BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

5277. Từ một người vừa nằm xuống, lan man nghĩ về một nền văn học đã qua…

Posted by adminbasam trên 30/09/2015

Blog RFA

Song Chi

30-9-2015

Nghe tin nhà văn Võ Phiến vừa qua đời trên đất Mỹ. Một trong những nhà văn lớn nhất của văn học miền Nam 1954-1975 mà tôi, thuộc thế hệ sinh sau đẻ muộn, chỉ được biết đến qua một phần những tác phẩm của ông nhưng chưa bao giờ được gặp mặt.

Từ một con người vừa nằm xuống, bỗng dưng nhớ lại những kỷ niệm của riêng mình về một nền văn học đã bị tiêu hủy, bị đánh giá không đúng, bị bưng bít hoặc tảng lờ coi như không từng hiện hữu trong suốt mấy mươi năm qua-văn học miền Nam 1954-1975.

Hầu như ngay lập tức sau khi “giải phóng” Sài Gòn và miền Nam, một trong những việc làm đầu tiên của nhà cầm quyền mới là ra lệnh tịch thu, đốt, xé, thủ tiêu từ sách báo, băng đĩa nhạc… của chế độ cũ, mà họ gọi bằng đủ thứ từ ngữ miệt thị là “tàn dư độc hại, sản phẩm lai căng, đồi trụy” của chế độ tay sai bán nước. Thôi thì nhà nào cũng cố mà vơ vét mọi thứ ấn phẩm của VNCH đem nộp lên phường xã, hoặc đem xé, đốt cho bằng hết.

Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, âm nhạc miền Nam từ những chiếc băng cassette cũ kỹ đã trở thành “món quà hiếm” được người dân miền Bắc tò mò lùng nghe. Lạ lùng là rất nhiều bản nhạc bolero với một số giọng ca mà dân SG và miền Nam cho là “sến” lại được dân Bắc nghe khá nhiều. Có lẽ sau nhiều năm nghe hoài một thứ âm nhạc nếu không nặng tính tuyên truyền thì cũng mang đậm tính “hùng ca”, sùng sục một khí thế cách mạng với đa phần là những giọng hát nữ chói cao, người ta bỗng muốn đổi một món ăn “lạ miệng”, nghe những giọng ca trầm buồn, thủ thỉ những chuyện nhân tình thế thái, chuyện tình yêu đôi lứa…

Trong khi đó thì văn học miền Nam vẫn hoàn toàn là chủ đề cấm kỵ.

Vài năm sau biến cố 30. 4.1975 không nhớ rõ là năm nào, ở SG xuất hiện chợ sách cũ, mà tiêu biểu nhất là chợ sách Tạ Thu Thâu. Người mua sách có thể tìm thấy ở đây khá nhiều sách báo, ấn phẩm được xuất bản ở miền Nam, tất nhiên, không phải mọi tác giả, mọi đầu sách đều được phép mua bán, nhất là những tác giả bị liệt vào thành phần chống Cộng trong con mắt nhà cầm quyền. Sách ở đây chủ yếu là sách tiếng Anh tiếng Pháp tiếng Hoa, truyện dịch, một số loại báo, sách dạy nấu ăn, sách học làm người, Kinh Dịch…Nhưng như thế cũng đủ thỏa một phần nào cơn thèm khát sách, nhung nhớ sách cũ của người đọc.

Có một số nhà văn nhà báo miền Bắc sau này tậm sự, cái làm họ choáng ngợp khi vào SG chưa hẳn đã là vì vẻ tráng lệ của thành phố, sự sung túc hơn hẳn của đời sống đa số người dân SG và miền Nam so với người dân Hà Nội và miền Bắc, nhưng là dân viết lách, họ choáng khi nhìn thấy khối lượng sách báo, văn hóa phẩm, âm nhạc… trong và ngoài nước, phong phú, ê hề, kể cả sách triết học (không loại trừ cả triết học Marx- Engels, sách viết về Stalin, Mao Trạch Đông)…được tự do xuất bản, lưu hành ở miền Nam. Trong đó ngoài những tác giả miền Nam, có những tác giả, tác phẩm nước ngoài họ chỉ từng được biết đến tên chứ chưa bao giờ được đọc, được nghe. Từ đó, niểm tin về tính ưu việt của chế độ XHCN ở miền Bắc, về “đời sống khốn khổ, bị kềm kẹp” của chế độ VHCN có lẽ đã bắt đầu lung lay trong họ.

Rồi chợ sách Tạ Thu Thâu không còn nữa, nhưng mãi nhiều năm sau này, những chợ sách cũ vẫn tồn tại nơi này nơi kia ở SG, ví dụ như trên đường Trần Quang Khải, P. Đa Kao, Q. 1, đường Trần Huy Liệu, Q. Phú Nhuận…Và đi lùng mua sách cũ là một trong những thú vui thanh tao của nhiều người, nhất là với những người ham đọc, giới viết lách. Đôi khi tìm được một quyển sách cũ có cả chữ ký, dòng đề tặng ai đó của nhà văn là một sự tưởng thưởng bất ngờ.

Là một đứa trẻ sinh ra ở miền Nam, dù khi SG đổi chủ tôi chỉ mới lên 9 lên 10 nhưng tuổi thơ của tôi đã kịp được nuôi dưỡng từ những cuốn truyên tranh Tintin, Lucky Luke, Xì Trum, Astérix và Obélix…, những cuốn tuần báo Thiếu Nhi của NXB Khai Trí, tạp chí Tuổi Hoa, bộ truyện Hoa Đỏ, Hoa Xanh, Hoa Tím với nhiều tác giả rất được tuổi trẻ bấy giờ yêu thích như nhà văn Kim Hài, Thụy An, Minh Quân…cho tới những cuốn sách dày hơn như “Tâm hồn cao thượng” (Grand Coeurs) của Edmondo De Amicis, “Vô gia đình” (Sans Famille), “Trong gia đình” (En Famille) của Hector Malot; Guy-Li-Ve du ký (Gulliver’s Travels) của Jonathan Swift, “80 ngày vòng quanh thế giới” (Le Tour du monde en quatre-vingts jours) của Jules Verne…tất cả đều với bản dịch của Hà Mai Anh, và cả truyện chưởng, truyện kiếm hiệp Kim Dung…Phải nói sách văn học cho thiếu nhi, thiếu niên của miền Nam lúc ấy được “chăm sóc” rất kỹ, sách báo xuất bản được chọn lọc kỹ càng, vừa có tính giáo dục cao, rất nhân bản lại hấp dẫn từ nội dung đến hình thức và không hề có tính tuyên truyền chính trị.

Khi một phần sách báo của miền Nam được bày bán lại ở các chợ sách cũ, tôi tiếp tục được thỏa thói mê đọc sách của mình. Hồi ấy những năm sau 1975, thời bao cấp nhà nào cũng bị nghèo đi, gia đình họ hàng tôi cũng phải làm đủ cách để mưu sinh giữa thời buổi khó khăn và một trong những cách đó là có một dạo ở nhà bày một cái tủ bán đủ thứ từ văn phòng phẩm, truyện cho tới các món ăn vặt, cốc ổi ngâm dấm đường ớt…Cứ cuốn truyện nào mua về trước khi bán cho khách là tôi phải ngấu nghiến đọc cho bằng hết. Trong những năm tháng ấy và ở lứa tuổi ấy, cùng với truyện chưởng của Kim Dung vả nhiều tác giả khác, tôi cũng mê những cuốn tiểu thuyết của Quỳnh Dao như “Mùa thu lá bay”, “Hải Âu phi xứ”, “Song ngoại”, “Giòng sông ly biệt”…qua bản dịch của Liêu Quốc Nhĩ, tiểu thuyết của Từ Tốc, Y Đạt…bên cạnh những cuốn truyện của Duyên Anh, Nhật Tiến, Từ Kế Tường…

Tôi không nhớ chính xác là từ khi nào mình tiếp cận có hệ thống hơn với văn học và các tác giả của miền Nam, chỉ nhớ giai đoạn khi học đại học là được quyền vào Thư viện Khoa học Xã hội nằm trên đường Lý Tự Trọng, Q.1, xin mượn sách (chỉ được phép đọc tại chỗ) trong danh mục sách cấm. Trong đó là những tác giả, tác phẩm xuất bản ở miền Nam mà vì lý do này lý do khác bị chế độ cộng sản liệt vào danh mục sách cấm, không lưu hành phổ biến rộng rãi. Bên cạnh đó còn có những nguồn khác nữa như mượn từ người quen, gia đình của bạn bè…

Và những tác giả lớn của miền Nam đã lần lượt xuất hiện trước mắt tôi qua những tác phẩm của họ, phần lớn đã cũ, ố vàng theo thời gian thậm chí hôi mùi ẩm mốc. Nào thơ ca với Bùi Giáng, Nguyên Sa, Du Tử Lê, Trần Dạ Từ, Nguyễn Tất Nhiên, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Phạm Thiên Thư …, văn học với Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Lệ Hằng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị Ngh, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Đình Toàn, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Mặc Đỗ, Cung Tích Biền, Nguyễn Thụy Long…Và tất nhiên, Võ Phiến, người vừa mới qua đời.

Nào những tác giả biên dịch, biên khảo, lý luận, phê bình như Giản Chi, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Kim Định, Vương Hồng Sển, Phạm Công Thiện, Đặng Tiến, Uyên Thao, Huỳnh Phan Anh…

Trong lúc âm nhạc miền Nam ngày càng được phổ biến rộng rãi hơn qua những DVD ca nhạc hải ngoại, những chuyến trở về biểu diễn của các ca sĩ bên ngoài nước cho tới xu hướng hát nhạc cũ ở nhiều ca sĩ trong nước sau này, thì văn học vẫn bị hạn chế hơn rất nhiều. Sau thời kỳ mở cửa, nhà nước có cho in lại một số sách xuất bản ở miền Nam trước năm 1975, từ những thể loại vô hại như sách dạy nấu ăn, học làm người, bói toán cho tới những tác phẩm của các tác giả trong nhóm Tự lực Văn Đoàn như Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam… sách của Giản Chi, Nguyễn Duy Cần, Toan Ánh, Vương Hồng Sển, Bùi Giáng, Mường Mán, Dương Nghiễm Mậu…, chưa kể truyện dịch. Nhưng nói thật là vẫn chưa được bao nhiêu so với khối lượng khổng lồ sách báo đã được xuất bản tại miền Nam trước đây.

Nghĩ lại những hành động ngu muội đốt sách hồi đó chẳng khác nào Tần Thủy Hoàng đời xưa mà giận mà ngán ngẩm. Họ đã hủy diệt cả một kho tàng sách vở tư liệu phong phú, làm thiệt thòi cho người đọc sinh sau đẻ muộn, làm trì trệ thêm quá trình phát triển, hội nhập với thế giới của người dân Việt sau năm 1975.

Điều đáng buồn hơn nữa là thời đó, ở miền Nam hầu như bắt kịp với mọi xu hướng tư tưởng từ triết học, văn học, âm nhạc… trên thế giới, có thể nói sách gì, nhạc gì phương Tây và các nước có là VN có, nhưng sau khi “giải phóng” cả một thời gian dài nhà cầm quyền đã bắt người dân phải “đóng cửa” chối từ mọi sự hội nhập với văn hóa thế giới, chỉ tiếp nhận nguồn sách vở từ Liên Xô, Trung Quốc và khối XHCN anh em; và nếu có đề câp đến văn học, triết học, tư tưởng phương Tây thì thông qua những lăng kính “nhào nặn” tuyên truyền méo mó của những cây bút từ các nước này và trong nước. Mãi đến mấy chục năm sau, cùng với sự mở cửa, đổi mới, một số sách của miền Nam mới được in lại, một số sách triết học, văn học của thế giới được dịch, in, trong đó không loại trừ nhiều cuốn đã từng được dịch và giới thiệu ở miền Nam từ trước đây năm sáu chục năm! Đúng là cái tai hại khi có những kẻ cầm quyền ngu dốt, mông muội, cuồng tín thật không thể nào đo lường được.

Một dân tộc với hành trang văn hóa để lại từ thời tổ tiên vốn đã nghèo nàn, đã bị hủy hoại nhiều vì nạn ngoại xâm, vì chiến tranh liên miên, lại còn bị hủy diệt bởi chính những kẻ chiến thắng về mặt quân sự nhưng lại thua kém hẳn về mặt văn minh, văn hóa so với cái chế độ thua trận.

Nếu một chính quyền nào khác, có cái đầu hiểu biết hơn, có tầm nhìn xa và cách hành xử văn minh, biết dung nạp, đón nhận miền Nam từ kinh tế cho tới văn hóa, từ đó học hỏi những cái hay và cùng phát triển, có lẽ VN đã đỡ bỏ phí bao nhiêu năm về mọi mặt. Và những nhân tài văn chương của miền Nam trong đó có nhà văn Võ Phiến có thể làm tiếp công việc sáng tác, biên khảo…của mình trên quê hương và đóng góp rộng rãi hơn cho nền văn học nước nhà, thay vì phải lưu vong trên xứ người, viết lách, sáng tác trong hoàn cảnh bất lợi hơn rất nhiều. Nhưng tất nhiên, cái nếu ấy đã không bao giờ xảy ra, với chế độ cộng sản và với những thế hệ lãnh đạo dốt nát, mông muội và chậm thức tỉnh (ngay cả cho đến giờ phút này) như ở VN.

____

Blog RFA

Tưởng Năng Tiến

30-9-2015

L.T.Đ: Từ California, nhà văn Phạm Xuân Đài vừa cho biết một tin buồn:

“ Võ Phiến đã qua đời vào lúc 7 giờ tối ngày 28 tháng Chín, 2015, tại Advanced Rehab Center of Tustin, Santa Ana, thọ 90 tuổi…

Nhà văn Võ Phiến là một tác giả quan trọng của văn học Việt Nam từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Trước 1975 ông là công chức thuộc bộ Thông Tin của Miền Nam, và đã cộng tác với tạp chí Bách Khoa cho đến 1975 với bút danh Tràng Thiên (một bút danh chung cho nhiều tác giả, nhưng từ sau 1965 hầu như chỉ dành cho một mình ông). Ông sang Hoa Kỳ từ 1975 và làm việc cho tòa Hành Chánh quận Los Angeles, California cho đến ngày về hưu. Tại hải ngoại, ông vẫn tiếp tục viết sách và cộng tác với các tạp chí văn học. Từ cuối thập niên 1970 ông đã chủ trương tờ Văn Học Nghệ Thuật, là tiền thân của tạp chí Văn Học sau này.

Võ Phiến là một tác giả đa dạng. Ông viết truyện ngắn, truyện dài, tạp luận, tùy bút, lý luận và phê bình văn học. Các tác phẩm đã xuất bản của ông gồm có, về truyện ngắn và tiểu thuyết: Chữ Tình, Người Tù, Mưa Đêm Cuối Năm, Về Một Xóm Quê, Đêm Xuân Trăng Sáng, Giã Từ, Thương Hoài Ngàn Năm, Thư Nhà…; về tùy bút, tạp bút: Tạp bút I, II, III, Đàn Ông, Ảo Ảnh, Phù Thế, Chúng Ta Qua Cách Viết, Đất Nước Quê Hương, Tùy bút I, II, Đàm Thoại v.v… Tại hải ngoại, ông đã bỏ công sức trong nhiều năm trời để soạn bộ Văn Học Miền Nam Tổng Quan nhằm lưu giữ nền văn học miền Nam đã bị Cộng Sản thiêu hủy từ sau 1975.”

Để tưởng niệm một vì sao vừa khuất, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một tuỳ bút tiêu biểu của ông. Bài viết này được trích từ tập Đất Nước Quê Hương, do nhà Lửa Thiêng xuất bản lần vào năm 1973.

Tưởng Năng Tiến

Ông Bình Nguyên Lộc quả quyết rằng trong một bàn ăn mười ba người, gồm mười hai người Việt và một người Hoa, đồng vóc dáng, đồng trang phục, ngồi im không nói, ông cũng phân biệt được kẻ Việt người Hoa.

Như vậy đã là tài, nhưng ông còn đi xa hơn: có thể nhìn hình dáng mà phân biệt được người Tàu Phúc Kiến với người Tàu Quảng Ðông, người Tàu tỉnh này với người Tàu tỉnh khác.(1)

Cũng trong quán ăn, trong khi chờ đợi tô hủ tiếu, tôi có dăm ba lần theo dõi cử chỉ của người làm bếp, và chợt lấy làm ngạc nhiên về một nhận xét. Không phải ngạc nhiên về chuyện suy tưởng nhân chủng ưa liên quan với các tiệm ăn quán nhậu. Mà là vì tôi có cảm tưởng đôi khi có thể nhìn mà phân biệt một người Việt miền Nam với một người Việt miền Trung, tức một đồng bào ở miền ông Bình Nguyên Lộc với một đồng bào ở miền tôi. Nói cách khác, tôi có cảm tưởng mình cũng… tài giỏi như ông Bình Nguyên Lộc: cái mới kỳ cục!

Một buổi trưa, tại Cần Thơ, trong ngôi quán ở đầu một ngõ hẻm gần bến xe Lam, lần đầu tiên tôi chú ý đến điệu bộ có vẻ ngộ nghĩnh của người chủ quán.

Ngôi quán khá chật và tối. Giữa trưa, trong quán vẫn có ngọn điện vàng cạch thả toòng teng trên đầu người chủ. Người này mặc mai-ô quần lính, đầu đội chiếc mũ địa phương quân rộng vành, chân mang đôi giày da đen, không vớ. Tại sao phải giày và mũ trong một chỗ kín như thế? Có thể chỉ là một thói quen, hay chỉ là một trường hợp ngẫu nhiên nào đó, tức một chi tiết không có ý nghĩa gì. Tuy vậy tôi vẫn ghi lại, vì hình ảnh ấy tưởng còn hiển hiện trước mắt tôi lúc này. Hình ảnh một người khỏe mạnh, nhanh nhẹn, và làm việc hào hứng.

Mỗi người có một cách biểu lộ sự hào hứng. Riêng cái cách của người chủ quán hôm ấy, trời ơi, trông mà mê. Hai tay ông ta thoăn thoắt: chặt khúc xương, xắt lát thịt, gắp mớ ớt, múc vá nước từ trong thùng đổ ra tô, xóc xóc mớ hủ tiếu vừa mới trụng qua nước sôi, rắc một tí tiêu bột v.v. Tất cả bấy nhiêu cử chỉ đều rập ràng, hơi có vẻ nhún nhẩy. Mỗi cái quơ tay, cái nhấc lên hạ xuống đều như có gì quá mức cần thiết một chút. Mỗi cử chỉ bao hàm bảy tám phần cần thiết, lại thêm vài ba phần thừa thãi, chỉ để cho đẹp mắt, để biểu diễn sự thích thú trong công việc. Ðộng tác nghề nghiệp gần chuyển thành sự múa men. Một điệu vũ ca ngợi lao động.

Ðứng bên chủ quán là bà vợ, tôi đã tưởng bà làm công việc chạy bàn. Nhưng không: Lúc một cậu bé gầy gầy cưỡi chiếc xe đạp vụt về trước cửa, xách vào cục nước đá, thì đã rõ đây mới là người chạy bàn chính thức; người đàn bà chỉ tạm thời thay thế cậu ta trong chốc lát.

Khi đã đủ một vợ một con bên mình, chủ quán điều động càng hào hứng:

– Bàn trong. Một nhỏ một lớn. Rồi! Bưng.

– Bàn ngoài, số một. Tô lớn, khô. Rồi! Bưng, bàn số một.

– Bàn số ba tính tiền. Tám chục với ba lăm là trăm mười lăm. Trăm mười lăm với tám đồng là trăm hăm ba. Trăm rưởi trừ trăm hăm ba, còn lại…

Bà vợ nhắc:

– Hăm bảy.

– Hăm bảy. Nè!

Ông ta đưa món tiền lẻ, cậu con mang ra cho khách. Rảnh tay, ông ta chặt một miếng cánh gà, nho nhỏ, quăng gọn vào mồm, nhai. Lại nhanh nhẹn chặt luôn miếng khác, trao cho vợ. Người đàn bà thụt né vào sau cánh cửa; ăn xong lại ló ra, sẵn sàng…

– Tô nước, tô khô. Bàn số hai. Rồi!

Cứ thế, chủ quán làm việc, cắt đặt công việc, điều khiển vợ con v.v., điệu bộ vẫn lại cứ như có gì thừa thãi một chút. Bảy tám phần cần thiết, đôi ba phần để bày tỏ sự hài lòng, để biểu diễn sự hoạt động ăn khớp của một tổ chức hoàn hảo, một bộ máy hợp khuôn rập, chạy đều ro ro.

Vừa rồi có lẽ đã có sự lạm dụng: hầu hết mỗi câu nói của người chủ quán đều có một tiếng “rồi”. Nếu tôi ghi nhớ sai, ấy là vì đã quá chú ý đến tiếng đó. Nhưng hay nhất, ngộ nhất lại là cái tiếng “rồi” tưởng tượng phát ra từ mỗi cử chỉ. Mỗi cử chỉ – ngắt cọng rau, xóc mớ hủ tiếu v.v. – đến chỗ sau cùng thường được gằn mạnh. Như thể một tiếng “rồi” phát ra bằng động tác thay vì bằng âm thanh: Một tiếng câm.

Dầu sao lần ấy tôi không có một đối tượng quan sát im lặng như ông Bình Nguyên Lộc; nhưng các lần sau này thì họ im lặng.

Sau buổi trưa ở Cần Thơ, về Sài Gòn những lần vào quán hủ tiếu, tôi sực nhớ hình ảnh nọ, và tò mò nhìn theo chủ quán: thỉnh thoảng lại gặp những điệu bộ ấy. Có khi ở một người đàn bà, có khi ở một người đàn ông đứng tuổi. Họ nhanh nhẹn, mau mắn; nhưng cái đặc biệt là, trong cử chỉ, họ như muốn nhấn mạnh vào tính cách toàn hảo của những hoạt động rập ràng mau mắn ấy.

Những người ấy họ có cung cách làm việc giống nhau. Cung cách ấy, gọi nó ra sao? Tôi tìm một chữ để diễn tả. Tôi loay hoay tìm kiếm… A! Ðây rồi: “Rụp rụp”! Họ làm việc “rụp rụp”.

Chữ nghĩa sao mà thần tình. Lại chính là một tiếng địa phương ra đời ở miền Nam này. Thế mới biết sự xuất hiện của một tiếng nói mới không bao giờ là chuyện ngẫu nhiên, không lý do. Phải có một thực tại mới, đòi hỏi được mô tả sát đúng. Phải có một sự cần thiết réo gọi nó, đích danh nó.

“Rụp rụp” là một đáp ứng tài tình cho một đòi hỏi như thế. Làm rụp rụp không phải chỉ là làm mau mắn, mà còn với một vẻ hứng chí trong sự mau mắn.

– Nhưng tại sao lại bảo đó là của miền Nam? Ðâu phải người nào trong Nam cũng làm việc rụp rụp?

– Tất nhiên đó không phải là tác phong của toàn thể. Cũng không thể nào biết được là tác phong của một tỉ lệ người Nam lớn nhỏ ra sao. Có điều tác phong ấy không gặp thấy ở các miền ngoài. Vả lại, còn có chuyện khác…

– Nào, xem chuyện khác có gì rõ rệt hơn chăng.

Trong một bài tục ca của Phạm Duy, có câu: “Người dân nhìn thoáng hết hồn luôn”, lại có câu: “Lệch đi thì chết, cấm sờ luôn”. Những tiếng “luôn” dùng kiểu đó không có trong ngôn ngữ các miền ngoài.

Cũng thế, ở ngoài Trung mỗi khi xe đò dừng lại dọc đường, hành khách lên xe xong, anh “ết” hô to cho tài xế nghe: “Chạy!”; ở trong Nam, anh ta hô: “Chạy luôn!”.

Tại sao lại luôn? Những tiếng “luôn” ấy không có nghĩa, nhưng dĩ nhiên không phải không có công dụng. Trái lại, công dụng đó thường khi khiến nó còn được xem trọng hơn những tiếng có nghĩa rõ rệt đứng trước nó. Chẳng hạn trong trường hợp “chạy luôn”: tiếng “chạy” hô phớt qua, tiếng “luôn” được gằn mạnh. Người ta nghe “Ch… luôn!”; có khi chỉ nghe có một tiếng “Luôn!”.

Không chừng đó cũng là trường hợp đã xảy đến cho tiếng “vô”. Mời nhau uống rượu, anh em hô: “Dô!” Có lẽ thoạt tiên là tiếng “nhậu vô”, “uống vô” chăng? Dần dần tiếng trước bị lướt phớt qua rồi bị bỏ rơi. Chỉ còn lại tiếng sau; từ một tiếng trợ từ, nó tiến lên nhận lấy cái nghĩa của các tiếng nhậu, uống.

Trong “chạy luôn”, nghĩa ở tiếng chạy; trong “hết hồn luôn”, nghĩa ở hết hồn; trong “nhậu vô”, nghĩa ở nhậu v.v. Còn tiếng “luôn”? Nó thêm vào một thái độ phát biểu, không thêm gì vào cái ý nghĩa đã phát biểu. Trong “chạy luôn” chẳng hạn, “luôn” là một tiếng kêu hơn là một tiếng nói: nó phát lên để tỏ thái độ thúc giục, nó không nói gì về cái nội dung của sự thúc giục ấy. Nó có công dụng về ngữ khí, chứ không phải về ngữ ý.

Như vậy trong cách nói này cái nội dung, cái cần thiết, đôi khi bị lướt qua; cái phụ, có phần thừa thãi, lại được nhấn mạnh.

Lại cái thừa thãi.

Trong cử chỉ, một chút gì thừa, vượt quá sự cần thiết; trong lời nói, cũng một chút gì thừa, vượt quá sự cần thiết. Cử chỉ và lời nói đều được phóng đại lên…

– Vẫn không có gì rõ rệt.

– Không rõ, về mặt nào?

– Một dấu hiệu để phân biệt bản sắc địa phương như vậy không mấy cụ thể.

– Thực ra ở đây vấn đề không phải là đi tìm một dấu hiệu phân biệt. Cái đó đâu cần tìm kiếm nữa? Ðã có sự khác nhau thật rõ ràng, thật cụ thể, ấy là cái chỉ số sọ của ông Bình Nguyên Lộc: cuộc di cư của nhóm Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Ðịch làm cho đồng bào ta ở miền Nam có xương sọ hơi dài thêm.(2) Kẻ Nam người Bắc tha hồ yên lặng, ông Bình Nguyên Lộc đo đạc là biết ngay.

Vậy ở đây không có chuyện tìm một dấu hiệu phân biệt. Chẳng qua là chộp bắt một nét cá tính phản ảnh trong phong cách, ngôn ngữ. Và hình như sự phản ảnh không dừng lại ở vài tiếng trợ từ, ở mấy điệu bộ. Hình như trên sân khấu cải lương, một bộ môn nghệ thuật của miền Nam, chúng ta có cảm tưởng nhận thấy cá tính ấy xuất lộ ở phong cách diễn xuất…

– Cảm tưởng? Không có gì rõ rệt.

– Quả nhiên.

Võ Phiến
________________
(1)
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Bách Bộc xuất bản, Sài Gòn, 1971, trang 736, 737.
(2) Sđd., trang 453.

Một phản hồi to “5277. Từ một người vừa nằm xuống, lan man nghĩ về một nền văn học đã qua…”

  1. […] […]

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: