3 17,7

1996

74,32 60,83 81,8 18,2

1997

88,61 66,53 75,1 24,9

1998

90,95 74,93 82,4 17,6

1999

99,86 75,83 75,9 24,1

2000

115,11 83,50 72,5 27,5

2001

129,46 92,49 71,5 28,5

2002

147,99 104,26 70,4 29,6

2003

166,81 116,62 69,9 30,1

2004

189,32 128,92 68,1 31,9

2005

213,93 143,29 67,0 33,0

2006

243,33 160,25 65,9 34,1

2007

306,10 199,01 65,0 35,0

Nguồn: Bùi Trinh tính theo số liệu của Tổng cục thống kê

Có thể thấy phần của tổng số tiền bỏ ra cho mục đích đầu tư thực sự tạo ra tích lũy tài sản ngày càng giảm (từ hơn 80% xuống 65%) và phần chênh lệch (không rõ đi đâu hay tạo ra cái gì) ngày càng tăng (từ 17,7% lên 35%!). Có lẽ cơ quan Thống kê nên làm rõ để giúp việc nghiên cứu và so sánh quốc tế được dễ dàng hơn. Chính từ sự chưa rõ ràng này về khái niệm cũng như chỉ tiêu thống kê, nên một số đo hiệu quả là ICOR cũng được tính toán theo nhiều cách chưa chuẩn xác và làm cho so sánh quốc tế rất khó khăn.

Bùi Trinh đã tính toán ICOR cho giai đoạn 2000-2007 dựa vào các số liệu của Tổng cục Thống kê và số liệu điều tra doanh nghiệp để ước lượng K theo công thức

K(t) = K(t-1) – σ K(t-1) + I (t), trong đó K(t) là vốn của năm t, σ là tỷ lệ khấu hao tài sản cố định và I(t) là lượng đầu tư hàng năm.

Và hệ số tăng vốn sản lượng (Increase Capital – output ratio) được tính theo:

ICOR = ( K(tn)-K(t0)) / (GDP (tn)-GDP(t0))

Bùi Trinh ước lượng vốn, K, dựa trên chuỗi số liệu về đầu tư/tích luỹ theo giá so sánh và và tỷ lệ khấu hao từ điều tra doanh nghiệp. Bảng 15 là kết quả tính toán hệ số ICOR từ cách tiếp cận này. Hệ số ICOR được tính cho tổng nguồn tiền bỏ ra để đầu tư (“vốn đầu tư”) và lượng đầu tư thực tế đi vào sản xuất.

Bảng 15. Hệ số ICOR (giai đoạn 2000-2007)

  Tính theo vốn đầu tư thực hiện Tính theo tích lũy tài sản
 

đơn vị : lần

Toàn nền kinh tế

5,2

3,5

Kinh tế nhà nước

7,8

4,9

Kinh tế ngoài Nhà nước

3,2

2,2

Kinh tế FDI

5,2

4,3

Nguồn : Bùi Trinh tính từ nguồn số liệu của TCTK

Nếu xét hiệu quả đầu tư từ tổng số tiền bỏ ra trong năm –“vốn đầu tư” cho thấy để tăng một đồng GDP cần 5,2 đồng vốn, hiệu quả đầu tư của Việt nam trong giai đoạn 2000-2007 vào loại thấp nhất thế giới. Việc nguồn tiền đầu tư kém hiệu quả (5,2) là do đầu tư không hiệu quả của khu vực nhà nước (7,8) và khu vực đầu tư nước ngoài (5,2), trong khi khu vực kinh tế tư nhân trong nước tỏ ra rất hiệu quả khi bỏ ra 3,2 đồng vốn đã tạo ra một đồng giá trị tăng thêm (hơn khu vực nhà nước 2,44 lần, hơn khu vực FDI 1,63 lần). Một điều thú vị là khi xét đến nguồn tiền đầu tư trực tiếp đến được với sản xuất (thông qua chỉ tiêu tích luỹ tài sản-Capital Formation), Bảng 15, thì hiệu quả đầu tư của toàn nền kinh tế là khá tốt, chỉ 3,5 đồng vốn đã có được một đồng tăng lên của GDP, và khu vực kinh tế tư nhân vẫn là khu vực làm ăn hiệu quả nhất (hơn khu vực nhà nước 2,23 lần; hơn khu vực FDI 1,95 lần)[10]. Trong mọi trường hợp, chúng ta thấy khu vực tư nhân trong nước hiệu quả nhất, rồi đến khu vực FDI (kém khu vực tư nhân trong nước từ 1,63 đến 1,95 lần tùy theo cách tính) và kém nhất là khu vực nhà nước (kém khu vực tư nhân trong nước từ 2,23 đến 2,44 lần tùy theo cách tính).

2.2.8. Nộp ngân sách nhà nước

Nhiều vị lãnh đạo coi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước có thành tích to lớn về “nộp ngân sách”. Phải nói ngay “nộp ngân sách” là một khái niệm tù mù, dễ gây hiểu lầm và ngộ nhận. Đối với doanh nghiệp, thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp là khoản duy nhất nói gì đó về hiệu quả hoạt động của nó. Tất cả các khoản thuế khác mà doanh nghiệp nộp đều là thuế do nhân dân đóng hay thuế tài nguyên. Đáng tiếc tôi không tìm thấy số liệu thống kê chính thức. Theo Báo Lao Động ngày 28-2-2009, tổng nộp ngân sách của 18 tập đoàn và tổng công ty nhà nước năm 2008 là 150 ngàn tỷ đồng (chiếm 37% tổng thu ngân sách), lợi nhuận đạt 111 ngàn tỷ đồng. Trong khi đó, theo công bố ngân sách 2008 của Bộ Tài Chính[11], thu ngân sách 2008 gồm: thu nội địa 205 ngàn tỷ (từ kinh tế quốc doanh 64,1 ngàn tỷ, FDI [không kể dầu thô] 40,9 ngàn tỷ, thuế CTN và dịch vụ ngoài quốc doanh 40,6 ngàn tỷ, còn lại từ các loại thuế, phí khác); thu từ dầu thô 98 ngàn tỷ; thu từ xuất nhập khẩu 91 ngàn tỷ; các khoản viện trợ, vay và thu khác.

Có thể thấy con số 150 ngàn tỷ mà Báo Lao Động nhắc đến gồm cả thu từ dầu khí, khoản bán tài nguyên của đất nước. Vậy liệu con số lợi nhuận 111 ngàn tỷ có đáng tin không? Cứ cho là đúng vậy, thì số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp nhiều nhất là 31 ngàn tỷ đồng (năm 2008 suất thuế thu nhập là 28%). Nếu đúng vậy, thì thuế thu nhập doanh nghiệp quốc doanh chỉ chiếm 6,87% tổng thu ngân sách (451,6 ngàn tỷ). Tuyệt đại bộ phận thu nội địa là do người dân đóng chứ không phải là khoản “nộp ngân sách” của doanh nghiệp (quốc doanh, tư nhân hay FDI) như chúng nhận vơ.

Theo trang web của Petrovietnam năm 2008 tập đoàn này nộp 121,8 ngàn tỷ đồng bằng 31% ngân sách cả nước (nhưng bản tin này không chứa 1 từ “lợi nhuận” nào). Nếu trừ 98 ngàn thu từ dầu thô, thì con số này còn 23,8 ngàn tỷ; nói cách khác 17 tập đoàn và tổng công ty nhà nước khác chỉ “nộp ngân sách” 40,3 ngàn tỷ.

Không rõ nhà nước, với tư cách ông chủ, “được chia cổ tức” bao nhiêu từ số lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp nhà nước. Nhìn thế mới thấy “thành tích” nộp ngân sách của các doanh nghiệp (nhà nước, tư nhân, FDI) không phải là “thành tích” thật sự của chúng. Cần minh bạch về vấn đề này để trách ngộ nhận hay gây hiểu lầm.

TÓM LẠI: Xem xét việc sử dụng nguồn lực (7-8 nguồn lực mà ở trên chúng ta chỉ phân tích 2 thứ một cách định tính) và các thành tích (8 thành tích nêu trên) của khu vực kinh tế nhà nước chúng ta không thể không rút ra kết luận: nguồn lực sử dụng và thành tích là hết sức không cân xứng. Nó sử dụng quá nhiều nguồn lực, song thành tích lại kém, hoạt động không hiệu quả và là thủ phạm gây ra những bất ổn và mất cân đối kinh tế vĩ mô. Các “tập đoàn” được thành lập không trên cơ sở luật nào và đóng vai trò nòng cốt trong các doanh nghiệp nhà nước cũng vậy.

  1. III. Nguyên nhân

Chính vì muốn khu vực kinh tế nhà nước nắm vai trò “chủ đạo” nên khu vực này đã được hưởng nhiều ưu ái. Chúng được độc quyền kinh doanh trong nhiều lĩnh vực, được sử dụng những nguồn lực to lớn của đất nước như tài nguyên, đất đai và vốn đầu tư, được ưu đãi tín dụng, v.v.

Các ngân hàng thương mại quốc doanh được ngân sách nhà nước và bảo hiểm xã hội gửi gần 100 ngàn tỷ đồng trong thời gian dài với lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.

Các doanh nghiệp nhà nước được chính phủ vay hộ tiền để kinh doanh và đầu tư hay được nhà nước bảo lãnh cho các khoản vay của mình (thí dụ 750 triệu USD chính phủ đi vay và cho Vinashin vay lại).

Khi khoản vay của chúng vượt quá hạn mức an toàn của một hay một số ngân hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thì có lệnh của Chính phủ cho phép (các) ngân hàng đó được “vượt rào”. Chúng ta có thể nêu ra vô vàn ví dụ về hiện tượng này

Khi chúng gặp khó khăn thì nhà nước “cứu trợ”, “khoanh nợ”, “bơm thêm vốn” v.v. Cách ứng xử như thế đã kéo dài hàng nhiều thập kỷ.

Chúng như những đứa “con cưng” luôn được nhà nước nuông chiều. Nói cách khác nhà nước làm mềm ràng buộc ngân sách của chúng. Ràng buộc ngân sách càng mềm doanh nghiệp hoạt động càng không hiệu quả. Càng cho chúng vai trò “chủ đạo”, càng được ưu ái thì chúng càng “hư” hệt như những đứa con được nuông chiều của các trọc phú. Nói cách khác nguyên nhân chính của sự yếu kém của khu vực kinh tế nhà nước chính là ở tư duy bắt chúng phải nắm vai trò chủ đạo. Hiện tượng này đã được kinh tế học nghiên cứu kỹ lưỡng từ 30-40 năm nay như hiện tượng “ràng buộc ngân sách mềm”. Phần lớn các doanh nghiệp nhà nước có ràng buộc ngân sách mềm và không buộc phải cạnh tranh quyết liệt (trừ bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng, xem Bảng 11); chính 2 nguyên nhân chủ yếu này làm cho chúng không hiệu quả và không thể giữ địa vị và vai trò mà Đảng CSVN giao cho chúng, ngược lại chính cái địa vị và vai trò ấy là nguyên nhân chủ yếu khiến chúng có ràng buộc ngân sách mềm và ít chịu áp lực cạnh tranh.

  1. IV. Cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước

Tuy đã có những chủ trương cải cách khu vực kinh tế nhà nước, nhưng cải cách diễn ra hết sức chậm chạp. Nghị quyết Đại hội X của Đảng CSVN nêu chủ trương như sau:

“Khẩn trương hoàn thành một cách vững chắc kế hoạch sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước theo hướng hình thành loại hình công ty nhà nước đa sở hữu, chủ yếu là các công ty cổ phần. Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có một số ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối.

“Đẩy mạnh và mở rộng diện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, kể cả các tổng công ty nhà nước, nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, để vốn nhà nước được sử dụng có hiệu quả và ngày càng tăng lên, đồng thời, thu hút mạnh các nguồn lực trong, ngoài nước để phát triển. Thực hiện nguyên tắc thị trường trong việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.

“Nhà nước giữ cổ phần chi phối đối với các tổng công ty, công ty cổ phần hoạt động trong những ngành, những lĩnh vực thiết yếu cho việc bảo đảm những cân đối lớn của nền kinh tế; chỉ giữ 100% vốn nhà nước trong các doanh nghiệp hoạt động bảo đảm an ninh, quốc phòng và những doanh nghiệp sản xuất, cung ứng dịch vụ công ích thiết yếu mà chưa cổ phần hoá được. Chuyển các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một hoặc nhiều thành viên mà chủ sở hữu là Nhà nước.

“Đối với những tổng công ty lớn chưa cổ phần hoá toàn bộ tổng công ty, thực hiện cổ phần hoá hầu hết các doanh nghiệp thành viên và chuyển các doanh nghiệp thành viên còn lại sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ sở hữu là Nhà nước; đồng thời, chuyển các tổng công ty này sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con. Tổ chức lại hội đồng quản trị để thực sự là đại diện trực tiếp của chủ sở hữu tại tổng công ty.

“Đặt các doanh nghiệp có vốn nhà nước vào môi trường hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh. Thu hẹp tối đa diện Nhà nước độc quyền kinh doanh, xoá bỏ đặc quyền kinh doanh của doanh nghiệp. Có cơ chế giám sát và chính sách điều tiết đối với những doanh nghiệp chưa xoá bỏ được vị thế độc quyền kinh doanh. Chỉ thành lập mới doanh nghiệp nhà nước khi hội đủ các điều kiện và trong những lĩnh vực sản xuất, cung ứng những sản phẩm, dịch vụ thật cần thiết cho phát triển kinh tế – xã hội và chủ yếu dưới hình thức công ty cổ phần.

“Xác định rõ quyền tài sản, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh, cạnh tranh và chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp. Xây dựng cơ chế gắn trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của người quản lý doanh nghiệp với kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Thực hiện quy chế hội đồng quản trị tuyển chọn, ký hợp đồng thuê giám đốc điều hành doanh nghiệp.

“Lành mạnh hoá tình hình tài chính và lao động của doanh nghiệp nhà nước; kiên quyết xử lý những doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thua lỗ bằng các phương thức thích hợp.

“Thực hiện cơ chế Nhà nước đầu tư vốn cho doanh nghiệp thông qua công ty đầu tư tài chính nhà nước; các doanh nghiệp nhà nước huy động thêm vốn trên thị trường, nhất là thị trường chứng khoán để phát triển kinh doanh.

“Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước làm tốt việc đầu tư vốn cho doanh nghiệp nhà nước và làm đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại các công ty, tổng công ty nhà nước đã cổ phần hoá và các doanh nghiệp nhà nước độc lập chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ sở hữu là Nhà nước.

“Đổi mới tổ chức và quy chế thực hiện chức năng đại diện hủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước gắn với việc thu hẹp và tiến tới không còn chức năng đại diện chủ sở hữu của các bộ, uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố đối với doanh nghiệp nhà nước.

“Quy định rõ chức năng, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý hành chính nhà nước và của đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước”.

Những chủ trương này tuy đã có cải thiện so với trước, nhưng vẫn mang nặng tư duy bắt khu vực kinh tế nhà nước đóng vai trò “chủ đạo”, còn nhiều mâu thuẫn và mang tính khẩu hiệu, khó khả thi. Việc ồ ạt thành lập các tập đoàn kinh tế sau Đại hội X của Đảng CSVN nhằm thực hiện chủ trương được nêu tường minh ở trên và theo tôi đã và sẽ còn gây những khó khăn trầm trọng cho nền kinh tế.

Đã đến lúc phải nghiêm túc nhìn nhận lại vai trò “chủ đạo” của khu vực kinh tế nhà nước. Ý tưởng về có các doanh nghiệp quốc doanh, các tập đoàn mà nhà nước đầu tư và bổ nhiệm các vị trí lãnh đạo để làm công cụ cho Nhà nước “điều khiển”, để biến chúng thành “lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế” là một cám dỗ quyền lực hấp dẫn. Song đó không phải là lựa chọn khôn ngoan, mặt khác Nhà nước không phải lúc nào cũng điều khiển được chúng điều mà cả lý thuyết (vấn đề về người ủy thác, người chủ (nhà nước) và những người được ủy thác) lẫn thực tiễn đều cho thấy.

Nên tận dụng cơ hội khó khăn hiện nay để xem xét lại tận gốc rễ vai trò của kinh tế nhà nước và đẩy nhanh việc cải tổ chúng (theo tôi chúng không những không giữ được vai trò chủ đạo mà là một trong những nguyên nhân chính của vấn đề).

Chú thích của Ba Sàm: Bài này được trình bày tại Hội thảo “Tập đoàn kinh tế-Lý luận và Thực tiễn” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (tức Nhà Xuất bản Sự thật, trực thuộc BCHTW Đảng CSVN), Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW-CIEM và Thời báo Kinh tế VN tổ chức ngày 25-5-2009. TS Nguyễn Quang A là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS, tổ chức tư nhân nghiên cứu chính sách đầu tiên ở VN.

*Mặc dầu làm ăn thua lỗ, số nhân công trong Doanh Nghiệp Nhà Nước chỉ chiếm chừng 1/5 tổng số nhân công của cả nước, nhưng khi nhận được tiền gói kích cầu kinh tế 1 tỉ đô la năm 2008, thì DNNN nhận được 750  triệu đô la.


 

* Ông Trần Đức Nguyên đã giúp trong phần tổng quan về quan niệm “khu vực kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo” của Đảng CSVN, tôi chân thành cảm ơn sự giúp đỡ. Tôi cũng cảm ơn những ý kiến quý báu của các ông Trần Đức Nguyên, Trần Việt Phương, Nguyễn Trung (IDS, Hà Nội) và T.s. Vũ Quang Việt (New York) khi đọc các bản thảo khác nhau của báo cáo này.

[1] Từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng CSVN (1-1994), kinh tế quốc doanh được đổi tên gọi là khu vực doanh nghiệp nhà nước, xuất phát từ nhận thức mới về chức năng của Nhà nước trong quản lý kinh tế, tuy có vai trò đại diện chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân, nhưng không trực tiếp kinh doanh.

[2] Năm 1991, các xí nghiệp quốc doanh chiếm 53,5% giá trị sản xuất công nghiệp, hầu hết kim ngạch ngoại thương, hầu hết bán buôn và 33,5% tổng mức hàng hoá bán lẻ, hầu hết tín dụng và dịch vụ ngân hàng, 90,4% vận tải hàng hoá và 53,5% vận tải hành khách.

[3] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được thông qua tại Đại hội VII  năm 1991 nên ở đây gọi tắt là Cương lĩnh 1991.

[4] Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội 1991-2000, được thông qua tại Đại hội VII năm 1991 nên ở đây gọi tắt là Chiến lược 1991. Những đoạn in nghiêng ở đây là trích từ Cương lĩnh 1991 và Chiến lược 1991.

[5] Trong công nghiệp từ 2798 doanh nghiệp năm 1990, đến năm 2000 còn 1786; trong thương nghiệp từ 1836 doanh nghiệp năm 1993, đến năm 2000 còn 1387

[6] Trần Đức Nguyên, “Chiến lược 1991-2000, bước đột phá về quan điểm phát triển”, trong cuốn Đổi mới ở Việt Nam – Nhớ lại và suy ngẫm, NXB Tri Thức, 2008

[7] Do cổ phần hóa nên có một số việc làm thực sự không mất đi mà chuyển từ khu vực doanh nghiệp nhà nước sang khu vực ngoài nhà nước (tức là làm tăng thành tích của khu vực ngoài nhà nước và bớt thành tích của khu vực doanh nghiệp nhà nước). Tuy nhiên, việc này không ảnh hưởng đến đánh giá xếp hạng thành tích rất kém của doanh nghiệp nhà nước.

[8] Nếu tính toán tỷ mỷ, loại các doanh nghiệp được cổ phần hóa ra khỏi các doanh nghiệp ngoài nhà nước, thì số liệu có khác chút ít nhưng không ảnh hưởng đến những kết luận hay đánh giá ở đây.

[9] Đánh giá so sánh tình hình phát triển kinh tế xã hội năm 2007 của Việt Nam và khu vực,  Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế-xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch đầu tư, 4-2008. (Lưu ý số liệu này không chỉ của các doanh nghiệp chính thức mà cả phi chính thức nữa).

[10] Xem bài viết của Bùi Trinh và Dương Mạnh Hùng trên Tạp Chí Kinh tế và Dự báo, số 7 tháng 4/2009 hay tại: http://tapchikinhtedubao.mpi.gov.vn/portal/page/portal/tckt/903605?m_action=2&m_typeid=164&m_year=2009&m_itemid=15647&m_magaid=1632&m_category=268

[11] http://www.mof.gov.vn/Default.aspx?tabid=5991&ItemID=59187

(http://news.yahoo.com/s/ap/20090526/ap_on_go_ca_st_pe/us_us_iraq)

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Kinh tế Việt Nam | Leave a Comment »

Các Ngân hàng VN Thận trọng hơn

Posted by adminbasam on 25/05/2009

Bloomberg.com *

Các Ngân hàng Việt Nam Thận trọng hơn – theo lời Người đứng đầu Ngân

hàng HSBC ở Nước này Cho hay

Bài của Chia-Peck Wong

 

Ngày 23-5 (Bloomberg) – Các ngân hàng của Việt Nam đang trở nên thận trọng hơn trong việc cho vay mượn đối với những ngành nghề như bất động sản khi mức lãi suất đang lên làm tăng thêm nguy cơ rủi ro vì vỡ nợ, theo người đứng đầu các hoạt động của ngân hàng HSBC Holdings Plc tại nước này cho hay.

“Với mức lãi suất đang lên cao, khả năng thanh toán bằng tiền mặt đang bị siết chặt, chỉ có khôn ngoan bằng cách ràng buộc trong việc cho vay đối với các dự án cần thiết hơn là cho các mục đích đầu cơ ví như kinh doanh bất động sản,” Thomas Tobin, tổng giám đốc điều hành của HSBC tại Việt Nam đã nói như vậy trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại vào hôm qua.

Chỉ số chứng khoán chuẩn đã sút giảm trong suốt 15 phiên giao dịch, bổ nhào xuống 18% kể từ ngày 29 tháng Tư, trong khi mối quan ngại dâng cao rằng lãi suất đang tăng nhanh sẽ làm tê liệt sức phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Các nhà băng bị áp lực phải mở rộng các khoản cho vay với lãi suất cao tới 22% nhằm tạo nên một “mức lợi nhuận có ý nghĩa,” giám đốc quỹ của Vinacapital Investment Management Ltd. cho hay vào tuần trước.

Gia tăng tiền gửi của Việt Nam đã đạt 50% vào năm ngoái trong khi các ngân hàng đã nới rộng những khoản cho vay đối với các nhà đầu tư nhỏ lẻ dùng để mua bán chứng khoán vào thời điểm một cơn bùng nổ kinh doanh bất động sản như thêm năng lượng cho nhu cầu những khoản tiền thế chấp. Sự mở rộng tín dụng, kết hợp với tình hình giá cả hàng hóa và năng lượng lên cao, đã đẩy mức lạm phát tại quốc gia Đông Nam Á này lên cao nhất trong ít nhất là 15 năm qua.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào tuần này đã yêu cầu ngân hàng trung ương tập trung vào chính sách lãi suất cho cuộc chiến chống lạm phát, gợi lên rằng chính phủ đang quan ngại đối với tình trạng giá cả leo thang hơn là lo cho mức tăng trưởng kinh tế. Ngân hàng trung ương vào hôm 19 tháng Năm đã tăng mạnh lãi suất cơ bản từ 8,75% lên 12%, và cùng ngày, các ngân hàng thương mại đã nâng các mức lãi suất cho vay.

Kinh tế Việt Nam

HSBC, là ngân hàng lớn thứ ba trên thế giới tính theo giá trị trên thị trường, hiện sở hữu 15% trong ngân hàng cổ phần Kỹ Thương Việt Nam [Technological and Commercial Joint Stock Bank]. Ngân hàng có trụ sở đóng tại London này vào tháng 12-2005 đã thỏa thuận góp vốn 10% tức 17,3 tỉ đô la vào đây. Nó cũng đã đồng ý nâng cổ phần của mình lên 20%, trong khi chờ đợi sự chấp thuận của chính phủ.

Trong lúc những khoản tiền cho vay cạn kiệt, chỉ số VN Index của Thị trường Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh bổ nhào xuống 53% trong năm nay, làm cho nó trở thành thị trường tồi tệ nhất của châu Á. Giá nhà đất tại Thành phố Hồ Chí Minh đã rớt tới 40% kể từ cuối năm ngoái, theo thông tin từ hãngMorgan Stanley **.

Nền kinh tế của Việt Nam đã phát triển 7,4% trong quý đầu năm so với một năm trước. Vào năm ngoái, tổng sản phẩm quốc nội tăng 8,5%, bước phát triển nhanh nhất kể từ năm 1996.

‘Tình hình dễ chịu’

“Tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ” của Việt Nam đã không bị giảm bớt bởi những khó khăn hiện thời của nó, Helen Qiao, một kinh thế gia làm cho Goldman Sachs Group Inc.*** tại Hong Kong đã đánh giá như vậy trong một cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình Bloomgerg Television vào hôm 21 tháng Năm.

“Mọi chuyện đã trở nên khắc nghiệt hơn trước đây, song Việt Nam thực sự đang có ưu thế [về kinh tế] trong trung và dài hạn,” Tobin phát biểt và dẫn chiếu đến cơ sở hạ tầng và lực lượng lao động trẻ lành nghề của nước này ****.

Cổ phiếu của Ngân hàng Thương mại Á châu ACB đã sụt giảm 66% giá trị trao đổi trong năm nay tại Hà Nội. Ngân hàng Cổ phần Sài Gòn Thương tín đã giảm 60% tại Hồ Chí Minh. Đây là hai ngân hàng duy nhất được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tại Việt Nam.

Ngân hàng HSBC [của Anh có chi nhánh tại Việt Nam] không lên kế hoạch để tận dụng tình hình mất giá hiện nay cho việc tranh thủ thuận lợi tại Việt Nam, Tobin cho hay.

“Có lẽ đang có nhiều cơ hội đấy nếu như bạn nhìn vào tình hình giá cả hiện nay,” ông nói. “Thực ra chúng tôi không màng đến chuyện mua chúng.”

Hiệu đính: blogger Tran Hoang

 

Ba Sàm chú thích:

* Bloomberg L.P. là Hãng chuyên đánh giá, phân tích, cung cấp các loại dịch vụ thông tin, dữ liệu về thị trường, tài chính, chứng khoán, kinh tế … tuy mới thành lập năm 1981 nhưng đã thuộc loại lớn nhất thế giới, với doanh số năm 2006 là 4,7 tỉ đô la, và mức tăng trưởng là 14,6% (answers.com).

** Morgan Stanley là ngân hàng đầu tư hàng đầu thế giới, bản doanh đóng tại New York, doanh số năm 2007 là 85 tỉ Mỹ kim, lợi nhuận 3,2 tỉ, tăng trưởng 11,5% (answers.com).

*** Goldman Sachs Group Inc. là một trong những tổ hợp nhà băng lớn nhất thế giới, được thành lập từ năm 1869, lợi nhuận năm 2006 gần 10 tỉ Mỹ kim (answers.com).

**** Tay nầy nói ngược: lao động Việt Nam tuy trẻ nhưng tay nghề rất kém, văn minh công nghiệp thấp. Còn hạ tầng cơ sở thì quá tệ, chỉ thuận lợi cho các nhà đầu tư-cho vay ODA phát triển hạ tầng, (và rất có lợi cho các quan tham nhũng, có hợp đồng, là có ăn tiền cò  10-20% tiền hợp đồng) NHƯNG rất cực cho nhà sản xuất, dịch vụ.

http://blog.360.yahoo.com/blog-C6To.awlc6eMWmDUvAozkYGe?l=236&u=240&mx=442&lmt=5

————

 

Vietnam Banks More Cautious, HSBC Country Head Says

By Chia-Peck Wong

May 23 (Bloomberg) — Vietnamese banks are becoming more cautious in lending to industries such as real estate as rising interest rates increase the risk of defaults, said the head of HSBC Holdings Plc’s operations in the country.

“With interest rates going up, liquidity being tight, it’s only prudent to constrain lending to those with fundamental projects rather than to speculative purposes such as property development,” Thomas Tobin , HSBC’s chief executive officer in Vietnam, said in a phone interview yesterday.

The benchmark stock index has fallen for 15 straight sessions, tumbling 18 percent since April 29, as concern mounted that soaring interest rates will cripple Vietnam’s economic expansion. Banks are forced to extend loans at rates as high as 22 percent to make a “meaningful profit,” fund manager Vinacapital Investment Management Ltd. said last week.

Vietnam’s credit growth reached 50 percent last year as banks extended loans to retail investors for buying securities while a real estate boom fueled demand for mortgages. The credit expansion, coupled with rising commodity and energy prices, pushed inflation in the Southeast Asian nation to the highest in at least 15 years.

Prime Minister Nguyen Tan Dung this week told the nation’s central bank to focus interest-rate policy on fighting inflation , suggesting the government is more concerned about rising prices than economic growth. The central bank on May 19 boosted its base rate to 12 percent from 8.75 percent, and commercial banks raised borrowing costs the same day.

Vietnam’s Economy

HSBC, the world’s third-largest bank by market value, owns 15 percent of Vietnam Technological and Commercial Joint Stock Bank. The London-based bank in December 2005 agreed to pay $17.3 million for a 10 percent stake. It has agreed to raise the holding to 20 percent, pending government approval.

As loans dry up, the Ho Chi Minh City Stock Exchange’s VN Index has tumbled 53 percent this year, making it Asia’s worst performer. Residential prices in Ho Chi Minh City have dropped as much as 40 percent since the end of last year, according to Morgan Stanley.

Vietnam’s economy expanded 7.4 percent in the first quarter from a year earlier. Last year, gross domestic product grew 8.5 percent, the fastest pace since 1996.

`Good Story’

Vietnam’s “strong growth potential” hasn’t been diminished by its current difficulties, Helen Qiao , an economist at Goldman Sachs Group Inc. in Hong Kong, said in a Bloomberg Television interview on May 21.

“Things are tougher than they were before, but Vietnam really has a good story in the medium and long term,” said Tobin, citing the nation’s infrastructure and a young and skilled workforce.

Asia Commercial Bank has slumped 66 percent this year in Hanoi trading. Saigon Thuong Tin Commercial Joint-Stock Bank has fallen 60 percent in Ho Chi Minh. The two are the only listed Vietnamese banks.

HSBC isn’t planning to take advantage of falling valuations to make acquisitions in Vietnam, said Tobin.

“There probably are opportunities if you look at the prices,” he said. “We aren’t reallylooking around.”

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Kinh tế Việt Nam | Leave a Comment »

VN bị cú đòn nặng nề bởi tình trạng suy sụp kinh tế

Posted by adminbasam on 24/05/2009

Daily News

Việt Nam bị cú đòn nặng nề bởi tình trạng suy sụp kinh tế

John Boudrreau

Ngày 21-5-2009

 

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, Việt Nam – Trên những đường phố ồn ào tiếng còi xe của trung tâm thương mại này, thật khó lòng để cho ta nhìn thấy những gợi ý nói về một cơn suy thoái kinh tế đang diễn ra.

Những nhà hàng cao cấp đang đông nghẹt người, những phụ nữ trẻ tuổi ăn mặc đúng mốt đứng chật kín các cửa hàng thời trang thanh lịch, và người nào dường như cũng đang nói chuyện qua những chiếc điện thoại di động trong khi cưỡi trên xe gắn máy dạo quanh các bùng binh đầy nghẹt những chiếc xe tay ga hiệu Honda và taxi loại đa dụng [SUV-sport-utility vehicle]. Thị trường chứng khoán chính của Việt Nam, sau khi sụt giảm 66% vào năm ngoái, đã và đang lướt đi ở một mức cao trong bảy tháng qua, tăng hơn 20% trong năm nay.

Thế nhưng lối tiêu pha đáng ngờ nầy đang che giấu một thực tế rằng sự suy sụp kinh tế toàn cầu đang loang ra khắp Thái Bình Dương và đang làm choáng váng quốc gia Cộng sản ở Đông Nam Á này, nước Việt Nam từng  hăng hái cưỡi trên ngọn sóng toàn cầu hóa dâng cao.

Các công ty nhỏ sản xuất những sản phẩm công nghệ cấp thấp của Đài Loan đã lặng lẽ đóng cửa hoạt động  trong đợt đón Năm mới vừa qua mà không nói cho công nhân của họ  biết.

Thị trường bất động sản từng một thời nóng bỏng này đang chứng kiến giá nhà rớt xuống tới 40% tại một vài nơi. Và nền công nghiệp công nghệ thông tin non trẻ của Việt Nam – đại diện cho sự gia nhập của đất nước này vào vũ đài thế giới – cũng đang bị ảnh hưởng bởi tình trạng thất nghiệp lan rộng và sự nhận thức ra hoàn cảnh thực tế đáng nghiêm trọng trong những nhân công trẻ rằng kinh doanh trên phạm vi toàn cầu là nguy hiểm hơn nhiều so với những gì họ đã từng nghĩ.

“Tuổi trung bình của người Việt Nam là 27. Hầu hết người dân khởi đầu sự nghiệp của mình trong vòng bảy năm qua. Bởi vậy, phần lớn những người làm việc trong lĩnh vực công nghệ chỉ có kinh nghiệm trong giai đoạn bùng nổ kinh tế,” theo nhận xét của Jonah Levey, giám đốc điều hành Navigos Group, một hãng chuyên tìm kiếm các nhà quản trị cho doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh. “Đó là một cú sốc nghiêm trọng”.

Cơn suy thoái, bị châm ngòi bởi sự tan rã của các cơ quan tài chính tại nửa bán cầu phía Tây, đã gây choáng váng cho các công nhân trên khắp Á châu là những người từng được nhìn thấy những khoản thu nhập được gia tăng đáng kể trong những năm gần đây khi các quốc gia này bám theo những vận may của họ với phương Tây bằng cách cung cấp mọi thứ từ những chiếc áo thun cho tới phần mềm máy tính và máy nghe nhạc iPod.

Việt Nam đã bị chậm trễ trước nền kinh tế toàn cầu, đi theo sau sự vươn dậy của những người láng giềng Trung Quốc và Ấn Độ. Thế nhưng Việt Nam đã bù đắp lại quãng thời gian đã mất trong những năm gần đây, bằng cách khuyến dụ các nhà đầu tư nước ngoài, hợp tác với các hãng khổng lồ như Intel và các kỹ sư công nghệ người Mỹ gốc Việt từ Thung lũng Silicon [California] để khởi động nền công nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin của họ.

Hơn bất cứ điều gì, nền công nghiệp kỹ thuật mới ra ràng của Việt Nam tiêu biểu rõ ràng nhất cho tham vọng của một đất nước muốn tự mình vươn dậy. “Nền công nghiệp công nghệ thông tin đã là một con đường nhanh chóng để mở ra với thế giới,” theo lời Steve Cook, từng là nhà quản trị ở Thung lũng Silicon, giờ là chủ tịch hãng Enclave, một công ty phần mềm đóng tại Đà Nẵng. “Nó là một sự phù hợp hoàn hảo cho Việt Nam, với việc nhấn mạnh tới nền giáo dục dựa vào khoa học.”

Năm 2007, tổng sản phẩm quốc nội GDP của Việt Nam đã tăng 8,3% (tăng vào khoảng 5 tỉ đô la) so với năm trước, được châm mồi thêm bởi nhiều tỉ đô la đầu tư nước ngoài và bùng nổ sản xuất công nghiệp. Hãng Intel đã giành một khoản đầu tư 1 tỉ đô la để xây dựng một nhà máy sản xuất chất bán dẫn khổng lồ dọc Xa lộ Hà Nội ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Các công ty khác – như Hewlett-Packard, IBM, Sun Microsystems – đã đổ xô vào mở ra các trung tâm kỹ nghệ trong một đất nước từng bị ngăn cấm giao thương với các doanh nghiệp Hoa Kỳ chỉ mới cách đây vài năm.

Đặc biệt, Việt Nam coi Intel như có tính chất rất quan trọng cho những hy vọng về kinh tế của họ. Các quan chức chính quyền đang hỏi vị giám đốc Thân Trọng Phúc của hãng Intel ở Việt Nam với tâm trạng lo lắng rằng: không biết việc xây dựng nhà máy ở đây, nơi mà rốt cục sẽ cung cấp khoảng 4.000 công ăn việc làm, vẫn còn tiếp tục diễn ra như trong kế hoạch hay không.

“Không có gì thay đổi hết,” ông Phúc trả lời trong một cuộc phỏng vấn, một tia hy vọng giữa tất cả những tin tức xấu.

Nhưng trong những góc nhìn khác, sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm tê liệt và chậm lại giấc mơ của Việt Nam.

Công nghiệp xuất khẩu những sản phẩm rẻ tiền của Việt Nam – từ áo quần may mặc cho tới cà phê – đã làm giảm bớt phần nào nỗi đau bởi vì nó không bị tổn hại so với việc cắt giảm mức tiêu thụ các mặt hàng đắt tiền ở những nước phương Tây giống các nước khác như Đài Loan đang phải gánh chịu [Phương Tây cắt giảm tiêu thụ sản phẩm đắt tiền làm kinh tế Đài Loan chết đứng, buộc Đài Loan phải thay đổi chính sách xích lại gần gũi hơn TQ từ cuối năm 2008 cho đến nay và đã làm cho toàn dân Đài Loan biểu tình phản đối chính phủ Mã Anh Cửu bắt tay với Trung Cộng – TH chú thích].

Tuy nhiên, mức tăng trưởng GDP của Việt Nam được cho là sẽ rút lại từ 6,2% giữa năm 2007 và 2008 xuống còn 3,3% cho tới cuối năm nay, theo như Quỹ Tiền tệ Quốc tế đánh giá. Các ngành công nghiệp dễ bị ảnh hưởng bởi các thị trường toàn cầu – đặc biệt là công nghệ thông tin – đã cảm nhận được tác động chính của sự suy thoái kinh tế.

Hầu như tất cả các công ty Internet của thành phố này đều phải cắt giảm nhân công, theo blogger Nguyễn Thị Khanh “Chip” Huyen, một nhân vật chuyên quảng bá cho công nghệ ePi, một loại cổng thông tin cho truyền thông đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong khi đó, hàng trăm, nếu như không nói là hàng ngàn, các công việc làm trong lĩnh vực phần mềm đã bị mất và một số ít công ty phần mềm thậm chí đã phải đóng cửa. Ngành công nghiệp phần mềm doanh thu 600 triệu đô la một năm, từng tăng trưởng khoảng 30% một năm về lợi tức và trực tiếp thuê mướn khoảng 60.000 nhân công, có thể sẽ không nhìn thấy sự tăng trưởng trong năm nay, theo các hiệp hội kỹ thuật trong nước cho biết.

Chỉ ít tháng trước, các kỹ sư như Nguyễn Sơn và Vũ Dương đã được nhiều công ty lùng kiếm, rất nhiều lần họ đã nhận được nhiều lời mời đề nghị làm việc. Thế nhưng, cách đây một vài tuần, họ đã nhận được tờ giấy màu hồng (báo tin bị sa thải) cùng một loạt với nhiều người khác bởi công ty CSC  có bản doanh đóng tại Virginia. [Công ty CSC chuyên nhận hợp đồng từ các công ty khác; và để giảm chi phí, họ đã gởi công việc ấy ra nước ngoài và thuê những người như Sơn và Vũ thực hiện các công việc – TH chú thích].

“Chúng tôi đã không nghĩ rằng chúng tôi có tên trong danh sách bị sa thải,” Nguyễn cho biết, anh ta ngồi trong một quán cà phê vào một ngày trong tuần với người bạn cũ cùng làm việc trước đây. “Họ cần cắt giảm chi phí. Họ cần giảm bớt những nhân công có mức lương cao.”

Các kỹ sư này, đều trạc tuổi 30, đã kiếm được khoảng 1.200 đô la* một tháng – một mức lương như ông hoàng ở một đất nước mà nhiều người vẫn còn phải sống với chưa tới một đô la một ngày.

Một số nhân công đã từng tưởng  rằng họ sẽ gắn bó toàn bộ sự nghiệp của họ với công ty, theo lời người kỹ sư bị thất nghiệp Vũ Ngọc Phan. “Một số người đã rất hoảng hốt gần như điên lên khi họ nhận được quyết định nghỉ việc,” anh nói. “Họ gào lên. Họ cảm thấy tức giận. Nhiều cô gái chỉ biết khóc mà thôi.”

Cách đây không lâu, những kỹ sư có tài đó có thể nhận được thêm việc làm ngoài giờ – và hưởng thêm 50% tiền lương cao hơn [lương 10 đô/ 1 giờ trong 8 giờ làm việc chính, sẽ được trả thành 15 đô mỗi giờ kể từ giờ thứ 9], theo chủ tịch Levey của công ty Navigos, người cũng trông nom trang Vietnamworks.com,  một trang tìm kiếm việc làm; Caravat.com, một trang nối mạng cho các doanh nghiệp; và trang Vietnamskills.com, một nơi quãng cáo giới thiệu các chương trình huấn luyện đào tạo.

Các nhà lãnh đạo ngành công nghiệp biết rõ những thời điểm thuận lợi hơn thế nào cũng sẽ quay trở lại. Họ đang quan tâm nhiều hơn về những trở ngại lâu dài đối diện với nền công nghiệp công nghệ thông tin non trẻ, bao gồm việc giáo dục đào tạo công nghệ tốt hơn, theo lời anh Phí Anh Tuấn, phó chủ tịch Hiệp hội Máy tính Thành phố Hồ Chí Minh. Intel, là một ví dụ, đã và đang phàn nàn lớn tiếng về một tình trạng khan hiếm các nhân công thành thạo kỹ thuật  tốt nghiệp đại học.

Thế nhưng cơn suy thoái đã làm cho một số sinh viên đại học đang  suy nghĩ lại về nghề nghiệp của họ.

“Hai hoặc ba năm trước, mọi người đều muốn học công nghệ,” một blogger tên Huyền nhận xét. “Giờ thì họ muốn học cái gì đó thực tế hơn, như là tiếp thị [marketing] hay quan hệ công chúng [public relation] chẳng hạn.”

Nhà kinh doanh từng ở Thung lũng Silicon Thịnh Nguyễn đã nhận thấy các đơn đặt hàng cho công ty Pyramid Software Development của ông ở Thành phố Hồ Chí Minh giảm bớt  30%.

Ông Nguyễn Thịnh tin rằng nếu như ông có thể chỉ cần nhận được một ít dự án nhỏ thôi thì ông cũng sẽ có thể tránh được chuyện phải sa thải nhân công, đây là những người mà gia đình của họ thường phải gom góp tất cả các nguồn tiền bạc để gửi những đứa con của họ vào học một ngành công nghệ và một dự định bước chân vào tầng lớp trung lưu. “Đối với một dự án cần 20-30 người làm, quí vị sẽ nhận được sự chú ý của toàn thể chúng tôi,” ông Thịnh cho biết.

Một số trong những người bị mất việc làm đã biểu lộ thái độ tức giận về những gì mà họ nhìn nhận như là hành động thiếu cẩn thận của Hoa Kỳ. Dầu vậy, hầu hết hiểu rằng đó là cái giá cho việc gắn chặt số phận của nền kinh tế nước họ với số phận của nền kinh tế  các nước khác trên thế giới.

“Chúng tôi giờ đây đã hội nhập với thế giới,” kỹ sư Phan nói. “Mọi thứ đều liên hệ với nhau.’

Hiệu đính: Trần Hoàng

—-

 

Lời Bình của BBT

*Ở các nước ngoài, công việc của những người nầy có thể  được trả lương từ 4000-7000 một tháng hoặc hơn nữa trong năm đầu tiên làm việc (chứ không phải là 1200 đô/1 tháng).

Theo tin của msnbc.com, 25% của các game đang được bán ra ở Mỹ trong các năm qua là do chính tay của các programmer ở Việt Nam viết. Website của msnbc.com cũng do  người Việt nam ở trong nước làm.  Khả năng chuyên môn thì có thừa, nhưng thành quả của họ thì phần lớn là người khác hưởng chỉ vì họ thiếu điều mà người ta gọi là communication và marketing.[1]

Chỉ cần lợi dụng thời buổi thất nghiệp nầy và học thêm tiếng Anh đàm thoại để vài ba năm sau tự mình nhận được các hợp đồng trực tiếp từ các công ty khác mà không cần phải qua các công ty trung gian như CSC hoặc của các Việt kiều ở thung lũng Silicon ở California.

Một cách khác nữa là tự quãng cáo về công việc của họ. Cứ 20-30 chục người lập thành một nhóm, có tên doanh nghiệp, có một website, hoặc thậm chí lập một blog (facebook, hay myspace.com…) tự giới thiệu công việc nào mà họ thành thạo nhất, có kinh nghiệm làm việc nhất trong 5-10 năm qua…với CSC. Cụ thể hơn là tự quãng cáo mình: Viết một game nào đó trên blog, dẫn link tới một website mà các bạn muốn để cho đọc giả nhào vô chơi 1, 2 phút. (Tôn trọng copyright, tác quyền, và hợp đồng mà các bạn đã từng ký tên cam kết khi làm việc với CSC.)

Hoặc cùng nhau thực hiện và hoàn thành một dự án (project) và giới thiệu kết quả của dự án ấy lên website, nói rõ ứng dụng của dự án ấy vào lãnh vực nào (tài chánh, kế toán, thống kê, game, lãnh vực y tế…)

Các sinh viên nước ngoài cũng tự mình làm lấy và quãng cáo về resume của họ trên các website, các blog, và làm sẵn  dự án để “khoe hàng” với các công ty. Năm nào cũng vậy, từ đầu năm, trong các tháng qua và vào mùa Hè nầy, mỗi sinh viên vừa mới tốt nghiệp (trong độ tuổi 22-28) đã gởi 50-100  resume đến các hãng, các cơ quan để xin việc làm. Post tiểu sử lên facebook,  myspace.com, twister…để tự quãng cáo mình. Họ chỉ biết làm hết sức của mình và trong điều kiện cho phép. Vững tin vào khả năng, tương lai, không than thở mà cũng không nãn chí. Không cần phải chờ “ai đó bổ nhiệm” rồi “kể công” tùm lum và bắt phải mang ơn sau nầy.

Năm 2008, khi quốc hội thảo luận đòi cắt giảm người nhập cư vào Hoa Kỳ, đích thân Bill Gate đã phản đối và ông đã ra điều trần tại quốc hội. Bill Gate yêu cầu quốc hội cho phép nhân công ngoại quốc có kỹ thuật cao không bị cắt giảm số lượng mà còn được ưu tiên cấp giấy nhập cảnh loại H1B vào làm việc ở Hoa Kỳ. Nhờ vậy, hãng  Microsoft và các công ty con của họ đã thu nhận được các nhân công nói tiếng Anh thành thạo từ các quốc gia nghèo như Ấn  Độ, Philippines, vào Mỹ làm việc.

Riêng các sinh viên Mỹ thì trong 9 năm qua có khuynh hướng không chọn ngành computer nữa mà lại chọn các ngành  như public relation, tiếp thị, hoặc doanh nghiệp… để thưởng thức cuộc sống. Họ khá sợ hải về vụ sụp đổ của ngành computer từ năm 2000, và sự kiện các hãng, các tập đoàn, ngân hàng, tài chánh, chuyển hướng qua Ấn Độ từ năm 2002 thuê mướn các nhân công trong ngành công nghệ thông tin thực hiện các công việc dự án cho họ. Nhưng trong khoảng mấy năm gần đây (trước khi có khủng hoảng tài chánh 2008), các sinh viên tốt nghiệp ngành công nghệ thông tin ở Hoa kỳ lại kiếm việc rất dễ dàng và lương cao. Thực tế, trong gói kích cầu 787 tỉ đô la, có nhiều mục liên quan tới ngành computer, và nhiều lãnh vực khác như ngành y tế đang bị bắt buộc phải dùng hồ sơ điện tử để quản lý bệnh nhân…ngành computer lại thu hút nhân công trở lại.

Thành công = sự chuẩn bị kỹ càng để nắm lấy cơ hội + may mắn

[1] Thất bại của nền kinh tế hiện nay là do chính sách sai lầm dồn hết 75% tiền bạc cho các công ty nhà nước luôn luôn làm ăn thua lỗ. Một thất bại khác nữa đánh vào mặt kinh tế và tài chánh của cá nhân và gia đình. Chừng nào mà hai  lãnh vực nầy không cải sửa được 100% thì ngày đó đất nước VN vẫn còn tiếp tục nghèo, không cần biết đảng phái nào cầm quyền và không cần biết  thời gian cầm quyền kéo dài 50-100 năm hay lâu hơn nữa.

Nguyên nhân của thất bại kinh tế và tài chánh của từng cá nhân và gia đình là không cải tổ giáo dục. Chương trình giảng dạy và cách giảng dạy trong các trường trung học và đại học ở VN quá lạc hậu, nhưng chính phủ đã không chịu cải sửa ít ra là kể từ hơn 34 năm qua. Chính sự không cải sửa nầy đã làm cho VN không có  được  nhiều công nhân có tay nghề cao, và làm cho  sinh viên tốt nghiệp ở các đại học ở VN bị tê liệt, và thiếu nhiều khả năng cạnh tranh so với sinh viên của các nước khác. Chương trinh học thiếu một số môn học cần thiết, cung cấp một số môn học không đáng học, và cách giảng dạy quá ư là bè đảng đã dẫn đến các hậu quả là:  Các công nhân VN  làm việc ở các hãng xưởng và các sinh viên tốt nghiệp đại học ở VN trở nên mất tự tin. Biểu lộ rõ rệt nhất là họ đi làm và nhận tiền lương rẻ mạt  mà không dám  đòi hỏi, chịu sống trong cảnh nghèo và trở thành phụ thuộc vào một công ty mà họ làm việc.

Chương trình của tất cả các trường đại học ở Viêt Nam không đặt tiêu chuẩn rằng tất cả các sinh viên tốt nghiệp đều bắt buộc phải lấy các lớp học về communication và một số các lớp khác dười đây. Trái lại, tất cả các sinh viên phải lấy cho được môn triết học Mác-Lê để tốt nghiệp.  Chỉ cần bỏ bớt đi các lớp học triết học Mác Lênin, và dùng thời giờ đó để dạy cho sinh viên các môn học như: cách viết 1 bài luận văn 500 chữ sao cho hiệu quả, 1  môn học về cách tiếp thị cho ngành học của mình,  4 lớp anh văn đàm thoại, 2 lớp học về kinh tế vĩ mô và vi mô để sinh viên có thể tự mình có kiến thức toàn cầu. Những lớp học ấy chiếm 15