BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

7528. Văn bản của Ban Bí thư Trung ương đã xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của một tổ chức XHDS

Posted by adminbasam trên 19/03/2016

Văn bản của Ban Bí thư Trung ương không có căn cứ pháp lý đã xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của một tổ chức xã hội dân sự do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Danh Dự Hội Trưởng!

Ls Nguyễn Lệnh

19-3-2016

Xin trích dẫn các quy định tại Điều 3, Điều 5 và Điều 6 trong Luật tố tụng hành chính 2015 (TTHC) làm căn cứ pháp lý để xem xét tính hợp pháp của văn bản do Ban Bí thư Trung ương Đảng CSVN làm ra ngày 20/4/2004 đã chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của một tổ chức xã hội dân sự là Hội Hướng Đạo Việt Nam:

Điều 3: Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1- Quyết định hành chính văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.

2- Quyết định hành chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

10- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

11- Cơ quan, tổ chức bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.

Điều 5: Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của Luật này.

Điều 6: Xem xét, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chínhhành vi hành chính có liên quan trong vụ án hành chính

1- Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Tòa án có quyền xem xét về tính hợp pháp của văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện và kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại văn bản hành chính, hành vi hành chính đó và trả lời kết quả cho Tòa án theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2- Tòa án có quyền kiến nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật nếu phát hiện văn bản đó có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời Tòa án kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật bị kiến nghị theo quy định của pháp luật làm cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án.

     Căn cứ vào các quy định trên đây của Luật TTHC 2015 thì văn bản của Ban Bí thư Trung ương Đảng CSVN dưới tên gọi là “Thông báo ý kiến của Ban Bí thư về hoạt động hướng đạo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh” ghi số 143-TB/TW ngày 20/4/2004 do ông Phan Diễn ký là một “văn bản hành chính có liên quan đến quyết định hành chính” với nội dung là “Không đặt vấn đề tái lập tổ chức hướng đạo”. Quyết định hành chính này đã làm chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức xã hội dân sự là Hội Hướng Đạo Việt Nam được thành lập ngày 7/2/1946 và được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận làm Danh Dự Hôi Trưởng ngày 31/5/1946.

     Về tính hợp pháp hay còn gọi là căn cứ pháp lý của Thông báo số 143-TB/TW ngày 20/4/2004 chỉ có lời khẳng định đơn sơ rằng “Từ sau kháng chiến chống Pháp, ở miền Bắc tổ chức Hướng Đạo đã ngừng hoạt động và gia nhập Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam” mà không đưa ra được căn cứ và chứng cứ pháp lý gì để chứng minh sự “ngừng hoạt động” của tổ chức xã hội này. Chúng ta đều biết rằng, trong Luật La Mã đã hình thành nguyên tắc: “Trách nhiệm chứng minh thuộc về người khẳng định, chứ không thuộc về người phủ định” (Ei incumbit probatio qui dicit, non qui negat / The burden of the proof lies upon him who affirms, not he who denies). Một khi khẳng định điều gì mà không thể chứng minh được thì bị coi là vu oan, bịa đặt.

     Chứng minh tính bất hợp pháp lời khẳng định trong Thông báo số 143 – TB/TW ngày 20/4/2004: “Từ sau kháng chiến chống Pháp, ở miền Bắc tổ chức hướng đạo đã ngừng hoạt động và gia nhập Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam”:

     Đây là lần đầu tiên, kể từ khi thành lập Hội HĐVN 1946 đến năm 2004, mới có một “văn bản hành chính” nói rằng “Hội HĐVN đã ngừng hoạt động từ sau kháng chiến chống Pháp”. Nếu dùng thuật ngữ pháp lý mà Bộ luật dân sự dành cho cá nhân khi chết là “khai tử” thì trong trường hợp một pháp nhân như Hội HĐVN, theo quy định của Nghị định số 258 -TTg ngày 14/6/1957 Quy định chi tiết thi hành Luật số 102-SL/L004 ngày 20-05-1957 về quyền lập hội, thì cụm từ “đã ngừng hoạt động” được Nghị định số 258 – TTg quy định bằng thuật ngữ pháp lý là “giải tán” tại Chương 3.

     Các căn cứ pháp lý chứng minh Hội HĐVN 1946 chưa bao giờ giải tán:

     Có 2 căn cứ pháp lý liên quan đến sự giải tán của Hội HĐVN 1946 là:

     Nghị định số 258-TTg ngày 14/6/1957 Quy định chi tiết thi hành Luật số 102-SL/L004 ngày 20-05-1957 về quyền lập hội. Tại Chương 3 của Nghị định này, quy định về “Thể thức giải tán hội” như sau:

Chương 3: THỂ THỨC GIẢI TÁN HỘI

Điều 19. – Ngoài những trường hợp cần đưa ra tòa án xét xử cơ quan có thẩm quyền cho phép nói ở điều 10 trên đây có quyền giải tán hội đã phạm pháp.

Quyết định giải tán của cơ quan ấy hoặc của tòa án sẽ định cách thanh toán tài sản.

Điều 20. – Khi hội tự giải tán theo điều lệ thì việc thanh toán tài sản phải theo đúng điều lệ và phải được cơ quan có thẩm quyền nói ở điều 10 trên đây duyệt trước khi tiến hành.

Điều 21. – Khi hội đã bị giải tán hoặc tự giải tán thì:

1/ Trong hạn 10 ngày kể từ ngày hội quyết định tự giải tán hoặc từ ngày nhận được quyết định của chính quyền giải tán hội, Ban chấp hành phải đăng bản công bố quyết định giải tán hội trên một tờ báo hàng ngày, hoặc nếu ở địa phương không có báo hàng ngày, thì phải yết thị bản công bố ấy tãi Ủy ban Hành chính các nơi có trụ sở hội và chi nhánh.

2/ Trong hạn 10 ngày kể từ ngày đã thanh toán xong tài sản của hội, Ban chấp hành phải nộp tất cả giấy tờ sổ sách của hội cho cơ quan có thẩm quyền nói ở điều 10 trên đây.

Điều 22. – Trong trường hợp bị giải tán mà hội xin xét lại hoặc khiếu nại lên cấp trên thì trong khi chờ đợi giải quyết, hội phải đình chỉ hoạt động.

Điều lệ (Quy trình) Hội HĐVN ngày 7/2/1946 quy định về việc “tự giải tán theo điều lệ” như sau:

Điều thứ 1: … Hội Hướng Đạo Việt Nam không giới hạn trong thời gian.

Điều thứ 20: Một sự thay đổi gì trong quy trình (điều lệ) này hoặc có sự giải tán của hội phải do một cuộc đầu phiếu của Đại hội đồng và phải được đa số 2/3 của số cử tri có mặt.

   Sự đề nghị thay đổi quy trình và giải tán Hội Hướng Đạo Việt Nam phảo do Hội đồng Trung ương hoặc do sự yêu cầu của ít nữa là ¼ tổng số hội viên của hội.

     Như vậy, căn cứ theo quy định của Nghị định 258-TTg, thì để chứng minh rằng Hội HĐVN đã giải tán, cần phải có:

     – Quyết định giải tán của cơ quan có thẩm quyền hoặc của tòa án; hoặc

     – Hội tự giải tán theo điều lệ.

     Còn căn cứ theo Điều lệ của Hội HĐVN ngày 7/2/1946 cũng chứng minh rằng không hề xảy ra trường hợp hội tự giải tán.

     Cả 2 căn cứ pháp lý quy định về sự giải tán này đều chứng minh một cách hết sức rõ ràng rằng Hội HĐVN 1946 chưa bao giờ “ngừng hoạt động” như lời vu oan của Ban Bí thư trong Thông báo số 143. Bởi vì Hội HĐVN không hề có quyết định giải tán của cơ quan thẩm quyền hoặc của tòa án từ năm 1946 đến năm 2004; và hội cũng không hề tự giải tán theo điều lệ của hội.

     Các chứng cứ pháp lý chứng minh Hội HĐVN vẫn hoạt động hợp pháp sau khi gia nhập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam năm 1957:

     Chính Thông báo số 143 của Ban Bí thư đã xác nhận sự kiện Hội HĐVN gia nhập Hội Liên hiệp Thanh niên VN. Nhưng có lẽ Ban Bí thư đã không biết hoặc giả vờ không biết rằng chính hành vi pháp lý gọi là “gia nhập Hội LHTN VN” vào năm 1957 của Hội HĐVN lại là chứng cứ pháp lý chứng minh rằng Hội HĐVN vẫn tồn tại hợp pháp sau khi gia nhập chớ không phải “đã ngừng hoạt động”.

     Ngoài ra, những chứng cứ pháp lý khác như các Thẻ đại biểu, Văn bản ngày 5/2/1965 của Hội HĐVN và “Điều lệ Hội Liên hiệp Thanh niên” đều chứng minh rằng Hội HĐVN vẫn công khai hoạt động và tồn tại tư cách pháp nhân của mình sau khi gia nhập Hội Liên hiệp Thanh niên năm 1957:

     – Các “Thẻ đại biểu” của Hội HĐVN tham dự 2 kỳ “Đại hội thành lập” (1957) và “Đại hội toàn quốc – Lần thứ 2” (1961) của Hội Liên hiệp Thanh niên VN: (1)

     Cả 2 “Thẻ đại biểu” này của huynh trưởng Phạm Ngọc Try thuộc “Đoàn đại biểu Hội HĐVN” tham dự 2 kỳ đại hội liên tiếp của Hội Liên hiệp Thanh niên VN năm 1957 và 1961 đã chứng minh rằng tư cách pháp nhân của Hội HĐVN vẫn không có gì thay đổi sau khi “gia nhập” Hội Liên hiệp Thanh niên VN trong lần “Đại hội thành lập” năm 1957. Ngay trên “Thẻ đại biểu” của “Đại hội toàn quốc-Lần thứ 2” năm 1961 còn ghi là “Đoàn đại biểu Hội Hướng Đạo VN”. Chính việc này đã nói lên tư cách pháp nhân đầy đủ và liên tục của Hội HĐVN từ khi thành lập ngày 7/2/1946 cho đến năm 1961 – là 15 năm, và đã 2 lần tham dự đại hội của Hội Liên hiệp Thanh niên VN với tư cách là “Đoàn đại biểu Hội HĐVN”, phù hợp với các quy định trong bản “Điều lệ Hội Liên hiệp Thanh niên”.

     Văn bản ngày 5/2/1965 của Hội nghị Huynh trưởng Hướng đạo sinh miền Bắc tổ chức tại “Hội quán” ở Hàng trống Hà Nội, gởi HĐS Trung, Nam bộ: (2)

     Đây là một chứng cứ vô cùng quan trọng chứng minh sự hoạt động công khai, hợp pháp của Hội HĐVN vào năm 1965. Văn bản này được Hội nghị Huynh trưởng Hướng đạo sinh miền Bắc tổ chức tại Hội quán ở Hàng Trống – Hà Nội, thông qua và đóng dấu chính thức của Hội HĐVN, được đọc trên đài phát thanh ở Hà Nội truyền đến cả nước. Trong văn bản này có đoạn mở đầu ghi rằng: “Nhân dịp đầu xuân, trong không khí tưng bừng bước sang năm mới, chúng tôi họp Hội nghị Huynh trưởng dưới mái nhà “Hội quán” quen thuộc của chúng ta tại Hàng trống. Thay mặt các anh trong Bộ Tổng ủy viên, các em Tráng, Thiếu, Ấu sinh gửi lời hỏi thăm và chúc tất cả các anh, chị, em Hướng đạo sinh Trung, Nam bộ: Năm mới thắng lợi mới, chiến thắng mới”.

    Văn bản ngày 5/2/1965 có đóng dấu của Hội HĐVN nhân sự kiện Hội nghị Huynh trưởng Hướng đạo tổ chức công khai tại Hội quán ở Hàng trống là chứng cứ pháp lý vững chắc chứng minh là Hội HĐVN chưa bao giờ “đã ngừng hoạt động” như Thông báo số 143 của Ban Bí thư nói.

     – “Điều lệ Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam” quy định về việc “gia nhập là thành viên tập thể của Hội”: (thông qua tại Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội LHTN VN lần thứ V ngày 25/02/2005)

     Xin trích dẫn Điều 9 của bản Điều lệ này như sau:

Điều 9: Thành viên tập thể của Hội:

1- Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên Việt Nam, Hội các nhà Doanh nghiệp trẻ Việt Nam là thành viên tập thể của Hội; các tổ chức thanh niên theo ngành nghề, sở thích; các đội hình thanh niên xung phong; tập thể thanh niên Việt Nam đang học tập, lao động công tác ở nước ngoài tuân thủ theo luật pháp nước sở tại, được nước sở tại cho phép thành lập tổ chức, tán thành Điều lệ Hội, có đơn xin gia nhập là thành viên tập thể của Hội, thì được Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Hội xét công nhận là thành viên tập thể của Hội.

2- Quan hệ giữa các thành viên tập thể của Hội là quan hệ hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động vì mục tiêu chung. Đoàn TNCS là thành viên tập thể có vai trò nòng cốt chính trị trong tổ chức và hoạt động của Hội.

     Điều 9 của bản Điều lệ Hội LHTN này vừa là căn cứ pháp lý vừa là chứng cứ pháp lý chứng minh rằng Hội HĐVN đương nhiên tồn tại hợp pháp sau khi gia nhập làm thành viên tập thể của Hội LHTN VN vào năm 1957. Danh xưng “Hội Liên hiệp” đã phản ánh bản chất “có nhiều hội cùng liên hiệp trong một Hội”. Khoản 1, Điều 9 này đã kể ra những loại hình “hội” có thể “gia nhập” Hội Liên hiệp Thanh niên VN là: đoàn, hội, tổ chức, đội hình, tập thể. Những “hội” là thành viên tập thể này sau khi “gia nhập” Hội Liên hiệp Thanh niên VN vẫn giữ nguyên tư cách pháp lý cũ của mình chớ không bị “hòa tan” hay “biến mất” trong “Hội Liên hiệp”. Quy định có tính chất quan trọng nhất của Điều 9 là ở Khoản 2 vì tất cả các thành viên tập thể khác (trong đó có Hội HĐVN) đều được đặt dưới sự lãnh đạo của Đoàn TNCS: “Đoàn TNCS là thành viên tập thể có vai trò nòng cốt chính trị trong tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp”. Vậy câu hỏi đặt ra cho Ban Bí thư là: “Đảng CSVN là lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội…” như đã được quy định trong Hiến pháp (1980). Hội HĐVN đã gia nhập Hội Liên hiệp Thanh niên VN năm 1957 nay ở đâu ? Còn sống hay đã “chết” ? Nếu đã “chết” thì có căn cứ, chứng cứ pháp lý gì ? Nếu Hội HĐVN bị “chết oan” vì không có chứng cứ gì thì trách nhiệm về cái “chết oan” đó chắc chắn thuộc về “lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội”.

     Phải chăng đã có một sự hiểu sai – hay giả vờ hiểu sai trong Thông báo số 143 rằng: Khi Hội HĐVN “gia nhập” Hội Liên hiệp Thanh niên VN năm 1957 cũng có nghĩa là Hội HĐVN đã “sáp nhập pháp nhân” như được quy định trong pháp luật dân sự và dẫn đến hệ quả là “sau khi sáp nhập, pháp nhân được sáp nhập chấm dứt…”. Xin trích dẫn Điều 105 Bộ luật dân sự năm 1995 (và Điều 95 BLDS năm 2005 cũng quy định giống như nhau):

     Điều 105:  Sáp nhập pháp nhân (BLDS 1995)

1- Một pháp nhân có thể được sáp nhập (gọi là pháp nhân được sáp nhập) vào một pháp nhân khác cùng loại (gọi là pháp nhân sáp nhập) theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo thỏa thuận của các pháp nhân đó.

2- Sau khi sáp nhập, pháp nhân được sáp nhập chấm dứt; quyền, nghĩa vụ dân sự của pháp nhân đó được chuyển giao cho pháp nhân sáp nhập.

Nếu đã có sự hiểu sai – hay giả vờ hiểu sai, trong Thông báo số 143, về khái niệm cơ bản trong pháp luật dân sự rằng “gia nhập” tức là đồng nghĩa với “sáp nhập” thì Ban Bí thư vẫn phải chịu trách nhiệm do sự hiểu sai này.

NGUYỄN LỆNH (3/2016) (Cựu HĐS Hội HĐVN)

______

(1) Thẻ đại biểu của huynh trưởng Phạm Ngọc Try thuộc Hội HĐVN tham dự Đại hội thành lập Hội LHTNVN năm 1957 và Đại hội toàn quốc (Lần thứ 2) Hội LHTNVN năm 1961:

h1Nguồn ảnh: LS Nguyễn Lệnh

h1Nguồn ảnh: LS Nguyễn Lệnh

(2) Văn bản ngày 5/2/1965 của Hội nghị Huynh trưởng Hướng đạo sinh miền Bắc tại “Hội quán” ở Hàng trống, Hà Nội gởi HĐS Trung, Nam bộ:

h1Nguồn ảnh: LS Nguyễn Lệnh

6 phản hồi to “7528. Văn bản của Ban Bí thư Trung ương đã xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của một tổ chức XHDS”

  1. […] […]

  2. […] […]

  3. […] https://anhbasam.wordpress.com/2016/03/19/7528-van-ban-cua-ban-bi-thu-trung-uong-da-xam-pham-quyen-l… […]

  4. […] […]

  5. […] […]

  6. […] […]

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: