BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

5472. Thách thức mới ở Biển Đông qua kỳ hội thảo

Posted by adminbasam trên 16/10/2015

TS. Đinh Hoàng Thắng

16-10-2015

H1

TS Đinh Hoàng Thắng tại buổi hội thảo. Ảnh của tác giả gửi tới

Chuyến bay VN0384 chở chúng tôi đáp xuống phi trường Haneda, Tokyo chính xác từng phút như ghi trong lịch trình. Trên đường về Khách sạn, người của Ban Tổ chức tranh thủ thông báo chi tiết hơn về Hội thảo kỳ này (so với kế hoạch đã gửi qua mail). Vẫn biết từ trước là Hội thảo 2 ngày, nhưng 2 ngày mà đến 6 buổi thì thật đúng là một “phong cách rất Nhật Bản”. Quá nghiêm cẩn, quá chỉnh chu và chương trình làm việc như vậy là cũng khá độ sộ! “Mưa rả rích mấy ngày nay, anh ạ…” Onuki Kamu nói tiếng Việt giọng nửa Nam nửa Bắc. “Tiếc là không được đón các anh vào mùa Anh Đào, phải chờ đến tháng Tư cơ, hy vọng các anh sẽ có dịp quay lại đúng vào kỳ hoa nở”. Thật thú vị khi bí mật đầu tiên được khai mở. Hóa ra bài ca trữ tình năm nào lại đến từ một tác giả Việt. Cứ ngỡ là của người Nhật. “Mùa Xuân sang có hoa Anh Đào, Màu hoa tôi trót yêu từ lâu…”. Mấy ai biết, đằng sau bản tình ca anh hát bằng cả lời Nhật là một “núi Phú Sỹ” về những vấn đề liên quan đến Biển Đông và quan hệ Việt-Nhật trong những ngày tới.

Nhật-Việt cần kết nối…

Trong quá trình hội luận, tôi may mắn được trao đổi nhiều lần với các GS. Kojima Takayuki và GS. Araki Kazuhiro đều là “những cây đa cây đề” về các vấn đề an ninh Đông Á. Câu chuyện xoay quanh nhiều “nút thắt” nóng bỏng. Các bạn nói, từ nay, chúng tôi quan tâm đến cả hai “Biển Đông”. Tới đây, Trung Quốc sẽ làm gì tiếp theo ở cả Hoa Đông lẫn Biển Đông? Bạn cho rằng, Nhật Bản và Việt Nam cần khẩn trương làm sâu sắc hơn nữa mối bang giao vừa được nâng cấp lên tầm mức quan hệ “đối tác chiến lược sâu rộng” để có thể ứng phó kịp thời với những diễn biến ngày càng căng thẳng do các bước leo thang ngày càng nguy hiểm của Trung Quốc. Các diễn giả đều nhận thức rằng, quan hệ Việt – Nhật đã trở nên bền vững hơn trong những năm qua, một phần chủ yếu là do hai bên có chung các mối quan ngại trước sự gây hấn ngày càng gia tăng của Trung Quốc. Trong khi đó, ở một số phương diện, quan hệ Việt – Mỹ vẫn còn đang phát triển tiệm tiến, chưa có đột phá như quan hệ Việt – Nhật nên có thể khiến Trung Quốc tin rằng họ có thể “tiếp tục bắt nạt Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác”. Thái độ quyết đoán này của Bắc Kinh một phần nằm trong chiến dịch tiếm quyền kiểm soát khu vực, nhưng họ tiến hành một cách ma mãnh, không ồn ào, để không dẫn đến phản ứng quá mạnh của các nước lớn trong vùng.

Các bạn Nhật cũng nhắc lại thời điểm tháng 5/2014, chỉ 3 ngày sau khi Tổng thống Obama kết thúc chuyến công du châu Á để trấn an các đồng minh thì Bắc Kinh đã gây ra cuộc khủng hoảng HD981, hạ đặt giàn khoan khủng bất hợp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Vấn đề đặt lên bàn là, sau các chuyến thăm sắp diễn ra của Chủ tịch Tập Cận Bình và của Tổng thống Obama, lần lượt dự kiến sẽ đến Hà Nội vào tháng 11 tới, và đặc biệt là sau Đại hội 12 của Đảng CSVN, liệu Trung Quốc có gây hấn đối với Việt Nam hay không? Nếu có thì sẽ tấn công trên bộ hay trên biển? Thật ra, chẳng ai có thẩm quyền để trả lời câu hỏi này, ngoài Bắc Kinh, nhất là khi các bạn Nhật lại đọc thấy những lời đe nẹt trực tiếp Việt Nam ngay trên chính các trang báo đảng của Trung Quốc! Một nguy cơ khác, bạn không phát biểu công khai, nhưng luôn ẩn hiện trong các câu hỏi, các lời bình, đó là việc Trung Quốc đang cố “khua chiêng gõ mõ” về một mô hình “quan hệ cường quốc kiểu mới” với Hoa Kỳ. Cái gọi là mô hình mới này, theo các diễn giả Nhật, thực chất là việc Trung Quốc muốn thỏa hiệp với Mỹ trong một số vấn đề lớn, để “nuốt trọn Biển Đông”. Bằng cách nào? Trung Quốc muốn Mỹ đừng dính dáng gì đến đường lưỡi bò hay còn gọi là đường “đứt khúc 9 đoạn”, mà hãy để mặc cho Trung Quốc múa gậy vườn hoang, xử lý các nước nhỏ và yếu trong khu vực. Vậy liệu cái “tinh thần Thượng Hải” quyết “bán đứng Việt Nam” như năm nào sẽ được lặp lại theo gợi ý của chiến lược gia Bresinsky? Người Nhật không mấy tin vào cái giả thuyết sặc mùi con buôn này.

Và cái chính là, với lý trí lành mạnh, Hoa Kỳ khó có thể chấp nhận cái chính sách sẽ làm tổn hại đến vị thế cường quốc số một của mình; quan trọng hơn, làm mất đi một trong những đòn trục để “tái cân bằng”, đó là hệ thống các đối tác truyền thống (gồm các liên minh xưa nay) và cả những đối tác mới nổi (như Việt Nam). Dù bị cuốn hút vào các hồ sơ khác như Syria hay Ukraina, chính quyền Obama vẫn không quên thúc đẩy chính sách “xoay trục” qua vùng châu Á-Thái Bình Dương, một trong những hướng chủ yếu trong nền chính trị đối ngoại của Hoa Kỳ hiện nay. Các hoạt động ngoại giao ráo riết bên lề khóa họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã diễn ra cuối tháng 9 vừa qua cho thấy, Hoa Kỳ đang tăng cường quan hệ kinh tế và chiến lược với Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ. Hai sự kiện hiếm hoi liên quan đến bang giao giữa Mỹ với Á châu diễn ra gần như đồng thời vào ngày 29/9 tại New York. Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, đã siết chặt hàng ngũ cùng hai đồng nhiệm Nhật Bản Fumio Kishida và Hàn Quốc Yun Byung Se, trong một cuộc họp tay ba hy hữu giữa các đồng minh quân sự này. Ông Kerry còn có một cuộc họp khác với hai Ngoại trưởng Nhật Bản và Ấn Độ; cuộc bắt tay ấy cũng chưa từng có, được giới thiệu như là “những cuộc hội ngộ giữa các nền dân chủ lớn của thế giới”. Và đến giờ này, sau khi phối hợp hoạt động giữa Hạm đội 3 với Hạm đội 7, triển khai thêm 30.000 thủy quân lục chiến đến Hawaii, thông báo cho đồng minh về kế hoạch tuần tra hải quân ở Trường Sa, có thể thấy rằng các bạn Nhật nói đúng, người Mỹ không hề tuyên bố suông!

Nghe cả tiếng nức nở

Hội trường Shintobe của Đại học Takushoku quy tụ hơn 300 khách mời, bao gồm các giáo sư, giảng viên và phần lớn là sinh viên các khóa master của Học viện Quốc tế từ Đại học Takushoku và các trường đại học bạn. Các sinh viên quốc tế học Nhật Bản rất coi trọng đến an ninh “phi truyền thống” trong nghiên cứu về khu vực và nhân tố con người trong nghiên cứu về phát triển toàn cầu. “Đằng sau các vận động chính trị lớn không bao giờ được quên nhân tố con người”. Lão Giáo sư Hasegawa Michiko từ Đại học Saitama nói với tôi sau khi ông hoàn thành xuất sắc bản báo cáo dẫn đề tại Hội thảo. Nói đến con người Nhật Bản thì không thể không nói đến văn hóa và giáo dục, mà tôi chú ý nhất là văn hóa chính trị và giáo dục quốc tế học. Buổi gặp gỡ các nghị sỹ và dân biểu từ Thủ đô Tokyo và hàng chục đơn vị bầu cử từ các địa phương lên nghe chúng tôi nói chuyện là một bài học nhớ đời đối với bản thân. Ngày 18/9, khi chúng tôi đang ở trong Tòa nhà Quốc hội, ước tính hơn cả ngàn người đang thực sự “bao vây” tòa nhà vừa cổ kính vừa hiện đại ấy, dưới trời mưa tầm tã. Những người biểu tình phản đối dự luật cho phép Lực lượng Phòng vệ (SDF) tham chiến khi có xung đột đe dọa đến an ninh của cả Nhật lẫn Mỹ. Mấy mươi năm trước đây, ông ngoại của Thủ tướng Abe bây giờ cũng đã muốn sửa đổi điều 9 của Hiến pháp Nhật liên quan đến vấn đề này, nhưng ngày ấy, cử tri Nhật không đồng ý. Bây giờ số người phản đối dự luật vẫn còn đông, nhưng ông Abe đã thành công. Ông thành công không chỉ bằng lá phiếu ở Quốc hội, vì Liên minh cầm quyền chiếm đa số ở cả Hạ viện lẫn Thượng viện. Dự Luật đã biến thành Luật, ông Abe vẫn không ngơi nghỉ các nỗ lực thuyết phục những người chống đối bằng nền văn hóa dân chủ. Chính ông cũng thừa nhận, chính quyền ngay từ đầu, thực sự chưa giải thích thấu đáo dự luật này cho người dân.

Trở lại với các khảo luận của Giáo sư Ari Nakano, dường như các bài viết ấy của chị chỉ được đăng tải trên báo chí Nhật Bản và nước ngoài. Tôi tìm trong Google, tuyệt nhiên không thấy có bài “Những câu hỏi về quan hệ Việt-Nhật” trên truyền thông Việt Nam. Có lẽ nền “ngoại giao văn hóa” của ta còn phải phấn đấu nhiều hơn nữa. Phải chăng đã đến lúc nên giã từ cái thời ngoại giao thiên về ngợi ca một chiều, nặng về sáo rỗng bề ngoài, thiếu chiều sâu cần có? Dân gian ta từng truyền khẩu “Mồm tuyên giáo, áo ngoại giao” có sai không nhỉ? Thật nguy hiểm, nếu ta cứ hành xử mà thiếu nghiên cứu một cách rốt ráo văn hóa sở tại; nhất là ở miền đất mà tinh thần “võ sỹ đạo” vốn là một giá trị cốt lõi từ bao đời nay, đã bồi đắp, vun xới và làm nên một nước Nhật huy hoàng khiến cả thế giới từ Âu sang Á đều phải ngưỡng mộ, đều phải kính nể. Tiến sĩ Ari Nakano là Giáo sư của Trường Đại học Daito Bunka, từng là nghiên cứu sinh tại Đại học Keio và đoạt bằng Tiến sĩ tại đấy. Các lĩnh vực chuyên sâu của chị là Chính trị, Ngoại giao và Nhân quyền ở Việt Nam. Năm nào chị cũng xuống tận các tỉnh thành để trao đổi với chuyên gia của ta về các vấn đề liên quan đến Việt Nam. Chị đã đi nhiều nơi, phỏng vấn nhiều người ở các làng làm nông nghiệp tại các tỉnh Đắc Nông và Lâm Đồng, nơi các nguồn bô xít đang được khai thác, nhưng chị không thấy những người cư dân nơi đây đã được giải thích rõ ràng về khai thác bô xít, hay xây dựng và mở rộng các nhà máy tinh luyện alumina. Chị ghi lại một sự thật mà chị cho là đau lòng, chẳng mấy ai biết gì hơn về các kế hoạch “giải phóng” đất, chuyện đền bù, v.v… Mặc dù những người dân các làng ấy đều đã gửi đơn tới các công ty và các cơ quan công quyền nói về những thiệt hại về môi trường mà họ phải gánh chịu. Xin được nói thêm, GS-TS. Ari Nakano cũng chính là dịch giả “Nỗi buồn Chiến tranh” của Bảo Ninh.

Phải động viên được dân

Giảng viên Odoka Tai còn khá trẻ, anh từng 15 lần bỏ tiền túi đi lại giữa Tokyo—Hà Nội—Lạng Sơn, phỏng vấn trực tiếp các nhân chứng sống còn sót lại từ cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Sỡ dĩ anh đi liên tục trong vội vàng, vì theo anh, các nhân chứng sống ấy ngày càng ít đi. Anh lo với thời gian và cung cách ở Việt Nam hiện nay, mọi chuyện dễ rơi vào quên lãng. “Quên sự đóng góp của người dân, sau này động viên họ sẽ rất khó”. Anh chia sẻ với chúng tôi các ưu tư đối với thân phận những người gắn đời mình với cả một giai đoạn bi tráng của lịch sử Việt-Trung, anh quan tâm nhiều đến việc làm thế nào để khi hữu sự phải động viên được người dân. Liên quan đến chủ đề thảo luận, anh tìm hiểu khá kỹ tương quan giữa P&D, tức là tương quan giữa nỗ lực kiến tạo hệ thống các đối tác chiến lược của Việt Nam (Partnership) với việc thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa bên trong đất nước (Democratization). Vâng, tại Quốc hội cũng như ở hội trường lớn, chúng tôi đã giải thích rất rõ ràng, để quản trị được các căng thẳng trên Biển Đông, đối với Việt Nam, ngoài khâu chuẩn bị “sức mạnh cứng”, việc xây dựng “sức mạnh mềm” là hết sức cần thiết. Mô hình “P&DOWN”* ra đời từ bối cảnh ấy. Hẳn nhiên, P&D cần được đặt trên nền tảng của ba trụ cột “tương sinh, tương hỗ” khác là Luật pháp – Truyền thông – Kết nối (O—W—N). Đúng là cuộc chiến luật pháp và truyền thông giờ đây đã trở nên thời sự hơn bao giờ hết, khi mà cả hai nguyên thủ Việt Nam và Trung Quốc, tại Liên Hợp Quốc đã công khai “phản đòn” nhau trước công luận quốc tế. Lần đầu tiên ông Tập tuyên bố: “Quần đảo Tây Sa và Nam Sa (chỉ Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam) là thuộc chủ quyền của Trung Quốc từ thời cổ đại xa xưa”!? Chủ tịch Trương Tấn Sang đã thay mặt triệu triệu con tim người Việt ở trong nước và khắp mọi góc bể chân trời, kịp đáp trả: “Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thực sự thuộc về Tổ quốc Việt Nam chúng tôi”. Chủ tịch Trương Tấn Sang nói tiếp: “Phía Trung Quốc trong những lần gặp gỡ phía Việt Nam thường nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của họ, không có gì phải tranh cãi. Phía Việt Nam cũng khẳng định lại rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của tổ tiên Việt Nam chúng tôi, không thể tranh cãi”.

Tại những buổi tiếp xúc với các nghị sỹ, dân biểu Nhật Bản trong Tòa nhà Quốc hội (Diet), các khía cạnh luật pháp quốc tế đã được nhiều diễn giả mổ sẻ kỹ lưỡng. Không ít nghị sỹ và dân biểu nêu câu hỏi, tại sao đến giờ này, Việt Nam vẫn chưa đưa Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế, trong khi các chứng cứ về pháp lý ủng hộ các bạn? Có nghị sỹ còn so sánh Nhật Bản, Philipinnes với Việt Nam, tìm nguồn gốc chung gây ra những căng thẳng trên cả Hoa Đông lẫn Biển Đông. Các bạn Nhật khá tâm đắc với mô hình có cách phát âm na ná như hai từ “Bí Đao” trong tiếng Việt, để chỉ “P&DOWN” là 5 chữ cái trong tiếng Anh. Lúc đầu bạn nhầm tưởng là một pe-rơ-đam từ Hoa Kỳ hay của ASEAN. Đến khi biết đấy là sáng kiến do nhóm chúng tôi đưa ra, bạn chủ động đề xuất, tới đây nên tiếp tục hợp tác nghiên cứu giữa Viện Quốc tế Takoshoku với Viện Văn hóa Biển hay với Viện các Vấn đề Phát triển. Bạn có ý tưởng muốn mở rộng pe-rơ-đam này thành một mô thức có thể áp dụng để góp thêm phần quản lý căng thẳng trên cả Hoa Đông lẫn Biển Đông (ECS và SCS). Bạn cũng rất quan tâm đến các dự án “Chương trình minh triết bảo vệ Biển Đông”, “SEA-SEA-FORUM” (Diễn đàn Biển Đông Nam Á). Biết là để Liên Hợp Quốc chấp thuận đổi tên Nam Hải thành Biển Đông Nam Á còn mất thời gian dài dài. Nhưng để lãnh đạo Trung Quốc khỏi ngộ nhận Biển Đông (Nam Trung Hoa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc vì có chữ “Hoa” trong đó (!), trước mắt, nên đẩy mạnh dự án này ra toàn khu vực và thế giới…

Đinh Hoàng Thắng (Tokyo—Hà Nội, Thu 2015)

_____

*Xem thêm về mô hình “P&DOWN”: Sáng kiến “5 chữ cái” cho vấn đề Biển Đông (Infonet).

Định chế hóa các nỗ lực trước SREB [Đối phó với “Con đường tơ lụa” bằng Pe-rơ-đam[1] “P&DOWN” (VHNA).

_____

Chúng tôi xin giới thiệu hai bài thuyết trình của TS Đinh Hoàng Thắng tại kỳ Hội thảo trong hai ngày 18 và 19/9 ở Tokyo:

Căng thẳng Biển Đông với quan hệ Việt-Trung và Việt-Nhật hiện nay

Đinh Hoàng Thắng

– Bài viết đánh giá các diễn tiến mới nhất của Trung Quốc trên Biển Đông và tác động của chúng đối với quan hệ Việt-Trung và Việt-Nhật. Sự hình thành cục diện hiện nay trên Biển Đông (SCS) và Biển Hoa Đông (ECS) có liên quan đến sự trỗi dậy ‘không hòa bình’ của Bắc Kinh. Nội dung gồm 3 phần. Phần đầu chú trọng tới hai chuỗi sự kiện mới nhất trên SCS nhìn từ quan hệ Việt-Trung. Phần thứ hai trình bày ảnh hưởng của căng thẳng hiện nay ở SCS và ESC đối với bang giao Việt-Nhật. Phần thứ ba phân tích hệ lụy của căng thẳng SCS và ESC đối với liên hệ an ninh Mỹ-Nhật và hợp tác an ninh nói chung.

I. Việt – Trung: Bấp bênh và căng thẳng

– Hiệu ứng xã hội do việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD981 và bồi đắp 8 đảo đá trên Biển Đông đang tạo nỗi lo ngại về chiến tranh. Đề tài này đã bắt đầu được đề cập trong các tính toán chính sách, tại các diễn đàn ngoại giao và cả trong các tranh luận ngoài đường phố giữa người dân với nhau.

Các chuỗi hành động hai năm qua của Trung Quốc trên SCS nói lên: 1) Tính phi pháp và thái độ bất nhất của Trung Quốc; 2) Đặc điểm này đến lượt nó càng tô đậm thêm tính đa diện/đa chiều trong quan hệ Việt-Trung và 3) Tính phức hợp, đa tầng nấc của xung đột hiện nay rất dễ dẫn đến các tình huống bất ngờ và mỗi bên đều khó kiểm soát.

1) Tính phi pháp và thái độ bất nhất:

– Những nhận thức sau đây là phổ biến trong mọi giới ở Việt Nam: Trung Quốc tiếp tục xâm phạm độc lập, chủ quyền của Việt Nam bằng cách tiến hành xây dựng chủ quyền giả tạo, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Luật biển Liên Hiệp Quốc (UNCLOS), phá hoại DOC, trì hoãn và đẩy lùi COC[1].

– Năm 2012, Trung Quốc công bố một clip về biến cố Gạc Ma (14/3/1988)[2] cho thấy một sự thật khác hẳn với những tuyên bố 24 năm trước đó của họ. Trong clip này, từ đầu đến cuối, chỉ có duy nhất một bên nổ súng. Trung Quốc với sự vượt trội thể hiện rõ qua quy mô tàu chiến, sự trang bị của hải quân cũng như sự sắt máu của binh lính thể hiện trong clip đã đơn phương sử dụng vũ lực tấn công bộ đội Việt Nam bằng hàng loạt đạn pháo liên tục với cường độ lớn. Việt Nam ở thế bị động hứng chịu sự tấn công liên tục từ Trung Quốc.

– Giờ đây, để đáp trả lại những tố cáo về bồi lấp đảo, Trung Quốc biện minh rằng đây chỉ là các hoạt động cải tạo đất (land reclamation) không trái với luật quốc tế. Trung Quốc đang cố gắng tái định nghĩa thuật ngữ “cải tạo đảo” theo lợi ích của Trung Quốc. Trung Quốc không hề cải tạo từ những thứ sẵn có. Họ đang xây dựng những hòn đảo nhân tạo mới ngay giữa Biển Đông.

– Ngoài ra, Trung Quốc cũng tung hỏa mù của cái gọi là “các hoạt động nhân đạo” hoặc “các công việc vì lợi ích chung” để khỏa lấp đi những hành động phi pháp của mình. Người phát ngôn Trung Quốc Hoa Xuân Oánh nói rằng các công trình mà vệ tinh chụp được là tàu cứu hộ, khảo sát hiện trường hàng hải, hỗ trợ ngư nghiệp “không chỉ cho Trung Quốc mà cho cả các nước láng giềng”[3].

2) Tính đa diện/đa chiều trong quan hệ Việt-Trung:

– Biển Đông chưa phải là mảng trở ngại nhất trong bang giao hai nước. Trao đổi với nhà nghiên cứu Việt Phương, nguyên Trợ lý lâu năm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông Cố vấn cho rằng Biển Đông chỉ là một trong 8 mảng trở ngại của mối quan hệ song phương[4]. Bảy mảng còn lại bao gồm: i) Lấn chiếm các đường biên giới giữa hai cột mốc ở các tỉnh phía Bắc; ii) Xâm nhập/mua chuộc cán bộ cấp cơ sở ở các tỉnh giáp ranh, gây sức ép đối với nội bộ Việt Nam; iii) Dựng lên trận đồ “bát quái” để khi cần thì tấn công Việt Nam[5]; iv) Nhập siêu lớn trong thương mại giữa hai nước; v) Chiếm giữ các địa bàn chiến lược-an ninh trọng yếu trên khắp cả nước; vi) Đàm phán Vịnh Bắc Bộ; vii) Hệ lụy từ các thỏa thuận Thành Đô.

3) Tính phức hợp của các xung đột:

– Tranh chấp Biển Đông hiện đang diễn ra ở ba tầng nấc liên quan và tác động lẫn nhau[6]. Ở tầng trong cùng, cuộc tranh chấp là sự cạnh tranh, đối đầu giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á có yêu sách lãnh thổ ở Biển Đông, bao gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Brunei. Tuy nhiên, tranh chấp Việt-Trung là phức tạp nhất. Bởi vì, bên cạnh giá trị kinh tế và chiến lược, Biển Đông còn có những giá trị tượng trưng rất lớn đối với cả hai. Xung đột và quyền lợi trong khu vực này đã làm cho SCS trở thành một biểu tượng lớn cho căn cước của mỗi nước.

Tầng giữa của tranh chấp Biển Đông liên quan đến sự đối đầu giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á với tư cách là một khối, cụ thể là ASEAN. Mặc dù không phải tất cả các nước ASEAN đều liên quan đến tranh chấp nhưng bản thân ASEAN có lợi ích trong việc giải quyết thành công cuộc tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan với Trung Quốc nhằm bảo đảm hòa bình, an ninh, tự do hàng hải trong khu vực cũng như vị thế chính trị của ASEAN. Ở đây có sự đan xen các lợi ích kinh tế, an ninh và chiến lược nên tranh chấp ở tầng này là hết sức phức tạp. Bản thân các nước ASEAN không liên quan trực tiếp tới tranh chấp cũng có những lập trường khác nhau trong việc xử lý tranh chấp với Trung Quốc.

Tầng ngoài cùng là phạm vi khu vực cũng như toàn cầu, có Mỹ và một số cường quốc bậc trung khác mặc dù không phải là các bên trực tiếp tham gia tranh chấp. Tham vọng quá mức cũng như sự ngang ngược ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông, vốn đe dọa hòa bình và ổn định của khu vực, đã mang lại cho Mỹ và các cường quốc bậc trung này một lý do chính đáng để can dự vào cuộc tranh chấp. Giờ đây, Mỹ nhận ra “quan hệ cường quốc kiểu mới” là một cái bẫy của Trung Quốc. Những gì Trung Quốc muốn không phải là một loại quan hệ kiểu mới mà là sự thừa nhận của Mỹ đối với các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc[7].

II. ViệtNhật: Bền bỉ và mạnh mẽ

– Cách đây hai năm, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã phát biểu trước Quốc hội (Diet) Nhật Bản: “Sự tin cậy về chính trị, sự tương đồng và gắn kết về văn hóa giữa hai dân tộc cũng như thành quả đầy ấn tượng của hợp tác bền bỉ trong suốt 40 năm qua là nền tảng vững chắc và động lực mạnh mẽ để đưa quan hệ song phương tiếp tục phát triển lên một tầm cao mới, hướng tới tương lai tốt đẹp của mối quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng. Nhân dân Việt Nam có một niềm tin sâu sắc rằng quan hệ giữa hai nước chúng ta sẽ ngày càng được củng cố, phát triển cả về chiều rộng diện và chiều sâu. Điều này sẽ không chỉ phục vụ lợi ích của nhân dân hai nước, mà còn là đóng góp quan trọng vào việc bảo đảm hòa bình, ổn định, hợp tác và phồn vinh ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương”[8].

1) Việt Nam và Nhật Bản ủng hộ các chính sách nền tảng của nhau:

– Chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi Thủ tướng Abe trở lại nắm quyền là Việt Nam khi ông sang thăm Hà Nội tháng 1/2013. Tháng 12/2013, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, sau đó đến tháng 3/2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sang thăm Nhật. Như vậy là trong vòng chỉ hơn một năm hai nước đã có ba chuyến thăm cấp cao. Và tới đây, TBT Nguyễn Phú Trọng thăm Nhật Bản. Lãnh đạo hai bên đã/sẽ bàn về an ninh và các vấn đề khác ở Châu Á khi Trung Quốc đang ngày càng mạnh bạo/quyết đoán hơn (more assertiveness) trên SCS và ECS.

– Một trong những biểu hiện mới nhất và nổi bật nhất của quan hệ song phương là hai Thủ tướng Việt-Nhật đã trao đổi ý kiến sâu rộng và đạt nhất trí cao về những phương hướng lớn và các biện pháp cụ thể để làm sâu sắc hơn nữa quan hệ, nhân Hội nghị cấp cao Mekong-Nhật Bản đầu tháng 7/2015. Thủ tướng Shinzo Abe đã cam kết xem xét đề nghị của Việt Nam về việc duy trì và tăng quy mô hỗ trợ “Chiến lược phát triển Công nghiệp hóa” của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt-Nhật hướng đến 2020, tầm nhìn 2030. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ việc Việt Nam ủng hộ “Chủ nghĩa hòa bình tích cực” của Nhật Bản.

– Việt Nam và Nhật Bản đã và đang đổi mới chính sách đối nội và đối ngoại để thích ứng với môi trường chiến lược mới. Đối với Nhật Bản là vấn đề điều 9 của Hiến pháp (kéo dài 20 năm nay) còn đối với Việt Nam là chính sách “hội nhập toàn diện” (Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị ĐCS Việt Nam).

2) Triển vọng hợp tác ba bên giữa Mỹ, Nhật Bản và Việt Nam:

– Một trong những lợi ích của Nhật Bản ở Biển Đông bắt nguồn từ sự phụ thuộc vào đường hàng hải trong khu vực và sự lựa chọn trật tự do Mỹ dẫn đầu. Nếu Trung Quốc chế ngự điểm nút này, sẽ có sự tùy tiện làm tắc nghẽn khoảng 60 % nguồn cung cấp năng lượng của Nhật Bản. Trung Quốc còn nuôi tham vọng thay thế Hoa Kỳ để lãnh đạo trật tự mới. Một trật tự khu vực do Trung Quốc dẫn đầu chắc chắn không phải là lý tưởng đối với Nhật so với trật tự hiện nay.

– Nhưng Nhật Bản, kể cả khi kết hợp lực lượng với Việt Nam lẫn Philippines, liệu có đủ năng lực để cân bằng với Trung Quốc hay không? Đây là một câu hỏi cần nghiên cứu kỹ hơn. Vai trò có thể là có hiệu quả nhất của Nhật Bản trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông là tạo điều kiện cho một liên hệ giữa Hoa Kỳ, Việt Nam, Philippines và các nước khác cùng chia sẻ lợi ích chung trong việc hạn chế các hoạt động phi pháp của Trung Quốc, duy trì môi trường hòa bình trong khu vực.

– Theo các chuyên gia về Đông Nam Á, triển vọng hợp tác của tam giác Mỹ-Nhật-Việt ngày càng khá rõ[9]. Căng thẳng Biển Đông đang trở thành cơ hội để ba nước Mỹ-Nhật-Việt Nam xích lại gần nhau. Theo đó, cơ hội hợp tác này đã nhen nhóm trong vài năm trở lại đây. Cơ hội này đang ngày càng lớn hơn khi Mỹ tuyên bố chính sách xoay trục châu Á – Thái Bình Dương và đang có những bước đi cụ thể hướng về khu vực.

– Inspirations của liên kết mới này được phản ánh qua keynote address của Prime Minister Abe when he stated: “And just for Japan to seek a win-win synergy with the Asia–Pacific region, my economic policy is now advancing at full throttle. If you imagine how vast the Pacific and Indian oceans are, our potential is exactly like the oceans, i.e., limitless, isn’t it? In order to have the generations of our children and our children’s children share in this bounty, it’s absolutely imperative that we make peace and stability something absolutely rock solid”[10].

– Cũng tại Đối thoại Shangri-La 2015, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã công khai bày tỏ ủng hộ đối với Việt Nam và Philippines, nhấn mạnh, trong tranh chấp liên quan đến chủ quyền Biển Đông, Nhật Bản sẽ dành sự “hỗ trợ tối đa” cho các nước Đông Nam Á trên phương diện an toàn hàng hải và an toàn bay, bao gồm sẽ cung cấp viện trợ quân bị và kỹ thuật liên quan như tàu tuần tra trên biển cho hai nước Philippines và Việt Nam[11].

– Tuy nhiên, về mặt cấu trúc, trong tam giác Mỹ-Nhật-Việt, “cạnh đáy” Mỹ-Nhật quá mạnh, nên bên cạnh mặt thuận cũng có những thách thức không nhỏ, bắc cầu khoảng cách không hẳn là một việc dễ dàng. Theo đuổi các thỏa thuận với Việt Nam có thể bổ sung cho các thách thức đó, nhưng có điều, Việt Nam không phải là đồng minh của Mỹ, Nhật Bản như Philippines hay Australia. Mặt khác, Việt Nam cũng phải vượt qua một loạt các khó khăn riêng trong mối quan hệ với hai nước lớn là Mỹ và Trung Quốc.

III. SCS và ECS đối với hợp tác an ninh  

– Căng thẳng trên SCS và ECS có tác động rất nhiều mặt. Việc Trung Quốc ngày càng quyết đoán hơn trong chính sách tại hai vùng biển này đang thách thức an ninh của khu vực nói chung và an ninh hàng hải nói riêng. Các nước đều hiểu rằng để ứng phó, ngoài tăng cường sức mạnh nội tại của quốc gia, việc phát huy các chất lượng chiến lược với đối tác có chung vấn đề sẽ tạo thêm nguồn lực cần thiết để hóa giải thách thức. Đối tác đó không ai khác là Nhật Bản.

1) Sửa đổi Hiệp ước an ninh:

– Ngày 28/4/2015, Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật lại được sửa đổi để đối phó với sự bành trướng của Trung quốc ở Biển Hoa Đông và Biển Đông. Khác với hai lần trước, lần này Mỹ và Nhật không chỉ giới hạn trong việc phòng thủ lãnh thổ và lãnh hải của Nhật mà còn có những điều cụ thể khác. Trước ý đồ của Bắc Kinh muốn thay đổi hiện trạng ở SCS và ECS, Nhật Bản quyết sửa đổi phương thức phòng thủ. Mục tiêu chính của việc sửa đổi lần này là nhằm đối phó với các giàn hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử của Trung quốc.

– Khác với Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) hay Hiệp ước an ninh Mỹ-Hàn, trước đây Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật không có một Bộ chỉ huy hỗn hợp. Trong lần sửa đổi này, Hiệp ước cho phép lập ra một hệ thống điều hành như Bộ chỉ huy hỗn hợp để có thể đối ứng kịp thời khi hữu sự. Đương nhiên Bắc Kinh lên tiếng phản đối kịch liệt việc sửa đổi Hiệp ước lần này.

2) Hợp tác an ninh hàng hải:

– Từ sự quyết đoán của các nước lớn trong khu vực, các quốc gia như Việt Nam, Philippines và các thành viên khác của ASEAN có thể phải suy nghĩ lại về một cách tiếp cận chủ động hơn xung quanh vấn đề Biển Đông, đặc biệt liên quan đến hợp tác an ninh hành hải. Trong hợp tác này, Nhật Bản là nước duy nhất có đủ khả năng để hỗ trợ cho Việt Nam và Philippines những trang bị kỹ thuật nhanh nhất, kịp thời nhất cho việc đảm bảo an ninh hàng hải. Điều này cũng phù hợp với chiến lược lâu dài của Nhật Bản trong khu vực.

“Tuyên bố Chiến lược Tokyo 2015 về hợp tác Mekong-Nhật Bản” (tháng 7/2015) khẳng định tầm quan trọng của việc hợp tác chặt chẽ hơn để đảm bảo an ninh an toàn hàng hải; nhấn mạnh việc cần phải thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử của các bên tại Biển Đông (COC)[12].

– Để vượt qua bối cảnh địa chính trị phức tạp và bấp bênh ở khu vực, ASEAN cần một cuộc cách mạng về tư duy trong việc nhìn nhận và đánh giá lại các mối quan hệ quốc tế và chiến lược an ninh. Trước nhiều thách thức chung, đặc biệt là an ninh hàng hải, việc củng cố quan hệ Việt Nam-Nhật Bản-Philippines về cả chính trị, quân sự lẫn pháp lý là một biểu hiện rõ rệt nhất của nhận thức này. Mới đây nhất, việc triển khai quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam-Malaysia cũng không nằm ngoài xu thế chung ấy.

KẾT LUẬN:

– Nhật-Mỹ là một “liên minh của hy vọng”[13]. Đấy là “cạnh đáy”, nói cách khác, là nền tảng cho tam giác cân Việt-Nhật-Mỹ. Do tương quan chung, ba chiều kích không thể trở thành tam giác đều. Nhưng từ tam giác cân này, quan hệ Việt-Nhật-Mỹ tương lai liệu có thể quy về một trục hay không khi mà mỗi cặp quan hệ này đều trở thành các quan hệ “đối tác chiến lược sâu rộng” hoặc “đối tác chiến lược toàn diện” của nhau? Cấu trúc kinh tế và an ninh bộ ba này có phải là một thiết kế lý tưởng để cả ba có thể ứng phó với các thách thức truyền thống và phi truyền thống, đặc biệt là đối phó với căng thẳng SCS và ECS hiện nay và tương lai? Đây là những đề tài cần nghiên cứu kỹ lưỡng.

– Với Việt Nam, biển đảo bị chiếm không thể là biển đảo bị mất. Các diễn tiến mới nhất trên Biển Đông nhìn từ quan hệ Việt-Trung là khá tiêu cực. Các diễn tiến ấy cũng khiến cho các nhà ngoại giao cấp cao Nhật Bản và ASEAN gần đây phải nhóm họp để thảo luận về việc thúc đẩy hợp tác an ninh hàng hải. Không chỉ Việt Nam, mà tất cả các nước trong/ngoài khu vực đều có trách nhiệm cảnh báo và ngăn chận thảm họa. Trong sứ mệnh này, một quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn giữa Nhật và ASEAN có vai trò không thể thay thế trong việc mang lại hòa bình và công lý cho cả Biển Đông lẫn Biển Hoa Đông./.

____

[1] http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&id=12053:tbtdhtqt-25715&catid=178:ctbnttieudiem&Itemid=339

[2] “China vs Vietnam: Johnson South Reef Skirmish of 1988”, tại địa chỉ https://www.youtube.com/watch?v=uq30CY9nWE8 truy cập ngày 7/7/2015

[3] BBC tiếng Việt, “Trung Quốc bác bỏ lời của Obama” . Xem thêm tại địa chỉ: http://www.bbc.com/vietnamese/world/2015/04/150410_china_defends_reclamation truy cập ngày 7/7/2015

[4] Tác giả trao đổi với ông Việt Phương ngày 20/7/2014 về những trở ngại hiện nay trong quan hệ Việt-Trung

[5] Xem thêm: Tô Văn Trường: “Mê lộ bát quái” của Trung Quốc

[6] http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/86221/viet-nam-giua-ba-tang-tranh-chap-bien-dong.html

[7] Bài phỏng vấn T Alexander Vuving về Biển Đông và quan hệ Mỹ – Trung Quốc

[8] http://www.vietnamplus.vn/chu-tich-nuoc-phat-bieu-truoc-quoc-hoi-nhat-ban/249346.vnp

[9] http://thediplomat.com/2015/06/the-future-of-us-japan-vietnam-trilateral-cooperation/

[10] https://www.iiss.org/en/events/shangri%20la%20dialogue/archive/2014-c20c/opening-remarks-and-keynote-address-b0b2/keynote-address-shinzo-abe-a787

[11] http://thediplomat.com/2015/06/the-future-of-us-japan-vietnam-trilateral-cooperation/

[12] http://baochinhphu.vn/Thu-tuong-du-Hoi-nghi-cap-cao-MekongNhat-Ban/Hoi-nghi-cap-cao-MekongNhat-Ban-Thong-qua-Chien-luoc-Tokyo-2015/230807.vgp

[13] Shinzō Abe: “Toward an Alliance of Hope” Project Syndicate, 1/5/2015 http://www.project-syndicate.org/commentary/japan-us-alliance-asia-stability-by-shinzo-abe-2015-05

____

P&DOWN – Giải pháp cả gói cho Biển Đông

Đinh Hoàng Thắng

Để có được một nền hòa bình và công lý cho Biển Đông, việc tạo thế liên lập với Mỹ, Trung, Nhật và các nước trong/ngoài khu vực là hết sức thiết yếu. Nhưng quan trọng không kém là, Việt Nam cần theo đuổi một mô thức vừa đặc thù vừa phổ quát. Đặc thù, vì trước hết phải dựa vào sức mình là chính, nhưng cần phổ quát hóa để mô thức ấy có sức lan tỏa, được sự hỗ trợ từ chiến lược của các nước có cùng lợi ích ở Biển Đông. Ý đồ của Trung Quốc trên Biển Đông chắn chắn là một phức tạp kéo dài, để đối phó, cần xây dựng một thế trận như một “giải pháp cả gói”, có thể đặt tên là pe-rơ-đam “P&DOWN”. Đây là một tập hợp gồm năm chữ cái trong tiếng Anh[1], mỗi chữ cái tiêu biểu cho một biện pháp, cụ thể là: 1) Tăng cường hệ thống đối tác với bên ngoài (Partnership); 2) Đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa (Democratisation); 3) Kết hợp cuộc chiến pháp lý với cuộc chiến truyền thông (COC); 4) Minh triết trong việc tạo thế quân bình giữa các nước lớn (Wisdom) và 5) Tận dụng tối đa mạng lưới tự do hóa thương mại khu vực lẫn toàn cầu (Networking) để ra với thế giới[2].

1) Tăng cường vai trò các “đối tác chiến lược”, “đối tác toàn diện” trong chính sách đối ngoại và an ninh (P là Strategic Partnership)

– Việt Nam hiện có 15 “đối tác chiến lược”[3]. Tuy nhiên, “Đối tác chiến lược toàn diện” là Trung Quốc lại là mối đe dọa thường trực, khi công khai, khi tiềm tàng. Trong khi đó, “đối tác chiến lược” lên tiếng mạnh mẽ nhất, quyết liệt nhất, không chỉ có Quốc hội, Chính phủ ra tuyên bố, mà đích thân cá nhân Thủ tướng cũng đã lên án hành động ngang ngược của Trung Quốc xâm phạm độc lập, chủ quyền của Việt Nam. “Đối tác chiến lược” đó chính là Nhật Bản.

– Trước tình hình khu vực và quốc tế phức tạp như hai năm qua, Việt Nam đang tìm mọi cách tăng cường khả năng phòng thủ/ngăn chặn, vận động dư luận không cho Trung Quốc lấn chiếm tiếp và không để Trung Quốc dùng các căn cứ trá hình để kiểm soát/khống chế các đảo của mình. Không một nhiệm vụ nào trong các nhiệm vụ cấp bách này Việt Nam có thể thực thi đơn độc, một mình.

– Ngoại trưởng Mỹ Kerry nói trong một bài phát biểu trước giới lãnh đạo dân sự và kinh doanh tại một khách sạn Hà Nội ngày 7/8/2015[4]: “Những tiến bộ về nhân quyền và chế độ pháp trị sẽ tạo nền tảng cho một chiến lược sâu sắc hơn và bền vững hơn cho quan hệ đối tác chiến lược giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Chỉ có quý ông mới có thể quyết định tốc độ và hướng của tiến trình xây dựng quan hệ đối tác này. Nhưng tôi chắc chắn các ông đã nhận thấy rằng Mỹ quan hệ đối tác gần gụi nhất trên thế giới là với các nước có chung một cam kết với một số giá trị nhất định”.

– Tất cả triết lý an ninh thời chiến tranh Lạnh, do những đảo lộn nhanh chóng của tình hình, đã được thay thế bằng đường lối “đa dạng hóa, đa phương hóa” và “hội nhập toàn diện”[5]. Hệ thống “đối tác chiến lược” hay “đối tác toàn diện” thực chất phản ánh xu thế tiến tới các hình thức liên minh “mềm” trong kỷ nguyên “toàn cầu hóa” và “khu vực hóa”. Chính sách “ba không”, vì vậy, nhiều khả năng sẽ phải điều chỉnh.

– Tổng kết chuyến thăm Hoa Kỳ của TBT/ĐCS Việt Nam Nguyễn Phú Trọng (7-10/7/2015), các phân tích gia đã nêu lên 8 diễn tiến (developments) như là những lực đẩy trong việc triển khai chính sách đối ngoại và chiến lược an ninh thời kỳ mới. 3 trong 8 diễn tiến quan trọng này là: i) Cam kết cùng các quốc gia khác hoàn tất đàm phán TTP, ii) Đẩy mạnh hợp tác để đóng góp vào hòa bình, ổn định và thịnh vượng khu vực, iii) Kiến tạo các cơ sở để giải quyết vấn đề Biển Đông[6].

– Quyền lợi quốc gia, sinh mệnh dân tộc là vấn đề tối thượng. Từ các chuyển biến lớn trong quan hệ Việt-Mỹ, Việt-Trung, Việt-Nhật, sự lựa chọn tới đây của Việt Nam có thể là phải hiệu chỉnh chính sách. Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước không xâm phạm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, sẵn sàng củng cố và phát triển quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng với các nước giúp Việt Nam bảo vệ “lợi ích quốc gia cốt lõi” của mình.

2) Đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa để tái cấu trúc kinh tế và xã hội ở trong nước (D là Democratisation)

– Nhân dịp kỷ niệm 30 năm đổi mới, bài viết ngày 28/7/2015 của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang kêu gọi cần thay đổi mạnh mẽ hơn nữa trong tư duy[7]; đã hai lần nhắc lại mục tiêu xây dựng một Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hai năm trước (1/2014), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không chỉ nêu cao ngọn cờ dân chủ, mà còn mở rộng nội hàm của nó bằng kêu gọi thúc đẩy bộ tam “dân chủ, pháp trị và thể chế”[8].

“Dân chủ hóa” rõ ràng là hệ giá trị bảo đảm cho quá trình tái cấu trúc kinh tế và xã hội ở trong nước. Vấn đề không phải chỉ sửa chữa các khuyết tật bộ phận mà là quá trình cải tạo hệ thống, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, đáp ứng yêu cầu mới, làm nảy nở những khả năng sáng tạo. Đề án tái cấu trúc chỉ thành công khi chứng minh được vai trò của dân chủ, tin ở dân, phát huy trí tuệ và sức mạnh của dân[9]. Dân chủ hóa là cần trở thành nhu cầu nội tại, chứ không phải do sức ép bên ngoài.

– Nhìn lại quá trình hội nhập của Việt Nam, bắt đầu từ việc hưởng “Quy chế mậu dịch bình thường vĩnh viễn” (PNTR), rồi ra khỏi danh sách “Những quốc gia đặc biệt quan tâm” (CPC) về tôn giáo, gia nhập “Tổ chức Thương mại Thế giới” (WTO), hiện nay sắp kết thúc đàm phán TPP, “dân chủ hóa” đang tiến bước về phía trước. Nếu như TPP thành công, nó sẽ thúc đẩy một tiến trình tiệm tiến, thay đổi tuần tự nhưng bắt buộc, ngay từ bên trong[10].

– Chính sách đối ngoại linh hoạt của Hoa Kỳ là không đẩy quá đà để Việt Nam bị rơi hẳn vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc. Việt Nam là quốc gia quan trọng trên bàn cờ của Mỹ ở khu vực Ðông Nam Á. Về phần mình, Việt Nam chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc, nhưng mặt khác, cũng rất cần đến Hoa Kỳ trong phát triển kinh tế-xã hội. Điều này khiến cho Việt Nam phải giữ thế quân bình giữa Washington và Bắc Kinh. Đây chính là không gian “mở” của tiến trình “dân chủ hóa”[11].

– Index P&D (Quan hệ giữa Đối tác với Dân chủ hóa) sẽ là chỉ số quan trọng, phản ánh tương quan giữa nội trị và ngoại giao vào một thời điểm mà chính sách nội trị và chiến lược ngoại giao tạo thành một chỉnh thể thống nhất, không thể phân chia.

– Ngoài ra, P&D sẽ còn liên quan đến với 3 yếu tố còn lại (cũng vô cùng quan trọng trong giải pháp cả gói): đó là cuộc chiến pháp lý (O as COC), cách tiếp cận minh triết (M) và nối vòng tay lớn (N). Dân chủ hóa, đồng thuận xã hội là điểm tựa bên trong. Hệ thống đối tác chiến lược là điểm tựa bên ngoài. Đây là hai nền tảng vững chắc cho công cuộc vận động ngoại giao, trong đó có việc phấn đấu cùng ASEAN đẩy nhanh tiến trình COC, bộ Quy tắc ứng xử trên biển Đông (O).

3) Kết hợp cuộc chiến pháp lý với cuộc chiến truyền thông (O trong COC)

– Tháng 5/2013, Trung Quốc đã tung ra cái gọi là “Tam chủng chiến pháp” (“Ba mặt trận – Three Warfares”)Học thuyết này định hình kế sách giúp Trung Quốc nắm thế chủ động trong “cuộc chiến pháp lý” và “cuộc chiến tranh truyền thông”. Theo Báo cáo thường niên của Bộ Quốc Phòng Mỹhọc thuyết có nội hàm gồm: mặt trận tâm lý, mặt trận truyền thông và mặt trận pháp lý[12]. Mức độ thành công của “Tam chủng chiến pháp” của Trung Quốc sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng để đối trọng, điều mà các nước ASEAN và Việt Nam cần chủ động ngay từ bây giờ là phải liên tục tạo ưu thế công luận bằng một chiến lược “hiệp đồng” giữa hai mặt trận.

– Phương thức kết hợp giữa truyền thông và pháp lý qua sự xuất hiện của các đại sứ Việt Nam trên truyền thông quốc tế là một bước đi mới. Ngày 27/5, đại sứ Việt Nam tại Indonesia đã có bài viết trên tờ The Jakarta Post để phân tích những lập luận sai trái của Trung Quốc. Đại sứ Việt Nam tại Mỹ trả lời phỏng vấn CNN nhằm hồi đáp những luận điểm sai trái của đại sứ Trung Quốc (21/5). Trong tháng 6/2014, lần lượt các đại sứ Việt Nam ở Nhật, Thái và Úc cũng đã có bài viết đáp trả các luận điểm vô căn cứ tương ứng của các đại sứ Trung Quốc. Các Đại sứ quán Việt Nam ở châu Âu, Nam Phi và nhiều quốc gia khác cũng phát huy kênh ngoại giao nhân dân. Nhiều hình thức khác nhau được thực hiện như Hội thảo quốc tế, tuần hành, biểu tình…

– Để có thể ứng phó với học thuyết “ba mặt trận” của Trung Quốc cần phối hợp giữa các cơ quan đối nội và đối ngoại, giữa các cơ quan này với cộng đồng học giả. Qua đó, Việt Nam có thể triển khai sự phối hợp giữa “4 nhà”: truyền thông – ngoại giao – pháp lý và học thuật. Nếu so với thời kỳ báo chí Việt Nam buộc phải “phiếm chỉ” mỗi khi nói về các hành động vi phạm của Trung Quốc trên Biển Đông thì đây quả là bước tiến vượt bậc ở trong nước[13].

4) Minh triết để tạo thế quân bình và thoát Trung (W là Wisdom)

– Trước việc Trung Quốc: i) có thể tiếp tục điều chuyển các giàn khoan, vào ra các khu vực đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ; ii) chắc chắn tiếp tục kế sách “đảo hóa” và buộc Việt Nam chấp nhận “fait accompli”; iii) sẽ thúc đẩy để Việt Nam tham gia vào đại dự án “Vành đai kinh tế con đường tơ lụa”, Việt Nam cần coi trọng chính sách quân bình. Nhưng đặc biệt, muốn hóa giải các thách thức liên quan đến Biển Đông, Vit Nam kiến to thế quân bình trong quan h vi thế giới bằng việc vic đnh chế hóa 5 thành t ca P&DOWN.

– “Chính sách quân bình” cần được thực thi khác với các động thái “đi dây” trên nhiều phương diện[14]. Có thể phân biệt sự khác nhau giữa quá trình kiến tạo thế quân bình với các bước “đi dây”. Thứ nhất, thế quân bình là chủ động và độc lập trong quá trình hoạch định chiến lược quốc gia, còn đi dây thì bị động. Thứ hai, thế quân bình là chính sách lâu dài và bền vững và lấy “trung đạo” trong quan hệ với các nước lớn làm căn bản; đi dây chỉ là chiến thuật và hàm chứa nhiều mạo hiểm. Thứ ba, quân bình trong nội trị và ngoại giao sẽ tạo ra nền móng hòa hợp và hòa giải dân tộc. Phải tích hợp đủ nội lực và đoàn kết bên trong tốt để tạo niềm tin đối với công chúng cả trong lẫn ngoài, “hòa đồng bộ” quốc gia với khu vực và thế giới thì tiếng nói của người đại diện cho đất nước có trọng lượng trên trường quốc tế.

– Phải đặt tiến trình P—D—O trên một quyết tâm “thoát Trung” mạnh mẽ và quyết liệt. Thành công của P—D—O tùy thuộc trước nhất vào nội lực bên trong. Đây là cơ hội hiếm hoi giúp Việt Nam bứt phá và thay đổi. “Thoát Trung” cần được hiểu là thoát khỏi “bóng đè” của Trung Quốc về kinh tế, chính trị, tư tưởng và chung quy lại là thoát về văn hóa, về những ảnh hưởng tiêu cực khác từ Trung Quốc. Về mặt chất lượng quan hệ kinh tế song phương, như đầu tư và thâm hụt mậu dịch là cả một câu chuyện lớn, liên quan đến hàng loạt các vấn đề của nền kinh tế, trong đó có câu chuyện chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam.

– Nếu thỏa thuận Thành Đô được bạch hóa, dư luận có thể kiểm chứng được hai tiến trình ít được đề cập công khai: i) Trung Quốc đã khống chế Việt Nam như thế nào thông qua cái gọi là sự “cộng thông” ý thức hệ; ii) Trung Quốc đã chuẩn bị các bước và triển khai kế hoạch độc chiếm Biển Đông ra sao. Khủng hoảng giàn khoan vừa qua buộc Việt Nam, khu vực và thế giới phải đối diện với một hiểm họa có tên là “tham vọng bá vương”. Chủ tịch Trương Tấn Sang đã khẳng định: “Tr khi nào h nói h t b đường chín đon hoc chúng ta t b ch quyn – mà điu này chc chn không người dân Vit Nam nào chp nhn”[15].

5) Tận dụng tối đa mạng lưới tự do hóa thương mại (N là Networking)

– Việt Nam hiện đang tham gia đàm phán trong cả hai tổ chức thương mại: Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Đối tác Toàn diện Khu vực (RCEP). Chúng tôi không chỉ nhận thức được mức độ cạnh tranh trong việc giành ảnh hưởng tại châu Á của hai nước lớn Trung Quốc và Hoa Kỳ, mà còn thấy rõ sự khác biệt trong cách tiếp cận của mỗi tổ chức[16].

– Bên này là mô hình thị trường tự do kiểu Hoa Kỳ (ưu đãi chất lượng cao, đòi hỏi tiêu chuẩn về luật lao động, bảo vệ môi trường và quyền sở hữu trí tuệ), bên kia là mô hình chỉ huy tập trung kiểu Trung Quốc (quy định tiêu chuẩn thấp hơn để giảm hàng rào thương mại đối với từng quốc gia). RCEP thừa nhận sự khác biệt và sẽ có sự linh động trong chính sách đối với các nước này. Điều kiện ấy cho phép thu hút các nền kinh tế kém phát triển vào khối và đảm bảo số thành viên đông đảo ở RCEP. Tuy nhiên, sự chênh lệch sẽ là cản trở cho hội nhập sâu hơn về kinh tế.

– Việt Nam hoàn toàn có khả năng mở rộng hợp tác an ninh và phát triển theo trục Đông – Tây, thuận theo xu hướng “xoay trục” của nhiều nước trên thế giới. Còn khi Trung quốc đã sử dụng đến phương tiện bạo lực, đồng thời dùng lời lẽ trịch thượng trong ngoại giao[17] thì chính sự liên thuộc về kinh tế và chính trị sẽ giúp giải tỏa được thế lưỡng nan trong việc duy trì môi trường hòa bình, bảo vệ chủ quyền biển đảo.

– Từ nay, cần thúc đẩy “Giấc mơ Việt Nam”[18], dự án đang tìm cách giải mã các ẩn số an ninh và phát triển cho Việt Nam, bằng cách xây dựng đất nước này trở thành một khớp nối mềm, nói theo ngôn ngữ tin học, một “khớp nối đường trục số” (DTI). Phải “cài đặt” phần mềm của quốc gia sao cho ai đe dọa Việt Nam là đe dọa thế giới. Một chỉ dấu tích cực là những hành động bạo lực của Trung Quốc trên Biển Đông vừa qua đều vấp phải sự phê phán của nhiều nước, tổ chức và cá nhân trong/ngoài khu vực.

KẾT LUẬN:

– Các lợi thế do sức mạnh của tính hợp trội từ hệ thống P&DOWN mang lại cụ thể là: i) Hệ thống các đối tác chiến lược/đối tác toàn diện sẽ trở thành sức mạnh chế ngự mọi tham vọng quá khích, hiếu chiến; sức mạnh này chưa hội đủ trong từng đơn vị quốc gia hợp thành); ii) Dân chủ hóa sẽ đoàn kết được bên trong và tạo ra sự cố kết giữa bên trong với bên ngoài, bảo đảm độ bền vững của tiến trình phát triển kinh tế-xã hội; iii) Kết hợp truyền thông với quảng bá Luật quốc tế sẽ tạo cơ sở để các bên đi vào Bộ Quy tắc ứng xử. COC sau này có thể hòa nhập với các cấu trúc khác đang định hình trong khu vực, như Cấp cao Đông Á (EAS), hay TPP, RCEP… iv) Tư duy minh triết sẽ hội tụ, liên kết và mở rộng mạng lưới như một quá trình tiến hóa, chứ không gây ra các đột biến cách mạng (gây sốc/đổ vỡ) và v) Kết nối quốc gia với khu vực và toàn cầu mang lại tính đại diện cao nên được quốc tế chấp thuận.

– Năm 2013, “P&DOWN—1” được đề cập lần đầu để ứng phó với mô hình “quan hệ nước lớn Trung-Mỹ”. Giàn khoan HD981 tháng 5/2014 là thử nghiệm đối với “P&DOWN—2”. Việc Trung Quốc bồi đắp các đảo đá cưỡng chiếm của Việt Nam trong năm qua có thể phân tích từ pe-rơ-đam “P&DOWN—3”. Từ nay, mỗi khi có các sự kiện hay biến cố lớn, như đối với việc Trung Quốc đảo hóa hay đối với đại dự án SREB chẳng hạn, chúng ta đều có thể dùng “P&DOWN—4… n” như một hệ quy chiếu để lượng định tình hình. Nay là lúc cần sớm “định chế hóa” các nỗ lực bộ phận để thành “gói giải pháp” đồng bộ. Nếu mô hình này được thực thi, không chỉ sẽ có thêm nhiều phiến đá góp phần xây dựng “bức trường thành” bảo vệ phần chủ quyền thuộc của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa, mà còn tìm ra phương thức hữu hiệu ứng phó lâu dài với các đe dọa tiềm tàng lẫn công khai trên Biển Đông.

—-

[1] http://infonet.vn/sang-kien-5-chu-cai-cho-van-de-bien-dong-post92945.info

[2] http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/dinh-che-hoa-cac-no-luc-truoc-sreb-doi-pho-voi-con-duong-to-lua-bang-pe-ro-dam-1-p-down

[3] Các ĐTCL của Việt Nam bao gồm: Nga (2001), Nhật Bản (2006), Ấn Độ (2007), Trung Quốc (2008), Hàn Quốc (2009), Tây Ban Nha (2009), Vương quốc Anh (2010), Đức (2011), Ý (2013), Indonesia (2013), Thái Lan (2013), Singapore (2013), Pháp (2013), Philippines (2014) và Malaysia, 2015 (under process). Look at: http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2013/04/130418_vn_lam_phat_doi_tac_chien_luoc

[4] http://www.vietnamhumanrightsdefenders.net/2015/08/09/kerry-links-better-us-vietnam-ties-to-human-rights/

[5] http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/bng_vietnam/nr080212094156/ns130709211917

[6] http://thediplomat.com/2015/07/8-developments-in-us-vietnam-relations-show-emerging-partnership/

[7] http://vtv.vn/chinh-tri/bai-viet-cua-chu-tich-nuoc-truong-tan-sang-ve-30-nam-doi-moi-20150728192745444.htm

[8] http://www.rfa.org/vietnamese/programs/ReadingBlogs/vn-pm-nyear-message-01132014073259.html

http://www.bbc.com/vietnamese/multimedia/2014/01/140102_phamchilan_pm_dung

[9] http://www.uef.edu.vn/_local/uploads/editor/tap-chi-uef/2015-01-02-20/5.pdf

[10] http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=175660&zoneid=97#.VbiBqbPtmko

[11] Như trên (8)

[12] http://www.delex.com/data/files/Three%20Warfares.pdf

[13] http://nghiencuubiendong.vn/y-kien-va-binh-luan/5135-mat-tran-thong-tin-bien-dong-bai-mot-phan-tich-tu-su-kien-gian-khoan

[14] Look at: Đinh Hoàng Thắng: “Thế quân bình khác với đi dây” – “Kỷ yếu Nghiên cứu Lý luận” số tháng 5/2015

http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhin-ra-the-gioi/tam-giac-viet-trung-my-tao-the-quan-binh-chu-dong-va-doc-lap

[15] http://biendong.tuoitre.vn/bien-dong/614796/Chu-tich-nuoc-Truong-Tan-Sang-Phai-giu-chu-quyen.html

[16] http://www.aspistrategist.org.au/trade-partnership-competition-tpp-vs-rcep/

[17] “Hoàn Cầu Thời Báo” của TQ trong một bài viết sau sự kiện Dương Khiết Trì thăm VN có câu: “TQ dụng tâm lương khổ phụng khuyến VN lãng tử hồi đầu”. Câu này có nghĩa là ” TQ tận tâm tận sức khuyên VN nên hối lỗi quay về”.

[18] Digital Trunk Interface=Khp ni đưng trc: “Giấc mơ VN” là dự án của doanh nhân Nguyễn Trí Dũng, NICD &Nguyễn Hữu Thái Hòa, FPT nhằm liên kết trí thức như “những khớp nối mềm” bằng cách liên kết 3 nhà: nhà nước – nhà khoa học – nhà doanh nghiệp. GMVN nhằm giải mã những ẩn số phát triển. Bắt đầu định vị 5 lợi thế: (1) trung tâm dòng tiền Châu Á; (2) ngã ba đường huyết mạch của chuỗi cung ứng; (3) kho nông nghiêp/lương thực; (4) nơi chốn có thể xiển dương giá trị hòa bình; (5) đất nước có kinh tế/xã hội xanh. VN sẽ xây dựng các giải pháp thông minh, biến lợi thế thành các giá trị vật chất, tinh thần. Trước mắt tập trung 3 mũi nhọn: CNTT và Viễn thông, Nông nghiệp, Du lịch, được “chống lưng” bởi 3 trụ cột: Công nghiệp nhẹ, Dịch vụ và Giáo dục đào tạo, để xây dựng Việt Nam đủ sức gánh vác trọng trách trong giai đoạn đột phá tư duy và đẩy mạnh các giá trị sáng tạo. GMVN là đào tạo tư duy khác biệt cho trí thức tương lai, xây dựng cá thể đẳng cấp (best-in-class) có Nhân sinh quan – Thế giới quan – Giá trị quan trên nên tảng kế thừa các giá trị Chân-Thiện-Mỹ .

5 bình luận tới “5472. Thách thức mới ở Biển Đông qua kỳ hội thảo”

  1. […] 5472. Thách thức mới ở Biển Đông qua kỳ hội thảo […]

  2. […] Năm 2012, Trung Quốc công bố một clip về biến cố Gạc Ma (14/3/1988)[2] cho thấy một sự thật khác hẳn với những tuyên bố 24 năm trước đó của […]

  3. […] Năm 2012, Trung Quốc công bố một clip về biến cố Gạc Ma (14/3/1988)[2] cho thấy một sự thật khác hẳn với những tuyên bố 24 năm trước đó của […]

  4. […] – Những nhận thức sau đây là phổ biến trong mọi giới ở Việt Nam: Trung Quốc tiếp tục xâm phạm độc lập, chủ quyền của Việt Nam bằng cách tiến hành xây dựng chủ quyền giả tạo, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Luật biển Liên Hiệp Quốc (UNCLOS), phá hoại DOC, trì hoãn và đẩy lùi COC[1]. […]

  5. […] – Những nhận thức sau đây là phổ biến trong mọi giới ở Việt Nam: Trung Quốc tiếp tục xâm phạm độc lập, chủ quyền của Việt Nam bằng cách tiến hành xây dựng chủ quyền giả tạo, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Luật biển Liên Hiệp Quốc (UNCLOS), phá hoại DOC, trì hoãn và đẩy lùi COC[1]. […]

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d người thích bài này: