BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Giáo dục’ Category

Đúc người vì lợi ích dăm năm

Posted by adminbasam on 22/10/2007

Đúc người vì lợi ích dăm năm

(Thư ngỏ – Kính gửi các bác lãnh đạo ngành giáo dục từ xưa cho tới mai sau)

Nguyễn Hữu Vinh

Cháu không còn trẻ nữa, cũng không phải đi học nữa, nhưng thấy mình vẫn còn non nớt lắm, nên xin được xưng hô vậy. Già người mà vẫn thấy còn non cái dạ, lại hèn kém, đó chính là một trong những lý do quan trọng thôi thúc cháu viết lá thư này. Ngành giáo dục mà các bác lãnh đạo cháu xin được gọi là “cỗ máy đúc người”, và bức thư này cháu xin được gửi tới hết thảy các bác lãnh đạo của ngành trong nhiều thế hệ mà cháu cũng xin được mạn phép gọi là các “quản đốc phân xưởng đúc”. Tại sao vậy? Cháu sẽ xin được làm rõ.

  • Trước hết là ý muốn chia sẻ nỗi lo của các bác đang vật vã với chuyện đúc người bao nhiêu năm nay, cứ cải (cách) đi rồi cải lại mà càng bế tắc thêm.
  • Cái cỗ máy đúc người này nó làm cháu nhớ tới cuốn phim Đồi thịt băm, tức là nó băm vằm, nuốt chửng danh tiếng và mọi nỗ lực của nhiều thế hệ lãnh đạo các bác (nếu như ai đó thực tâm có). Các bác không thấy được, hoặc làm như không thấy, là nó chỉ như một cỗ máy trong một nhà máy khổng lồ, đã vận hành từ rất lâu với một sức mạnh và quán tính khủng khiếp. Hơn nữa, nó lại đóng vai trò vô cùng quan trọng là đúc ra mọi chi tiết cho những cỗ máy cái ở các phân xưởng khác. Thế mà cứ cố vặn vẹo nó nay tí mai tí mà không chịu cải đổi hẳn đi, không quan tâm tới các cỗ máy khác đang lôi kéo nhằng nhợ với nó thì đương nhiên sẽ bị nó nuốt chửng.
  • Cái cỗ máy này thực ra đã một thời có công tích ghê gớm, có điều hình như chưa thấy ai phân tích cái kiểu công tích này và việc nó tác động lại theo lối phản tác dụng ghê gớm ra sao tới xã hội chúng ta, và đến chính nó, cái cỗ máy làm ra công tích đó.

1. Công

Phải nói là giờ nhớn rồi, lại được mở mang hiểu biết ra bên ngoài nước mình, cháu mới càng thấy một điều là cái kiểu đúc người (giáo dục) ở ta trong những năm chiến tranh quả là tuyệt diệu. Đó là “triệu người như một”, đều tăm tắp, tuân lệnh răm rắp, không giống bên Tây nó “đúc” thì ra mỗi người mỗi kiểu. Duyên do thì nhiều lắm, cháu xin kể lể vài điều ra đây. Số là dân mình tuyệt đại đa số vốn đã nghèo khổ, ngoài việc chả biết gì ngoài lũy tre làng, lại phải chịu ảnh hưởng đủ thứ tư tưởng, văn hóa Nho Khổng, Phật, Lão nhưng bị thăng trầm méo mó đi qua bao đời, nên con người ta sống rất chi là khiêm nhường, yếm thế với “bề trên”, không kênh kiệu như bên Tây. Đến khi cách mạng nổi lên, giành độc lập, họ được bảo là mình giờ thành ông bà chủ xã hội hết rồi, nhưng khốn nỗi lại cứ bị các bố đầy tớ (tức là cán bộ – “đầy tớ của nhân dân”) mắng mỏ dạy bảo đủ kiểu, từ trẻ nứt mắt cho tới già kề miệng lỗ. Thành thử bà con chả biết đâu mà lần, càng phải khiêm tốn tợn, phát triển thêm luôn cái đức tính giả vờ nữa, tức là nói, nghĩ một đằng làm một nẻo. Điều này vô cùng là móc xích với cái công nghệ đúc người ở ta. Cụ thể là bọn trẻ con chúng cháu là nhân dân, thì nhẽ ra thầy cô, đến cả các bác bộ trưởng nữa, phải là đầy tớ của chúng cháu, đúng với cái khẩu hiệu của chế độ, là phải hết lòng phục vụ. Thế nhưng sự tình nó cứ ngược lại hết làm cho chúng cháu quen dần cái lối sống giả vờ mà ngày nay các bác đang khốn khổ để “tuyên chiến”, ấy là “gian dối trong thi cử”, “bệnh thành tích trong giáo dục”. Khởi đầu là cái “cá nhân” trong mỗi con người luôn được đè nén xuống dí dị; làm gì, nghĩ gì cứ là vừa phải theo “tập thể”, “đoàn thể”, vừa phải tin tưởng tuyệt đối ở “trên” (tức là ở các ông bà đầy tớ). Từ ngày còn bé tẹo, chúng cháu đã biết nhận thức là mình rất ngu, rất hư, rất chi là “cá nhân chủ nghĩa,” nên mọi hoạt động phải đi vào khuôn phép. Nào là hát đồng ca, vỗ tay đồng loạt, tập đánh vần cũng phải đồng thanh theo nhịp thước cô gõ chan chát (có nhẽ để sau này nhớn lên mà phát triển cái “đồng tình”, “đồng chí”, “đồng lòng”…?) Học được mấy bài hát mà thấy bài nào cũng có từ “ngoan”, “cố gắng”, “không khóc nhè” nên nó ngấm vào máu cái tính “ngoan” hết mực, đói mấy cũng phải tươi cười tin tưởng phơi phới. Kế đến là cái khoản “xin-cho” thôi thì đủ kiểu. Đến cả buồn tè, mót ị mấy cũng phải giơ tay xin phép, cô cho thì mới được đi, không thì cố mà nín, đùn ra đấy là rất hư, hết cả “phiếu bé ngoan”. (Ngày qua ngày, càng già cháu càng rõ là cái cảnh xin xỏ này nó cứ diễn ra suốt đến lúc chết. Nào là xin vào trường học, xin đăng ký hộ khẩu, xin khai sinh, khai tử, xin khai thành tích để được khen… Còn cái chuyện “nín” thì càng lớn lên càng giỏi, cháu xin nói ở phần sau). Cô kể chuyện xong mà không vỗ tay là hỗn, cũng hư là cái chắc. Thành thói quen như từ cha sinh mẹ đẻ để sau này cấp trên có nói (bậy) ra cái gì cũng cứ vỗ tay rào rào, làm láo mà cũng phải khen nức nở.

Nhớn lên tí, học cái kiến thức thì cũng rất đặc biệt, chúng cháu được vun đắp thật là nhiều, những thứ rất cao siêu nhưng thuộc “phe ta” thôi; những gì về thế giới bên ngoài, của kẻ địch, hay phe khác thì được coi là nọc độc nên rất hạn chế. Còn chuyện hai bên đánh nhau thì cũng toàn ta dũng cảm, khôn ngoan, thắng ào ào, địch thì hèn nhát, ngu si nên thua chạy như vịt cả. Viết bài luận về thơ, văn của các vị nổi tiếng, nhất là có chức sắc nữa, là cứ phải khen ngất giời chứ cấm có được chê, kể cả hơi “băn khoăn” tí cũng ăn điểm không là còn nhẹ. Làm văn về đất nước là phải “rừng vàng biển bạc”, phải có “gương người tốt việc tốt”, “chế độ ta tươi đẹp”. Tóm tắt là cái gì của ta, từ “trên” là “cực kỳ” (đúng, tốt), còn của địch là khốn nạn hết. Trong quá trình vun đắp là phải căng tai trợn mắt ra mà lĩnh hội, chứ đứa nào nhỡ có hơi “thiên nhiên” tí, nảy nòi ra cái tính thắc mắc, cãi bướng, ưa tranh luận là mệt ngay. Cái kiểu dạy “thầy đọc trò chép” mà giờ các bác đang khốn khổ loại trừ phát sinh chính từ đây, nó giúp cho chúng cháu là những kẻ được “lập trình” vào đầu ngay từ tấm bé cho những nhận thức là ý kiến của “trên” thì chỉ có đúng, phải tuân theo răm rắp, kẻ nào không đồng ý với “trên” là coi như kẻ thù. Còn đã là kẻ thù thì ắt xấu xa, phải tiêu diệt nếu như không chịu cải tạo. Để được rèn giũa thì ngoài thầy cô còn có tầng tầng lớp lớp các đoàn thể ngay từ nhi đồng, thiếu niên… kèm cặp cho chúng cháu ngày càng ngoan (nghĩa là kiểu “gọi dạ bảo vâng”, “đặt đâu ngồi đấy”), có thêm “tinh thần tập thể”, giảm bớt cái “cá nhân” đi (mà giờ cháu mới hiểu là bên Tây nó hay gọi là có “cá tính”). Chưa hết, lại còn một lực lượng kiểu cảnh sát dân sự biệt danh là “Cờ đỏ”, tai mắt của thầy cô, xem có đứa nào vẫn còn hư không, làm cho đứa nào cũng cảm giác khó hiểu về bạn bè mình, còn mình thì lại tập cái tính sống ít hồn nhiên đi, thích phát hiện những đứa bạn hư để hớt lẻo với cô, để được công tích cho đỡ bị bảo là hư, là ngu. Mà chuyện công tích thì quan trọng khủng khiếp, trong hơn cả một đời người, từ khi đẻ ra cho qua cả lúc chết rồi. Vì có nhiều danh hiệu vô cùng để phấn đấu mà đạt cho được. Đứa nào không được danh hiệu thì sợ hãi khủng khiếp, cảm giác như bị bọn có danh hiệu nhìn ngắm mình như quái vật; vì số này rất ít, nên dưới đẳng cấp này thì chỉ còn có bọn tội phạm đi tù, cải tạo thôi. Để có danh hiệu là phải qua những công đoạn chấm điểm rèn luyện kỷ luật, từ đầu tóc, quần áo, nói năng, giờ giấc, rồi bọc, dán nhãn, giữ gìn sách vở sạch đẹp… (nhiều không kể hết được, cho cả cá nhân và tập thể). Thế rồi tính toán, “cân đối”, bình bầu, kèm theo là nhiều cuộc họp hành nữa. Cả trường xếp hàng nghe đọc điểm thi đua mỗi tuần, điểm cao là được khen, thấp là bị bêu riếu. Không khí ganh đua kèn cựa nhau từng li một muốn nghẹt thở, cứ gọi là mụ mị cả người, cảm giác tội lỗi, hèn kém luôn thường trực trong mình. Lại còn luôn luôn được hô những khẩu hiệu đạo đức mà những chữ “khiêm tốn”, “đoàn kết”, “kỷ luật” cứ gọi là ưu tiên hàng đầu. Trong mọi ngôn từ hàng ngày cho tới bài vở viết ra chúng cháu đều được dạy những từ ngữ rất chi là hoành tráng, gọi là ngôn ngữ ngợi ca. Nên cái không khí chung là cực kỳ… (xin lỗi, cháu không tìm ra được từ nào để diễn tả nữa). Và các bác sẽ chả lạ gì cái lối làm “bài văn mẫu” ngày nay đầy dẫy là có ngọn nguồn từ đây. Đến như cái “khẩu hiệu” nhiều năm nay trường nào cũng có, nghe rất chi là “đậm đà bản sắc dân tộc”, là “tiên học lễ, hậu học văn”, mà nào có mấy ai từ thầy đến trò được hiểu cho đúng cái chữ “lễ” của cụ Khổng Tử nó mênh mông đến nhường nào đâu. Cứ nghĩ theo lối tộc tệch là bọn trò chúng cháu phải trước hết “thấm nhuần” cái thái độ “lễ bái”, “lễ độ”, “lễ phép”, nhũn như con chi chi, có khi lại phải dâng “lễ lạt”, “lễ vật” nữa (tức là có… “phong bì”, “con gà nải chuối” cho thầy cô).

Ngoài nhà trường ra thì khắp nơi hang cùng ngõ hẻm, trong xóm ngoài làng, xưởng máy, ruộng đồng, cơ quan, đoàn thể, đêm ngày bằng mọi phương tiện từ báo, đài, thơ, truyện, ca, múa, nhạc, kịch, thể thao… cả “chuyên” và “không chuyên”, chúng cháu luôn luôn được tiếp tục “hun, đúc” không ngừng tất tật những gì thuộc về lòng trung thành, tin tưởng tuyệt đối, tự hào vô cùng về hiện tại, tương lai đất nước, chế độ, “bề trên”, căm thù tận xương tủy kẻ thù xấu xa. Tức là cái gì cũng có ranh giới tuyệt đối: tốt và xấu, ta và địch. Nên cái chữ “trồng người” nó phải được gọi là “đúc người” mới phải. Nghĩa là không có chăm bón, vun xới, nâng niu theo lối mơn trớn, “dân chủ giả hiệu” gì sất, mà là nung chảy, đổ khuôn, rèn, đột, dập, mài, dũa, cắt gọt, đánh bóng cho đến nhẵn thín, tròn xoe ra mới… vẫn chưa thôi.

Thế là những lớp người được trở nên vô cùng hoàn hảo, chả có chống đối, nghi ngờ, thắc mắc, tơ tưởng “đứng núi nọ trông núi kia”. Bảo đi là đi, bảo đánh là đánh, không một tí tiếc rẻ tài sản, máu xương. Sống cực kham khổ nhưng vẫn tươi hơn hớn, có biết bên ngoài người ta sống ra sao, nghĩ cả thế giới này cũng vậy, phần thì tin tưởng, phó thác ở “trên” dẫn lối chỉ đường hết. Cả triệu người như một hàng quân, tay nào khác đi một tẹo, dù là ý nghĩ, ánh mắt là trơ thổ địa ra, dễ bị nghi là phản động ngay, ít ra cũng là “thiếu kiên định”, phải tự đấm ngực kiểm thảo. Những diện có thể có những biểu hiện khác thường nhất, như là các nhà thơ, văn, nhạc…, dễ bất ngờ “thai nghén” những sản phẩm tinh thần trái cựa có nguy cơ ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu, lòng trung thành tuyệt đối, thì cũng được luyện làm sao các sản phẩm đó không những vẫn ở trong vòng kiểm soát (được gọi là theo “định hướng”) mà còn phải trở thành những khẩu hiệu hành động nóng dẫy. Những nhu cầu bản năng của con người từ ăn uống cho tới làm tình đều bị phỉ nhổ là thấp hèn, phải cố mà nín nhịn, kể cả nín không được mà tuôn ra thành văn, xổ ra thành tranh là cũng “ăn đòn” ngay; ngộ nhỡ có hơi tham tí mà “ăn vụng” lại không biết “chùi mép” là thôi rồi, tương lai mờ mịt luôn (dạo ấy có cái từ nghe còn kinh hơn án tử, gọi là “hủ hóa.” May quá giờ hiếm ai nhắc đến nữa). Vì rõ là mọi thứ nó đều có “suất” cả (giờ gọi là “bao cấp”). Sợ chết, thèm ăn, thèm “sinh hoạt” cũng phải bảo là không sợ, không thèm. Tức là cái trình độ nghĩ một đằng, nhưng nói, làm một nẻo điêu luyện lắm, như được “lập trình” sẵn cả rồi. Tóm tắt lại thì cháu tự cảm thấy mình như thể một thứ người-máy-sinh-học, được đúc ra từ cái phân xưởng đúc mà các bác gọi là “ngành giáo dục,” lại còn được nhiều phân xưởng khác gọt dũa, “mông má” thêm, nên giờ nhớn như lão già rồi mà nhìn ra thế giới thấy mình vẫn còn non nớt lắm. Cứ thế, cái thế hệ người-máy này lại quay lại rèn đúc, đẽo gọt thế hệ người-máy khác (nói bỏ quá, chứ cháu biết các bác cũng nằm trong số này, có khác chăng là thuộc loại “chất lượng cao” thôi – tức khả năng bắt chước, giả vờ, tuân lệnh răm rắp là hơn hẳn đồng loại). Cũng thi thoảng có vài người-máy do bẩm sinh hoặc quy trình đúc bị lỗi mà sinh cái tật hay có ý kiến riêng là được căn chỉnh ngay. Đó là loại bướng bỉnh, thiếu ý thức tập thể, tinh thần đoàn kết, bản lĩnh chính trị kém. Mà căn chỉnh tức là “kiểm điểm”, “kỷ luật”, “mất thi đua”… cuối cùng là ảnh hưởng đến lương, thưởng, tem phiếu. Vậy là đâu lại vào đấy. Thật là tuyệt!

Báo hại cho phe địch cứ cậy giàu có văn minh mà không biết là đánh nhau với những lực lượng này thì chỉ có thiệt trở lên. Vì bên họ thì không có cái lối đúc người như thế này, mỗi sản phẩm mỗi kiểu, nên nó có cuộc sống rất là “cá nhân chủ nghĩa”. Nào là thắc mắc, đấu tranh, buồn nhớ nhà thì rên rỉ, hát nhạc vàng, rượu chè cờ bạc, ăn diện phè phỡn, gái mú. Ngoài đời họ cũng chả có đông đảo các ban ngành đoàn thể, phát động tuyên truyền, văn hóa tinh thần để rèn đúc theo kiểu “đồng tâm nhất trí” như ta; đã vậy lại còn để cho nhiều đoàn thể, báo đài nói cái giọng phản tuyên truyền lung lạc ý chí chiến đấu của quân dân nữa chứ. Nhất là cái lối thấy đánh nhau bị thua, chết nhiều quá là xót, đòi xem với xét. Thế thì khác gì bàn lùi, là nhận mình kém cỏi, không có chính nghĩa. Như thể hai phe dàn trận ra, một bên thì “triệu người như một” đều bắn, cùng a-la-sô đánh chí chết, chấp nhận hy sinh vô hạn, còn bên kia thì lại phải cãi nhau tiến hay lùi, không “tin tưởng ở trên”, lo thiệt hại nhiều nhân mạng. Thua sặc tiết là cái chắc! Thế mà giờ vẫn còn cãi nhau như mổ bò là vì sao bị thua. Giá chịu khó ngó đến lịch sử xa xưa thì sẽ thấy xã hội này được tổ chức cũng hao hao như cái thị quốc quân sự hùng mạnh Sparte ở Hy lạp thế kỷ thứ V trước Công nguyên, để mà biết mà dàn hòa chịu thiệt ngay từ đầu thì có phải yên chuyện không.

Đó là tóm tắt vài biểu hiện trong cái công tích của cỗ máy đúc người, chứ đi sâu chỉ ra hết, phân tích rõ thì đa dạng, thâm thúy vô cùng tận, phải những trí thức học giả mới làm nổi.

2. Tội

Thế rồi hòa bình lập lại, nhiều năm sau nữa mà cái cỗ máy đúc này nó chạy lại còn khỏe hơn hẳn xưa. Hình như cũng có nhiều vị hay chữ kiến nghị phải thay nó đi, đơn giản là xưa “đúc” chiến binh là chính, giờ thì phải “trồng người” như bên Tây để cho ra nhiều trí thức, công nhân bậc cao, nông dân giỏi công nghệ. Xưa đánh nhau lo mất nước, có phe nọ phe kia, nên cần “muôn người như một”. Giờ đâu còn lo nữa, thế giới đơn cực, chế độ thì vững như bàn thạch rồi, lại còn chơi với tất tật, kể cả những loại ngày xưa là kẻ thù nữa. Với lại cái trò đúc ấy nó cũng có mặt trái kinh khủng, làm cho ta thiếu hẳn những người-thật. Trước nay mình toàn “đúc”, mà người ta thì “trồng”; như cái cây ấy, chăm bón, vun xới rồi tự nó nhớn lên mơn mởn mỗi cây mỗi vẻ, chứ cứ khuôn hình “đúc” ra cứng nhắc, khô không khốc thì có mà đánh nhau mãi à? Hậu quả đau đớn là cứ bị mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác, mới ngộ ra là vì ta quá thiếu người-thật, chỉ rặt những người-máy thôi, nào có dám cãi lại khi thấy “trên” làm sai. Thêm nữa là do “trên” thì các bác quản đốc, giám đốc biết thân biết phận, tâm niệm cái câu “ba anh hàng da thành anh Gia Cát Lượng” nên lãnh đạo theo lối “tập thể”, chứ không chơi kiểu “cá nhân” như bọn tư bản. Yên tâm quá, có chuyện gì thì cũng chịu trách nhiệm “tập thể”, tức là “hòa cả làng.” Cùng lắm là các bác đổ tại cái thằng… “cơ chế”, sợ gì chuyện làm sai, nên càng hay sai. Các bác lại còn thích kiểu ăn quả chắc, nên tuyển toàn loại người-máy thôi, ngại tuyển người-thật vì chúng nó hay cãi, dám hỗn láo vạch mặt cả cấp trên. Nhưng người- máy thì trông nó cứ “muôn người như một” nên cũng cực kỳ khó chọn, lý lịch anh nào thấy cũng na ná như anh nào, toàn “chấp hành”, “trung thành”, “khiêm tốn” cả. Các bác đành tổ chức thi… “chạy”. Anh nào “chạy” khỏe là ăn. Nhưng hóa ra những tay “chạy” khỏe thì làm việc lại cực ngu. Thế là các bác lại càng dễ mắc thêm sai lầm nữa.

Nhưng có lẽ các bác vẫn tính là thể nào cũng còn đánh nhau? Hay là cần các trí thức có phong cách như chiến binh người-máy? Hay các bác thấy giờ vi tính, rô-bốt ở tây nó phát triển quá nên nghĩ mình cả nửa thế kỷ nay thế là đi đúng cái kiểu “đi tắt đón đầu” rồi (đúc được người-máy)? Nên cỗ máy đúc vẫn cứ được dùng tiếp. Thi thoảng có tiếng kêu ca thì các bác lại xê dịch nó đi tị tẹo, sơn phết vào, hô là “cải cách”! Thế là yên chuyện.

Nhưng cái lũ người-máy-sinh-học giờ nó cũng quái ra phết. Không thấy đánh nhau nữa, lại thấy nhờ có cái “cơ chế thị trường” nên các người-máy có “cương vị” sống hơi bị Tây quá chứ không kham khổ như xưa nữa. Còn nhìn ra ngoài thì mới thấy là mình “thua em kém chị” ghê gớm. Thế là chúng nó nhao nhao lên. Một số thì lăn vào mà kiếm tình, tiền các kiểu, trong khi vẫn giữ cái vỏ người-máy. Số khác thì cố công nhồi nhét kiến thức bị hổng bao lâu nay, chỉ có điều nó vẫn bị cái thói quen là nhút nhát, sợ sệt không sửa được mấy, nên nhiều khi có cái sáng kiến cũng đành câm miệng, sợ dạy khôn người trên là bị mắng “thiếu khiêm tốn”, “gây mất đoàn kết nội bộ”. Cũng có một số ngộ ra là mình phải được có tí quyền này nọ chứ không thể như lớp trước mãi. Vậy là nảy sinh những xung đột xưa nay chưa từng thấy. Như tại xưởng đúc, nhiều thợ đúc bắt đầu áp dụng các ngón nghề cai ngục như ép học thêm, tra tấn, hỏi cung, lăng nhục người-máy, nhưng họ thường chỉ nhắm vào những loại hiền lành, ù lì thôi (khôn thế, chứ tra tấn loại người-máy khùng khùng có khi lại bị nó tra tấn lại thì khốn. Vì cũng có vài vụ người-máy nổi điên “xử lý” thợ đúc rồi). Đến độ nhiều người-máy bị hỏng “phần mềm”, bác sĩ gọi là sì-chét, là tâm thần, nói năng hành động lung tung, có những trường hợp tự tử nữa mới kinh. Tình trạng này giờ nhiều quá, công luận lên tiếng đòi có giải pháp, làm cho các bác quản đốc rối tinh không xoay xở kịp.

Khổ nữa là trong cái công cuộc “ra biển lớn” này (tức là làm ăn, quan hệ với khắp thế giới), những người-máy được đúc ra theo công nghệ cũ ngày càng bộc lộ kém cỏi. Vì không quen tự học hỏi, thường thụ động nên đơn giản là ra biển gặp sóng to gió lớn, cá mập, cướp biển nó rình rập mà cứ “gọi dạ bảo vâng”, “đặt đâu ngồi đấy”, chả có sáng kiến tối kiến gì cho ra hồn; khó khăn tí thì lại đòi về xin ý kiến chỉ đạo của “trên”, “trên” lại thỉnh thị “trên” nữa, hoặc dở “cẩm nang” ra đọc, thì có mà làm mồi cho bạch tuộc tư bản, nó chả phải vươn vòi gì mà cũng kiếm ăn tại chỗ được.

Vậy mà nhiều năm nay, cỗ máy cổ quái này lại còn được gia cố để hoạt động mạnh hơn. Vì tình hình hai chục năm qua theo cái “cơ chế thị trường”, nhiều vị chức sắc cũng kiếm ra phết, cả danh lẫn lợi (nói trắng ra là chức tước, đô-la và bằng cấp, thành tích rởm), đến độ nổi tiếng ra cả thế giới chuyện ta bị giặc nội xâm tham nhũng nó đánh, chả kém tiếng tăm ngày xưa ta đánh giặc ngoại xâm; thế nhưng các em người-máy có biết được bác nào là “giặc” thì cũng im thin thít, an toàn quá chứ còn gì. Lại có nhiều người-máy có cương vị vào là muốn được đúc lại, nâng cấp, dán thêm tem nhãn cho oách, dễ được lên làm đốc công, quản đốc… Cả xã hội giờ cứ như một đại công trường đúc người-máy. Các kiểu đúc: Đúc giả, giả vờ đúc, đúc lại, giả vờ đúc lại, giả vờ đã được đúc, đúc “tại chức”, đúc “từ xa”, đúc “thường xuyên”, đúc kiểu nâng cấp, kiểu khẩn cấp, “đẳng cấp quốc tế” nữa (nghe nói đang có phương án), vân vân và vân vân, mà lại vẫn cứ rập khuôn theo cái công nghệ cũ ấy. Cỗ máy đúc giờ phải tăng ca, ngày tới 4-5 ca mà vẫn không hết việc, thế mà các bác lại còn mới đưa ra chỉ tiêu phải đúc nâng cấp thêm mấy chục nghìn nữa mới ghê. Cung không kịp cầu nên tức khắc phát triển cực mạnh cái dịch vụ mua bán tem nhãn chứng nhận rởm là đã được đúc, được nâng cấp (mới thử kiểm tra cái tỉnh gì trên Tây Nguyên mà đã ngót gần hai nghìn vị “dính” rồi). Thử hỏi làm sao mà thay cái cỗ máy này đi được, nhất là ai cũng thấy “đúc” dễ hơn “trồng” rất nhiều, cho cả thợ đúc lẫn người-máy. Chỉ thấy thay hết đời bác quản đốc này lại đến bác quản đốc khác mà điều tiếng thì ngày càng nhiều là tại sao chất lượng người-máy ngày càng tệ. Rồi còn nảy sinh ra đủ kiểu phong phú, như thi thoảng lại có bác quản đốc phân xưởng khác muốn được giả vờ đúc lại, giả vờ nâng cấp để được tại vị hoặc lên chức giám đốc, mà to thế thì phải chiều chứ. Chưa kể mỗi khi các bác có hô hào “từ nay chấm dứt cái trò giả vờ đúc nhé” (tức là phát động “nói không với bệnh thành tích”, “chống gian dối trong thi cử”), cũng không ăn nhằm gì, vì các phân xưởng khác họ cũng “làm giả, ăn thật” đầy dẫy ra cả rồi, mà thu nhập, năng suất của họ lại còn bằng vạn phân xưởng đúc. (Nên nói trắng ra là người nhớn, “bề trên” không làm gương chống gian dối, “bệnh thành tích” trước đi mà lại bảo trẻ con, kẻ nghèo hèn chống thì chống thế nào được). Thành thử công nhân phân xưởng của các bác cũng phải thi đua tăng thu nhập với họ thì mới sống nổi chứ. Vậy là các người-máy nay được đúc ra thậm chí còn tệ hơn với sản phẩm của cái lối “nhanh, nhiều, tốt, rẻ” ngày xưa. Mệt nữa là các phân xưởng khác còn có đủ những quyền hạn khống chế cái xưởng đúc này để mà “vào guồng” cùng với mình. Ví như bên thiết kế (kiểu như tuyên giáo í mà), hay bên tài vụ (giống cái ngành tài chính ấy), quyền hành họ rất to, không nghe theo là họ “siết hầu bao”. Nhưng cũng chả thể đổ tại thiên hạ hết được vì cái công nghệ đúc của các bác nó quá lỗi thời rồi, trẻ con giờ nó lên vi tính, nhoằng một cái là nó biết hết ở bên Tây người ta thế nào, thế mà các bác cứ muốn nó phải nghe, phải tin những lời giáo lý theo kiểu “nói vậy mà không phải vậy” mãi sao được. Các bác cũng nào có chịu tin là bao nhiêu tệ nạn xã hội, giặc nội xâm tham nhũng, trò giả vờ ở cái xã hội này một phần chính là do cái lối đúc người của các bác mà ra. Có điều, thi thoảng cũng thấy thương các bác thật. Ấy là chuyện các công nhân đúc, họ vốn xuất thân cũng người-máy cả, quen cái công nghệ cổ quái này rồi, giờ đổi lại là họ chóng mặt, “chập mạch” ngay. Rồi xoay đủ kiểu để đánh bài cù nhầy. Nhất là giờ họ phải lo nhiều hơn tới cuộc sống, vì của đáng tội, lương ba cọc ba đồng sống sao nổi, nhìn ra ngoài thì đâu đâu cũng kiếm mạnh quá, họ có phát khùng lên, hay không chịu cố mà đổi từ “đúc” sang “trồng” cũng không lạ. Vừa rồi các bác mới hứa đại là mấy năm nữa thì lương họ được nâng lên mức “đủ sống”. Nói hay thế! Thế nào là đủ sống, sống dật dờ, hay sống phây phây? Thế lâu nay chả phải là họ vẫn sống, có thợ đúc nào chết đói đâu? Làm sao họ tin được. Càng rõ là ngay trong bản thân nhiều vị trong số các bác cũng không nhận ra hoặc không chịu nhận là mình có những thói quen cũ khác gì những công nhân đúc dưới mình đâu, thậm chí còn nặng hơn nhiều. Thật nan giải vô cùng!

Vậy thì thấy ngay là muốn thực sự đúc (trồng) được người-thật theo kiểu tiên tiến như bên Tây, phải bắt đầu bằng các bác lãnh đạo nhà máy, rồi tất tật các phân xưởng khác nữa đồng tâm nhất trí mới được. Đằng này các bác chỉ ở tầm quản đốc phân xưởng đúc thôi, đơn thương độc mã mà xoay xở, thì có bị nó nuốt chửng cũng chả oan. Chưa nói tới chuyện (xin lỗi các bác đừng giận) trong số các bác, nhiều vị i-qui cũng hơi bị cao, biết tỏng là chẳng đi đến đâu, nhưng thôi thì tặc lưỡi chấp nhận cống hiến theo kiểu “ngậm miệng…” là khỏe. Nên bao nhiêu năm nay cứ nghe các bác “cải cách” hết đợt này đến đợt khác xoành xoạch, mà toàn theo kiểu “giật mình,” tức là theo lối hình thức, manh mún, vội vã, chứ không có chiến lược lâu dài gì cả. Thành thử cái ngành “đúc người” càng đi vào ngõ cụt thêm, càng nhiều thêm chuyện tồi tệ trong học hành thi cử, từ các quan chức, thầy cô cho tới học trò.

Từ bé cháu đã nghe mãi lời giáo huấn “… vì lợi ích trăm năm trồng người”, nhưng cháu nghĩ quả tình chả thấy các bác trồng trọt gì mấy, thấy toàn là đúc thôi, ra rặt những người-máy, còn người-thật khan quá. Cái lợi ích thì cũng có, nhưng nó nặng về trước mắt vài năm để phục vụ chiến tranh, chứ làm gì được tới trăm năm, cho việc xây dựng đất nước, chưa nói tới chuyện “lợi bất cập hại” thì vô cùng tận, khó mà nói ra được hết.

3. Chữa trị

Giờ thì chắc các bác sẽ mắng “thế mày giỏi thì hiến kế đi xem nào”! Vâng, cháu xin hiến kế, để chia sẻ cái cơn vật vã của các bác với công cuộc “trồng người” này.

Thứ nhất: trước hết nếu đồng ý với những lý sự này của cháu, rằng cái lối đúc người bao năm nay là nguyên nhân đem đến nhiều thói tật tệ hại, ăn vào máu mấy thế hệ, vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, dưới đủ mọi hình thức, mức độ, giờ thay đổi là vô cùng khó, vướng víu nhằng nhịt với cả thiết chế xã hội, thì các bác hẳn đọc tiếp.

Thứ hai: các bác đừng sợ là “trồng người” theo kiểu Tây thì sinh ra những loại người-thật là sẽ “khó bảo”, hay “chống đối”, là mình “mất chế độ”. Nghĩ thế là các bác không tin tưởng vào đường lối đổi mới của “trên” rồi. Còn cứ sợ bóng sợ vía, lại cả nuối tiếc cuộc sống phè phỡn với bọn giặc nội xâm, rồi đâm ra nhùng nhằng, giả vờ cải cách, chẳng kiểu nào ra kiểu nào, dở Tây dở ta chẳng những tốn kém vô cùng, mà còn đúc ra thêm những người-máy quái dị nữa thì càng gay. (Thí dụ chả đâu xa, cái bác quản đốc xưởng đúc vừa về hưu ấy, rất tỉnh, biết tỏng là mình cũng dạng người-máy, nên xin tiền nhà máy để sang Tây cho nó “trồng” lại mình thành người-thật, chả biết để về mà làm gì. Thế là sinh chuyện dở mếu dở cười). Với lại cháu đọc sách mới biết là cách nay cũng gần trăm năm rồi, các cụ tiền bối mà ta tưởng là cổ hủ đã từng khuyên là phải học Tây, Nhật cái cách “trồng người” chứ có phải không đâu. Khi nước mình còn nô lệ, có cụ còn bỏ tiền túi ra đưa khối mầm non sang Nhật cho họ “trồng” hộ, đến lúc vừa độc lập mình còn mời nhiều vị được Tây thực dân nó “trồng” về giúp đất nước giỏi phết. Chưa hết, nhiều vị còn tranh thủ học Tây tại chỗ nữa, nên trội hơn hẳn, mới được tôn lên cầm đầu cách mạng. Thế là một phần nhờ những vị này, được học Tây, Tây học mà nên người-thật, để sau đó ta cướp lại được chế độ lần nữa chứ nào có mất mát (chế độ) gì đâu.

Có điều hình như nhiều bác cũng vẫn đinh ninh, là lối đúc người này của ta lâu nay, chính là học theo “Tây” từ lâu rồi, nên cứ yên trí vậy mà theo. Nhưng các bác hơi bị nhầm. “Tây” mà ta học theo ở đây thực ra là Tây-đông, tức là nước Liên-xô, thành trì XHCN đã sụp đổ mười mấy năm nay rồi. Mà bố này sụp đổ thì ta còn chạy theo học làm gì nữa, có mà học cái bóng ma! Hay là các bác cũng muốn…?

Thứ ba: khi đã “quán triệt” hết rồi (tức là phải cả ban giám đốc nhà máy, nhiều phân xưởng cũng chịu cắn răng mà theo), thì ta phải tìm ra tất tật những biểu hiện của lối đúc người theo kiểu cũ, mà cháu mới đưa ra được có vài ví dụ ở trên thôi. Tìm quyết liệt như truy nã tội phạm ấy. Phải nhấn mạnh là nó nhiều vô cùng vô tận, chọc sâu cắm rễ cực chắc vào toàn bộ đời sống xã hội, các ban ngành đoàn thể, tác động khủng khiếp tới cái công cuộc “trồng người”. Từ những ngôn ngữ cửa miệng (ví dụ ngay như cái từ “quán triệt” cháu quen mồm mà vừa dùng ấy, cũng nên bớt đi), chữ nghĩa trên sách, báo, diễn văn, bài học, khẩu hiệu, giọng điệu nói năng hàng ngày kêu cứ choang choang (như trên vô tuyến cứ ra rả “Mỗi người tốt, mỗi việc tốt là một bông hoa đẹp. Cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”, e là thứ hoa sớm nở tối tàn, nên bỏ dần)… cho đến tác phong, thái độ, hành động cư xử giữa con người với nhau, đâu đâu cũng thấy tràn ngập cái lối đúc người lồ lộ. Tiếp đến là các danh hiệu này nọ thôi thì nhiều vô thiên ủng, các đoàn thể gọi là “quốc doanh” với những bộ máy khổng lồ. Hai thứ này mấy chục năm nay tham gia vào cái công cuộc đúc người vô cùng đắc lực. Tạm gọi các đoàn thể này nó như những phân xưởng đánh bóng, mạ kền cho sản phẩm đúc. Còn những danh hiệu này nọ lại như cái nhãn mác “hàng Việt Nam chất lượng cao”… Tất cả nó đi vào luôn chuyện dạy dỗ, nhìn nhận, đánh giá con người, không theo kiểu “trồng”, mà là “đúc.”

Thứ tư: khi tìm ra hết rồi, giờ mới đến cái thực sự được gọi là “tuyên chiến”. Đó là tuyên chiến với cái bệnh hoạn này trong toàn xã hội, chứ không phải chỉ riêng trong cái ngành đúc người của các bác. Mà tuyên chiến là rất nghiêm trọng rồi (như kiểu chiến tranh giữa hai nước), thì phải lập tức đưa ngay vào hệ thống luật pháp. Phải sửa luật giáo dục, luật báo chí, luật thi đua khen thưởng (nên cho luật này teo dần), luật dân sự (cả luật nhà giáo, luật về hội mà các bác đang tính làm nữa) v.v…, để có biện pháp áp chế từ kỷ luật cho tới phạt tiền, bỏ tù những ai mắc cái căn bệnh đúc người theo lối cũ. Sửa lại, thay thế hết những sách, báo, văn bản rặt những ngôn ngữ kiểu đúc người.

Có luật rồi thì phải có cái bộ máy nó chấp hành luật này. Vậy là cái tòa án để xét xử phải được coi trọng, được độc lập, phát triển mạnh vào, để cho phép học trò nó kiện cả nhà trường nếu vi phạm, chứ đừng coi đó là hỗn. Vì ta cứ hô chế độ ta dân chủ gấp triệu lần chế độ cũ thì phải chứng tỏ ra chứ.

Có hai cái này rồi, giờ nếu bố bộ trưởng nào mà có bằng tiến sĩ theo kiểu “học giả bằng thật”, nhân viên nó kiện ra tòa là mất chức như chơi. Trẻ con nó nhìn vào đó mà hãi, không dám học kiểu lếu láo nữa. Thầy cô mà lại đi hành hạ, đấm đá, cưỡng bức học trò, dạy kiểu “đọc-chép”, “làm bài văn mẫu”, “lớp mẫu”, “giờ dạy mẫu”, không chịu khích lệ tự học, tranh luận là nó cũng kiện ra tòa luôn. Quan tòa nào mà kiếm cớ không xử thì cũng bị… ra tòa luôn. Bố nào mà quen mồm, đọc diễn văn toàn kiểu “thành công rực rỡ”, “phấn khởi thi đua”, “đồng tâm nhất trí” là phạt tiền luôn, thậm chí đưa ngay vào trường để được “trồng” lại theo chương trình mới. Có thể lúc đầu thì các bác chưa quen, dễ bị ăn phạt, phải châm chước tí chút, nhưng rồi dần dần sẽ quen thôi, là ổn.

Nhưng có lẽ các bác lại bảo “phạt lắm thế, mà lương thì ba cọc ba đồng, lấy đâu mà nộp?” Ấy là cái chuyện xã hội hóa giáo dục, y tế. Khởi thủy là do các bác cứ cố, cứ vội mà chứng tỏ chế độ ta ưu việt hơn bọn Tây tư bản, vì sợ không làm nhanh thì lại “mất chế độ”, nên chơi kiểu “nhà nước lo tất”; rồi lại sợ thả ra cho tư nhân thì lại chả phổ cập được cái công nghệ đúc người, lo nó trồng người kiểu tư bản thì mình cũng “mất chế độ”. Khốn nạn là nhà nước giờ đang còn nghèo lấy đâu ra tiền mà “lo tất”. Báo hại vô cùng, “ôm tất” rồi chả còn tiền mà trả lương cho các bác để có ngày nộp phạt. Nhưng giờ bỏ kiểu đúc này rồi, mà chuyển sang trồng người hẳn hoi, thì phải nhanh chóng cho phát triển tư nhân để họ gánh đỡ cho nhà nước chứ gì nữa. Còn sợ “mất chế độ” á? Cứ sợ thế nên mới mất lòng tin, mất nhân tài, tài nguyên… thậm chí mất cả thể diện quốc gia, rồi có ngày mới mất chế độ vào tay bọn giặc nội xâm thật ấy chứ.

Nhưng cũng phải đề phòng khả năng các vị lập pháp lại không đồng lòng sửa những luật này, vì thực tình trong ngót 500 vị, thể nào cũng không thiếu những vị chịu ơn nghĩa cái lối đúc người cũ. Vậy chỉ còn cách nữa là ông chủ tịch nước ra cái sắc lệnh, bao quát hết luôn, chiếu vào đó mà thực hiện thôi.

Song song với luật (sắc lệnh) và tòa là phải có cái bộ máy để tẩy não cho người-máy, tức là tuyên truyền. Mà những bộ máy này cũng phải được quản chặt bằng luật, nếu lơ-tơ-mơ tuyên truyền theo kiểu cũ là cũng phạt. Nhất là phải cho các vị này đi học, tự học, tự đọc tử tế mà thấm nhuần, biết chọn lọc trong những giáo lý Phật, Lão, Khổng đẹp đẽ cao quý từ ngàn đời cả thế giới người ta kính nể, rồi đưa vào cuộc sống, vào nhà trường, chứ cứ để các vị “tự biên tự diễn” chế ra những lời dạy, khẩu hiệu của mình mà bắt người ta tin như là của thánh hiền bao năm nay là nguy hiểm vô cùng.

Còn chuyện nan giải nữa là những thợ đúc, đông đúc như thế mà thay đổi để họ đều biết cách trồng trọt là khó lắm. Phải đưa họ đi trồng lại thôi. Ai lo chuyện này? Đành giật gấu vá vai vậy. Đó là những thợ đúc trông đỡ giống người-máy nhất, nói trắng ra đó mới thực sự là thành phần ưu tú. Thêm nữa là khi đỡ lo “mất chế độ” rồi thì phải mạnh dạn mà thuê thợ trồng trọt bên Tây, nhất là số anh chị em định cư bên ấy thuộc diện gọi là “một bộ phận của dân tộc” về để cùng mở lớp. Ta cứ lặng lẽ mà làm thôi, đừng hô hoán là “đẳng cấp quốc tế” này nọ như lâu nay, chả lại bị phạt. Có tốn kém, thiếu kinh phí thì cứ cắt bớt ngân sách của mấy cái phân xưởng đánh bóng, mạ kền đi cũng tạm ổn, vì số này ngốn tiền là hơi bị kinh.

Thế là “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, tuyên chiến với một thứ giặc giã mới từ nhà trường cho tới xã hội – giặc gian dối, giả dối, háo danh hão, hám thành tích cuội, u mê, đớn hèn… rồi sinh ra tham nhũng.

Nhưng cũng còn nhiều biện pháp lắm, chứ chả phải làm qua quít mà xong đâu, cháu cứ nôm na tạm vậy đã, để phần cho các chuyên gia của các bác lo tiếp.

Cháu xin hết và cũng xin các bác bỏ quá nếu cháu ăn nói có hàm hồ, hỗn xược, vì cháu vẫn còn non nớt như đã thưa ngay từ đầu.

Kính chúc các bác khỏe, luôn tỉnh táo để khỏi bị cái máy đúc nó nuốt chửng mất sự nghiệp.

© 2007 talawas

-

Bài được đăng trên blog Ba Sàm từ năm 2007, nhưng do bị tin tặc đột nhập, xóa mất, nay đăng lại nên không còn các phản hồi ban đầu.

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Giáo dục | 3 phản hồi »

Tự giáo dục

Posted by adminbasam on 19/10/2007

Tự giáo dục


Thế là vụ việc đình đám về cái website của Bộ Giáo dục – Đào tạo bị học trò Minh Trí “nghịch ngợm” (tạm gọi là vụ Hacker Trí*) đã coi như được khép lại sau những tranh cãi kéo dài, cả những thông tin trái chiều. Duy chỉ có một điều khá thú vị mà không cần phải đợi tới khi mãn cuộc mới đánh giá được. Đó chính là sự cần thiết vô cùng phải Tự Giáo Dục (trước hết) cho ngành giáo dục của chúng ta.

Ngôn từ nghe có vẻ lạ. Bởi xưa nay, người ta thường nói tới chuyện “tự học”, đã ai bảo rằng phải “tự giáo dục” ? Ví như chỉ trong hơn một thế kỷ qua, bao nhiêu bậc thức giả của đất nước để lại bao công trình văn hóa, tư tưởng văn minh tiến bộ mà đến hôm nay chúng ta còn chưa học hỏi, truyền thụ, áp dụng được nhiều (từ những Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch…, cho đến Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Phan Ngọc, Nguyễn Hiến Lê…), vậy mà trong số họ, phỏng có được mấy người có những học hàm, học vị giáo sư, tiến sĩ này nọ ? Rõ là chủ yếu bằng con đường tự học mà các vị đã có những kiến thức uyên bác. Nhưng lâu nay ta đã quen khi dùng từ “học” thường hàm ý chỉ kiến thức, còn nói tới giáo dục là nói tới điều to tát hơn, bao gồm cả nhân cách nữa. Tựa như câu “Tiên học lễ, hậu học văn” vậy – tức giáo dục dạy cả “lễ” và “văn”. Đương nhiên, không ai không hiểu rằng các vị tiền bối đó ngoài thuần túy tự học kiến thức, đã phải tự rèn nhân cách đến thế nào mới có thể để lại cho hậu thế từ tri thức uyên thâm tới lòng kính trọng vô cùng.

Vậy thì ta cần học tập ở các vị tinh thần “tự học”, “tự giáo dục” bản thân – tự học kiến thức và tự rèn nhân cách. Mà muốn “tự” được thì không phải chỉ ở trường lớp, mà còn ngoài xã hội, qua sách vở… Không phải chỉ khi còn tuổi cắp sách tới trường, mà phải luôn học khi vào đời, bất kỳ ở địa vị nào trong xã hội, cho tới nhắm mắt xuôi tay.

Và quanh vụ Hacker Trí, cái sự “tự giáo dục” đã trỗi dậy trong lòng người để biết ơn nghĩa, tự nhận lỗi, rộng lượng, trung thực, dẹp bỏ lối đố kỵ, ganh ghét, thù vặt, sĩ diện – giấu dốt, đạo đức giả,… Cụ thể:

1. Với em Trí: Có được sự tự học kiến thức ngoài nhà trường thì em mới có được khả năng “hack” như vậy. Nhưng còn những khiếm khuyết từ ý thức tôn trọng pháp luật, đến bản tính hiếu thắng của tuổi trẻ, hay cả sự thiếu “khôn ngoan” cần thiết của một con người để có được một cuộc sống bình an trong xã hội này… thì Trí còn phải tự học, tự rèn rất nhiều.

2. Với ông Quách Tuấn Ngọc: Cái học là học kẻ “dưới cơ” mình, một tay “mơ” thôi nhưng cũng làm những chuyên gia hàng đầu về công nghệ thông tin của Việt Nam phải một phen rát mặt. Sự rèn là ở phép ứng xử. Từ chỗ vội phản ứng nặng nề, thái quá, ông đã bình tĩnh lại, có lời xin lỗi trên báo chí(2). Quả là đáng quý !

3. Với ông Nguyễn Tử Quảng: trong khi nhiều sự còn chưa rõ ràng, ông đã ném ra một “quả bom”. Đó là việc Trí sử dụng thẻ tín dụng của người khác(3). Nếu ông thực công tâm, hiểu hơn về pháp luật, về cả đạo lý ở đời thì chắc chắn sẽ không vội tung ra thông tin này; chưa nói tới việc đối tượng mà ông vội ám chỉ như kẻ tội đồ (ăn cắp?) cũng như một học trò của ông thôi. Đến như ông thượng tá trưởng phòng Chống tội phạm cộng nghệ cao-C15 Bộ Công an, người nắm rõ và có trách nhiệm nhất trong việc này, mà cũng còn phải rất thận trọng, khi được hỏi mới dè dặt rằng “việc đó chúng tôi đang tiến hành điều tra“(4).

Liên tưởng tới điều mà dân gian hay chê cười, là lối “bới lông tìm vết” và “tung hỏa mù”. Tựa như chuyện B tố cáo A ném đất vào nhà mình, trong khi mọi người đang nghi hoặc thì, để có thêm trọng lượng cho lời tố cáo của mình, B kể thêm “tội” là hình như năm ngoái A ăn trộm gà ở làng bên. Vậy là A rất dễ… ăn đòn đủ. Với cái lối tư duy và hành xử đó, nếu là ở một vị quan tòa thì không biết sẽ có bao nhiêu người phải chịu oan gia?

4. Với ông Nguyễn Thiện Nhân: Những cố gắng xông xáo, đưa ra nhiều thông điệp gắng bắt kịp với nhiệm vụ gian nan, mới mẻ từ khi chấp chính đến giờ của ông, chưa hẳn đều thuộc về cái bản lĩnh cao của một “chính khách”. Thêm vụ Hacker Trí cho hiểu hơn điều này. Tuy chuyện có vẻ như “con trẻ”, nhưng lại cho ông một bài học mới về việc cần phải “tỉnh” của một vị lãnh đạo đầu ngành.

Trong toàn bộ nội dung bức thư của ông, những nhầm lẫn về thời điểm em Trí đột nhập trang web của Bộ, rồi thái độ phê phán nghiêm khắc với Trí mà lại “quên” phê cái tắc trách, chê cái kém cỏi của thuộc cấp của mình, “quên” làm cho rõ thực hư việc em Trí đã cảnh báo bằng nhiều cách với người có trách nhiệm của trang web để mà … cám ơn em, kể cả lời đính chính vụng về của ông sau đó (nhưng lại cũng “quên” làm gương bằng việc xin lỗi em Trí vì mình đã nhầm lẫn nên đã tạo ra một “tình tiết tăng nặng” cho cái “tội” của em (5) thực tình vẫn chưa đáng gọi là bài học lớn lắm so với tầm cỡ lãnh đạo như ông. Mà là ở chỗ: như một vị tướng chỉ huy binh chủng, năng lực bao quát và tầm nhìn cho cả chiến cuộc mới là quan trọng, chứ không phải là nhảy vào những sự vụ, ôm súng xông lên bắn vào lô-cốt địch – những việc của mấy anh binh nhì, cao hơn thì cấp trung, đại đội. Thậm chí trong “chiến dịch” này, dường như nhiệm vụ “đánh địch” chủ yếu lại không phải thuộc về “binh chủng” của ông, cùng lắm là “hiệp đồng tác chiến” thôi – nó thuộc về công ty VDC, ngành Bưu chính Viễn thông, Tòa Dân sự (nếu như thuộc cấp của ông – chứ không phải đến ông – chọn giải pháp khởi kiện).

5. Với cơ quan tố tụng: Đã rõ là sai phạm của Trí theo luật pháp hiện hành chưa đến mức xử lý hìnhsự, mà chỉ ở mức hành chính-dân sự. Đành rằng trong hệ thống pháp luật của chúng ta vẫn còn nhiều khiếm khuyết, nhưng không thể vì vậy mà có thể vi phạm những thủ tục tố tụng, và quan trọng hơn là phạm vào những quyền tự do cá nhân, dù đó là một “đứa trẻ”. Việc gọi hỏi, hay niêm phong và kiểm tra máy tính của Trí là liên quan đến điều đó, nhất là sự vụ lại được thực hiện bởi cơ quan CSĐT. Có lẽ sự việc mang màu sắc nghiêm trọng bởi đã động đến một cơ quan lớn, mà kẻ dám “hỗn” lại quá ư “thấp cổ bé họng” nên đã làm nhiều người quên đi những nguyên tắc tố tụng này, hoặc muốn bỏ qua để cho nhanh được việc.

6. Với báo chí: Những phản ứng quá sớm ở vài tờ báo khi nhiều tình tiết vẫn chưa được làm rõ chưaphải là điều đáng nói. Có hai thái cực, một “bênh” em Trí, một “bênh” những người quản trị trang web. Có những báo đã đăng tải rất nhiều ý kiến phản hồi của độc giả trong nhiều kỳ; dù cái sự “quá tốn nhiều giấy mực” cho một vụ việc không lớn, trong khi còn bao tiêu cực ghê gớm cần giành diễn đàn lên án (như vụ Bệnh viện Chợ Rẫy, hay ngay trong giới chức từ ngành Giáo dục cho tới chínhquyền tỉnh Bạc Liêu, trường Cao đẳng VHNT Đăk Lăk chẳng hạn), thì vẫn chưa phải là đáng bàn bằng việc báo đó chỉ đăng ý kiến một chiều mà thôi. Và vậy là cái tính khách quan tối quan trọng của báo chí đã bị đánh mất, đi liền đằng sau là một dấu hỏi của dư luận!

7. Với địa phương, nhà trường, Cty VDC: Một hình ảnh chung là bình tĩnh, thận trọng và có chừng mực (6).Tuy nhiên, việc nhà trường kỷ luật em Trí (ngoài việc xử phạt hành chính của cơ quan có trách nhiệm) cũng cần được xem lại về quyền hạn qua Nội quy nhà trường và Luật Giáo dục 2005, cácNghị định 75, 139 đi kèm. Bởi vì em Trí thực hiện việc xâm nhập trang web này ở ngoài giờ học, ngoài cổng trường. Nên cái sự “tự giáo dục” nó đã có ý nghĩa ngay ở chỗ: hành xử công minh, đúng mực (đặc biệt là với lớp trẻ, người yếu thế) cho ta kinh nghiệm về sau, với những việc tương tự; cả cho người khác nhìn vào đó mà tự giáo dục mình.

Thế mới biết sự tự học, tự giáo dục ở nước ta nó quan trọng đến thế nào, kể cả khi những mục tiêu hoành tráng như đến năm 2015 sẽ có thêm những 20 nghìn tiến sĩ có phải là thực chất (hay chỉ góp phần làm trầm trọng thêm hai cái “bệnh” mà ngành Giáo dục đang phát động tuyên chiến, là “thành tích” và “gian dối trong thi cử”?). Nhất là trong khi cả xã hội lại đã quá quen tới hơn nửa thế kỷ rồi lĩnh hậu quả khôn lường từ lối học thụ động (bị giáo dục), lười suy nghĩ, sợ ý kiến trái chiều, ham chạy theo bằng cấp, thành tích, hư danh…; lại thêm nặng về trí dục mà đức dục thì sao lãng hoặc “rèn” theo lối áp đặt, “hô khẩu hiệu”, dễ khuyến khích những kẻ đạo đức giả, “ăn theo nói leo”, “đặt đâu ngồi đó”.

(1) Em Trí, học sinh lớp 12 trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vĩnh Long, phát hiện lỗi bảo mật trên website của Bộ GD-ĐT, đã để lại file cảnh báo, liên hệ với VDC(Cty đồng quản trị website này) từ tháng 7-2006. Thấy không có phản ứng sửa lỗi, ngày 27-11-2006 Trí đã can thiệp vào website, thay ảnh bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân bằng ảnh của mình.(2) Ông Ngọc (giám đốc Trung tâm CNTT-Bộ GD-ĐT) dùng những từ ngữ nặng nề như “tội phạm”, “bố con chúng nó”, “nó” để nói về em Trí. Sau đó ông đã có thư xin lỗi trên mạng Edunet.(3) Trong một bài báo dài ngót một trang báo, ông Quảng (giám đốc Trung tâm An ninh mạng BKIS) đã đưa ra nhiều “dấu hiệu” về Trí, như “… không chỉ tấn công các website như chúng ta biết mà còn có dấu hiệu sử dụng nhiều thẻ tín dụng mang tên người nước ngoài để mua bán trên mạng với số tiền lên tới hàng nghìn USD…”(4)Khi được hỏi việc ông Quảng đưa thông tin Trí có dấu hiệu sử dụng nhiều thẻ tín dụng mang tên người nước ngoài, thượng tá Trần Văn Hòa: “Khi chưa có kết luận cuối cùng, chúng tôi không thể trả lời ngay được”.(5) Trong bức thư “Nỗi đau của tôi trong ngày 20-11-2006″, ông Nhân nói rằng em Trí đã phá website vào đúng ngày Nhà giáo 20-11 (“Khoảng 12 giờ trưa ngày 20-11, tôi được tin website của Bộ đã bị tấn công”). Sau đó, ông đính chính là “vào dịp 20-11″(?). Như vậy thì cái thư của ông sẽ phải có nhanđề là “Nỗi đau của tôi saungày 20-11″ và nội dung phải được sửa lại… rất nhiều!!!(6) Giám đốc Sở Bưu chính-viễn thông Vĩnh Long “chúng tôi sẽ (…) xử lý trên tinh thần vừa răn đe vừa tạo điều kiện phát triển cho một tài năng tin học tương lai”. Phó giám đốc Sở GD-ĐT Vĩnh Long: “… Trí là một học sinh ngoan hiền, có năng khiếu đặc biệt về tin học (…) đã kiên trì cảnh báo các đơn vị quản trị mạng. Đó là đức tính đáng quý…”. Trưởng phòng phát triển dịch vụ của VDC: “… Dưới góc độ công việc, chúng tôi phải cảm ơn Trí…”.

Nguyễn Hữu Vinh

(Tạp chí Nhà Quản lý – số 46)

Bài được đăng từ năm 2007, nhưng do blog bị tin tặc phá xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu.

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Giáo dục | Tagged: | 4 phản hồi »

Đạo đức cởi truồng

Posted by adminbasam on 17/10/2007

Đạo đức cởi truồng *

Con: bố ơi, hồi con bé bố mẹ không cho con mặc quần à, lại còn chụp ảnh con cởi truồng nữa ?

Bố: ừ …

Con: sao thế ạ ?

Bố (cau mày): cái thằng hỏi buồn cười. Trẻ con mà …

Con: thế sao cứ lớn lên thì mới phải mặc quần ạ ?

Bố (cười, lúng túng): à, là vì không mặc thì ngượng lắm. Nhớn mà cởi truồng ra đường thì … nhất là bạn bè người quen bắt gặp cười cho, xấu hổ có mà chui xuống đất cũng không hết.

Con: thế trẻ con thì không biết xấu hổ hả bố ?

Bố: cũng gần đúng thế, càng lớn càng khôn ra là càng biết xấu hổ.

Con: thế ngộ nhỡ ai không biết xấu hổ mà cứ cởi truồng thì sao ạ ?… Mà người ta đeo mặt nạ vào, như mặt nạ Trung thu bố mua cho con ấy, thì ai biết họ là ai ?

Bố (cười lớn): ái, chà chà … thằng này hỏi quái phết … Thế này nhá … Trong cuộc sống ấy con ạ, ngoài cái xấu hổ, sĩ diện, tự trọng, nặng nữa gọi là nhục, thì còn có luật pháp nó bắt buộc mình phải làm gì, không được làm gì nữa. Chứ không phải là cứ tự ý mình thấy hay thì làm, không hay thì thôi đâu. Học lên nữa con sẽ biết. Nên cu cậu giờ nhớn rồi, mà không biết xấu hổ, cứ tồng ngồng ra đường là bị … “luật pháp” phạt tiền đấy, mà không có tiền nộp phạt là chú công an sẽ tóm cái này của cậu, nhốt lại là hết cả … tè.

Con: thế thì cái “luật pháp” với cái “xấu hổ” thì cái nào to hơn hả bố ?

Bố (trố mắt): khiếp cái thằng, định làm triết gia hay sao đây ! … Chuyện này hơi khó … đại để là mỗi cái đều có cái hay của nó, đều cần thiết. Nếu ai cũng biết xấu hổ mà tránh đừng làm thì chả phải cần đến luật pháp. Nên từ xưa hàng nghìn năm tới giờ mới có cả những học thuyết, rồi cả tôn giáo nữa, khuyên răn đạo đức, dạy phép tắc, lễ nghi, ứng xử … thế nào là hay, là dở cho con người ta kỹ lưỡng kinh khủng. Chỉ bất đắc dĩ ai không biết thế nào là xấu hổ, là sai thì mới phải đưa luật ra. Thành thử cả hai đều quan trọng, cái thì có tính chất dạy dỗ, khuyên bảo, cái thì kiểu đe nẹt, trừng phạt.

Con: thế sao con thấy trên vô tuyến dạo này người lớn toàn cãi nhau là ông này làm thế này là đúng luật, ông kia là sai luật, cả nhiều ông bị đi tù nữa. Nhưng chả thấy nói là ông này xấu hổ, ông kia không biết nhục, rồi có đáng … “chui xuống đất” hay không. Họ không có học thuyết, tôn giáo hả bố ? Họ làm sai nhưng chưa nặng bằng cởi truồng nên chưa xấu hổ à ? Mà bố còn bảo càng lớn càng biết xấu hổ cơ mà ?

Bố: …

Con: bố còn bảo càng khôn thì càng biết xấu hổ nữa …

Bố: à, bố nói thế là nói chung thôi. Chứ bây giờ nhiều người càng khôn thì lại càng không biết xấu hổ ấy chứ lị …

Con: sao người lớn rắc rối thế hả bố ? Mà như thế thì làm sao người lớn dạy cho trẻ con được ạ ?

Bố (thở dài): ừ … gay thế đấy …

Con: thế những ông “không biết xấu hổ” thì họ dạy con họ thế nào ạ ?

Bố: à … Sẽ có hai loại. Một loại thì họ dạy con họ là … là … “chúng mày mà nghe lời tao, làm theo tao là nhục lắm đấy nhá !” Còn loại thứ hai thì họ dạy con họ cứ làm … y như họ.

Con: thế thì loại nào là khôn hả bố ?

Bố: ngu hết !

Con (tròn mắt): ???

Bố: khôn á, thì chỉ có mỗi cách là …. “ngậm miệng … “

Con: là không dạy gì cả ?

Bố:

Con: … à, là “chui xuống đất” luôn !

Ba Sàm

*(Tạp chí Thế giới Văn hóa – số 50-2006: Đạo đức có tuổi tác)

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Giáo dục | Leave a Comment »

Hỏi ý con Kiến con

Posted by adminbasam on 06/10/2007

Hỏi ý con Kiến con


Con: bố ơi, bố nhìn này … con sâu to thế mà bọn kiến nó khiêng được, nom cứ như thể là nó đưa đám ấy bố nhỉ …

Bố: ối giời ơi … Biết cái quái gì mà đưa đám … Mà đưa tao cái điếu cày đã nào, cả tăm nữa … Nó đem về nhà nó chén đấy …

Mẹ: này mình ơi, ra em bàn cái vụ “nghỉ hè, nghỉ Tết” cái xem nào. Chứ người ta hỏi ý kiến phụ huynh, vô tuyến đài cứ là loạn cả lên chả biết thế nào cả.

Bố: ối giời ơi … lại cũng “kiến” với chả “voi”. Mấy chục năm nay vưỡn thế, giờ các bố muốn làm gì cứ làm, giỏi thì cứ thử đi. Sai thì lại sửa …

Mẹ: nhưng mà nó là cái chuyện thiết thân, giảm nghỉ hè cho chúng nó thì mình đỡ lo cái đận học hè, chơi bời lêu lổng, “chữ thầy giả thầy”, chán bi đáo rồi lại ra sông ra hồ vầy nước thì không khéo … Với lại Tết mình lại có thêm thì gian cho chúng nó lên thị xã chơi nữa chứ …

Con: a, hoan hô ! Tết này được nghỉ thêm hả mẹ ?

Bố: yên nào, nhóc con hóng chuyện người nhớn …

Con: con tưởng là bàn chuyện chúng con được nghỉ Tết thêm chứ ạ ?

Mẹ: đúng rồi … Việc của chúng mày đấy … là giảm … là nghỉ hè in ít thôi, tăng cái nghỉ Tết, nghỉ lễ lên cho nó “giảm tải” học hành … Ừ mà lạ nhỉ, sao nhà trường với lại ở “trên” người ta không hỏi ý kiến chúng nó nhỉ …

Con: hỏi ý kiến con thì con cứ là giơ cả hai tay …

Bố: này, mẹ con mày ở trên giời xuống đấy hở, mà háu bở thế ? Gớm … ý-kiến-con … có mà ý-con-kiến thì có ! Các “ông Nhà nước”, các ông í như voi như hổ, còn mình chỉ phận “con sâu cái kiến” thôi nhá. Các bố quyết gì, bảo gì thì chúng con phải theo thôi … Cái ngữ suốt ngày vục mặt xuống bùn với phân gio mà cày bừa đồng áng thì biết đằng mò nào mà …

Con: thế còn trẻ con … ?

Bố: chúng tao là “kiến” … thì chúng mày chỉ là phận … con của con kiến chứ còn gì … là con ấu trùng í. Ai điên mà đi hỏi cái lũ ấu trùng. Hiểu chửa ?

Con: à … có khi bố nói đúng thật đấy. Cô giáo con cô í dạy những câu như là “người đông như kiến cỏ” này, … rồi phải chịu khó “kiến tha lâu đầy tổ” … , “con kiến mà kiện củ khoai” … “con kiến mà leo cành đa” … là nói người dân đấy bố ạ.

Bố: thì chả là dân đen này chứ còn thằng nào vào đấy nữa … Là “dân đen” tức là nó nghèo khổ bửn thỉu, đen nhẻm như cái lũ kiến đen kia kìa …

Con: thế nhưng cô giáo lại bảo là đừng tưởng con kiến bé nhỏ là yếu ớt, ngu ngốc đâu. Cô kể cái chuyện “Voi-Kiến”buồn cười lắm cơ … Là lũ Kiến sợ Voi lắm, nhưng chúng nó biết đoàn kết, lại khôn đáo để. Nên một hôm chúng nó chui được vào tai con Voi …

Bố: … rồi nó đốt chứ gì ?

Con: không đâu ạ. Nó không đốt … Nhưng Voi thì tức lắm, chỉ chờ chúng nó ra là trị tội dám láo …

Bố: đúng quá !

Con: thế mà bọn Kiến nó còn đẻ ra đấy nhung nhúc những lũ Kiến con nhá ….

Mẹ: rõ khiếp !

Con: vâng … nó làm tổ luôn trong í, ngày ngày ra ra vào vào kiếm ăn tha mồi về mà Voi lại chả dám làm gì …

Bố: sao thế ?

Con: … vì duyên do là lũ Kiến con í, chúng nó suốt ngày nô đùa, nhảy nhót, tranh ăn … lại còn tẩn nhau khóc lóc loạn cả lên. Thế là anh Voi đinh tai nhức óc, điên đầu nhưng chả làm được gì, lại còn sợ nữa chứ …

Mẹ: ừ nhỉ ?

Con: … từ đấy giở đi Voi ta rõ là hiền lành ngoan ngoãn, nhũn như con … giun. Đi đâu, làm gì cũng phải rón rén se sẽ thôi, cũng phải hỏi-ý-kiến lũ Kiến con, chỉ lo chúng nó mà tức lên … nó lại la hét …

Bố: ối giời … Lại còn mai kia chúng nó nhớn lên, không biết điều là nó còn … đốt cho, thì có mà …

Con: đúng đấy ạ !!!

Ba Sàm

(Tạp chí Thế giới Văn hóa – số 10-2007)

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Giáo dục, Tiểu phẩm Tếu | 1 Comment »

Giả Dối là cha Gian Dối

Posted by adminbasam on 02/10/2007

Giả Dối là cha Gian Dối

- Út Măng ơi, ăn mừng đi, quả này thắng lớn rồi …

- Oáo, sếp Phó Bí tôi hồi này còn chơi lô-tô Kiến thiết Thủ đô nữa hay sao đây ?

- … Cậu biết không, các thầy vừa thông báo quyết định đặc cách cho tớ …

- Thành “Ông Trạng” luôn khỏi học ?

- Không, có mà điên ….

- Được làm … thầy luôn ?

- Cậu cứ lăng nhăng. Tức là giờ tớ chả phải thi thố, “vượt rào” vượt cạn môn nào hết. Một phát luận án tốt nghiệp là xong !

- Dóc tổ … à, xin lỗi … là sếp nói chơi hay thiệt dzậy ?

- Tớ có nói dối … mà làm gì … Nhưng mà có điều làm tớ hơi băn khoăn …

- Băn khoăn là không “quay” mà phải chuyển qua “cọp” luận án chớ gì ?

- Không phải, mà là cái tên của nó cơ, là “CHỐNG-GIAN-DỐI-TRONG-THI-CỬ”.

- ???

- Làm sao mà mắt trợn ngược thế ? Cậu cho là khó quá à ? Không biết là tớ đang bán tín bán nghi đây này, là có phải các bố muốn “chơi” mình, thấy mình “dính” mấy quả thi mấy môn trước nên giờ …

- Sếp lại đa nghi rồi. Theo thằng em thì đây là chiến thuật gọi là”dĩ độc trị độc” và “nhất cử lưỡng tiện” cực hay. Tức là các thầy biết sếp quá siêu cái dzụ … “ảo thuật” trong thi cử, giờ vừa khó đối phó với sếp, lại vừa muốn “tìm kiếm tài năng”… trẻ để chống gian dối …, nên mới quyết dzậy.

- Cậu nói nghe có lý … Thôi, giờ mình bàn thẳng luôn vào nội dung nhá. Là theo cậu, sẽ viết gì đây, chẳng nhẽ mình lại … không giữ “bản quyền” các “chiêu” của mình à ?

- … Đúng là khó … À, mà được rồi … em có cách cực hay, đi vào bản chất vấn đề mà lại không lộ “chiêu” …

- Được lắm, nói đi !

- Giờ bắt đầu, mình phải xác định xem căn nguyên làm sao mà sinh ra cái dzụ gian dối này. Nên em hỏi sếp nghen. Sếp có thích đi học không ?

- Có mà điên, vì sự nghiệp … là phải thăng tiến thì đi chứ. Tần này tuổi rồi, lại chả có năng khiếu khỉ gió gì …

“Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường,

Ham rong chơi qua mỗi lần trốn học” …

- Đó … vấn đề là ở đó đó … Dzậy nếu sếp không đi học thì sao ?

- Cậu hỏi ngớ ngẩn quá. Thứ nhất là cái bằng này là bắt buộc này, nếu không có nó là … nghỉ khỏe. Thứ hai, cái học vị kia mà không có, thì … mình như cái thằng “vô học”, chúng nó có cả. Lúc đưa lên “bàn cân”, người ta cân nhắc … là mình thua. Ai mà đánh giá rõ được năng lực, tư cách … với lại nói chung cái khoản này, nếu xét kỹ thì mình cũng … hơi bị gay.

- Dzậy là xong, đó là một phần của cái Luận án này, nó được đổi tên là “DIỆT-GIẢ-DỐI-ĐỂ-CHỐNG-GIAN-DỐI” …

- Nghe lạ quá. Giả dối cái gì ?

- Tức là cái chuyện sếp đi học chớ cái gì nữa, đâu phải do nhu cầu nâng cao kiến thức, rồi chuyện đánh giá cán bộ qua bằng cấp, cũng dễ bị “dỏm” theo cái bằng của sếp luôn. Giờ tiếp nghen. Thế em hỏi sếp là nếu sếp, sếp A, sếp B … nhiều sếp bự đi học, mà thi đều bị rớt thì có ảnh hưởng gì không ?

- Ảnh hưởng quá đi chứ. Nhà trường sẽ bị đánh giá chất lượng dạy này, rồi … người ta cười cho … toàn thằng tai to mặt nhớn mà … dốt, lười.

- Quá chuẫn đi. Nghĩa là các thầy cũng sẽ phải tìm cách dạy, thi cử kiểu du di cho các cha đậu “chăm phần chăm” là thầy trò cùng dzui cả. Dzậy là được ba mục trong luận án rồi. Tiếp … Còn sắp nhỏ ở nhà, tụi nó có thắc mắc chuyện sếp đi học không ?

- … À, chúng nó cứ trêu tớ. Thằng nhớn nó còn bảo “bố cứ yên tâm đi, khi nào thi, con chỉ cần đeo râu mang kính vào, con vào con thi hộ bố là … ngon hết”. Bọn trẻ giờ khôn đáo để, gì cũng biết hết !

- Đó, chúng nó “khôn” là tại sếp, tại người lớn hết … Tức là nội cái dzụ “giả đi học” của sếp cũng thành như “vẽ đường hươu chạy” cho tụi trẻ, nó sẽ coi gian dối trong thi cử là … chân-lý-sáng-ngời. Rồi nó cũng phải “phấn đấu” học … “quay” sao cho giỏi, cho hơn cha thì sau này nhà mới có phước chớ. Sơ sơ vài mục dzậy là cũng thấy được tình trạng giả dối tràn lan trong xã hội nó là căn nguyên của chuyện gian dối thi cử, học hành … Tức là mấy thằng Giả Dối nó là cha cái tụi Gian Dối đó. Mình muốn chống Gian Dối, thì trước tiên, mình phải phăn cho ra hết mấy thằng cha … mắc dịch của nó đã. Diệt được thằng cha rồi thì làm sao có được thằng con. Khỏi chống với đỡ gì luôn, khỏe re à !…

- Ấy, hượm đã. Thế còn mẹ nó, mẹ mấy thằng Gian Dối ấy ? Mình mà diệt mẹ nó đi thì có phải tốt hơn không ?

- Á, ý hay tuyệt ! Chứng tỏ là sếp cũng … đâu đến nỗi. Đây chính là phần hai của luận văn. Nhưng hơi bị kẹt đây …

- Kẹt gì ?

- Kẹt vì mẹ tụi nó … là … chính là sếp đó, chớ còn ai …

- Cái gì ???

- … Tức là mấy thằng Giả Dối ấy, nó … “tằng tịu” với sếp, sếp cũng “thương” lại nó luôn, rồi sếp mới mang “bầu”, mới “đẻ” ra mấy thằng Gian Dối … Ghê chưa ?

- Trời ơi ! Nghe khủng khiếp quá ! Thế chả nhẽ …

- … “chả nhẽ” sếp tự diệt sếp chớ gì ? Rồi sếp cũng tội nghiệp cho “người tình” của sếp nữa phải hông ? Dzụ này thì em chịu … xin để sếp quán triệt cái “phê, tự phê” coi …

- Hượm đã ! Út Măng, hượm đã … Thế … thế còn ông nội nó, cụ cố nội nó, cả lò nhà nó … của mấy thằng Gian Dối í … còn sống cả không ?

- Trời ơi Trờ … ời … ! … Bộ sếp muốn “tiêu” luôn hay sao mà hỏi dzậy ??

Ba Sàm

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Giáo dục, Tiểu phẩm Tếu | Leave a Comment »

Tự lập,độc lập suy nghĩ

Posted by adminbasam on 27/09/2007

Tự lập, độc lập suy nghĩ…

TT – Đọc trên Tuổi Trẻ bài giới thiệu cuốn phim của Nhật sẽ chiếu trên VTV, toàn những cảnh quay “lén” hoạt động tự nhiên hằng ngày của lũ trẻ: tự lập làm việc, độc lập suy nghĩ… Chưa xem mà đã thấy ham. Người ta cũng “máu đỏ da vàng” như mình, chứ đâu có kiểu tự do như Tây! Vậy mà… Chợt nghĩ đến “chiến lược phát triển con người” của chúng ta, không thể không có những điều cần suy ngẫm:

Ngay từ bé thơ, trẻ đã được “ngấm” câu hát buổi đầu vào nhà trẻ – mẫu giáo: “…cô yêu cháu vì cháu không khóc nhè…”, hay “thứ hai… bé hứa cố gắng chăm ngoan, thứ ba… càng ngày cháu càng cố gắng, …thứ bảy cô cho cháu phiếu bé ngoan,… cả nhà đều vui vì bé ngoan suốt tuần”.

Những câu hát đó minh họa thật chính xác cho phương pháp dạy dỗ từ mẫu giáo cho đến hết phổ thông: không khóc, ngồi im, muốn nói phải giơ tay đúng kiểu chờ cô cho phép, khoanh tay lắng nghe không được tranh luận với cô, hạn chế cười đùa, luôn được theo dõi bằng hệ thống điểm, phiếu, cán bộ cờ đỏ… (vậy nên những vụ bắt trò liếm ghế, đánh đòn hạ nhục lẫn nhau mà ta đã được biết gần đây không phải lạ).

Trẻ thơ hồn nhiên và ngây thơ, khóc – cười, nghịch ngợm nuôi dưỡng tâm hồn trong sáng, vui – buồn – yêu – ghét rõ ràng nơi chúng, thậm chí đánh nhau đôi khi là thể hiện một nhân cách đáng nể. Thay vì quá khuôn mẫu trong mọi hoạt động hằng ngày, hãy cho chúng nhiều hơn những không khí vui tươi tự nhiên, tính trung thực thẳng thắn.

Trong giáo dục từ lâu dường như đang có một xu hướng: cố giữ cho trường lớp một cái vẻ ngoài tĩnh lặng, nghiêm túc, mà ngầm chấp nhận tình trạng quay cóp, nâng điểm, làm bài theo mẫu, “đóng kịch” với đoàn tham quan dự giờ…; nặng hơn là một lối sống ù lì, thụ động, giả tạo nơi học sinh, hay ngược lại là hiện tượng “bùng nổ” khi ra khỏi cổng trường bằng đua xe, phạm tội. Tất cả là vì thành tích và sự dễ dàng hơn cho việc dạy dỗ của thầy cô. Tựa như đại dương, lặng sóng phía trên nhưng bên dưới có thể là những đợt sóng ngầm nguy hiểm.

Hãy nhìn những hiện tượng tha hóa hằng ngày ngoài xã hội, nơi cán bộ có chức quyền, hoàn toàn có cội rễ bởi cách giáo dục con người từ thời tấm bé. Nếu cứ khuyến khích những kẻ đạo đức giả, luôn tỏ ra “ngoan ngoãn”, “gọi dạ bảo vâng”, đe nẹt những người có chính kiến riêng, nhiều tài năng nhưng thiếu khả năng “đặt đâu ngồi đó”, chúng ta sẽ bị mất nhân tài ghê gớm, làm méo mó nhân cách con người ngay từ nhỏ, tạo môi trường thuận lợi cho những kẻ xu thời, cơ hội phát triển.

Nguyễn Hữu Vinh

(Báo Tuổi trẻ – Ngày 12-7-2004)

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Giáo dục | Leave a Comment »

“Phao” tuyệt mật

Posted by adminbasam on 14/09/2007

“Phao” tuyệt mật

Bữa nay Út Măng lái xe đưa anh Phó Bí đi thi để thăng “Ông Trạng”. Hắn lo dữ mà sao ảnh cười nói rổn rảng, lại còn góp ý cho hắn là cần nâng cấp con Cờ-Rao để làm sao có hệ thống ka-ra-ô-kê trong xe. Ảnh bảo là mới “cọp” được cái ý tưởng này trên mục “Mỗi ngày một ý tưởng” của vê-tê-vê. Rồi ảnh ngân nga “chưa có bao giờ đẹp như hôm nay … la lá la là … là là la la …” mà hổng có nhạc đệm thành thử nghe ẹ quá.

… Không lo sao được khi cũng ngày này năm ngoái, anh Phó Bí bị hỏng thi vì dính cái dzụ “đổi đen thay trắng” từ mớ giấy nháp … Mà thôi, hắn không dám nghĩ tới nữa, vì đó là chuyện “tuyệt mật”.

… Kia rồi ! Anh Phó bước ra khỏi phòng thi. Mà sao sớm dzậy ta, hay lại như năm ngoái ? Nhưng không phải, dáng ảnh hiên ngang, miệng hát “chưa có bao giờ …”

- Sao rồi sếp ?

- Tuyệt vời !

- Sếp xài chiêu gì mà độc dzậy ?

- Xuỵt, tuyệt mật ! … (Anh Phó Bí cười sảng khoái) … Mà đúng là tuyệt mật thật. Nhưng thôi thì chuyện cũng xong rồi, tớ kể cho mà nghe để mà học hỏi nhá … Đọc đề chưa xong mà tớ đã lấy “phao” ra … “quay” luôn …

- Trời, bạo liệt dzậy …

- Trật tự nào ! … Được một lát thì giám thị tới. Tớ “vô tư” đặt ngay tờ công văn lên trên …

Út Măng há hốc mồm miệng muốn hỏi.

- … Hượm đã. Tay giám thị tưởng quả này “ăn gỏi” ngay mình như năm ngoái rồi, ai ngờ vừa thấy chữ “tuyệt mật” ngay trên công văn, lại có cả tên nơi gửi to như mả thằng ăn mày nữa, nó mới hãi chứ … Thế là phải “lảng chân giò” ngay.

- Trờ … ời …

- … Nộp bài xong, tớ hùng dũng bước ra, cả tốp giám thị, thanh tra đứng như “chào cờ” hết.

- Dzậy là sếp bọc “phao” bằng cái công văn tuyệt mật mới nhận chiều qua ?

- Chứ sao nữa … đây này … Ối ! Thôi chết … nó đâu rồi nhỉ ? … Hay là mình nộp béng nó cùng mớ giấy nháp rồi ? … Làm sao giờ … ối … giời … ơi là … giờ … ời … ời …

- Trời … cũng … “bó tay” !!!

Ba Sàm

-

(Tạp chí Tia sáng – số 16/2006)

(Tạp chí Thế giới Văn hóa – số 1/2007)

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Chính trị, Giáo dục, Tiểu phẩm Tếu | 1 Comment »

Từ chuyện buồn học sinh không thích môn Sử

Posted by adminbasam on 11/09/2007

Từ chuyện buồn học sinh

không thích môn Sử

 

Nguyễn Hữu Vinh

Ðó là điều mà công luận đã lên tiếng báo động cách đây ngót một năm trước con số 60% bài thi sử Ðại học – Cao đẳng 2005 dưới điểm 1. Nhưng rồi thời gian cứ bình thản trôi qua như cái bình thản của những người có trách nhiệm với nền sử học và sự nghiệp chấn hưng giáo dục nước nhà, để tới năm nay, một điệp khúc tương tự lại diễn ra. Trong bài báo này, chỉ xin đề cập chút ít về tư liệu sử hiện đại Việt Nam để lẩy ra vài lý do vì sao không phải chỉ học sinh, mà cả người lớn cũng không mấy quan tâm đến lịch sử nữa. Biết đâu trong đó có bóng dáng cái nguyên nhân của mọi nguyên nhân, từ đó mới hình dung xem tình trạng này liệu có cứu vãn được hay không.

1. Trước hết điểm qua vài sách sử

Bộ Ðại cương lịch sử Việt Nam – tập III: 1945-2000 [1] được soạn nhắm nhiều đến các nhà giáo-nhà sử học tương lai, người sẽ trực tiếp truyền vào tim thế hệ đi sau niềm hứng khởi với môn sử. Dù được dành một phần đáng kể (55 năm – nhưng chiếm già 1 phần 3 pho quốc sử 4000 năm. Quả là bất bình thường!), viết về hiện thời, với phương tiện thông tin, lưu trữ hiện đại, nguồn sử liệu vô cùng phong phú (trong, ngoài nước), thế mà đọc hết lại thấy một cảm giác rất lạ, như sau bữa ăn thời “bao cấp”, hiếm thịt cá, chỉ toàn rau mì, bụng căng mà mắt vẫn hoa, rõ là bị thiếu những chất đang rất cần cho cơ thể, mà quá thừa những gì không cần nữa, hay khó tiêu hoá nổi. Ðó là:

* Cuốn sách như để giảng dạy, ca ngợi về học thuyết chiến tranh cách mạng hơn là một thứ thông sử. Sử liệu thì ít, chủ yếu về chiến tranh, lại quá nhiều lời bình luận, đánh giá kiểu đại ngôn mang tính “định hướng tư tưởng” của những thập niên 50-60 thế kỷ trước.

* Tuy thiên về chiến tranh nhưng toàn thấy “ta thắng, địch thua”, làm giảm tính chất ác liệt của cuộc chiến, sự hy sinh, tổn thương ghê gớm của dân tộc.

* Tư liệu hầu hết là về cách mạng, miền Bắc, quá ít về xã hội thuộc Pháp, Mỹ – chính quyền Sài Gòn (chỉ chưa tới 10 trong 340 trang sách).

* Về kinh tế, xã hội ở miền Bắc, cả nước sau 1975 cũng toàn “thành công”, “đúng đắn”, còn tổn thất, sai lầm chỉ sơ qua vài trang (kể cả những sai lầm đã được công khai thừa nhận); đầy những trích dẫn (hoặc giọng văn) của các báo cáo tổng kết thành tích, Văn kiện Ðại hội.

* Ðáng lo nữa là với một cuốn chính sử mà lại toát lên một cách nhìn quá thấp về lớp trẻ hiện nay.

Ðọc thêm bộ Việt Nam những sự kiện lịch sử, cuốn 4: 1945-1975 [2] và cả bộ Những sự kiện lịch sử Việt Nam [3] . Tuy không dàn trải những bình luận, ngợi ca ngoài sử liệu (vì thuộc loại sử biên niên), nhưng hai bộ này đều mắc những “bệnh” hệt như bộ Ðại cương lịch sử Việt Nam. Hãy thử nghe các tác giả giãi bày: “…có hai dòng trái ngược: dòng lịch sử chính thống, cách mạng… và dòng lịch sử đối lập, phản bội…” Lý do của sự thiên lệch quá mức về sử liệu là “vì khuôn khổ có hạn của cuốn sách”(?) nên cái dòng gọi là “đối lập, phản bội” kia chỉ được đề cập “trong chừng mực có thể” (nghĩa là khoảng 5-7 trong 600 trang). Không hổ thẹn sao, với khoa học, với lịch sử mà có thể bằng giọng lấp liếm dễ dãi đến thế?

Bước qua một “địa hạt” khác, bộ Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập II: 1955-1975 thì khác hẳn [4] . Mặc dù rất nhiều điều còn phải bàn về những sự thiên lệch cố hữu, nhưng dù sao trong bộ này cũng đã ít đi những mảng “tối” của sự thiếu vắng, sai lệch, che lấp tư liệu. Bên cạnh nỗ lực kiên cường của quân dân trong lao động và chiến đấu, những mất mát đau đớn trong những đợt cải cách ruộng đất, chỉnh đốn đảng, cải tạo tư bản, nền kinh tế bao cấp… cũng được nêu kha khá, kể cả đôi nét về vụ án bí ẩn được gọi là “nhóm xét lại chống Ðảng”. Ðặc biệt có hẳn một phần về vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát (những 250/1100 trang). Ngoài ra, cùng bộ sách này, còn có cuốn Kinh tế miền Nam Việt Nam thời kỳ 1955-1975 rất công phu, cho ta biết được một nền kinh tế năng động và có khả năng hội nhập, có thể phát huy khi đất nước được giải phóng, nhất là từ khi đổi mới, như tác giả – chủ biên Ðặng Phong viết.

2. Vài chuyện sử bên ngoài sách sử

Ðể có được ham thích học, tìm tòi về lịch sử nói chung đã là vô cùng khó với lớp trẻ thời nay, nên không chỉ có những cuốn sử khô khan, mà rất cần nhiều đóng góp của báo chí-thông tin, văn hoá nghệ thuật, làm cho từng nhân vật, sự kiện lịch sử xa mờ sống động lại trong mắt hậu thế, khơi gợi trí tưởng tượng cho chính sử gia để có được lý giải, tìm tòi những trang sử bị khuất lấp. Vậy thử điểm vài món ăn tinh thần qua mấy chục năm nay.

* Cách đây khoảng phần tư thế kỷ, có hai vở kịch lịch sử của Nguyễn Ðình Thi, Nguyễn Trãi ở Ðông quan và Rừng trúc và bộ ba vở chèo Bài ca giữ nước của Tào Mạt. Nhưng số phận chúng khá khốn khổ, không phải do giá trị nghệ thuật (vì người xem rất hưởng ứng), mà lại là những đánh giá không thuận của lãnh đạo.

* Cũng thời đó có bộ phim tài liệu Hà nội trong mắt ai của đạo diễn Trần Văn Thủy, báo động về hiểu biết, thái độ của chúng ta đối với lịch sử. Bộ phim tạo nên một lúc hai làn sóng, một là sự thích thú của đại đa số công chúng, một khác là những bất đồng quá mức ở cấp cao nhất về việc có cho nó lưu hành không.

* Tiếp đến, trong không khí được “tự cởi trói” của giới văn nghệ, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã làm sôi sục văn đàn bằng hàng loạt truyện ngắn; nhưng trong đó, những truyện có nhân vật Quang Trung, Nguyễn Du cũng đã chịu không ít “búa rìu” của giới phê bình quan phương. Ðơn giản vì người ta đã “phong thánh” những anh hùng, danh nhân dân tộc, sẽ không thể chịu nổi một tài năng nhưng có “tật” là muốn “lật đổ thần tượng” bằng lối “người hoá” trở lại nhân vật.

* Tương tự, cuốn Búp sen xanh của nhà văn Sơn Tùng, và gần đây là phim truyện về vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông đều có đề cập đến người phụ nữ đầu tiên trong cuộc đời riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều mà từ lâu coi như húy kỵ. Chỉ tiếc rằng hai tác phẩm có lẽ ở vào hai thời điểm quá cách xa nhau, xuất phát từ hai chủ thể khác nhau (một đằng cá nhân, một đằng là Nhà nước) nên đã chịu hai thái độ nhìn nhận rất khác nhau của những người có trách nhiệm.

* Gần đây, qua văn học nước ngoài, ta cũng có thêm chút sử liệu quý giá, dù còn quá ít, dưới dạng hồi ký, như những cuốn Tại sao Việt Nam?, Cuộc chiến tranh Ðông Dương, Paris Saigon Hanoi… ít bị cắt xén, hoặc của những nhân vật tiếng tăm trong chế độ Sài Gòn được trích đăng báo, tập hợp thành sách như Ðỗ Mậu, Phạm Duy, Nguyễn Tiến Hưng… Có lẽ phải bằng việc gia nhập WTO thì chúng ta mới có thể dễ được tiếp cận hơn những tư liệu về chính mình đến từ bên ngoài?

* Có một thứ tuy không phải là món ăn tinh thần thuần túy như những tác phẩm văn học, điện ảnh, nhưng lại quá đặc biệt trong mối tương giao giữa chính trị-lịch sử-văn hoá truyền thống-tâm linh, đó là di chúc và ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không nghi ngờ gì nữa, việc thông tin sai lệch rồi miễn cưỡng trả lại tính chân xác hiển nhiên của những sự kiện này chính là điển hình nhất cho thái độ của chúng ta đối với lịch sử.

3. Mấy lời bàn

Chỉ qua một vài phác hoạ trên, dù cho thấy có những lối tư duy đã xa lạ với hôm nay, hay sự ấu trĩ mà chúng ta cứ mãi đối mặt, để rồi khi nhìn lại phải xót xa nuối tiếc cho bao mất mát, thì cũng góp phần nhận diện rõ thêm một phần bức tranh về nền sử học nước nhà, thường hay bị ám ảnh “duy cảm”, “duy tâm” thay vì “duy vật” như đáng ra nó phải là.

Trước hết ta thấy chút căn nguyên cho lời giải đáp vì sao học sinh không thích môn sử. Mới tạm điểm qua sách dành cho thầy cô, cho “người lớn” thôi mà đã thấy nặng tư duy “thời chiến”, “cái búa cái liềm” trong lối viết sử ở thời đại văn minh, bùng nổ thông tin này. Khi cả nước trải qua liên tiếp mấy cuộc kháng chiến trong hơn nửa thế kỷ, rồi đối đầu bằng chiến tranh lạnh, đời sống xã hội mọi mặt đã phải đặt “nhiệm vụ chính trị” lên hàng đầu. Ðó là minh hoạ đường lối, nhấn mạnh truyền thống chống ngoại xâm, kể cả cường điệu cái xấu của kẻ thù, vẻ đẹp của “ta”…, tạm gác lại thiên chức nhà sử học để mà viết ra những gì có lợi cho “ta” thôi. Mặt trái của “tấm huân chương” chính là cái giá đắt phải trả cho lối thực dụng tiểu nông đó. Nhưng không thể cứ tiếp tục trả giá mãi khi mà đất nước đã độc lập, thống nhất, chiến tranh lạnh cũng chấm dứt từ lâu. Việc xây dựng một xã hội văn minh hiện đại giờ là yêu cầu hàng đầu, nên thế hệ sau rất cần hiểu nhiều, đầy đủ, chính xác, khách quan nền tảng văn hoá, đời sống lao động sản xuất, giao thương… của tiền nhân (đủ cả cái hay, cái dở).

Thời “bao cấp” kéo dài từ trong chiến tranh cho tới giai đoạn 1975-1986, nhưng không phải chỉ trong kinh tế, mà mọi mặt, có sử học. Tiếp đến là thời “đổi mới”, nhưng những thay đổi mới tập trung cho phát triển kinh tế; tâm lý e ngại, những thói quen do tình trạng trì trệ quá lâu đã tự làm khó sử gia trong việc thay đổi căn bản lối tư duy-viết sử (nói rộng hơn là cả về khoa học xã hội). Phải chăng chúng ta mới chỉ đang xoá “bao cấp” trong kinh tế thôi chứ chưa dám xoá “bao cấp” về tư tưởng? Nghĩ giản dị rằng con người hễ “no cơm ấm áo” là khắc văn minh, vui tươi yêu đời? Có phải vì thế mà thông sử thì vẫn không thoát được cái “vòng kim cô” xưa cũ, nhưng chuyên sử kinh tế thì được “cởi trói” dần theo với nền kinh tế thị trường? Hay đó còn là cả một quan điểm giáo dục, muốn thông qua môn sử và vài môn xã hội khác để “đúc sẵn” vào đầu những nhận thức chính trị, lòng trung thành với chế độ cho lớp trẻ? Chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm, rồi nào là “mở cửa”, hội nhập… mà vẫn quanh quẩn với lối nghĩ đó thì thật tai hại; khi mà cũng chỉ với từng đó thời gian thôi, nước Nhật phong kiến Minh trị Duy tân đã làm cuộc đổi thay cách mạng mới có được như ngày hôm nay, trước hết là do biết nâng cao dân trí, ý thức sớm việc bảo vệ độc lập quốc gia phải bằng một nền dân chủ văn minh tiên tiến thay vì bằng súng đạn, máu xương.

Một điều trái ngược với thực trạng đáng buồn này là lịch sử hiện đại của Việt Nam lại vô cùng đa dạng, phong phú, đầy “kịch tính” trên mọi lĩnh vực, là “đất màu mỡ” cho những khám phá, tranh luận… tạo hấp dẫn thêm cho mọi tìm tòi phát hiện táo bạo của các sử gia. Nhưng cũng ngược lại, với những đa dạng phức tạp đó, nếu ta không sớm định cho nó một “hình hài” đúng như nó vốn có mà để các sử gia tiền bối nhắm mắt xuôi tay, cả bao “pho sử sống” dần khuất núi đem theo xuống mồ bí ẩn lịch sử, rồi phó mặc cho hậu thế thì sẽ vô cùng nan giải cho cái việc nắn lại một “cơ thể” đã mang đầy khiếm khuyết, dị tật. Ấy thế mà ít nhất chúng ta vẫn đang có tới 2500 sử gia để mà lo lắng cho điều này!

Nhiều nhà nghiên cứu – trong, ngoài giới sử học – từng một thời phơi phới hăng say nghiên cứu khoa học mà không nhận ra sớm thực tế rằng phải “uốn mình” theo khuôn mẫu để phục vụ nhiệm vụ chính trị, nên họ đã gặp bao khốn đốn. Giờ như “con chim đậu phải cành cong”, họ chọn giải pháp an toàn, dễ trở thành bảo thủ, thậm chí mang tiếng vô trách nhiệm mặc dù có thể chưa đến nỗi hoàn toàn buông xuôi. Vẫn còn đó không ít người đã, đang bị lương tâm cắn rứt trước những sự thật lịch sử bị che giấu, xuyên tạc! Họ quá hiểu đã là một sử gia, phải biết đặt mình ra ngoài mọi thiên kiến chính trị, để tìm kiếm, sắp xếp sử liệu sao cho đúng với sự thật khách quan. Làm sao khi đọc tác phẩm, chỉ thấy được nhà sử học hoàn toàn thuộc về nhân dân, dân tộc muôn đời, chứ không phải của nhất thời, làm tôi tớ cho chính trị đương quyền. Cách đây ngót 20 năm, nhà báo được kêu gọi “không bẻ cong ngòi bút”, vậy với nhà sử học “không bẻ cong sự thực lịch sử” âu cũng là cái đức để được sống mãi trong lòng hậu thế.

Thực trạng như mảnh đất màu mỡ cho những kẻ, những thói lười biếng, dối trá, kèn cựa địa vị, hư danh, nhiều khi còn nấp bóng “kiên định lập trường” để che đậy tha hoá. Sự đời chịu nhận cái xấu ở mình đã khó, huống hồ là của bề trên, thành thử hay có lối “mẹ hát con khen”. Chỉ so với các sử gia Việt Nam ta xưa mà cũng thấy thật xấu hổ, chưa nói tới nước ngoài. Như chuyện về quan chép sử nước Tề, chỉ có câu “Thôi Trữ giết vua của mình là Trang Công” mà bị chém đầu, người em lên thay vẫn cứ viết vậy liền bị chém nốt, cho đến người em thứ ba thì Thôi Trữ đành “thua”. Họ quả là thánh nhân chứ đâu phải người trần nữa!

Nhưng “tiền hô hậu ủng”. Một khi các sử gia đã vậy thì thử hỏi liệu có được bao nhiêu nhà hoạt động văn hoá muốn đóng góp chút ít bằng tác phẩm của mình có đủ can đảm để “xông pha” như những tài năng Tào Mạt, Nguyễn Ðình Thi, Trần Văn Thủy, Nguyễn Huy Thiệp…?

Ðáng lo hơn cả là suy cho cùng, những người có trách nhiệm cao nhất hình như không muốn thay đổi thái độ trước những vấn đề liên quan đến sử học. Bởi thực trạng hôm nay với đầy dẫy tệ nạn tham nhũng luồn lách tới mọi ngõ ngách quyền lực chẳng lẽ không run sợ sự thực lịch sử sẽ ghi khắc cho muôn đời?

Qua phác hoạ như trên, để có được niềm say mê học, dạy môn sử, thầy trò sẽ phải nỗ lực rất nhiều để nhặt nhạnh thông tin, tìm kiếm nguồn cảm hứng ở bên ngoài môi trường học tập, bù đắp những gì mà hệ thống sách vở không đem lại, đem lại không đúng cho họ. Khốn nỗi, họ phải theo giáo án, đi đúng trong lằn ranh đã được vạch sẵn chứ khó dám liều để dạy “sử ngoài luồng”; cuộc sống khó khăn với đồng lương không nuôi nổi bản thân, điều kiện giảng dạy thì nghèo nàn không cho phép họ phiêu lưu lãng mạn với “tình yêu nghề nghiệp” duy ý chí. Và đáng lo ngại nữa là thế hệ trẻ ngày nay sẽ vẫn bằng mọi cách riêng để tự hiểu mình là ai, hiểu thế hệ cha ông; đương nhiên chúng ta sẽ phải trả giá rất đắt cho điều đó: Là thái độ phản kháng bằng lên án, mất niềm tin và sự kính trọng thế hệ đi trước; nảy nở thói đạo đức giả, thực dụng, vô ơn… Còn một giá đắt nhãn tiền mà chúng ta đã phải trả từ lâu cho nhiều quyết định sai lầm để lại hậu quả nặng nề là từ sự chủ tâm coi thường tính thẩm định, dự báo, phản biện của khoa học xã hội (trong đó không thể thiếu sử học) mà chỉ sử dụng nó như thứ công cụ để tô hồng chế độ. Sẽ như “gậy ông đập lưng ông” cho một nền sử học-giáo dục minh hoạ phải đứng trước nhiều thế hệ nhắm mắt, bịt tai, quay lưng lại. Như câu bất hủ của Abutaliv “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn lại anh bằng đại bác”. Ở góc nhìn khác, giản dị mà ý nhị, cố thủ tướng – giáo sư sử học Phạm Văn Ðồng lại nói: “Lịch sử là lịch sử”. Chứ lịch sử không được để bị chính trị hoá, không thể dối trá, có phải đó chính là điều ông ngụ ý đau xót? Bởi nó luôn không dễ nói, nên xưa Nguyễn Trãi mới từng than:

Ai ai đều đã bằng câu hết
Nước chẳng còn có Sử Ngư! [5]



[1]Nxb Giáo dục, 2005
[2]Nxb Giáo dục, 2004 (Viện Sử học)
[3]Phan Ðình Nhân, 2002
[4]Nxb Khoa học Xã hội, 2005 (Viện Kinh tế)
[5]Quan chép sử nổi tiếng ngay thẳng, trung thực, cùng Khổng Tử một thời dưới triều đại thối nát của vua Linh Công nước Vệ – thế kỷ thứ V trước Công nguyên.


Đăng trong Giáo dục, Lịch sử | 6 phản hồi »

 
%d bloggers like this: