BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

8464. Tuần trăng mật của Washington ở Cam Ranh

Posted by adminbasam trên 26/05/2016

VNTB

Tác giả: James Holmes

Dịch giả: Lê Anh Hùng

Dịch từ: Foreign Policy

23-5-2016

Điều khiến bất kỳ thuỷ thủ Hoa Kỳ nào cũng quan tâm nhất lại là thông tin Hà Nội có thể mở cửa trở lại cảng nước sâu Cam Ranh cho tàu chiến Mỹ như một phần của món quà để đổi lấy việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí. 

H1CTN Trần Đại Quang và TT Obama. Nguồn: FP

“Đồng bệnh tương lân”, gã hề Trinculo đã tuyên bố như vậy trong vở bi hài kịch nổi tiếng của William Shakespeare mang tên Bão tố. Bị dạt vào một hòn đảo huyền bí trong tình cảnh thời tiết xấu bủa vây, Trinculo đã náu mình bên dưới tấm áo choàng của gã nô lệ nửa người nửa thú Caliban “cho đến khi những đợt gió cuối cùng của cơn bão biến mất”. Trinculo làm vậy bất chấp người Caliban tanh như cá – và thậm chí anh ta có thể là nửa người nửa cá: “Người hay cá? Còn sống hay đã chết? Một con cá; anh ta tanh như cá; một thứ mùi rất xa xưa và giống cá.” Tóm lại, đó là một người đồng hành rất khó chịu để cùng chống chọi với cơn bão.

Sân chơi chính trị của các cường quốc cũng chẳng khác những gì diễn ra trong một tuyệt tác văn chương là mấy. Xin chuyển thể bài học về tấm áo choàng của Caliban sang nền chính trị thế giới: những đối thủ mà bình thường nhìn thấy nhau là chối đến tận cổ lại có thể gạt qua một bên sự khác biệt rõ ràng để cùng ngăn chặn mối đe doạ chung. Việc hai quốc gia dân chủ Mỹ, Anh từng bắt tay với một Liên Xô toàn trị để đánh bại phe trục trong Thế chiến II là một ví dụ. Tuy nhiên, những liên minh như thế lại rất mong manh – chúng hiếm khi còn tồn tại sau khi bão tố qua đi. Trinculo đã quẳng tấm áo choàng của Caliban ngay khi cơn bão vừa lắng xuống. Liên minh giữa ba cường quốc kể trên cũng hầu như chấm dứt ngay khi Thế chiến II kết thúc.

Nền chính trị Châu Á mới được chứng kiến ít ỏi trường hợp mang nhiều tính chất “đồng sàng dị mộng” hơn cặp đôi Việt Nam và Hoa Kỳ. Trở lại với câu chuyện của Trinculo, sự hung hăng của Trung Quốc trên các vùng biển tranh chấp ở Biển Đông đã gây ra cho các cựu thù đủ cảm giác khổ sở khi phải bắt tay nhau để bảo vệ vùng biển và vùng trời của Việt Nam. Trong chuyến công du Việt Nam nhằm thắt chặt quan hệ kinh tế và quốc phòng vừa qua, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí vốn tồn tại từ lâu với Việt Nam. Tuy cả hai bên đều hy vọng là đối tác sẽ đáp ứng những đòi hỏi về thương mại hay nhân quyền, song chi tiết của thoả thuận vẫn chưa được loan báo. Mặc dù Tổng thống Obama phủ nhận quyết định đó liên quan đến Trung Quốc, nhưng ít ai tin rằng ông ta lại có thể không đếm xỉa gì đến nhân tố Trung Quốc trong mối quan hệ Mỹ – Việt. Người ta còn phải chờ xem là liệu Hà Nội và Washington có thể đi ngược lại logic Shakespeare – xây dựng mối quan hệ đối tác bền vững ngay cả khi hiểm hoạ đã qua đi – hay không.

Dù vậy, điều khiến bất kỳ thuỷ thủ Hoa Kỳ nào cũng quan tâm nhất lại là thông tin Hà Nội có thể mở cửa trở lại cảng nước sâu Cam Ranh cho tàu chiến Mỹ như một phần của món quà để đổi lấy việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí. Nếu thế thì ban lãnh đạo Việt Nam (trong vai Trinculo) đã mời Hoa Kỳ (trong vai Caliban) mở rộng tấm áo choàng – để giúp chống lại cơn bão mang tên Trung Quốc. Quả là những đồng minh lạ lùng.

Tuỳ vào các điều khoản của thoả thuận, điều đó có thể cho phép hải quân Mỹ thiết lập sự hiện diện thường trực ở phía tây Biển Đông. Đây là một động thái bắt buộc nếu Hoa Kỳ muốn khẳng định tự do hàng hải trên vùng biển rộng tới 1,4 triệu dặm vuông này. Trung Quốc đã thách thức cả thông lệ lẫn Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển – cả hai đều khẳng định biển không thuộc về ai – khi tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi” trên một vùng biển và vùng trời rộng lớn ở Đông Nam Á, kể cả những vùng được phân cho Việt Nam theo luật biển. Washington đáp lại thách thức của Bắc Kinh bằng cách phớt lờ.

Việc điều tàu thuyền Mỹ qua các vùng biển tranh chấp và cho phi cơ bay qua vùng trời bên trên – tốt hơn hết là cùng với các nước đồng minh và bạn bè – đồng nghĩa với lời tuyên bố: cộng đồng quốc tế không chấp nhận việc Bắc Kinh nỗ lực xâm phạm vùng biển và vùng trời của các quốc gia láng giềng hoặc vượt quá đặc quyền mà luật biển quy định. Đó là tuyên bố mà các quốc gia hàng hải phải đưa ra, lặp đi lặp lại, để bảo vệ quyền tự do hàng hải vốn đạt được một cách khó khăn trong quá khứ. Có một nguyên tắc bất thành văn theo kiểu không-dùng-thì-mất trong luật quốc tế: Các công ước quốc tế chẳng giá trị hơn những tấm da lừa bao nhiêu. Chúng có thể mất hiệu lực theo thời gian nếu các chính phủ phớt lờ một phần hay toàn bộ công ước. Nếu các thành viên trong một trật tự pháp lý sao nhãng việc phản đối một tuyên bố phi pháp thì cùng với thời gian, tuyên bố đó sẽ tìm thấy đường để trở thành thông lệ quốc tế.

Vì vậy, việc tiếp tục tiến hành các cuộc khảo sát đại dương, các chuyến bay giám sát, các hoạt động hàng không và những hoạt động khác mà Công ước LHQ về Luật Biển cho phép trên khắp vùng biển ngoài khơi và các khu vực đặc quyền kinh tế ở Đông Nam Á là rất cần thiết. Không sử dụng thì mất. Tuy nhiên, để duy trì sự hiện diện ngoài khơi đều đặn vốn cần thiết như thế thì tàu thuyền hải quân và tuần tra lại cần sự hỗ trợ hậu cần gần đó. Tàu thuyền không thể ở lâu ngoài khơi mà không nạp thêm nhiên liệu, tái trang bị vũ khí, hay nhập hàng mới.

Hãy ghé vào vịnh Cam Ranh. Cam Ranh trở thành một căn cứ hải quân quan trọng kể từ khi Pháp xâm lược Đông Dương cuối thế kỷ 19. Và nó đã đóng vai trò nổi bật trong những sự kiện quan trọng của lịch sử thế giới. Chẳng hạn, đô đốc Zinovy Rozhestvensky của Nga từng đưa hạm đội Baltic yểu mệnh của mình vào đây năm 1905. Tại đó, nó nhập than và hàng hoá trước khi tiếp tục tiến về phía bắc để nhận lấy kết cục nghiệt ngã mà hạm đội của đô đốc Nhật Bản Heihachiro Togo dành cho trong trận hải chiến mang tên “Eo biển Tsushima”.

Vai trò của vịnh Cam Ranh trong lịch sử cũng không phải “một phút huy hoàng rồi chợt tắt”. Nhật Bản chiếm Cam Ranh trong cuộc tập kích vào “Vùng tài nguyên phương Nam” – tức Đông Nam Á – từ năm 1941 đến 1942, và vị trí chiến lược này trở thành một căn cứ lý tưởng để tấn công Malaysia và Singapore. Từ giữa thập niên 1960, hải quân và lục quân Hoa Kỳ đã phát triển hạ tầng cảng biển trong khu vực vịnh để giúp tiến hành cuộc chiến tranh Việt Nam. Liên Xô mở rộng cảng sau khi Việt Nam Cộng Hoà sụp đổ năm 1975; các kỹ sư Nga lại khôi phục nó trong mấy năm gần đây. Hạ tầng để đón tiếp tàu thuyền Mỹ và các nước khác hiện đã sẵn sàng. Những gì còn thiếu là một quyết định của Hà Nội cho phép hải quân Hoa Kỳ trở lại nơi từng một thời là căn cứ của nó.

Hy vọng cả Hà Nội và Washington đều nín nhịn để hoàn tất thoả thuận đem đến cơ hội tiếp cận đó. Hạm trưởng Alfred Thayer Mahan, người có lẽ là nhân vật ủng hộ quyền lực biển nổi bật nhất trong lịch sử, đã giải thích vì sao những địa điểm như vịnh Cam Ranh lại quan trọng đến thế. Theo Mahan, giá trị chiến lược của bất kỳ hải cảng nào cũng dựa trên ba đặc điểm: (i) vị trí địa lý; (ii) sức mạnh, tức là khả năng đề kháng tự nhiên hoặc khả năng bố phòng trước các cuộc tấn công; và (iii) nguồn lực, tức là khả năng của cảng trong việc thoả mãn nhu cầu của nó cũng như của các hạm đội ghé thăm.

Hãy áp tiêu chuẩn Mahan cho vịnh Cam Ranh. Nó dư sức thoả mãn cả ba đặc điểm nêu trên. Cam Ranh nằm cạnh các tuyến đường biển phía đông dẫn tới eo biển Malacca, cho phép các tàu thuyền trong vịnh gây ảnh hưởng đến hoạt động vận chuyển hàng hải qua tuyến đường biển tối quan trọng này. Nó gần Hoàng Sa hơn so với căn cứ hải quân gần nhất của Trung Quốc tại thành phố Tam Á trên đảo Hải Nam về phía bắc. Và ngoài ưu thế hơn Trung Quốc, Cam Ranh còn sẵn lối ra vùng biển nước sâu: đáy biển tụt thẳng xuống bên ngoài cảng – cho phép tàu ngầm chìm, rồi biến mất, chỉ một thoáng sau khi rời khỏi cảng. Không có gì phải ngạc nhiên khi hơn 8 năm qua, Hà Nội đã đầu tư một hạm đội tàu ngầm diesel – điện do Nga sản xuất để chống lại Trung Quốc.

Hải cảng này mạnh thế nào? Không một căn cứ quân sự nào, kể cả Cam Ranh, thoát khỏi các cuộc tấn công bằng tên lửa trong kỷ nguyên của vũ khí chính xác tầm xa hiện nay. Tuy nhiên, Cam Ranh lại tốt hơn nhiều mục tiêu tiềm tàng khác. Diện tích cùng hình dạng trải rộng của cảng cho phép các hạm đội đóng tại đây thoải mái phân tán đội hình khắp các cầu cảng và những chỗ neo đậu xung quanh khu vực ngoại vi. Điều này sẽ góp phần làm nản nỗ lực của các chuyên gia tên lửa Trung Quốc khi nhắm vào tàu thuyền Mỹ và Việt Nam. Và các biện pháp “cứng hoá” kiểu cũ – nhà cửa và cơ sở hạ tầng được xây dựng một cách chắc chắn trên cảng dưới sự bảo vệ của những tên lửa chống hạm và tên lửa đất đối không – sẽ đem đến cho cảng khả năng hoạt động dẻo dai. Bất kỳ thoả thuận Mỹ – Việt nào liên quan cũng cần bao hàm việc nâng cấp như thế.

Và cuối cùng, cảng Cam Ranh được thiên nhiên hào phóng ban tặng rất nhiều nguồn lực. Nó vừa toạ lạc kế bên các tuyến hàng hải huyết mạch, vừa nằm ở khu vực miền nam với bạt ngàn cây cối của Việt Nam, cách không xa thủ phủ quan trọng Sài Gòn. Nguồn thực phẩm cung cấp cho cảng và tàu thuyền rất sẵn. Nhiên liệu cũng không đặt ra vấn đề gì đáng kể: dự trữ dầu thô của Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc trong khu vực. Trong khi đó, nếu Hà Nội nhất trí với sự hiện diện lâu dài của hải quân Mỹ, các nguồn dự trữ và phụ tùng thay thế ở Cam Ranh sẽ không gặp phải khó khăn nào: Hải quân Hoa Kỳ đã bố trí tàu thuyền tại các hải cảng ngoại quốc như Yokosuka, Bahrain và Naples trong nhiều thập niên. Họ có thể lặp lại những dàn xếp tương tự ở vùng biển Việt Nam.

Một số điều cần dõi theo khi cuộc phiêu lưu tuyệt vời của Tổng thống Obama được tiết lộ: Thứ nhất, vấn đề hệ trọng là ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam có quyết định cho phép hải quân Mỹ quay lại hay không? Thứ hai, việc cho phép đó kèm theo những điều kiện nào? Hà Nội sẽ chỉ chấp nhận một sự “hiện diện luân phiên”, theo đó tàu thuyền trú tại Cam Ranh trong những quãng thời gian dài nhưng sau đó phải quay về nước? Hay họ sẵn sàng đồng ý với những điều khoản thoáng hơn, chẳng hạn như việc thiết lập một hải cảng lâu dài cho một đội tàu? Thứ ba, Hà Nội sẽ cho phép quy mô hiện diện như thế nào? Bao nhiêu tàu được phép cập cảng, và những loại tàu nào?

Đối với Washington, một hạm đội với các chiến hạm lớn như khu trục hạm hay tuần dương hạm– tàu được trang bị thiết bị cảm biến cùng vũ khí đủ loại – là một công cụ chính sách hoàn toàn khác so với một đội tàu bao gồm những tàu chiến trang bị nhẹ quanh quẩn ven bờ. Đồng thời nó cũng chuyển tải một thông điệp hoàn toàn khác tới Bắc Kinh về năng lực và quyết tâm của Hoa Kỳ và Việt Nam.

Và cuối cùng, Hà Nội sẽ cho phép tàu thuyền Hoa Kỳ được làm gì khi chúng đồn trú tại Cam Ranh? Chào đón một cựu thù quay lại lãnh thổ Việt Nam không phải là một động thái nhỏ nhặt, ngay cả khi điều đó xẩy ra sau cuộc chiến tranh Việt Nam bốn thập niên. Liệu hai lực lượng hải quân có tiến hành hoạt động tuần tra chung trên vùng biển tranh chấp hay không? Hay Hà Nội sẽ cho phép các tư lệnh Hoa Kỳ tự do thực hiện các yêu cầu của Washington?

Hãy thử hình dung, vì Trinculo núp dưới tấm áo choàng của Caliban xuất phát từ sự thuận tiện thiết thân, nên các nhà lãnh đạo Việt Nam sẽ thể hiện quan điểm chặt chẽ đối với các hoạt động hàng hải của Mỹ. Điều đó sẽ cho phép Hà Nội cởi bỏ tấm áo choàng bảo vệ khi (và nếu) cơn bão qua đi. Họ sẽ trao cho hải quân Hoa Kỳ quyền tiếp cận vịnh Cam Ranh trong khi vẫn bảo lưu quyền từ chối quyền tiếp cận đó vì bất kỳ lý do gì – hoặc không vì lý do nào cả. Và đối với hai cựu thù đang hợp tác với nhau vì lợi ích chung, điều đó là phù hợp.

______

Bổ sung ngày 5-6-2016: Một bản dịch khác của Trần Gia Hồng Ân

Tuần trăng mật của Washington ở Vịnh Cam Ranh

Thái độ hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông đã buộc Mỹ trở lại một quân cảng chiến lược và tạo lên sự gắn bó giữa hai cựu thù.

Trong vở kịch lừng danh “Bão Tố” của Williams Shakespeare có cảnh “đồng sàng dị mộng” của anh hề Trinculo và Caliban. Theo hầu Caliban ở một hòn đảo hoang vu, bất thình lình bão ập tới, tầu đắm, không nơi trú ẩn, quần áo rách rưới, Trincula núp dưới áo khoác rộng của Caliban để tránh gió mưa. Trú ẩn trong đó, Trinculo ngửi thấy toàn mùi tanh hôi, thốt lên “Không biết đây là người hay cá?”; “Không biết đây là người hay xác chết?”, nhưng thà phải hít mùi tanh hôi còn hơn chết cóng ngoài kia.

Đưa một áng văn, về chiếc áo khoác của Caliban, áp dụng vào sân khấu chính trị thế giới, nhân vật chính phải mau lẹ, dẹp bỏ những khác biệt khá tanh hôi nhỏ lẻ để cùng nhau chống lại kẻ thù chung. Dù ai cũng biết, khi bão tố qua đi, Trinculo sẽ thoát ngay ra khỏi chiếc áo tanh hôi. Điều này đã xảy ra trong Thế chiến II ở trường hợp Liên Xô.

Chính trị châu Á, nhất là Việt Nam đã trải qua nhiều pha “đồng sàng dị mộng” giữa Mỹ và Việt Nam. Trung Quốc quá hung hăng ở Biển Đông, đã buộc hai kẻ cựu thù ngồi lại với nhau đề cùng bảo vệ bầu trời và biển Việt Nam.

Ngày 23/5, nhân chuyến thăm Việt Nam, Tổng thống Obama đã gỡ bỏ lệnh cấm mua bán vũ khí sát thương và xiết chặt quan hệ kinh tế với Việt Nam trong khi thành tích nhân quyền của Việt Nam đã rơi xuống đáy. Những chi tiết cụ thể mà hai chính phủ đã bàn thảo không được công khai. Obama phủ nhận quyết định của ông nhằm vào Trung Quốc. Thế mà có người vẫn tin Obama đã hạ nhục Trung Quốc trong chuyến đi này.

Vậy, Hà Nội và Washington là hai nhân vật trong “Bão Tố”của Shakespeare không?  Khi cơn bão tố đã qua, ai sẽ chui ra?

Tin đồn rằng Hà Nội mở cửa Cam Ranh cho Mỹ là một món “lại quả” sau quyết định gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí của Obama. Nếu vậy, (xin đừng nổi nóng với tôi ở đây) lãnh đạo Việt Nam đã nhập vai Trinculo, núp trong áo khoác của Caliban, để tránh gió mưa trong khi vẫn để Trung Quốc ngủ chung giường.

Tùy thuộc vào những thỏa thuận, Việt Nam để cho Hải quân Mỹ được sử dụng Cam Ranh khi hoạt động ở phía tây Biển Đông, rộng khoảng 1.4 triệu dặm vuông. Trong khi Trung Quốc coi thường luật biển, luôn đưa ra luận điệu “lãnh thổ không thể phủ nhận” trải dài toàn bộ bầu trời và vùng biển Đông Nam Á, có những chỗ lấn sâu vào lãnh hải Việt Nam. Vây, Washington buộc phải phản ứng lại những thách đố này.

Mỹ đưa tàu chiến và máy bay vào vùng tranh chấp cùng với những đồng minh là để khẳng định cộng đồng quốc tế không cho Bắc Kinh cướp biển trời của những nước láng giềng. Không cho Bắc Kinh coi thường luật pháp quốc tế, mở rộng lãnh hải.

Những quốc gia quanh Biển Đông phải luôn nhớ điều này, liên tục duy trì sự tự do hàng hải. Có một thứ luật bất thành văn rằng: Mọi điều luật chỉ là giấy lôn. Những nước quanh Biển Đông sẽ mất tất cả theo thời gian, nếu chính phủ của họ lờ đi những phần lấn sân nhỏ giọt của Trung Quốc. Nếu Việt Nam bỏ qua mặt trận pháp lý, không đưa Trung Quốc ra tòa quốc tế, thì sớm muộn gì Việt Nam cũng mất sạch.  

Mọi hoạt động từ việc thăm dò, nghiên cứu lòng đại dương, chuyến bay, vùng đặc quyền, thềm lục địa v.v… phải được bảo đảm của Hiến chương Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Không dùng những phương tiện pháp lý này là một tổn thất lớn.

Để duy trì một lực lượng hải quân, hải giám rất cần hải cảng. Tàu thuyền không thể ở ngoài khơi lâu bởi nó cần bảo trì và hậu cần.

Cam Ranh là một cảng quan trọng do người Pháp xây dựng vào cuối thế kỷ 19, thời Đông Dương thuộc địa. Nó đã tham dự vào những sự kiện lịch sử quan trong của thế giới. Thí dụ, Đô đốc người Nga Zinovy Rozhestvensky đã đưa Chiến hạm Baltic gần như kiệt quệ vào Cam Ranh tu sửa, tiếp nhiên liệu, thực phẩm, rồi tiến thẳng về hướng bắc giao chiến với hạm đội Nhật dưới sự chỉ huy của Đô đốc Heihachiro Togo. Cuộc thư hùng trên biển này được biết tới với tên “Trận đánh trên Eo biển Tsushima” vào ngày 27/5 cách đây 111 năm.

Nếu không có vai trò của Cam Ranh mà Nhật đã chiếm vào 1941 thì Nhật không thể tiến xa đến các quốc gia duyên hải Đông Nam Á. Vị trí chiến lược của Cam Ranh đã trở thành địa điểm lý tưởng cho Nhật mở cuộc tấn công chiếm gọn Malaysia và Singapore.

Bắt đầu vào giữa thập kỷ 1960s, quân đội Mỹ xây dựng hạ tầng để tiếp vận cho cuộc chiến ở Việt Nam. Sau biến cố 1975, Liên Xô thiết kế mở rộng và nâng cấp. Gần đây, Việt Nam xây dựng theo thiết kế của Liên Xô, cung cấp dịch vụ cho tầu quốc tế.

Giờ đây, người ta chỉ mong đợi quyết định của Hà Nội cho Hải quân Mỹ trở lại nơi này. Hy vọng rằng cả Hà Nội và Washington cùng bịt mũi lại để đỡ ngửi mùi tanh hôi của nhau, để quyết định cho tàu Mỹ về lại bến cảng xưa.

Thuyền trưởng Alfred Thayer Mahan đã giải thích vai trò quan trọng của một của quân cảng như Cam Ranh. Theo ông: Một quân cảng chiến lược có ít nhất một trong ba đặc điểm: Vị trí địa lý. Khả năng phòng thủ tự nhiên và trả đũa nếu bị tấn công. Nguồn cung ứng hậu cần. Áp dụng những kiến thức của Mahan thì Cam Ranh có đủ cả ba đặc điểm trên.

Cam Ranh nằm trên giao điểm từ miền đông tới Eo biển Malacca. Nó có thể kiểm soát được toàn bộ con đường hàng hải huyết mạch này. Cam Ranh rất gần vùng biển tranh chấp, gần hơn quãng đường từ cảng Sanya, Hải Nam tới vùng tranh chấp.

Cam Ranh còn có khả năng đưa tàu ngầm lặn sâu vào đáy đại dương rất nhanh. Tàu ngầm sẽ biến mất ngay khi vừa rời bến, vì biển ở đây rất sâu. Tám năm qua Hà Nội đã đầu tư vào đội tàu ngầm động do Nga chế tạo để ứng phó với Trung Quốc.

Sức mạnh của một quân cảng là gì? Không có một căn cứ quân sự nào, kể cả Cam Ranh, thoát khỏi tầm ngắm của tên lửa. Nhưng Cam Ranh vẫn là một địa điểm tốt hơn bất cứ mọi quân cảng khác. Bởi, hình thể, kích thước, và cấu trúc địa lý tư nhiên của nó có thể đánh lừa được mọi đấu thủ. Điều này cũng giúp khả năng nghi binh, tránh được mọi hình thức tấn công, tăng cường khả năng phòng thủ.

Cuối cùng, Cam Ranh đươc bao quanh bởi nguồn thiên nhiên phong phú. Quân cảng Cam Ranh nằm không xa vịnh, không xa vùng giàu có của Nam Việt Nam, không quá xa Sài Gòn, thực phẩm và nhiên liệu dồi dào.

Nếu Hà Nội đồng ý để Hải quân Mỹ sử dụng quân cảng này lâu dài, thì việc tu sửa, thiết bị, nâng cấp, cung ứng cho Cam Ranh chỉ là chuyện nhỏ. Hải quân Mỹ đã từng đồn trú ở nhiều quốc gia trên thế giới hàng thập kỷ. Điều này cũng được áp dụng trên bờ biển Việt Nam.

Hãy để ý vào chuyến viếng thăm tuyệt vời của Obama. Câu hỏi đầu tiên mà ai cũng quan tâm: Lãnh đạo Việt Nam có để cho Mỹ sử dụng quân cảng Cam Ranh hay không? Câu hỏi thứ hai là: Nếu có, thì theo thể thức nào? Chỉ chấp nhận hình thức “thăm viếng chu kỳ”? Hay, Hà Nội uyển chuyển hơn cho đồn trú lâu dài. Câu hỏi thứ ba: Hà Nội cho phép được sử dụng trên diện tích bao nhiêu với loại cẩu cảng nào? Loại tàu nào được cập bến?

Cái gì đã làm cho Hà Nội phải cho Hải quân Mỹ đồn trú tại Cam Ranh? Đón chào một cựu thù trở lại lãnh thổ Việt Nam không phải là một việc nhỏ, dù rằng bốn thập kỷ đã trôi đi. Liệu hải quân của hai quốc gia có thể hợp tác tuần tra trong vùng tranh chấp? Liệu Hải quân Việt Nam có thể bảo vệ được vùng biển của Việt Nam không? Hay Hà Nội nên để Mỹ toàn quyền ứng phó với mọi hoàn cảnh?

Hãy tưởng tượng ra, Trinculo trú ẩn dưới vạt áo của Caliban chỉ vì lợi ích tạm thời. Nhưng lãnh đạo Việt Nam sẽ nhìn rõ cách mà Hải quân Mỹ cư xử. Biết đâu họ sẽ đổi ý, để cho Hải quân Mỹ sử dụng vịnh Cam Ranh mà không hề mất chủ quyền. Kẻ thù xưa giờ đây là bạn sẽ là sức mạnh.

(Dịch từ Washington’s Honeymoon in Cam Ranh Bay; by James Holmes; May 23, 2016; The FP magazine)

Lời người dịch: James Holmes, giảng dậy khoa Chiến lược Chiến tranh Hải quân Hoa Kỳ. Ông là đồng tác giả của những cuốn “Sao Đỏ trên Thái Bình dương”, “Sự trỗi của Trung Quốc và những thử thách chiến lược của Hải quân Mỹ”, cùng nhiều bài báo và nghiên cứu về Trung Quốc và Biển Đông. Tôi lược dịch vội bài này cho kịp tính thời sự, nhưng cố chuyển tải đủ những ý quan trọng của tác giả. Nếu có thiếu sót gì, nhất là những thuật ngữ quân sự hải quân, mong bạn đọc thông cảm.

2 phản hồi tới “8464. Tuần trăng mật của Washington ở Cam Ranh”

  1. […] 8464. Tuần trăng mật của Washington ở Cam Ranh […]

  2. […] https://anhbasam.wordpress.com/2016/05/26/8464-tuan-trang-mat-cua-washington-o-cam-ranh/ Posted by adminbasam on 26/05/2016 […]

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: