BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

11.683. Hội Hướng Đạo Việt Nam cần được hưởng bảo hộ pháp lý của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 16-12-1966

Posted by adminbasam on 17/02/2017

Nguyễn Lệnh

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 02 năm 2017

Kính gởi: Chính phủ các quốc gia thành viên Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.

– Căn cứ vào “Lời nói đầu” của Công ước có ghi: 

“Xét rằng, theo Hiến chương Liên hợp quốc, các quốc gia có nghĩa vụ thúc đẩy sự tôn trọng và bảo đảm mọi mặt các quyền và tự do của con người.

Nhận thấy rằng, mỗi cá nhân, trong khi có nghĩa vụ đối với người khác và đối với cộng đồng của mình, thì phải có trách nhiệm phấn đấu cho việc thúc đẩy và tôn trọng các quyền đã được thừa nhận trong Công ước này”.

– Căn cứ vào Điều 21 Công ước có ghi: 

“Quyền hội họp hòa bình phải được công nhận. Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định và hạn chế này là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, để bảo vệ sức khỏe của công chúng hoặc nhân cách hoặc bảo vệ quyền và tự do của những người khác”.

– Căn cứ vào Điều 22 Công ước có ghi: 

“1. Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình.

2. Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế, trừ trường hợp do luật pháp quy định và những hạn chế này là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, để bảo vệ sức khỏe của công chúng hoặc nhân cách, hoặc các quyền và tự do của những người khác. Điều này không ngăn cản việc hạn chế hợp pháp đối với những người trong các lực lượng vũ trang và cảnh sát.

3. Không một quy định nào của điều này cho phép các nước tham gia Công ước về tự do lập hội và bảo vệ quyền được tổ chức hội năm 1948 của Tổ chức Lao động quốc tế được tiến hành những biện pháp lập pháp hoặc áp dụng luật làm phương hại đến những đảm bảo nêu trong Công ước đó”.

– Căn cứ vào Điều 41 Công ước có ghi:

“Mỗi quốc gia thành viên Công ước này đều có thể tuyên bố theo điều này vào bất kỳ thời điểm nào là họ công nhận thẩm quyền của Ủy ban (Quyền con người) được nhận và xem xét những thông báo về trường hợp một quốc gia thành viên khiếu nại một quốc gia thành viên khác không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo Công ước…”.

– Căn cứ vào Hiến pháp và pháp luật Việt Nam quy định về quyền lập hội, quyền hội họp của công dân.

– Căn cứ sự gia nhập của Việt Nam vào Công ước ngày 24-9-1982. 

Với những căn cứ nêu trên, tôi nhân danh là một công dân nước Việt Nam và là một cựu Hướng Đạo sinh của Hội Hướng Đạo Việt Nam (Hội HĐVN), nhận thấy có trách nhiệm phấn đấu cho việc thúc đẩy và tôn trọng các quyền hội họp hòa bình và quyền tự do lập hội ghi trong Công ước phải được đảm bảo thực hiện mọi mặt trên đất nước Việt Nam đối với trường hợp Hội HĐVN của tôi. Vì thế, tôi xin trình bày vấn đề liên quan đến quyền tự do lập hội và quyền hội họp hoà bình của các hội viên Hội HĐVN đã bị Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng CSVN) cầm quyền và Chính phủ Việt Nam xâm phạm một cách nghiêm trọng trong gần nửa thế kỷ vừa qua như sau:

Có 2 văn bản quan trọng được kèm theo đây là những chứng cứ về hành vi vi phạm nhân quyền của những người làm ra các văn bản này và những người thi hành lệnh ghi trong các văn bản. Đó là:

– Văn bản của Ban Bí thư Trung ương Đảng CSVN số 143-TB/TƯ ngày 20/4/2004 với nội dung “Thông báo ý kiến của Ban Bí thư về hoạt động hướng đạo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh”. (1)

– Văn bản của Ban Bí thư Trung ương Đảng CSVN số 157-TB/TƯ ngày 20/5/2008 với nội dung “Thông báo ý kiến của Ban Bí thư về hoạt động hướng đạo hiện nay tại một số tỉnh, thành phố”. (2)

Cả 2 văn bản đều được ghi là “ý kiến của Ban Bí thư”. Nhưng theo quy định tại Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính thì các văn bản này do “tổ chức” là Đảng CSVN ban hành nên được coi là những “quyết định hành chính”.

Quyền hành của Đảng CSVN cũng như hiệu lực của 2 văn bản trên được quy định tại Điều 4 của Hiến pháp ngày 15/4/1992 (sửa đổi bổ sung 2001): “Đảng CSVN, đội tiên phong của giai cấp công nhân VN, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Theo đây, tôi xin dẫn trình các chứng cứ và căn cứ pháp lý để chứng minh là các văn bản của Ban Bí thư (BBT) đã vượt ra ngoài khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đã xâm phạm quyền hội họp, lập hội theo quy định pháp luật của các hội viên Hội HĐVN như sau:

1/ Văn bản số 143-TB/TƯ ngày 20/4/2004 đã có lời quy kết của một bản án: 

Văn bản ghi rằng: “Hoạt động hướng đạo du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XX. Từ sau kháng chiến chống Pháp, ở miền Bắc tổ chức hướng đạo đã ngừng hoạt động và gia nhập Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, trong khi ở miền Nam hoạt động hướng đạo tiếp tục phát triển và phân hoá, ngoài tổ chức hướng đạo chính thống, Mỹ nguỵ xây dựng các loại hướng đạo trong tôn giáo, quân đội, cảnh sát … Sau năm 1975 tất cả các tổ chức này mặc nhiên giải thể”.

Lời quy kết này của Ban Bí thư (BBT) là hoàn toàn không có căn cứ, là trái với quy định của pháp luật lẫn thực tế khách quan. Xin dẫn chứng như sau:

– Hội HĐVN (ở miền Bắc) được Bộ Nội vụ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cấp phép và duyệt y bản Điều lệ ngày 7/2/1946. Khi Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam được thành lập vào tháng 4/1957 thì Hội HĐVN là thành viên sáng lập của Hội Liên hiệp. Hội HĐVN là một thành viên tập thể bên cạnh những thành viên là công dân và các thành viên tập thể khác theo Điều lệ của Hội Liên hiệp. Sau khi gia nhập Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội HĐVN vẫn còn giữ tư cách pháp nhân theo pháp luật dân sự và vẫn hoạt động bình thường chớ không phải “đã ngừng hoạt động” như lời quy kết của BBT. Ban Bí thư đã có một sự cố ý hiểu sai khái niệm “gia nhập” thành ra là “sáp nhập” trong pháp luật dân sự. Lời nói không có chứng cứ và căn cứ pháp lý này của BBT chỉ nhằm che đậy “cái chết” không minh bạch của Hội HĐVN thành lập ngày 7/2/1946.

Xin nêu ra căn cứ pháp lý trong trường hợp Hội HĐVN “ngừng hoạt động” như sau: Nghị định số 258-TTg ngày 14/06/1957 Quy định chi tiết thi hành Luật số 102-SL/L004 ngày 20/05/1957 về quyền lập hội, có quy định tại Chương 3 “Thể thức giải tán hội” như sau:-Hội tự giải tán theo điều lệ (Điều 20); hoặc -Hội bị giải tán theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho phép hoặc của toà án (Điều 19). Các quy định này cho thấy Ban Bí thư đã không chứng minh được là Hội HĐVN thành lập ngày 7/2/1946 đã tự giải tán hoặc bị giải tán vào năm 1957 theo quy định của Nghị định 258-TTg ngày 14/06/1957.

Trái với lời quy kết hoàn toàn không có căn cứ pháp lý của BBT nói trên, tôi xin kèm theo đây 2 tài liệu là bản gốc để chứng minh rằng Hội HĐVN vẫn tiếp tục hoạt động bình thường sau khi gia nhập Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam năm 1957. Các tài liệu gồm có:

Một là: 2 Thẻ đại biểu của ông Phạm Ngọc Try trong Đoàn đại biểu Hội HĐVN đã tham dự Đại hội Thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam năm 1957 (lần thứ 1) và Đại hội Toàn quốc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam năm 1961 (lần thứ 2). (3)

Hai là: Văn bản do ông Trần Ngọc Chu ký tên, đóng dấu đỏ của Bộ Tổng Uỷ Viên Hội HĐVN, đề ngày 5/2/1965. Trong văn bản này, ông Trần Ngọc Chu thay mặt cho Hội nghị Huynh trưởng Hướng đạo sinh miền Bắc diễn ra ở Hội quán tại Hàng Trống Hà Nội, gởi lời thăm hỏi và chúc mừng năm mới đến các anh chị Huynh trưởng và các bạn Tráng, Thiếu, Ấu Hướng đạo sinh Trung, Nam bộ. (4)

Với những chứng cứ và căn cứ pháp lý nêu trên đã chứng minh rằng Hội HĐVN ở miền Bắc vẫn tiếp tục hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật sau khi gia nhập Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam vào năm 1957. Điều mà BBT nói: “Từ sau kháng chiến chống Pháp, ở miền Bắc tổ chức hướng đạo đã ngừng hoạt động và gia nhập Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam” trong văn bản số 143-TB/TƯ ngày 20/4/2004 là hoàn toàn không có căn cứ pháp pháp lý và không có chứng cứ gì trong thực tế. Đây là lời quy kết giả tạo do BBT tự đặt ra trong văn bản để tạo cớ cho quyết định được BBT đưa ra là: “Vì vậy, không đặt vấn đề tái lập tổ chức hướng đạo, cũng như tránh lập thêm các hội đoàn mới”. Trên thực tế, Hội HĐVN vẫn hoạt động bình thường từ 1946 cho đến năm 1969 là năm mà vị “Danh Dự Hội Trưởng” Hội HĐVN còn sống – tức Chủ tịch Hồ Chí Minh (5). Sau năm 1969, theo lời các huynh trưởng Hướng đạo lão thành, mới có “lệnh miệng” từ BBT ngăn cấm hoạt động của Hội HĐVN ở miền Bắc.

– Hội HĐVN (ở miền Nam) được Bộ Thanh niên và Thể thao của Quốc Gia Việt Nam – là chính thể thuộc Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp do cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc Trưởng, ra Nghị định số 326 – NĐ/TN ngày 9/2/1953 cho phép Hội HĐVN hoạt động trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Hội HĐVN này gia nhập Tổ chức Thế giới Phong trào Hướng Đạo (World Organization of the Scout Movement/WOSM) và được tổ chức Hướng đạo thế giới này công nhận Hội HĐVN có tư cách hội viên năm 1957. Tính đến ngày 31/12/1974 Hội HĐVN ở miền Nam có tổng số 14.432 đoàn sinh và huynh trưởng đóng bảo hiểm, trong đó có 2.204 huynh trưởng. Khi lực lượng vũ trang miền Bắc đánh chiếm Sài Gòn và thống nhất nước Việt Nam ngày 30/4/1975, thì trụ sở của Hội HĐVN (ở miền Nam) tại số 18 Bùi Chu, quận 1, bị chính quyền mới tịch thu bằng vũ lực chớ không lập văn bản làm chứng cứ và nêu lý do làm căn cứ pháp lý để tịch thu tài sản hợp pháp của một tổ chức xã hội dân sự là Hội HĐVN. Hành vi tịch thu trụ sở này của chính quyền chế độ mới là dấu hiệu đàn áp công khai đầu tiên đối với Hội HĐVN ở miền Nam khiến cho các hội viên và các đơn vị Hướng đạo phải tạm ngưng sinh hoạt một thời gian để nghe ngóng tình hình. Đến năm 1980, đơn vị Hướng đạo đầu tiên phục hoạt là Đạo Xuân Hoà thuộc Châu Gia Định, do huynh trưởng Trần Văn Hợp làm Đạo trưởng. Đạo Xuân Hoà có đa số huynh trưởng và đoàn sinh là người theo đạo Công giáo nên khi bị an ninh chính quyền đàn áp, truy bắt, anh em Hướng đạo thường trốn, lánh vào các nhà thờ, cơ sở tôn giáo của đạo Công giáo để sinh hoạt, được các linh mục, cha xứ che chở, giúp đỡ. Trưởng Trần Văn Hợp đã từng bị an ninh chính quyền “làm việc” hàng chục lần cùng với rất nhiều huynh trưởng và đoàn sinh khác chỉ vì lý do sinh hoạt Hướng đạo. Các linh mục, cha xứ nào che chở, giúp đỡ anh em Hướng đạo cũng bị an ninh chính quyền làm việc, răn đe. Có vô số nhân chứng là các hội viên Hội HĐVN bị an ninh chính quyền đàn áp theo nhiều cách khác nhau từ sau năm 1975 chỉ vì họ là hội viên Hội HĐVN.

Trong văn bản số 143-TB/TƯ ngày 20/4/2004, Ban Bí thư đã đưa ra những lời quy chụp và buộc tội đối với Hội HĐVN ở miền Nam hoàn toàn không có chứng cứ và căn cứ pháp lý như sau:

– BBT lập luận rằng: ” …, trong khi ở miền Nam hoạt động hướng đạo tiếp tục phát triển và phân hoá, ngoài tổ chức hướng đạo chính thống, Mỹ ngụy xây dựng các loại hướng đạo trong tôn giáo, quân đội, cảnh sát… Sau năm 1975 tất cả các tổ chức này mặc nhiên giải thể”. Đây là lý luận theo cách chụp mũ và vơ đũa cả nắm. Bởi vì, trong Hiến chương của Tổ chức Thế giới Phong trào Hướng đạo – viết tắt là WOSM, đã tự xác lập là một phong trào góp phần giáo dục thanh thiếu niên qua hệ thống của Luật Hướng đạo, Lời hứa Hướng đạo và Phương pháp Hướng đạo và là một tổ chức “phi chính phủ, phi chính trị”. Năm 1957, khi Hội HĐVN gia nhập WOSM, hội đã được công nhận là tổ chức hướng đạo quốc gia (National Scout Organization/NSO) duy nhất ở Việt Nam có tư cách hội viên theo quy định tại Điều V của Hiến chương WOSM. Điều lệ của Hội HĐVN ở miền Nam cũng quy định tại Điều thứ 2 rằng “Hội HĐVN không hoạt động và cổ động chính trị”. Do đó, những tổ chức tự phát ở Việt Nam dù có tự xưng là “hướng đạo” như Hướng đạo Công giáo, Cao Đài, Tin Lành hoặc Quân đội, Cảnh sát … đều không được WOSM công nhận là hội viên. Điều lệ Hội HĐVN cũng không có một dòng nào quy định rằng những tổ chức hướng đạo này là một bộ phận hoặc là thành phần nằm trong Hội HĐVN. Vì Hội HĐVN là một tổ chức xã hội dân sự độc lập phi chính phủ và phi chính trị nên hội không phải chịu trách nhiệm gì đối với những tổ chức khác và không thể bị “mặc nhiên giải thể” sau năm 1975 cùng với các tổ chức đó. 

– BBT tiếp tục buộc tội rằng: “Trong các nhóm hướng đạo nói trên, ngoại trừ nhóm hướng đạo chính thống, các hệ phái hướng đạo khác ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đều có gắn với tôn giáo, tâm linh, hoạt động có tính chính trị. Nhiều tổ chức có quan hệ móc nối với các phần tử phản động và số cầm đầu các nhóm hướng đạo ở hải ngoại và với tổ chức hướng đạo thế giới, với Sứ quán, Lãnh sự quán Mỹ ở Việt Nam để tuồn thông tin, vu cáo chế độ ta, xin chỉ đạo và tài trợ cho hoạt động của mình. Các tổ chức hướng đạo Công giáo, Cao Đài, Tin Lành công khai dùng phương pháp hoạt động hướng đạo để giáo dục tôn giáo, thực hiện tôn chỉ của các giáo hội được các giáo xứ và nhà thờ ủng hộ mạnh mẽ về vật chất và tinh thần”. Lời buộc tội này của BBT xin được phân tích dưới 2 khía cạnh hình sự và chính trị. Về pháp luật hình sự: BBT đã không đưa ra được một con người cụ thể nào, một hành vi vi phạm pháp luật hình sự cụ thể nào. Như vậy, đây là lời buộc tội mơ hồ, trái với quy định của Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 rằng: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”. Hơn nữa, Điều 2 Bộ luật hình sự còn quy định về cơ sở của trách nhiệm hình sự như sau: “Chỉ người nào phạm một tội đã được luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Hình phạt do Toà án quyết định”. Tức là, pháp luật hình sự của Việt Nam, vào thời điểm BBT ra văn bản kết tội Hội HĐVN vào năm 2004, chỉ quy định trách nhiệm hình sự của cá nhân chớ pháp nhân như Hội HĐVN không chịu trách nhiệm hình sự. Còn về khía cạnh chính trị: BBT đã có ác ý khi cố quy chụp, buộc tội Hội HĐVN là “hoạt động có tính chính trị” mà không dẫn ra được bất cứ một chứng cứ có giá trị pháp lý nào. Trong khi đó, BBT thừa biết Điều lệ của Hội HĐVN đã quy định rõ tại Điều thứ 2 là “Hội HĐVN không hoạt động và cổ động chính trị”. Thế nhưng BBT vẫn quyết tâm đưa ra “hình phạt” rằng “không đặt vấn đề tái lập tổ chức hướng đạo”. Theo quy định của pháp luật VN và theo Điều lệ của Hội HĐVN thì pháp nhân Hội HĐVN không hoạt động và cổ động chính trị nhưng cũng không cấm những chính khách, quân nhân, công chức, tu sĩ v.v… gia nhập hội. Điều lệ Hội HĐVN chỉ quy định không cho phép hội viên nhân danh Hội HĐVN để hoạt động và cổ động chính trị mà thôi. Từ lời buộc tội vô căn cứ của BBT nói trên có thể nhận thấy ác ý của BBT đối với Hội HĐVN. Xin nêu điểm khác biệt giữa chính thể Quốc gia Việt Nam và chính thể Cộng Hoà XHCN Việt Nam về quyền tự do lập hội theo quy định của pháp luật như sau: Khi huynh trưởng Hướng đạo nộp đơn số 003-HT-HĐĐ ngày 12/6/1952 để xin thành lập một Hội HĐVN dưới chính thể Quốc gia Việt Nam thì Bộ Thanh niên và Thể thao đã căn cứ vào quy định của pháp luật lúc bấy giờ là Dụ số 10 ngày 6/8/1950 ấn định thể lệ các hiệp hội để ký Nghị định số 326 – NĐ/TN ngày 9/2/1953 cho phép Hội HĐVN hoạt động trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Bộ Thanh niên và Thể thao của chính thể Quốc gia Việt Nam đã không bác đơn xin lập hội vì lý do chính trị, ví dụ như: Không cho lập hội vì trước đây Hội HĐVN thành lập năm 1946 đã được lãnh đạo bởi những chính khách, quân nhân, công chức có tiếng trong Đảng Cộng sản hay chính quyền miền Bắc như Hồ Chí Minh, Tạ Quang Bửu, Phạm Ngọc Thạch, Thái Văn Lung, Kha Vạn Cân, Nguyễn Văn Thủ, Mai Chí Thọ, Văn Cao, Thế Lữ, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Quý, Lưu Hữu Phước, Phan Huỳnh Điểu, Tôn Thất Tùng …(Sau ngày 30/4/1975 các huynh trưởng Nguyễn Phước Hoàng, Tôn Thất Quỳnh, Trần Hữu Khuê đã sưu tập một danh sách trên 220 huynh trưởng và HĐS đã từng phục vụ trên nhiều lĩnh vực của chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà).

Xin nói gọn về nội dung của văn bản số 143-TB/TƯ ngày 20/4/2004 như sau: – Một là: BBT đã đưa ra cái chết giả tạo, đầy nghi vấn rằng Hội HĐVN ở miền Bắc “đã ngừng hoạt động và gia nhập Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam” năm 1957; và Hai là: BBT đã vu oan, chụp mũ cho Hội HĐVN ở miền Nam là “hoạt động có tính chính trị”. Đây là những nguyên cớ do BBT cố ý tạo ra để làm cơ sở cho lời kết án trong văn bản là: “Vì vậy, không đặt vấn đề tái lập tổ chức hướng đạo …”. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ đoạn cuối của điểm số 1 văn bản này, chúng ta sẽ thấy rõ ý muốn thật sự của BBT: “Hiện nay, ở nước ta đã có nhiều hội, đoàn thể với đối tượng bao gồm mọi giới, mọi lứa tuổi đang hoạt động, nếu chính thức cho tái lập thêm tổ chức hướng đạo thì sẽ dẫn đến tranh giành lực lượng, tranh giành quần chúng giữa hướng đạo và các tổ chức đã có và tạo ra tiền lệ đa nguyên trong tổ chức quần chúng, làm phức tạp thêm tình hình chính trị xã hội. Nếu tổ chức hướng đạo được tái lập, các hội đoàn khác như Gia đình Phật tử, Tịnh độ cư sĩ… cũng đòi hỏi được công nhận thì sẽ rất phức tạp”. Đây mới là ý muốn thật sự của BBT, nó bộc lộ động cơ và mục đích thật sự của BBT trong văn bản này. Động cơ của BBT là muốn “Đảng CSVN độc quyền lập hội” chớ không phải như Hiến pháp quy định “Công dân có quyền lập hội theo quy định của pháp luật”; và mục đích của BBT là nhằm “xoá bỏ một tổ chức xã hội dân sự độc lập là Hội HĐVN”. Với động cơ và mục đích đó, BBT đã có những hành vi vượt ra ngoài khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam và vi phạm Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam đã gia nhập vào năm 1982.

2/ Văn bản số 157-TB/TƯ ngày 20/5/2008 là mệnh lệnh thi hành án:

Như đã trình bày ở trên, Hội HĐVN ở miền Bắc đã không thể hoạt động công khai sau khi Chủ tịch Hồ Chí minh qua đời năm 1969 vì “lệnh miệng” của lãnh đạo cao cấp trong Đảng CSVN ngăn cấm hoạt động của hội. Khi đất nước thống nhất vào ngày 30/4/1975, thì “lệnh miệng” từ Đảng CSVN cầm quyền đã tịch thu trụ sở của Hội HĐVN ở miền Nam tại số 18 Bùi Chu, quận 1, Sài Gòn mà không nêu ra căn cứ pháp lý và không lưu lại chứng cứ gì nên đã gây hoang mang, lo sợ cho toàn thể hội viên ở miền Nam. Bên cạnh việc tịch thu trụ sở hội là vô số trường hợp các hội viên ở khắp tỉnh, thành miền Nam bị an ninh, chính quyền làm việc, tra hỏi, đe dọa, đàn áp dưới nhiều hình thức khác nhau về những hoạt động hướng đạo khiến cho Hội HĐVN ở miền Nam gần như là tan rã trong khoảng 5 năm sau ngày chiến thắng của Đảng CS và chính quyền miền Bắc. Tuy nhiên, vì Hội HĐVN là một tổ chức xã hội dân sự “phi chính trị, phi chinh phủ”, có mục đích “giáo dục thanh thiếu nhi trong toàn cõi Việt Nam về ba phương diện: đức, thể, thực, theo tôn chỉ và phương pháp hướng đạo” như được ghi trong Điều lệ hội nên các hội viên Hội HĐVN đã tự phục hoạt từ năm 1980 ở Sài Gòn, bất chấp mọi hình thức đàn áp của lực lượng an ninh, chính quyền. Từ sinh hoạt chui, ẩn náu trong các cơ sở tôn giáo, các hội viên cũ và mới (gia nhập sau 1975) bắt đầu sinh hoạt công khai tại các công viên, các khu vui chơi giải trí, đông nhất là tại Tp. Hồ Chí Minh. Lực lượng an ninh, chính quyền thi hành “lệnh miệng” đàn áp hoạt động hướng đạo cũng nhận thấy rằng không những hoạt động hướng đạo vô hại đối với chế độ mà ngược lại họ nhìn thấy sự lành mạnh, hữu ích của hoạt động hướng đạo đối với xã hội nên họ cũng “thả nổi”, không mạnh tay đàn áp như trước nữa. Ngày càng có nhiều phụ huynh đưa con em mình gia nhập tổ chức hướng đạo để được giáo dục đạo đức, rèn luyện những kỹ năng sống và tham dự nhiều hình thức sinh hoạt ngoài thiên nhiên. Dần dần, tổ chức Hướng đạo thu hút nhiều giới trẻ trong nhà trường và ngoài xã hội tham gia sinh hoạt mà không còn sợ hãi bị an ninh, chính quyền đàn áp như trước. Bên cạnh đó, có nhiều huynh trưởng hướng đạo công khai gởi hàng chục đơn, thư, kiến nghị đến các cấp lãnh đạo Đảng CSVN và chính quyền VN để xin tái lập Hội HĐVN như:

– Trưởng Trần Hữu Khuê đã gởi đến các vị lãnh đạo Đảng CSVN, Quốc hội và Nhà nước tổng cộng 6 văn bản vào các ngày: 18/11/1988, 6/4/1989, 14/10/1992, 28/3/1996, 8/8/1997, 1/7/2000. 

– Trưởng Nguyễn Dực thay mặt 20 Trưởng Hướng đạo gởi đơn ngày 3/3/1993.

– Trưởng Bạch Văn Quế gởi thư ngày 22/4/1997.

– Trưởng Nguyễn Phước Hoàng (Tôn Thất Hoàng) gởi thư ngày 18/8/1997.

– Trưởng Nguyễn Phúc Quỳnh Hòe gởi thư ngày 18/3/2000.

Trước hoạt động công khai của Hội HĐVN và sự phát triển lực lương hội viên ngày càng nhiều bất chấp “lệnh miêng” ngăn cấm, đàn áp từ các cấp lãnh đạo Đảng CSVN và Nhà nước VN, đã khiến BBT phải công khai đưa ra “bản án” cho Hội HĐVN là văn bản số 143-TB/TƯ ngày 20/4/2004. Nhưng sau 4 năm bị BBT kết án và bị đàn áp, phong trào HĐVN vẫn không ngừng phát triển và bắt đầu giao lưu với Phong trào Hướng đạo của khu vực và thế giới nên BBT phải ra tiếp văn bản số 157-TB/TƯ ngày 20/5/2008. Trong văn bản này, cái mũ “các thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài và số cơ hội chính trị ở trong nước” được gán cho hoạt động hướng đạo tại Việt Nam và trở thành nguyên cớ để BBT kiên quyết chỉ đạo “các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, các đoàn thể quần chúng” thuyết phục quần chúng không tham gia hoạt động hướng đạo; Ban cán sự đảng Chính phủ, Ban Dân vận Trung ương, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các đoàn thể, ban, ngành có liên quan và các tỉnh ủy, thành ủy có hoạt động hướng đạo lập kế hoạch cụ thể thực hiện văn bản số 143-TB/TƯ ngày 20/4/2004. Văn bản số 157 này có nội dung giống như một lệnh “thi hành án tử hình” rất chi tiết. Nó huy động toàn bộ sức mạnh của hệ thống quyền lực Đảng CSVN, Nhà nước VN và các tổ chức xã hội vào một chiến dịch có quy mô toàn quốc nhằm xóa bỏ cho được hoạt động hướng đạo ở Việt Nam. 

Tuy nhiên, xem kỹ nội dung và thời gian ra đời của 2 văn bản có cùng mục đích xóa bỏ Hội HĐVN (2004 – 2008), chúng ta sẽ nhận ra lý lẽ bất cập của BBT và mệnh lệnh của BBT đã vô tình làm nổi bật chính nghĩa của Hội HĐVN như sau:

– BBT lý luận rằng: “Nếu tổ chức hướng đạo được tái lập, các hội, đoàn khác như Gia đình Phật tử, Tịnh độ cư sĩ… cũng đòi hỏi được công nhận thì sẽ rất phức tạp. Vì vậy, không đặt vấn đề tái lập tổ chức hướng đạo”. Lập luận này nêu ra 2 tổ chức làm điển hình để ngăn cấm nhưng chính 2 tổ chức này đã lần lượt được công nhận, cho thấy sự phi lý trong lý lẽ của BBT. Bởi vì: – Năm 1997, Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV diễn ra tại Hà Nội, Gia đình Phật tử được chính thức công nhận, ghi vào Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Chương V Điều 19, nay là Điều 21; và – Ngày 27/11/2007 Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam được nhà nước Việt Nam chính thức công nhận tư cách pháp nhân (Trích Ban Tôn giáo Chính phủ – btgcp.gov.vn). 

– BBT đưa ra lời buộc tội trong văn bản số 143 năm 2004 rằng: “Mỹ ngụy xây dựng các loại hướng đạo trong tôn giáo, quân đội, cảnh sát…”, và “Các tổ chức hướng đạo Công giáo, Cao Đài, Tin Lành công khai dùng phương pháp hoạt động hướng đạo để giáo dục tôn giáo, thực hiện tôn chỉ của các giáo hội được các giáo sĩ và nhà thờ ủng hộ mạnh mẽ”. Nhưng đến văn bản số 157 năm 2008 lại công khai ra lệnh rằng: “Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục, rèn luyện thanh niên, thiếu niên, nhi đồng; tiếp thu có chọn lọc hình thức, phương pháp hướng đạo trong giáo dục và tổ chức hoạt động của thanh thiếu niên; đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng, chính đáng về sinh hoạt vui chơi, giải trí lành mạnh, bổ ích, thu hút thế hệ trẻ tham gia vào các hoạt động của tổ chức đoàn, hội, đội”. Và một năm sau (2009), một Tổng đoàn Sao Bắc Đẩu được thành lập tại Tp Hồ Chí Minh, nằm trong Hội Liên hiệp thanh niện Tp. HCM, có hình thức, trang phục tương tự các Hướng đạo sinh của Hội HĐVN. Mệnh lệnh này của BBT là một hiện tượng rất lạ, chưa từng có ở các nước theo chế độ CS, kiểu như tên một vở kịch “Hồn Mác Lê, Da Hướng Đạo” ! Điều này cho thấy cái tốt, cái chính nghĩa của Hội HĐVN đã thuyết phục được BBT, khiến cho BBT phải ra lệnh cho các các cơ quan, hội, đoàn tiếp thu, làm theo giống như các tôn giáo, quân đội, cảnh sát ở miền Nam VN đã làm trước năm 1975. Vậy cái phương pháp hướng đạo ấy như thế nào mà BBT phải lệnh cho các cơ quan và hội, đoàn “tiếp thu” ? Xin nêu tóm tắc về phương pháp hướng đạo được ghi trong Hiến chương của Tổ chức Thế giới Phong trào Hướng đạo như sau:

“Phương pháp Hướng Đạo là một hệ thống tự giáo dục tiến bộ bằng cách:

 – Giữ Lời Hứa và Luật Hướng Đạo.

 – Học hỏi bằng thực hành.

 – Tổ chức theo hàng đội tự quản dưới sự hướng dẫn của huynh trưởng để biết dấn thân, khám phá tiến bộ và nắm được các kỹ năng sống; biết phát huy chí khí, tính tự lực và tinh thần trách nhiệm; biết tạo lập sự tin cậy, khả năng hợp tác và lãnh đạo.

 – Tham gia những sinh hoạt hào hứng theo sở thích bằng các trò chơi ngoài trời tiếp xúc với thiên nhiên, những hoạt động hữu ích cho cộng đồng, những công tác xã hội thiện nguyện”. 

Tại điều luật thứ 10 của Luật Hướng Đạo Việt Nam và Luật Hướng Đạo Thế Giới đều ghi rằng: “Hướng Đạo Sinh trong sạch từ tư tưởng, lời nói đến việc làm” / “A Scout is clean in thought, word and deed”. Một Hướng Đạo Sinh giữ được điều luật thứ 10 thì không khác gì một tu sĩ thực hiện tôn chỉ của giáo hội. Khi một HĐS giữ được Lời Hứa và Luật Hướng Đạo là đã thực hành 3 nguyên tắc (principles) của Phong trào Hướng Đạo, tóm gọn như sau:

Một là: Trung thành với Tổ quốc và làm tròn phận sự đối với tôn giáo của tôi (Bổn phận đối với Quốc gia và tôn giáo).

Hai là: Giúp đỡ mọi người không cứ lúc nào (Bổn phận đối với tha nhân).

Ba là: Trong sạch từ tư tưởng, lời nói đến việc làm (Bổn phận đối với bản thân). 

3/ Hội HĐVN tiếp tục bị ngăn cấm, hội viên bị đàn áp:

Xin được nêu lên 4 sự việc cho thấy Hội HĐVN vẫn tiếp tục bị ngăn cấm và hội viên bị đàn áp sau ngày BBT ban hành các văn bản nói trên cho đến nay:

– Một là: Trường hợp ông Đặng Văn Việt, một huynh trưởng HĐ, đã nộp đơn cho Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch xin phục hồi hướng đạo và được cơ quan này trả lời bằng văn bản số 1507/BVHTTDL-TCCB ngày 17/5/2011 với nội dung như sau: (6)

“Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có thông báo về hoạt động hướng đạo hiện nay tại một số tỉnh, thành phố và ghi rõ: ‘không đặt vấn đề tái lập tổ chức hướng đạo, cũng như thành lập thêm hội mới’. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thông báo để ông biết”.

Văn bản trả lời của Bộ Văn hoá TT & DL cho thấy một thông báo của Ban Bí thư Trung ương có hiệu lực cao hơn Hiến pháp và pháp luật. Bộ Văn hoá TT & DL đã không căn cứ vào quy định của Hiến pháp và pháp luật về quyền lập hội để xem xét đơn của ông Đặng Văn Việt có hội đủ điều kiện theo pháp luật quy định hay không mà chỉ nêu “ý kiến” không cho phép của Ban Bí thư. Quyết định của cơ quan cấp bộ thuộc Chính phủ này bộc lộ sự lộng quyền của “Đảng trị”, phủ định nền tảng “Pháp trị” mà Hiến pháp đã quy định tại Điều 4.

– Hai là: Trường hợp ông Phạm Thanh Hiệp, huynh trưởng đại diện cho Hướng Đạo Việt Nam, đã cùng với đại điện Hướng Đạo của 7 quốc gia Đông Nam Á là Brunei Darussalam, Indonesia, Malaysia, Cambodia, Philippines, Singapoore và Thailand ký tên trên bản Hiến chương thành lập Hội Hướng Đạo Đông Nam Á Hợp tác Khu vực (ASEAN Scout Association for Regional Co-operation/ASARC) vào ngày 4/12/2010 tại Singapore. Hướng Đạo Việt Nam chỉ được tham gia ASARC với tư cách là Quan sát viên (Observer) vì chưa có tư cách pháp nhân (chưa được nhà nước VN côngnhận). Ngày 18/10/2012, ông Phạm Thanh Hiệp đã nộp đơn cho Sở Nội vụ Tp. Hồ Chí Minh đề nghị công nhận Ban vận động thành lập Hội Hướng Đạo sinh Thành phố Hồ Chí Minh do ông đứng đầu, theo quy định của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010. Đến ngày 08/02/2013, Sở Nội vụ Tp. HCM trả lời bác đơn bằng văn bản số 164/SNV-VP với lý do như sau: (7)

“Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân thành phố tại Công văn số 914/VP-VX ngày 04 tháng 02 năm 2013 của Văn phòng Uỷ ban nhân dân thành phố về không thành lập Hội Hướng đạo sinh thành phố Hồ Chí Minh vì hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều tổ chức hoạt động của giới trẻ như Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên, Hội Sinh viên. Sở Nội vụ phúc đáp cho ông Phạm Thanh Hiệp được biết và hoàn trả hồ sơ”.

Có thể nhận thấy “ý kiến chỉ đạo của UBND thành phố” mà Sở Nội vụ nêu ra để bác đơn ông Phạm Thanh Hiệp là vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp ngày 15/4/1992 (sửa đổi bổ sung 2001) quy định tại Điều 69 rằng: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Và Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội có quy định tại khoản 1 Điều 5 về “Điều kiện thành lập hội” như sau: “Có mục đích hoạt động không trái với pháp luật; không trùng lặp về tên gọi và lĩnh vực hoạt động chính với hội đã được thành lập hợp pháp trước đó trên cùng địa bàn lãnh thổ”. Câu hỏi đặt ra là giữa Hội HĐVN và các tổ chức như Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên, Hội Sinh viên thì “hội nào được thành lập hợp pháp trước ?”. Tôi xin trả lời ngay: Hội HĐVN là hội được thành lập hợp pháp trước. Xin dẫn chứng như sau:

– Trong cuốn “Kỷ yếu Hướng Đạo Việt Nam 1930-1945” do Trưởng Phạm Văn Nhơn sưu tầm, biên soạn vào năm 2009, có ghi ở trang 26 như sau: “Năm 1930 Khai sinh Hướng Đạo Việt Nam – Ở Hà Nội, Trưởng Trần Văn Khắc thành lập Đoàn Lê Lợi vào tháng 9 năm 1930 sau đó giao lại cho anh Nguyễn Ngọc Vũ trông nom. Liền đó tháng 10/1930 Trưởng Hoàng Đạo Thúy thành lập Đoàn Vạn Kiếp”. Đến năm 1932, do hệ thống chính trị ở 3 miền Việt Nam có tính chất khác biệt nên có 3 hội Hướng Đạo lần lượt được thành lập theo khuôn khổ pháp luật của mỗi miền với các tên gọi khác nhau là: Hội Hướng Đạo Bắc kỳ (thành lập 28/9/1932), Hội Hướng Đạo An Nam (tức Hội Hướng Đạo Trung kỳ, thành lập 15/12/1932) và Tổng cuộc Hướng Đạo Nam kỳ (thành lập 24/7/1932). (trang 44, 45 Kỷ yếu HĐVN 1930-1945, Pham Văn Nhơn). Khi Vua Bảo Đại lên ngôi ngày 10/9/1932 (lúc 19 tuổi) thì Hội Hướng Đạo An Nam được vinh dự trao tặng danh vị “Hội Viên Danh Dự” cho Vua Bảo Đại vào ngày 2/4/1934. Thủ tục nghi lễ lúc bấy giờ đòi hỏi Bằng Hội Viên Danh Dự Hội Hướng Đạo An Nam phải được trao tặng qua vị Bộ Trưởng Giáo Dục. (8)

– Sau khi nước Việt Nam độc lập năm 1945, một Hội HĐVN được thành lập để thay và thống nhất ba hội Hướng Đạo Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ. Bản Điều lệ của Hội HĐVN được duyệt y ngày 7/2/1946, do ông Hoàng Minh Giám, Đổng lý Văn phòng, ký thay Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

– Ngày 31/5/1946, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Hồ Chí Minh gởi thư cho ông Hội trưởng Hội Hướng đạo Việt Nam nhận làm Danh Dự Hội Trưởng. Không hiểu BBT e ngại điều gì mà trong cả 2 văn bản nhằm xoá bỏ Hội HĐVN nói trên đều bỏ sót, không hề nói đến tư cách Danh Dự Hội Trưởng Hội HĐVN của Chủ tịch Đảng CSVN kiêm Chủ tịch Chính phủ Việt Nam ?

Đó là những chứng cứ cho thấy có 3 Hội Hướng Đạo đã được thành lập hợp pháp từ năm 1932 trên cả ba miền của đất nước có chế độ chính trị khác nhau. Đến khi Việt Nam độc lập và thống nhất năm 1945 thì một Hội HĐVN thống nhất cả nước – để thay cho 3 hội ở 3 miền, cũng được thành lập hợp pháp vào ngày 7/2/1946 – là thời điểm chưa có Hiến pháp đầu tiên (9/11/1946). Và vào thời điểm Hiến pháp đầu tiên được ban hành (9/11/1946), các tổ chức như Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên, Hội Sinh viên đều chưa được thành lập hợp pháp.

– Ba là: Trại Hợp Lực 2015 được các hội viên HĐVN tổ chức để kỷ niệm 85 năm “khai sinh HĐVN” tại Khu du lịch Bửu Long thuộc tỉnh Đồng Nai vào các ngày 16-19/7/2015. Sáng 16/7/2015 các trại sinh cùng đến đất trại để chuẩn bị khai mạc trại vào ngày 17/7/2015 nhưng ngay trong đêm hôm đó, CA mặc thường phục đã xông vào khống chế lực lượng bảo vệ Khu du lịch và ra lệnh cho các trại sinh phải nhổ trại vào sáng hôm sau. Danh sách đăng ký tham dự trại – thông qua hợp đồng dân sự hợp pháp với Ban Giám đốc Khu du lịch Bửu Long, có tổng cộng là 2.017 huynh trưởng và đoàn sinh HĐVN trên cả nước tham dự Trại Hợp Lực 2015. (9)

– Bốn là: Hội Bầy ngành Ấu toàn quốc được tổ chức vào ngày 4/6/2016 ở Khu du lịch Mắt Xanh tỉnh Bình Dương để kỷ niệm 100 năm ngành Ấu của Phong trào Hướng Đạo Thế giới. Có khoảng trên 800 sói con và huynh trưởng khắp nơi về dự trại. Nhưng ngay ở những điểm tập họp đầu tiên trên địa bàn tỉnh Bình Dương, các huynh trưởng và đoàn sinh HĐVN đã bị công an mặc thường phục uy hiếp, xua đuổi chạy từ điểm tập họp này sang điểm tập họp khác và sau cùng tất cả phải quay trở về địa phương mình !

 

4/ Kết luận và đề nghị:

Hiến pháp nước Việt Nam có đặt ra giới hạn đối với hoạt động của Đảng CSVN khi quy định tại Điều 4 rằng: “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Nhưng cũng tại Điều 4 này của Hiến pháp đã xác lập cho Đảng CSVN “là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” tức là đã trao cho tổ chức chính trị này một quyền lực vô cùng rộng lớn mà chỉ với một câu gồm 10 từ. Một câu gồm 10 từ này có thể được giải thích theo nhiều cách khác nhau và đều có thể lấy đó làm cơ sở pháp lý cho quyền hành của Đảng CSVN. Trong suốt 70 năm với 5 Bản Hiến pháp mà Quốc hội VN vẫn không làm ra được một đạo luật để xác lập các quyền và nghĩa vụ cụ thể của các đảng viên và Đảng CSVN trong việc “lãnh đạo nhà nước và xã hội” để Đảng CSVN không thể lạm quyền, không thể vượt ra ngoài khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Căn cứ vào nội dung của Sắc lệnh Luật số 102-SL/L-004 ngày 20/5/1957 quy định quyền lập hội thì Đảng CSVN cũng chỉ là một tổ chức, một hội như Hội HĐVN nhưng khác nhau ở “mục đích” – Đảng CSVN có mục đích chính trị còn Hội HĐVN có mục đích xã hội. Nhưng đây là điều nghịch lý trong một chế độ dân chủ pháp trị nếu so sánh với Hội HĐVN chỉ có gần 15.000 hội viên nhưng được điều chinh bởi các văn bản pháp luật như: Các Hiến pháp, Sắc lệnh Luật số 102-SL/L-004 ngày 20/5/1957 quy định quyền lập hội, Nghị định số 258-TTg ngày 14/6/1957 quy định chi tiết thi hành Luật quy định quyền lập hội, rồi đến Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, rồi đến Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Và sắp tới đây là một Dự thảo Luật về hội đang chờ Quốc hội thông qua. Chính vì không phải chịu trách nhiệm pháp lý cụ thể, không thể bị một chế tài nào của pháp luật VN nên đã có sự lạm quyền của BBT khi làm ra các văn bản trái pháp luật để ngăn cấm tái lập Hội HĐVN và ra lệnh đàn áp các sinh hoạt, hội họp của các hội viên. Hay nói cách khác là các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Việt Nam và cả hệ thống văn bản pháp luật VN đã không thể bảo hộ quyền hội họp và quyền lập hội của các hội viên Hội HĐVN trước sự lạm quyền của BBT và những người thi hành lệnh của BBT.

Nhưng Việt Nam đã tham gia Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị từ ngày 24/9/1982 nên Đảng CSVN cầm quyền và Chính phủ Việt Nam có nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền đã được thừa nhận trong Công ước này dành cho các hội viên Hội HĐVN. Theo đó, Việt Nam đã cam kết “đảm bảo rằng bất cứ người nào bị xâm phạm các quyền tự do như được công nhận trong Công ước này, thì đều được hưởng bảo hộ pháp lý một cách có hiệu quả, cho dù sự xâm phạm này là do hành vi của những người thừa hành công vụ gây ra” (Khoản 3.a Điều 2 Công ước). Nhưng Đảng CSVN cầm quyền và Chính phủ Việt Nam vẫn cố ý xâm phạm quyền lập hội và hội họp của các hội viên Hội HĐVN từ khi Việt Nam gia nhập Công ước (1982) cho đến nay. Do đó, tôi xin kính gởi đề nghị đến Chính phủ các quốc gia thành viên của Công ước như sau:

– Đề nghị các quốc gia thành viên của Công ước – đặc biệt là với 164 quốc gia hiện nay có Tổ chức Hướng đạo Quốc gia, có tư cách hội viên của WOSM –xin dẫn = (https://www.scout.org/node/67

và/hoặc (https://en.m.wikipedia.org/wiki/World_Organization_of_the_Scout_Movement): 

Hãy sử dụng quyền của mỗi quốc gia thành viên được quy định tại Điều 41 Công ước để khiếu nại với Ủy ban Quyền con người về trường hợp Việt Nam đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo Công ước vì lý do Đảng CSVN và Chính phủ VN đã liên tục xâm phạm quyền lập hội và quyền hội họp của các hội viên Hội HĐVN từ 1975 đến nay.

– Đề nghị với Chính phủ Hoa Kỳ: Ngày 25/7/2013, Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký bản Tuyên bố chung xác lập quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước nhằm xây dựng một khuôn khổ tổng thể để thúc đẩy sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực, trong đó có nội dung “bảo vệ và thúc đẩy quyền con người”. Đến ngày 9/12/2016, Tổng Thống Hoa Kỳ ban hành Đạo luật Nhân quyền Magnitsky Toàn cầu (Global Magnitsky Human Rights Accountability Act) đã được Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua trước đó. Đạo luật Nhân quyền Magnitsky Toàn cầu chắc chắn sẽ giúp cho việc thực hiện bản Tuyên bố chung ngày 25/7/2013 hiệu quả hơn và sẽ thúc đẩy Việt Nam thực hiện đầy đủ hơn nghĩa vụ của mình theo Công ước. Các hội viên Hội HĐVN đặt nhiều hy vọng vào mối quan hệ đặc biệt này giữa 2 Chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam khi hai bên cùng xem xét về trường hợp của Hội HĐVN bị xâm phạm quyền lập hội và hội họp theo pháp luật.

Tôi cũng xin đề nghị với bất cứ cá nhân hay tổ chức nào có điều kiện, hãy chuyển gởi tiếp hồ sơ này đến các cơ quan, tổ chức dưới đây để có thể có được sự hổ trợ cần thiết trước khi vấn đề Hội HĐVN được Ủy ban Quyền con người xem xét:

Tổ chức phi chánh phủ: Human Rights Watch, Freedom House, Amnesty International, Human Rights Campaign, Lawyers Committee for Human Rights, BPSOS, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam.

Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ: Bureau of Democracy, Human Rights and Labor Affairs.

Hạ Viện Hoa Kỳ: Tom Lantos Human Rights Commission.

Thượng Viện Hoa Kỳ: Sub-committee on International Opeations and Organizations, Human Rights, Democracy and Global Women’s Issues. 

Sau cùng, tôi xin cám ơn tất cả những cá nhân, tổ chức và những quốc gia đã và sẽ giúp đỡ các hội viên Hội HĐVN trên con đường đấu tranh đòi lại các quyền lợi hợp pháp của mình, đòi lại sự công bằng cho mình. Sự công bằng và công lý cho các hội viên Hội HĐVN là: Đảng CSVN và Chính phủ VN phải thực thi những cam kết trong Công ước bằng cách công nhận quyền hội họp và lập hội hợp pháp của các hội viên Hội HĐVN đã có từ năm 1932. 

Nguyễn Lệnh

(Cựu Hướng đạo sinh Hội HĐVN – Luật sư tập sự thuộc Luật sư Đoàn Tòa Thượng Thẩm Huế trước 30/4/1975 – Luật sư thực thụ thuộc Đoàn Luật sư Tp. Hồ Chí Minh từ 16/8/1996 đến nay.)

—————————

(1) Văn bản số 143 – TB/TW ngày 20/4/2004:

h1h1

h1

(2) Văn bản số 157-TB/TW ngày 20/5/2008:

h1h1h1

(3) Thẻ đại biểu Hội HĐVN tham dự Đại hội thành lập Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam năm 1957 và Đại hội Toàn quốc Hội LHTNVN lần 2 năm 1961:

h7

h8

(4) Văn bản của Bộ Tổng Ủy viên Hội HĐVN thay mặt Hội nghị Huynh trưởng Hướng Đạo sinh miền Bắc tổ chức tại Hội quán Hàng Trống ngày 5/2/1965.

h9

(5) Thư ngày 31/5/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Hồ Chí Minh gửi Hội trưởng Hội HĐVN (Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, trang 573):

h1

(6) Văn bản số 1507/BVHTTDL-TCCB ngày 17/5/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trả lời đơn ông Đặng Văn Việt v/v đề nghị phục hồi chơi hướng đạo:

h1

(7) Văn bản số 164/SNV-VP ngày 8/2/2013 của Sở Nội vụ Tp. Hồ Chí Minh trả lời đơn ông Phạm Thanh Hiệp về thành lập Hội Hướng Đạo sinh Tp. Hồ Chí Minh.

h1

(8) Hội Hướng Đạo An Nam (Trung kỳ) do Hội trưởng Trần Bá Vỵ đại diện, trao tặng Bằng “Hội Viên Danh Dự” cho Vua Bảo Đại ngày 2/4/1934.

h13

(Dịch sang tiếng Việt) HỘI HƯỚNG ĐẠO AN NAM

—o—

BẰNG TRAO TẶNG

CỦA HƯỚNG ĐẠO SINH AN NAM

DÂNG LÊN HOÀNG THƯỢNG

BẢO ĐẠI

Ngày 2 tháng Tư năm 1934

 Kính dâng lên Ngài Bộ Trưởng Giáo Dục Quốc Gia,

HỘI VIÊN DANH DỰ của Hội chúng tôi

 Thay mặt Ủy Ban Quản Trị

Ký tên và đóng dấu: Trần Bá Vỵ

(9) Trại Hợp Lực 2015 (16 -19/7/2015) – kỷ niệm 85 năm HĐVN, tại Bửu Long Biên Hòa:

Sáng 16/7/2015 trại sinh cùng nhau đến đất trại để chuẩn bị khai mạc trại vào ngày 17/7/2015 nhưng ngay trong đêm hôm đó bị CA mặc thường phục ra lệnh nhổ trại. Danh sách đăng ký tham dự trại – thông qua hợp đồng dân sự hợp pháp với Ban Giám đốc Khu du lịch Bửu Long, có tổng cộng là 2.017 huynh trưởng và đoàn sinh HĐVN trên cả nước.

h14

Advertisements

4 phản hồi to “11.683. Hội Hướng Đạo Việt Nam cần được hưởng bảo hộ pháp lý của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 16-12-1966”

  1. […] 11.683. Hội Hướng Đạo Việt Nam cần được hưởng bảo hộ pháp lý của Công ư… […]

  2. […] […]

  3. […] https://anhbasam.wordpress.com/2017/02/17/11-683-hoi-huong-dao-viet-nam-can-duoc-huong-bao-ho-phap-l… […]

  4. […] https://anhbasam.wordpress.com/2017/02/17/11-683-hoi-huong-dao-viet-nam-can-duoc-huong-bao-ho-phap-l… […]

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: