BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

7642. Những vấn đề biển Đông

Posted by adminbasam trên 28/03/2016

Nguyễn Duy Vinh

27-3-2016

Phần 1 : Nhân đọc bài của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích viết trước khi ông mất

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đột ngột qua đời lúc 12 giờ sáng ngày 3/3 (giờ miền đông Hoa Kỳ) khi đang trên chuyến bay tới thủ đô Philippines tham dự một hội nghị cổ súy cho chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông. Trước khi lên đường GS Nguyễn Ngọc Bích (NNB) có gửi bài viết bằng tiếng Anh của mình cho tờ Viet-Studies [1] mà tôi đã đọc và cố gắng ghi lại đây những điều tôi hiểu bằng tiếng Việt. Giáo Sư NNB dùng chữ “fallacies” mà tôi tạm dịch là “những ngụy biện” của Trung Quốc về biển Đông Nam Á. Giáo Sư nói về 5 ngụy biện của Trung Quốc và tôi xin tuần tự trình bày dưới đây.

Ngụy biện thứ nhất của Trung Quốc : Không có một bản đồ Trung Quốc (TQ) nào cho thấy chủ quyền của TQ trên các đảo ở biền Đông ngoài đảo Hải Nam, trừ những bản đồ TQ tạo dựng sau này trong thế kỷ 20.

Ngày nay, nhờ vào những sách vở và công trình nghiên cứu của các nhà sử học, các nhà khảo cổ học, các khoa học gia phiêu lưu thám hiểm về vùng Đông Nam Á, khắp nơi trên thế giới người ta đều biết là phần lớn những bản đồ cũ của TQ còn lưu lại từ đời nhà Thanh cho đến năm 1909 đều ghi rõ là biên thùy xa nhất của TQ về phía Nam dừng lại ở đảo Hải Nam. Trong khi đó những bản đồ cũ của Âu Châu còn lưu lại từ thế kỷ 16, 17 đều gọi “biển Nam Hải” là biển Champa. Chủ quyền của Việt Nam đã thay thế sự bành trướng của dân tộc Chàm vào cuối thế kỷ 15 và vào thế kỷ 17, các hải đội Việt Nam (VN) đã thường xuyên đưa thuyền ra đóng ở các đảo của biển được gọi là biển Đông. Các hải đội này thâu nhặt đem về nhiều thứ gồm có nào là hải sản hoặc các đồ vật tìm được trong những kiện hàng bỏ lại từ những tàu bị đắm. Trong Phủ Biên Tạp Lục do chí sĩ Lê Quý Đôn (1726-1784) biên soạn, ông đã mô tả chi tiết các vùng lãnh thổ của nhà Nguyễn ở Thuận Hóa và các tỉnh Quảng Nam như trích đoạn dưới đây :

 “Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn, có xã An Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng dài, ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Bên đảo có vô số yến sào, các thứ chim có hàng nghìn hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Bên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là trắng bông, giống đồi mồi mà nhỏ, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được. Có hải sâm, tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bên bãi, lấy về dùng vôi xát qua, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước, cua đồng cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt.

Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 08 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân [tức là Huế sau này] để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng ra các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về”…

“Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai các đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quí ít khi lấy được.”

Như vậy thật rõ ràng theo Phủ Biên Tạp Lục là từ thế kỷ 17, người Việt Nam đã có tổ chức hải thuyền thường xuyên (hàng năm) khai thác quần đảo Hoàng Sa (Hoàng Sa hay Bãi Cát Vàng cho người Việt, Xisha cho người TQ) và một phần của quần đảo Trường Sa, một văn bản lịch sử không có một tài liệu nào của TQ có thể so bì kịp. Rồi còn hàng trăm bản đồ lịch sử còn lưu lại ở Âu Châu trong những thế kỷ 17 đến 20 dẫn chứng rõ rệt là Hoàng Sa (và đôi khi Trường Sa) thuộc về triều đình Việt Nam, còn được gọi là Cochinchine (hay Đằng Trong theo tiếng Việt) và vào thế kỷ 19 thì được gọi là vương quốc An Nam (Empire d’Annam) – và đây, một lần nữa, là những chứng cứ mà không sách vở lịch sử TQ nào sánh kịp.

Thật thế, năm 1816 hoàng đế Gia Long của VN đã thân chinh ra thăm viếng Hoàng Sa để đánh dấu chủ quyền của VN và năm 1836, vua Minh Mạng, người kế vì vua Gia Long, đã ra lệnh cho lập địa đồ Hoàng Sa và được ghi chú là một quần đảo của vương quốc Đại Việt (theo Đại Nam Nhất Thống Toàn Độ, năm 1838, được hoàn thành bởi Quốc Sử Quan).

Trong quyển từ điển Nam Việt Dương Hợp Tự Vị của ông J.L. Taberd (một tu sĩ của Giáo Sứ Lyon, Pháp, 1794-1840) in năm 1838 tại Serampore (Ấn Độ), một bản đồ mang tên An Nam Đại Quốc Họa Đồ cũng ghi quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam (hình do tác giả bài viết này tìm được trên mạng, cắt gọn và dán kèm vào bài dưới đây).

H1

Ngụy biện thứ hai của Trung Quốc : TQ đã từng khước từ chủ quyền về quần đảo Hoàng Sa trong quá khứ

Bà Monique Chemillier-Gendreau, một nhà nghiên cứu về Á Châu và về những yêu sách chủ quyền các đảo Hoàng Sa và Trường Sa của TQ và của VN, vừa là chuyên gia pháp lý vừa là giáo sư đại học, đã viết như thế này về những lập luận của TQ : “Hiện nay, không có một chứng cớ hay dấu vết nào của TQ chứng tỏ TQ đã phản đối những tuyên bố của vua Gia Long và những vua triều Nguyễn kế vì vua Gia Long, từ suốt thế kỷ thứ 18 và nhất là trong suốt thế kỷ 19 khi các vua triều Nguyễn tổ chức việc quản trị cũng như việc khai thác các đảo nằm trong quyền tài phán của triều đình Việt Nam” (trong quyển “La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys”, Paris, l’Harmatan, 1996).

Hơn cả thế, tài liệu lịch sử TQ lại còn xác nhận chủ quyền VN trên các đảo này. Tờ Haiguo tuzhi (bản đồ và biên khảo về các nước thuộc vùng biển, năm 1730) đã viết “Vạn Lý Trường Sa là một bãi cát dài nổi lên giữa biển. Bề dài khoảng ngàn dặm và được dùng như một hàng rào vây chắn cho biên thùy vương quốc An Nam”.

Ngài Shi Dashan (Thích Đại Sán), một tu sĩ TQ được mời sang giảng dạy trong triều thời Chúa Nguyễn Phước Chu (1691-1725) vào cuối thế kỷ 17 cũng đã viết trong hồi ký của mình : “Những cồn cát nằm thoai thoải dọc bờ biển chạy dài từ Đông Bắc xuống Tây Nam với những hang động dựng đứng như những bức tường và những bãi biển nằm ngang cùng mặt nước, cát khô cứng rắn như sắt mà thuyền nào không may đập vào sẽ vỡ tan thành từng mảnh. Dãi cát đó rộng trải dài trên cả trăm dặm với bề dài thên thang mà vì vậy người ta gọi nó là Vạn Lý Trường Sa, và người ta không thể nhìn thấy cây cỏ hay sự hiện diện của cư dân với tầm mắt của mình ….. Vào đời chúa nhà Nguyễn cuối cùng (Nguyễn Phước Trần, 1687-1691), mỗi năm các thuyền đánh cá được phép đi dọc theo bãi cát dài để thu nhặt vàng, bạc và các thứ đồ vật khác từ những thuyền bị đắm vì đập vào những bãi này.” (Thích Đại Sán, Hải Ngoại Ký Sự, được dịch sang tiếng Việt bởi tác giả Cheng Ching-ho, Đại Học Huế, 1963).

Nhưng cái bằng chứng đanh thép nhất để chứng minh rằng TQ luôn khẳng định là Hoàng Sa là của Việt Nam là sự kiện của những chiếc tàu của những công ty Âu Tây bị đắm ở Hoàng Sa, chủ nhân của những công ty này đòi chính quyền Quảng Đông bồi thường và được trả lời là những đảo này không thuộc chủ quyền TQ mà là thuộc chủ quyền của triều Nguyễn ở Việt Nam.

Ngụy biện thứ ba : những yêu sách giả dối của TQ trong thế kỷ 20

Nhiều học giả TQ tuyên bố là thị trưởng Quảng Đông, ông Zhang Yen-jun, đã cho một tiểu đội hải quân ra đảo Hoàng Sa năm 1909 và ở đây 3 tuần để đòi chủ quyền đảo này cho TQ. Nhưng sự thực thì tiểu đội này đến Hải Nam và dừng lại đây 2 tuần, và cuối cùng họ ra Hoàng Sa ngày 06 tháng 06 và quay về lại Quảng Đông ngày hôm sau. Đây rõ ràng không phải là một khiếu nại đứng đắn của TQ.

Một cuộc thám hiểm khác của TQ nghe nói xảy ra năm 1902 để lại những mốc dấu (markers) mà TQ hô lên là “không thể tranh cãi” đã được tìm ra vài năm sau vào thập niên 1970 trên đảo. Một nhà nghiên cứu người Pháp của viện nghiên cứu IRASEC (Institut de Recherche sur l’Asie du Sud-Est Contemporaine, Bangkok, Thái Lan), ông François Xavier Bonnet, đã đưa ra bằng chứng gian dối của TQ trong bài nói chuyện của ông ở Manila trong hội nghị về biển Đông (tháng 03 năm 2014). Ông nói TQ đã chỉ huy một cuộc đổ bộ bí mật ra đảo Hoàng Sa dưới sự lãnh đạo của Huang Qiang vào tháng 06 năm 1937 để chôn dấu những mốc dấu (markers) có khắc năm 1902, 1912 và 1921 trên nhiều đảo của vùng quần đảo Hoàng Sa. Đây rõ ràng cho thấy cách TQ ngụy tạo những “bằng chứng” về chủ quyền trên đảo Hoàng Sa, vào thế kỷ 20 !

Ngụy biện thứ tư : chính là những tên đảo do TQ đặt

Người đã đưa ra những bằng chứng hùng hồn nhất về những sự dối trá của TQ về chủ quyền biển Đông là ông Bill Hayton trong quyển sách ông viết và xuất bản năm 2014 (“The South China Sea – The Struggle for Power in Asia” , Đại Học Yale, USA). Trong quyển sách này ông Hayton cho biết là trong những năm Pháp đô hộ VN, Pháp đã thu nạp 6 đảo trong quần đảo Trường Sa vào tháng 07 năm 1933, mặc dù bị phản đối từ phía TQ. Như tờ báo Shenbao thuật lại, vào lúc đó, ông lãnh sự TQ ở Manila, ông K.L.Kwang, không biết những đảo này nằm đâu trong khi TQ đưa ra yêu sách đòi chủ quyền những đảo này. Ông lãnh sự này đã đi gặp người đại diện Hoa-Kỳ ở Manila để hỏi về những đảo này thuộc quần đảo Trường Sa. Sau khi biết được là những đảo này không thuộc về Hoàng Sa, chính quyền Nam Kinh (tức là TQ) đã quyết định hủy bỏ những yêu cầu chính thức của mình.

Trong cuộc họp ở Manila năm 2014 về biển Đông, ông Bill Hayton có nói đến một chuyện khá ngộ nghĩnh về tên của những đảo bằng tiếng TQ của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vào năm 1935, như lời ông Hayton tuyên bố trước hội nghị 2014, chính phủ quốc gia của ông Tưởng Giới Thạch ở Nam Kinh đã ra lệnh cho một nhóm nghiên cứu hoàn thành một bảng tên cho tất cả các đảo trên biển Đông.  Cả thảy có 132 đảo, đá và bãi cạn trên biển Đông mà TQ nghĩ họ có thể đòi chủ quyền (vô tình hay cố ý, con số 132 đảo này lại khá gần với số 130 đảo mà chí sĩ Lê Quý Đôn đã viết đến vào năm 1777, cho thấy là cách đây 250 năm Việt Nam đã có sự khảo sát và hiểu biết tường tận về các đảo ở biển Đông). Cái mỉa mai nhất, theo ông Hayton, là cái nhóm nghiên cứu của TQ chưa bao giờ đặt chân tới biển Đông. Vấn đề họ đặt tên cho các đảo không cách nào không có sai xót. Và cho đa số các trường hợp, tên đặt bằng tiếng TQ hoàn toàn xa lạ với những tên đã có sẵn từ lâu vì những tên đặt đó toàn là những từ dịch từ những tên của các đảo bằng tiếng Anh hoặc những tiếng phiên âm. Tỉ dụ như North Danger thì họ dịch là Bei Xian (Bắc Hiểm theo tiếng Việt), Antelope Reef trở thành Linh Yang (Linh Dương) và Money Island thành Yin Dao (Kim Ngân đảo). Những việc làm lộ chân tướng sự giả mạo của TQ cho thấy tính cách nông cạn trong cái mà TQ gọi là chủ quyền lịch sử trên đảo Hoàng Sa, đó là chưa nói đến những đảo như Scarborough Reefs thuộc về Phi Luật Tân hay là đảo Trường Sa cách đảo Hải Nam đến tận 800 hải lý. Khi Hải Nam luôn được người TQ xem là biên thùy xa nhất của TQ về phương Nam.

Ngụy biện thứ năm : được phơi bày qua việc TQ dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa và một phần của Trường Sa, vụ cưỡng chiếm này đã bị Liên Hiệp Quốc lên án

TQ rất mưu mô tính toán trong việc tấn công Hoàng Sa vào tháng giêng năm 1974. Mặc dù lực lượng hải quân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) được gửi ra để chống trả cuộc tấn công của TQ không thích hợp với tình thế (hải quân Trung Cộng mạnh thế hơn rất nhiều), cuộc chiến đấu anh dũng của hải quân VNCH đã đánh đắm 2 tàu chiến TQ trong trận thủy chiến và một trong hai tàu bị đánh đắm này là tàu chỉ huy của TQ. Trận thủy chiến này đã đưa đến sự hy sinh của hạm trưởng Ngụy Văn Thà cùng 73 thủy thủ.  74 tử sĩ VNCH đã trở thành những anh hùng của nước VN, không những cho những người dân miền Nam mà còn cho cả những người trẻ và đa số dân của miền Bắc Cộng Sản.

Nhờ vào sự chiến đấu dũng cảm này, và mặc dù thua trận, 74 tử sĩ của trận thủy chiến Hoàng Sa, hơn bao giờ hết, đã bảo đảm và trưng bày với khắp thế giới về đòi hỏi chính đáng của VN về chủ quyền đảo Hoàng Sa, đảo bây giờ được coi như lãnh thổ bị chiếm đóng bởi TQ chứ không phải là một hòn đảo được lấy lại vì TQ luôn rêu rao coi nó là thuộc chủ quyền TQ.  

Tác giả bài viết này chú thích thêm : một ngày sau cuộc tấn công Hoàng Sa bởi TQ, ngoại trưởng ngoại giao VNCH Vương Văn Bắc đã viết một công điện cho ông Kurt Waldheim (tổng thư ký LHQ) phản đối mãnh liệt cuộc tấn công quân sự của TQ ở đảo Hoàng Sa và khẳng định một lần nữa chủ quyền của VN trên quần đảo Hoàng Sa [2].

Tài liệu tham khảo :

[1]  http://www.viet-studies.info/kinhte/NNBich_ChineseFallacies.pdf

[2] www.gio-o.com/ngobac.html

Nguyễn Duy Vinh (Yaoundé một chiều mưa)

 (còn tiếp Phần 2 trong bài tới)

4 phản hồi to “7642. Những vấn đề biển Đông”

  1. […] gồm 2 phần được tác giả gửi đăng trên trang Ba Sàm cách nay đã hơn 3 năm (phần 1 đăng ngày 27/3/2016, phần 2 đăng ngày 1/4/2016). Trong tình hình mới hiện nay, nhận […]

  2. […] Duy Vinh (Ba Sàm) 27-3-2016 – Phần 1 : Nhân đọc bài của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích viết […]

  3. […] Tiếp theo Phần 1: Nhân đọc bài của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích viết trước khi ông mất […]

  4. […] 7642. Những vấn đề biển Đông […]

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: