BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

11.689. Họ có khác nhau không?

Posted by adminbasam on 18/02/2017

Huệ Anh

18-2-2017

Nam Kinh, Trung Quốc, 1937-1938

Tháng 12/1937, Quân đội Nhật Bản chiếm được Nam Kinh, thủ đô của Trung Hoa Dân Quốc tại thời điểm đó. Bắt đầu từ ngày 13/12/1937 và kéo dài trong vòng 6 tuần sau đó, tại Nam Kinh, một sự kiện đã đi vào lịch sử thế giới với tên gọi Thảm sát Nam Kinh (Nanking Massacre, sau đây viết tắt là TSNK), hay còn có một cái tên gây sốc hơn, Hãm hiếp Nam Kinh (The Rape of Nanking). Ngày nay, dù còn có nhiều điểm không đồng thuận về mức độ thảm khốc của sự kiện, nhưng TSNK gần như được cả thế giới công nhận, nhiều sách giáo khoa lịch sử đã điểm sự kiện này như là một phần của các tội ác chiến tranh mà Quân đội Nhật Bản đã tạo ra.

Vì sao cuộc thảm sát này còn được gọi là Hãm hiếp Nam Kinh? Lính Nhật, theo ước tính của Tòa án Quân sự Quốc tế Viễn Đông, đã hãm hiếp 20.000 phụ nữ Trung Hoa, theo một ghi chép của John Rabe, một người Đức ở Nam Kinh thời điểm đó thì có cụ già trên 70 tuổi cũng bị hiếp. Những người phụ nữ ngoài việc bị hiếp dâm, còn bị hiếp dâm tập thể, và sau khi bị hiếp thì thường bị giết, bởi lưỡi lê đâm liên tục vào người, và bị cắt đi một phần cơ thể, có người bị đóng vật nhọn vào chỗ kín.

Những phụ nữ Trung Quốc đã bị hiếp, tra tấn và giết, họ là nhân chứng của những tội ác chiến tranh kinh khủng, tàn bạo!

Biên giới Việt Nam – Trung Quốc, 1979

Ngày 17/2/1979, Trung Quốc xua 120.000 quân đánh vào các tỉnh biên giới Việt Nam. Dù rút quân sau 1 tháng giao tranh, nhưng tại thời điểm rút quân, được trang bị bằng phương châm “cách sát vật luận”, lính Trung Quốc đã tái lập những gì mà lính Nhật thực hiện trên đất nước của họ năm 1937: Phá hoại, giết người tàn bạo, hiếp dâm. Nhà báo Bùi Tín, một người chứng kiến trực tiếp những hậu quả sau khi quân Trung Quốc rút lui, kể,

“Đường sắt từng quãng ngắn bị đặt bộc phá cắt đứt. Dinh thự đổ nát tận nền móng. Nhà trẻ bị phá hủy đến từng chiếc nôi cũng bị chặt từng mảnh. Nhà trường, bàn ghế, bảng đen đều chẻ nát thành đống củi. Xí nghiệp thổ cẩm mấy trăm máy dệt không một máy nào còn nguyên. Mỗi gia đình cùng chung số phận. Bàn ghế giường tủ tanh bành. Áo quần, sách vở ra tro. Nồi niêu, soong chảo, bát đĩa bị đâm thủng, đập vỡ. Nghĩa là sự phá hủy có hệ thống mọi phương tiện của đời sống…Tất cả thúng mủng, thùng, chậu, lu, vại, chai, hũ…để đựng gạo, đậu, ngô, nước đều bị đập nát, chọc thủng, tan tành. Chúng vứt chuột, gà, vịt chết cho đến xác người xuống giếng nước trong, hồ ao, bể đựng nước ăn, làm cho cuộc sống thêm bội phần kinh khủng.”

h1Trong dòng người tản cư về hướng Bắc Kạn, Thái Nguyên sau khi bị quân Trung Quốc tấn công bất ngờ, có hai chị em cõng nhau chạy nạn. Dù đói và mệt, hai em cũng không dám nghỉ ngơi. Ảnh: NAG Trần Mạnh Thường

Ông kể tiếp, “Nhưng kinh hoàng hơn cả là chúng kéo phụ nữ, từ bà già đến em bé 12, 13 tuổi vào hang, thay nhau hãm hiếp rồi bắn chết, vứt xác xuống vực thẳm, giếng khơi hòng phi tang.”

Nhà báo Huy Đức, trong bài báo nổi tiếng “Biên giới tháng 2”, kể,

Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.”

Tôi có đọc một số bài khác về việc lính Trung Quốc hiếp và giết phụ nữ Việt Nam, có một bài rất đáng lưu ý, nhắc đến việc 107 nữ tù binh Việt Nam rơi vào tay lính Trung Quốc và trở thành nô lệ tình dục, sau đa phần bị giết, bài có hình ảnh về việc một phụ nữ sau khi bị hiếp, bị giết, đã bị cắt một số bộ phận nhạy cảm trên cơ thể, để lính Trung Quốc ăn. Tôi không dẫn hình ảnh cũng như link bài viết vào đây, vì chưa đảm bảo được tính xác thực của các thông tin đó, và cũng không muốn lạm dụng những hình ảnh quá khích để tạo những phản ứng thù hằn. Dù những hình ảnh đó không được đưa vào bài viết, tôi nghĩ với những thông tin của hai nhà báo Bùi Tín và Huy Đức là đã đủ để kết luận quân đội Trung Quốc cũng đã phạm phải những tội ác chiến tranh kinh khủng trong cuộc chiến biên giới 1979 với Việt Nam.

Những phụ nữ Việt Nam, cũng như phụ nữ Trung Quốc tại Nam Kinh, đã bị hiếp, tra tấn và giết, họ cũng là nhân chứng của những tội ác chiến tranh kinh khủng, tàn bạo!

Nhưng, một câu hỏi cắc cớ: Ngoài chuyện quốc tịch, họ có khác nhau không?

Họ có khác nhau không?

Phụ nữ Trung Quốc

Dư luận thế giới đã và vẫn đang mạnh mẽ lên án những tội ác của lính Nhật tại Nam Kinh, sự kiện được đề cập trong các tác phẩm, fiction lẫn non-fiction, về Thế chiến II. Có nhiều tác phẩm chuyên về sự kiện này đã tạo được chỗ đứng đáng kể trên thế giới, trong đó có cả bộ phim của một đạo diễn Nhật Bản về những người lính Thiên Hoàng thừa nhận những vụ hiếp dâm. Một số tác phẩm đã có chỗ đứng vững chắc như quyển sách best-selling năm 1997 của nữ nhà báo – sử gia Iris Chang, “Hãm hiếp Nam Kinh: Cuộc tàn sát bị lãng quên của Thế chiến II”, hay bộ phim đáng xem “Kim Lăng Thập Tam Hoa” (tựa tiếng Anh: The Flowers of Wars) của đạo diễn Trương Nghệ Mưu, trong phim có cảnh một phụ nữ Trung Quốc bị lính Nhật đâm chết bằng lưỡi lê sau khi bị hiếp dâm tập thể.

Người Trung Quốc đã lên tiếng mạnh mẽ về TSNK, họ xem đó là hành động vô nhân đạo, chính quyền Trung Quốc yêu cầu Nhật Bản phải bồi thường cho những thiệt hại khủng khiếp về thể chất và tinh thần cho người dân Trung Quốc. Cho đến nay, vấn đề TSNK vẫn đang là nội dung nằm trong sự tranh cãi của Trung Quốc và Nhật Bản. Người Nhật Bản, theo cách này hay cách khác, họ thừa nhận sự việc, nhưng tranh cãi về mức độ nghiêm trọng, và cho đến nay, nhiều người Nhật vẫn cho rằng TSNK chỉ là sự bịa đặt. Dù vậy, năm 1995, Nhật Bản cũng đã lập ra Quỹ Phụ nữ châu Á để bù đắp cho những thiệt hại của những người phụ nữ và các chính phủ một số quốc gia họ bắt làm nô lệ tình dục trong Thế chiến II.

Những người phụ nữ Trung Quốc ở Nam Kinh bị rơi vào tay quân xâm lược, họ không may mắn, họ bị làm nhục, họ chết thảm, và thế giới đang tưởng nhớ họ.

Phụ nữ Việt Nam

Cuộc chiến tranh biên giới 1979 được đề cập rất hạn chế trên các phương tiện truyền thông Việt Nam. Bài báo “Biên giới tháng 2” được nhắc đến ở trên bị gỡ bỏ, cùng số phận gỡ bỏ đó có nhiều bài báo khác, như trường hợp xê-ri bài về cuộc chiến trên báo điện tử Một Thế giới đăng vào tháng 2/2014, bị gỡ bỏ chỉ sau vài giờ lên mạng.

Không bị gỡ bỏ, mà là bị đục nham nhở, là tấm bia ghi danh chiến thắng của quân đội Việt Nam đánh bại quân xâm lược năm 1979 ở cầu Khánh Khê, Lạng Sơn, hình ảnh mà chính một cơ quan tuyên truyền nhà nước đã liên hệ với việc học sinh thi Đại học dính hàng nghìn điểm 0 môn Sử.

Trường hợp Hoàng Thị Hồng Chiêm, một cô gái trẻ hy sinh vào ngày đầu tiên của cuộc chiến có thể được coi là điển hình cách nhà cầm quyền ghi nhận sự hy sinh của những người phụ nữ trong chiến tranh đến thời điểm này: được ngợi ca như một biểu tượng của tuổi trẻ giữ nước, sau khi chị hy sinh, tên của chị được đặt cho ngôi trường cấp 2 xã Bình Ngọc (Móng Cái-Quảng Ninh), nhưng vừa qua, tượng của chị đã bị quét nhiều lớp nước vôi rất dày để làm mờ đi dòng chữ ghi tên chị trên thân bệ đá, ngôi trường từng mang tên chị cũng đã được đổi tên.

Nếu cuộc chiến còn thậm chí không được nhắc đến, nếu việc kỷ niệm những liệt sĩ hy sinh cho cuộc chiến vẫn còn bị cản trở, thì làm sao những người phụ nữ Việt Nam bị lính Trung Cộng hiếp và giết được nhắc đến?

h1Ấn phẩm truyện tranh của Họa sĩ Thiết Huyết (铁血); Cho thấy cảnh tù binh bị lính Trung Cộng hảm hiếp tập thể, đã phản ánh chiến tranh biên giới VN-TQ. Nguồn: internet

Những người phụ nữ Việt Nam ở biên giới phía Bắc, họ cũng bị rơi vào tay quân xâm lược, họ không may mắn, họ bị làm nhục, họ chết thảm, và thế giới chưa biết đến họ.

Những người phụ nữ bị giết và/hoặc hiếp từ Trung Quốc hay Việt Nam, về cơ bản họ không khác nhau, họ đi học, hoặc làm việc nhà, hoặc làm việc đồng áng, họ có một cuộc sống trước khi họ bị bắt, hiếp, tra tấn và  giết hại dã man. Nhưng chỗ đứng trong lịch sử của họ, cho đến lúc này, lại khác nhau, một bên được thừa nhận là những bằng chứng của tội ác chiến tranh, một bên vẫn nằm im lìm, oan khuất dưới đất mẹ, những tấc đất mà những người như chị Hồng Chiêm đã phải chiến đấu giữ gìn, chỉ để một ngày nào đó nhượng lại cho chính những kẻ đã hiếp và giết đồng bào của chị bởi những người cầm quyền.

Tự lên tiếng

Trong 10 năm đầu sau cuộc chiến, cuộc chiến đã được nhắc đến cả trên sách vở, trên các tiết mục, các chương trình văn nghệ, các bộ phim của cả hai phía. Nhưng sau Hội nghị Thành Đô, cuộc chiến hầu như không còn được nhắc đến nữa. Vì sao? Từ phía Việt Nam, có thể giải thích sự im lặng này bằng sự tham lam và sự hèn hạ của Đảng cầm quyền. Còn Trung Quốc, có phải họ sợ, nếu tiếp tục phanh phui cuộc chiến này, thì cuộc chiến sẽ hiện nguyên hình không phải là chiến tranh phản kích tự vệ nữa, và bằng chứng về những tội ác chiến tranh của họ, những sự tàn độc giống như những gì họ đã lên án quân phiệt Nhật Bản, sẽ dần công khai hay không?

Tại sao chúng ta không được lên tiếng mạnh mẽ về tội ác chiến tranh của quân Trung Quốc? Nếu thế giới biết đến cuộc chiến này, thì cùng với sự kiện Thiên An Môn, hình ảnh “trỗi dậy hòa bình” sẽ hoàn toàn bị lột khỏi khuôn mặt đạo đức giả của Trung Quốc, một chính quyền toàn trị phát-xít thực sự, một chính quyền mà sự tồn tại của nó là nguy cơ của hòa bình thế giới.

Chính quyền chỉ cho mở miệng một phần, công khai từng bước, chẳng qua là đang chịu nhục, như Hàn Tín, để chờ đợi thời cơ? Tôi không nghĩ thế, Hàn Tín chỉ lòn trôn 1 lần. Đảng cầm quyền, qua những lầm cấm đoán biểu tình, phá rối các sự kiện của những người Dân chủ, cho thấy họ đã lòn trôn quá nhiều lần. Đừng trông chờ vào họ nữa! Ý thức hệ không thể đủ để những tên tội phạm chiến tranh trở thành bạn, nếu chúng không nhận lỗi và bồi thường.

Muốn mang lại chỗ đứng lịch sử cho những người phụ nữ đã bị làm nhục, những người dân đã chết dưới gót giày xâm lược của Trung Cộng: Phải tự lên tiếng!

Advertisements

5 phản hồi to “11.689. Họ có khác nhau không?”

  1. […] 11.689. Họ có khác nhau không? […]

  2. […] Anh (Ba Sàm) – Những phụ nữ Việt Nam, cũng như phụ nữ Trung Quốc tại Nam Kinh, đã bị […]

  3. […] https://anhbasam.wordpress.com/2017/02/18/11-689-ho-co-khac-nhau-khong/ […]

  4. […] https://anhbasam.wordpress.com/2017/02/18/11-689-ho-co-khac-nhau-khong/ […]

  5. […] Họ có khác nhau không? […]

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: