BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Chiến tranh VN’ Category

2343. Có phải chỉ cần “bình yên” nên hạ nhục hàng chục ngàn liệt sĩ?

Posted by adminbasam on 17/02/2014

Đồng Phụng Việt

Đảng CSVN không tưởng niệm, tri ân những người đã chết vì bảo vệ lãnh thổ và cả vì sự tồn tại của chính mình là bất nghĩa.

Ngăn chặn những người khác tưởng niệm, tri ân những người đã chết vì bảo vệ xứ sở của họ là bất nhân.

Tệ đến mức không thể tưởng tượng là chọn hình thức ca hát, nhảy múa hưởng ứng “năm văn minh, trật tự đô thị” để hóa giải chuyện tưởng niệm tri ân. Làm như thế là cố tình hạ nhục những người vị quốc vong thân. Đó là bất lễ, bất tín.

Không thể tìm được từ để diễn đạt cho đúng ý!

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Phản hồi đã bị khóa

2320. Trung Quốc ép Việt Nam không được tưởng niệm Chiến tranh biên giới 1979?

Posted by adminbasam on 12/02/2014

viet-studies

Hoàng An Vĩnh

Cuộc trao đổi qua đường dây nóng giữa ông Tập Cận Bình và ông Nguyễn Phú Trọng là lý do khiến Việt Nam đột ngột chấm dứt các hoạt động tưởng niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa và 35 năm Chiến tranh chống xâm lược biên giới phía Bắc 1979? 

Đèn xanh  

2014 đánh dấu “năm chẵn” một loạt những sự kiện liên quan đến lịch sử bảo vệ chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Trong số này có 35 năm Ngày Chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam (7/1/1979), 40 năm sự kiện Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ tay chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (19/1/1974) và 35 năm ngày Trung Quốc tung 60 vạn quân quân nổ súng tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc (17/2/1979). 

Trong khi sự kiện gắn với biên giới Tây Nam được tuyên truyền tương đối bình thường thì việc báo chí chính thống của Việt Nam nhắc tới Hoàng Sa 1974 và Chiến tranh biên giới 1979 là điều gần như không có nếu không tính quãng thời gian từ 2009 trở lại đây. 

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước | Phản hồi đã bị khóa

1958. LỪA ĐẢO, PHẢN BỘI, KIÊN ĐỊNH VÀ GÌ NỮA?

Posted by adminbasam on 15/08/2013

Trần Minh Thảo

14-08-2013

Viết nhân những ngày lễ và sau khi đọc quyển sách Việt Nam 1945-1995 – Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử của GS Lê xuân khoa

Lừa đảo, phản bội, phản động, tay sai, bán nước… là những “danh hiệu chính trị” người Việt nam gán cho nhau mấy mươi năm nay, nhất là từ khi đảng Cộng sản ra đời. Ai lừa đảo ai? Ai phản bội ai? Ai bán nước? Ai tay sai?

“Lừa đảo”, “phản bội”… cũng là nội dung tranh luận được cho là của một số cựu thành viên phong trào đô thị miền Nam trong cuộc ‘kháng chiến chống Mỹ cứu nước’ về cuộc cách mạng do đảng Cộng sản Việt nam tổ chức, lãnh đạo. Có hai ‘phe’ trong cuộc tranh luận : Phe cho là cuộc cách mạng bị phản bội, tạm gọi là ‘phe phản bội’; phe cho là cuộc cách mạng là sự lừa đảo chính trị, tạm gọi là ‘phe lừa đảo’. Cuộc tranh luận có tính ‘sinh tử’, quan hệ đến ‘sinh mệnh chính trị’ cho cả hai phe chỉ là một tiếp nối cuộc tranh luận “phản bội hay lừa đảo” diễn ra từ 1945, từ những người đi kháng chiến rồi ‘dinh tê’, rồi “nhân văn giai phẩm”, đến vụ án chống đảng rồi gần như công khai từ 1990 sau hội nghị ‘kết giao huynh đệ Thành đô’ của hai đảng Trung-Việt.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Phá vòng nô lệ, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước | 21 phản hồi »

1906. Không nên chụp mũ người khác

Posted by adminbasam on 19/07/2013

Nhân dân

Thứ năm, 18/07/2013 – 09:44 PM (GMT+7)

Mấy năm qua, nhiều bài viết của blogger Thiếu Long *- hiện sinh sống tại Texas (Hoa Kỳ), như: Nhìn lại sự thật lịch sử để đoàn kết dân tộc Việt Nam, Tự diễn biến hai lần, Học sử Việt để làm gì?,… thu hút sự chú ý của dư luận trên internet trước hết bởi tấm lòng của tác giả đối với quê hương, những suy nghĩ mang tính nhân văn, khả năng khái quát, đánh giá các vấn đề, sự kiện đặt ra; đặc biệt là tinh thần không khoan nhượng đối với một số tổ chức, cá nhân núp dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do, dân chủ” để chống phá sự phát triển của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản. Báo Nhân Dân trích đăng bài Vài lời với những người chống cộng của Thiếu Long để bạn đọc tham khảo (đầu đề là của Tòa soạn).

Đăng trong Chiến tranh VN, Dân chủ/Nhân Quyền, Mạng xã hội, Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài, Quan hệ Việt-Trung, Sửa đổi Hiến pháp | Tagged: , , | 53 phản hồi »

1852. HÒA ĐÀM GENÈVE NĂM 1954 – NỖI KHÓ XỬ CỦA TRUNG QUỐC (2)

Posted by adminbasam on 20/06/2013

Mạng Trung Quốc 360doc.com

10-11-2010

Người dịch:  Quốc Thanh

Bài này trích từ “Nghiên cứu về lịch sử thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa -2” 《中华人民共和国建国史研究2》 Tác giả:  Dương Khuê Tùng   Nơi xuất bản: Nhà xuất bản nhân dân Giang Tây  Năm xuất bản: 9.2009. (Xin xem: book.douban.com/subject/3923370/).

Đọc tiếp »

Đăng trong Chiến tranh VN, Quan hệ Việt-Trung | 8 phản hồi »

1849. HÒA ĐÀM GENÈVE NĂM 1954 – NỖI KHÓ XỬ CỦA TRUNG QUỐC (1)

Posted by adminbasam on 19/06/2013

Mạng Trung Quốc 360doc.com

10-11-2010

Người dịch:  Quốc Thanh

Bài này trích từ “Nghiên cứu về lịch sử thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa -2” 《中华人民共和国建国史研究2》 Tác giả:  Dương Khuê Tùng   Nơi xuất bản: Nhà xuất bản nhân dân Giang Tây  Năm xuất bản: 9.2009. (Xin xem: book.douban.com/subject/3923370/).

Đọc tiếp »

Đăng trong Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung | 11 phản hồi »

Việt Nam 1945-1995 – Phụ Lục

Posted by adminbasam on 08/05/2013

Phụ Lục A: Tờ Chiếu của Vua Bảo Đại sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh

Ba ngày sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh và hai ngày trước khi Việt Minh giành được chính quyền ở Hà Nội, Vua Bảo Đại tuyên cáo với quốc dân, xác định tư cách độc lập của Việt Nam, nhưng tiên liệu việc Pháp có thể theo chân Đồng Minh về tái chiếm Đông Dương. Ông kêu gọi tất cả mọi người yêu nước giúp ông lập chính phủ mới để “đương đầu với một cuộc tái hồi ngoại thuộc. ” (Khi đó, chính phủ Trần Trọng Kim vừa từ chức.) Trước tình hình chính trị sôi động ở trong nước, Vua Bảo Đại đã có một lời nói lịch sử: “Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ.”

VIỆT NAM HOÀNG ĐẾ BAN CHIẾU

Cuộc chiến tranh thế giới đã kết liễu. Lịch sử nước Việt Nam hiện tới một thời kỳ nghiêm trọng vô cùng.

Đối với dân tộc Nhật Bản, Trẫm có nhiệm vụ tuyên bố rằng: Dân tộc ta có đủ tư cách tự trị và nhất quyết huy động tất cả lực lượng, tinh thần và vật chất của toàn quốc để giữ vững nền độc lập cho nước nhà.

Trước tình thế quốc tế hiện thời, Trẫm muốn mau mau có nội các mới.

Trẫm thiết tha hiệu triệu những nhà ái quốc hữu danh và ẩn danh đã nỗ lực chiến đấu cho quyền lợi dân chúng và nền độc lập nước nhà mau mau ra giúp Trẫm để đối phó với thời cuộc. Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc, Trẫm sẵn sàng hi sinh về tất cả các phương diện.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Mỹ, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 9 phản hồi »

Việt Nam 1945-1995 – Lời kết

Posted by adminbasam on 06/03/2013

LỜI KẾT

GS Lê Xuân Khoa

Không có một chủ nghĩa chính trị nào là chân lý tuyệt đối. Mọi học thuyết hay chủ nghĩa do con người lập ra, dù của những đầu óc siêu việt đến đâu, cũng chỉ có giá trị tương đối trong những hoàn cảnh xã hội nhất định, hoặc chỉ có một số yếu tố tồn tại với thời gian vì chúng phản ánh những nguyên lý cơ bản về đạo đức và trí tuệ của loài người… Bởi vậy, bất cứ một học thuyết hay chủ nghĩa chính trị nào tự tuyên dương mình là chủ nghĩa duy nhất có giá trị vĩnh viễn thì sẽ hoàn toàn sai lầm, và sẽ gây nên hậu quả vô cùng tai hại. Đúng như một câu danh ngôn đã nói: “Làm thầy thuốc mà lầm thì có thể giết chết một bệnh nhân, làm chính trị mà lầm thì có thể giết hại một dân tộc, làm văn hoá tư tưởng mà lầm thì có thể giết hại nhiều thế hệ.” Độc tôn về chính trị và tư tưởng sẽ đưa đến độc tài, bắt mọi người phải tuân phục một chủ nghĩa duy nhất và một chế độ duy nhất, loại trừ tất cả những người có những suy nghĩ khác biệt. Rốt cuộc, vì sai lầm chồng chất, các chế độ độc tài đều sẽ phải sụp đổ. Điều này đã được chứng minh quá rõ ràng qua kinh nghiệm của nhiều nước độc tài trên thế giới, cộng sản hay không cộng sản, trong những thập kỷ vừa qua.

….

Quyền lực và lợi lộc nếu biết chia sẻ thì nhà cầm quyền vẫn có phần một cách chính đáng. Quyền lực và lợi lộc không thể mãi mãi giữ độc quyền, và điều chắc chắn là không thể đem theo sang thế giới bên kia. Đã có nhiều trường hợp cho thấy hậu quả tai hại xảy ra cho những chế độ độc tài, cộng sản hay không cộng sản, trong khi những người cầm quyền còn tại chức. Thành tích tốt hay xấu của những người lãnh đạo sẽ được nhân dân đánh giá công minh và được lịch sử ghi chép thành văn hay truyền khẩu cho đến muôn đời sau. Có những nhà lãnh đạo nào đã tự hỏi mình: Nên để lại tiếng thơm hay tiếng xấu cho hậu thế? Bách thế lưu phương hay Lưu xú vạn niên?

 Khi kiểm điểm các sự kiện lịch sử trong hơn nửa sau của thế kỷ XX như đã được trình bày trong sách này, ngoài việc nhận biết được những quyết định sai lầm và những cơ hội bỏ lỡ của những nhà lãnh đạo chính trị và quân sự Pháp, Hoa Kỳ, Việt Nam cộng sản và Việt Nam quốc gia, chúng ta còn có thể rút ra được nhiều kinh nghiệm và bài học thực tế về các chính sách đối nội và đối ngoại của mỗi phe liên hệ. Vì mục tiêu giới hạn của cuốn sách, tác giả sẽ chỉ chú trọng đến những bài học có lợi ích cho Việt Nam trong hiện tại và tương lai. Thật ra, những bài học này không hoàn toàn mới lạ vì đều là những sự thật khá hiển nhiên, nhưng những sự kiện và trường hợp chúng xảy ra hay được áp dụng ở Việt Nam là những kinh nghiệm mới có hiệu lực cảnh giác rất mạnh mẽ.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Dân chủ/Nhân Quyền, Lịch sử | Leave a Comment »

Việt Nam 1945-1995 – Chương 10: Sai lầm của Việt Nam Quốc Gia

Posted by adminbasam on 03/03/2013

Chương 10: Sai lầm của Việt Nam Quốc Gia

GS Lê Xuân Khoa

Càng cần hoà giải hơn nữa khi đất nước đang ở một khúc ngoặt lịch sử quan trọng trong những tương quan quốc tế mới đòi hỏi sự đóng góp của mọi nguồn nhân lực và tài lực ở trong và ngoài nước. Mục đích đó chỉ có thể đạt được khi mọi người đều nhìn nhận rằng trong cuộc chiến tranh quốc gia-cộng sản, các chiến sĩ ở cả hai bên đều chiến đấu vì lòng yêu nước nhưng cũng bị biến thành công cụ của những thế lực quốc tế. Vì vậy, mọi người cần phải rút ra được bài học của quá khứ, thẳng thắn nhìn nhận các sai lầm và dẹp bỏ hận thù để cùng nhau đưa nước Việt Nam ra khỏi tình trạng tụt hậu và trở thành một quốc gia giàu mạnh, dân chủ và tiến bộ. Bởi vì sự thật đau lòng là cuộc chiến tranh tàn phá nhất và giết nhiều người nhất trong lịch sử Việt Nam thực tế là một cuộc chiến mà tất cả mọi phe đều thua, và nạn nhân chính vẫn là dân tộc và đất nước Việt Nam.

Chương Một và Chương Năm trên đây đã có dịp phân tích những nguyên nhân thất bại của các đảng phái quốc gia trong cuộc tranh giành với đảng cộng sản vai trò lãnh đạo dân tộc chống thực dân Pháp, từ trước 1945 cho đến hội nghị Genève 1954. Chính phủ Trần Trọng Kim, thuộc phe quốc gia nhưng không chống Việt Minh, đã được đánh giá khá đầy đủ ở chương Một. Chương này sẽ chỉ nhận định khái quát về các chính quyền quốc gia trong cuộc chiến tranh chống Pháp, trước và sau Hiệp định Élysée (Auriol-Bảo Đại) năm 1949, và chú trọng nhiều hơn vào những chính phủ ở miền Nam trong hai mươi năm xung đột với miền Bắc. Thời kỳ hậu-Genève này gồm có Đệ nhất Cộng Hòa với chính quyền Ngô Đình Diệm (1955-1963), bốn năm chuyển tiếp gồm Hội đồng Quân nhân Cách mạng, các chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Khánh, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát, Nguyễn Cao Kỳ (1963-1967), và cuối cùng là Đệ nhị Cộng Hòa với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975).

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Dân chủ/Nhân Quyền, Lịch sử | Leave a Comment »

Việt Nam 1945-1995 – Chương 9: Sai lầm của Việt Nam Cộng Sản

Posted by adminbasam on 27/02/2013

GS Lê Xuân Khoa

McNamara sang Việt Nam gặp Võ Nguyên Giáp để bàn việc tổ chức những buổi đàm thoại Mỹ-Việt với mục đích cùng xem xét những trường hợp mà mỗi bên có thể đã có những điều ngộ nhận về đối phương của mình, do đó đã lấy những quyết định sai lầm trong thời gian chiến tranh và để lỡ cơ hội hòa bình. Tướng Giáp đã phản ứng quyết liệt khi khẳng định rằng “Chúng tôi không hiểu lầm các ông. Các ông là kẻ thù muốn tiêu diệt chúng tôi. Vì thế chúng tôi phải chiến đấu chống các ông và “bù nhìn” của các ông để thống nhất xứ sở.” Khi McNamara đưa vụ Maddox ra làm thí dụ về chuyện hiểu lầm, Võ Nguyên Giáp ngắt lời, “Chúng tôi hiểu đúng các ông… Các ông hành động phá hoại để có cớ tham chiến thay cho chính phủ Sài-gòn bất lực.” Nói về các cơ hội hòa bình, tướng Giáp lại quả quyết “Không có vấn đề bỏ lỡ cơ hội đối với chúng tôi… Tôi đồng ý là các ông đã để lỡ cơ hội và các ông cần phải rút ra các bài học.”5

Đúng là cuộc đối thoại giữa hai người điếc. May mắn thay là cuối cùng tướng Giáp đã bằng lòng đưa đề nghị của McNamara vào nghị trình thảo luận. Cũng may mắn là tướng Giáp không tham dự các buổi thảo luận trong đó một số nhân vật miền Bắc đã phát biểu khác với ông, nhìn nhận có những trường hợp Bắc Việt không kiểu đúng ý định và lề lối làm việc của Mỹ, có những khó khăn từ phía “bạn”, và đáng lẽ đã có thể lấy quyết định thương thuyết sớm hơn. – GS Lê Xuân Khoa

Trong thời gian ba mươi bốn năm sau chiến tranh chống Pháp, chính phủ miền Bắc Việt Nam lại phải trải qua ba cuộc chiến tranh khác: chống VNCH và Hoa Kỳ (1955- 1975), chống Trung Quốc (tháng Hai 1979), và chống Khơ- me Đỏ ở Kam-pu-chia (1975-1989). Điều trớ trêu là trong hai trận chiến sau này, Đảng Cộng sản Việt Nam phải đương đầu với chính hai cựu đồng minh đã cùng sát cánh chiến đấu trong suốt thời gian chống Pháp và chống Mỹ, nhất là Khơ-me Đỏ lại do chính Đảng CSVN giúp thành lập và huấn luyện. Sau chiến thắng 1975, các lãnh tụ miền Bắc lại không giữ lời hứa với các chiến hữu ở miền Nam về việc duy trì một tình trạng chuyển tiếp ít nhất là mười năm trước khi thực hiện thống nhất hai miền, và giải tán luôn cả ba hình thức của cùng một thực thể chính trị là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN), Liên Minh các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ và Hòa Bình (LMDTDCHB), và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam (CPCMLT). Chương này lần lượt kiểm điểm những sai lầm và những cơ hội bỏ lỡ của Hà Nội đối với cả thù và bạn trong ba cuộc chiến tranh nói trên.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Mỹ, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

VIỆT NAM 1945-1995 – Chương 8: Sai lầm của Hoa Kỳ

Posted by adminbasam on 24/02/2013

Chương 8: Sai lầm của Hoa Kỳ

GS Lê Xuân Khoa

“… nếu dân tộc ta không phải chịu sự tàn phá của hai cuộc chiến tranh và nếu Việt Nam không theo đuổi chủ nghĩa cộng sản thì xứ sở đã được hiện đại hoá từ lâu và Việt Nam ngày nay có thể đã trở thành một trong những con rồng của Á châu. Ôn lại kinh nghiệm về những sai lầm và những cơ hội bỏ lỡ của mỗi phe lâm chiến trong suốt thời kỳ từ 1945 đến 1975 qua hai cuộc chiến tranh, chúng ta có thể rút ra được nhiều bài học lịch sử cần thiết cho những thế hệ sau trong nhiệm vụ bảo vệ và phát triển đất nước“. – Lê Xuân Khoa

Sự thể đã rõ ràng là sự sụp đổ của chính thể quốc gia ở miền Nam và chiến thắng của chính thể cộng sản miền Bắc là nguyên nhân trực tiếp của tị nạn 1975. Biến cố này đã xảy ra mau chóng hơn cả kế hoạch tổng tấn công mà các chiến lược gia Hà Nội dự tính phát động vào năm 1976. Tuy nhiên, cũng như chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-1954), cuộc chiến lần thứ hai này đã đem lại nhiều kinh nghiệm khác nhau cho tất cả các phe liên hệ.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc, Điểm báo/Blog | 13 phản hồi »

1638. Lễ kỷ niệm 40 năm ký hiệp định Paris: một số mẫu chuyện và suy nghĩ cởi mở

Posted by adminbasam on 23/02/2013

Lễ kỷ niệm 40 năm ký hiệp định Paris: một số mẩu chuyện và suy nghĩ cởi mở

Hồ Cương Quyết, André Menras

Nguyên Ngọc dịch

Tôi đã có thể thực hiện các cuộc trao quà cứu trợ và các cuộc gặp gỡ để trù tính các dự án tương lai mà tôi đã báo cáo trong bài viết trước nhờ có lời mời của Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chiến tranh VN, Quan hệ Mỹ-Việt | 9 phản hồi »

Việt Nam 1945-1995 – Chương 7: Sự Sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa

Posted by adminbasam on 20/02/2013

PHẦN BA: Nội chiến hay Chiến tranh Ủy nhiệm?

Chương 7: Sự Sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa

GS Lê Xuân Khoa

Tị nạn năm 1975 là kết quả của một cuộc tranh chấp hai mươi năm mà phe quốc gia gọi là cuộc chiến đấu chống chế độ cộng sản của dân tộc Việt Nam, còn phe cộng sản thì gọi là chiến tranh chống Mỹ-Ngụy để cứu nước. Thực tế thì đây là một cuộc nội chiến giữa hai phe người Việt Nam theo đuổi những lý tưởng khác nhau, đồng thời cũng là một cuộc chiến tranh ủy nhiệm trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh giữa hai khối quốc tế tư bản và cộng sản, với sự tham gia trực tiếp của Hoa Kỳ.

Bởi vậy, tìm hiểu nguyên nhân của tị nạn 1975 cũng là tìm hiểu những nguyên nhân đưa đến chiến tranh và sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hoà. Trước hết cần minh xác rằng Pháp chỉ thực sự trả lại độc lập hoàn toàn cho Việt Nam (dù đây chỉ là phân nửa phía Nam) sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm đã loại trừ các lực lượng nổi loạn thân Pháp năm 1955 và đòi quân đội viễn chỉnh Pháp phải rút hết về nước vào đầu năm 1966. VNCH được thành lập vào tháng Mười 1955 và trở thành một thực thể chính trị có chủ quyền trên toàn lãnh thổ thuộc phía Nam vĩ tuyến 17. Cuộc chiến tranh “quốc- cộng” lập tức được chuẩn bị theo chiều hướng là miền Bắc cương quyết thống nhất đất nước dưới quyền kiểm soát của đảng cộng sản, và miền Nam quyết tâm bảo vệ lãnh thổ chống lại mọi hoạt động xâm nhập của miền Bắc. Trung Quốc và Liên Xô viện trợ VNDCCH, trong khi Hoa Kỳ viện trợ VNCH và trực tiếp tham chiến từ 1965 sau những cuộc khủng hoảng lãnh đạo liên tiếp ở miền Nam.

Cuộc chiến càng ngày càng ác liệt tiếp theo quyết định “Mỹ hóa” chiến tranh, và tình hình càng ngày càng bất lợi cho VNCH. Sau trận Tết Mậu Thân 1968), Hoa Kỳ và Bắc Việt đồng ý thương thuyết hòa bình. Thực tế là một tiến trình “vừa đánh vừa đàm” cho đến 1973 mới đạt được hiệp định Paris với sự ký kết của “hai phe, bốn thành phần một bên là Hoa Kỳ và VNCH, bên kia là VNDCCH và MTGPMN. Chương trình “Việt Nam hoá ” chiến tranh của Nixon bị thất bại do quyết định bỏ rơi miền Nam Việt Nam của Quốc hội Mỹ và vụ xì-căn-đan Watergate khiến Nixon phải từ chức. Nhờ tình thế thuận lợi ấy, Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công VNCH và hoàn tất chinh phục miền Nam ngày 30 tháng Tư 1975.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc, Điểm sách | 13 phản hồi »

1618. Hoa Sim ngày 17-2

Posted by adminbasam on 17/02/2013

Hoa Sim ngày 17-2

Trịnh Hữu Long – Phạm Đoan Trang

17-02-2013

Nếu em lên biên giới

Em sẽ gặp bạt ngàn hoa…

Hoa sim, giữa đồi nắng gió, tím như ai chờ mong

Sắc hoa sim yêu thương trong lòng nguời lính trẻ

Chờ ai nên tím ngát bồi hồi

giữa biên cương…

Những ca từ đẹp đẽ và lãng mạn này của tác phẩm “Hoa sim biên giới” đã được nhạc sĩ Minh Quang sáng tác dựa trên cảm hứng từ chuyến công tác ở biên giới phía Bắc năm 1979 và hoàn chỉnh năm 1984, giữa thời kỳ căng thẳng trong quan hệ Việt Nam – Trung Hoa. Không lâu trước chuyến công tác của ông, ngày 17-2-1979, những tiếng súng đầu tiên đã vang lên trên bầu trời biên giới phía Bắc Việt Nam, báo hiệu sự trở lại của những đoàn quân xâm lược Trung Hoa, 190 năm sau thất bại của họ trước quân đội Tây Sơn ở Đống Đa – Ngọc Hồi.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chiến tranh VN, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 19 phản hồi »

VIỆT NAM 1945-1995 – Chương 6: Di tản và Định cư Tị nạn 1954

Posted by adminbasam on 17/02/2013

Chương 6: Di tản và Định cư Tị nạn 1954

GS Lê Xuân Khoa

Ngày 23 tháng Bảy 1954, hai ngày sau khi bản thỏa hiệp đình chiến được ký kết tại Genève, Thủ tướng Pháp Mendès France ra trước Quốc Hội để báo cáo về kết quả hội nghị. Khi nhắc đến một điều khoản trong bản thỏa hiệp cho phép dân chúng ở Việt Nam được tự do lựa chọn nơi cư trú của mình giữa hai miền Nam, Bắc, ông nói:

… Nếu chúng tôi không đòi được những đảm bảo đầy đủ cho điểm thỏa thuận này thì những cuộc thương thuyết ắt đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Chúng tôi đã đòi rằng bất cứ người nào ở vùng bên này hay bên kia tin rằng mình sẽ gặp nguy hiểm tại nơi cư trú hiện thời phải được phép di chuyển sang bên mà người đó nghĩ rằng mình sẽ được an toàn hơn.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Hồ Chí Minh, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước, Điểm sách | 10 phản hồi »

1614. LỜI KÊU GỌI NHÂN NGÀY 17 THÁNG 2

Posted by adminbasam on 16/02/2013

LỜI KÊU GỌI NHÂN NGÀY 17 tháng 2

 

Ngày 17-2-1979 là ngày quân xâm lược Trung Quốc theo lệnh của Đặng Tiểu Bình, trắng trợn trở mặt, phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979. Chúng đã huy động 9 quân đoàn chủ lực và các đơn vị binh chủng phụ trợ khác ước tính hơn nửa triệu quân với hơn 500 xe tăng, hơn 2000  khẩu pháo, tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, sát hại dân lành, đốt phá nhà cửa, cầu, đường, cướp bóc tài sản. Quân và dân ta đã ngoan cường chiến đấu,  chống trả quyết liệt, đánh những đòn quyết định buộc chúng phải tuyên bố rút quân, kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược nhục nhã, hàng chục ngàn chiến sĩ ta đã dũng cảm hy sinh.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Chiến tranh VN, Dân chủ/Nhân Quyền, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | 168 phản hồi »

VIỆT NAM 1945-1995 – Chương 5: Bài Học Chín Năm (1945-1954)

Posted by adminbasam on 14/02/2013

Chương 5: Bài Học Chín Năm (1945-1954)

GS Lê Xuân Khoa

… không cần phải nhắc lại những chính sách sai lầm về mặt đối nội như tiêu diệt địa chủ và khủng bố trí thức trong những năm đầu thập kỷ 1950 (xem chương Ba), nhưng cần phải phân tích một sai lầm chủ yếu về đối ngoại có ảnh hưởng tai hại cho Việt Nam đến tận ngày nay. Đó là việc cầu viện Trung Quốc qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Hành động cầu viện và tiếp viện vẫn là chuyện bình thường giữa các nước đồng minh, nhưng đặc biệt trong mối quan hệ Việt-Trung, hành động này có những hậu quả phức tạp. Đối với Trung Quốc, Việt Nam đã mắc một món nợ quá lớn, lại có một thời kỳ bất hòa đưa đến cuộc chiến tranh mùa Xuân năm 1979,25 khiến Việt Nam sẽ phải trả bằng một giá rất cao trong một thời gian rất lâu nếu không có sự sụp đổ của khối Sô-Viết và các nước cộng sản Đông Âu vào giữa thập kỷ 1980. Vì nguy cơ chung, Việt Nam và Trung Quốc lại hòa giải với nhau, nhưng trong tiến trình này, Việt Nam lại đi theo Trung Quốc như một gương mẫu về đối nội và đối ngoại và đã để cho Trung Quốc có cơ hội lũng đoạn và ngăn cản sự phát triển kinh tế của Việt Nam.

Lê Xuân Khoa

Cuộc chiến 1945-19541 đã làm thương vong cho 172,708 người về phía Pháp trong số đó 31,716 là binh sĩ thuộc ba nước Đông Dương, số thương vong về phía quân đội cộng sản không được biết rõ, nhưng được phỏng định ít nhất là nửa triệu, số thường dân bị thiệt mạng trong cuộc chiến vào khoảng 250,000 người. Phí tổn về phía Pháp tính đến 1950 chiếm từ 40 đến 45 phần trăm ngân sách quốc phòng và trên 10 phần trăm ngân sách quốc gia. Trong những năm cuối cùng, viện trợ Mỹ gánh chịu đến 78 phần trăm chi phí. về phía VNDCCH, phí tổn không rõ là bao nhiêu nhưng sự thiệt hại về tài sản của nhân dân và về những nguồn lợi kinh tế của Việt Nam trong suốt thời kỳ chiến tranh và cả những năm sau chiến tranh, cộng với sự thiệt hại về nhân mạng, đã cho thấy cái giá của chiến thắng quả thật là quá đắt. Cái giá ấy không đắt nếu chiến tranh là con đường duy nhất để dẫn đến độc lập, tự do và hạnh phúc thực sự cho dân tộc. Nhưng cái giá ấy quá đắt vì chỉ trong vòng mấy năm sau Thế Chiến II các xứ thuộc địa trên thế giới, trừ một số nước ở Nam Phi, đều được trả lại độc lập mà không cần phải có chiến tranh. Anh và Hòa Lan là những đế quốc sớm từ bỏ các thuộc địa ở Á châu. Ngay cả đế quốc thực dân ngoan cố nhất là Pháp cũng trả độc lập cho hai xứ bảo hộ là Tunisie năm 1954, Maroc 1956 và các thuộc địa ở Nam Phi năm 1958. Chỉ có Algérie, thuộc địa của Pháp từ 1830 mãi tới 1954 mới noi gương VNDCCH thành lập Mặt trận Quốc gia Giải phóng (Front de Libération Nationale — FLN) vừa đánh vừa đàm cho tới khi độc lập năm 1962, nhưng cũng không phải trả một giá quá cao như Việt Nam. Cái giá của chiến thắng 1954 lại càng đắt hơn nữa vì kết quả là đất nước bị chia đôi, nhân dân vẫn không được tự do, no ấm, nhất là phải chịu thêm một trận chiến khác lâu dài và khốc liệt hơn nhiều.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Quân sự, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước, Điểm sách | 19 phản hồi »

1610. Anh S., bạn tôi

Posted by adminbasam on 13/02/2013

Đôi lời: Nhà văn Nguyên Ngọc vừa gửi tới bài viết từ 7 năm trước, nhưng vẫn còn tính thời sự, nhân đọc bài 1606. Từ Hiệp định Paris đến “Bên Thắng Cuộc” (Diễn đàn/ BS) của GS Nguyễn Ngọc Giao. Ông đánh giá bài viết “rất đàng hoàng, rõ ràng, chặt chẽ, đúng mức và cần thiết để hiểu đúng bản chất của sự thật lịch sử, từ đó mà có suy nghĩ và hành động đúng”. Tuy nhiên, ông đã rất bức xúc khi đọc một số phản hồi chỉ trích bài viết đó và cá nhân GS Nguyễn Ngọc Giao.

Không phải chỉ nhà văn Nguyên Ngọc có tâm trạng này, mà một số trí thức khác cũng có cảm giác tương tự. Có điều, dường như họ chưa hiểu lắm về … Internet, nơi mà có những đề tài chỉ lôi cuốn nhiều những người đầy thù hận không sao quên được, cùng lẫn lộn những “dư luận viên” của tuyên giáo trà trộn trong đó tham gia bình luận. Trong số độc giả trên dưới 100.000 lượt truy cập vào trang Ba Sàm mỗi ngày, họ chỉ là con số rất nhỏ nhoi, tiếng nói yếu ớt; những phản hồi thiếu lịch sự cũng có tác dụng tốt cho độc giả hiểu thực trạng xã hội và tập cọ sát với mọi thái độ khác nhau từ công luận.

Nhưng ngược lại, những người bị chỉ trích, dù là lối chỉ trích thiếu văn hóa đi nữa, cũng cần ít nhiều tự xem lại mình, rằng mình đã thực sự hoặc có được bao nhiêu sự “lột xác”, “sám hối”, đã “tỉnh” hẳn chưa, nếu như từng một thời mê muội, tiếp tay cho những quyết định sai lầm đem lại hậu quả to lớn cho cả Dân tộc. Họ cần học những tấm gương, trong đó ít nhất, theo thiển ý của chúng tôi, có Nhà văn Dương Thu Hương.

Anh S., bạn tôi

Nguyên Ngọc

Tôi quen anh S. rất tình cờ, nhưng rồi về sau, khi đã thân, chúng tôi thường cười nói với nhau: Chẳng ngẫu nhiên hoàn toàn đâu, có duyên trời cả đấy. “Trời” đây là cuộc thế mấy mươi năm nay của đất nước ta, với bao nhiêu uẩn khúc trầm luân, đưa con người đi theo những con đường chẳng ai ngờ trước, tạo nên trong số phận từng người nhiều bi kịch, mà lắm khi may mắn cũng nhiều.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chiến tranh VN, Dân chủ/Nhân Quyền, Gia đình/Xã hội, Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài | 146 phản hồi »

1608. Ảo tưởng, ảo tưởng, rặt ảo tưởng … dzưng mà rất cần!

Posted by adminbasam on 12/02/2013

Ảo tưởng, ảo tưởng, rặt ảo tưởng … dzưng mà rất cần!

Phạm Toàn

Đôi lời thủng thẳng

Hôm qua mồng một Tết. Tôi dậy sớm, ăn qua loa mấy miếng, rồi đón taxi về quê thăm mộ ông bà cha mẹ (không thăm được bà ngoại, vì bà nghỉ ở nghĩa trang Quán Dền ở khu Nhân Chính), lễ tổ, rồi phong bao bác Cả 95 tuổi, phong bao em dâu 75 tuổi và hai đứa cháu, vèo một cái đã hết non nửa tháng lương hưu, đành bấm bụng xa quê, lại đón taxi ra ngay Hà Nội, xét về động cơ thầm kín, không hiểu là nhằm tránh các cuộc gặp gỡ đầu năm gây biết bao sợ hãi, hay là thực lòng muốn về nhanh để tranh thủ làm việc, nghỉ Tết nửa ngày đã quá đủ rồi!

Đọc tiếp »

Đăng trong Chiến tranh VN, Lịch sử, Đảng/Nhà nước | 63 phản hồi »

VIỆT NAM 1945-1995 – Chương 4: Hội nghị Genève và Hai Nước Việt Nam

Posted by adminbasam on 11/02/2013

PHN HAI: Chiến tranh Chống Pháp và Tị nạn 1954

Chương 4: Hội nghị Genève và Hai Nước Việt Nam

GS Lê Xuân Khoa

“… kết quả của hội nghị Genève chỉ là những bản thỏa hiệp về ngưng bắn ở ba nước Đông Dương đúng với sự mong muốn của Pháp. Cam-bốt và Lào trở thành những quốc gia trung lập và bộ đội Việt Minh phải rút hết về nước. Riêng Việt Nam bị cắt làm đôi dưới hai chính thể hoàn toàn đối lập để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh khác còn lâu dài và khốc liệt nhiều hơn nữa. Việc đảng Cộng sản Việt Nam phải nhờ cậy sự giúp đỡ của Trung Quốc trong cuộc chiến chống Pháp cũng tạo thành một món nợ lớn khiến cho cả nước bị mắc kẹt trong lâu dài và phải trả bằng những giá quá đắt, từ việc phải rập khuôn mô hình cải cách ruộng đất “long trời lở đất”, “chỉnh huấn trí thức” và “trăm hoa đua nở” trong thập kỷ 1950. Hơn tám năm chiến tranh đã làm cho miền Bắc phải chịu những thiệt hại to lớn về nhân mạng, tài sản và lợi ích dân tộc để chỉ đạt được một thắng lợi hạn chế do sự ép buộc của chính đồng minh của mình. Tiếp đến cuộc chiến hai mươi năm tại miền Nam, Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam còn phải mắc nợ Trung Quốc nhiều hơn nữa”.

GS Lê Xuân Khoa

Hai tháng rưỡi sau khi Pháp bị đánh bại trên chiến trường Điện Biên Phủ, hiệp ước đình chiến Việt-Pháp được ký kết tại Genève ngày 21 tháng Bảy 1954, với sự tham dự của hai nước đồng chủ tịch là Anh quốc và Liên Xô, cùng với Pháp, Trung Quốc, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), Cam-bốt và Lào. Hai nước hiện diện trong hội nghị nhưng không tự nhận là tham dự viên chính thức là Quốc Gia Việt Nam (QGVN)1 và Hoa Kỳ. Trong bản thỏa hiệp đình chiến Việt- Pháp và bản Tuyên cáo của hội nghị, quan trọng nhất là những điều khoản chia cắt nước Việt Nam thành hai miền Nam, Bắc với “lần ranh quân sự tạm thờilà vĩ tuyến 17, và dự trù tổ chức tổng tuyển cử trong vòng hai năm về vấn đề thống nhất đất nước. Bản thỏa hiệp cũng qui định việc Quân đội Liên Hiệp Pháp rút khỏi miền Bắc và Quân đội Nhân dân Việt Nam rút khỏi miền Nam trong vòng 300 ngày, và trong thời gian đó dân chúng hai miền được tự do đi lại và chọn lựa nơi cư trú. Kết quả là ngót một triệu dân miền Bắc đã rời bỏ sự nghiệp và tài sản của mình để vào Nam xây dựng lại cuộc đời dưới chính thể quốc gia.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Hồ Chí Minh, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước, Điểm sách | 11 phản hồi »

1606. Từ Hiệp định Paris đến “Bên Thắng Cuộc”

Posted by adminbasam on 10/02/2013

Diễn đàn

Từ Hiệp định Paris đến “Bên Thắng Cuộc”

Và cứ như thế, mấy thế hệ liên tiếp đã phải ăn cháo lú lịch sử, không biết gì về những trang sử kì vĩ và đầy đau thương của dân tộc mình, những trang sử đã góp phần thúc đẩy dòng chảy của lịch sử nhân loại thế kỉ XX

Nguyễn Ngọc Giao *

Hiệp định Paris “về kết thúc chiến tranh và lập lại hòa bình tại Việt Nam” đã được kí kết ngày 27 tháng giêng năm 1973 tại đại sảnh đường Trung tâm Quốc tế Hội nghị ở đại lộ Kléber. Cách Khải hoàn môn vài trăm mét, tòa nhà này thường được người dân Paris gọi bằng cái tên lịch sử là Hôtel Majestic. Trong Thế chiến lần thứ hai, nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, Khách sạn Majestic trở thành trụ sở của bộ tư lệnh quân đội Đức quốc xã. Sau ngày giải phóng, Bộ ngoại giao Pháp sử dụng cơ ngơi này làm trung tâm hội nghị quốc tế. Trong gần năm năm trời, từ ngày 13.5.1968 đến ngày 27.1.1973, hội trường là nơi diễn ra cuộc thương lượng chính thức giữa Việt Nam và Mĩ. Hơn một tháng sau ngày kí kết Hiệp định Paris, Khách sạn Majestic cũng là nơi họp Hội nghị quốc tế về Việt Nam với sự tham gia của tổng thư kí Liên Hợp Quốc Kurt Waldheim và phái đoàn đại diện của 12 chính phủ (4 bên tham gia Hội nghị Paris : Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hoa Kì, Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời CHMNVN, Việt Nam Cộng Hòa ; 4 đại cường thành viên thường trực Hội đồng bảo an LHQ : Pháp, Anh, Liên Xô, Trung Quốc ; 4 nước thành viên Ủy ban giám sát quốc tế : Ba Lan, Canada, Hungary, Indonesia). Gần 20 năm sau, đây cũng là nơi diễn ra Hội nghị quốc tế về Campuchia (1991).

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN | 65 phản hồi »

VIỆT NAM 1945-1995 – Chương 3: Chính sách Cải cách Ruộng đất

Posted by adminbasam on 08/02/2013

Chương 3: Chính sách Cải cách Ruộng đất

GS Lê Xuân Khoa

Ông Hoàng Quốc Việt kể lại rằng hồi ấy, ông chạy về trung ương, báo cáo việc hệ trọng này với ông Hồ Chí Minh. Ông Hồ chăm chú nghe rồi phát biểu: “Không ổn! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ và lại là người từng nuôi cán bộ cộng sản và là mẹ một Chính ủy trung đoàn Quân đội Nhân dân đang tại chức.” Ông hẹn sẽ can thiệp, sẽ nói ông Trường Chinh về chuyện hệ trọng và cấp bách này!

Thế nhưng không có gì động đậy theo hướng đó cả! Bởi vì người ta mượn cớ là đã quá chậm. Các phóng viên hạ phóng tham gia cải cách đã viết sẵn bài tố cáo, lên án, kết tội bà Năm rồi. Lập luận của “những phái viên đặc biệt của Mao Chủ tịch” là: “Việc con mụ Năm đã làm chỉ là giả dối, nhằm chui sâu, leo cao vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại. Bản chất của giai cấp địa chủ là rất ngoan cố, xảo quyệt, tàn bạo, chúng không từ một thủ đoạn nào để chống phá cách mạng. Nông dân phải luôn luôn sáng suốt, nhận rõ kẻ thù của mình, dù chúng dở thủ đoạn nào.”

Tôi hỏi ông Hoàng Quốc Việt vậy thì ông nghĩ sao về câu chuyện này? Lúc ấy là năm 1987, đã có “đổi mới”, “nói thẳng và nói thật”. Ông nói: “Đến bác Hồ biết là không đúng cũng không dám nói với họ!”15

…..

Bài học về những sai lầm trong quá khứ không những chỉ giúp tránh lặp lại những sai lầm tương tự trong tương lai mà còn giúp cho việc xác định đúng hướng đi và thiết lập được những chính sách có hiệu lực trong công cuộc phát triển đất nước và bảo vệ tinh thần độc lập của dân tộc, nhất là trước nỗi đe dọa thường trực của đầu óc bá quyền Trung Quốc.

Đây là nguyên nhân thứ ba và cũng là nguyên nhân trực tiếp gây nên cuộc di cư ào ạt vào Nam của ngót một triệu dân miền Bắc. Mặc dù theo hiệp định Genève 1954, việc chia đôi đất nước chỉ là tạm thời và một cuộc tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng Bảy 1956 để cho nhân dân hai miền bỏ phiếu về vấn đề thống nhất đất nước,1 gần một triệu người đã quyết định từ bỏ nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên, công việc làm ăn và bà con bạn bè để dấn thân vào một cuộc phiêu lưu không có gì đảm bảo cho tương lai, chỉ vì muốn có một đời sống tự do hơn. Số người ra đi đáng lẽ đã không nhiều nếu Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) cứ tập trung nỗ lực vào công cuộc kháng chiến và khoan thi hành chính sách cải cách ruộng đất cùng phong trào chỉnh huấn nhằm thanh lọc hàng ngũ cán bộ và trí thức. Những biện pháp này bắt đầu được áp dụng lẻ tẻ từ sau Cách Mạng tháng Tám 1945 và, sau nhiều lần điều chỉnh bổ sung, được chính thức thi hành từng bước từ 1953 cho đến 1955 mới trở thành toàn diện và triệt để. Vì có nhiều sai lầm tai hại, chiến dịch cải cách ruộng đất phải chấm dứt vào tháng Bảy 1956.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | 27 phản hồi »

Việt Nam 1945-1995 – Chương 2: Những Yếu Tố Bên Ngoài

Posted by adminbasam on 05/02/2013

Chương 2: Những Yếu Tố Bên Ngoài

GS Lê Xuân Khoa

Trong trường hợp Việt Nam, câu hỏi căn bản là: Liệu Hoa Kỳ có nên đáp ứng lời kêu gọi của Hồ Chí Minh và giúp cho Việt Minh thỏa hiệp được với Pháp hay không? (chẳng hạn thực thi hiệp định sơ bộ 6 tháng Ba 1946).

Nếu câu trả lời là ‘có’ thì chuyện gì sẽ xảy ra cho chính phủ liên hiệp bất đắc dĩ lúc bấy giờ, nhất là khi các đảng phái quốc gia đã bị chính phủ Trùng Khánh bỏ rơi? Hồ Chí Minh, cũng như tất cả những người làm cách mạng chống Pháp, là một người yêu nước nhưng ông cũng chỉ tin tưởng ở chủ nghĩa cộng sản. Như vậy làm sao có hòa bình và ổn định giữa người Việt Nam với nhau, và giữa Việt Minh với Hoa Kỳ ? Giả thử Hồ Chí Minh thật tình ưa thích Hoa Kỳ vì lý tưởng tự do dân chủ và chủ trương của nước này giúp cho các nước nhỏ yếu được độc lập như ông đã bày tỏ nhiều lần58, liệu ông có thể tự do đi với Mÿ, từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, bất chấp Liên Xô và Trung Quốc?” -  Lê Xuân Khoa

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc, Điểm sách | 12 phản hồi »

1589. Hai bài viết về Bên Thắng Cuộc của một nhà báo “tự do” và một “không tự do”

Posted by adminbasam on 02/02/2013

pro&contra

Đọc “Bên thắng cuộc” để tìm sự đồng thuận cho hiện tại và tương lai

Tiêu Dao Bảo Cự

01-02-1013

Cuốn sách Bên thắng cuộc của tác giả Huy Đức vừa mới ra đời đã tạo thành một hiện tượng, nhiều người tìm đọc, giới thiệu cho nhau, ngợi ca và phê phán. Một cơn sốt trong dư luận như thế này là điều hiếm có từ một cuốn sách khá khô khan.

Về bản thân cuốn sách Bên thắng cuộc

Nội dung của Bên thắng cuộc không phải là vấn đề mới. Lịch sử Việt Nam sau 1975, ai đã từng trưởng thành trong giai đoạn này mà không sống trải, chiêm nghiệm hay nghe, biết ít nhiều về những gì đang trào sôi trên đất nước và ảnh hưởng đến từng số phận con người. Cái mới ở chỗ tác giả đã tập trung vào một số chủ đề nổi cộm với cách trình bày sáng sủa, đầy ắp tư liệu để cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng thể, sinh động và liên tục.

Có người nói cuốn sách không trình bày được toàn bộ sự thật về giai đoạn lịch sử này. Điều ấy tất nhiên và đòi hỏi đó là một yêu cầu vô lý. Ai, cuốn sách nào có thể trình bày được như thế? Không ai cả, nếu không phải là hàng trăm cuốn sách và một độ lùi lịch sử vài ba chục năm nếu tình hình thuận lợi, không còn độc đảng toàn trị, độc quyền viết lịch sử.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Dân chủ/Nhân Quyền, Đảng/Nhà nước, Điểm sách | 52 phản hồi »

Việt Nam 1945-1995 – Chương 1: Quốc gia và Cộng sản

Posted by adminbasam on 02/02/2013

Phần 1: Những Nguyên Nhân Gốc của Tị Nạn

Chương 1: Quốc gia và Cộng sản

GS Lê Xuân Khoa

Ưu điểm lớn nhất của Việt Minh là khả năng tuyên truyền vận động quần chúng.53 Việt Minh đã khéo che dấu được lai lịch cộng sản dưới hình thức một mặt trận đoàn kết toàn dân với mục tiêu duy nhất là chống Pháp để đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc. Nhờ có thành tích chống cả Pháp lẫn Nhật, nhất là biết khai thác tối đa các quan hệ hợp tác với OSS, chủ thuyết Roosevelt và triển vọng hỗ trợ của Hoa Kỳ, Việt Minh đã dễ dàng đem lại cho mọi người niềm tin tưởng là có sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Đó cũng là một trong những lý do khiến chính phủ Trần Trọng Kim không dám chống lại Việt Minh và vua Bảo Đại sẵn sàng thoái vị.

Lịch sử Việt Nam vào nửa sau của thế kỷ XX là lịch sử của đất nước bị chia đôi và bốn cuộc chiến tranh trước và sau sự chia cắt ấy. Cuộc chiến thứ nhất là kháng chiến chống Pháp và chống Quốc Gia Việt Nam do Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (tức Mặt trận Việt Minh) lãnh đạo (1945-1954). Cuộc chiến thứ nhì là nội chiến giữa miền Bắc cộng sản và miền Nam quốc gia (1956-1975) với sự tham gia của hai khối đối đầu trong cuộc Chiến tranh Lạnh: Hoa Kỳ chiến đấu sát cánh với miền Nam, Liên Xô và Trung Quốc hậu thuẫn cho miền Bắc. Hai cuộc chiến tiếp theo xảy ra giữa Việt Nam và hai đồng minh cộng sản: Trung Quốc (tháng Hai 1979) và Cam-pu-chia (1979-1989).

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Hồ Chí Minh, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước, Điểm sách | 15 phản hồi »

LỜI MỞ ĐẦU – “Việt Nam 1945-1995 – Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử”

Posted by adminbasam on 01/02/2013

LỜI MỞ ĐẦU

GS Lê Xuân Khoa

Cuộc chiến hai mươi năm ở Việt Nam vừa là nội chiến vừa là chiến tranh ủy nhiệm mà rốt cuộc là tất cả mọi phe đều thua: Hoa Kỳ chi phí 200 tỉ đô-la và thiệt hại trên 58,000 binh sĩ nhưng vẫn phải chịu thất bại và bỏ cuộc; Việt Nam Cộng Hòa chết hơn một trăm ngàn quân và gần nửa triệu dân để rồi bị Hoa Kỳ bỏ rơi và sụp đổ thảm thương; Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam toàn thắng nhưng đã phải trả giá bằng hơn một triệu sinh mạng bộ đội và cán bộ tại chiến trường miền Nam và khoảng hai triệu thường dân ở miền Bắc,[3] nhất là sau đó còn phải chiến đấu với hai cựu đồng minh và nhận lãnh những hậu quả tai hại khiến cho đất nước bị lâm vào tình trạng tụt hậu và nghèo đói trong mười mấy năm liền do chính sách sai lầm về cả hai mặt đối nội lẫn đối ngoại“.

Lịch sử Việt Nam trong hơn nửa sau thế kỷ XX là lịch sử của chiến tranh, tị nạn và những biến đổi lớn về chính trị ở trong nước. Bắt đầu là cuộc xâm nhập Đông Dương của đế quốc Nhật Bản vào tháng Chín 1940 bắt buộc Pháp phải nhường Đông Dương cho Nhật làm căn cứ quân sự nhưng Pháp vẫn được tiếp tục cai trị về hành chánh. Sau khi Nhật tuyên chiến với Hoa Kỳ bằng cuộc tấn công Trân Châu Cảng tháng Mười Hai 1941, toàn cõi Việt Nam bắt đầu phải chịu sự oanh tạc của không lực Hoa Kỳ nhắm vào các căn cứ quân sự và các tuyến đường giao thông vận tải của Nhật. Không có số thống kê về các nạn nhân Việt Nam của những vụ oanh tạc này nhưng con số thương vong của thường dân vô tội trong hơn ba năm trời nhất định không phải là nhỏ. Trong khi đó, nhân dân Việt Nam phải tiếp tục chịu ách thống trị “một cổ hai tròng” cho tới tháng Ba 1945 khi Nhật lật đổ chính quyền thực dân Pháp, trao trả “độc lập” cho Việt Nam nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát về an ninh, quân sự và ngoại giao. Tháng Tám 1945, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Mặt trận Việt Minh giành được chính quyền và thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, đất nước lại lâm vào hai trận chiến thảm khốc trong thời gian ba mươi năm (1945-1975), trừ vài năm chuyển tiếp sau khi đất nước bị chia đôi năm 1954.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Việt, Trung Quốc, Điểm sách | Leave a Comment »

LỜI MỞ ĐẦU – “Việt Nam 1945-1995 – Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử”

Posted by adminbasam on 01/02/2013

LỜI MỞ ĐẦU

GS Lê Xuân Khoa

Cuộc chiến hai mươi năm ở Việt Nam vừa là nội chiến vừa là chiến tranh ủy nhiệm mà rốt cuộc là tất cả mọi phe đều thua: Hoa Kỳ chi phí 200 tỉ đô-la và thiệt hại trên 58,000 binh sĩ nhưng vẫn phải chịu thất bại và bỏ cuộc; Việt Nam Cộng Hòa chết hơn một trăm ngàn quân và gần nửa triệu dân để rồi bị Hoa Kỳ bỏ rơi và sụp đổ thảm thương; Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam toàn thắng nhưng đã phải trả giá bằng hơn một triệu sinh mạng bộ đội và cán bộ tại chiến trường miền Nam và khoảng hai triệu thường dân ở miền Bắc,[3] nhất là sau đó còn phải chiến đấu với hai cựu đồng minh và nhận lãnh những hậu quả tai hại khiến cho đất nước bị lâm vào tình trạng tụt hậu và nghèo đói trong mười mấy năm liền do chính sách sai lầm về cả hai mặt đối nội lẫn đối ngoại“.

Lịch sử Việt Nam trong hơn nửa sau thế kỷ XX là lịch sử của chiến tranh, tị nạn và những biến đổi lớn về chính trị ở trong nước. Bắt đầu là cuộc xâm nhập Đông Dương của đế quốc Nhật Bản vào tháng Chín 1940 bắt buộc Pháp phải nhường Đông Dương cho Nhật làm căn cứ quân sự nhưng Pháp vẫn được tiếp tục cai trị về hành chánh. Sau khi Nhật tuyên chiến với Hoa Kỳ bằng cuộc tấn công Trân Châu Cảng tháng Mười Hai 1941, toàn cõi Việt Nam bắt đầu phải chịu sự oanh tạc của không lực Hoa Kỳ nhắm vào các căn cứ quân sự và các tuyến đường giao thông vận tải của Nhật. Không có số thống kê về các nạn nhân Việt Nam của những vụ oanh tạc này nhưng con số thương vong của thường dân vô tội trong hơn ba năm trời nhất định không phải là nhỏ. Trong khi đó, nhân dân Việt Nam phải tiếp tục chịu ách thống trị “một cổ hai tròng” cho tới tháng Ba 1945 khi Nhật lật đổ chính quyền thực dân Pháp, trao trả “độc lập” cho Việt Nam nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát về an ninh, quân sự và ngoại giao. Tháng Tám 1945, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Mặt trận Việt Minh giành được chính quyền và thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, đất nước lại lâm vào hai trận chiến thảm khốc trong thời gian ba mươi năm (1945-1975), trừ vài năm chuyển tiếp sau khi đất nước bị chia đôi năm 1954.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Hồ Chí Minh, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước, Điểm sách | 23 phản hồi »

Giới thiệu và Mục lục sách: Việt Nam 1945-1995 – Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử

Posted by adminbasam on 31/01/2013

Blog Ba Sàm

31-01-2013

Gần đây, có hai sự kiện khiến dư luận sôi nổi: Đó là bộ sách “Bên Thắng Cuộc” với hai tập của nhà báo Huy Đức, tức blogger Osin, và việc kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris 1973. Những tranh cãi quanh vấn đề “quốc-cộng”, ôn lại các sự kiện đã qua sẽ chỉ có ý nghĩa nếu chúng ta rút ra được những bài học và kinh nghiệm cần thiết cho tương lai của đất nước và dân tộc.

Vào năm 2005, đã từng xảy ra một cuộc tranh cãi tương tự, sau khi Giáo sư Lê Xuân Khoa (*) có bài viết về tên gọi cuộc chiến đăng trên trang web của BBC. Bài này bị Biên Tập viên Nguyễn Hòa của báo Nhân Dân phản bác rồi trở thành một cuộc tranh luận kéo dài nhiều tháng trên diễn đàn talawas với sự tham gia của nhiều độc giả ở trong và ngoài nước. Về sau, ông Nguyễn Hoà ngưng bút chiến, khi một cựu chiến binh Quân đội Nhân dân Việt Nam lên tiếng phản bác ông qua bài Gửi Nguyễn Hoà, người đồng đội.

Nhìn chung, gần 40 năm sau khi đất nước thống nhất, những người lãnh đạo Cộng hòa XHCN Việt Nam, hay “Bên Thắng Cuộc” theo cách gọi của nhà báo Huy Đức, vẫn không đếm xỉa gì tới những bài học lịch sử vì tin là “đã đánh thắng Mỹ thì chuyện gì cũng làm được”. Chưa kể do thiếu kiến thức mà lại không chiụ nghe trí thức, chỉ thực thi một số giáo điều, họ trở thành thiển cận trước những xu hướng và tương quan chính trị, kinh tế toàn cầu. Hậu quả là đất nước không hoàn toàn độc lập và toàn vẹn về chủ quyền, nhân dân thì bị tước đoạt các quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Nếu bên trong, tham nhũng đã trở thành quốc nạn hết thuốc chữa thì bên ngoài, sự lệ thuộc vào Trung Quốc càng ngày càng rõ. Trách nhiệm đối với vận mạng của đất nước nay lại trở thành vấn đề khẩn thiết đối với trí thức và người dân Việt Nam.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử | Leave a Comment »

1544. Quyền Bính: 13-1-13

Posted by adminbasam on 11/01/2013

FB Osin Huy Đức

Quyền Bính: 13-1-13

Huy Đức

11-01-2013

Tôi rời Campuchia trước khi Việt Nam rút hết “Quân tình nguyện”. Khi học ở trường chuyên gia quân sự 481, chúng tôi được chuẩn bị tư tưởng để “giúp bạn lâu dài”. Nhưng thay vì ở lại hàng thập niên, tôi chỉ phải ở lại Campuchia gần bốn năm. Tôi quyết định rời quân đội. Một cá nhân cũng như một quốc gia, súng ống chỉ nên được lựa chọn khi không còn con đường nào khác.

Cuối năm 1987, tôi bắt đầu làm việc ở Văn phòng huyện ủy Nhà Bè. Thời gian ấy, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đang viết “Những việc cần làm ngay”. Công việc ở Văn phòng huyện ủy thật an nhàn, tôi đã sử dụng phần lớn thời gian để viết văn và viết bài cho các báo. Sau khi đọc những bài báo ấy, Bí thư huyện ủy Trần Văn Đông giao cho tôi phụ trách biên tập tờ tin và đài truyền thanh huyện Nhà Bè. Chỉ mấy tháng sau, tôi được nhà văn Nguyễn Đông Thức đưa về Tuổi Trẻ.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Đảng/Nhà nước | 38 phản hồi »

1528. Vài suy nghĩ về “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức

Posted by adminbasam on 04/01/2013

Sống Magazine

Vài suy nghĩ về “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức

Vũ Ánh

03-01-2013

Vài dòng về tác giả: Tên thật là Vũ Ánh, sinh năm 1941, còn có bút hiệu khác là Vũ Huy Thục. Trước năm 1975, từ 1964 phục vụ tại Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia đến sáng ngày 30-4-1975, với các chức vụ: phóng viên mặt trận 7 năm, rồi trưởng phòng Bình Luận, Chánh Sự Vụ Sở Thời sự Quốc tế và Quốc nội cho đến 10 giờ sáng 30-4-1975. Ngoài ra, tác giả còn cộng tác với các nhật báo Dân Ý, Báo Đen và Sóng Thần vào những năm chiến tranh.

Sau 30-4-1975, đi tù cải tạo dưới chế độ Cộng sản 13 năm, trong thời gian này bị nằm “chuồng cọp” mất 5 năm liên tiếp vì chống lại chế độ lao tù và ấn hành tờ Hợp Đoàn (báo chui trong trại giam). Được thả về gia đình với 5 năm quản chế, mưu sinh bằng lao động chân tay cho đến khi được định cư ở Mỹ theo diện HO năm 1992.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung | 187 phản hồi »

 
%d bloggers like this: