BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

9878. CHÚ LƯƠNG & CHIẾC ĐÀI ORIONTON

Posted by adminbasam on 05/09/2016

FB Trương Huy San

5-9-2016

Chú Lương và cha tôi, ảnh chụp vào khoảng 1990

Chú Lương và cha tác giả Huy Đức, ảnh chụp vào khoảng 1990. Nguồn: FB Huy Đức.

Chú Lương mất. Cả 4 anh em chúng tôi cùng bay vội lên Đà Lạt. Chú Lương quy tiên ở tuổi 89. Chú thuộc thế hệ gần cha tôi nhất và ảnh hưởng lên bọn trẻ trong xóm tôi nhiều nhất.

Chúng tôi lên tiễn đưa chú đồng thời tiễn đưa một phần ký ức tuổi thơ của mình.

Buổi sáng, sau khi thắp nhang viếng chú, chị Tuyết, con gái chú – một giáo viên PTTH nghỉ hưu đã ba năm – hỏi mà như nói với tôi: “Có lẽ vì con đường Bác vạch ra đẹp quá nên hậu sinh mới không thể thực hiện, đất nước mới như thế này phải không San”. Tôi giật mình vì người vừa xuất hiện trong đầu tôi lúc bấy giờ cũng đang là “Bác”.

Khi nhận được tin chú Lương mất, ngay lập tức tôi nghĩ tới chiếc đài Orionton Hungary của chú. Đã nghĩ đến chiếc đài Orionton – có hộp pin phụ tự chế – của chú Lương thì phải nghĩ ngay tới sự kiện đầu tiên quây quần chúng tôi: Bản tin của Đài tiếng nói Việt Nam về “tình hình sức khỏe của Hồ Chủ Tịch”.

Không đợi đến khi bản phim đèn chiếu đầu tiên về lễ tang Hồ Chủ Tịch được đưa về Nông trường, qua chiếc đài Orionton của chú Lương, chúng tôi đã nghe Bí thư thứ nhất Lê Duẩn nhắc đi nhắc lại câu “Vĩnh biệt người chúng ta thề” trong bài điếu văn đưa ông vào hàng “học trò của Người, xuất sắc nhất”.

Trong ngày 9-9-1969, cũng như ở khắp miền Bắc, Nông trường chúng tôi cũng tiến hành một nghi thức tang lễ cho Hồ Chủ tịch. Ấn tượng về cái chết của ông kéo dài gần suốt học kỳ đầu lớp Hai của tôi vì sau đó, cái nhà táng bằng giấy phết hồ dựng trong tang lễ ông được đưa về để trong lớp tôi, nơi vốn là hội trường dựng trên đồi không tên (chạy từ can-tin ra tới Đập Lả). Cứ hết giờ chúng tôi lại ném cái ghế gỗ con tự túc mang tới trường vào bên trong cái khung nhà táng đó.

Cho dù nông trường Thạch Ngọc có mấy trăm hộ gia đình, trước 1975, số nhà có radio không đủ đếm trên đầu ngón tay. Đội I của tôi nằm gần ngã ba Khe Giao, thỉnh thoảng có các chú bộ đội cấp cao ghé qua, mang theo, hoặc là cái đài Xiongmao, nếu ở Bắc vô; hoặc cái National, Standard… nếu ở Nam ra.

Chị Tuyết học cùng lớp với chị gái tôi – chị Lan -, trên tôi ba năm. Hai chị và tôi là ba người say mê sách báo nhất: Báo Tiền Phong, sách Thép Đã Tôi Thế Đấy, Rừng Thẳm Tuyết Dày, Ruồi Trâu và cả Nhãn Đầu Mùa…

Cha mẹ tôi đều là người Hà Tĩnh, nhưng có lẽ nhờ lớn lên trong một mô hình kinh tế tiêu biểu của chủ nghĩa xã hội, mà chúng tôi được tiếp xúc với nhiều nguồn văn hóa khác nhau. Nông trường là nơi tập trung đủ công – nông – trí thức: người từ Nam ra tập kết, người từ Hà Nội, Ninh Bình… vào.

Ngoài chiếc đài Orionton của Hungary, một chiếc xe đạp Pháp cũ, hiệu Sterling, chú Lương còn gây ấn tượng với chúng tôi về đôi giày da đen mõm nhái. Thỉnh thoảng chú lại đưa đôi giày ra quẹt một chút xíu xi – hộp xi cũng cùng tuổi với đôi giày – vuốt nhẹ, phơi nắng rồi lại đem vào cất.

Có lẽ chương trình phát thanh ưa thích nhất của chúng tôi là “tiết mục kể chuyện cảnh giác” 7 giờ tối thứ Bảy hàng tuần và “Sân khấu truyền thanh” ngay sau đó. Nhưng, chương trình mà tôi, chị Tuyết và chị Lan chờ đợi nhất vẫn là “Đọc truyện đêm khuya”, chưa cần nuốt từng lời của các cô Kim Cúc, Tuyết Mai, chỉ cần nghe đoạn nhạc hiệu mở đầu trong lòng đã buồn háo hức.

Thỉnh thoảng, chú Lương “thưởng” cho chúng tôi vài chương trình BBC tiếng Việt.

Không chỉ được tiếp xúc với những người có học và thân thiện như chú Lương. Nông trường là nơi cho tôi những trải nghiệm cận cảnh về chủ nghĩa xã hội. Bọn trẻ chúng tôi một lần được vinh dự dọn sạch từng cục phân, lá tre, để đón Bộ trưởng Bộ Nông trường Nghiêm Xuân Yêm. Lần đầu tiên được nhìn thấy không chỉ một chiếc volga dù máy cày, máy kéo chúng tôi đã đánh đu gần đủ.

Thoạt đầu, nông trường tôi trồng sả, nấu sả cất tinh dầu “xuất sang Liên Xô”; chẳng hiểu lời lỗ thế nào mà một thời gian sau lại chuyển sang trồng dứa; có lúc lại thấy trồng cam, trồng bưởi… Bắt đầu một cây con nào công nhân nông trường đều hào hứng như sắp bắt kịp Trung Hoa, Liên Xô… để rồi tất cả lần lượt bị bỏ bê khô héo.

Cũng cày sâu, cuốc bẫm như nông dân, nhưng ngoài tên gọi “công nhân” cha mẹ chúng tôi còn được hưởng chế độ “ngày 8 tiếng”. Mùa vụ cũng 8 tiếng. Lúc “ra Giêng” vẫn phải 8 tiếng. Không có việc gì làm thì những lãnh đạo đội, tổ như O Bưởi, như cha tôi “đêm nằm cắt việc giao cho mà làm”. Thường là cắt cỏ làm phân xanh.

Bọn tôi không chỉ đi theo giúp cha anh cắt cỏ mà còn giúp họ xếp những đống cỏ, xung quanh thì vuông thành sắc cạnh, giữa thì rỗng ruột. Chỉ một ngày nắng lên là cái “mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa cỏ” ấy xẹp lép. Mặc kệ, cha mẹ chúng tôi đến tháng vẫn lãnh đủ lương, trẻ con chúng tôi cũng mỗi tháng được ăn theo 2 lạng thịt, 4 mét vải (một năm) và nhận từ 5 – 15 kg gạo.

Sau khi, hỏi tôi về “con đường của Bác”, chị Tuyết nói, “Cha mẹ chị thì vẫn tin tưởng lắm”.

Một ông ủy viên thường vụ thành ủy được cử đứng ra làm trưởng ban lễ tang cho chú Lương. Có lẽ chú sẽ vui. Nhưng chắc chắn ông trưởng ban lễ tang sẽ không bao giờ biết hình ảnh chú Lương trong những năm “đi theo con đường của Bác” ấy thường lặng lẽ mang đôi giày đen mõm nhái – thời vàng son của chú – ra quẹt một chút xíu xi, vuốt nhẹ, phơi nắng rồi lại đem vào cất.

Vĩnh biệt chú Lương, người đã mang chiếc đài Orionton đến với tuổi thơ của chúng con.

H1Cô chú Lương – Phương và niềm tin của một thời. Ảnh và chú thích của tác giả.

H1

Một phản hồi to “9878. CHÚ LƯƠNG & CHIẾC ĐÀI ORIONTON”

  1. […] 9878. CHÚ LƯƠNG & CHIẾC ĐÀI ORIONTON […]

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: