BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

7333. Lại lẩn thẩn ngẫm nghĩ để lai rai kể chuyện

Posted by adminbasam trên 02/03/2016

Ngụy Hữu Tâm

2-3-2016

Ngày xuân lại lai rai kể chuyện về nghề hướng dẫn viên du lịch mạo hiểm hay một ngạch kế cận vì nó cũng gắn với nhiều rủi ro, mà tôi tạm gọi là ‚du lịch…mai mối‘.

Làm báo, cũng là bước đầu để viết văn, như các nhà văn lớn như Hemingway… vẫn làm. Mà một bài báo, so sánh với truyện dài, cũng hệt như một truyện ngắn với tiểu thuyết, đó là vấn đề dung lượng mà thôi, như ký họa với một bức sơn dầu trong hội họa hay một ca khúc với một bản giao hưởng trong âm nhạc, hay một bài báo báo cáo kết quả nghiên cứu với một cuốn sách chuyên khảo trong nghề nghiên cứu khoa học của chúng tôi.

Như đã nói ở bài báo trước, từ lâu tôi vẫn ao ước được có thời gian tĩnh tại khá dài để ngồi viết hồi ký, nhưng nay thấy điều đó là không thể, nên qua những bài viết ngắn gọn này, tôi hy vọng có thể để lại một chút gì đó tạm gọi là “của hồi môn” cho con cháu, vì qua cả cuộc đời làm việc hết mình, chẳng thể để lại của cải vật chất gì cho chúng. Dẫu sao, tôi vẫn mong những hồi ức này lại có giá trị ít nhiều, không chỉ cho con cháu tôi, mà cả với nhiều bạn đọc, với bạn đọc phía thua cuộc, để xem phía bên kia khác mình, còn phía “ta”, bên thắng cuộc, cùng lứa tuổi với tôi, là những trải nghiệm tương tự mà nay lâu không nhắc lại, dần bị lãng quên. Và đối với bạn đọc trẻ người Việt nay đã trải ra khắp thế giới, nó hơi kỳ lạ và như thế càng có giá trị “hiếu kỳ”. Và cũng bởi lẽ những đoạn hồi ức nhỏ này là những trải nghiệm của chính bản thân tôi, mà như thi hào Đức lừng danh Johann von Goethe từng nói: “Tất cả mọi lý thuyết đều xám ngoét, chỉ có cây đời mới xanh tươi”. Và nói chuyện hướng dẫn viên du lịch, cũng khá lý thú, nhất ngạch, du lịch mạo hiểm.

Còn nói về nghề nghiệp, tôi đâu chỉ có hành nghề nghiên cứu viên, mà trong cuộc đời ngắn và… nay thế là cũng khá dài của mình, đã qua 60 con giáp, mà trước đây ở chốn làng quê nước Việt chúng ta, chỉ qua 30, 40 con giáp đã lên hàng ông, bà đã được ngồi chiếu trên chứ cần gì phải tới hàng cụ (theo kinh tế gia Roser trên tờ ‚Spiegel‘ số 1-2016, do tiến bộ của toàn cầu – mà ông lạc quan về nó vì nhờ nó mà y tế và giáo dục càng ngày càng tốt và bạo lực càng ngày càng giảm – ở thế kỷ qua mà tuổi thọ người Đức đã tăng từ 38 năm 1875, lên nay là 81, Việt Nam ta dẫu có rất là nước chậm phát triển nói chung và kinh tế nói riêng, do tham nhũng vì không chịu thay đổi thể chế chính trị và 4 cuộc chiến, chắc chắn có thấp hơn nhiều, nhưng chẳng vì thế mà tôi chịu mất hy vọng!) mà nay với tiến bộ đến chóng mặt của khoa học-kỹ thuật, biết đâu tôi cũng được hưởng hạnh phúc đó; tôi không chỉ có nghề cán bộ nghiên cứu, mà nay đang không chỉ viết báo và sách, còn làm hướng dẫn viên du lịchmà chúng tôi thường hay nói đùa là, đóng cửa xe hơi và xách vali cho Tây’ và ngạch, du lịch mạo hiểm’chỉ là nhánh nhỏ, và còn cả ngạch… mai mối nữa kia.

Để nói về ngành du lịch nói chung, đó là ngành hết sức mới ở nước ta, các bạn trẻ đừng ngạc nhiên khi thấy ở ngành này, chúng ta thua kém nước ngoài nhiều đến thế, chỉ ngay so với nước bạn Thái Lan. Nhưng nếu xét kỹ lại, chúng ta đã kinh qua 4 cuộc chiến tranh như thế thì cũng chẳng lạ. Tôi nhớ lần đầu được đi nghỉ cùng cha mẹ và các anh chị cán bộ giảng dạy Đại học Tổng hợp Hà Nội (mà năm nay kỷ niệm 60 năm thành lập) là hè 1956, ra Hòn Gai. Khi ấy để ra đó, chúng tôi phải mất trọn cả một ngày, vì phải qua ba con sông không có cầu, toàn phải qua phà, mà sông có hẹp đâu vì toàn cửa sông sát biển, dài cỡ một cây số hay hơn cả, và tôi nhớ cho đến tận cách nay lâu la gì đâu, chỉ 10-15 năm thôi khi con đường quốc lộ 18 đầy tai tiếng chưa được mở rộng, tôi đưa khách ra Hạ Long cũng vẫn mất tròn 8 tiếng. Và khi ấy ở bên phía Hòn Gai vẫn còn là một thị trấn nhỏ, với lèo tèo vài trăm ngôi nhà gạch đổ nát, còn bên Bãi Cháy chỉ có vài ngôi nhà của hải quân và quan cai trị người Pháp.

Sau này cũng vậy, cho đến đầu những năm 90, trong những năm chiến tranh, chúng ta chỉ xây được một vài cái nhà 3, 4 tầng và mươi cái nhà an dưỡng và nhà nghỉ công đòan mà thôi. Khi tôi đưa khách ra Hạ Long 1997, cũng chỉ duy nhất mới có khách sạn lớn 4 sao là Khách sạn Hạ Long Plaza. Còn về làm hướng dẫn viên du lịch, có lẽ phải kể là tôi bắt đầu làm nghề này, dù tự phát và khá là nghiệp dư, nhưng vẫn phải kể. Đó là vào năm 1978 khi lần đầu tiên, ở tư cách phó trưởng phòng-mà đó cũng là cấp bậc cao nhất tôi được làm, cho đến 1988, tôi được đón khách nước ngoài, đó là TS. Pierre Flamant ở đại học École Polytéchnique, Paris. Tôi đã đưa ông đi thăm, ngoài Hạ Long và Chùa Hương, còn vài chùa chiền và địa điểm nữa trong và quanh Hà Nội. Khi ấy ngay trong nội thành, tôi đã nhiều lần bị Công An chặn lại hỏi giấy tờ, vì “không được phép tiếp xúc với người nước ngoài”.

Thế nên có lẽ chúng ta cũng không nên ngạc nhiên khi trên báo chí và phương tiện truyền thông, thậm chí cho đến tận ngày hôm nay chúng ta vẫn thường xuyên được nghe những từ như “luận điệu của lực lượng thù địch”, hay “diễn biến hòa bình”… Và buồn cười nhất nhưng cũng không đáng ngạc nhiên khi Pierre giải thích cho tôi rằng, chúng tôi không được phép đến những nơi có biển vuông đỏ có chữ C bên trong. Ở nhiều phố Hà Nội có treo biển này, nhưng với phần lớn người Hà Nội chúng ta khi đó mấy ai để ý. Theo Sứ Quán Pháp phổ biến cho ông thì đó là những dẫy phố bẩn, nhếch nhác ở Hà Nội mà giới chức không muốn người nước ngoài chứng kiến! Với kinh nghiệm đã thu được này, tôi còn nhiều lần dẫn khách Đức đi thăm cả Bắc và Nam Việt Nam nữa.

Có lẽ kỷ niệm đáng nhớ nhất là lần tôi đưa thầy cũ của tôi ở Berlin, TS. Roland König của Viện Hàn lâm Khoa học CHDC Đức, năm 1986 đi thăm Hạ Long, chúng tôi thuê thuyền đánh cá bằng nan của ngư dân đi thăm vị và nghỉ đêm ở tòa villa đẹp nhất ở vị trí hay nhất Bãi Cháy nơi khi trước vốn là nhà nghỉ của toàn quyền Đông Dương rồi sau Cách mạng là nhà nghỉ của Trung ương và có lẽ những lãnh đạo cao nhất đã từng nghỉ nhưng khi đó chúng được qua đêm, vì Đảng đã chuyển cho ngành du lịch! Gần đây ngôi nhà đó biến mất để dành vị trí đắc địa đó cho Khách sạn Novotel.        

Đấy là những kỷ niệm làm hướng dẫn viên du lịch nghiệp dư, “tay trái” của tôi. Còn chính thức như sau: 1995 từ Paris về nước, làm nghiên cứu khoa học mà bỏ vài tháng cũng đủ chết rồi mà nay tôi bỏ dở cả 7 năm, coi như phải bắt đầu lại từ đầu. Tôi không đủ can đảm đó. May quá có cô bạn thời phổ thông, Trần Thị Đ. khi ấy, sau một thời gian tự xoay sở với một công ty du lịch nhưng không thành công, nay đang làm hướng dẫn viên ở một công ty du lịch có uy tín mới khuyên tôi: “Cậu làm cán bộ nghiên cứu khoa học làm gì cho khổ, chồng tớ cũng đã khổ sở với nghề đó rồi, chuyển sang làm hướng dẫn viên du lịch như tớ đi. Chạy theo cái danh hão làm chi?”. Tôi như kẻ chết đuối với phải cọc. Chẳng giấu gì bạn đọc, trước khi ra nước ngoài, tôi cũng đã từng thử với nghề kinh doanh rồi chứ ít đâu, đã từng mở công ty cả 2 năm, nhưng với cái kiểu thật thà như đếm của tôi, làm chủ doanh nghiệp lỗ chỏng gọng ngay ấy mà! Nên tôi sớm nhận thức ra, nhanh chóng bán con dấu được… hai vé! Lỗ quá nhẹ!

Thế là ngót nghét tôi cũng đã làm cái nghề này cả hai chục năm nay rồi chứ ít đâu…

Vì như trên đã nói, dẫu sao tôi cũng đã hành nghề trước đó nhiều năm rồi nên nghề hướng dẫn viên du lịch, dù nghiệp dư, cũng không quá khó đối với tôi. Nói chuyện mai mối. Một ngày kia, Đ. gọi điện bảo tôi: “Tớ có thằng khách, vốn đi đoàn đông với tớ lần trước, nhưng bị ngã, bong gân, bỏ cuộc, nay lại sang đi tiếp với bạn nó. Cậu giúp tớ nhé!” Tôi đồng ý liền, dẫu sao cũng là bạn cũ, lại anh nhân giúp mình vào cái nghề dẫu sao cũng khá là béo bở này, hơn xa‚ cán bộ nghiên cứu. Số là Đ. mới đi bước nữa, bỏ chồng mới đi với hai ông Tây to đùng biền biệt hàng tuần sao được! Thế là tôi thay nàng, mấy thằng đựa rựa với nhau dễ xoáy xở hơn, nhất là chúng cũng cỡ tuổi tôi. Mọi chuyện OK chẳng có gì đáng nói. Nếu cần kể kỷ niệm hay thì là: một tối week-end kia, ba thằng đực rựa chúng tôi chẳng biết làm gì ngoài thành phố Hạ Long đang còn trống vắng mới rủ nhau vào quán karaoke cho biết. Ngồi nhâm nhi tý chút mà chẳng lâu sau đã có mấy cô cháu váy ngắn cũn cỡn nhảy tót lên đùi chúng tôi. Hai ông bạn chán quá bảo: “Nếu cần chuyện này, chúng tao đã ở lại Bangkok khỏi sang Việt Nam cho tốn tiền, mà không khéo lại có Công An vào ngay cho ngồi bóc lịch ít ngày cho biết Việt Nam là thế nào!” Nay đã khác nhiều rồi, nhưng tôi nghĩ, chúng ta làm du lịch “không giống ai” cũng khá khó đấy!

Nhưng mọi chuyện cũng OK. Hai ông khách hài lòng về nước. Ít lâu sau, tôi được tin của một ông, Guido A. từ thành phố Zug, chỉ cách Zurich 30 km và cũng ở bên Hồ Zurcher See thơ mộng, thư bưu điện đàng hoàng. Đại để như sau: “…Tâm mến, tao sinh 1943, có bằng đại học, là cán bộ ở Tòa thị chính thành phố. Vì trong chuyến đi luôn có cậu bạn, và cũng không tiện nói thửng với mày sợ mày cho tao“xạo“ nên phải viết lá thư này. Tao vốn con một, mẹ tao khi ra đi có để lại tao món của hồi môn triệu Đô. Tao gửi kèm đây cả ảnh ngôi nhà tao ở ven hồ. Tao cũng đã từng kết hôn với một cô người Thái (*). Cô này lại là người đi bước nữa, chồng cô ta từng là phi công tham chiến ở Việt Nam. Hắn có tật đánh vợ nên cô ta cũng mắc luôn tật này, nên chúng tao sớm chia tay. Vì mê gái Á đông, tao rồi lại phải lòng một cô tiếp viên người Việt, thế nhưng chuyện không thành. Thế cho nên bây giờ tao đề nghị với mày thế này: hãy giới thiệu cho tao một cô gái Việt, nhưng dĩ nhiên phải đẹp hệt như tiếp viên hàng không. Dĩ nhiên chuyện này là hết sức nghiêm chỉnh, tao thật sự muốn lấy cô ta làm vợ. Sau khi đã tìm hiểu kỹ ở Việt Nam, tao sẽ mời cô ta sang Zug chơi 3 tháng để biết và quyết định sau. Vì làm ở Tòa thị chính, tao sẽ tổ chức cho cô học tiếng và có công ăn việc làm chứ không phải sống dựa vào tao đâu, dĩ nhiên tao càng không phải kẻ ‘buôn người’. Khi làm lễ cưới, tao sẽ mời mày sang dự, tao trả tất cả mọi phí tổn và còn tặng mày thêm 1.000 USD nữa! Đây là hợp đồng nghiêm chỉnh đây nhé!” Tôi trả lời, cũng qua đường bưu điện: “Mày muốn đùa đấy à? Tao nhận hợp đồng này với mày để thành ‘ma cô’ ư, sớm vào còng số tám ư? Tao chỉ giúp mày với tư cách bạn bè thôi!”

Thế là Guido bay ngay sang. Với mối quan hệ rộng của tôi, ở trường đại học, ở viện nghiên cứu, ở các công ty,… làm gì mà tôi chẳng kiếm ra những cô gái trẻ, đẹp như mơ cho Guido. Tôi nhớ, có lần cùng Guido và một cô đi chơi Chùa Hương, ngồi trên thuyền hàng tiếng qua Dòng Yến, lại gặp mấy ông bạn cùng cơ quan, các ông này tán: “Lão Tâm già này làm thế nào kiếm ra những cô xinh thế này nhỉ?” Với người 3 đời vợ, chuyện đó thật dễ ‘như trở bàn tay’. Cũng ở Chùa Hương, khi phải nghỉ đêm tại một khách sạn đơn sơ gần đó, Guido bảo tôi: “Mày ngủ với ‘nó’ rồi à!” Tôi phải trấn an anh: “Ở Việt Nam chẳng có chuyện đó đâu!”

Còn Guido, anh ấy cũng chẳng phải tay vừa, anh khoe đã nhiều lần ngồi trong Ban Giám khảo chấm miss ở Zurich. Tôi có thể khẳng định điều đó. Một lần kia, khi chúng tôi phải chờ một cô gái tại Khách sạn Phú Gia quá lâu, có chiếc đàn piano để chỏng cheo bên sảnh, anh lên ngồi đánh say sưa, và khi cô gái đến anh phải dừng, không chỉ tôi là kẻ từng học dương cầm nghiêm túc ở Đức, mà tất cả các khách có mặt lúc đó cũng đã phải đồng loạt vỗ tay tán thưởng. Và anh cũng lõi đời lắm, có lần anh báo tôi: “Tao vừa về đến nhà đã nhận được thư của ‘nó’ bảo nó thiếu tiền, tao cần gửi ngay cho ‘nó’ 2.000 USD”.

Thế nhưng ‘quả quít dầy có móng tay nhọn’, đời vốn oái oăm thế, biết bao cô gái trẻ đẹp, con nhà tử tế, bằng cấp đầy mình, anh chẳng chọn, lại quyết cưới bằng được một cô, dĩ nhiên cũng đẹp nhưng ‘sòn sòn’, tức là tuổi cũng đã suýt soát tứ tuần, ba con, đã từng đi ‘xuất khẩu’ ở CHDC Đức trên chục năm, nay đang làm thủ tục ly dị. Anh gắn kết cô tới mức, anh đã mời cô về thành phố Zug với anh ba tháng để cho cô tìm hiểu kỹ hơn cuộc sống ở Thụy Sỹ. Cô không phải tay vừa, không đồng ý ở lại mà trở về Việt Nam. Anh vẫn quyết theo đuổi. Đó là năm 2001, tôi có một ‘suất trao đổi hàn lâm’ với cơ quan DAAD ở Trường Đại học Christian-Albrechts-Universität zu Kiel, thành phố Kiel, anh liền gửi ngay vé cho cô và bảo tôi phải nhân dịp đó đưa cô sang Zurich với anh. Tôi bảo: “Chết tôi, thứ nhất theo Hiệp ước Schengen khi ấy, tôi đâu được vào Thụy Sĩ, thứ nhì, giả dụ tôi có thị thực Thụy Sĩ chăng nữa, DAAD sẽ đánh giá tôi thế nào khi tôi lại ‘kết hợp mang theo’ một cô gái sang Thụy Sĩ?” Thế là thời gian đó ở Kiel, tôi liên tục nhận điện của Guido. Lần cuối, anh báo: “Tao chờ nó cả ngày tại sân bay Zurich mà không thấy nó sang”. Chỉ đến khi về nước, qua bạn bè, tôi mới rõ, cô gái đã bay sang với bồ ở… Paris rồi! C’est la vie – Đời là vậy!

Tình bạn giữa tôi và Guido chẳng vì thế mà kết thúc. Anh còn đi với tôi mấy chuyến nữa đến Huế, thành phố quê tôi, vì đâu tôi chẳng có bạn, đâu chỉ các trường hay viện, thậm chí tại Sài Gòn tôi còn có ông bạn Nguyễn N.T., Giám đốc một doanh nghiệp lớn của thành phố, tôi sống cuộc đời ‘vương giả’ với Guido ở khách sạn Continental, Phố Catinat, nay là Đường Đồng Khởi, đều một thời lừng danh, ban ngày đi thăm thú phố xá hay xuống bơi ở bể bơi khách sạn, tối đi ‘tìm hiểu’. Nhưng Guido ‘dát gái’. Anh chưa tìm được ‘ý trung nhân’. Với tôi, các ‘tour du lịch mạo hiểm’ với Guido đáng tiếc là đều thất bại, tuy không cay đắng đến như tour ở Đà Lạt hôm rồi, nhưng dẫu sao cũng không thể gọi được là thành công.

Tôi đã thực hiện một tour thành công với một anh bạn khác ở thành phố Munich, không những thành công mà còn phải nói là ‘đại thành công’ nữa kia, nhưng với khuôn khổ bài báo này thì nó quá dài, thôi đành để dịp khác vậy.

Xin bạn đọc thứ lỗi! Đời còn…dài kia mà.    

Hình: Đoàn du lịch của cán bộ Đại học Tổng hợp Hà Nội thăm Vịnh Hạ Long và Mỏ Cẩm Phả, hè 1956

____

(*) Cũng về Thái Lan, Guido có lần bảo tôi: “Bọn Thái bảo tao, hết chiến tranh chỉ cần dăm năm, bọn Việt Nam sẽ vượt chúng tao ngay thôi!” Thế mà nay thấm thoát đã trên 30 năm, chúng ta không chỉ thua kém Thái Lan hàng chục năm, mà ngay đến cả Myanmar chúng ta cũng thua nốt, lỗi tại ai?

Tôi cũng còn có cô bạn khác thời phổ thông, TS. Đào T.A., khi còn dạy ở Trường Đại học Nông nghiệp, sau một chuyến đi công tác dài ngày nước ngoài về, nàng kể với tôi như sau: bạn đồng nghiệp từng thổ lộ với nàng: “Người Việt chúng mày là những viên kim cương quí hiếm, cứng rắn, sắc cạnh, thế nên chúng mày dễ va chạm nhau, dễ vỡ vụn ra thành cát bụi; còn người Nhật chúng tao chỉ như những thỏi đất sét nhão nhoét, thế nhưng chính vì thế mà chúng tao lại dễ kết dính với nhau”. Nhận xét này quá đúng và rất đáng để chúng ta suy ngẫm.

Và còn điều ai cũng biết, nhất là các vị lãnh đạo, nhưng lại ngại nói ra. Trung cộng và Việt cộng vốn là anh em ruột thịt “16 chữ vàng”, thế nên tất cả những gì chúng ta thảo luận vừa qua về vấn đề “thoát Trung” chỉ là nói chơi cho vui. Không thay đổi thể chế thì việc đó sẽ là bất khả thi, sẽ không bao giờ xảy ra. Hãy xem những gì những người bạn láng giềng Myanmar trong ASEAN vừa làm. Hãy nhớ ba vị lãnh đạo của ta đã ký kết những gì ở Thành Đô năm 1990 (mà cho đến nay họ vẫn giấu nhẹm vì nó kinh khủng quá, công bố nó ra khác gì một vụ động đất!). Họ chỉ có cách ôm chặt chân ông bạn lớn để giữ chế độ và quyền lợi ích kỷ của bọn họ, chứ họ có “vì nước, vì dân” gì, tất cả chỉ là những lời mị dân vô nghĩa của một bọn đã lão luyện trong ngón chơi đó. Không có thay đổi thể chế thì mọi chuyện nói về cải thiện ngành du lịch, dẫu có đến năm đoàn làm phim đến thăm, không chỉ ba mà… mười địa điểm, cũng như các ngành khác ở nước ta, chỉ là chuyện viển vông!

Một bình luận trước “7333. Lại lẩn thẩn ngẫm nghĩ để lai rai kể chuyện”

  1. […] 7333. Lại lẩn thẩn ngẫm nghĩ để lai rai kể chuyện […]

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d người thích bài này: