BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Bô-xít Tây Nguyên’ Category

Khai thác bauxite có hại vĩnh viễn hơn là có lợi cho VN

Posted by adminbasam on 17/03/2009

ASIA TIME

Kế hoạch bauxite của Việt Nam mở ra một bể quan ngại

Duy Hoàng

Ngày 17-3-2009

Một trong những vùng cây cối xanh tươi nhất trên đất nước Việt Nam phải đối diện với sự thiệt hại khốc liệt về sinh thái nếu như chính phủ nước này tiến tới những kế hoạch trị giá hàng tỉ đô la để khai thác và chế biến bô- xít (bauxite quặng nhôm).

Mối nguy hiểm mà người ta tiên đoán trước đã châm ngòi cho sự phản đối công khai hiếm có trong xã hội bị chính phủ kiểm soát, với các công dân, các nhà khoa học, phương tiện truyền thông, các blogger và thậm chí cả các sĩ quan quân đội đang đưa ra những ý kiến phản đối mạnh mẽ.

Mặc dù không được phối hợp một cách hiển nhiên, quan điểm bất đồng chung của họ là một phần của hoạt động môi trường ở Việt Nam đang bắt đầu nảy nở, đáng chú ý với việc thách thức uy quyền không bị tranh cãi theo truyền thống của nhà nước trong việc thi hành những dự án phát triển kinh tế có quy mô lớn.

Trong những tháng gần đây, một số nhà khoa học trong nước đã viết những bài báo có nghiên cứu kỹ lưỡng, một số đã được công bố trên phương tiện truyền thông bị nhà nước kiểm soát, phơi bày những yếu kém trong các kế hoạch khai thác hầm mỏ của chính phủ. Một trang thông tin trong nước bị nhà nước kiểm soát, trang vietnamweek.net, đã đưa lên trang đầu ý kiến khảo sát vấn đề này, trong khi các blogger đã cung cấp thậm chí còn nhiều hơn nữa những bài phân tích phản đối .

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gọi việc khai thác bauxite này là “một chính sách lớn của đảng và nhà nước”, và ông đã chấp thuận vài dự án khai thác lớn trên vùng cao nguyên trung phần. Kế hoạch tổng thể của chính phủ kêu gọi những nguồn vốn đầu tư vào khoảng 15 tỉ đô la cho tới năm 2025 để khai thác những nguồn dự trữ bauxite dồi dào của Việt Nam, ước tính lớn thứ ba trên thế giới.

Trong thập kỷ qua, sự trỗi dậy của Việt Nam như là một nước xuất khẩu nông sản bắt đầu phần lớn từ việc trồng cà phê và các vụ mùa thu hoạch nông sản khác trong vùng cao nguyên phì nhiêu ở miền trung. Đó là một vùng có vẻ đẹp tuyệt vời với tiềm năng du lịch-kinh tế dồi dào. Vì vậy nhiều người Việt Nam đang có nghi vấn về cơ sở kinh tế hợp lý và sự suy xét đúng đắn đối với môi trường trong việc chuyển đổi những gì được coi là một vùng kinh tế đã mang lại hiệu quả trở thành một hầm mỏ lộ thiên sâu hoắm.

Bauxite được biến đổi thông qua một quá trình chuyển hóa độc hại thành chất alumina, nguyên liệu thô dùng cho việc chế biến nhôm. Được biết đến bởi các nhà khoa học về môi trường như là “chất bùn đỏ,” một sản phẩm phế thải, nếu như không được quản lý một cách đúng đắn, bùn đỏ ấy có thể gây ô nhiễm các nguồn cung cấp nước và giết chết toàn bộ cây cối thực vật. Cứ mỗi tấn alumina được sản xuất ra, sẽ có ba tấn bùn đỏ được sinh ra, theo phân tích của các chuyên gia quốc tế.

Nước Úc, một nhà sản xuất nhôm hàng đầu thế giới, đang xử lý vấn nạn nầy qua việc thải loại bùn đỏ ở nước họ vào  những vùng xa xôi hẻo lánh ít có mưa, như vậy sẽ làm giảm nhẹ nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nước. Ở Việt Nam, nơi có một khí hậu rất ẩm ướt và đông dân cư, không có điều kiện thừa mứa xa xỉ của những vùng đất rộng lớn không sử dụng đến (nên không thể làm như Úc được).

Việt Nam cũng không được mọi người thừa nhận về chuyên môn trong việc quản lý nguồn rác thải công nghiệp đầy nguy hiểm. Phong trào bảo vệ môi trường đang nổi lên ở Việt Nam lo ngại rằng chất cặn bã độc hại từ việc xử lý bô-xít có thể sẽ rỉ xuống các sông ngòi, chảy vào những vùng đông đúc dân cư, bao gồm Châu thổ sông Mekong ở phía nam nước này.

Để có thể sống còn về phương diện thương mại, việc chế biến bô xít (quặng nhôm) luôn luôn đòi hỏi điều kiện giá điện rẻ. Bởi vì Việt Nam đang đối diện với tình trạng thiếu thốn điện năng ngày càng gia tăng, ý nghĩa kinh tế trong việc khai thác bauxite và nguồn xuất khẩu với lợi nhuận thấp của nó là đáng nghi ngại và sẽ có khả năng phải đòi hỏi những khoản trợ cấp lớn của nhà nước chỉ để bù đắp cho những chi phí này.

Chính phủ đã loan báo những kế hoạch xây dựng một tuyến đường sắt dài 250 km ra tới bờ biển Thái Bình Dương dành riêng cho việc vận chuyển nhôm (alumina) được chế biến. Ở đó có một bến cảng lúc này vẫn chưa được xây dựng sẽ được thiết lập chỉ để dành riêng cho những dự án khai thác bauxite.


Raw Bauxite, Alumina, Cement Grade

Hình của bô xít alumina dùng để làm ra xi măng. Alumina là một aluminum oxide (Al2O3). Từ loại vật liệu alumina ròng nầy, người ta chế ra nhôm và xi măng. gạch làm bằng nhôm, keo nhôm, vỏ của các chiến hạm, hàng không mẫu hạm, máy bay,

Những kế hoạch đó cũng đã nhấn mạnh thêm những mối quan ngại về môi trường rằng các kế hoạch xuất khẩu alumina của chính phủ thể hiện là một mưu đồ kém cỏi sinh ra và được lên kế hoạch một cách đơn giản nhằm mục đích dành quyền lợi cho nền công nghiệp hóa quốc doanh do nhà nước làm chủ đạo.

Những người chỉ trích khác đã đặt nghi vấn rằng liệu có phải những quan chức thân cận với Thủ tướng Dũng và Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải có những cổ phần được chia chác riêng trong những mối liên doanh quá tốn kém này hay không.

Yếu tố Trung Quốc

Ngoài ra cũng có một yếu tố quan trọng mang tính chiến lược nhạy cảm đối với những liên doanh này. Mối quan tâm và hợp tác của Trung Quốc trong ngành công nghiệp bauxite của Việt Nam đã được thiết lập thông qua một bản tuyên bố chung được công bố sau một cuộc họp vào cuối tháng Sáu [năm 2008] giữa tổng bí thư Đảng Cộng sản [Việt Nam] và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào.

Trong những thỏa thuận tiếp theo sau đó giữa Liên Hiệp các xí nghiệp Nhôm Trung Quốc và Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam, sự việc đã trở nên rõ ràng rằng Trung Quốc sẽ là thị trường chủ yếu cho các sản phẩm xuất khẩu alumina của Việt Nam.

Như một phần trong các kế hoạch sắp xếp đó, hàng ngàn công nhân Trung Quốc đang được trú đóng vĩnh viễn tại Việt Nam để trợ giúp cho quá trình sản xuất, theo các giới chức địa phương Việt Nam cho biết.

Theo một chuyến hành trình tìm hiểu thực tế gần đây tới tỉnh Lâm Đồng được tổ chức bởi đảng Việt Tân thiên về ủng hộ nền dân chủ, các công nhân Trung Quốc đang xuất hiện với số lượng ngày càng đông đảo trên vùng đất cao nguyên trung phần.

Các bức ảnh có được bởi Việt Tân cho thấy những dãy nhà cửa mới được xây dựng giành cho công nhân Trung Quốc và những quán ăn bên đường với những biển hiệu viết bằng chữ Trung Quốc.

Các blogger Việt Nam, với nhiều lời phê phán sự xâm lấn của Trung Quốc vào các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và những am hiểu rằng Bắc Kinh đã ép buộc Hà Nội chấp nhận một hiệp định biên giới không công bằng trong năm nay, đã đặt nghi vấn vì sao lại cần đến các công -nhân- khách người Trung Quốc như vậy trong một đất nước với một số lượng người lao động dư thừa và tình trạng thất nghiệp của công nhân ngày càng gia tăng.

Các blogger cũng đã diễn tả những mối quan ngại rằng lực lượng quân sự giả trang thành công nhân và những gián điệp Trung Quốc lén lút có thể đã trà trộn vào số công nhân TQ làm việc ở đây. Trong một bức thư ngỏ vào tháng Một gửi tới bộ chính trị đảng cộng sản, ông Võ Nguyên Giáp, nhà lãnh đạo quân sự cộng sản nổi tiếng và gần đây thường có những phê phán chính phủ, đã lên tiếng báo động về mối đe doạ chiến lược tiềm tàng từ các công nhân Trung Quốc không được kiểm soát này.

Tướng Giáp 97 tuổi nhắc đến vùng cao nguyên trung phần như là cửa ngõ chiến lược vào Việt Nam, nơi mà những cuộc chiến tranh trước đây đã giành được thắng lợi và bị mất đi qua việc giành quyền kiểm soát đối với vùng cao nguyên của khu vực nầy.

Một tháng sau lời cảnh báo của tướng Giáp, bức thư nầy được duy nhất một tờ báo tại Việt Nam bằng lòng đăng tải, một vị tướng hồi hưu thứ hai đã đưa ra một bức thư tương tự kêu gọi ban lãnh đạo đảng hãy xem xét lại việc cho phép một sự hiện diện vĩnh viễn của người Trung Quốc ở miền trung bộ của đất nước này.

Hầu hết người dân tộc thiểu số ở Việt Nam sống trên vùng núi cao miền trung và họ là những người dân có vẻ phù hợp với việc chịu đựng trước gánh nặng chủ yếu của môi trường trong kế hoạch khai thác bauxite của chính phủ. Họ có nguy cơ phải gánh chịu rủi ro mất hết đất đai của mình với chút ít hoặc không có được khoản bồi thường và bị ảnh hưởng bởi rác thải công nghiệp tràn lan không được quản lý sau đó.

Cũng không có gì rõ ràng rằng các công ăn việc làm được sinh ra qua hoạt động khai thác bauxite, thậm chí nếu như các việc làm nầy được giành cho người Việt trong nước hơn là các công nhân Trung Quốc được đưa tới, sẽ đủ để thay thế cho những người bị mất việc làm vì bị bắt buộc loại bỏ những cánh đồng cà phê, chè và hạt điều đang tồn tại trước đó.

Chính từ những kế hoạch được thai nghén vội vã này của chính phủ mà các hoạt động môi trường của Việt Nam và những lời kêu gọi cho sự phát triển lâu dài có khả năng ít ảnh hưởng đến môi trường đang được mọi người nghe thấy.

Ông Duy Hoàng là một nhà lãnh đạo của Việt Tân đóng tại Mỹ, một đảng chính trị ủng hộ dân chủ hoạt động tại Việt Nam nhưng không được thừa nhận.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

*Các bài đọc thêm:

Tập Trung Tất cả các bài và hình ảnh về việc Trung Quốc khai thác bô- xít ở Bảo Lâm, Lâm Đồng, và Đắc Nông của các bloggers để bạn đọc tham khảo.

Vì mục đích tìm hiểu và tham khảo, bạn nào phát hiện những bài viết, hình ảnh về chủ đề bô-xít thì báo tin cho biết nhé. Thanks.

1./ Đông A Thị; SOS Bảo Lâm  (dân chúng địa phương cho biết con em của họ là sinh viên VN, đã được TQ cho học bổng đi du học tiếng Trung ở  TQ từ năm 2005, nay trở về làm cho bô-xit; kèm 9 Hình ảnh công nhân TQ, nhà cửa, hiệu ăn tiếng  TQ)

http://au.blog.360.yahoo.com/blog-Lc2MB8YlaaeYVcyDEREjwVU-?cq=1&p=2325

2./ GTC ; Bô xít Tây Nguyên, 1 dự án không thể dừng ! (2 hình ảnh về sự thay đổi môi trường trước và sau khi khai thác bô-xít; toàn bộ cây cối biến mất; quang cảnh rất kinh hoàng)

http://blog.360.yahoo.com/blog-STaS.dwjfqf6NQiqloFynoRgBuJV0Shbmw–?cq=1&p=50#comments

3./Thiện Giao; Vụ bô-xít: Ai đã quyết định, và ai sẽ phủ quyết?

http://banconong.com/index.php?view=story&subjectid=2032

4./ X- cafe; Dự án “Dội bom nguyên tử” xuống Tây Nguyên! (4 nhân vật VN và TQ liên quan trong vụ Bô-xít. Bài tóm tắt vì sao các nước khai thác chạy qua khai thác bô xít ở VN: vì môi trường bị hủy hoại, nước uống bị ô nhiễm, sinh vật và thực vật biến mất )

http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?p=289345

 

ASIA TIMES

Vietnam bauxite plan opens pit of concern 

By Duy Hoang

Mar 17, 2009

One of Vietnam’s most verdant regions faces severe ecological damage if the government moves ahead with its multi-billion dollar plans to mine and process bauxite. The perceived risk has sparked a rare public outcry in Vietnam’s government-controlled society, with residents, scientists, state media, bloggers and even military officers lodging vocal protests.

Though apparently not coordinated, their collective dissent is part of a budding Vietnamese environmental movement, notable for challenging the state’s traditionally unquestioned authority in implementing large-scale economic development projects.

In recent months, a number of local scientists have written thoroughly researched articles, some published in state-controlled media, exposing weaknesses in the government’s mining plans. A state-sanctioned domestic news site, vietnamweek.net, has been at the forefront of probing the issue, while bloggers have provided even more critical analysis.

Prime Minister Nguyen Tan Dung has called bauxite exploitation “a major policy of the party and the state”, and he has approved several big mining projects for the country’s central highlands. The government’s master plan calls for investments of around US$15 billion by 2025 to tap Vietnam’s rich bauxite reserves, estimated to be the third-largest in the world.

Over the past decade, Vietnam’s rise as an agricultural exporter has come in large part from increased cultivation of coffee and other cash crops in the central highland’s fertile plateau. It is an area of stunning beauty with rich eco-tourism potential. Thus many Vietnamese question the economic rationale and environmental wisdom of converting what is already an economically productive area into an open pit mine.

Bauxite is converted through a toxic process to alumina, the raw material for making aluminum. Known by environmentalists as “red sludge”, the waste product, if not properly managed, can contaminate water supplies and choke off vegetation. For every ton of alumina produced, three tons of red sludge is given off, according to international experts.

Australia, a world leader in aluminum production, addresses the problem by disposing of its red sludge in remote outback areas with little rainfall, thus mitigating the risk of waterway contamination. Vietnam, which has a comparatively wet climate and is densely populated, does not have the luxury of vast tracts of unused land.

Nor is the country recognized for its expertise in managing hazardous industrial waste. Vietnam’s emerging environmental movement fears the toxic residue from processing bauxite could run off into rivers that flow into heavily populated areas, including the Mekong Delta in the country’s southern region.

To be commercially viable, bauxite processing usually requires access to cheap electricity. Because Vietnam faces mounting power shortages, the economics of bauxite mining and its low-margin exports are in doubt and will likely require heavy state subsidies just to cover costs.

The government has already announced plans to build a dedicated rail line to transport the produced alumina 250 kilometers to the Pacific coast. There a yet-to-be-built port will be installed to serve exclusively the bauxite projects.

Those plans, too, have underscored environmental concerns that the government’s alumina export plans are an ill-begotten scheme devised simply for the sake of state-led industrialization. Other critics have questioned whether officials close to Prime Minister Dung and Deputy Prime Minister Hoang Trung Hai have personal stakes in the big-ticket ventures.

China factor
There is also a touchy strategic dimension to the ventures. Chinese interest and cooperation in Vietnam’s bauxite industry was established through a joint statement issued after a meeting last June between Communist Party secretary general Nong Duc Manh and China’s President Hu Jintao. In subsequent agreements between the Aluminum Corporation of China Ltd and state-owned Vietnam Coal and Mining Industry Group, it has become clear that China will be the primary market for Vietnamese alumina exports.

As part of those arrangements, thousands of Chinese workers are to be stationed permanently in Vietnam to assist in the production, according to local Vietnamese authorities. According to a recent fact-finding trip in Lam Dong province organized by the pro-democracy Viet Tan party, Chinese guest workers are appearing in growing numbers in the central highlands. Pictures obtained by Viet Tan show rows of newly constructed housing for Chinese workers and roadside restaurants with signs in the Chinese language.

Vietnamese bloggers, many critical of China’s encroachment on the Paracel and Spratly Islands and perceptions that Beijing bullied Hanoi into accepting an inequitable border treaty this year, have questioned why Chinese guest workers are required in a country with a labor surplus and growing unemployment.

Bloggers have also expressed concerns that undercover Chinese military and intelligence agents could mix in with the workers. Vo Nguyen Giap, the famed communist military leader and later sometimes government critic, sounded the same alarm about the potential strategic threat of unregulated Chinese workers in an open letter in January to communist party’s politburo.

The 97-year-old Giap referred to the central highlands as the strategic gateway to Vietnam, where previous wars have been won and lost through gaining control of the region’s high ground. A month after Giap’s warning, which only one newspaper in Vietnam was willing to publish, a second retired general issued a similar letter calling on the party leadership to reconsider allowing a permanent Chinese presence in the middle of the country.

Most of Vietnam’s ethnic minorities live in the central highlands and they are the people likely to bear the environmental brunt of the government’s bauxite scheme. They risk losing their lands with little or no compensation and subsequent exposure to mismanaged industrial waste.

Nor is it clear that the jobs created by bauxite production, even if they went to local Vietnamese rather than imported Chinese workers, would be enough to replace those lost with the forced elimination of pre-existing coffee, tea and cashew fields. It’s from these ill-conceived government plans that Vietnam’s grassroots environmental movement and calls for more sustainable development are being heard.

Duy Hoang is a US-based leader of Viet Tan, an unsanctioned pro-democracy political party active in Vietnam. 

Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Kinh tế Việt Nam, Môi trường, Quan hệ Việt-Trung | Leave a Comment »

Đầu Tư ở Dung Quất : Lỗ 120 triệu đô mỗi năm

Posted by adminbasam on 15/03/2009

Lời Tựa: Theo dự đoán của nhiều nhà kinh tế trong nước, mỗi năm Dung Quất sẽ bị lỗ khoảng 100- 150 triệu đô la vì đầu tư vào DQ không kiếm đủ tiền để trả lại tiền mượn nợ xây nhà máy lọc dầu. Bên cạnh đó, sản phẩm lọc dầu của Dung Quất sản xuất ra sẽ còn cao hơn giá sản phẩm mua của  Singapore vì dầu sản xuất ngoài khơi chở đến DQ mất 700-800 km, lọc xong thì lên tàu và chở vào Sài Gòn mất 700-800 km. Nếu dầu thô chuyển tới lọc ở Singapora và chở lại Sài gòn thì quãng đường gần hơn, không bị ô nhiễm môi trường ở Quãng  Ngãi, không bị ô nhiễm nước mặn làm ảnh hưởng kỹ nghệ 12 tỉ đô la xuất khẩu cá tôm hải sản.

******************************

Khi Chính Trị Được Xem là Quan Trọng Hơn Những Quyết định Đầu Tư

John Ruwitch

Thông Tấn Xã Reuters

DUNG QUẤT, Việt Nam – Xưởng lọc dầu 3 tỷ đô-la ở Dung Quất, dự án đầu tư lớn nhất của Việt Nam đến nay, là nguồn của rất nhiều điều đối với người mẹ trẻ Trần Thị Yến.

Dự án này đã mang lại nhiều con đường mới dẫn đến đến bờ biển đầy cát, nơi chị Yến, 25 tuổi, sống trong một cuộc khu vực cô lập ở miền Trung Việt Nam.

Dự án nầy cũng đã thu hút được một đội ngũ công nhân từ xa, trong đó có một người, mà chị Yến, một phụ nữ nhỏ bé có nụ cười thân thiện, đã lấy làm chồng. Và một loạt các công trình xây dựng trên xưởng lọc dầu chính thức mở cửa vào tuần trước cũng giúp cho chị Yến một cơ hội kinh doanh tốt để hốt bạc. Năm ngoái, chị đã dựng quán karaoke ở lề đường và đã thu được lợi nhuận.

“Ở đây trước kia chỉ có cát,” chị Yến nói, khi đang bồng đứa bé bụ bẩm bảy tháng tuổi.

Chính phủ Việt Nam có thể xem các trường hợp giống như của chị Yến như là một bằng chứng về quyết định của họ xây dựng xưởng lọc dầu ở đây là sáng suốt, là mang lại cơ hội phát triển kinh tế đến một trong những vùng nghèo nhất của Việt Nam.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia kinh tế và các nhà phân tích chính trị đã chỉ trích dự án lọc dầu này, và đây có lẽ là một ví dụ rõ rệt nhất trong số tất cả các ví dụ về việc chính trị đã can thiệp và xen vào việc đưa ra các quyết định kinh tế tại Việt Nam ra làm sao.

Xưởng lọc dầu Dung Quất, mất 15 năm để xây dựng, đã bị các nhà đầu tư nước ngoài tránh xa vì ( họ cho rằng xưởng nầy) không thể nào có lời về mặt kinh tế bởi vì vị trí của xưởng nằm trong một khu vực cô lập, ở xa các nguồn dự trữ dầu. Cuối cùng, công ty quốc doanh dầu hỏa độc quyền, Petro Vietnam, đã buộc phải một mình bỏ vốn đầu tư.

Jonathan Pincus, Khoa trưởng Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright của Thành phố Hồ Chí Minh nhận xét, “Điều đó chứng tỏ rằng việc đầu tư vào lãnh vực quốc doanh của nhà nước không nhạy bén với những cân nhắc kinh tế.”

Kể từ khi chương trình “Đổi mới” bắt đầu vào năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang tự rút lui một cách chậm chạp ra khỏi sự kiểm soát trực tiếp hoạt động kinh tế. Hàng ngàn doanh nghiệp làm chủ bởi nhà nước đã và đang được “cổ phần hoá”, một chữ thay thế cho chữ “tư hữu hoá”.

(Thực tế trong hơn 20 năm đổi mới ở VN, chỉ có 3% các nhà máy chuyển từ quốc doanh ra cổ phần hay liên doanh giữa tư nhân và nhà nước – theo báo cáo năm 2008 của một nhà kinh tế VN trên tờ báo mạng VNN của chính phủ  VN- Người dịch)

Chính trị có thể vẫn có ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án đầu tư ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào khu vực kinh tế, Melanie Beresford, phó giáo sư tại trường Đại học Macquarie tại Úc nói.

“Họ có một quan điểm chiến lược về các ngành công nghiệp, những ngành nào là chủ yếu dành cho sư phát triển đất nước. Năng lượng rõ ràng là một trong những ngành công nghiệp loại này … cũng như một số trong những ngành công nghiệp cơ bản khác,” bà Beresford cho biết.

Con đường mới được đặt tên là đường Võ Văn Kiệt, lấy tên của vị thủ tướng quá cố, là một dải đất đầy bụi trải dài 23 km chạy xuyên qua trung tâm của khu vực kinh tế của xưởng lọc dầu Dung Quất đến khu vực bến cảng.

Ông Kiệt, Thủ tướng từ năm 1991 đến năm 1997, đang được ghi công là có quyết định để xây dựng xưởng lọc dầu 140 ngàn thùng dầu mỗi ngày trên bờ biển Quảng Ngãi và ông ta đang được dân chúng ở đây tôn kính.

Các nhà đầu tư nước ngoài đã rút ra khi nhà nước Việt Nam quyết định xây dựng xưởng lọc dầu tại tỉnh Quảng Ngãi bởi vì xưởng quá xa khu cung cấp dầu thô và người tiêu dùng.

Năm 1995, công ty Total SA của Pháp đã rút khỏi kế hoạch liên doanh để xây dựng xưởng lọc dầu với PetroVietnam tại đây. Sau đó, vào năm 2002, hãng dầu quốc doanh Nga Zarubezhneft, cũng đã rút đi bởi vì các bất đồng về địa điểm xa xôi của xưởng lọc dầu nầy và các đề tài kỹ thuật.

Tuy vậy, Lê Văn Dũng, Phó Chủ tịch của Khu kinh tế Dung Quất, trông coi một vùng đất gần như gấp hai lần kích thước của khu Manhattan (ở New York) là nơi đặt xưởng lọc dầu và các dự án khác, đã gọi ông Kiệt là một người có “tầm nhìn chiến lược rất vĩ đại”.

“Đó không chỉ là trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, mà còn là của chính phủ để phát triển miền Trung, nơi đã mất hàng triệu người trong chiến tranh nhưng bây giờ thì đang tụt hậu, nói theo nghĩa phát triển kinh tế,” ông Dũng nói. “Thay vì trao cho một con cá, chính phủ nên cho họ một cần câu.”

Ông Dũng đã cho biết thuế doanh thu trong quận đã và đang tăng lên và GDP bình quân mỗi đầu người đã nhảy từ khoảng 400 đô-la trong năm 2006 đến 700 đô-la trong năm 2008.

Một số quan sát viên vẫn tiếp tục rất nghi ngờ.

“Thả một dự án với vốn đầu tư rất lớn, mà dự án ấy có ít mối liên kết với nền kinh tế địa phương, vào một tỉnh nghèo thì tác động của nó lên địa phương ở mức tối thiểu,” một chuyên gia về kinh tế Việt Nam đã phát biểu như thế, người nầy từ chối cho biết tên vì lo ngại các hậu quả xảy ra vì đưa ra các ý kiến đối nghịch lại với đường lối của đảng.
“Trong khi đó, khoảng cách đến khu trữ dầu quá lớn đến nổi mức lãi của xưởng lọc dầu chắc chắn là có khả năng là âm (lỗ). Kết quả cuối cùng là gì? Trả tiền quá nhiều cho một dự án thất bại về mặt tiền bạc và dự án đó không tạo được công ăn việc làm.”

Mặc dù dự án nầy mang lại một số lợi lộc tức thì cho một số dân trong khu vực nầy, chảng hạn như chị Yến, một người chủ tiệm Karaoke, nhưng những người dân địa phương có những than phiền khác.

Tổng số 7000 căn nhà sẽ phải di chuyển đi nơi khác trước năm 2015 để dành chỗ cho khu vực kinh tế nầy và các kề hoạch đầu tư công nghệ mới.

Bà Phạm Thị Sách, 59, người sống bên cạnh đường Võ Văn Kiệt, đang lo lắng về các tương lai mờ mịt.

“Ở đây chúng tôi có thể kiếm được vài trăm nghìn đồng mỗi ngày bằng cách đi chợ mỗi buổi sáng để bán hải sản, nhưng nếu chúng tôi di chuyển đến một địa điểm mới, chúng tôi sẽ không biết phải làm gì đây,” bà Sách cho biết.

Môi trường cũng là một chuyện đáng quan tâm nữa, đặc biệt là đối với một số ngư dân đánh cá nhỏ như Bùi Quang Tiên.

“Những tiếng ồn từ xưởng lọc dầu làm cá bỏ chạy, vì thế việc đánh bắt của tôi càng ít ỏi hơn,” ông nói. “Trong quá khứ tôi không cần phải mua xăng để đi đánh cá, tôi chỉ cần chèo, nhưng bây giờ tôi phải đi ra biển xa hơn. Do đó, việc đánh cá tốn kém nhiều hơn nữa.”

Nhiều người, nếu không phải là hầu hết, các công nhân tại nhà máy sẽ đến từ các tỉnh bên ngoài vì các cư dân địa phương thiếu khả năng kỹ thuật, mặc dù một số nhà máy khác sẽ được xây dựng trong khu kinh tế có thể có khả năng cung cấp việc làm khác cho dân cư địa phương.

Một số bài học đã được rút ra từ kinh nghiệm lâu dài và đau khổ ở Dung Quất, ngay cả khi đường lối của Đảng đã và đang phát ra đều đặn lời ca tụng công trình này của họ.

(Điều đáng ngạc nhiên là đảng và nhà nước đang phát triển thêm 2 nhà máy lọc dầu khác mặc dù có sự lỗ lã trong suốt 15 năm qua (ở Dung Quất) và sẽ còn lỗ lã mỗi năm ít nhất là 150-200 triệu đô la trong hàng chục năm tiếp theo mà ai ai cũng nhìn thấy được từ nhà máy lọc dầu Dung Quất [1].– người dịch)

Hai xưởng lọc dầu kế tiếp của Việt Nam, các xưởng nầy sẽ lớn hơn, đang lên kế hoạch xây dựng ở địa điểm nhiều thuận lợi hơn ở Nghi Sơn, phía nam Hà Nội, và ở Long Sơn, gần trung tâm thương mại của thành phố Hồ Chí Minh.

Thêm vào đó, các đối tác nước ngoài trong dự án Nghi Sơn, địa điểm ít được chuộng hơn Long Sơn, đang được cho phép tham gia vào hệ thống phân phối các sản phẩm từ việc lọc dầu, đây là các thương vụ mà Total SA và Zarubezhneft đã bị từ chối trước đây, và thương vụ nầy có thể đã khiến dự án Dung Quất có khả năng là món dễ ăn hơn (nhưng không phải là món ăn đặc biệt.)

Người Dịch: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

[1] Dung Quất có khả năng lọc 65 triệu tấn dầu mỗi năm.
Đáp ứng được chừng 33% nhu cầu dùng trong nước.
Chi phí xây từ năm 1993 mượn  là 1,5 tỉ Mỹ Kim.
Hoàn thành năm 2008 và tổng chi phí lên gần 3,2 tỉ đô la.
*Nếu tính công lọc 1 tấn dầu là 11 Mỹ Kim  (lấy giá của Singapore), thì tổng số tiền lọc được 1 năm là:
6.5 triệu tấn x  $11/ tấn = 71,5 triệu đô la mỗi năm.
_Mượn 1.5 tỉ đô la, với lãi suất 6-8%, trong thời gian 30 năm, thì tiền lời VN phải trả cho ngoại quốc trong 15 năm qua là gần 1,3 tỉ đô la (90 triệu đô/ 1 năm x 15 năm).
_Nhà máy Dung Quất đi vào sản xuất đầu năm 2009. Lấy  tiền kiếm được qua việc lọc dầu TRỪ tiền trả lãi hàng năm cho việc mượn tiền xây dựng nhà máy = số tiền mà nhà máy Dung Quất thu được
Vì sau khi khởi công xây dựng từ 1993, nhưng không hoàn thành như tiến độ xây dựng là 5-7 năm,  khoảng thời gian gần đây VN phải mượn thêm 1,7 tỉ để hoàn tất công trình, nên món nợ thật sự xây Dung Quất là 3,2 tỉ đô la.
Năm 2009, tiền lời 1 năm phải trà cho việc vay mượn 3,2 tỉ đô la nầy là 3,2 tỉ đô x 6% = 192 triệu đô la/1 năm.
Tiền lời của nhà máy lọc dầu Dung Quất hàng năm là
71.5 triệu (tiền lời do lọc dầu) – 192 triệu (tiền phải trả lãi do vay mượn) = -120 triệu đô la
 

Tóm lại, nhà máy Dung Quất sẽ lỗ hàng năm là 120 triệu đô la. (chưa nhắc tới số tiền lãi phải trả lại cho ngoại quốc từ 1993-2008 là 1,3 tỉ đô la)

Nhiều nhà kinh tế tính rằng, số tiền lỗ thực sự lên đến hơn

250 triệu Mỹ kim hàng năm.

Giá xăng dầu:  theo các nhân viên cao cấp ngành dầu khí VN cho biết, thì giá xăng dầu của VN  trong nhiều năm sắp tới đây cũng sẽ vẫn cao hơn giá xăng dầu ở nước ngoài, và giá xăng dầu ở TQ cũng sẽ cao hơn giá mua xăng dầu phải nhập cảng ở  các nước ngoài, vì giá lọc dầu $11 / 1 tấn là giá lọc của  Singapore. Vì chính phủ có thể điều chỉnh giá lọc dầu ở Dung Quất phải cao hơn giá tiền  $11/ 1 tấn thì DungQuất mới bớt bị lỗ lã.

Nói một cách khác là toàn dân VN hiện nay phải mua xăng dầu giá cao hơn gia xăng dầu được nhập cảng của các nước ngoài và sẽ cao gấp rưỡi (1,5 lần) giá xăng nhập, và  dân chúng VN phải gánh hết lỗ lã do chính sách đầu tư sai lầm của nhà nước ở Dung Quất.

Trong suốt 5 năm qua, mỗi năm VN khai thác được trung bình từ 17 triệu tấn đến 21 triệu tấn đầu (2003-2008), và con số nầy đang giảm dần vì giếng dầu Bạch Hổ đã bắt đầu cạn do đã khai thác gần 20 năm qua.

Nếu VN không tìm được mỏ dầu, thì Dung Quất sẽ không có đủ dầu để lọc. Tuy vậy, nhà nước đã mượn tiền ngoại quốc để đầu tư xây dựng thêm 2 nhà máy lọc dầu nữa ở gần Hà Nội. Quan điểm của nhà nước là “có làm, là có ăn”

 

When politics weigh on investment decisions

JOHN RUWITCH

REUTERS

February 28, 2009 at 9:48 PM EST

DUNG QUAT, Vietnam — The $3-billion (U.S.) Dung Quat oil refinery, Vietnam’s biggest investment project to date, has been the source of many things for young mother Tran Thi Yen.

It has brought new roads to the sandy shoreline where Ms. Yen, 25, lives in an isolated region of central Vietnam. It has also attracted an army of workers from afar, including one who Ms. Yen, a petite woman with a warm smile, married.

And the flurry of construction on the refinery that officially opened last week also handed Ms. Yen a business opportunity on a silver platter. Last year, she built a roadside karaoke parlour that is already turning a profit.

“The only thing here before was sand,” she said holding her chubby seven-month-old baby.

The Vietnamese government may view cases like Ms. Yen’s as proof its decision to build the refinery here was visionary, bringing economic opportunity to one of Vietnam’s poorest regions.

But economists and political analysts have criticized the refinery project as, perhaps, the mother of all examples of how politics interferes with economic decision making in Vietnam.

The refinery, which took 15 years to build, was shunned by overseas investors as economically unviable due to its location in an isolated area, far from oil reserves. In the end, state oil monopoly Petrovietnam was forced to go it alone.

“It demonstrates that investment in the state sector is not very sensitive to economic considerations,” said Jonathan Pincus, dean of Ho Chi Minh City’s Fulbright Economics Teaching Program.

Since “doi moi” reforms started in 1986, Vietnam’s ruling Communist Party has been slowly extricating itself from direct control over economic activity. Thousands of state-owned companies have been “equitized,” a euphemism for privatized.

Still, politics can have a direct influence on investment projects to varying degrees depending on the sector, said Melanie Beresford, an associate professor at Macquarie University in Australia.

“They have a strategic view of industries that are essential for national development. Energy is obviously one of these … as are some of the other basic industries,” Ms. Beresford said.

The newly named Vo Van Kiet Street, after the late Prime Minister Vo Van Kiet, is a dusty strip of tarmac that stretches 23 km through the heart of the Dung Quat refinery’s economic zone to its port.

Mr. Kiet, prime minister from 1991 to 1997, is credited with the decision to build the 140,000-barrels per day refinery on the Quang Ngai coast and he is revered here.

Foreign investors pulled out over the decision to build in Quang Ngai because it was far from crude supplies and end users.

In 1995, France’s Total SA withdrew from a planned joint venture to build the refinery with Petrovietnam over the location. Then, in 2002, Russian state oil Zarubezhneft backed out due to disagreements over the plant’s distant location and technical issues.

Still, Le Van Dung, vice-chairman of the Dung Quat Economic Zone Authority, which oversees a swath of land nearly twice the size of Manhattan that is home to the refinery and other projects, called Mr. Kiet a man of “great strategic vision”.

“It is the responsibility not only of the prime minister, but also of the government to develop the central region, which lost millions of lives in the war but now is lagging in terms of economic development,” Mr. Dung said. “Instead of handing them a fish, they must be given a fishing pole.”

Mr. Dung said tax revenues in the county have risen and GDP per capita has jumped from about $400 in 2006 to $700 in 2008.

Some observers remain highly skeptical.

“Drop a capital intensive project that has few linkages to the local economy into a poor province and the local impact is minimal,” said one expert on the Vietnamese economy, who declined to be named due to concern of repercussions for airing views that run counter to the party line.

“Meanwhile, the distance from the oil is so great that the refining margins are likely to be negative. The end result? Pay over the odds for a money losing project that doesn’t create jobs.”

Despite some immediate gains made by many in the area, such as Ms. Yen, the karaoke shop owner, other residents have their gripes.

A total of 7,000 households will have been moved by 2015 to make way for the economic zone and new industrial investment.

Pham Thi Sach, 59, who lives beside Vo Van Kiet Street, worries about the unknowns.

“Here we can make a few hundred thousand dong every day by going to the morning market to trade seafood, but if we move to a new place we won’t know what to do,” she said.

The environment is a concern, too, particularly for some small-scale fishermen like Bui Quang Tien.

“The noise from the refinery scares away the fish so my catch has been smaller,” he said. “In the past I didn’t need to buy gas to go fishing, I just paddled, but now I have to go out to sea farther. So it costs more.”

Many, if not most, of the workers at the plant will come from outside because local residents lack the skills, although some of the other factories that will be built in the economic zone may be able to offer more in terms of local employment.

Some lessons have been drawn from the long and torturous Dung Quat experience, even if the Party line has been unswerving in its praise.

The country’s next two refineries, which will be bigger, are planned to go up in the much more advantageous locations of Nghi Son, just south of Hanoi, and Long Son, near the commercial hub of Ho Chi Minh City.

In addition, the foreign partners in the Nghi Son project, which is the less desirable location of the two, are being allowed to take part in refined product distribution, something Total and Zarubezhneft were denied and which might have made the Dung Quat project palatable.

 

———————————————–

BBT cám ơn bạn đã viết comment. Ban Biên Tập trích một ý kiến từ một website khác để trả lời bạn. Ý kiến dưới đây của Dr. Trần, post ngày 19-4-2009:

“Chỉ tính Dung quất mà thôi đã đầu tư 3,5 tỉ USD (mới đây thêm 200 triệu USD, sau khi đã thêm 600 triệu USD vài tháng truớc, trên số 2,5 tỉ USD đã được làm “nhỏ” bớt).

Sự ngu xuẩn trong việc đầu tư vào DQ chỉ có thể so sánh với sự xuẩn ngốc của việc nhập về mấy chục nhà máy đường phế thải từ TQ nay càng hoạt động càng lỗ, CP bỏ đi thì tiếc, ôm thì mỗi tháng phải bù lỗ mấy trăm tỉ VND.

Tại Dung Quất, tính tiền lời rẻ nhất 8% mà thôi, amortization 10 năm, thì mỗi tháng phải trả 42.464.660 USD, mỗi năm 510 triệu USD, theo cách tính tại đây: http://www.bankrate.com/calculators/…alculator.aspx

Tôi ghi “mortgage amount” là 3.500.000, “mortgage term” 10 years, 120 months, interest rate 8%, computer tính ra hàng tháng phải trả số trên (42.464,66 x 1000) thì 10 năm mới hết cả vốn lẫn lời.

Mỗi tấn dầu lọc ra chỉ tăng giá trị (nói khác đi là phí lọc dầu + tiền lời) theo giá thị trường chỉ vài chục USD là cùng, mỗi năm lọc 6 triệu tấn làm tăng giá trị cùng lắm 150 triệu USD, do đó chỉ tính tiền lời mà thôi 8% x 3,5 tỉ USD = 280 triệu USD, đem về 150 triệu USD, lỗ tiền lời 130 triệu USD.

Ngoài ra còn biết bao chi phí vận hành, phụ tùng thay thế, v.v… Tính rất rẻ các chi phí này 5 triệu USD / tháng mà thôi thì hàng năm DQ lỗ không duới 200 triệu USD.

Chưa hết, nếu tính amortization 10 năm thì mỗi năm trung bình phải trả vốn 350 triệu USD, nói khác đi nếu không bán đi thì mỗi năm CP VN phải bơm vào DQ ít nhất 550 triệu USD.

Nghe nói năm sau “cổ phần hóa” DQ. Tôi chúc họ good luck. Cổ phiếu DQ phải bán giá ÂM, vì hiện nay nợ cao hơn gấp đôi giá trị.

Hãng TOTAL lẽ ra đã cất xong từ 12 năm trước, giá rẻ hơn, tốt hơn, vì họ có nhiều máy móc phụ tùng từ các nơi khác đem qua, họ đang có các nhà máy tương tự từ hàng chục quốc gia khác, kinh nghiệm có, kỹ sư có, phụ tùng có, v.v… “

Tóm lại BBT cho rằng Dung Quất lỗ 120 triệu đô la /năm là quá nhẹ so với tính toán chi tiết trong ý kiến nói trên.Chưa tính tới tiền lới phải trả hàng năm tính từ 1993, thời điểm đi vay mượn tiền xây dựng Dung Quốc.

Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Quan hệ Việt-Trung | 1 Comment »

 
%d bloggers like this: