BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

9619. TẠI SAO ĐẤT NƯỚC TA MÃI NGHÈO? (Tiếp theo)

Posted by adminbasam on 17/08/2016

FB CaoBao Do

17-8-2016

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Tiếp theo phần 1,2,3: TẠI SAO ĐẤT NƯỚC TA MÃI NGHÈO?

(4) NỀN TẢNG TRIẾT HỌC YẾU LẠI KHÔNG CHUẨN

Triết học của Việt Nam gốc là Nho Giáo sau này chuyển sang Khổng Giáo, Khổng Giáo độc tôn ở Việt nam cho tới thế kỷ 20. Cuối thế kỷ 16 khi các nhà truyền giáo Châu Âu vào giảng đạo, Thiên Chúa Giáo bắt đầu hình thành và phát triển và triết học Khổng Giáo dần bị lai tạp bởi Thiên Chúa Giáo. Với sự thay đổi và phát triển như vậy triết học của Việt Nam là lai tạp, pha trộn và ảnh hưởng của nước ngoài (Trung Quốc và phương Tây) nên nền tảng không vững chắc, cộng thêm Việt Nam không có triết gia nên các hệ thống lý luận và giá trị vừa yếu vừa không chuẩn.

Trên nền tảng triết lý Khổng Giáo lai tạp ấy rất nhiều giá trị, nhiều vai trò của các thành phần trong xã hội không chuẩn, thậm chí bị sai lệch, từ đó dẫn đến đảo lộn các qui tắc hành xử, ứng xử trong xã hội cũng như trong phát triển kinh tế.

[1] Điểm sai lệch thứ nhất nghiêm trọng nhất là đánh giá thấp vai trò của doanh nhân, doanh nghiệp và thương mại. Không những đánh giá thấp mà còn bị coi thường: dạy học và chữa bệnh thì được gọi là “thầy”: “thầy giáo”, “thầy thuốc” (điều này không sai), còn buôn bán, thương mại thì gọi là “con” là “bọn” (“phường con buôn”, “bọn con buôn”). Trong khi doanh nghiệp (bao gồm cả nhà máy, xí nghiệp sản xuất, ngân hàng) là trung tâm của xã hội, tạo công ăn việc làm cho 70% lao động trong xã hội, đóng thuế nuôi bộ máy chính phủ, duy trì an ninh quốc phòng, đầu tư cho giao thông, hạ tầng xã hội, đầu tư cho giáo dục, đầu tư cho y tế, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người nghèo và các chính sách xã hội…

Đã bước vào thế kỷ 21, hội nhập quốc tế đã 22 năm, thời đại Internet, thời đại toàn cầu hoá rồi mà hiện tại rất nhiều học giả, rất nhiều người có tri thức vẫn có luận điểm chia những người kinh doanh Việt Nam ra 3 loại: Doanh nhân, thương nhân và con buôn (trong khi thế giới chỉ dùng một từ duy nhất là Businessman). Tệ hại hơn có người còn kết luận hiện thời Việt Nam chưa có doanh nhân.

Một thành phần chính, lực lượng chính, hoạt động trung tâm của việc tạo ra của cải cho xã hội, của phát triển kinh tế, làm giầu cho cá nhân, tập thể và đất nước lại bị đánh giá thấp nhất, bị coi thường, bị miệt thị thì mãi nghèo cũng là chuyện tất yếu, không thể khác.

Người Việt chúng ta hiểu hoàn toàn sai về thương mại và doanh nhân, họ coi buôn bán, thương mại là lừa gạt, là bất nhân. Thực chất thương mại và doanh nhân buộc người ta phải đi lại, gặp gỡ, giao lưu, buộc người ta phải thuyết phục đối tác, khách hàng; muốn vậy buộc người ta phải tìm hiểu tâm lý, thói quen, nhu cầu của khách hàng; muốn vậy buộc người ta phải đặt mình vào địa vị của khách hàng để hiểu tâm lý, thói quen, nhu cầu, để khám phá xem khách hàng muốn gì; muốn vậy buộc người ta phải nghiên cứu, áp dụng khoa học và công nghệ để sản xuất ra các sản phẩm tốt nhất, phù hợp nhất; Tiếp theo người ta phải tìm cách chinh phục khách hàng, thuyết phục khách hàng đồng ý mua sản phẩm, dịch vụ của mình thay vì mua sản phẩm dịch vụ của nhà cung cấp khác, của quốc gia mình mà không phải quốc gia khác. Muốn làm được điều đó doanh nhân phải là một người lịch sự, chân thành, lễ độ, nghiêm túc, hiểu biết, giữ chữ tín, đáng tin cậy, đáng yêu và có trách nhiệm với xã hội, đôi khi là cả lòng dũng cảm, đi tiên phong.

Chân thành, tin cậy, đáng yêu, có trách nhiệm với xã hội là bốn đức tính đáng quí nhất của một doanh nhân, thiếu bốn đức tính đó thì không thể là một doanh nhân lớn, không thể thành công trong thương mại, nếu có thành công thì chỉ là thành công nhỏ, tạm bợ mà thôi.

Một đất nước, một nền văn hoá, loại bỏ thương mại, thiếu vắng thương mại sẽ dần biến đất nước, biến xã hội thành một đất nước, một xã hội không văn minh, thiếu lịch sự, đôi khi lỗ mãng.

Chính vì bị đánh giá thấp, bị coi thường nên doanh nghiệp và nghề buôn (thương mại) không được phát triển ở Việt nam. Mà thương mại và doanh nghiệp không được phát triển thì tất yếu đất nước sẽ nghèo.

[2] Điểm sai lệch thứ hai cũng nghiêm trọng là đánh giá sai lệch về tiền bạc. Không chỉ sai lệch mà chúng ta còn có thái độ bệnh hoạn và tội lỗi đối với tiền bạc.

Người Việt chúng ta có hai thái cực trái ngược nhau đầy mâu thuẫn về tiền bạc. Thái cực thứ nhất là coi khinh đồng tiền: “Tôi coi khinh đồng tiền”, “tiền bạc lắm”; đã coi khinh đồng tiền, coi tiền là bạc bẽo thì hiển nhiên sẽ không bao giờ kiếm được nhiều tiền, không bao giờ giầu có. Thái cực thứ hai là tuyệt đối hoá đồng tiền: “Có tiền mua tiên cũng được”, “tiền là vạn năng”, “tiền là tất cả”; đã tuyệt đối hoá đồng tiền họ sẽ kiếm tiền bằng mọi giá, không quan tâm đến chữ tín, không quan tâm đến nhân cách, bất chấp hậu quả.

Với triết lý vừa tuyệt đối hoá vừa coi khinh đồng tiền dẫn đến một bộ phận người Việt Nam không dám công khai kiếm tiền, coi kiếm tiền như một sự vẩn đục, họ cố làm ra vẻ coi khinh đồng tiền, coi khinh sự giầu có và hãnh diện với sự thanh bần của mình. Mặt khác họ cũng hiểu quyền lực của đồng tiền, họ cũng cần tiền và muốn có nhiều tiền thành thử họ kiếm tiền và làm giầu một cách giấu giếm.

Các xã hội phát triển, văn minh họ đánh giá đúng giá trị đồng tiền, họ không tuyệt đối hoá, họ không coi khinh đồng tiền, họ coi đồng tiền là phương tiện trao đổi hàng hoá, đồng tiền là thước đo giá trị lao động, đồng tiền giúp họ có cuộc sống tốt hơn, đào tạo nâng cao trình độ, chăm sóc sức khoẻ tốt hơn, báo hiếu cha mẹ, giải trí, du lịch và làm công tác xã hội.

[3] Điểm sai lệch thứ 3 cũng nghiêm trọng là đánh giá sai các giá trị:

Người Việt chúng ta quan niệm lệch lạc về người giỏi. Thời phong kiến là giỏi làm thơ (xuất khẩu thành thơ), giỏi đối đáp (câu đối), trong khi đó xã hội cần bao nhiêu người tài trong các lĩnh vực khác nữa: khoa học tự nhiên và kinh tế – thương mại là hai lĩnh lực quan trọng nhất giúp kinh tế phát triển thì thời phong kiến không được quan tâm, không được đánh giá là người tài. Nửa cuối thế kỷ 20 ở miền Bắc lại quan niệm người giỏi là giỏi các môn tự nhiên, đặc biệt là môn Toán, tất cả những học sinh giỏi nhất lên đại học đều học Toán, Vật Lý, Cơ học..

Người Việt chúng ta không đánh giá cao, không ca ngợi những nguyên lý cơ bản về hệ thống, bài bản mà thường đánh giá cao sự lanh trí xử lý theo tình huống, khôn vặt kiểu Trạng Quỳnh: “Dê đực chửa”, “Hâm nước mắm”, “nhúng 10 đầu ngón tay vẽ giun”, “đố vua ị mà cấm đái”… Với tư duy ấy chúng ta chỉ có thể làm tốt những hệ thống nhỏ, đơn lẻ, khi hệ thống lớn hơn, cần nhân rộng, cần phát triển lâu dài thì sự lanh trí, khôn vặt lại chính là lực cản của sự phát triển.

Người Việt chúng ta rất coi trọng bằng cấp, coi trọng đến mức cứ thi đỗ trạng nguyên, thám hoa, bảng nhãn thì bổ làm quan. Trong khi đó thám hoa, bảng nhãn cũng chỉ giỏi văn thơ, làm sao mà lãnh đạo một tổng, một huyện, một tỉnh, làm sao lãnh đạo phát triển kinh tế. Đồng hành với coi trọng bằng cấp là coi nhẹ thực hành: ngày trước đi học chỉ dậy văn thơ, câu đối, ngày nay chỉ dậy lý thuyết mà ít dậy thực hành.

____

NHẤT ĐỊNH ĐẤT NƯỚC TA SẼ GIÀU – HÃY TIN VÀ HÃY KHÁT VỌNG [4]

CaoBao Do

17-8-2016

Từ hôm tôi post stt đầu tiên về chủ đề VÌ SAO ĐẤT NƯỚC TA MÃI NGHÈO, chỉ ra nhiều điểm yếu cố hữu của người Việt, rất nhiều bạn đồng quan điểm, rất nhiều bạn tự thấy bản thân sẽ tự thay đổi để hạn chế điểm yếu, một số bạn không chia sẻ, đặc biệt tôi nhận được vài ý kiến của một số bạn lo ngại: “anh viết về điểm yếu của người Việt làm cho bọn em và một số người bi quan và nản”.

Tuy chỉ ra 4 điểm yếu cố hữu của người Việt, nhưng tôi không bi quan, tôi vẫn rất lạc quan, tôi luôn tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc Việt, của đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng NHẤT ĐỊNH ĐẤT NƯỚC TA SẼ GIÀU, nhất định chúng ta sẽ đuổi kịp Thailand, nhất định chúng ta sẽ vượt Philippines trong một thời gian không xa nữa.

Cơ sở để tôi tin tưởng bao gồm:

[1] NGƯỜI VIỆT CHÚNG TA CÓ RẤT NHIỀU ƯU ĐIỂM VƯỢT TRỘI

[2] TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 15 NĂM QUA (2000-2015) CỦA VIỆT NAM NHANH NHẤT ASEAN

[3] VIỆT NAM ĐÃ CÓ NHỮNG ĐIỂM SÁNG VƯỢT CÁC NƯỚC ASEAN

[4] TRONG KỶ NGUYÊN THẾ GIỚI SỐ, VIỆT NAM CÓ NHIỀU LỢI THẾ

[5] NHẬN RA ĐIỂM YẾU, CHÚNG TA CÙNG KHẮC PHỤC

Tôi sẽ phân tích lần lược 5 cơ sở trên.

[1] NGƯỜI VIỆT CHÚNG TA CÓ RẤT NHIỀU ƯU ĐIỂM VƯỢT TRỘI

Nói về ưu điểm của người Việt sẽ có nhiều nhận định, nhiều ý kiến khác nhau, cá nhân tôi cho rằng người Việt có một số ưu điểm có tác động lớn đến phát triển kinh tế đất nước, đó là:

(a) Người Việt yêu quê hương đất nước
(b) Người Việt kiên cường, bất khuất trước xâm lược, cường quyền
(c) Người Việt đoàn kết rất cao khi gặp khó khăn, nhất là khi ở hoàn cảnh ngặt nghèo
(d) Người Việt có lòng tự hào, tự tôn dân tộc với truyền thuyết con Rồng cháu Tiên
(e) Người Việt thông minh, sáng dạ, học nhanh, nhất là công nghệ mới
(f) Người Việt ham học (tuy lười đọc sách, lười tự học), bố mẹ đầu tư mạnh mẽ cho việc học tập của con cái
(g) Người Việt thân thiện và mến khách

Những ưu điểm trên, nếu biết phát huy (từng cá nhân, từng doanh nhân tự phát huy, từng doanh nghiệp, từng tổ chức, lãnh đạo quốc gia biết khơi dậy, biết tổ chức, biết khai thác) thì nó sẽ tạo thành sức mạnh, tạo thành năng lực cạnh tranh quốc tế, giúp nâng cao năng suất lao động, giúp sáng tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao từ đó sẽ làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước cao hơn nhiều so với giai đoạn trước.

[2] TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 15 NĂM QUA CỦA VIỆT NAM NHANH NHẤT ASEAN

Trong thời gia qua chúng ta có nhiều bài báo nói Việt Nam càng ngày càng tụt hậu, khoảng cách giữa Việt Nam với các nước Asean ngày càng xa, nhưng với số liệu thống kê của tổ chức tiền tệ quốc tế IMF thì lại cho kết quả hoàn toàn ngược lại.

Theo thống kê của tổ chức tiền tệ quốc tế IMF thì trong 15 năm qua (2000-2015) tốc độ phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP của Việt Nam cao nhất khu vực Asean, khoảng cách giữa Việt Nam với các nước đã được rút ngắn đáng kể (có số liệu của IMF xác nhận, các bạn xem ảnh ở kèm sẽ có các số liệu chi tiết).

Theo bảng thống kê này thì tốc độ tăng trưởng GDP đầu người (normal per capita) giai đoạn 2010-2015 các nước ASEAN thứ tự như sau:

(1) Việt Nam: tăng trưởng 71.35%, từ 1.267$ lên 2.172$
(2) Laos: tăng trưởng 66.82%, từ 1.070$ lên 1.785$
(3) Cambodia: tăng trưởng 45.78%, từ 782$ lên 1.140$
(4) Philippines: tăng trưởng 36.94% từ 2.155$ lên 2.951$
(5) Myanmar: tăng trưởng 27.15% từ 998$ lên 1.269$
(6) Singapore: tăng trưởng 14.29% từ 46.569$ lên 2.172$
(7) Malaysia: tăng trưởng 12.93% từ 8.920$ lên 10.073$
(8) Indonesia: tăng trưởng 7.49% từ 3.178% lên 3.416$
(9) Thailand: tăng trưởng 7.2% từ 5.063$ lên 5.426$

Cũng theo bảng thống kê này thì khoảng cách về GDP trên đầu người (normal, per capita) giữa Việt Nam và các nước Singapore, Malaysia, Thailand, Indonesia, Philippines từ năm 2000 đến năm 2015 đã rút ngắn đáng kể như sau:

(1) Singapore: từ gấp 59.19 lần xuống còn gấp 24.52 lần
(2) Malaysia: từ gấp 10.65 lần xuống còn gấp 4.94 lần
(3) Thailand: từ gấp 5.05 lần xuống còn gấp 2.5 lần
(4) Philippines: từ gấp 2.52 lần xuống còn gấp 1.36 lần
(5) Indonesia: từ gấp 2.21 lần xuống còn gấp 1.57 lần

Như vậy, nếu cứ giữ tốc độ này, Việt Nam đuổi kịp Philippines, Indonesia, Thailand là hoàn toàn có thể xẩy ra trong thời gian không xa lắm.

[3] VIỆT NAM ĐÃ CÓ NHỮNG ĐIỂM SÁNG VƯỢT CÁC NƯỚC ASEAN

Về GDP trên đầu người của Việt Nam đúng là còn kém Singapore, Malaysia, Thailand, Indonesia, Philippines, tức kinh tế Việt Nam còn chậm phát triển hơn, Việt Nam còn nghèo hơn, thế nhưng không phải lĩnh vực nào chúng ta cũng kém họ, ít nhất chúng ta có những doanh nghiệp như Viettel, Vinamilk, FPT có những mặt đã vượt các doanh nghiệp cùng lĩnh vực của các nước Asean.

VIETTEL

Tuy về qui mô kinh doanh, doanh số, lợi nhuận, số nhân viên Viettel vẫn còn thua các doanh nghiệp Viễn thông của các nước Singapore, Malaysia, Indonesia, Thailand, nhưng về tinh thần Toàn cầu hoá, về sự có mặt, hiện diện kinh doanh ở nhiều quốc gia, nhất là châu Phi và châu Mỹ la tinh thì chắc chắn Viettel đã vượt các hãng Viễn thông của các nước Singapore, Malaysia, Thailand, Indonesia.

Đến năm 2015, Vittel đã có mặt, hiện diện tại 10 quốc gia, với số thuê bao lên đến 250 triệu (gấp 2.7 lần dân số Việt Nam, tương đương dân số Indonesia).

Theo kế hoạch đến năm 2020, Viettel sẽ hiện diện tại 20 đến 25 quốc gia, với khoảng nửa tỷ thuê bao, khi ấy có thể Viettel sẽ là hãng viễn thông có số lượng thuê bao đứng đầu Asean.

VINAMILK

VINAMILK là doanh nghiệp có vốn hoá lớn lớn nhất Việt Nam với giá trị công ty lên đến 9 tỷ USD. Cuối tháng 6 năm 2016 tập chí Nikkei (Nhật Bản) đã xếp Vinamilk là doanh nghiệp lớn thứ 22 châu Á (trừ Nhật Bản). Có thể nói trong lĩnh vực sữa, Vinamilk đã trở thành doanh nghiệp lớn nhất Asean.

VINAMILK cũng là doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực Toàn Cầu hoá, hiện Vinamilk đã có 15 nhà máy sữa ở Việt Nam, 3 nhà máy sữa ở New Zealand, Ba Lan, Mỹ.

FPT

Trong lĩnh vực CNTT, Việt Nam chúng ta tự hào có FPT là doanh nghiệp CNTT lớn nhất Đông Nam Á. Với doanh thu tỷ gần 2 tỷ USD và 30.000 nhân viên, hiện diện trên 20 quốc gia FPT đã vượt xa nhiều lần các doanh nghiệp CNTT của các nước Singapore, Indonesia, Malaysia, Thailand, Philippines.

Ở một đất nước tổng GDP thấp hơn nhiều lần, qui mô thị trường CNTT bé hơn 3-5 lần mà FPT có qui mô kinh doanh vượt tất cả các công ty CNTT các nước Asean 5-7 lần thì là một kỳ tích và Việt Nam chúng ta rất đáng tự hào.

VIETTEL, VINAMILK, FPT là một minh chứng rất thuyết phục rằng người Việt Nam chúng ta cũng như đất nước chúng ta hoàn toàn có thể ngang hàng và vượt các nước khác trong khu vực.

(Còn nữa)

5 phản hồi to “9619. TẠI SAO ĐẤT NƯỚC TA MÃI NGHÈO? (Tiếp theo)”

  1. […] Mời xem lại: phần 1,2,3: TẠI SAO ĐẤT NƯỚC TA MÃI NGHÈO?   —   Phần 4 và Nhất định nước ta sẽ giàu […]

  2. […] tiếp 4 kỳ bài “Tại sao đất nước ta mãi nghèo”của FB Cao Bao Do (số 9594; 9619; 9663và 9687) và đưa ra các biện pháp khắc […]

  3. […] tiếp 4 kỳ bài “Tại sao đất nước ta mãi nghèo”của FB Cao Bao Do (số9594; 9619; 9663 và 9687) và đưa ra các biện pháp khắc phục. Ngày 21/8 có bài hưởng ứng […]

  4. […] Mời xem lại: LỜI GIẢI NÀO ĐỂ THOÁT NGHÈO — Phần 1,2,3: TẠI SAO ĐẤT NƯỚC TA MÃI NGHÈO? — Phần 4 và Nhất định nước ta sẽ giàu […]

  5. […] Mời xem lại: phần 1,2,3: TẠI SAO ĐẤT NƯỚC TA MÃI NGHÈO? — Phần 4 và Nhất định nước ta sẽ giàu […]

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: