BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

5160. Chuyện nhà thím Việt

Posted by adminbasam trên 21/09/2015

Nguyễn Tiến Dân

20-9-2015

Thím Việt, nhà ở ven sông. Cha truyền – con nối, chẳng có ai, thiết tha đến trồng dâu – nuôi tằm. Cả nhà thím, sống bằng nghề mò cua – bắt ốc và, đi vớt củi mục.  Bên kia bờ, là trang trại xanh mướt, chuyên trồng ngô và nuôi bò của chú Sam. Nhà thím, nghèo. Còn chú Sam, giàu sụ.

Mặc cảm, với nghèo – hèn, cộng thêm, thói vô lương tâm và thiếu đi, tinh thần trách nhiệm: Cha thím, đã bỏ mặc vợ con, mà trốn đi, biệt tăm – biệt tích. Thiếu cha, gia đình thím, sớm xẻ nghé – tan đàn. Thím, bị thất học và, nhanh chóng, bị đẩy ra lề đường. Ngày 2 bữa, thím nhọc nhằn, kiếm miếng ăn. Để, cho vào, cái dạ dày lép kẹp.

          Đêm đông, buốt giá.

          Phong vũ, sụt sùi.

          Bữa đói, bữa no.

          Người đời, khinh bỉ.

Tất cả những thứ đó, đã hun đúc trong thím, giấc mộng: “Giàu – Sang – Phú – Quý”. Thím, nung nấu quyết tâm: Tầm sư, để học Đạo đó.

Lên Bắc, bị chối từ. Xuống Nam, bị cự tuyệt. Sang Tây, người ta không nhận. Thật, bẽ bàng. Hết cửa, thím đành liều, bước chân xuống thuyền, xuất dương. Hy vọng, tìm được hoang đảo Thiên đường. Ở đó, có những ông Tiên – bà Phật.

Một ngày kia, thuyền thím, ghé vào 1 hòn đảo hoang, xơ xác. Những kẻ cai trị ở đó, xuống tận cầu tàu đón thím và, xưng xưng tự nhận: Chúng, là Thần – Tiên, ở xứ sở Thiên đường.

Dụi mắt nhìn kĩ, thím thấy: Thiên đường gì, mà nghèo hèn – nhếch nhác. Chẳng bằng, xứ cù – lần của thím. Người dân, ai cũng có: Cặp mắt vô hồn – Cái nhìn bất định. Thân thể của họ, bủng beo – Da dẻ của họ, nhợt nhạt. Miệng, bị dán băng keo – Cổ, đeo đầy xiềng xích. Tiên – Phật gì, mà dữ tợn: Mắt chúng, tròn xoe – Chân mày, vểnh ngược – Tóc tai, bù xù – Lông, mọc đầy mồm. Chúng, hau háu nhìn thím. Như kền kền, nhìn thấy đống thịt ôi thiu, đang lừ lừ, tự dẫn xác tới. 

Chúng, hò reo, rồi sấn sổ lao tới. Chúng, tóm tóc, mà lôi thím lên bờ. Đầu tiên, chúng lột sạch tiền nong. Rồi, tẩn cho thím 1 trận, thấy ông bà – ông vải. Chúng, bỏ đói và nhốt thím vào hầm. Ở đó, đầy những kẻ ngu dốt – ham ăn – biếng làm. Nhưng, lại mang trong người, khát vọng: Muốn “làm cha Thiên hạ”.

Sáng hôm sau, “Tiên – Phật” râu xồm, cầm roi da đến. Và, lùa cả lũ, đến lò luyện Quỷ.

Bài nhập môn: Ngu si – dốt nát, không thể, làm giàu bằng trí tuệ. Mặt ngay – tay đờ, không thể, làm giàu bằng cơ bắp. Thiếu vốn, không thể, làm được bất cứ 1 việc gì. Sở hữu, tất cả những thứ đó, mà vẫn muốn làm giàu. Chỉ có, mỗi 1 cách. Đó là: Lừa đảo và đi Ăn cướp.

Tiên – Phật”, dạy những mánh khóe lừa đảo. “Tiên – Phật”, dậy cách xách động đám đông nghèo hèn. Để, xua chúng, hung hăng đi ăn cướp. Cuối cùng, “Tiên – Phật”, dậy cách thu lại, tất cả chiến lợi phẩm về mình và, chỉ riêng mình mà thôi. “Tiên – Phật”, nhấn mạnh: Khi, những kẻ nghèo hèn – ngu si – dốt nát kia, bị mất sạch cả tính mạng, lẫn của cải. Nhưng, chúng vẫn coi ta, là đấng cứu tinh. Lúc đó, “lừa đảo”, đã được nâng lên, ở tầm cỡ “nghệ thuật”.

Thím và đồng bọn, nghe như nuốt từng lời của “Thánh… cướp”. Tối đó, thím ôm khư khư, quyển “kinh” Quỷ vào lòng. Thím đóng chặt cửa, rồi gào lên: “Cảm nang, đây rồi. Sắp giàu rồi, bố – mẹ ơi”.

Thật, bõ công, thân gái dặm trường.

Từ ấy, đoạn tuyệt nốt, với “chút lòng trinh bạch” cuối cùng. Thím, “đi với Ma – ở với Quỷ ”. Từ ấy, “Tẩu hỏa nhập Ma”. Thím, chuyên tâm, dùi mài kinh Quỷ. Chẳng bao lâu, thím đã trở thành, con Quỷ đầu đàn.

Thời gian, thấm thoắt thoi đưa”. Thoáng 1 cái, đã hết, cả chục năm trời, khổ luyện. “Đắc đạo Quỷ”, thím xuống núi, tìm đường, về quê hương.

Về quê, đúng năm con Gà. Năm ấy: Giặc dã, triền miên – Đê vỡ, nước ngập cả làng – Mất mùa, dân chết đói, nhiều vô kể. Trong khi, mọi người, đang mải miết khắc phục hậu quả. Nhà thờ họ, vắng tanh. Thừa cơ, thím lẻn vào và nhanh tay, cuỗm ngay cuốn sổ đỏ của dòng tộc. Có nó, thím dẫn lũ du thủ – du thực, mà thím vừa chiêu mộ, ra đình làng. Tại đó, thím thẽ thọt, dụ dỗ dân làng: Hãy, đoạn tuyệt, với chế độ chánh tổng – lý trưởng hủ lậu. Bắt đầu, từ ngày hôm nay, dân làng, sẽ được “làm chủ tập thể”. Tức là, cả làng, có thể ôm vai – bá cổ nhau, để cùng một lúc, ngồi lên chiếc ghế bé tí teo, của ông chánh tổng. Thím, sẽ đứng ngoài cái tập thể ấy và, xin nguyện làm, “đầy tớ”, cho họ. Thậm chí, dẫu có phải, làm trâu – làm chó, cũng chẳng từ nan.

Dân làng, nào đã biết, thím là ai. Họ, phân vân và, muốn hỏi ý kiến của cậu Tây – Người duy nhất, biết rõ về thím. Cậu ở đấy, vì dân làng, từ lâu, đã nhờ cậu che chở. Hai bên, kí hợp đồng, hẳn hoi. Thím, cho rằng, cái hợp đồng ấy, không bình đẳng và quá hớ. Thím, thuyết phục mọi người, cho nó, vào sọt rác. Tất cả, những đầu tư của cậu Tây, thím xù. Và hứa, sẽ đem chia hết, cho cả làng. Bị, gạt ra rìa và, bị cướp trắng tay: Cậu Tây, tức nổ máu mắt.

Đám đông nghèo hèn kia, dao động. Thím, bồi quả cuối cùng. Thím hứa, sẽ kéo cả Thiên đường, về nơi Hạ giới, cho họ. Lúc ấy, không phải làm cái gì nữa. Chỉ há miệng ra, là thức ăn, đã chảy vào mồm(!) Mờ mắt, trước viễn cảnh “tươi đẹp” ấy: Cả làng, sập bẫy thím.

Ôi, lòng tham. Nó, luôn đồng hành, cùng loài người. Và, nó sẽ luôn, hại họ.

Điểm lại, bao nhiêu năm, chót dại đi theo thím – Chừng ấy năm, thím xúi họ, đánh nhau triền miên. Không ngừng – không nghỉ. Nhà tan – cửa nát. Lớp chết – lớp què, dân làng chết vãn. “Của – tiền, tan (theo) bọt nước”. “Tranh – ngói, nhuốm màu mây”. Cảnh thê lương ấy, đâu xa lạ, với làng quê của thím. Cuối cùng, để được cái gì:

Những quyền cơ bản nhất của loài Người, là “quyền Sống – quyền Tự do”, cũng chẳng được, thím ban cho. Nói gì đến, “Ấm no và mưu cầu Hạnh phúc”. Bao nhiêu của nổi – của chìm, thím vơ sạch vào lòng. Dân làng, trắng tay. Họ, chỉ còn biết, “trơ mắt ếch”, mà đứng nhìn. Biết dại, thì đã quá muộn.

Thiên hạ, đã lên đến tận cung Trăng. Trong khi, nhà thím, còn đang ngoi ngóp và, ngày càng lún sâu, vào trong cái vũng bùn lầy, bẩn thỉu.

Sau vụ trộm, ở nhà thờ Tổ. Thím, sắm sửa trầu cau – rượu thịt – xôi gà và, bỏ cuốn sổ đỏ vào đó. Để, làm sính lễ. Thím, lễ mễ, gánh sang nhà chú Sam. Tự xin, làm tỳ thiếp cho chú. Kinh ngạc, vì chưa có tiền lệ. Lại không muốn, “buôn tranh – bán chìa”, với cậu Tây: chú Sam, không nhận. Tưởng, chú chê ít, thím còn sang, 2 lần nữa. Lần sau, bao giờ, lễ cũng hậu hĩnh hơn, so với lần trước. Chú Sam, cũng chẳng động lòng. “Quá tam, ba bận”. Bận nào, cũng thất bại. Thể diện, chẳng còn. Từ đó, thím hận chú Sam. Sau này, hai nhà, có xích mích. Thím, xua con, đánh chú Sam chí tử. Hậu quả: Nhà thím, tan hoang. Con thím, đứa chết – đứa què, nằm la liệt. Bản thân thím, cũng liệt nửa người. Bóp mật gấu, mấy chục năm trời, mới nhúc nhắc, đi lại được. Chú Sam, nào có hơn gì: Răng cửa, rụng mất mấy chiêc. Ra đường, lúc nào, cũng chỉ dám, cười mỉm chi. May mà, nhà giàu, thuốc thang tốt. Nên, chẳng hề hấn gì.

Hết cửa, để vào nhà chú Sam. Chẳng ngượng ngùng: Thím, quay về, ve vãn cậu Tây. Thím, thề thốt: Từ nay, sẽ là thứ phi ngoan ngoãn – biết điều, trong nhà cậu. Cậu Tây, đời nào chịu. Thím, trở mặt. Huy động cả nhà, hội đồng đánh cậu. Nhà thím, lại trở thành, bãi chiến trường.

Cũng vì đánh nhau, bao lần, thím phải sang nhà thằng Hoa, để vay mượn. Khi thì gạo – Lúc thì đòn càn – Khi thì búa – Lúc thì liềm. Thậm chí, mượn cả người của nó, để đánh nhau. Thằng Hoa hỏi: “Gốc – Lãi chồng chất, biết lấy gì mà trả”. Thím đáp: “Đất đai của dòng họ, tôi cắt ra, mà trả cho anh. Được không?”. Thằng Hoa, cười híp mắt, đồng ý.

Lại nói chuyện, thằng Hoa. Nhà nó, ở sát vách thím. Hai nhà, vốn có mối thù “thâm căn – cố đế”. Đánh nhau, đã hàng tỷ lần. Lúc, bên này được – lúc, bên kia thua. Chẳng biết đâu, mà lần. Nhà nó rộng – con nó đông. Nó, là thằng du côn khét tiếng. Tàn ác, với vợ con và Bạo ngược, với xóm giềng. Tranh chìa, từng li – từng tí đất đai, với họ. Ai, không thuận, nó kéo cả lò – cả ổ ra, đánh người ta.

Thằng Hoa: Lưng, to như tấm phản. Mặt nó, đầy thịt. Môi, dầy như miếng chả nướng, ở phố Sinh Từ. Đặc biệt, nó có cặp mắt ti hí, đầy đĩ thõa. Bao nhiêu lần, nó đánh mắt đưa tình – Bấy nhiêu lần, lòng thím rạo rực. Tối ngày, sang vay – mượn, tránh sao khỏi, bị nó hãm hiếp. Nhiều khi, nghĩ mà nhục. Thím thấy, mình chẳng bằng, các cháu đi bán thân. Chúng nó, đi bán thân, còn có tiền mang về, để nuôi con – nuôi gia đình. Đằng này, thím còn phải trả tiền, mới được, ngủ với người ta.

Cơm no – bò cưỡi”, thằng Hoa, vẫn chửa hài lòng. Nó, khinh thím ra mặt. Vì, nó biết: Thím, ve vãn và lang chạ, với tất cả, những thằng có máu mặt, trong giới Giang hồ. Riêng thím, vẫn nghĩ, mình trong trắng. Cho nên, thím ghi vào trong Hương ước: “Mua dâm như thím, thì được – Bán dâm như các cháu, thì không”. Vì chuyện này, ối người, đã đến gặp thím. Họ, mỉa mai – Họ, chất vấn. Thím, trừng mắt. Thím, dẩu mỏ. Thím, cãi cùn: “Luật, là tao – Tao, là luật. Tao, đã xấu – Lại còn, ác độc. Chẳng ai, muốn lấy tao. Nhưng, đã là đàn bà: Ối lúc, tao phải nứng. Tao, cũng muốn, có con như chúng mày. Vì thế, tao đành phải, ngủ với thằng đĩ đực ấy. Chúng mày, làm gì được tao?”. Dân làng, sợ. Chẳng ai, dám dây nữa. Từ đó, thím buông tuồng: Nứng lúc nào, sang nhà thằng Hoa, lúc ấy.

Mẹ, đã từng dặn thím: Để thằng đàn ông, ấn cái “của nợ” của nó, vào chừng 1 đốt ngón tay. Thế nào cũng đẻ ra vua. 2 đốt – ra quan. 3 đốt – ra thường dân. Vào tất – chỉ đẻ ra, lũ ăn mày. Thím, nào có muốn, đẻ ra, lũ ăn mày. Bởi thế, lúc nào ngủ với thằng Hoa: Thím, cũng dặn nó, chỉ được, cho vào 1 đốt. Nó cười và hí hoáy 1 lúc. Chịu không nổi, thím nói khẽ. vào tai nó: “Quan, cũng được”. Thế là, được thêm 1 tí nữa. Nhưng, cái kiểu “đuôi chuột chù, ngoáy lọ mỡ” ấy, khó chịu vô cùng. Thím, rên rỉ: “Thứ dân, cũng chẳng làm sao”. Cuối cùng, nứng quá, thím rít lên, như con mèo hoang: “Tổ sư thằng Hoa, thả hết ra đi. Con tao là ăn mày, cũng cam lòng”.

Thật, ứng nghiệm. Ba đứa con đầu của thím, còn lâu, mới sánh được, với lũ ăn mày.

Thằng đầu, mặt gãy. Tóc nó, dựng đứng và cứng như cái rễ tre. Sở trường, là chém gió. Còn lại: “làm đâu, hỏng đấy – nói gì, sai đó”. Nó, có 1 sở thích kì quặc: Chỉ thích, ngắm  *ồn heo và, sờ tí lợn. Mọi công việc, mà thím giao, nó trả lại, bằng hết. Chỉ nằng nặc, xin đi… hoạn lợn. Nó, yêu lợn đến độ: Vàng – bạc, cướp được của làng trên – xóm dưới, thím giao tất cho nó. Để, lấy vốn “làm ăn”. Ai đời, nó đem đổi hết, lấy bo bo về. Người và lợn, cùng ăn. Giao việc gì, nó cũng phá bĩnh. Nói không được, xấu hổ vô cùng. Thím, đành mua cho nó, cái chứng chỉ “đã học hết cấp 3. Rồi, tống khứ nó, lên mạn ngược. Ai hỏi, thím trí trá: Nó, làm kỹ sư canh nông. Chuyên ngành, hoạn heo – thiến chó, ở trên đó.

Thằng thứ 2: Mũi, to như quả cà chua. Mắt dài, có thể nhìn thấy tai. Tai to, gần bằng cái quạt. “Quý tướng của thằng này, kém gì Lưu Bị”. Thiên hạ, kháo nhau như thế. Lão thày bói mù, thường ngày, ngồi mốc mép, ở đầu chợ. Nghe lỏm được tin này, lão lần mò, tìm đến nhà thím. Lão, hướng cặp mắt thong manh, lên Trời. Rồi, mở máy bốc phét: Thằng này, có quý tướng, “nhìn xa – trông rộng”. Sau này, ắt làm đế vương. Thím mừng lắm, dốc bao nhiêu tiền của, cho nó ăn học. Khổ nỗi, nó không thích học. Nó, chỉ thích giao du – kết băng đảng, với lũ côn đồ. Ngày đêm, đi đánh lộn, với con nhà hàng xóm. Nó, có sở thích, chơi gái. Nó, đúng là, “nhìn xa – trông rộng”. Gái đẹp, dẫu có cách xa ngàn trùng: Nó, cũng đánh hơi ra  – Nó, cũng nhìn thấy rõ. Rồi, thế nào, nó cũng tìm đến, bằng được. Để, rúc đầu, vào háng của người ta. Hết tiền, nó chẳng xá gì chuyện: Xén đất đai nhà thím, đem đặt. Để, chơi cho đã. Ngán ngẩm, thím đành xích chân nó, vào thành giường. Ngày 2 bữa, sai người, đem đến cho nó: Thức ăn, đựng trong cái máng lợn.

Thằng thứ 3: Cao – To – Đen – Hôi. Đúng tiêu chuẩn, của 1 thằng, “đàn ông đích thực”. Thím, đẻ rơi nó, ở trên rừng. Vùng sâu – vùng xa, đào đâu ra “Thày hay – Bạn giỏi”. Bởi thế: Chơi, là chính – Học, là phụ. Chữ được – chữ mất. “Dốt đặc cán mai”. Bù lại, nó hiếu động và phá phách, thì thôi rồi.

Lại nói chuyện, phá phách. Xưa, nhà Nguyên bên Tàu, thường vỗ ngực kiêu hãnh: “vó ngựa của Nguyên Mông, lướt tới đâu, cỏ không mọc được tới đó”. Làm cho, mấy ngọn cỏ, không mọc được: Có gì là ghê gớm, mà, phải khoe nhặng cả lên. Đúng là đồ, có mắt không tròng. Bởi thế, không nhìn thấy, núi Thái sơn. Thằng Ba nhà thím, oai phong – lẫm liệt hơn nhiều. Nó, đi tới đâu, rừng trụi thui lủi đến đó. Nguyên Mông, đã là, cái thá gì.

Cũng, giống như thằng anh: Nó, rất thích chơi gái. Nhưng, sở thích của nó, thật bệnh hoạn. Nó, chỉ thích: Ăn thừa của người ta. Gái, càng già – càng thích. Gái, càng qua tay nhiều người – càng mê. Có thằng con như thế: Phó thường dân, còn phải thấy xấu hổ. Huống chi, “danh gia vọng tộc”, như thím. Chí ít, gia thất, cũng đã trải qua, ba đời làm mõ. Nhiều phen, thím chỉ muốn, “đâm đầu vào máy bay”, để tự tử. Nhưng, không thành. Thím, đành cắt cho nó, miếng đất công ven hồ. Dựng cho nó, căn nhà. Rồi, tống cổ, thằng mất nết và, cả cái con vợ rạc rài của nó, vào đấy. Thím, khóa trái cửa lại và, cấm chúng, giao du với dân làng.

Đến, thằng thứ 4, thím đã già. Thím, rút kinh nghiệm. Thím, uống thuốc tê. Đêm ấy, giao cấu với thằng Hoa: Thím, bắt và chỉ cho nó, được ấn vào, có 1 đốt. Ai ngờ, hiệu nghiệm.

Thằng Tư: Dung mạo, khôi ngô – Mặt mũi, sáng sủa. Nó, có dáng hùng dũng, của con mèo hen, khi ngồi trong xó bếp. Đi lại uyển chuyển, như con rắn ghẻ, đang trườn, trên đống đá răm. Nó, sở hữu, nước da cớm nắng của hạng đàn bà, bị bệnh “hậu sản”. Bù lại: Nó, không ham tiền vàng – Nó, chẳng màng gái đẹp. Thím, sung sướng muôn phần. Tưởng rằng, đã có chỗ nương tựa, khi về già. Thím, đi khắp Thiên hạ, tìm thày giỏi văn – kén thày giỏi võ. Mời họ về, luyện nó nên người.

Yên tâm về con, thím lại, “hành tẩu giang hồ”. Ở đâu thật thà, thím lừa. Ở đâu sơ hở, thím trộm. Nhà nào nhiều của, thím cướp. Đẫy tay nải, thím và lũ lâu la, hồi hương.

Về đến đầu làng, gặp ngay thằng Tư. Thấy nó, chắp tay sau đít và, đang diễn thuyết, trước 1 đàn…trâu. Nó, lải nhải: “Biển, không phải là biển. Đảo, không phải là đảo. Nói thế, không phải là biện chứng. Nhưng, như thế mới là biện chứng”. Hoảng hồn, thím sờ trán con. Thấy nó, hâm hấp sốt.  Thím, vội bế thốc con, về nhà. Gia nhân, khóc lóc kể khổ: Thiếu gia, học 10 chữ. Sau 1 ngày, còn nhớ được 3. Thêm ngày nữa, quên tiệt. Tuy vậy, lúc nào cũng tự vỗ ngực, mà cho rằng, mình là “đỉnh cao trí tuệ của hàng huyện”. Bởi thế, đã đuổi tiệt các thày. Tối ngày, chỉ mang quyển “kinh” Quỷ của thím ra, tụng niệm. Nói năng lảm nhảm, như bị động kinh. Làng trên – xóm dưới, xa lánh Thiếu gia. Họ, đặt cho Cậu, cái biệt danh “Thằng Lú”. Thím, chỉ còn biết, dậm chân – đấm ngực – kêu Trời.

Hôm sau, thím tức tốc, dẫn nó lên phố Lương Văn Can. Và, tìm mua cho nó, cái bằng Tiến sĩ. Ông bán hàng, hóm hỉnh:

-Thím, muốn mua cho nó, cái bằng Tiến sĩ của nghề nào?

-Nghề nào đắt nhất?

-Nghề Xây dựng.

-Thế thì, ông cho cháu, cái bằng Tiến sĩ Xây dựng.

Ông bán hàng đùa tiếp:

-Chuyên ngành gì? Nhà cửa – Cầu cống – Đường xá – hay Quy hoạch…?

Thím nghĩ bụng: Thằng này, mà xây nhà, thím sẽ bị, mái đè gãy cổ. Nó, mà xây cầu, thím sẽ bị, quăng xuống sông. Nó, mà làm đường, thím sẽ bị, hố “tử thần” nuốt chửng. Nó, mà quy hoạch, cả nhà thím, sẽ ra ở, giữa bãi tha ma… Tự cổ – chí kim, chưa từng nghe, chuồng xí sụp bao giờ. Bởi thế, để cho chắc ăn, thím mua cho nó, cái bằng “Tiến sĩ Xây dựng. Chuyên ngành: Thiết kế Chuồng xí”.

Ông bán hàng, là người tử tế. Ông, khuyến mại, cho 2 mẹ con, tấm biển “Trạng nguyên”. Nhớ chuyện Trạng Lợn, thím nhờ ông, sửa chữ “nguyên”, thành chữ “”. “Trạng nguyên”, sao oai bằng “Trạng Lú”.

Hai mẹ con thím, ngồi trang nghiêm, như 2 khúc gỗ, trên con Mẹc xê đì (Mercedes), mui trần – bóng lộn. Và, long trọng, rước cái bằng ấy, về quê. Cả huyện, bây giờ, ai cũng biết: Con thím, đã là người “có học”. “Tam nguyên Yên đổ”, cụ Nguyễn Khuyến, cũng ra xem, cái đám rước ấy. Tức cảnh và, cộng thêm, chút tức mình, Cụ có làm 1 bài thơ. Thơ rằng:

          Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai.

          Cũng gọi ông nghè có kém ai.

          Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

          Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

          Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

          Cái giá khoa danh thế mới hời!

          Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ,

          Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi.

Chuyện, đến tai thím, mấy mẹ con, giả điếc, không nghe.

Làng bên, có ông Ba Phi. Nhà ông, chuyên trồng thuốc lào. Láng giềng của ông, là chị Y moan  Bờ ra xin, người dân tộc Vân kiều. Nhà họ, đông con. Nhưng chưa có “đồng cô”, để hầu đồng. Thấy, “Trạng Lú” dễ thương. Họ, xin thím, đón nó sang chơi mấy ngày. Thím, nở mày – nở mặt, đồng ý. Ai dè, đến nhà ông Ba Phi: Nó, lên cơn. Nó, ba hoa chích chòe. Khiến, các con ông, phải cự nự: “Sao, bố phải đón, thằng oe con này. Hỉ mũi, còn chưa sạch – Ăn nói, như 1 thằng, vô giáo dục. Đến chơi nhà người ta, lại dám lên mặt, đòi dạy dỗ, cả nhà người ta”. Nhà ông, vì thế, lục đục. Chị Y moan  Bờ ra xin, hoảng hồn. Đóng sập cửa, ngay trước mũi nó. Ngượng đến mức, chỉ muốn độn thổ. Từ đấy, thím bắt nó, ở nhà. Lâu lâu, mới dẫn nó, sang nhà thằng Hoa. Để, “đi 1 ngày đàng”, mong sao, nó “học (được) 1 sàng khôn”. Và, 2 cha con, có dịp gặp gỡ. Để, âu yếm – Để, hôn hít – Để, vuốt ve. Cuối cùng, để tâng bốc lẫn nhau. Còn cái chuyện giao du, cấm tiệt.

Khổ nỗi, người thì tính thế, nhưng Trời thì không. Một ngày kia, chú Sam, cho người sang sông. Chú, long trọng, mời “Trạng Lú”, sang chơi nhà. Nhớ chuyện xưa, thím phân vân. Gặp ai, thím cũng hỏi. Từ , ông thày bói mù, ở đầu chợ. Cho đến, bà đồng cốt què, ở cuối làng. Tất cả, chẳng ai, nói đươc cho thím, cái sự cát – hung. Bí quá, thím đành muối mặt, tìm đến, ông giáo Thứ. Ông giáo, đã từng, bị mẹ con thím, khoắng cho 1 mẻ. Đến nhà ông, thím vẫn còn tinh tướng. Chẳng đợi ai mời, thím phủi chân, trèo tót lên chiếc sập của nhà người ta. Rồi, phủ đầu:

-Nhìn giá sách nhà ông: Tôi biết, ông là ai. Nhưng, ông cũng phải biết: Tôn Ngộ Không, thần thông quảng đại. Tuy vậy, vẫn phải đi hầu, lão hòa thượng vô tích sự Đường Tăng.

-Tôi biết.

Thím đắc ý:

-Phải chăng, vì bị, cái vòng kim cô, gắn ở trên đầu?

-Không phải thế.

Thím, nhâng nháo:

-Cho phép ông, được nói ra, ý kiến của mình.

-Xin hỏi thím: So về phép thuật, Đường tăng có giỏi hơn Sa Tăng – Trư Bát Giới –Ngựa Bạch hay không?

-Không.

-Những người kia, có vòng kim cô không?

-Không.

-Sao, họ vẫn theo hầu Đường Tăng?

-…

Ông giáo, chậm rãi: “Ngộ Không, là con khỉ. Sa Tăng, là Thủy quái. Bát Giới, là con Lợn. Ngựa bạch, là chú rồng con. Thần thông quảng đại như thế. Nhưng, họ vẫn phải, đội lốt những con vật. Họ, chỉ có, 1 khát khao bình dị: Đánh đổi tất cả, để được, làm kiếp người. Họ, theo phò Đường Tăng. Cũng chỉ vì, muốn biến những ước mơ ấy, thành hiện thực. Họ, không làm ngược đời, như nhà thím: Tu luyện, để biến mình, thành Quỷ”.

Bị, chạm nọc, thím tím mặt. Nhưng, chỉ thoáng qua, thím đã trấn tĩnh trở lại:

-Các con tôi, rặt 1 lũ, đầu trâu – mặt ngựa. Chúng, uống máu người không tanh. Thủ hạ của tôi, rặt 1 lũ cuồng tín – không tim. Việc thất Đức, như đấu Cha – tố Mẹ, chúng cũng chẳng từ. Nhưng, chưa có 1 đứa nào, làm ẩu với ông giáo. Chẳng nhẽ, ông giáo, không biết điều đó? Ông, cạnh khóe tôi, làm gì. Hôm nay, sang thăm ông giáo. Tiện thể, xin hỏi ông giáo, về chuyện: Chú Sam, muốn mời thằng Tư, sang chơi nhà.

Xưa, tôi mang sính lễ, đến tận nhà: Chú Sam, khinh tôi man ri – mọi rợ, nên không nhận. Sao bây giờ, đốc chứng, mời con tôi? Sớm không mời – muộn không mời, tại sao: Phải đợi, đúng lúc này. Có ẩn ý gì không?

-Tất cả, chỉ vì thằng Hoa. Ngày xưa, thím tình nguyện, xin làm tỳ thiếp. Chú Sam, không nhận. Nay, nhà thím nheo nhóc – gia cảnh bần hàn – luân thường, đạo lý đảo lộn. Chú, lại chủ động, giang tay – đón chào cả nhà thím. Tuyệt đối, không phải, vì thương yêu thím. Chú chỉ muốn: Thím, làm kì đà, cản mũi thằng Hoa du côn. Không cho nó, bơi qua sông, để sang phá phách nhà chú. Nếu thím thuận, chú Sam, sẽ sửa sang nhà cửa và, chu cấp cho thím. Ngược lại, thì thím biết rồi.

Chú Sam, ngu gì mà không biết: Thiếu gia nhà thím, là đồ trẻ con. Chú, đâu có muốn, tiếp nó. Nhưng, vì thím, nên vẫn phải mời. Đó là kế, mà “Dân gian pháp”, gọi là: “nhìn rau – gắp thịt”.

-Vậy, có cho, thằng Tư nhà tôi, đi không?

-Đi, cũng dở. Nhưng, ở sẽ dở hơn.

-Xin ông giáo, nói rõ hơn.

-Đi sứ, là việc hệ trọng. Tự cổ – chí kim, đều phải, thỉnh cầu hiền tài và, ủy nhiệm cho họ. Không ai, chọn lũ ngu ngốc. Bởi, họ sợ, bị lỡ việc và, bị mất mặt.

Ngày xưa, Khổng Minh, giỏi – tài nức tiếng. Đã có lần, ông một mình, lặn lội sang Đông Ngô. Với trọng trách: Thành lập liên minh Ngô – Thục, để kháng Tào. Ở đó, ông gặp, lũ “hủ nho” của Tôn Quyền. Chúng, sách – vở, đầy 1 bụng. Đứa nào, cũng đem, những tấm bằng Giáo sư – Tiến sĩ ra, để lòe Khổng Minh. Nghe chúng nói, Khổng Minh, chỉ phe phẩy chiếc quạt lông và, cười nhạt. Cuối cùng, ông chỉ tay, vào tận mặt từng thằng, mà nạt rằng: Chúng mày, rặt 1 lũ, ham sống – sợ chết. Trước – sau, chúng mày, chỉ nôn nóng: Muốn, dâng mảnh đất Đông Ngô giàu – đẹp, cho thế lực ngoại bang, vừa hùng hậu – vừa vô Đạo, là Tào Tháo. Trong thâm tâm của chúng mày, làm tôi tớ, cũng được. Miễn sao, vinh thân – phì gia. Đối với chúng mày: Xã tắc, sao bằng, cuốn sổ hưu. Ích kỉ, như lũ chúng mày, sống làm chi, cho hổ thẹn, với Đất – Trời. Chúng mày, khoe cái sự học. Học nhiều, mà làm chi. Trong khi, đến cái thùng rác, cũng không biết, đặt nó vào chỗ nào, trên đường làng. Học nhiều, mà làm chi. Trong khi, không rèn nổi 1 con ốc – vít, cho nó ra hồn. Bọn kia, im bặt.

Thím Việt, buột miệng:

-Chúng, ngu thế. Sao, chẳng biết dùng chiêu, “Chó cậy gần nhà – Gà cậy gần chuồng”. Đấu lý và, đấu khẩu với Thiên hạ, tôi toàn thua. Nhưng, chỉ cần, dùng 1 mẹo nhỏ, là đã có thể, chuyển bại thành thắng. Mẹo đó là, chụp cho đối phương, cái mũ “Các thế lực thù địch và phản động”, để bắt người. Bắt rồi, tận tình giúp họ… tự tử. Thế, là xong.

-Tôn Quyền, không có được, cái “viến kiến” của thím. Chính vì thế, Liên minh Ngô – Thục, hình thành. Cuối cùng, đả bại Tào Tháo. Họ, mà làm như thím, chắc chắn: Đông Ngô, mất – Trăm họ, phải rên xiết, dưới ách cai trị của giặc Tào. Đại Kiều – Tiểu Kiều, tránh sao khỏi, trở thành thê – thiếp của cha con Tào Tháo.

Nay, Thiếu gia nhà thím, văn dốt – võ nhát. Quanh năm, chỉ bám gấu váy và bú tí mẹ. Thiếu gia, chỉ giỏi, bắt nạt dân làng. Ra khỏi cổng làng, đầu rụt vào thân. Như con ba ba, lúc nghe thấy sấm. Rõ ra dáng, của 1 thằng hèn. Cậu ấy, là hạng người, vô tích sự. Sang đấy, thi đấu sao lại, với lũ “quần nho”, mồm mép lão luyện và được tuyển chọn, một cách hết sức kĩ càng của chú Sam. Thua, là cái chắc. Tránh sao khỏi, bị lũ kia, xỏ mũi – Tránh sao khỏi, bị chúng bỡn cợt và, đem ra, làm trò cười. Đàm phán – Kí cọt, được bất cứ 1 thứ gì: Chú Sam, cũng tròng vào cổ Thiếu gia nhà thím, tảng đá “trách nhiệm”. Rồi, bắt bơi. Xưa nay, cả nhà thím, không ai biết, từ “trách nhiệm”, nó là cái gì. Bởi thế, không đi “mò tôm”, mới là chuyện lạ. Cho nên: Đi, là sẽ mất mặt – Kí, là toi.

Không đi, “bản lĩnh đàn bà” của cậu ấy, sẽ bị phơi bày. Làng trên – xóm dưới, chê cười. Không đi – không tìm ra lối thoát: thằng Hoa, sẽ dìm cả làng thím, “xuống bùn đen vạn kiếp”. Bởi thế, không đi, thì cũng chết.

-Vậy, phải làm thế nào?

-Đây, chính là lúc, thím phải dứt khoát lựa chọn: Hoặc, chấp nhận, theothằng Hoa. Để, chết dần – chết mòn. Hoặc, chấp nhận, đi cùng chú Sam. Để, mở ra, 1 cục diện mới – tươi đẹp, cho tất cả mọi người. Lựa chọn rồi, cho Thiếu gia, đi chơi 1 bữa, đâu có muộn.

-Nếu, tôi chọn giải pháp thứ 3: Ban ngày, tôi ăn uống, ở nhà chú Sam giàu có. Đêm đến, lẻn về, ngủ với thằng Hoa lực lưỡng?

Nghe, thím nói, ông giáo thở dài và, phất ống tay áo, đứng dậy. Ông, bỏ vào nhà trong. Vừa đi, ông vừa khẽ ngân nga:

Lục bản mộc             (Ván, 6 tấm)

Nhị lượng đinh         (Đinh, 2 lạng)

Linh tinh hoa            (Hoa, mấy vòng)

Bài vị hương             (Lập bài vị, để thắp hương cúng vái)

Hạ thổ                       (Đem chôn)

Thím Việt, cũng thẫn thờ, đứng dậy – thất thểu, ra về. Biết nói sao, cho ông giáo hiểu: Không theo thằng Hoa, nó xá gì, mà không giết thím. Theo nó, liệt Tổ – liệt Tông nhà thím, lưu xú ngàn năm: Là dòng tộc, có “công”, “cõng rắn, cắn gà nhà”.

Lòng thím, rối bời. Tâm trí đâu, mà nhìn đường. Vừa đi, thím vừa vấp ngã, dúi dụi.                                     

Nguyễn Tiến Dân

Tạm trú tại: 544 đường Láng – quận Đống đa – Hà nội.

Điện thoại:  0168-50-56-430

6 phản hồi to “5160. Chuyện nhà thím Việt”

  1. […] xem lại những bài cùng tác giả: Chuyện nhà thím Việt – Nguyễn Tiến Dân: Cảm nhận sau một chuyến đi – NHẬT KÍ: Làm việc với Cơ […]

  2. […] xem lại những bài cùng tác giả: Chuyện nhà thím Việt – Nguyễn Tiến Dân: Cảm nhận sau một chuyến đi – NHẬT KÍ: Làm việc với Cơ […]

  3. […] 5160. Chuyện nhà thím Việt […]

  4. […] https://anhbasam.wordpress.com/2015/09/21/5160-chuyen-nha-thim-viet/ […]

  5. […] 5160. Chuyện nhà thím Việt […]

  6. […] Tiến Dân (Basam) – Thím Việt, nhà ở ven sông. Cha truyền – con nối, chẳng có ai, thiết tha […]

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: