BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Bô-xít Tây Nguyên’ Category

Mức lợi nhuận của hãng nhôm Chalco của TQ giảm gần như 100% trong năm 2008

Posted by adminbasam on 01/04/2009

THE WALL STREET JOURNAL

Mức lợi nhuận của hãng nhôm Chalco của TQ giảm gần như 100% trong năm 2008

DENIS MCMAHON và YVONNE LEE

Ngày 29-3-2009

 

HONG KONG — Liên hiệp các Xí nghiệp Nhôm Trung Quốc [Aluminum Corp. of China Ltd.], hay còn gọi là Chalco * hôm Chủ nhật đã tuyên bố mức lợi nhuận của hãng đã rớt xuống 100% so với một năm trước và hãng đang dự đoán rơi vào một tình trạng thua lỗ vào quý 1, năm 2009.

Hãng sản xuất alumina và nhôm nầy đã công bố tiền lời sau khi trừ đi tất cả chi phí là 1,3 triệu đô la trong 12 tháng kết thúc vào ngày 31 tháng 12, 2008, giảm từ mức 1,57 tỉ đô la một năm trước đó 2007, bởi vì

(1) giá năng lượng (điện, dầu, xăng) tăng cao hơn,

(2) một mức sút giảm nhu cầu sử dụng nhôm, và

(3) hãng đã có những tiên liệu sai lầm và làm sẵn hàng dự trữ; bởi vì (ngay sau đó là) một sự giảm sút rất nhanh về các giá cả kim loại.

Tổng thu nhập giảm 9,9% từ mức 12,5 tỉ đô la xuống còn 11,2 tỉ đô la.

Những kết quả này là rất thấp (1,3 triệu đô la trong 12 tháng ), dưới mức dự đoán trung bình về lợi nhuận thực 227 triệu đô la, theo lời của 13 nhà phân tích tài chánh mà hãng tin Thomson Reuters đã dò hỏi.

“Năm 2008, những tai hoạ bao gồm một trận bão tuyết và động đất tại (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) đã gây nên những tổn thất lớn cho tập đoàn nầy,” Chalco đã cho biết trong một bản báo cáo thường niên của họ. “Cơn khủng hoảng tài chính quốc tế, giá nguyên liệu thô tăng đột ngột và giá các món hàng chủ yếu (gạo, xăng, dầu) sụt giảm đột ngột nhiều hơn nữa đã đặt ra những khó khăn chưa từng có từ trước đó và những thách thức cho sản xuất và hoạt động của tập đoàn.”

Chalco đã đưa ra một cảnh báo về mức lợi nhuận cho quý 1, hãng nầy cho biết “công ty vẫn đang phải đối mặt với một khung cảnh thương mại đầy thách thức.”

Mức giảm sút về giá trị của công ty (về mặt đạo đức của công nhân, thương hiệu và thanh danh của công ty) trong năm 2008 là giảm 134 triệu đô la, tăng từ mức chỉ có 3,7 triệu đô la vào năm trước đó.

Công ty đã không đưa ra một mức tiền-lãi-mỗi- cổ-phiếu tổng cộng nào cho năm nay, so với mức chưa tới 1 cent (hay 1/100 đô la) vào năm 2007.

Chalco cũng cho biết là chủ tịch hội đồng quản trị Xiao Yaqing của hãng đã từ chức, có hiệu lực ngay lập tức, và ông cũng sẽ rời khỏi chức vụ tổng giám đốc điều hành và giám đốc điều hành sau cuộc họp chung thường niên của hãng nầy vào ngày 26 tháng 5, 2009. Công ty đã không đưa ra một lý do nào cho sự ra đi của ông.

Tuy nhiên, vào tháng Hai, ông Lu Youqunq — phó tổng giám đốc công ty mẹ của Chalco, hãng Chinalco — đã cho biết rằng ông Xiao đang trông đợi được bổ nhiệm vào một chức vụ mới như là phó tổng thư ký Hội đồng nhà nước, thuộc chính phủ Trung Quốc **.

Ông Xiao, người cũng từng là chủ tịch hãng Chinalco, đã được thay vào vị trí đó bởi ông Xiong Weiping vào tháng Hai, 2009. Ông Xiong đã được đề nghị bổ nhiệm là ứng viên cho chức giám đốc điều hành đang bị bỏ trống của ông Xiao, công ty Chalco cho biết.

 

Hiệu đính: Trần Hoàng

 

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

 

* Mời xem bài số 96: Kế hoạch bauxite của Việt Nam mở ra một bể quan ngại.

** Mời xem thêm trích đoạn bài: Chủ tịch tập đoàn Chalco có khả năng nắm giữ vị trí trong chính phủ (THE WALL STREET JOURNAL – ngày 18-2-2009): “Chủ tịch Xiao Yaqing của tập đoàn Aluminum Corp. of China, người đã giành được danh tiếng nổi bật như là một nhân vật kiến tạo nên thỏa thuận lớn nhất của Trung Quốc với cú đầu từ khổng lồ của hãng vào tập đoàn khai mỏ Rio Tinto PLC, có khả năng sẽ ra đi để lãnh một vị trí cao trong chính phủ Trung Quốc, một thành viên hội đồng quản trị công ty đã cho biết. Ông Xiao được cho rằng sẽ vào vị trí như là một phó tổng thư ký Hội đồng Nhà nước, tương tự như nội các của chính phủ Trung Quốc, theo lời ông Lu Youqing, phó tổng giám đốc Aluminum Corp., tập đoàn được biết đến với cái tên Chnalco. Ông Lu đã không cho biết khi nào ông Xiao có thể nhận nhiệm vụ mới song ông nói rằng một bảo thông báo chính thức có thể sớm được đưa ra. Người phát ngôn của Hội đồng Nhà nước đã từ chối đưa ra lời bình luận. Nếu quyết định này được thông qua, thì sự chỉ định ông Xiao sẽ làm nổi bật lên những mối gắn kết giữa hoạt động kinh doanh và chính phủ ở Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo của những doanh nghiệp lớn của nhà nước như Chinalco được bổ nhiệm bởi Đảng Cộng sản cầm quyền ở Trung Quốc, và sự thành công trong vị trí tại tập đoàn kinh doanh hàng đầu thường là một con đường thăng tiến tới một vai trò cao trong chính phủ…”

 

THE WALL STREET JOURNAL

Chalco’s 2008 Net Plunges

MARCH 29, 2009, 9:25 A.M. ET

By DENIS MCMAHON and YVONNE LEE

HONG KONG — Aluminum Corp. of China Ltd., or Chalco, said Sunday its 2008 net profit plunged nearly 100% from a year earlier and that it expects to swing to a net loss in the first quarter of 2009.

The alumina and aluminum producer posted net profit of 9.2 million yuan ($1.3 million) for the 12 months ended Dec. 31, down from 10.75 billion yuan ($1.57 billion) a year earlier, because of higher energy prices, a drop in demand for aluminum and inventory impairment provisions due to a

sharp drop in metals prices. Revenue fell 9.9% to 76.73 billion yuan from 85.20 billion yuan.

The results were sharply below the average forecast for a net profit of 1.55 billion yuan, by 13 analysts surveyed by Thomson Reuters.

“In 2008, the disasters including a snow storm and earthquake in the (People’s Republic of China) caused substantial losses to the group,” Chalco said in its annual report. “[The] international financial crisis, raw material price hikes and sharply decreasing commodity prices further posed unprecedented difficulties and challenges to the group’s production and operation.”

Chalco issued a profit warning for the first quarter, saying that “the company is still facing an exceptionally challenging business landscape.”

The 2008 impairment charge came to 916 million yuan, up from only 25 million yuan a year earlier. The company didn’t recommend a final dividend this year, compared with a 0.053 yuan in 2007.

Chalco also said its Chairman Xiao Yaqing has resigned from that post, effective immediately, and that he will also step down as chief executive officer and executive director after the firm’s annual general meeting on May 26. The company didn’t give a reason for his departure.

However, in February Lu Youqing — deputy general manager of Chalco’s parent, Chinalco — said that Mr. Xiao was expected to be appointed to a new post as deputy secretary-general of the State Council, China’s cabinet.

Mr. Xiao, who was also president of Chinalco, was replaced in that role by Xiong Weiping in February. Mr. Xiong has been nominated as candidate for the executive director position being vacated by Mr. Xiao, Chalco said.

Write to Denis McMahon at denis.mcmahon@dowjones.com and Yvonne Lee at yvonne.lee@wsj.com 

Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Trung Quốc | Leave a Comment »

Bauxite thử thách chính quyền Việt Nam

Posted by adminbasam on 23/03/2009

Một kế hoạch khai mỏ thử thách những người hoạch định chính sách của Việt Nam

Trung Quốc tìm cách phát triển những mỏ bauxite trong khu vực có tính chất nhạy cảm về môi trường và xã hội

Anh Le Tran

Thứ Hai, ngày 23-3-2009

Những khoa học gia về môi trường và các nhà khoa học xã hội người Việt Nam đang gia tăng mối quan ngại ngày càng nhiều trước sự dính líu tới môi trường, xã hội, kinh tế và chính trị từ một kế hoạch của chính phủ cho phép các công ty Trung Quốc đang đói khát tài nguyên khoáng sản được phát triển những dự án khai thác bauxite khổng lồ trên vùng Cao nguyên Trung phần.

Việt Nam được đánh giá có tới 8 tỉ tấn quặng bauxite, thứ được sử dụng để chế biến ôxit nhôm, một loại bột trắng được nung chảy ra để sản xuất nhôm. Hai dự án lớn khai thác bauxite và sản xuất ôxit nhôm đã được khởi công tại hai tỉnh Lâm Đồng và Đắc Nông. Nước VN đã và đang dự tính sẽ phải cần tới 20 tỉ đô la đầu tư từ bây giớ cho tới năm 2025 để sử dụng nguồn tài nguyên này.

Người Trung Quốc tham gia.

Ý tưởng khai thác nguồn tài nguyên bauxite dồi dào nầy không phải là mới. Cách đây khá lâu, ngay từ những năm 1980, khi Việt Nam còn là một thành viên của Hội đồng Tương trợ Kinh tế (CMEA), một khối kinh tế được Liên Xô và các quốc gia cộng sản Đông Âu thành lập, Việt Nam đã đưa ra trước CMEA một chương trình khai thác bauxite. Thế nhưng sau khi các chuyên gia Sô Viết nghiên cứu về tính khả thi của chương trình, thì CMEA đã khuyến cáo phản đối lại ý tưởng này, chủ yếu do những quan ngại nguy hiểm cho môi trường.

(Nhưng đối với chính phủ VN,) Những mối quan ngại này vẫn không mất đi hẳn. Điều duy nhất đã thay đổi là cường độ của sự chống đối và sự gia tăng gấp bội của những mối quan ngại khác cũng như những khoa học gia về môi trường và các nhà khoa học xã hội đã rung những hồi chuông cảnh báo về những huỷ hoại tiềm tàng.

Việc khai thác mỏ bauxite liên quan tới sự thải ra của các chất độc hại, mà các chất nầy cần phải được lưu giữ một cách an toàn và vĩnh viễn. Tuy nhiên, địa hình vùng Cao nguyên Trung phần làm cho nó khó khăn hơn để cất giữ một cách an toàn loại bùn thải độc hại này để tránh làm ô nhiễm các khu vực xung quanh và các nguồn nước ở vùng hạ lưu. Thêm vào đó, những người chỉ trích nhìn thấy nguy cơ cao đối với tình hình mà trong đó các công ty Trung Quốc đã giành được cả hai gói thầu để xây dựng hai nhà máy luyện ôxit nhôm lớn (trị giá gần 500 triệu đô la mỗi công trình) và có khả năng sẽ hùn hạp tiếp vào các dự án khác nữa.

Mối lo ngại là các kỹ thuật khai thác mỏ bô xít (của người Trung Quốc) không phải là những công nghệ có sẵn tốt nhất. ông Nguyễn Thanh Sơn, một chuyên gia của Việt Nam trong lĩnh vực này và là một trong những người phản đối mạnh mẻ nhất về kế hoạch này, đã nói rằng phía Trung Quốc đã giành được những gói thầu là nhờ phía Việt Nam hạ thấp các tiêu chuẩn kỹ thuật (làm các nước có kỹ thuật cao không thể trúng thầu được) với mục đích để cho các công ty Trung Quốc (trúng thầu và ) có thể đưa ra những giá đầu thầu hấp dẫn .

Chính bản thân người Trung Quốc đã và đang đối mặt với những vấn nạn môi trường nguy hiểm gắn liền với hoạt động khai thác mỏ bauxite, thúc đẩy họ đi tới đóng cửa nhiều khu mỏ bauxite tại tỉnh Quảng Tây thậm chí trong khi nhu cầu bauxite đang gia tăng. Bởi vậy, một số người chỉ trích xem mức độ liên quan cao độ của Trung Quốc vào những dự án bauxite ở Việt Nam như là một hình thức xuất khẩu sự xói mòn và hủy hoại của môi trường trong khi vẫn cố gắng bảo đảm có được nguồn cung cấp bô xít mới (cho quốc gia của họ).

Về mặt hiệu quả kinh tế, những dự án này không có vẻ ổn thỏa thậm chí với một sự phân tích đơn giản về phí tổn bỏ ra và lợi ích thu được. Vùng Cao nguyên Trung phần là xứ sở của các vụ mùa mang lại tiền bạc như cà phê, chè và cao su, những vụ thu hoạch nầy đã giúp kiếm được lượng ngoại tệ có giá trị ngày càng cao thông qua xuất khẩu. Tuy nhiên, sự tồn tại của các sản phẩm trồng trọt này sẽ gặp nguy hiểm lớn do hai yếu tố then chốt sau đây.

Thứ nhất, càng có nhiều dự án được thực hiện, thì càng có nhiều đất đai sẽ bị phát quang cho việc khai thác mỏ và chứa bùn thải độc hại. Sau khi quặng bauxite được khai thác lên, đất đai sẽ không còn thích hợp cho cây trồng phát triển nữa nếu như không có những giải pháp cứu chữa tốn kém lâu dài.

Điều thứ nhì, việc khai thác mỏ bauxite và chế biến bột nhôm đòi hỏi nhiều nước, mà nước là thứ không có nhiều tại vùng này. Như một hậu quả, lượng nước có sẵn dành cho trồng trọt sẽ bị suy giảm ghê gớm, dẫn tới những vụ thu hoạch mùa màng sẽ tồi tệ hơn.

Hai yếu tố khai hoang đất đai và thiếu nước cùng nhau làm gia tăng mối lo lắng ám ảnh của mất mát tiềm tàng lợi thế có tính cạnh tranh của vùng nầy trong việc gia tăng nguồn thu nhập ngoại tệ từ mùa màng và kìm hãm khả năng phát triển một lợi thế cạnh tranh mới trong lĩnh vực du lịch kinh tế, thứ hiện đang ngày càng phổ biến trên thế giới.

Những cái giá phải trả về kinh tế thậm chí sẽ lớn hơn nhiều khi những yếu tố tiêu cực bên ngoài, bao gồm sự xuống cấp của môi trường, được tính gộp lại với nhau.

Mặc khác, những lợi ích cho việc khai thác mỏ bauxite là rất đáng nghi ngờ. Dữ kiện chỉ ra rằng với cùng một mức độ đầu tư, tỉ lệ lợi nhuận của một dự án bauxite là kém xa so với việc trồng cà phê. Hơn nữa, để cạnh tranh, việc sản xuất bột nhôm đòi hỏi một nguồn điện năng rẻ và có sẵn mà Việt Nam hiện không có và sẽ không có trong bất cứ khoảng thời gian gần nào trước mắt.

Với tình trạng thiếu thốn điện năng triền miên, việc chuyển dịch sử dụng năng lượng hướng tới sản xuất bột nhôm theo kiểu này sẽ càng làm trầm trọng thêm vấn nạn thiếu điện, đẩy những loại sản xuất khác đi tới cơ nguy thiếu hụt.

Liên quan tới các tác động xã hội và chính trị, việc thi hành với quy mô lớn những dự án bauxite sẽ cách ly khỏi xã hội hơn nữa những nhóm sắc dân thiểu số trong khu vực nầy khi không gian sinh sống dựa vào trồng trọt của họ bị suy giảm ghê gớm, với tiềm ẩn tạo nên căng thẳng xã hội trong một vùng vốn đã mang tính chất nhạy cảm.

Thêm vào đó, sự hiện diện của những công nhân Trung Quốc liên quan tới khai thác bauxite trong vùng chiến lược quân sự này đã và đang tạo nên một cảm giác bất an trong số nhiều người Việt nam.

Ở những điều kiện dưới mức bình thường, những phản ứng và hành động của chính phủ đã là không thích hợp. Vào tháng 11-2007 [1], Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký một chỉ thị tán thành kế hoạch khai thác, chế biến và sử dụng bauxite. Tuy nhiên, từ những năm trước đó cho đến năm 2007, đã không có bất cứ sự đánh giá môi trường nào có tính chiến lược  được chuẩn thuận để khẳng định rằng những tác động gây ảnh hưởng lên môi trường của kế hoạch khai thác bauxite này là phù hợp với các luật lệ về môi trường của Việt Nam.

Vinacomin, doanh nghiệp được làm chủ bởi nhà nước phụ trách việc thực hiện kế hoạch này, đã tổ chức hai hội nghị vào năm 2007 và 2008 để tiên lượng và đánh giá những tác động của các dự án bauxite nầy. Trong thời gian diễn ra những sự kiện đó, nhiều chuyên gia Việt Nam đã bày tỏ những mối quan ngại sâu sắc nhất về khía cạnh những tác động tiêu cực nghiêm trọng của kế hoạch. Tuy nhiên, chẳng có gì quan trọng được đúc kết lại để đương đầu với những mối lo ngại này kể từ khi các dự án vẫn đang được thực hiện rồi.

Đối diện với những thái độ chống đối vẫn đang tiếp diễn, Thủ tướng Dũng đã tổ chức một cuộc họp để thảo luận về các vấn đề liên quan tới dự án khai thác bauxite vào đầu tháng Một năm 2009. Ông Dũng đã kết luận bằng cách ra lệnh cho Bộ Công Thương xin phép bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam được tiếp tục các dự án và yêu cầu Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tổ chức một hội nghị khoa học để thảo luận các đề tài này.

Mặc dù hội nghị đã được hoạch định vào một thời điểm nào đó trong nửa đầu tháng 4- 2009, ông Hải đã loan báo vào tuần trước rằng các dự án ở Lâm Đồng và Đắc Nông sẽ được tiếp tục theo như kế hoạch. Điều đó đã thúc đẩy các nhà quan sát dấy lên nghi vấn rằng nếu hội nghị đưa ra được bất cứ thay đổi có ý nghĩa nào, thì  liệu những thay đổi ấy sẽ được chấp nhận bởi chính phủ hay không.

Căn cứ vào những phản ứng của chính phủ, một điều rõ ràng là: họ đang có một mục đích chính trị đã được xác định rất rõ ràng để thực hiện kế hoạch khai thác chế biến bauxite dầu phải đối mặt với sự phản đối. Câu hỏi đặt ra là tại sao (đảng) lại có một mục đích chính trị mạnh mẽ đến như vậy được giành cho một kế hoạch có vẻ như là sai lầm.

Những người chỉ trích đã nghĩ ra một vài câu trả lời khả dĩ. Câu trả lời thường được đề cập đến nhiều nhất là ảnh hưởng của Trung Quốc thông qua kênh chính trị ở cấp cao nhất.

Điều thực sự hơn thua vào lúc này là liệu chính quyền Việt Nam có được lòng can đảm về mặt chính trị để mời tất cả những người liên quan trong vấn đề bô xít tham dự, bàn bạc và sửa chữa những sai lầm trong kế hoạch nầy trước khi điều ấy quá muộn hay không.

Ông Anh Le Tran giảng dạy kinh tế và quản lý tại Đại học Lasell College ở Massachusett, Hoa Kỳ.

Hiệu đính: Trần Hoàng

[1] đúng ra tháng 11-2008

Comment:

*Với mục đích làm cho VN suy yếu, Trung Quốc đã dụ được VN khai thác bô xít bằng một kế hoạch khai mỏ lạc hậu thời 1930. Đây là một chiến lược tinh vi có được sự tiếp tay của các nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất ở VN. Kế hoạch khai mỏ bô xít chỉ nhằm kéo VN đầu tư vào một dự án 15 năm, ít có lợi hơn trồng cây cà phê và trà (trị giá xuất khẩu hơn 3 tỉ đô la hàng năm), và làm cho VN tốn kém tối thiểu là 25 tỉ đô la (VN phải đầu tư và tốn khoảng 1,5 tỉ đô la hàng năm trong 15 năm).

Không cần khai thác bô xít, chỉ cần làm café và trà, thì trong vòng từ 2010 đến 2025, VN cũng đã mang về nguồn lợi xuất khẩu nông sản trà, cà phê, hạt tiêu là 3 tỉ/ 1 năm x 15 năm = 45 tỉ đô la. Không tính đến việc thu hút khách quốc tế đến du lịch vùng Tây Nguyên.

Dự án khai mỏ bô xít sẽ làm suy kiệt tài chánh của VN trong 15 năm sắp đến, sẽ làm bất ổn về mặt xã hội vì muốn khai thác mỏ là phải chiếm đất đai của các sắc tộc; sẽ làm ô nhiễm đất đai của nông dân và các người sắc tộc, và làm giảm sự thu hoạch các vụ mùa cà phê, trà, do thiếu nước tưới. Ngoài ra chất thải của bô xít sẽ làm nhiễm độc nguồn nước uống ở sông Đồng Nai.

Sự suy yếu tài chánh sẽ làm VN không có đủ tiền bạc mua vũ khí hiện đại hóa quốc phòng, sẽ làm Việt Nam trở nên suy yếu, và cuối cùng  TQ sẽ chiếm phần còn lại của quần đảo Hoàng sa, Trường Sa và làm chủ Biển Đông mà không gặp được một sự chống đối. Chừng ấy, nếu VN có kêu cứu, thì các nước ngoài cũng không can thiệp vì họ đã nhìn thấy rõ VN và TQ đang hợp tác chặc chẻ để khai thác bô xít.

Suốt 23 năm kể từ khi đổi mới từ 1986-2009, VN tuyên bố vào tháng 3/2008 là có dự trữ ngoại tệ là 22 tỉ đô la. Nhưng thực tế nhiều tháng qua, các tỉnh không có tiền trả lương và họ phải mắc nợ các thầy giáo và cô giáo. Chúng ta tự hỏi: một kế hoạch đầy tốn kém như vậy, không có lợi lộc so với nông sản cafe, cao su, trà, và VN phải đầu tư nhà máy điện, phải bỏ tiền túi ra để xây dựng tuyến đường bộ và đường sắt chở bô xít từ Tây Nguyên xuống vùng biển miền Trung, phải xây dựng thêm 1 hải cảng mà hiện nay VN chưa có cảng nào ở Bình Thuận và Phan Rang. Thêm vào đó, trong khi từ đầu năm đến nay, VN đã phải gởi 82 ngàn công nhân đi lao động nước ngoài, trong khi đó, lại nhập khẩu hàng chục ngàn công nhân người TQ, liệu đó có phải là giải pháp kinh tế tốt hay không?

Trung Quốc có thừa tiền để vứt bỏ vài tỉ đô la để dụ VN vào kế hoạch khai mỏ bô xít (làm VN tốn kém ít nhất là 25 tỉ đô la). Số tiền vài tỉ là quá nhỏ đối với  TQ vì suốt 30 năm chuyển qua kinh tế tư bản, TQ có một số dự trữ ngoại tệ lên đến 2000 tỉ đô la. TQ có ngân sách quốc phòng bằng là 70 tỉ đô la năm 2009, 7% ngân sách quốc gia. Việc bỏ ra 1 tỉ đô la 1 năm trong 15 năm sắp đến của Trung quốc để làm suy yếu VN chiếm Biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa mà không tốn một viên đạn là điều chắc chắn một nhà chiến lược nào cũng sẽ làm.

Sau cùng, VN phải lệ thuộc kinh tế vào TQ trong ít nhất 50 năm sắp tới.

———————————–

Hồi tháng 12-2008, vì giá dầu xuống quá thấp và Nga cần tiền, Putin đã ký một hiệp ước thương mại với Trung Quốc. Trong hiệp ước ấy, Nga đồng ý bán tất cả dầu hỏa và khí đốt cho Trung Quốc kể từ 2010 đến 2025. Kết quả của việc ấy là Trung Quốc và Nga đã có một cuộc tập trận chung để thắt chặt tình hữu nghị. (Nga đã mắc sai lầm khi gây ra chiến tranh với Georgia vào tháng 8-2008. Kết quả là các doanh nghiệp Âu Châu đã rút hết các đầu tư ra khỏi Nga, và qua đầu tư ở Tunisia và các nước Phi Châu gần Tunisia. Điều nầy, làm cho Russia mất mỗi tháng hàng 7 tỉ đô la đầu tư. Giá dầu từ 147 đô xuống 40 đô 1 thùng đã làm cho Nga hụt ngân sách. Giá chứng khoáng của Nga sụt giảm 70% và thất nghiệp nổi lên khắp nơi làm Nga thâm hụt thêm ngoại tệ.)

Tuy vậy, Nga khẳng định không bao giờ có ý bán các sản phẩm có kỹ thuật cao cho Trung Quốc kể từ sau khi TQ mua các chiến đấu cơ SuKhôi 27 của Nga vào năm 2001, đem về tháo ra từng mảnh, và TQ làm ra chiến đấu cơ J-11.  Kiểu mẫu chiếc phản lực J-11 nầy giống hệt như Sukhoi 27, chỉ khác tên gọi. Hiện nay, Nga đang kiện TQ ra tòa về tội vi phạm tác-quyền.

Khi phía Bắc và phía Nam biên giới của Trung Quốc không bị đe dọa bởi Nga và Việt Nam, Trung Quốc sẽ rãnh tay làm các kế hoạch khác  và mục đích sau cùng của các kế hoạch ấy thì chắc chắn sẽ không có lợi cho VN.  (tóm gọn Biển Đông để đánh cá và khai thác mỏ dầu và khí đốt; chặn con dường tiếp tế nhiên liệu, và vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu của Nhật, Nam Hàn, và Đài Loan khi cần thiết…)

 

Asia Sentinel

A Mining Plan Tests Vietnam’s Policymakers

Written by Anh Le Tran Monday, 23 March 2009

Chinese seek to develop bauxite mines in environmentally and socially sensitive area

Vietnamese environmentalists and social scientists are growing increasingly concerned over the environmental, social, economic and political implications of a government plan to allow minerals-starved Chinese companies develop massive Central Highlands bauxite mining projects.

Vietnam is estimated to have up to 8 billion tonnes of bauxite ores, used to produce alumina, a white powder that is smelted to produce aluminum. Two big projects to mine bauxite and produce alumina have been kicked off in Lam Dong and Dac Nong Provinces. The country has estimated that it will need up to US$20 billion in investment by 2025 to make use of the resource. Enter the Chinese.

The idea of exploiting rich bauxite reserves is not new. As long ago as the 1980s, when the country was a member of the Council of Mutual Economic Assistance (CMEA), an economic bloc founded by the Soviet Union and other Eastern European communist states, Vietnam brought a program to mine bauxite before the CMEA. But after Soviet analysts studied the feasibility of the program, the CMEA recommended against the idea, mainly due to serious environmental concerns.

Those concerns haven’t gone away. The only thing that has changed is the intensity of the opposition and the multiplying of other concerns as well as environmentalists and social scientists have rung alarm bells over the potential destruction.

Bauxite mining involves the discharge of toxic which must be stored safely and permanently. However, the Central Highlands terrain makes it more difficult to safely store the slurry to prevent contamination to the surrounding and downstream areas. In addition, critics see high risk regarding the situation in which the Chinese companies have won both bids to construct two big alumina plants (costing nearly US$500 million each) and possibly will venture into other projects as well.

The concern is that the technologies won’t be the best available. Nguyen Thanh Son, a Vietnamese expert in the area and one of the most prominent opponents of the plan, says the Chinese side won the bids is due to the lowering of technology standards by the Vietnamese side so that Chinese companies could offer attractive bidding prices.

China itself has faced serious environmental problems associated with bauxite mining, prompting it to close several mines in Guangxi even with demand for bauxite on the rise. Some critics thus view China’s high level of involvement in Vietnam’s bauxite projects as a form of exporting environmental degradation while trying to secure a new source of supply.

In terms of economic efficiency, the projects don’t seem to fare well even with a simple cost-and-benefit analysis. The Central Highlands is home to important cash crops, coffee, tea, and rubber, that have earned increasing amounts of hard currency through exports. However, the survival of these crops will be in great danger due to two key factors.

First, as more projects are implemented, more land will be cleared for mining and storing the toxic mud. After the bauxite ores are mined, the soil is no longer suitable for growing crops without extensive remediation. Second, bauxite mining and alumina production require extensive water, which is already limited in the region. As a result, water availability for growing will be severely reduced, leading to poorer crops. Together, these two factors raise the spectre of the potential loss of the region’s comparative advantage in growing the cash crops and strangle its ability to develop a new comparative advantage in ecotourism, which is increasingly popular worldwide.

The economic costs will even be much greater when other negative externalities, including environmental degradation, are factored in. On the other hand, the benefits are doubtful. It has been pointed out that with the same level of investment, the rate of return of a bauxite project is far less than coffee-growing. Moreover, to be competitive, the production of alumina requires a cheap and readily available source of electricity that Vietnam currently does not have and will not have for any time soon.

With its chronic shortage of electricity, the shifting of this type of energy toward alumina production will further exacerbate the problem, putting other types of production at risk.

With respect to the social and political impacts, the full-scale implementation of the bauxite projects will further marginalize ethnic groups in the region as their cultural green living space is drastically reduced, with the potential to create social tension in an already delicate area. In addition, the presence of Chinese bauxite-related workers in this military strategic region has created an uneased feeling in certain Vietnamese.

Government responses and actions have been inadequate at best. In November 2007, Prime Minister Nguyen Tan Dung signed a directive approving the plan for mining, processing and use of bauxite. However, up to this point, there has not any approved strategic environmental evaluation to assess the environmental impacts of the bauxite plan in accordance with Vietnamese environmental laws.

Vinacomin, the state-owned enterprise in charge of carrying out the plan, held two conferences in 2007 and 2008 to assess the impacts of the bauxite projects. During these occasions, many Vietnamese experts expressed their deepest concerns regarding the serious negative impacts of the plan. However, nothing of significance has materialized to address these concerns since the projects are still underway.

In the face of continued opposition, Prime Minister Dung held a meeting to discuss issues relating to bauxite mining in early January this year. He concluded by ordering the Ministry of Industry and Trade to seek permission from the politburo of Vietnam’s communist party to continue the projects and asking Deputy Prime Minister Hoang Trung Hai to hold a scientific conference to address the issues.

Although the conference has been scheduled for some time during the first half of April, Hai already announced last week that the projects in Lam Dong and Dac Nong will continue as planned. That has prompted observers to raise the question whether the conference will produce any meaningful changes that would be accepted by the government.

Given the government’s responses, one thing is clear: it has a very determined political will to go ahead with the bauxite plan in the face of opposition. The question that arises is why there is such a strong political will for a seemingly unsound plan. Critics have speculated a few possible answers. The most often mentioned is the influence of China through the political channel at the top level.

What is really at stake now is whether the Vietnamese government has the political courage to meaningfully involve all of the stakeholders and correct the shortcomings before it is too late.

Anh Le Tran teaches economics and management at Lasell College in Massachusetts in the United States.

Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Chính trị, Kinh tế Việt Nam | Leave a Comment »

Việt Nam đã Bắt đầu Khai thác mỏ Bô xít

Posted by adminbasam on 18/03/2009

TS. Nguyễn Thành Sơn: Đăk Nông trước bài toán hậu khai khoáng Bô-xít

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÁO CÁO
V/v làm rõ một số ý kiến tại cuộc Tọa đàm về bauxite ngày 20/2/2009

Trân trọng kính gửi:

– Đ/c Trương Tấn Sang UV Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư

– Đ/c Ngô Văn Dụ Bí thư TW Đảng CSVN, Chánh Văn phòng TW Đảng

Tôi được mời tham gia cuộc Tọa đàm về bauxite do Văn Phòng Trung Ương tổ chức ngày 20/2/2009. Do thời lượng Tọa đàm có hạn, vì chưa có điều kiện phát biểu, chấp hành ý kiến chỉ đạo của đ/c Ngô Văn Dụ – chủ trì Tọa đàm, tôi xin được trình bầy với Ban Bí thư và Văn phòng TW Đảng CSVN một số ý kiến như sau:

1/ Trước hết tôi hoàn toàn đồng tình với đa số các ý kiến tại cuộc Tọa đàm đều cho rằng việc lựa chọn nhà thầu Trung Quốc (TQ) vào Tây Nguyên là một nguy cơ rất lớn đối với an ninh quốc phòng. Trong các tham luận công khai, tôi cũng như các nhà khoa học đều hiểu, nhưng chưa nêu thẳng vấn đề: lựa chọn nhà thầu Trung Quốc là một sai lầm cố ý của Tập đoàn Than và Khoáng sản (TKV). Tôi xin nói rõ hơn như sau:

– Là cán bộ của TKV, đến nay tôi đã có kinh nghiệm (hiểu rõ cách đấu thầu) qua không ít hơn 6 cuộc đấu thầu quốc tế các dự án nhiệt điện chạy than của TKV khi tôi được giao trực tiếp tham gia (là gíam đốc cty Tư vấn), hay quản lý (là trưởng ban điện lực) và phụ trách (là Tổng giám đốc cty nhiệt điện). Tôi có thể khẳng định, nếu đấu thầu một cách minh bạch, đúng luật, và với tiêu chí là lợi ích tối đa lâu dài của đất nước (chứ không phải của chủ đầu tư) thì không thể có một nhà thầu TQ nào có thể thắng thầu trong bất cứ dự án bauxite nào.

– Để chọn được nhà thầu TQ, Than và Khoáng Sản Việt nam đã hạ rất thấp các tiêu chuẩn công nghệ trong đấu thầu, đã lựa chọn công nghệ thải bùn đỏ bằng công nghệ “ướt” rất lạc hậu và rất nguy hại cho môi trường mà cả thế giới đã không còn chấp nhận (ngay cả Trung Quốc, Nga và Ấn Độ cũng đang chuyển dần các nhà máy của mình từ công nghệ “ướt” sang công nghệ “khô”, các nước ở vùng nhiệt đới có mưa nhiều giống như Tây Nguyên cũng không áp dụng công nghệ này). Đây là một quyết định để dẫn tới việc chỉ các nhà thầu TQ có thể tham gia đấu thầu và có thể chào giá rất thấp (vì TQ đang có sẵn công nghệ, đang cần phải “bán sắt vụn” lại có dịp để “chuyển giao” sang VN).

– Việc nâng công suất nhà máy lên gấp 2 lần so với quy hoạch ban đầu và triển khai đồng loạt cả hai dự án lớn cũng được TKV làm theo “lời khuyên” của nhà thầu Trung Quốc, với lý do làm “nhỏ” thì các nhà thầu sẽ không tham gia. Thực tế cho thấy, tuy đã làm “lớn”, nhưng do cố tình lựa chọn công nghệ lạc hậu chỉ có ở Trung Quốc, nên cũng chẳng có nhà thầu nào khác (ngoài các nhà thầu Trung Quốc) tham gia đấu thầu.

Ngoài ra, tương tự như dự án luyện đồng Sinh Quyền, tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm alumina cũng rất quan trọng. Tôi e ngại rằng (để đấu thầu, giảm chi phí đầu tư), chất lượng sản phẩm alumina do TQ chào sẽ rất thấp để sau này TQ sẽ mua lại với giá rẻ mạt (như hiện đang mua loại đồng của Sinh Quyền). TQ không có công nghệ nguồn về nhôm, cũng phải đi nhập của các nước phát triển, còn sản phẩm alumina của TQ có chất lượng khác nhau và có tiêu chuẩn thấp hơn so với của các nước phát triển.

2/ Về ý kiến cho rằng cần phát triển bauxite hơn phát triển cây công nghiệp (của các đ/c Hoàng Sỹ Sơn- phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng và Phan Tuấn Pha- Bí thư tỉnh ủy Đắk Nông)

Cả hai đ/c đại diện cho Đảng bộ và UBND các tỉnh có dự án bauxite đều phát biểu ủng hộ tiếp tục triển khai các dự án bauxite vì hai lý do chính: (i) bauxite có lợi thế hơn sản phẩm nông nghiệp (cà phê, chè, điều, cau su) vì giá bán sản phẩm nông nghiệp rất biến động; và (ii) nếu không khai thác bauxite thì (bauxite vẫn chỉ là đất), 20-30 năm nữa con cháu chúng ta sẽ phê phán chúng ta tại sao không khai thác!.

(i)Trước hết, tôi cho rằng cả hai ý kiến này đều không chính xác, và nếu xem xét kỹ thì đây là những ý kiến phản khoa học, do thiếu thông tin.

Bauxite gắn chặt với vùng đất đỏ bazan trên Tây Nguyên là tài nguyên khoáng sản có hạn, không tái sinh, còn cây công nghiệp là nguồn tài nguyên vô hạn, có tái sinh (nhờ được trồng trên đất bazan tài sản vô giá của quốc gia này). Thế mạnh cạnh tranh cốt lõi của Tây Nguyên là đất đỏ bazan. Phát triển cây công nghiệp góp phần duy trì và làm tăng thêm mầu xanh cho môi trường, giảm các nguy cơ như lũ ống, lũ quyét, hạn hán kéo dài, duy trì và phát huy được thế mạnh của đất đỏ bazan.

Còn khai thác bauxite sẽ làm mất đi thế mạnh của Tây Nguyên, hủy diệt mầu xanh, làm thay đổi thổ nhưỡng của vùng đất đỏ bazan, làm tăng thêm nguy vơ về hạn hán kéo dài, lũ ống, lũ quyét xẩy ra nhiều hơn. Nếu tiếp tục cho phát triển các dự án bauxite như cách làm hiện nay, về lâu dài cái giá phải trả của VN là không phát triển được cây công nghiệp trên vùng Tây Nguyên (do sẽ thiếu nước ngọt, thổ nhưỡng đất bazan thay đổi) và có nguy cơ còn làm mất và ô nhiễm nguồn nước ngọt để phát triển kinh tế cho các tỉnh vùng hạ lưu (Đồng Nai, Bình Dương, TP. HCM v.v.).

(ii) Giá bán sản phẩm nông nghiệp tuy có biến động nhưng nhu cầu tiêu dùng của cả loài người về cà phê, chè, đều là ổn định, được tiêu thụ ở rất nhiều nước, không có sản phẩm thay thế.

Giá bán sản phẩm bauxite biến động rất lớn, nhu cầu của TG cũng thay đổi và chỉ được sử dụng chủ yếu tập trung ở một số nước có ngành chế tạo xe hơi và máy bay như Mỹ, Nhật, Đức, Nga, TQ.

Tôi xin cập nhật những thông tin gần đây nhất: giá bán nhôm trên Thị trường Giao dịch Kim loại Luân Đôn (LME) giao động rất lớn, giá thấp nhất 1040U$/tấn (1993) và cao nhất lên tới 3249 U$/tấn (2006).

Chỉ từ tháng 7/2008 đến tháng 10/2008 giá nhôm tại LME đã giảm từ 3300 xuống còn 1885 rồi 1500 U$/tấn.

Theo đánh giá của các chuyên gia về nhôm, hiện nay giá bán hòa vốn đối với 75% các nhà máy phải là 2500U$/tấn trong khi giá thành sản xuất bình quân của thế giới 2700-3200U$/tấn.

Vì thế các nước đã và đang tiếp tục cắt giảm sản lượng (chỉ tính riêng năm 2008: TQ đã cắt giảm 18% sản lượng nhôm tương đương với công suất 3,22-3,70 triệu tấn/năm, 10% sản lượng alumina; tập đoàn Alcoa của Mỹ đã giảm 18% sản lượng nhôm tương đương với 3,5 triệu tấn/năm; Brazin giảm tới 40% sản lượng nhôm; Nga- giảm 25%, Tadzickistan (thuộc LX cũ)- 10% v.v.).

Trong các năm tới thị trường và giá bán của sản phẩm bauxite sẽ còn tiếp tục biến động theo chiều hướng xấu đi: dự báo năm 2009, nhu cầu alumina của TQ chỉ có 27,83 tr. tấn, trong khi tổng công suất của các nhà máy sản xuất lên tới 32,97 tr.tấn (thừa 5,14 tr.tấn).

(iii) Về ý kiến (của tỉnh Đắc Nông) cho rằng cần khai thác bauxite ngay bây giờ chứ không để giành cho thế hệ sau, “nếu không khai thác thì bauxite cũng chỉ là đất thôi”: đây cũng là ý kiến phản khoa học và ngắn về tầm nhìn. Tôi xin báo cáo như sau:

– Nếu hiện nay chúng ta sớm phát triển ngành công nghiệp bauxite-nhôm, thì chúng ta phải đối mặt với một bất cập rất lớn không thể vượt qua là thiếu điện giá rẻ. Trên thế giới các nước đều gắn nhôm với thủy điện, vì chỉ có thủy điện mới cho giá rẻ (dưới 3cents/kWh) trong khi tỷ trọng chi phí về điện trong chi phí sản xuất nhôm rất cao (chiếm tới 40-65%).

Gần đây, Ngân hàng xuất nhập khẩu TQ đã phải cho vay bù lãi suất tới 2-3%/năm để một công ty nhôm của TQ đầu tư 3,2 tỷ U$ xây dựng nhà máy nhôm ở Mã Lai vì hai lý do:

(i) Khuyến khích việc đưa các dự án nhôm tiêu hao nhiều điện năng ra nước ngoài (trong khi TQ cũng không phải thiếu điện trầm trọng như VN);

(ii) Nhà máy nhôm này (do TQ nắm không ít hơn 50%) được quyền mua toàn bộ sản lượng điện của nhà máy thủy diện Bakun công suất 2400MW sẽ được Mã Lai xây dựng ở tỉnh Saravac với giá bán điện chỉ có 2 cents/kWh. Dự án thủy điện này cũng do một tổng công ty nhà nước khác của TQ là Sinohydro xây dựng. Toàn bộ sản phẩm nhôm sẽ được bán lại cho TQ. Các tập đoàn nhôm UC Ruasal (Nga) và Alcoal (Mỹ) cũng coi việc đầu tư vào các nhà máy thủy điện để có được nguồn điện lớn với giá rẻ là ưu tiên số 1 trong hoạt động của mình.

Toàn bộ tiềm năng về thủy điện của các tỉnh Tây Nguyên, nếu được khai thác hết cũng chỉ tương đương với dự án nói trên của Mã Lai. (2)

– Nếu sau 20-30 năm nữa chúng ta mới phát triển ngành công nghiệp nhôm, thì con cháu chúng ta sẽ không “phê phán chúng ta là dốt”, như ý kiến của đ/c bí thư tỉnh Đắc Nông, ngược lại, thế hệ mai sau sẽ phải cám ơn chúng ta là đã rất thông minh, có tầm nhìn xa về khoa học công nghệ. Nhân đây tôi xin nói rõ hơn:

+ Tại cuộc hội thảo đầu tiên về bauxite ở Đắk Nông tháng 12/2007 do tỉnh Đắt Nông và TKV tổ chức, trong tham luận của mình tôi đã lưu ý đến bom Napal- là một loại bom cháy, có sức hủy diệt cao là một phát minh của Đại học Ha Vớt Hoa Kỳ, rất có hại trong chiến tranh, nhưng rất có ích trong phát triển kinh tế.

+ Theo dự báo của các nhà khoa học, sau 20-30 năm nữa, trình độ khoa học công nghệ (trong đó có các công nghệ về hóa-lý) sẽ cho phép chúng ta áp dụng phát minh trên của Đại học Ha Vớt trong việc đảm bảo an ninh năng lượng. Kim loại nhôm sẽ được sử dụng để phát điện (có thể thay cho dầu mỏ, khí đốt và than đá hay uranium đang dần cạn kiệt) với hiệu suất rất cao. Theo tính toán của các nhà khoa học, để sản xuất ra 1 “đơn vị nhôm”, chúng ta cần 1 “đơn vị năng lượng” (đơn vị này hiện nay rất lớn). Nhưng sau 20-30 năm nữa, trình độ công nghệ cho phép thực hiện qui trình ngược lại, từ 1 “đơn vị nhôm” chúng ta có thể sản xuất ra được gần 2 “đơn vị năng lượng” dựa trên nguyên lý hoạt động của bom Napal (phản ứng ô xy hóa của kim loại nhôm tinh khiết cho phép chúng ta thu được một lượng nhiệt rất lớn).

+ Ngoài ra hiện nay ô xít nhôm Al2O3 (là alumina- sản phẩm của các dự án bauxite Tây Nguyên để xuất khẩu) mới chỉ được dùng làm nguyên liệu thô cho ngành luyện nhôm và sản xuất một số hóa chất đơn giản khác.

Nhưng trong tương lai, cũng như các loại ô xít kim loại khác sẽ được sử dụng để khử khí thải CO2 trong các nhà máy nhiệt điện để thu được khí CO2 (là một dạng khí cháy, có nhiệt năng cao) có thể tái sử dụng lại ngay cho chính các nhà máy nhiệt điện hay cho các lò hơi công nghiệp. Trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều thành tựu (bản quyền và bí quyết công nghệ) trong vấn đề này (chủ yếu cũng là của Mỹ).

+ Trên quan điểm khoa học và công nghệ, Đảng ta đã rất sáng suốt khi trong Báo cáo chính trị của Đại hội X đã bỏ cụm từ “khai thác bô-xít và sản xuất alumin” ra khỏi danh mục các sản phẩm cần được hỗ trợ đầu tư phát triển, thay vào đó, đã khẳng định “Khẩn trương thu hút vốn trong và ngoài nước để đầu tư thực hiện một số dự án quan trọng về khai thác dầu khí, lọc dầu và hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng. Có chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô”.

Tôi cho rằng, ý kiến của đ/c Bí thư tỉnh Ủy Đắk Nông tại cuộc Tọa đàm là không có tính khoa học và càng không phù hợp với tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

3/ Về ý kiến cho rằng công nghệ của Trung Quốc là tốt: Tại cuộc Hội thảo do Liên hiệp các hội Khoa Học Kỹ Thuật VN (VUSTA) (Chủ tịch VUSTA là ông Hồ Uy Liêm) tổ chức ngày 19/1/1009 vừa qua, trong Báo cáo của mình tôi đã nêu rõ một ví dụ về công nghệ lạc hậu, không hiệu quả (công nghệ luyện đồng) mà TQ mới chuyển giao cho TKV trong dự án đồng Sinh Quyền gần đây. Tôi cho rằng không cần nhắc lại. Nhân đây tôi chỉ muốn nhấn mạnh thêm:

Những nhà máy alumina phía Nam TQ (mà TKV đã tổ chức cho một số cán bộ ngoài TKV đi thăm quan) sử dụng loại bô xít (sa khoáng) khác hẳn với bô xít của Tây Nguyên (phong hóa) về nguồn gốc. Quá trình sản xuất alumina thực chất là các quá trình hóa-lý. Việc lựa chọn công nghệ phải dựa trên kết quả phân tích về thành phần thạch học và thành phần hóa học của quặng chứ không thể sao chép “copy” và đánh giá công nghệ bằng mắt thường.

Ngoài ra, chất lượng quặng bauxite của VN (tuy chưa có được đánh giá chi tiết, nhưng) căn cứ vào các thông tin hiện có, thì không cao, đòi hỏi phải tuyển để nâng cao chất lượng trước khi áp dụng công nghệ Bayer.

4/ Về ý kiến cho rằng khai thác bauxite sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và không chiếm nhiều đất canh tác của các tỉnh Tây Nguyên:

– Trước hết, về kinh tế, các nhà khoa học đều khẳng định điều ngược lại. Rất may, lần nào, theo báo cáo tại cuộc Tọa đàm của chính đ/c Hoàng Sỹ Sơn- phó Chủ tịch tỉnh Lâm Đồng, các dự án bauxite hàng năm chỉ đóng góp 120-150 tỷ đồng cho ngân sách địa phương chứ không phải 1500-2000 tỷ (được phóng đại lên 10 lần) như trả lời trên báo của đ/c Chủ tịch tỉnh Đắk Nông. Thực ra mức đóng góp này là không tương xứng so với số tiền rất lớn VN phải đi vay để đầu tư, và thấp hơn nhiều nếu chúng ta đầu tư vào mục đích khác, không phải là bauxite.

– Về diện tích chiếm đất, tuy diện tích không lớn so với toàn vùng lãnh thổ của Tây Nguyên, nhưng diện tích đất bị các dự án chiếm dụng vĩnh viễn lại là những nơi có giá trị canh tác cao, và (theo báo cáo của sở TNMT Đắk Nông) lớn hơn nhiều lần diện tích được tạo ra hàng năm (so với thành tích mở rộng khai hoang, trồng rừng) của các địa phương này.

5/ Về nội dung bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: tôi cho rằng ý kiến của đ/c Chủ tịch VUSTA (Hồ Uy Liêm) nêu trong Tọa đàm (đã không đại diện cho các nhà khoa học) là rất khiếm nhã. Tôi nghĩ cá nhân đ/c Hồ Uy Liêm cần chính thức xin lỗi Đại tướng về lời phát biểu gây nghi ngờ nội dung bức thư.

Tôi hoàn toàn ủng hộ và thêm cảm phục Đại Tướng về bức thư đầy tâm huyết và đầy trách nhiệm đó. Bản thân tôi đã từng làm đại diện cho Bộ Mỏ và Than của VN làm việc tại Ban Thư ký của COMECON trong cùng thời gian phía Chính Phủ VN đưa dự án bô-xít Tây Nguyên vào Chương trình hợp tác đa biên của COMECON (ngoài tôi, khi đó còn có nhiều người khác chứng kiến như các anh Dương Đức Ưng- đại diện cho Bộ Cơ khí Luyện Kim (nay là Bộ Công thương), Lê Dũng- đại diện cho UB KHKT (nay là Bộ Khoa học công nghệ) v.v.). Chúng tôi có đủ thông tin và điều kiện để tìm hiểu dự án này. Những vấn đề Đại tướng đã nêu trong thư là hoàn toàn chính xác. Khi đó (và cả bây giờ), Liên Xô và các nước thành viên COMECON rất cần bô-xít của VN để luyện nhôm cung cấp cho ngành chế tạo xe hơi, máy bay, và trang thiết bị quân sự-quốc phòng. Liên Xô (cũ) không cần chè của VN (khi đó người dân LX chỉ dùng chè của Ấn Độ hay của Srilanca), mà chỉ cần bô-xit của VN, nhưng vẫn khuyên VN không phát triển dự án bô-xít mà phát triển các nông trường chè.

6/ Về nhiều ý kiến cho rằng bài tham luận của TKV là “rất hay nhưng khó tin”. Nhân đây, tôi cũng xin bình luận thêm như sau:

– Trước hết, có thể thống nhất một điều là: VN lần đầu tiên triển khai các dự án bauxite, chưa có kinh nghiệm thực tế, nên những vấn đề đang được nêu ra đều chỉ nằm trên giấy (kể cả nhận định của Bộ Công thương, hay cam kết của TKV), còn dừng ở mức độ lý thuyết, dựa trên các thông tin trên TG (của các nhà khoa học) đều chưa được thực tế chứng minh đúng/sai . Điều có thể ai cũng đã nhận ra là tính rủi ro (về mọi mặt: công nghệ, kỹ thuật, môi trường, an ninh, quốc phòng, v.v…) trên thực tế quá cao, còn những giải pháp mới chỉ là “khẩu hiệu”.

– Bản thân tôi là một cán bộ làm việc ở Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) từ khi TKV mới được thành lâp đến nay (hiện nay tôi được giao giữ chức Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng -TKV, là chi nhánh của TKV tại Hưng Yên để phát triển bể than Đồng bằng sông Hồng), tôi cũng cho rằng những “giải pháp” của TKV không có cơ sở khoa học, mới chỉ dừng lại ở mức độ nói về vấn đề bùn đỏ ( có độ pH cao), TKV cam kết là không nguy hại, có thể xử lý được. Nhưng, như trên tôi đã nêu, bùn đỏ sẽ ít nguy hiểm khi được xử lý bằng công nghệ thải “khô”, còn với công nghệ thải “ướt” như TKV và các nhà thầu TQ đang áp dụng ở Tây Nguyên (chất lỏng 54,4%, chất rắn 45,6%) thì lại rất nguy hại bởi các lý do sau: (i) “Khô” có nghĩa là ít chất sút ăn da (NaOH) lẫn trong bùn đỏ; (ii) Nếu thải “khô”, các thành phần cỡ hạt khác nhau của bùn đỏ sẽ đông cứng lại thành chất rắn, ít nguy hại nếu bị trôi lấp. Còn “ướt” thì dung dịch bùn đỏ sẽ phân ly thành nhiều pha với các cỡ hạt khác nhau, trong đó có pha cỡ hạt siêu nhỏ gồm các kim loại nặng độc hại sẽ ngấm xuống đất, còn các pha cỡ hạt lớn lại không thể liên kết lại với nhau khi gặp mưa rất nguy hiểm, dễ bị trôi lấp; (iii) Với công nghệ “khô” thì các đập chắn của các hồ bùn đỏ không phải chịu lực, chỉ có chức năng “chắn”. Ngược lại, với công nghệ thải “ướt”, các đập của hồ bùn đỏ (theo lựa chọn của TKV cao tới 25m, dài 282m, nằm trên độ cao 850m so với mực nước biển) sẽ giống như các đập hồ thủy điện, phải chịu lực do áp lực thủy tĩnh của bùn đỏ ướt tạo ra, nên kém an toàn.

– Than và Khoáng sản Việt Nam nói sẽ rất coi trọng vấn đề xử lý vấn đề bùn đỏ theo tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên trên thực tế, vì lợi ích của chủ đầu tư, các thiết kế hồ bùn đỏ đều lấy theo tiêu chuẩn GB của TQ. Với qui mô hồ thải bùn đỏ lớn như của TKV (rộng 116ha), các nước trên thế giới phải đầu tư hàng trăm triệu US$, trong khi hồ bùn đỏ của TKV do TQ thiết kế có mức đầu tư ít hơn nhiều lần. Thực tế các dự án nhiệt điện của TKV do các nhà thầu TQ thực hiện đã cho thất, các tiêu chuẩn GB của TQ thường thấp hơn nhiều so với của các nước khác, trong khi đó các nhà thầu TQ thường hay “nói một đằng làm một nẻo”, càng không ai dám tin.

– Vấn đề hoành thổ và bảo vệ môi trường trong khai thác bauxie: mọi người đều hiểu rất rõ thực trạng môi trường của vùng Quảng Ninh của nước ta hiện nay như thế nào ?

– Một điều nữa không thể không làm các đại biểu nghi ngờ là: (i) Tác giả của những bài trình diễn, tham luận đó của TKV là anh Nguyễn Chí Quang – người đã từng bị Thanh tra Chính Phủ yêu cầu TKV buộc thôi việc trong dịp Thanh tra CP làm việc với TVN năm 1999-2000. Sau khi bị sa thải, thời gian gần đây, anh Quang lại đích thân Chủ tịch HĐQT TKV nhận làm “cố vấn riêng” cho cá nhân Chủ tịch HĐQT. Mặc dù vậy, trong các giao dịch, anh Quang vẫn tự coi mình là cố vấn của HĐQT TKV, cũng có mặt cùng Chủ tịch HĐQT để báo cáo trong nhiều cuộc hội thảo và công khai phát biểu dưới tư cách là “đại diện cho TKV”; (ii) Các chuyên gia giỏi có kinh nghiệm và trình độ thực sự về bauxie-nhôm trước đây (khi làm việc với COMECON, như Hoàng Kim Phú, Tô Ngọc Thái, Nguyễn Hoàng Ban v.v.) thì không được TKV sử dụng, trong khi TKV lại tích cực sử dụng một kỹ sư đã về hưu là Dương Thanh Sùng – người được đánh giá (công khai tại hội thảo của VUSTA) là chỉ thuộc loại “chai lọ” trong lĩnh vực bauxite-nhôm. Chính vì sự mập mờ này đã làm cho nhiều người (ngay cả trong TKV và cả bản thân Đại tướng) không thể tin cậy vào những gì “Than và Khoáng sản Việt Nam nói”.

7/ Về thái độ tiếp thu ý kiến của TKV: Gần đây tôi nhận được công văn “MẬT” của Đảng ủy TKV gửi cho cá nhân tôi với nột dung hình như là tôi đang bị mắc lừa các thế lực phản động hay đang chống lại nghị quyết của Đảng vì đã có những phát biểu chống lại các dự án bô-xít của TKV. Tôi rất bất bình về nội dung công văn này. TKV không những không tiếp thu ý kiến của tôi (trong khi TKV chưa có ý kiến nào để phản bác và dư luận rộng rãi đều đồng tình ủng hộ ý kiến của tôi”, nhưng Đảng ủy TKV lại có văn bản mang tính răn đe theo kiểu “cả vú lấp miệng em” như vậy là không thể chấp nhận được. Nhân đây, tôi xin chính thức báo cáo với Ban Bí thư cũng như VP TW Đảng về vấn đề này như sau:

– Từ trước khi thủ tướng phê duyệt quy hoạch bô-xít, tôi đã viết nhiều bài báo khoa học phân tích tính không khả thi của các dự án bauxite đăng trên các tạp chí của VN. Sau khi Thủ tướng ban hành Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01/11/2007, tôi đuợc mời tham luận tại cuộc Hội thảo đầu tiên ở Đắk Nông (12/2007) đến nay, tôi (tuy đang hưởng lương do TKV trả) vẫn đã và đang chính thức phát biểu công khai, minh bạch ý kiến của cá nhân tôi với tư cách là một cán bộ KHKT phản đối việc triển khai các dự án bauxite trên Tây Nguyên.

– Đây không phải là lần đầu tiên tôi phải đối các việc làm của TKV hay của Bộ Năng lượng (cũ). Những ý kiến phản đối của tôi trước đây được cho là “trái” với các quyết định của TKV, và của Bộ NL đến nay đều được thời gian chứng minh là hoàn toàn đúng đắn (như việc chấm thầu không đúng của dự án điện Na Dương, việc sửa đổi hồ sơ mời thầu có lợi cho nhà thầu trong các dự án điện, việc di chuyển nhà sàng Hòn Gai ra địa điểm Nam Cầu trắng, việc gia tăng qua mức sản lượng than của các mỏ để xuất khẩu cho TQ, v.v..)

– Cũng chính vì “trung ngôn thì nghịch nhĩ” tôi đã từng “được” TKV “xử lý” theo cách áp đặt cho luân chuyển công tác theo tiêu chí việc gì đang làm tốt thì không cho làm nữa, giao cho việc mới khó hơn, để nhường chỗ cho những “chung thần” chỉ biết làm theo.

– Bản thân tôi, là một cán bộ KHKT được Đảng và Nhà nước ưu tiên cho đi đào tạo nhiều lần ở nước ngoài, là một Đảng viên ĐCSVN (tôi được kết nạp tại chi bộ Vụ Kế hoạch Bộ Mỏ và Than từ 1983), tôi luôn sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, đúng lương tri, phục vụ suốt đời cho sự nghiệp của Đảng và dân tộc, chứ không phải chỉ biết làm theo ý đồ và phục vụ cho lợi ích của một nhóm người. Bố đẻ tôi là Đảng viên, cán bộ tiền khởi nghĩa, Huân chương kháng chiến hạng Nhất và hạng Ba, Huy hiệu 60 năm tuổi đảng, Huy hiệu các chiến sỹ bị địch bắt tù đầy đã giáo dục tôi hiểu rõ thế lực phản động là ai và mình cần phải làm gì?.

– Tôi không cần phải được Đảng Ủy TKV nhắc nhở về việc tôn trọng pháp luật, trong khi TKV đã cố tình lợi dụng cơ quan ngôn luận của mình (Tạp chí Than-Khoáng sản VN) để công khai vi phạm Luật báo chí, tung tin sai sự thật, bôi nhọ danh dự của tập thể công ty do tôi phụ trách (đúng vào dịp tôi đang bận dự thảo về bauxite ở Đắk Nông)

8/ Về Hội thảo sắp tới do Chính Phủ sẽ tổ chức: (i) Tôi cho rằng cần được chuẩn bị kỹ và phải có đủ thời lượng cần thiết, tạo được tính công khai, dân chủ, tránh hình thức vội chụp mũ; (ii) Nội dung Hội thảo nên tập chung ưu tiên bàn kỹ về tính khả thi về kinh tế, đánh giá hiệu quả kinh tế đầy đủ; và (iii) Để tiết kiệm thời lượng cho việc trao đổi đầy đủ có lẽ không nên mời các đối tác nước ngoài tham dự vì có nhiều vấn đề tế nhị và nhậy cảm.

Kinh nghiệm cho thấy tại hội thảo 10/2008 ở Đắk Nông vừa qua, các đối tác nước ngoài chỉ lợi dụng thời lượng của hội thảo để làm marketing và quảng bá cho bản thân họ. Còn trên thực tế họ làm như thế nào thì phía VN (Bộ Cơ khí luyện kim trước kia và TKV ngày nay) đã đi xem, thăm quan, khảo sát gần như khắp TG rồi. Nếu đã mời đối tác nước ngoài, cần mời đầy đủ cả các đối tác cũng đã từng khuyên chúng ta không nên làm ồ ạt như hiện nay (như nhà thầu của Pháp)

Cuối cùng, tôi xin chân thành cám ơn các đ/c đã cho phép tôi có dịp trình bầy ý kiến của mình. Xin kính chúc các đồng chí sức khỏe và hạnh phúc.

Kính thư,

TS. Nguyễn Thành Sơn

Nguồn: Đàn Chim Việt

 

 

Thế là xong! cờ Trung Quốc đã tung bay trên bầu trời Tây Nguyên

RFA

Việt Nam đã Bắt đầu Khai thác mỏ Bô xít

Mỏ bauxite đã được lên kế hoạch tại Việt Nam sẽ tạo ra công ăn việc làm, nhưng một số chuyên gia lo sợ về tác động tới môi trường của nó.

Ngày 17-3-2009

 

HÀ NỘI – Các giới chức Việt Nam xem ra đã có sẵn ý định để phát động một dự án khai thác bauxite gây nhiều tranh cãi tại vùng Cao nguyên Trung phần bất chấp những cảnh báo từ một số chuyên gia và vị Đại tướng anh hùng Võ Nguyên Giáp cho rằng dự án này có thể hủy hoại môi trường ở đây.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gọi kế hoạch khai thác bauxite là “một chính sách lớn của đảng và nhà nước” và đã chấp thuận cho nhiều dự án khai thác mỏ có quy mô lớn tại Cao nguyên Trung phần.

Kế hoạch chính của chính phủ nầy kêu gọi các nguồn vốn đầu tư khoảng 15 tỉ đô la từ đây cho đến trước năm 2025 để khai thác những nguồn dự trữ bauxite dồi dào của Việt Nam, được ước tính là lớn vào hàng thứ ba trên thế giới.

Bauxite được xem như là thứ quặng nhôm quan trọng nhất và thường thường là mỏ lộ thiên.

Những bài báo gần đây nhất cho biết ông Dũng trước đó đã phê chuẩn một bản chỉ thị vào tháng 11 cho phép khai thác, chế biến, và sử dụng quặng bauxite trong vùng cao nguyên trồng cà phê đang ngày càng phát triển. (1)

Dự án này đã và đang gặp phải  nhiều sự phản đối từ các nhà khoa học và một số cư dân địa phương, những người nầy sợ rằng việc khai mỏ lộ thiên sẽ tàn phá hủy diệt những khu  rừng rộng lớn và những khu vực đang sản xuất trồng trọt và tạo ra những núi chất bùn thải độc hại.

Hầu hết cư dân ở đây cho biết họ mong khu mỏ sẽ cung cấp công ăn việc làm đang hết sức khan hiếm, trong lúc nền kinh tế của Việt Nam suy giảm một cách đột ngột vì hậu quả của cuộc suy thoái trên toàn cầu.

Tập đoàn Than và Khoáng sản Quốc gia Việt Nam do nhà nước quản lý đã và đang bắt đầu xây dựng một nhà máy aluminum và đang chuẩn bị cho những hoạt động khai thác lớn tại hai tỉnh Lâm Đồng và Đắc Nông.

Công ty Vinacomin đang có mục đích sản xuất từ 4,8 triệu đến 6,6 triệu tấn nhôm hàng năm từ bây giờ cho đến trước năm 2015, theo tin từ cơ quan truyền thông nhà nước cho hay.

Lo ngại và phản đối

“Giữa những người đang quan ngại về những dự án bauxite, tôi quan tâm tới các khía cạnh xã hội và văn hóa của Tây Nguyên,” ông Nguyên Ngọc, một nhà văn và là chuyên gia về miền nầy đã cho biết.

“Văn hóa của Tây nguyển có thể được gọi là một nền văn hóa núi rừng, với một mối gắn kết gần gủi giữa con người và thiên nhiên … Nếu như đất đai và rừng rậm của vùng Tây Nguyên mà biến mất, thì văn hóa của nó cũng sẽ bị hủy diệt, xã hội của Tây Nguyên sẽ bị mất ổn định, và những tộc người thiểu số nơi đây sẽ không còn tồn tại nữa.”

Tại Đắc Nông, ông nói, nơi quặng bauxite lớn nhất của Cao nguyên Trung phần, mỏ nầy “có một lớp quặng rất mỏng, vì thế quặng trải rộng ra trên mặt đất.”

“Để đào bô xít như đã được lên kế hoạch tại Đắc Nông, sẽ cần phải mất  hai phần ba diện tích của thành phố nầy,” ông nói.

Ông Nguyễn Thanh Sơn, giám đốc công ty Red River Energy Co., một công ty con của Vinacomin, đã cho biết rằng chất thải “bùn đỏ” được sinh ra bởi việc khai khoáng  chứa đựng 70% nước và 30% quặng, thứ mà ông nói là “rất nguy hiểm cho môi trường vì 70% trong số đó là hợp chất NaOH,” hoặc còn gọi là natri hydroxide [chất xút ăn mòn da].

Ông Trần Bình Chử, phó trưởng khoa địa chất thuộc trường Đại học Mỏ & Địa chất Hà Nội, cũng nêu lên những quan ngại.

“Việc Khó khăn là đổ chất thải đi đâu. Dù cho anh có giữ nó, thì cũng sẽ có một số tác động vì nó có thể thẩm thấu vào trong đất,” ông Chử phân tích.

Ông Nguyễn Lân Dũng, một giảng viên đại học và đại biểu Quốc hội, đã đề nghị có thêm thông tin và thảo luận về vấn đề này.

“Tôi biết qua báo chí rằng dự án nầy đã được chính phủ lên kế hoạch cẩn thận để tránh gây ô nhiễm,” ông Dũng nói. “Với tư cách cá nhân, tôi không có được đầy đủ thông tin để chắc chắn là kế hoạch ấy được đảm bảo an toàn — vào lúc này tôi hoàn toàn không được biết đầy đủ.”

Bức thư của ông Giáp

Vào tháng Một, người hùng thời chiến tranh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, 97 tuổi, đã gửi một bức thư ngõ tới ông Dũng đề nghị những kế hoạch khai thác bauxite phải được đình hoãn cho tới khi các chuyên gia quốc tế đã nghiên cứu được tác động tới môi trường của nó.

Ông Giáp, viết bức thư qua trang thông tin trực tuyến VietnamNet, cũng đã cho biết là ông lo ngại dự án này có thể gây tổn hại tới các dân tộc thiểu số trong vùng nầy.

Ông Giáp vẫn sử dụng uy tín về mặt tinh thần ở Việt Nam vì  lãnh đạo đánh thắng các lực lượng thực dân Pháp và Mỹ trong vai trò là nhà lãnh đạo quân sự và là người bạn thân thân tín với nhà lãnh đạo cách mạng đã quá cố Hồ Chí minh.

Ông đã trích dẫn những mối quan ngại trong số các nhà khoa học và các nhà hoạt động xã hội về “mối đe doạ nghiêm trọng tới môi trường tự nhiên và xã hội gây ra bởi những dự án khai thác bauxite.”

“Tuy nhiên, những dự án này vẫn được thực hiện,” ông cho biết thêm.

Ông nói rằng vào đầu những năm 1980 ông đã lãnh đạo một công trình nghiên cứu  liệu xem có thể khai thác bauxite tại khu vực này hay không, và các chuyên gia Liên Xô đã khuyên cáo phản đối dự án nầy bởi vì “mối nguy hiểm của sự huỷ hoại nghiêm trọng môi trường sinh thái.”

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

 
 

RFA

Vietnam Set To Open Mine

2009-03-17

A planned bauxite mine in Vietnam will provide jobs, but some experts fear its environmental impact.

HANOI—Vietnamese authorities appear set to launch a controversial bauxite mining project in the Central Highlands region despite warnings from some experts and war hero Gen. Vo Nguyen Giap that it could harm the environment.

Prime Minister Nguyen Tan Dung has called bauxite exploitation “a major policy of the party and the state” and  approved several large-scale mining projects for the country’s Central Highlands.

The government’s master plan calls for investments of around U.S. $15 billion by 2025 to tap Vietnam’s rich bauxite reserves, estimated to be the third-largest in the world.

Bauxite is considered the most important aluminum ore and is generally strip-mined.

Earlier media reports said Dung had approved a directive in November allowing the mining, processing, and use of bauxite ore in the mountainous coffee-growing region.

The project has met with protests from scientists and some residents, who fear open-cut mining will destroy vast forest and crop areas and create mountains of toxic sludge.

Most residents say they expect the mine to provide badly needed jobs, as Vietnam’s economy slows sharply as a result of the worldwide slowdown.

State-run Vietnam National Coal and Mineral Industries Group (Vinacomin) has begun building an aluminum factory and is preparing for major mining operations in Lam Dong and Dac Nong provinces.

Vinacomin is aiming for annual aluminum production of 4.8 million to 6.6 million tons by 2015, state media have reported.

Fears and protests

“Among many concerns for the bauxite projects, I’m interested in the social and cultural aspects of the western highlands,” Nguyen Ngoc, a writer and expert on the region, said.

“Its culture could be called a forest culture, with a close attachment between humans and nature … If the land and forest base of the western highlands disappear, its culture will be broken, its society will be unstable, and these ethnic minorities will no longer exist.”

In Dac Nong, he said, with the most bauxite ore in the Central Highlands, the mine “has a very thin layer of ore, so they spread it out widely on the earth”

“To excavate bauxite as planned in Dac Nong, it will take two-thirds of the surface of the city,” he said.

Nguyen Thanh Son, director of Red River Energy Co., a Vinacomin subsidiary, said “red mud” waste generated by the mine contains 70 percent water and 30 percent ore, which he called “very dangerous to the environment because 70 percent of that is NaOH,” or sodium hydroxide.

Tran Binh Chu, deputy head of the geology department of Hanoi Mining and Geology University, also raised concerns.

“The problem is where to leave the waste. Even if you keep it, there will be some impact as it could penetrate into the soil,” Chu said.

Nguyen Lan Dung, an academic and deputy in the National Assembly, called for more information and discussion.

“I know from the media that the project was carefully planned by the government so as to avoid pollution,” Dung said. “Personally, I don’t have enough information to be sure it’s guaranteed safe—I just don’t know enough yet.”

Giap’s letter

In January, war hero Gen. Vo Nguyen Giap, 97, sent an open letter to Dung asking for the bauxite mining plans to be put on hold until international experts had studied the environmental impact.

Giap, writing for the online news site VietnamNet, also said he feared it could harm ethnic minorities in the region.

Giap still wields moral authority in Vietnam for leading the defeat of French colonial forces and Americans as military leader and confidant to late revolutionary leader Ho Chi Minh.

He cited concerns among scientists and activists about “the serious risk to the natural and social environment posed by bauxite exploitation projects.”

“However, these projects have still been implemented,” he added.

He said that in the early 1980s he had overseen a study on whether to mine for bauxite in the region, and that Soviet experts had advised against the project because of the “risk of serious ecological damage.”

Original reporting by An Nguyen, Thien Giao, and Thanh Quang. Additional reporting by Agence France-Presse. Vietnamese service director: Diem Nguyen. Executive producer: Susan Lavery. Written in English by Sarah Jackson-Han.

Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Kinh tế Việt Nam, Quan hệ Việt-Trung | Leave a Comment »

Khai thác bauxite có hại vĩnh viễn hơn là có lợi cho VN

Posted by adminbasam on 17/03/2009

ASIA TIME

Kế hoạch bauxite của Việt Nam mở ra một bể quan ngại

Duy Hoàng

Ngày 17-3-2009

Một trong những vùng cây cối xanh tươi nhất trên đất nước Việt Nam phải đối diện với sự thiệt hại khốc liệt về sinh thái nếu như chính phủ nước này tiến tới những kế hoạch trị giá hàng tỉ đô la để khai thác và chế biến bô- xít (bauxite quặng nhôm).

Mối nguy hiểm mà người ta tiên đoán trước đã châm ngòi cho sự phản đối công khai hiếm có trong xã hội bị chính phủ kiểm soát, với các công dân, các nhà khoa học, phương tiện truyền thông, các blogger và thậm chí cả các sĩ quan quân đội đang đưa ra những ý kiến phản đối mạnh mẽ.

Mặc dù không được phối hợp một cách hiển nhiên, quan điểm bất đồng chung của họ là một phần của hoạt động môi trường ở Việt Nam đang bắt đầu nảy nở, đáng chú ý với việc thách thức uy quyền không bị tranh cãi theo truyền thống của nhà nước trong việc thi hành những dự án phát triển kinh tế có quy mô lớn.

Trong những tháng gần đây, một số nhà khoa học trong nước đã viết những bài báo có nghiên cứu kỹ lưỡng, một số đã được công bố trên phương tiện truyền thông bị nhà nước kiểm soát, phơi bày những yếu kém trong các kế hoạch khai thác hầm mỏ của chính phủ. Một trang thông tin trong nước bị nhà nước kiểm soát, trang vietnamweek.net, đã đưa lên trang đầu ý kiến khảo sát vấn đề này, trong khi các blogger đã cung cấp thậm chí còn nhiều hơn nữa những bài phân tích phản đối .

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gọi việc khai thác bauxite này là “một chính sách lớn của đảng và nhà nước”, và ông đã chấp thuận vài dự án khai thác lớn trên vùng cao nguyên trung phần. Kế hoạch tổng thể của chính phủ kêu gọi những nguồn vốn đầu tư vào khoảng 15 tỉ đô la cho tới năm 2025 để khai thác những nguồn dự trữ bauxite dồi dào của Việt Nam, ước tính lớn thứ ba trên thế giới.

Trong thập kỷ qua, sự trỗi dậy của Việt Nam như là một nước xuất khẩu nông sản bắt đầu phần lớn từ việc trồng cà phê và các vụ mùa thu hoạch nông sản khác trong vùng cao nguyên phì nhiêu ở miền trung. Đó là một vùng có vẻ đẹp tuyệt vời với tiềm năng du lịch-kinh tế dồi dào. Vì vậy nhiều người Việt Nam đang có nghi vấn về cơ sở kinh tế hợp lý và sự suy xét đúng đắn đối với môi trường trong việc chuyển đổi những gì được coi là một vùng kinh tế đã mang lại hiệu quả trở thành một hầm mỏ lộ thiên sâu hoắm.

Bauxite được biến đổi thông qua một quá trình chuyển hóa độc hại thành chất alumina, nguyên liệu thô dùng cho việc chế biến nhôm. Được biết đến bởi các nhà khoa học về môi trường như là “chất bùn đỏ,” một sản phẩm phế thải, nếu như không được quản lý một cách đúng đắn, bùn đỏ ấy có thể gây ô nhiễm các nguồn cung cấp nước và giết chết toàn bộ cây cối thực vật. Cứ mỗi tấn alumina được sản xuất ra, sẽ có ba tấn bùn đỏ được sinh ra, theo phân tích của các chuyên gia quốc tế.

Nước Úc, một nhà sản xuất nhôm hàng đầu thế giới, đang xử lý vấn nạn nầy qua việc thải loại bùn đỏ ở nước họ vào  những vùng xa xôi hẻo lánh ít có mưa, như vậy sẽ làm giảm nhẹ nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nước. Ở Việt Nam, nơi có một khí hậu rất ẩm ướt và đông dân cư, không có điều kiện thừa mứa xa xỉ của những vùng đất rộng lớn không sử dụng đến (nên không thể làm như Úc được).

Việt Nam cũng không được mọi người thừa nhận về chuyên môn trong việc quản lý nguồn rác thải công nghiệp đầy nguy hiểm. Phong trào bảo vệ môi trường đang nổi lên ở Việt Nam lo ngại rằng chất cặn bã độc hại từ việc xử lý bô-xít có thể sẽ rỉ xuống các sông ngòi, chảy vào những vùng đông đúc dân cư, bao gồm Châu thổ sông Mekong ở phía nam nước này.

Để có thể sống còn về phương diện thương mại, việc chế biến bô xít (quặng nhôm) luôn luôn đòi hỏi điều kiện giá điện rẻ. Bởi vì Việt Nam đang đối diện với tình trạng thiếu thốn điện năng ngày càng gia tăng, ý nghĩa kinh tế trong việc khai thác bauxite và nguồn xuất khẩu với lợi nhuận thấp của nó là đáng nghi ngại và sẽ có khả năng phải đòi hỏi những khoản trợ cấp lớn của nhà nước chỉ để bù đắp cho những chi phí này.

Chính phủ đã loan báo những kế hoạch xây dựng một tuyến đường sắt dài 250 km ra tới bờ biển Thái Bình Dương dành riêng cho việc vận chuyển nhôm (alumina) được chế biến. Ở đó có một bến cảng lúc này vẫn chưa được xây dựng sẽ được thiết lập chỉ để dành riêng cho những dự án khai thác bauxite.


Raw Bauxite, Alumina, Cement Grade

Hình của bô xít alumina dùng để làm ra xi măng. Alumina là một aluminum oxide (Al2O3). Từ loại vật liệu alumina ròng nầy, người ta chế ra nhôm và xi măng. gạch làm bằng nhôm, keo nhôm, vỏ của các chiến hạm, hàng không mẫu hạm, máy bay,

Những kế hoạch đó cũng đã nhấn mạnh thêm những mối quan ngại về môi trường rằng các kế hoạch xuất khẩu alumina của chính phủ thể hiện là một mưu đồ kém cỏi sinh ra và được lên kế hoạch một cách đơn giản nhằm mục đích dành quyền lợi cho nền công nghiệp hóa quốc doanh do nhà nước làm chủ đạo.

Những người chỉ trích khác đã đặt nghi vấn rằng liệu có phải những quan chức thân cận với Thủ tướng Dũng và Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải có những cổ phần được chia chác riêng trong những mối liên doanh quá tốn kém này hay không.

Yếu tố Trung Quốc

Ngoài ra cũng có một yếu tố quan trọng mang tính chiến lược nhạy cảm đối với những liên doanh này. Mối quan tâm và hợp tác của Trung Quốc trong ngành công nghiệp bauxite của Việt Nam đã được thiết lập thông qua một bản tuyên bố chung được công bố sau một cuộc họp vào cuối tháng Sáu [năm 2008] giữa tổng bí thư Đảng Cộng sản [Việt Nam] và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào.

Trong những thỏa thuận tiếp theo sau đó giữa Liên Hiệp các xí nghiệp Nhôm Trung Quốc và Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam, sự việc đã trở nên rõ ràng rằng Trung Quốc sẽ là thị trường chủ yếu cho các sản phẩm xuất khẩu alumina của Việt Nam.

Như một phần trong các kế hoạch sắp xếp đó, hàng ngàn công nhân Trung Quốc đang được trú đóng vĩnh viễn tại Việt Nam để trợ giúp cho quá trình sản xuất, theo các giới chức địa phương Việt Nam cho biết.

Theo một chuyến hành trình tìm hiểu thực tế gần đây tới tỉnh Lâm Đồng được tổ chức bởi đảng Việt Tân thiên về ủng hộ nền dân chủ, các công nhân Trung Quốc đang xuất hiện với số lượng ngày càng đông đảo trên vùng đất cao nguyên trung phần.

Các bức ảnh có được bởi Việt Tân cho thấy những dãy nhà cửa mới được xây dựng giành cho công nhân Trung Quốc và những quán ăn bên đường với những biển hiệu viết bằng chữ Trung Quốc.

Các blogger Việt Nam, với nhiều lời phê phán sự xâm lấn của Trung Quốc vào các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và những am hiểu rằng Bắc Kinh đã ép buộc Hà Nội chấp nhận một hiệp định biên giới không công bằng trong năm nay, đã đặt nghi vấn vì sao lại cần đến các công -nhân- khách người Trung Quốc như vậy trong một đất nước với một số lượng người lao động dư thừa và tình trạng thất nghiệp của công nhân ngày càng gia tăng.

Các blogger cũng đã diễn tả những mối quan ngại rằng lực lượng quân sự giả trang thành công nhân và những gián điệp Trung Quốc lén lút có thể đã trà trộn vào số công nhân TQ làm việc ở đây. Trong một bức thư ngỏ vào tháng Một gửi tới bộ chính trị đảng cộng sản, ông Võ Nguyên Giáp, nhà lãnh đạo quân sự cộng sản nổi tiếng và gần đây thường có những phê phán chính phủ, đã lên tiếng báo động về mối đe doạ chiến lược tiềm tàng từ các công nhân Trung Quốc không được kiểm soát này.

Tướng Giáp 97 tuổi nhắc đến vùng cao nguyên trung phần như là cửa ngõ chiến lược vào Việt Nam, nơi mà những cuộc chiến tranh trước đây đã giành được thắng lợi và bị mất đi qua việc giành quyền kiểm soát đối với vùng cao nguyên của khu vực nầy.

Một tháng sau lời cảnh báo của tướng Giáp, bức thư nầy được duy nhất một tờ báo tại Việt Nam bằng lòng đăng tải, một vị tướng hồi hưu thứ hai đã đưa ra một bức thư tương tự kêu gọi ban lãnh đạo đảng hãy xem xét lại việc cho phép một sự hiện diện vĩnh viễn của người Trung Quốc ở miền trung bộ của đất nước này.

Hầu hết người dân tộc thiểu số ở Việt Nam sống trên vùng núi cao miền trung và họ là những người dân có vẻ phù hợp với việc chịu đựng trước gánh nặng chủ yếu của môi trường trong kế hoạch khai thác bauxite của chính phủ. Họ có nguy cơ phải gánh chịu rủi ro mất hết đất đai của mình với chút ít hoặc không có được khoản bồi thường và bị ảnh hưởng bởi rác thải công nghiệp tràn lan không được quản lý sau đó.

Cũng không có gì rõ ràng rằng các công ăn việc làm được sinh ra qua hoạt động khai thác bauxite, thậm chí nếu như các việc làm nầy được giành cho người Việt trong nước hơn là các công nhân Trung Quốc được đưa tới, sẽ đủ để thay thế cho những người bị mất việc làm vì bị bắt buộc loại bỏ những cánh đồng cà phê, chè và hạt điều đang tồn tại trước đó.

Chính từ những kế hoạch được thai nghén vội vã này của chính phủ mà các hoạt động môi trường của Việt Nam và những lời kêu gọi cho sự phát triển lâu dài có khả năng ít ảnh hưởng đến môi trường đang được mọi người nghe thấy.

Ông Duy Hoàng là một nhà lãnh đạo của Việt Tân đóng tại Mỹ, một đảng chính trị ủng hộ dân chủ hoạt động tại Việt Nam nhưng không được thừa nhận.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

*Các bài đọc thêm:

Tập Trung Tất cả các bài và hình ảnh về việc Trung Quốc khai thác bô- xít ở Bảo Lâm, Lâm Đồng, và Đắc Nông của các bloggers để bạn đọc tham khảo.

Vì mục đích tìm hiểu và tham khảo, bạn nào phát hiện những bài viết, hình ảnh về chủ đề bô-xít thì báo tin cho biết nhé. Thanks.

1./ Đông A Thị; SOS Bảo Lâm  (dân chúng địa phương cho biết con em của họ là sinh viên VN, đã được TQ cho học bổng đi du học tiếng Trung ở  TQ từ năm 2005, nay trở về làm cho bô-xit; kèm 9 Hình ảnh công nhân TQ, nhà cửa, hiệu ăn tiếng  TQ)

http://au.blog.360.yahoo.com/blog-Lc2MB8YlaaeYVcyDEREjwVU-?cq=1&p=2325

2./ GTC ; Bô xít Tây Nguyên, 1 dự án không thể dừng ! (2 hình ảnh về sự thay đổi môi trường trước và sau khi khai thác bô-xít; toàn bộ cây cối biến mất; quang cảnh rất kinh hoàng)

http://blog.360.yahoo.com/blog-STaS.dwjfqf6NQiqloFynoRgBuJV0Shbmw–?cq=1&p=50#comments

3./Thiện Giao; Vụ bô-xít: Ai đã quyết định, và ai sẽ phủ quyết?

http://banconong.com/index.php?view=story&subjectid=2032

4./ X- cafe; Dự án “Dội bom nguyên tử” xuống Tây Nguyên! (4 nhân vật VN và TQ liên quan trong vụ Bô-xít. Bài tóm tắt vì sao các nước khai thác chạy qua khai thác bô xít ở VN: vì môi trường bị hủy hoại, nước uống bị ô nhiễm, sinh vật và thực vật biến mất )

http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?p=289345

 

ASIA TIMES

Vietnam bauxite plan opens pit of concern 

By Duy Hoang

Mar 17, 2009

One of Vietnam’s most verdant regions faces severe ecological damage if the government moves ahead with its multi-billion dollar plans to mine and process bauxite. The perceived risk has sparked a rare public outcry in Vietnam’s government-controlled society, with residents, scientists, state media, bloggers and even military officers lodging vocal protests.

Though apparently not coordinated, their collective dissent is part of a budding Vietnamese environmental movement, notable for challenging the state’s traditionally unquestioned authority in implementing large-scale economic development projects.

In recent months, a number of local scientists have written thoroughly researched articles, some published in state-controlled media, exposing weaknesses in the government’s mining plans. A state-sanctioned domestic news site, vietnamweek.net, has been at the forefront of probing the issue, while bloggers have provided even more critical analysis.

Prime Minister Nguyen Tan Dung has called bauxite exploitation “a major policy of the party and the state”, and he has approved several big mining projects for the country’s central highlands. The government’s master plan calls for investments of around US$15 billion by 2025 to tap Vietnam’s rich bauxite reserves, estimated to be the third-largest in the world.

Over the past decade, Vietnam’s rise as an agricultural exporter has come in large part from increased cultivation of coffee and other cash crops in the central highland’s fertile plateau. It is an area of stunning beauty with rich eco-tourism potential. Thus many Vietnamese question the economic rationale and environmental wisdom of converting what is already an economically productive area into an open pit mine.

Bauxite is converted through a toxic process to alumina, the raw material for making aluminum. Known by environmentalists as “red sludge”, the waste product, if not properly managed, can contaminate water supplies and choke off vegetation. For every ton of alumina produced, three tons of red sludge is given off, according to international experts.

Australia, a world leader in aluminum production, addresses the problem by disposing of its red sludge in remote outback areas with little rainfall, thus mitigating the risk of waterway contamination. Vietnam, which has a comparatively wet climate and is densely populated, does not have the luxury of vast tracts of unused land.

Nor is the country recognized for its expertise in managing hazardous industrial waste. Vietnam’s emerging environmental movement fears the toxic residue from processing bauxite could run off into rivers that flow into heavily populated areas, including the Mekong Delta in the country’s southern region.

To be commercially viable, bauxite processing usually requires access to cheap electricity. Because Vietnam faces mounting power shortages, the economics of bauxite mining and its low-margin exports are in doubt and will likely require heavy state subsidies just to cover costs.

The government has already announced plans to build a dedicated rail line to transport the produced alumina 250 kilometers to the Pacific coast. There a yet-to-be-built port will be installed to serve exclusively the bauxite projects.

Those plans, too, have underscored environmental concerns that the government’s alumina export plans are an ill-begotten scheme devised simply for the sake of state-led industrialization. Other critics have questioned whether officials close to Prime Minister Dung and Deputy Prime Minister Hoang Trung Hai have personal stakes in the big-ticket ventures.

China factor
There is also a touchy strategic dimension to the ventures. Chinese interest and cooperation in Vietnam’s bauxite industry was established through a joint statement issued after a meeting last June between Communist Party secretary general Nong Duc Manh and China’s President Hu Jintao. In subsequent agreements between the Aluminum Corporation of China Ltd and state-owned Vietnam Coal and Mining Industry Group, it has become clear that China will be the primary market for Vietnamese alumina exports.

As part of those arrangements, thousands of Chinese workers are to be stationed permanently in Vietnam to assist in the production, according to local Vietnamese authorities. According to a recent fact-finding trip in Lam Dong province organized by the pro-democracy Viet Tan party, Chinese guest workers are appearing in growing numbers in the central highlands. Pictures obtained by Viet Tan show rows of newly constructed housing for Chinese workers and roadside restaurants with signs in the Chinese language.

Vietnamese bloggers, many critical of China’s encroachment on the Paracel and Spratly Islands and perceptions that Beijing bullied Hanoi into accepting an inequitable border treaty this year, have questioned why Chinese guest workers are required in a country with a labor surplus and growing unemployment.

Bloggers have also expressed concerns that undercover Chinese military and intelligence agents could mix in with the workers. Vo Nguyen Giap, the famed communist military leader and later sometimes government critic, sounded the same alarm about the potential strategic threat of unregulated Chinese workers in an open letter in January to communist party’s politburo.

The 97-year-old Giap referred to the central highlands as the strategic gateway to Vietnam, where previous wars have been won and lost through gaining control of the region’s high ground. A month after Giap’s warning, which only one newspaper in Vietnam was willing to publish, a second retired general issued a similar letter calling on the party leadership to reconsider allowing a permanent Chinese presence in the middle of the country.

Most of Vietnam’s ethnic minorities live in the central highlands and they are the people likely to bear the environmental brunt of the government’s bauxite scheme. They risk losing their lands with little or no compensation and subsequent exposure to mismanaged industrial waste.

Nor is it clear that the jobs created by bauxite production, even if they went to local Vietnamese rather than imported Chinese workers, would be enough to replace those lost with the forced elimination of pre-existing coffee, tea and cashew fields. It’s from these ill-conceived government plans that Vietnam’s grassroots environmental movement and calls for more sustainable development are being heard.

Duy Hoang is a US-based leader of Viet Tan, an unsanctioned pro-democracy political party active in Vietnam. 

Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Kinh tế Việt Nam, Môi trường, Quan hệ Việt-Trung | Leave a Comment »

Đầu Tư ở Dung Quất : Lỗ 120 triệu đô mỗi năm

Posted by adminbasam on 15/03/2009

Lời Tựa: Theo dự đoán của nhiều nhà kinh tế trong nước, mỗi năm Dung Quất sẽ bị lỗ khoảng 100- 150 triệu đô la vì đầu tư vào DQ không kiếm đủ tiền để trả lại tiền mượn nợ xây nhà máy lọc dầu. Bên cạnh đó, sản phẩm lọc dầu của Dung Quất sản xuất ra sẽ còn cao hơn giá sản phẩm mua của  Singapore vì dầu sản xuất ngoài khơi chở đến DQ mất 700-800 km, lọc xong thì lên tàu và chở vào Sài Gòn mất 700-800 km. Nếu dầu thô chuyển tới lọc ở Singapora và chở lại Sài gòn thì quãng đường gần hơn, không bị ô nhiễm môi trường ở Quãng  Ngãi, không bị ô nhiễm nước mặn làm ảnh hưởng kỹ nghệ 12 tỉ đô la xuất khẩu cá tôm hải sản.

******************************

Khi Chính Trị Được Xem là Quan Trọng Hơn Những Quyết định Đầu Tư

John Ruwitch

Thông Tấn Xã Reuters

DUNG QUẤT, Việt Nam – Xưởng lọc dầu 3 tỷ đô-la ở Dung Quất, dự án đầu tư lớn nhất của Việt Nam đến nay, là nguồn của rất nhiều điều đối với người mẹ trẻ Trần Thị Yến.

Dự án này đã mang lại nhiều con đường mới dẫn đến đến bờ biển đầy cát, nơi chị Yến, 25 tuổi, sống trong một cuộc khu vực cô lập ở miền Trung Việt Nam.

Dự án nầy cũng đã thu hút được một đội ngũ công nhân từ xa, trong đó có một người, mà chị Yến, một phụ nữ nhỏ bé có nụ cười thân thiện, đã lấy làm chồng. Và một loạt các công trình xây dựng trên xưởng lọc dầu chính thức mở cửa vào tuần trước cũng giúp cho chị Yến một cơ hội kinh doanh tốt để hốt bạc. Năm ngoái, chị đã dựng quán karaoke ở lề đường và đã thu được lợi nhuận.

“Ở đây trước kia chỉ có cát,” chị Yến nói, khi đang bồng đứa bé bụ bẩm bảy tháng tuổi.

Chính phủ Việt Nam có thể xem các trường hợp giống như của chị Yến như là một bằng chứng về quyết định của họ xây dựng xưởng lọc dầu ở đây là sáng suốt, là mang lại cơ hội phát triển kinh tế đến một trong những vùng nghèo nhất của Việt Nam.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia kinh tế và các nhà phân tích chính trị đã chỉ trích dự án lọc dầu này, và đây có lẽ là một ví dụ rõ rệt nhất trong số tất cả các ví dụ về việc chính trị đã can thiệp và xen vào việc đưa ra các quyết định kinh tế tại Việt Nam ra làm sao.

Xưởng lọc dầu Dung Quất, mất 15 năm để xây dựng, đã bị các nhà đầu tư nước ngoài tránh xa vì ( họ cho rằng xưởng nầy) không thể nào có lời về mặt kinh tế bởi vì vị trí của xưởng nằm trong một khu vực cô lập, ở xa các nguồn dự trữ dầu. Cuối cùng, công ty quốc doanh dầu hỏa độc quyền, Petro Vietnam, đã buộc phải một mình bỏ vốn đầu tư.

Jonathan Pincus, Khoa trưởng Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright của Thành phố Hồ Chí Minh nhận xét, “Điều đó chứng tỏ rằng việc đầu tư vào lãnh vực quốc doanh của nhà nước không nhạy bén với những cân nhắc kinh tế.”

Kể từ khi chương trình “Đổi mới” bắt đầu vào năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang tự rút lui một cách chậm chạp ra khỏi sự kiểm soát trực tiếp hoạt động kinh tế. Hàng ngàn doanh nghiệp làm chủ bởi nhà nước đã và đang được “cổ phần hoá”, một chữ thay thế cho chữ “tư hữu hoá”.

(Thực tế trong hơn 20 năm đổi mới ở VN, chỉ có 3% các nhà máy chuyển từ quốc doanh ra cổ phần hay liên doanh giữa tư nhân và nhà nước – theo báo cáo năm 2008 của một nhà kinh tế VN trên tờ báo mạng VNN của chính phủ  VN- Người dịch)

Chính trị có thể vẫn có ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án đầu tư ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào khu vực kinh tế, Melanie Beresford, phó giáo sư tại trường Đại học Macquarie tại Úc nói.

“Họ có một quan điểm chiến lược về các ngành công nghiệp, những ngành nào là chủ yếu dành cho sư phát triển đất nước. Năng lượng rõ ràng là một trong những ngành công nghiệp loại này … cũng như một số trong những ngành công nghiệp cơ bản khác,” bà Beresford cho biết.

Con đường mới được đặt tên là đường Võ Văn Kiệt, lấy tên của vị thủ tướng quá cố, là một dải đất đầy bụi trải dài 23 km chạy xuyên qua trung tâm của khu vực kinh tế của xưởng lọc dầu Dung Quất đến khu vực bến cảng.

Ông Kiệt, Thủ tướng từ năm 1991 đến năm 1997, đang được ghi công là có quyết định để xây dựng xưởng lọc dầu 140 ngàn thùng dầu mỗi ngày trên bờ biển Quảng Ngãi và ông ta đang được dân chúng ở đây tôn kính.

Các nhà đầu tư nước ngoài đã rút ra khi nhà nước Việt Nam quyết định xây dựng xưởng lọc dầu tại tỉnh Quảng Ngãi bởi vì xưởng quá xa khu cung cấp dầu thô và người tiêu dùng.

Năm 1995, công ty Total SA của Pháp đã rút khỏi kế hoạch liên doanh để xây dựng xưởng lọc dầu với PetroVietnam tại đây. Sau đó, vào năm 2002, hãng dầu quốc doanh Nga Zarubezhneft, cũng đã rút đi bởi vì các bất đồng về địa điểm xa xôi của xưởng lọc dầu nầy và các đề tài kỹ thuật.

Tuy vậy, Lê Văn Dũng, Phó Chủ tịch của Khu kinh tế Dung Quất, trông coi một vùng đất gần như gấp hai lần kích thước của khu Manhattan (ở New York) là nơi đặt xưởng lọc dầu và các dự án khác, đã gọi ông Kiệt là một người có “tầm nhìn chiến lược rất vĩ đại”.

“Đó không chỉ là trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, mà còn là của chính phủ để phát triển miền Trung, nơi đã mất hàng triệu người trong chiến tranh nhưng bây giờ thì đang tụt hậu, nói theo nghĩa phát triển kinh tế,” ông Dũng nói. “Thay vì trao cho một con cá, chính phủ nên cho họ một cần câu.”

Ông Dũng đã cho biết thuế doanh thu trong quận đã và đang tăng lên và GDP bình quân mỗi đầu người đã nhảy từ khoảng 400 đô-la trong năm 2006 đến 700 đô-la trong năm 2008.

Một số quan sát viên vẫn tiếp tục rất nghi ngờ.

“Thả một dự án với vốn đầu tư rất lớn, mà dự án ấy có ít mối liên kết với nền kinh tế địa phương, vào một tỉnh nghèo thì tác động của nó lên địa phương ở mức tối thiểu,” một chuyên gia về kinh tế Việt Nam đã phát biểu như thế, người nầy từ chối cho biết tên vì lo ngại các hậu quả xảy ra vì đưa ra các ý kiến đối nghịch lại với đường lối của đảng.
“Trong khi đó, khoảng cách đến khu trữ dầu quá lớn đến nổi mức lãi của xưởng lọc dầu chắc chắn là có khả năng là âm (lỗ). Kết quả cuối cùng là gì? Trả tiền quá nhiều cho một dự án thất bại về mặt tiền bạc và dự án đó không tạo được công ăn việc làm.”

Mặc dù dự án nầy mang lại một số lợi lộc tức thì cho một số dân trong khu vực nầy, chảng hạn như chị Yến, một người chủ tiệm Karaoke, nhưng những người dân địa phương có những than phiền khác.

Tổng số 7000 căn nhà sẽ phải di chuyển đi nơi khác trước năm 2015 để dành chỗ cho khu vực kinh tế nầy và các kề hoạch đầu tư công nghệ mới.

Bà Phạm Thị Sách, 59, người sống bên cạnh đường Võ Văn Kiệt, đang lo lắng về các tương lai mờ mịt.

“Ở đây chúng tôi có thể kiếm được vài trăm nghìn đồng mỗi ngày bằng cách đi chợ mỗi buổi sáng để bán hải sản, nhưng nếu chúng tôi di chuyển đến một địa điểm mới, chúng tôi sẽ không biết phải làm gì đây,” bà Sách cho biết.

Môi trường cũng là một chuyện đáng quan tâm nữa, đặc biệt là đối với một số ngư dân đánh cá nhỏ như Bùi Quang Tiên.

“Những tiếng ồn từ xưởng lọc dầu làm cá bỏ chạy, vì thế việc đánh bắt của tôi càng ít ỏi hơn,” ông nói. “Trong quá khứ tôi không cần phải mua xăng để đi đánh cá, tôi chỉ cần chèo, nhưng bây giờ tôi phải đi ra biển xa hơn. Do đó, việc đánh cá tốn kém nhiều hơn nữa.”

Nhiều người, nếu không phải là hầu hết, các công nhân tại nhà máy sẽ đến từ các tỉnh bên ngoài vì các cư dân địa phương thiếu khả năng kỹ thuật, mặc dù một số nhà máy khác sẽ được xây dựng trong khu kinh tế có thể có khả năng cung cấp việc làm khác cho dân cư địa phương.

Một số bài học đã được rút ra từ kinh nghiệm lâu dài và đau khổ ở Dung Quất, ngay cả khi đường lối của Đảng đã và đang phát ra đều đặn lời ca tụng công trình này của họ.

(Điều đáng ngạc nhiên là đảng và nhà nước đang phát triển thêm 2 nhà máy lọc dầu khác mặc dù có sự lỗ lã trong suốt 15 năm qua (ở Dung Quất) và sẽ còn lỗ lã mỗi năm ít nhất là 150-200 triệu đô la trong hàng chục năm tiếp theo mà ai ai cũng nhìn thấy được từ nhà máy lọc dầu Dung Quất [1].– người dịch)

Hai xưởng lọc dầu kế tiếp của Việt Nam, các xưởng nầy sẽ lớn hơn, đang lên kế hoạch xây dựng ở địa điểm nhiều thuận lợi hơn ở Nghi Sơn, phía nam Hà Nội, và ở Long Sơn, gần trung tâm thương mại của thành phố Hồ Chí Minh.

Thêm vào đó, các đối tác nước ngoài trong dự án Nghi Sơn, địa điểm ít được chuộng hơn Long Sơn, đang được cho phép tham gia vào hệ thống phân phối các sản phẩm từ việc lọc dầu, đây là các thương vụ mà Total SA và Zarubezhneft đã bị từ chối trước đây, và thương vụ nầy có thể đã khiến dự án Dung Quất có khả năng là món dễ ăn hơn (nhưng không phải là món ăn đặc biệt.)

Người Dịch: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

[1] Dung Quất có khả năng lọc 65 triệu tấn dầu mỗi năm.
Đáp ứng được chừng 33% nhu cầu dùng trong nước.
Chi phí xây từ năm 1993 mượn  là 1,5 tỉ Mỹ Kim.
Hoàn thành năm 2008 và tổng chi phí lên gần 3,2 tỉ đô la.
*Nếu tính công lọc 1 tấn dầu là 11 Mỹ Kim  (lấy giá của Singapore), thì tổng số tiền lọc được 1 năm là:
6.5 triệu tấn x  $11/ tấn = 71,5 triệu đô la mỗi năm.
_Mượn 1.5 tỉ đô la, với lãi suất 6-8%, trong thời gian 30 năm, thì tiền lời VN phải trả cho ngoại quốc trong 15 năm qua là gần 1,3 tỉ đô la (90 triệu đô/ 1 năm x 15 năm).
_Nhà máy Dung Quất đi vào sản xuất đầu năm 2009. Lấy  tiền kiếm được qua việc lọc dầu TRỪ tiền trả lãi hàng năm cho việc mượn tiền xây dựng nhà máy = số tiền mà nhà máy Dung Quất thu được
Vì sau khi khởi công xây dựng từ 1993, nhưng không hoàn thành như tiến độ xây dựng là 5-7 năm,  khoảng thời gian gần đây VN phải mượn thêm 1,7 tỉ để hoàn tất công trình, nên món nợ thật sự xây Dung Quất là 3,2 tỉ đô la.
Năm 2009, tiền lời 1 năm phải trà cho việc vay mượn 3,2 tỉ đô la nầy là 3,2 tỉ đô x 6% = 192 triệu đô la/1 năm.
Tiền lời của nhà máy lọc dầu Dung Quất hàng năm là
71.5 triệu (tiền lời do lọc dầu) – 192 triệu (tiền phải trả lãi do vay mượn) = -120 triệu đô la
 

Tóm lại, nhà máy Dung Quất sẽ lỗ hàng năm là 120 triệu đô la. (chưa nhắc tới số tiền lãi phải trả lại cho ngoại quốc từ 1993-2008 là 1,3 tỉ đô la)

Nhiều nhà kinh tế tính rằng, số tiền lỗ thực sự lên đến hơn

250 triệu Mỹ kim hàng năm.

Giá xăng dầu:  theo các nhân viên cao cấp ngành dầu khí VN cho biết, thì giá xăng dầu của VN  trong nhiều năm sắp tới đây cũng sẽ vẫn cao hơn giá xăng dầu ở nước ngoài, và giá xăng dầu ở TQ cũng sẽ cao hơn giá mua xăng dầu phải nhập cảng ở  các nước ngoài, vì giá lọc dầu $11 / 1 tấn là giá lọc của  Singapore. Vì chính phủ có thể điều chỉnh giá lọc dầu ở Dung Quất phải cao hơn giá tiền  $11/ 1 tấn thì DungQuất mới bớt bị lỗ lã.

Nói một cách khác là toàn dân VN hiện nay phải mua xăng dầu giá cao hơn gia xăng dầu được nhập cảng của các nước ngoài và sẽ cao gấp rưỡi (1,5 lần) giá xăng nhập, và  dân chúng VN phải gánh hết lỗ lã do chính sách đầu tư sai lầm của nhà nước ở Dung Quất.

Trong suốt 5 năm qua, mỗi năm VN khai thác được trung bình từ 17 triệu tấn đến 21 triệu tấn đầu (2003-2008), và con số nầy đang giảm dần vì giếng dầu Bạch Hổ đã bắt đầu cạn do đã khai thác gần 20 năm qua.

Nếu VN không tìm được mỏ dầu, thì Dung Quất sẽ không có đủ dầu để lọc. Tuy vậy, nhà nước đã mượn tiền ngoại quốc để đầu tư xây dựng thêm 2 nhà máy lọc dầu nữa ở gần Hà Nội. Quan điểm của nhà nước là “có làm, là có ăn”

 

When politics weigh on investment decisions

JOHN RUWITCH

REUTERS

February 28, 2009 at 9:48 PM EST

DUNG QUAT, Vietnam — The $3-billion (U.S.) Dung Quat oil refinery, Vietnam’s biggest investment project to date, has been the source of many things for young mother Tran Thi Yen.

It has brought new roads to the sandy shoreline where Ms. Yen, 25, lives in an isolated region of central Vietnam. It has also attracted an army of workers from afar, including one who Ms. Yen, a petite woman with a warm smile, married.

And the flurry of construction on the refinery that officially opened last week also handed Ms. Yen a business opportunity on a silver platter. Last year, she built a roadside karaoke parlour that is already turning a profit.

“The only thing here before was sand,” she said holding her chubby seven-month-old baby.

The Vietnamese government may view cases like Ms. Yen’s as proof its decision to build the refinery here was visionary, bringing economic opportunity to one of Vietnam’s poorest regions.

But economists and political analysts have criticized the refinery project as, perhaps, the mother of all examples of how politics interferes with economic decision making in Vietnam.

The refinery, which took 15 years to build, was shunned by overseas investors as economically unviable due to its location in an isolated area, far from oil reserves. In the end, state oil monopoly Petrovietnam was forced to go it alone.

“It demonstrates that investment in the state sector is not very sensitive to economic considerations,” said Jonathan Pincus, dean of Ho Chi Minh City’s Fulbright Economics Teaching Program.

Since “doi moi” reforms started in 1986, Vietnam’s ruling Communist Party has been slowly extricating itself from direct control over economic activity. Thousands of state-owned companies have been “equitized,” a euphemism for privatized.

Still, politics can have a direct influence on investment projects to varying degrees depending on the sector, said Melanie Beresford, an associate professor at Macquarie University in Australia.

“They have a strategic view of industries that are essential for national development. Energy is obviously one of these … as are some of the other basic industries,” Ms. Beresford said.

The newly named Vo Van Kiet Street, after the late Prime Minister Vo Van Kiet, is a dusty strip of tarmac that stretches 23 km through the heart of the Dung Quat refinery’s economic zone to its port.

Mr. Kiet, prime minister from 1991 to 1997, is credited with the decision to build the 140,000-barrels per day refinery on the Quang Ngai coast and he is revered here.

Foreign investors pulled out over the decision to build in Quang Ngai because it was far from crude supplies and end users.

In 1995, France’s Total SA withdrew from a planned joint venture to build the refinery with Petrovietnam over the location. Then, in 2002, Russian state oil Zarubezhneft backed out due to disagreements over the plant’s distant location and technical issues.

Still, Le Van Dung, vice-chairman of the Dung Quat Economic Zone Authority, which oversees a swath of land nearly twice the size of Manhattan that is home to the refinery and other projects, called Mr. Kiet a man of “great strategic vision”.

“It is the responsibility not only of the prime minister, but also of the government to develop the central region, which lost millions of lives in the war but now is lagging in terms of economic development,” Mr. Dung said. “Instead of handing them a fish, they must be given a fishing pole.”

Mr. Dung said tax revenues in the county have risen and GDP per capita has jumped from about $400 in 2006 to $700 in 2008.

Some observers remain highly skeptical.

“Drop a capital intensive project that has few linkages to the local economy into a poor province and the local impact is minimal,” said one expert on the Vietnamese economy, who declined to be named due to concern of repercussions for airing views that run counter to the party line.

“Meanwhile, the distance from the oil is so great that the refining margins are likely to be negative. The end result? Pay over the odds for a money losing project that doesn’t create jobs.”

Despite some immediate gains made by many in the area, such as Ms. Yen, the karaoke shop owner, other residents have their gripes.

A total of 7,000 households will have been moved by 2015 to make way for the economic zone and new industrial investment.

Pham Thi Sach, 59, who lives beside Vo Van Kiet Street, worries about the unknowns.

“Here we can make a few hundred thousand dong every day by going to the morning market to trade seafood, but if we move to a new place we won’t know what to do,” she said.

The environment is a concern, too, particularly for some small-scale fishermen like Bui Quang Tien.

“The noise from the refinery scares away the fish so my catch has been smaller,” he said. “In the past I didn’t need to buy gas to go fishing, I just paddled, but now I have to go out to sea farther. So it costs more.”

Many, if not most, of the workers at the plant will come from outside because local residents lack the skills, although some of the other factories that will be built in the economic zone may be able to offer more in terms of local employment.

Some lessons have been drawn from the long and torturous Dung Quat experience, even if the Party line has been unswerving in its praise.

The country’s next two refineries, which will be bigger, are planned to go up in the much more advantageous locations of Nghi Son, just south of Hanoi, and Long Son, near the commercial hub of Ho Chi Minh City.

In addition, the foreign partners in the Nghi Son project, which is the less desirable location of the two, are being allowed to take part in refined product distribution, something Total and Zarubezhneft were denied and which might have made the Dung Quat project palatable.

 

———————————————–

BBT cám ơn bạn đã viết comment. Ban Biên Tập trích một ý kiến từ một website khác để trả lời bạn. Ý kiến dưới đây của Dr. Trần, post ngày 19-4-2009:

“Chỉ tính Dung quất mà thôi đã đầu tư 3,5 tỉ USD (mới đây thêm 200 triệu USD, sau khi đã thêm 600 triệu USD vài tháng truớc, trên số 2,5 tỉ USD đã được làm “nhỏ” bớt).

Sự ngu xuẩn trong việc đầu tư vào DQ chỉ có thể so sánh với sự xuẩn ngốc của việc nhập về mấy chục nhà máy đường phế thải từ TQ nay càng hoạt động càng lỗ, CP bỏ đi thì tiếc, ôm thì mỗi tháng phải bù lỗ mấy trăm tỉ VND.

Tại Dung Quất, tính tiền lời rẻ nhất 8% mà thôi, amortization 10 năm, thì mỗi tháng phải trả 42.464.660 USD, mỗi năm 510 triệu USD, theo cách tính tại đây: http://www.bankrate.com/calculators/…alculator.aspx

Tôi ghi “mortgage amount” là 3.500.000, “mortgage term” 10 years, 120 months, interest rate 8%, computer tính ra hàng tháng phải trả số trên (42.464,66 x 1000) thì 10 năm mới hết cả vốn lẫn lời.

Mỗi tấn dầu lọc ra chỉ tăng giá trị (nói khác đi là phí lọc dầu + tiền lời) theo giá thị trường chỉ vài chục USD là cùng, mỗi năm lọc 6 triệu tấn làm tăng giá trị cùng lắm 150 triệu USD, do đó chỉ tính tiền lời mà thôi 8% x 3,5 tỉ USD = 280 triệu USD, đem về 150 triệu USD, lỗ tiền lời 130 triệu USD.

Ngoài ra còn biết bao chi phí vận hành, phụ tùng thay thế, v.v… Tính rất rẻ các chi phí này 5 triệu USD / tháng mà thôi thì hàng năm DQ lỗ không duới 200 triệu USD.

Chưa hết, nếu tính amortization 10 năm thì mỗi năm trung bình phải trả vốn 350 triệu USD, nói khác đi nếu không bán đi thì mỗi năm CP VN phải bơm vào DQ ít nhất 550 triệu USD.

Nghe nói năm sau “cổ phần hóa” DQ. Tôi chúc họ good luck. Cổ phiếu DQ phải bán giá ÂM, vì hiện nay nợ cao hơn gấp đôi giá trị.

Hãng TOTAL lẽ ra đã cất xong từ 12 năm trước, giá rẻ hơn, tốt hơn, vì họ có nhiều máy móc phụ tùng từ các nơi khác đem qua, họ đang có các nhà máy tương tự từ hàng chục quốc gia khác, kinh nghiệm có, kỹ sư có, phụ tùng có, v.v… “

Tóm lại BBT cho rằng Dung Quất lỗ 120 triệu đô la /năm là quá nhẹ so với tính toán chi tiết trong ý kiến nói trên.Chưa tính tới tiền lới phải trả hàng năm tính từ 1993, thời điểm đi vay mượn tiền xây dựng Dung Quốc.

Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Quan hệ Việt-Trung | 1 Comment »

 
%d bloggers like this: