BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

6181. Kỷ niệm 70 năm chiến tranh Việt-Pháp 19/12/2015: Ôn lại những biến cố đưa tới ngày “toàn quốc kháng chiến”

Posted by adminbasam trên 17/12/2015

Ngọc Thu

17-12-2015

Nhân ngày 19 tháng 12 sắp tới là ngày kỷ niệm 70 năm chiến tranh Việt-Pháp, trang Ba Sàm thấy nên ôn lại giai đoạn lịch sử ngắn ngủi 15 tháng nhưng đầy biến động, từ ngày Pháp theo quân Anh trở lại miền Nam Việt Nam vào tháng 9 năm 1945, nhất là sau khi tới miền Bắc vào tháng 3 năm 1946, cho đến ngày bùng nổ “toàn quốc kháng chiến”. Những biến cố này khởi sự từ chủ nghĩa đế quốc của tướng de Gaulle và các lãnh đạo Pháp kế tiếp muốn thâu hồi ba nước Đông Dương đã bị Nhật chiếm đoạt trước khi Thế chiến II chấm dứt. Vì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và lực lượng Việt Minh còn quá mới và quá yếu trong khi còn phải đối phó với các đảng phái quốc gia đang giành chính nghĩa chống Pháp, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phải chấp nhận ký với Pháp hai bản thỏa ước tạm thời để có thời gian chuẩn bị chiến tranh. Dù đã có được lợi thế đưa Việt Nam vào trong Khối Liên Hiệp Pháp, các lãnh đạo Pháp, kể cả những bạn cũ của Hồ Chí Minh trong đảng Xà Hội và đảng Cộng sản Pháp, đều nóng lòng chiếm đoạt lại Việt Nam khiến cho chiến tranh không thể nào tránh được.

Tài liệu dưới đây, trích từ cuốn “Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh, Tị nạn và Bài học lịch sử” của Giáo sư Lê Xuân Khoa, tường thuật khá đầy đủ nguyên nhân và những diễn biến đưa đến ngày bùng nổ chiến tranh Việt-Pháp kéo dài tám năm mà kết quả là Pháp thua trận nhưng đất nước lại bị chia đôi và lâm vào một cuộc chiến mới kéo dài thêm 20 năm nữa. Trong thời gian chiến tranh, Pháp đã phạm nhiều sai lầm và bỏ lỡ nhiều cơ hội hòa bình. Đây là những vấn đề được đề cập ở những trang sau của cuốn sách.

____

GS Lê Xuân Khoa

Sau khi tư lệnh hải quân Rigault de Genouilly hạ lệnh bắn phá cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lăng Việt Nam năm 1858, triều đình Huế đã phải ký tổng cộng ba thỏa ước, hai lần đầu mỗi lần nhường một phần đất miền Nam cho Pháp nhưng đến lần thứ ba, với thỏa ước Patenôtre 1884, thì toàn thể Việt Nam phải chịu sự đô hộ của Pháp dưới ba chế độ khác nhau: miền Nam nhường đứt cho Pháp dưới chế độ thuộc địa, miền Trung và miền Bắc đặt dưới chế độ bảo hộ (trừ Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng phải nhường cho Pháp) nhưng triều đình Huế được chia quyền cai trị về hành chánh ở miền Trung. Tính từ 9 tháng 5, 1862 là ngày bán thỏa ước đầu tiên được ký kết cho đến 9 tháng Ba 1945 là ngày Pháp bị Nhật đuổi ra khỏi Đông Dương, tổng cộng thời gian Việt Nam bị Pháp đô hộ là 83 năm. Trong thời gian này, thực dân Pháp đã triệt để khai thác tài nguyên và sức lao động của dân Việt, thi hành chính sách ngu dân, bác bỏ những yêu cầu được đối xử công bằng, và thẳng tay đàn áp những hành động chống đối hay nổi loạn. Mặc dầu vậy, Pháp vẫn phải liên tiếp đối phó với những phong trào chính trị hay lực lượng vũ trang được khởi xướng hay lãnh đạo bởi các sĩ phu nho học hay những trí thức thấm nhuần tư tưởng tự do dân chủ Tây phương. Vì mục tiêu giới hạn của cuốn sách, chương này sẽ không nói đến những biện pháp bóc lột và đàn áp của thực dân Pháp trong giai đoạn đô hộ Việt Nam mà sẽ chỉ nói đến những sai lầm của Pháp trong thời kỳ 1945-1954 đối với chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Việt Minh cũng như với chính quyền Quốc gia Việt Nam thời Bảo Đại.

Thế Chiến II chấm dứt không chỉ đánh dấu sự thất bại của Đức Quốc Xã và Quân phiệt Nhật trong tham vọng chinh phục toàn cầu, nó còn báo hiệu sự suy tàn của những đế quốc thuộc địa ở châu Á và châu Phi. Một loại chiến tranh mới —Chiến Tranh Lạnh— giữa hai phe tư bản và cộng sản xuất hiện khi Hoa Kỳ và Nga Sô bắt đầu củng cố và tăng cường lực lượng bằng cuộc thi đua võ trang và một loạt chiến tranh ủy nhiệm tại những khu vực khác nhau trên thế giới. Để ngăn chặn sự bành trướng ảnh hưởng của cộng sản, Hoa Kỳ thấy cần phải giải trừ chế độ thuộc địa và hỗ trợ cho các phong trào đòi tự do, dân chủ và nhân quyền ở các nước nghèo và bị áp bức. Hoa Kỳ tự ý trao lại chủ quyền cho Phi-líp-pin năm 1946. Anh quốc nhìn nhận nền độc lập của Ấn-độ năm 1947, và Hoà Lan cũng phải trả lại độc lập cho In-đô-nê-sia năm 1949. Chỉ còn Pháp là đế quốc duy nhất vẫn tiếp tục mưu toan duy trì quyền lực ở Đông Dương, làm hại chính nghĩa quốc gia ở Việt Nam và phải chuốc lấy thảm bại Điện Biên Phủ năm 1954.

Quan niệm của Pháp về Đông Dương — được xác định trong bản Tuyên cáo ngày 25 tháng Ba 1945 của Chính phủ Lâm thời do tướng Charles de Gaulle lãnh đạo — là “Một Liên Bang gồm tất cả năm lãnh thổ Đông Dương, cùng với nước Pháp và các thuộc địa khác hợp lại thành khối Liên Hiệp Pháp.”1 Liên Bang Đông Dương sẽ có một chính phủ do một Toàn Quyền (Gouvemeur Général) người Pháp làm Chủ tịch, và các Bộ trưởng sẽ do Toàn Quyền lựa chọn gồm những người bản xứ và Pháp kiều. Quốc Hội Liên Bang cũng gồm cả đại biểu Pháp và bản xứ với quyền lực rất giới hạn. Quốc phòng và Ngoại giao là trách nhiệm của người Pháp. Điều quái gở là theo chế độ chính trị này, Việt Nam còn bị thiệt hại hơn cả những điều khoản qui định trong Thỏa ước Patenôtre 1884, vì quốc gia Việt Nam bị chia làm ba xứ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) cùng với Cam-bốt và Lào hợp thành Liên Bang Đông Dương trong khối Liên Hiệp Pháp. Thời đó, người Pháp vẫn coi Đông Dương là thuộc quyền sở hữu của họ — do đó có tên “xứ Đông Dương thuộc Pháp” (Indochine Francaise), gọi tắt là Đông Pháp — và người bản xứ là những dân mọi rợ được Pháp tới cai trị với sứ mệnh khai hoá văn minh (mission civilisatrice), vì thế dân bản xứ cần phải biết ơn “mẫu quốc.” Ngay cả Sainteny cũng phải bực mình khi nhận thấy hầu hết các viên chức người Pháp hồi đó vẫn tin tưởng rằng “dân chúng Đông Dương đang nóng lòng chờ đợi chúng ta trở lại và chuẩn bị dang tay chào đón chúng ta.”2

Tướng de Gaulle luôn luôn bị ám ảnh bởi sự cần thiết phải phục hồi danh dự cho nước Pháp sau khi đã phải đầu hàng Đức (tháng Sáu 1940), chịu cho Nhật kiểm soát về quân sự ở Đông Dương (tháng Chín 1940), rồi bị Nhật lật đổ ở Đông Dương (tháng Ba 1945). Vì vậy ngoài công cuộc kháng chiến chống Hitler, de Gaulle còn muốn xác định vai trò của Pháp như một cường quốc trên thế giới bằng cách thâu hồi các thuộc địa cũ ở châu Á và châu Phi. Ngay từ khi mới chạy sang Anh quốc để lãnh đạo kháng chiến, de Gaulle đã trông cậy một phần vào nguồn tài sản của Pháp quốc hải ngoại làm hậu thuẫn cho sứ mệnh giải phóng quê hương. Trong lời hiệu triệu dân chúng Pháp từ London ngày 18 tháng Sáu, ông lên tiếng: “Đồng bào hãy tin ở lời tôi vì tôi biết rõ điều tôi đang nói. Tôi nói rằng nước Pháp không mất gì hết. Vì nước Pháp không cô đơn. Nước Pháp không cô đơn. Nước Pháp không cô đơn… Nước Pháp còn có một đế quốc rộng lớn ở sau lưng.”3

Ngay sau khi Nhật tấn công Pearl Harbour (Trân Châu Cảng) ngày 7 tháng Mười Hai 1941, Pháp cũng ra tuyên cáo khai chiến với Nhật cùng với Hoa Kỳ và Anh quốc, dù không được mời. Đối với de Gaulle, việc tham gia vào mặt trận Thái Bình Dương là một cơ hội để tái xác định vị trí cường quốc của Pháp. Tháng Bảy 1943, de Gaulle chủ trương rằng “chiến dịch có ưu tiên cao nhất sau khi giải phóng chính quốc là giải phóng Đông Dương.”4 Đến tháng Giêng 1944, trong bài diễn văn khai mạc hội nghị Brazzaville, ông lại nhắc đến “khả năng thiên phú bất diệt của nước Pháp với những sáng kiến đưa con người dần dần lên đến tột đỉnh của nhân phẩm và tình huynh đệ”. Vì cái sứ mệnh khai hóa văn minh ấy, de Gaulle quả quyết rằng trong tình trạng tạm thời bị đẩy lui, “nước Pháp đã tìm được sự giúp đỡ ở các lãnh thổ hải ngoại, nơi mà tất cả các khối dân chúng ở khắp nơi trên thế giới không một phút nào thay đổi lòng dạ trung thành với nước Pháp…”5 Biết rằng Tổng Thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt không muốn cho Pháp trở lại Đông Dương, de Gaulle đã vận động với Anh và được thủ tướng Churchill đồng ý giúp đỡ. Từ tháng Bảy 1944, Lực lượng Đặc nhiệm 136 của Anh ở Viễn Đông bắt đầu thả dù người và dụng cụ tiếp tế cho tình báo Pháp ở Đông Dương. Sau cuộc đảo chính 9 tháng Ba 1945 của Nhật, tàn quân Pháp chạy sang Quảng Tây và Vân Nam vẫn còn được Lực lượng 136 tiếp tế nhưng chỉ giới hạn hoạt động ở vùng Thượng Lào vì ở Việt Nam đã có Việt Minh thay thế với sự giúp đỡ của tình báo Mỹ OSS.6

Cho đến ngày de Gaulle từ chức vào tháng Giêng 1946, ông vẫn không thay đổi đầu óc thực dân lỗi thời đối với Việt Nam. Ông không chấp nhận điều đình với Việt Minh cho đến khi nào Pháp đã phục hồi được uy quyền ở Việt Nam. Trong chuyến đi vận động Washington vào tháng Tám 1945, mặc dù chỉ được Tổng Thống Truman hứa sẽ không cản trở việc Pháp trở lại Đông Dương, ông đã tuyên bố trong một cuộc họp báo: “Lập trường của Pháp về Đông Dương rất đơn giản: Pháp muốn khôi phục chủ quyền của mình ở Đông Dương.” Ông cũng làm cho nhân dân Việt Nam vừa tức giận vừa buồn cười khi ông lên đài phát thanh ở Washington ngày 15 tháng Tám để chuyển một thông điệp về Đông Dương: “Địch quân (Nhật) đã đầu hàng. Mai đây Đông Dương sẽ tự do. Trong giờ phút quyết định này, mẫu quốc gửi về cho đàn con Đông Dương lời bày tỏ niềm vui, tình trìu mến và lòng biết ơn của mình. Vì thái độ đối với quân xâm lược, vì lòng trung thành đối với nước Pháp, những người con Đông Dương đã tỏ ra xứng đáng được hưởng một đời sống rộng rãi hơn và tự do hơn…”7

Cũng trong ngày hôm đó, ông gửi một bản chỉ thị cho Đô đốc d’Argenlieu, xác nhận “Cao Ủy Pháp có quyền hành của chức vụ Toàn quyền ở Đông Dương kiêm Tổng tư lệnh các lực lượng hải, lục, không quân có căn cứ tại Đông Dương hay được chỉ định tới xứ này. Nhiệm vụ đầu tiên của Cao úy là phục hồi chủ quyền (của Pháp) trên các lãnh thổ của Liên hiệp Đông Dương.”8

Trong lá thư viết cho tướng Leclerc ngày 25 tháng Chín 1945, de Gaulle quở trách: “Nhiệm vụ của ông là tái lập chủ quyền của nước Pháp ở Hà Nội và tôi lấy làm ngạc nhiên thấy ông vẫn chưa làm được việc đó.”9 Đến tháng Mười, khi toà Đại sứ Mỹ ở Trùng Khánh yêu cầu được cung cấp một bản tuyên cáo mới về ý định của Pháp đối với Đồng Dương, de Gaulle bực tức trả lời: “Không thể có chuyện chính phủ Pháp phải ra một tuyên cáo mới về Đông Dương vào lúc này. Bản tuyên cáo tháng Ba tự nó đã đầy đủ rồi. Nhắc lại chỉ làm cho tình thế phức tạp hơn.”10

Ở đây cũng nên nhắc đến quan niệm của Toàn Quyền Decoux, tiến bộ hơn so với quan niệm của de Gaulle, về chính sách đối với Đông Dương. Decoux viết: “Trong suốt sự nghiệp của tôi, tôi đã được chứng kiến tận mắt những sai lầm trong chính sách ở những thuộc địa cũ của chúng ta… Những lời tuyên bố thiếu thận trọng và không hợp thời tại hội nghị Brazzaville là nguyên do của phản ứng thoát ly không thể kiềm chế được.” Decoux cũng cho rằng đã đến lúc cần phải “từ bỏ nguyên tắc lỗi thời của ‘thỏa ước thuộc địa’ và tiên đoán khá sáng suốt rằng “Tình trạng một bên là cuộc tiến hoá về tư tưởng trên thế giới, một bên là những lỗi lầm ngày càng chồng chất, hiển nhiên sẽ quyết định một xứ Đông Dương mới, khác xa quá khứ, trong đó chỗ đứng của chúng ta sẽ kém phần ưu thắng và ngoạn mục.” Ông hình dung ra một “Hiệp hội các quốc gia Đông Dương” nhưng không nói rõ hơn về chi tiết.11

Sau de Gaulle phải nói đến Cao ủy Thierry d’Argenlieu, người thay thế cho Decoux ở Đông Dương. Mặc dù trực tiếp đụng chạm với thực tế ở Việt Nam và am hiểu tình hình xứ này hơn de Gaulle, d’Argenlieu vẫn tin tưởng có thể bắt ép Việt Nam bằng sức mạnh quân sự. Ông đã nhắc nhở Sainteny tuyệt đối không dùng từ ngữ “độc lập” khi điều đình với Hồ Chí Minh, và ngay cả sau khi Hiệp định Sơ bộ 6 tháng Ba chỉ cho Việt Nam qui chế của một “nước tự do,” d’Argenlieu vẫn không muốn thi hành hiệp định này. Chỉ hai ngày sau khi bản hiệp định được ký, ông đã bực tức nói với tướng Valluy, “Tôi thật lấy làm lạ rằng nước Pháp có một đạo quân viễn chinh hùng hậu như vậy ở Đông Dương mà các nhà lãnh đạo lại thích đàm phán hơn là chiến đấu.”12 Ngày 24 tháng Ba, thay vì đến Hà Nội thăm vị nguyên thủ của quốc gia chủ nhân, d’Argenlieu chỉ thị cho Sainteny mời Hồ Chí Minh tới gặp ông trên chiến hạm Emile Bertin ở ngoài khơi Vịnh Hạ Long. Cùng đi với ông Hồ là Phụ tá Hoàng Minh Giám và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam. Trước khi họp, d’Argenlieu mời Hồ Chí Minh cùng duyệt khán một cuộc diễn hành của hạm đội Pháp, rõ ràng với dụng ý phô trương lực lượng hòng áp đảo tinh thần đối thủ của mình.13 Hai bên đồng ý sắp xếp phiên họp chuẩn bị ở Đà Lạt vào tháng Tư và hội nghị chính thức ở Fontainebleau vào cuối tháng Năm. Hội nghị Đà Lạt bế tắc vì hai bên không đồng ý về vai trò “quốc gia tự do” trong khôi Liên Hiệp Pháp cũng như về thủ tục trả lại Nam Kỳ cho Việt Nam.

Hồ Chí Minh lên đường sang Pháp ngày 30 tháng Năm 1946 để theo dõi diễn tiến của hội nghị Fontainebleau và hoạt động của phái đoàn Việt Nam do Phạm Văn Đồng cầm đầu. Chỉ mấy ngày sau, khi còn dừng chân ở Ai cập, thì có tin d’Argenlieu đã cho ra đời nước Cộng Hòa Nam Kỳ Tự Trị (République Autonome de Cochinchine) để đặt phái đoàn Việt Nam trước “một sự đã rồi”.14 Vì Pháp đang bận bầu cử quốc hội và thay đổi chính phủ nên mãi đến ngày 6 tháng Bảy hội nghị Fontainebleau mới bắt đầu họp. Tại đây, tình trạng bế tắc còn trầm trọng hơn ở hội nghị Đà Lạt ba tháng trước đó. Ngày 1 tháng Tám, khi được tin d’Argenlieu triệu tập một hội nghị khác ở Đà Lạt để thành lập Liên Bang Đông Dương trong đó có Cộng Hòa Nam Kỳ và Cao Nguyên miền Trung, phái đoàn Việt Nam bỏ họp để phản đối. Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngọai Marius Moutet phải cố gắng dàn xếp. Cuối tháng Tám hội nghị mới họp tiếp nhưng vẫn không giải quyết được gì và đến 13 tháng Chín phái đoàn Phạm Văn Đồng phải tay không trở về nước. Hồ Chí Minh ở lại họp riêng với Marius Moutet, thuyết phục người bạn cũ trong đảng Xã Hội: “Anh không nên để tôi ra đi như thế này. Hãy tiếp tay cho tôi để chống lại những kẻ đang tìm cách lấn át tôi. Anh sẽ không hối tiếc đâu.”15 Trước thái độ kiên quyết của Moutet, nửa đêm ngày 14 tháng Chín, ông Hồ trở lại nhà riêng của Moutet để ký một bản tạm ước (modus vivendi) mà nội dung còn thua thiệt cho Việt Nam hơn cả hiệp định sơ bộ 6 tháng Ba, vì Pháp vẫn duy trì mọi quyền lợi căn bản trong khi qui chế “quốc gia tự do” còn bỏ lửng và cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề Nam Kỳ không được nhắc đến nữa. Điểm mới duy nhất trong bản tạm ước là sự hứa hẹn “cùng nhau tìm cách đạt được các thỏa thuận về mọi vấn đề có thể được đặt ra” và đồng ý sẽ tiếp tục cuộc đàm phán để tiến tới việc kết thúc thỏa hiệp trễ nhất là tháng Giêng 1947. Ký xong bản tạm ước, Hồ Chí Minh nói với Sainteny khi ra khỏi nhà của Moutet: “Tôi vừa tự ký cho tôi một bản án tử hình”:16

Hồ Chí Minh không thể nào thất vọng hơn vì trước khi lên đường ông rất tin tưởng rằng việc ông trở lại Pháp để vận động những nhân vật quen biết cũ sẽ phải đem lại kết quả tích cực. Thật đáng ngạc nhiên là trong giới lãnh đạo Pháp, ngay cả những nhân vật thuộc phe tả, cũng không có người nào từ bỏ tham vọng đế quốc và giúp cho Hồ Chí Minh đạt được thỏa ước về một “quốc gia tự do” theo đó Pháp vẫn còn được hưởng nhiều quyền lợi. Marius Moutet đã đồng tình với Cao ủy ở Nam Kỳ Jean Cèdile khi ông này tuyên bố về hiệp định sơ bộ 6 tháng Ba rằng: “chính phủ Pháp có ý định thiết lập ở Nam Kỳ, cũng như ở các nước khác trong Liên Bang Đông Dương, một chính thể tự do tương tự như chính thể hiện hữu ở Cam-bốt… Nam Kỳ cũng sẽ có chính phủ, quốc hội, quân đội và tài chánh riêng. Nam Kỳ sẽ có những quyền lợi y như các thành viên khác của Liên Bang.”17 Ngay cả Đảng cộng sản Pháp, tuy ngoài miệng vẫn nói ủng hộ các dân tộc Đông Dương nhưng không hề chứng tỏ bằng hành động cụ thể. Tổng Bí thư Maurice Thorez đã đặt tham vọng quốc gia trên tình nghĩa đồng chí, dù Hồ Chí Minh thuộc thành phần sáng lập đảng cộng sản Pháp. Khi được Sainteny hỏi ý kiến về hiệp định 6 tháng Ba, Thorez gợi ý rằng “nếu phía Việt Nam không tôn trọng những điều ký kết chúng ta sẽ áp dụng những biện pháp cần thiết và, nếu cần, để cho sóng đạn nói chuyện dùm cho chúng ta.”18 Ông cũng cho nhà báo Philippe Devillers hay rằng đảng cộng sản Pháp không có ý bài bác sự hiện diện của nước Pháp ở Đông Dương và nhiệt tình mong muốn thấy lá cờ tam tài tung bay trên những lãnh thổ xa xôi của khối Liên Hiệp Pháp trên toàn thế giới.19

Bản tạm ước 14 tháng Chín là một sự thất bại của Hồ Chí Minh nhưng đây cũng là một bước lùi chiến thuật vì ông cần có thêm thời gian để chuẩn bị một cuộc chiến lâu dài khó lòng tránh khỏi. Chính phủ gia tăng động viên tinh thần chống Pháp và đoàn ngũ hoá quần chúng dưới sự lãnh đạo của mặt trận Việt Minh. Khí giới được mua thêm và chuyển vào Việt Nam bằng đường biển. Tình hình càng ngày càng căng thẳng với những vụ đụng độ nhỏ xảy ra hằng ngày. Trong Nam, Pháp mở chiến dịch tấn công các lực lượng kháng chiến ở vùng đồng bằng Cửu Long, và Trần Văn Giàu bắt đầu áp dụng chiến thuật du kích và “tiêu thổ kháng chiến.” Nghiêm trọng nhất là vụ Hải Phòng. Đầu tháng Mười Một, Pháp chiếm Sở Quan thuế ở thành phố này và đuổi hết nhân viên người Việt ra ngoài. Ngày 20, Pháp chặn bắt một chiếc tàu chở dầu xăng của Trung Hoa và bị bộ đội Việt Minh tấn công. Ngày 23, Đại tá Dèbes, chỉ huy quân Pháp ở Hải Phòng, ra tối hậu thư đòi quân Việt Nam phải hạ khí giới và rút ra khỏi khu người Hoa. Khi tối hậu thư bị bác, hải quân Pháp pháo kích như mưa vào thành phố làm chết tới mấy ngàn dân.20 Tiếp theo đó, hai ngàn quân Pháp tràn vào hải cảng tiến chiếm khu người Hoa. Bộ đội Việt Minh chiến đấu cho đến ngày 28 thì phải rút ra khỏi khu phố này.

Hai bên tiếp tục chuẩn bị chiến tranh trong khi Sainteny và Hồ Chí Minh vẫn cố gắng thăm dò lẫn nhau về giải pháp hòa bình. Ngày 15 tháng Mười Hai, Hồ Chí Minh nhờ Sainteny gửi một điện văn của ông cho tân thủ tướng Pháp Léon Blum đưa ra những đề nghị cụ thể để giải quyết cuộc tranh chấp. Trước khi chuyển về Paris, Tướng Tư lệnh Jean-Étienne Valluy ghi thêm lời cảnh cáo rằng trì hoãn hành động quân sự cho tới năm mới là một điều nguy hiểm. Trước đó, ông đã tính khai chiến với Hà Nội để đặt chính phủ Pháp trước một sự đã rồi. Ngày 17, xe thiết giáp quân đội Pháp đi phá các chướng ngại vật do những đoàn “tự vệ” cuả dân chúng dựng lên ở ngoài đường trong khi đội quân “lê dương” (légionnaires) dàn trải trên các nẻo đường từ trại lính đến phi trường Gia Lâm. Ngày hôm sau Pháp ra tối hậu thư cấm dựng chướng ngại vật trên đường phố. Chiều hôm đó lại thêm tối hậu thư loan báo, kể từ ngày 20, quân đội Pháp sẽ phụ trách an ninh công cộng khắp thủ đô. Tối hôm đó, Việt Minh bắt đầu chặn các lối từ bên ngoài vào thủ đô. Sáng ngày 19, Pháp lại ra tối hậu thư thứ ba đòi hỏi chính phủ Việt Nam ngưng tất cả mọi cuộc chuẩn bị chiến tranh, giải tán các đội dân quân tự vệ và giao quyền phụ trách an ninh thủ đô cho quân đội Pháp. Hồ Chí Minh và ủy ban thường trực đảng cộng sản quyết định không thể nhượng bộ được nữa. Trong khi Hồ Chí Minh và Trường Chinh thảo bản hiệu triệu “toàn quốc kháng chiến”, Võ Nguyên Giáp cũng thảo nhật lệnh cho binh sĩ chiến đấu. Chính phủ và quân chủ lực bắt đầu rút ra khỏi thủ đô. Tám giờ tôi hôm đó (19.12.1946), Việt Minh phá nhà máy đèn, toàn thành phố chìm trong đêm tối. Các đội dân quân tấn công các cơ sở và cư xá của Pháp, sát hại và bắt đi một số Pháp kiều. Chiếc xe thiết giáp đến đón Sainteny bị trúng mìn trên đường vào thành lính. Sainteny bị thương nằm giữa xác đám lính Pháp tới hai tiếng đồng hồ sau mới được đưa vào thành. Cuộc chiến tranh Việt-Pháp chính thức bắt đầu.21

Ghi chú:

[1] Journal Officiel de la République Française, 25.3.1945. Năm đơn vị lãnh thổ Đông Dương gồm Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam), Nam Kỳ (Cochinchine), Cam-bốt và Lào. Nên chú ý là những tên Tonkin, Annam, và Cochinchine do Pháp đặt ra không có hàm ý rằng đây là ba miền (kỳ) của một nước Việt Nam, như trong tên tiếng Việt. Đây là chủ ý của người Việt Nam khi dịch sang tiếng Việt để bảo vệ ý nghĩa thống nhất của ba miền đất nước.

2 Jean Sainteny, Histoire d’une Paix Manquée: Indochine 1945-1947 (Paris: Fayard, 1967), 49.

3 David Shoenbrun, Av France Goes (New York, 1957), 214. Mỉa mai thay, chưa đầy hai mươi bôn tiếng đồng hồ sau, Toàn Quyền Đông Dương Georges Catroux đã phải chấp thuận tối hậu thư của Nhật do Đại sứ Pháp từ Tokyo chuyển tới đòi “đóng cửa biên giới (Đông Dương) không cho chuyên chở (sang Trung Hoa) bằng đường bộ hay đường sắt các vật liệu như dầu xăng, xe vận tải, đồng thời phải để cho Nhật kiểm soát việc đóng cửa biên giới này.” (Amiral Decoux, A la Barre de l’Indochine, (Paris: Plon, 1949,) 66.

4 Philippe Devillers, Paris-Saigon-Hanoi, Les Archives de la Guerre, 1944-1947 (Paris: Gallimard/Julliard,) 21-22.

5 Charles de Gaulle, Allocution prononcée à l’occasion de l’ouverture de la conférence de Brazzaville, 30 janvier 1944.

6 Lực lượng 136 (Force 136) từ đầu năm 1943 đã tuyển một số tù chính trị cộng sản Việt Nam bị Pháp giam giữ ở Madagascar đưa sang Calcutta huấn luyện về truyền tin, đến giữa 1944 thì được thả dù xuống Việt Bắc để chống Nhật. Tất cả những người này đều bắt liên lạc được với Việt Minh để hoạt động chống Pháp. Như Lê Giản đã nhận xét sau đợt nhảy dù đầu tiên của ông và Hoàng Đình Rong: “Thế là keo đầu tiên chúng tôi đã thắng đế quốc Anh trong sách lược lợi dụng bọn chúng nhằm phục vụ mục đích của mình.” (Lê Giản, Những Ngày Sóng Gió [Hà Nội: NXB Công An Nhân Dân, tái bản năm 2000], 118). Lê Giản làm Tổng Giám đốc Công An vào tháng Hai 1946, rất có công trong công cuộc truy lùng các đảng viên VNCMĐMH và VNQDĐ. Trong những năm gần đây, ông lại là một trong những đảng viên lão thành lên tiếng tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền. Ông mất năm 2003.

7 Jacques de Folin, Indochine 1940- 1945: La Fin d’Un Rêve (Paris: Perrin, 1993), 99.

8 Ibid., 99.

9 Ibid., 128.

10 Ibid., 98. Ở đây, de Gaulle nhắc đến Tuyên cáo 24.3.1945 của Chính phủ Lâm thời Pháp lúc đó còn lưu vong ở bên Anh.

11 Decoux,. 488-489.

12 Philippe Devillers, Histoire du Vietnam de 1940 à 1952 (Paris: Editions du Seuil, 1952), 242.

13 Trên đường về Hà Nội, Hồ Chí Minh nói với tướng Raoul Salan, phụ tá của d’Argenlieu: “Nếu Đô đốc (d’Argenlieu) nghĩ rằng tôi bị khiếp đảm vì sức mạnh của hạm đội Pháp thì ông ấy đã lầm. Chiến hạm của các ông sẽ chẳng bao giờ có thể tiến được vào những con sông của chúng tôi.” (William J. Duiker, Ho Chi Minh (New York, Hyperion, 2000,) 368.

14 Chính phủ Nam Kỳ Tự Trị do Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng. BS Thinh là một người yêu nước, lúc đầu tham gia đảng Lập Hiến của Bùi Quang Chiêu sau lập ra đảng Dân Chủ Đông Dương cùng với BS Trần Văn Đôn (thân phụ tướng Trần Văn Đôn). Khi ông thấy Pháp không thật tâm trao quyền cho Chính phủ cộng hòa Nam Kỳ Tự trị và bị dư luận lên án, ông treo cổ tự tử ngày 10.11.1946

15 Sainteny, 231.

16 Jean Sainteny, Ho Chi Minh and His Vietnam: A Personal Memoir, trans­lated by Herma Briffault (Chicago: Cowles Book, 1972), 88.

17 Devillers, Histoire du Vietnam, 244.

18 Sainteny, Ho Chi Minh, 71.

19 Devillers, Histoire du Vietnam, 269.

20 Sainteny, Ho Chi Minh and His Vietnam, 92; Gary R. Hess, The United States’ Emergence as a Southeast Asia Power (New York: Columbia University Press, 1987), 201.

21 Duiker, 395-397.

5 phản hồi to “6181. Kỷ niệm 70 năm chiến tranh Việt-Pháp 19/12/2015: Ôn lại những biến cố đưa tới ngày “toàn quốc kháng chiến””

  1. […] 1) Ôn lại những biến cố đưa tới ngày “toàn quốc kháng chiến”. […]

  2. […] 1) Ôn lại những biến cố đưa tới ngày “toàn quốc kháng chiến”. […]

  3. […] 6181. Kỷ niệm 70 năm chiến tranh Việt-Pháp 19/12/2015: Ôn lại những biến cố đưa… […]

  4. […] (Đăng lại từ trang Ba Sàm) […]

  5. […] Source: 6181. Kỷ niệm 70 năm chiến tranh Việt-Pháp 19/12/2015: Ôn lại những biến cố đưa… […]

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: