BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

4828. Đức và 40 năm gian nan hoà nhập doanh nhân Việt

Posted by adminbasam trên 22/08/2015

Nguyễn Sỹ Phương / Trần Mạnh Thái (CHLB Đức)

22-08-2015

Nhân năm thứ 40 quan hệ ngoại giao, tháng trước nhiều đại biểu cao cấp Việt, Đức, đã tới dự lễ kỷ niệm mang tên 40 năm người Việt ở Đức hoà nhập và phát triển, tổ chức tại Trung tâm Thương mại Đồng Xuân, Berlin. Trong bài phát biểu của các quan khách thường nhắc tới cụm từ “thành công” và “tự hào”. Người Việt vốn “lời nói không mất tiền mua“, đặc biệt các dịp “vui như hội” rất cần những lời khích lệ, phấn khởi, có cánh. Dĩ nhiên, nếu lấy qúa khứ làm thước đo, so với cảnh người Việt cách đây gần 25 năm, thì những gì người Việt ở Đức đạt được đến nay qủa thành công thật vốn là quy luật vận động theo thời gian. Nhưng so cùng 2 thời điểm với người dân Đông Đức cũng như các sắc tộc khác và cả với tương lai dự báo, thì đằng sau những lời hồ hởi, vui mừng hội lễ đó là cả một vấn đề hoà nhập gian nan, cùng bao thách thức đang đe doạ tương lai người Việt phía trước. Không phải ngẫu nhiên, tại buổi lễ này nhóm phóng viên chương trình BBC Việt ngữ tới phỏng vấn, đã phải đặt câu hỏi: “Có ý kiến cho chợ Đồng Xuân là mô hình tư bản sơ khai ngay trong lòng một nước tư bản hiện đại“ có đúng không?

Mỗi người có thể có câu trả lời đúng hoặc không với lập luận, cách nhìn riêng. Nhưng dù trả lời gì thì cũng không thể tách rời lịch sử người Việt kinh doanh ở Đức, phân tích nó có thể tìm ra bản chất vấn đề, lời giải cho tương lai, và bổ ích cho cả doanh nghiệp trong nước. Trung tâm thương mại Đồng Xuân hiện nay chỉ là một trong cả chục khu bán buôn như thế ở phần Đông Đức, sau một quá trình sụp đổ hơn ngần ấy. Trong đó bị phóng hoả thui trụi tới 5 trung tâm, có nơi thiệt hại tới 20 triệu DM vào thời điểm giá đất Hà Nội 2-3 chỉ vàng 1 m2. Đó chính là 1 dấu hiệu đặc trưng của mô hình tư bản sơ khai mà hậu hoạ luôn rình rập người Việt từng gánh chịu.

Với người Việt xuất khẩu lao động sang Đông Đức không ai được sinh ra, lớn lên, đào tạo, hay sống trong nền kinh tế thị trường cả. Sự kiện Đông Đức sát nhập Liên bang Đức là một cú sốc, đẩy họ vào tình thế lưỡng nan, “trở đi mắc núi, trở lại cách sông“; quá nửa trước tương lai bất định đành nhanh chóng hồi hương. Số còn lại “đành liều nhắm mắt đưa chân“ bắt đầu từ vô số con số không, không rõ tương lai lưu trú, không một đồng vốn kinh doanh, không sẵn quan hệ làm ăn, không rành luật pháp, không hiểu chế độ chính sách tư bản nước Đức mới…, và đặc biệt vướng phải rào cản tiếng Đức đa phần ú ớ, chẳng khác mấy cảnh ngộ những người tỵ nạn. Tất cả đều phải tự mày mò, học hỏi truyền miệng, người này làm được, người khác làm theo, kiểu “thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào“, đặc trưng xã hội thời tiền tư bản.

Phần lớn doanh nhân Việt hồi đó khởi nghiệp bằng những xe bán hàng lưu động, kiểu bán dạo tại các chợ phiên, các tụ điểm đông dân cư hay bến tàu, bãi xe…. Thoạt đầu bán tạp hoá, áo quần, tiệm ăn, lác đác quầy bán hoa tươi… Sau vài năm tích góp được một số vốn, cùng lúc được Đức cấp quyền lưu trú, phần lớn những người hành nghề kinh doanh “bất đắc dĩ“ bắt đầu lục tục thuê cửa hàng, quán xá, hình thành nên ngạch bán lẻ hàng bách hoá, thực phẩm, nhà hàng người Việt… Các khu bán buôn, quen gọi khu chợ, khu giao hàng, hay trung tâm thương mại người Việt cũng hình thành theo, khởi đầu tạm bợ từ những khu nhà cũ bỏ trống thời Đông Đức. Cũng manh nha, sơ khai như người bán lẻ.

 Thời gian lao động doanh nhân Việt thật căng thẳng bởi phần đa phải vừa làm chủ vừa làm thuê cho chính mình. Trong khi, tư bản được hiểu theo công thức: “Tiền“ và “Tiền phảy“. Nghĩa là bỏ X tiền ban đầu ra kinh doanh, để sau đó thu được X tiền phảy cao hơn, không cần trực tiếp làm. Người Việt phải kinh doanh kiểu tự hành nghề lấy công làm lãi như vậy, bởi xin việc khó khăn, không mấy hãng Đức thuê. Có những nghề cực nhọc thức khuya dậy sớm như kinh doanh rau quả, hoa tươi, tiệm ăn chồng nấu vợ bồi… Hết lo cho công việc, đến con cái ăn học, tới gánh nặng thân nhân, họ hàng trong nước, thiếu thời gian lo cho bản thân, cho tương lai. Xem một bộ phim ở rạp, thưởng thức một buổi hoà nhạc – những sinh hoạt rất bình thường của người bản xứ lại xa xỉ đối với nhiều doanh nhân Việt, nói gì đến các chuyến du lịch nghỉ ngơi 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông ra nước ngoài, đặc trưng của một xã hội tư bản hiện đại. Thậm chí ốm đau cũng cố ra cửa hàng trông, lo mất khách. Vài năm tích góp được một ít tiền thì chỉ một lần về nước thăm gia đình là hết; trở sang, lại từ con số không thời khởi nghiệp. Một khi kinh doanh luôn từ con số không như vậy thì lấy đâu ra lãi thật để đúng với nghĩa tư bản hiện đại? Cứ thế, đến nay đã gần1/4 thế kỷ trôi mất.

*Co cụm trước quy luật đào thải

Dĩ nhiên tư bản dù sơ khai hay văn minh đều xuất hiện những doanh nhân thành công, chỉ khác nhau số lượng, độ chắc chắn, tính lành mạnh, và tương lai. Người Việt cũng vậy, không ít người thành đạt, lập được nhiều công ty lớn nhỏ, nhờ may mắn, tài giỏi “máu làm ăn“. Nói đến tự hào có thể đúng với con số không nhiều này. Tuy nhiên với mô hình tư bản sơ khai, tất cả đều phải đối mặt với đào thải bởi quy luật cạnh tranh cả lành mạnh, lẫn “chợ giời“. Nhất là khi người Việt tập trung kinh doanh những mặt hàng riêng, cả giá lẫn chất lượng đều kịch sàn. Từ khâu sản xuất tới bán lẻ hầu như gói gọn trong phạm vi giới kinh doanh người Việt, dẫn tới thị trường nhanh bão hoà do phụ thuộc khâu bán lẻ ít đầu tư, đa phần nhỏ lẻ, trong khi nhu cầu người Đức giới hạn đối với mặt hàng người Việt kinh doanh. Bán lẻ ế, tất cả đường dây từ gốc ứ theo.

Chưa nói, trước đây các tập đoàn bán lẻ tại Đức ít „lấn sân“ những mặt hàng giá rẻ người Việt kinh doanh. Thế nhưng khoảng chục năm lại đây hàng giá rẻ, chất lượng hơn hẳn, ngày một ngập, từ áo quần, đến đồ tặng phẩm, vật dụng gia đình, đẩy dần cửa hàng nhỏ lẻ người Việt ra khỏi thị trường.

Hàng năm có 2 mùa đại hạ giá vốn là cơ hội bán lẻ xả hàng tồn kho nhưng nay đang trở thành chu kỳ người Việt bán lẻ khốn đốn vì không thể cạnh tranh với các tập đoàn.

Cũng vậy, vài năm lại đây Đức phát triển mạnh phương thức bán hàng qua mạng chuyển tận nhà với giá rẻ nhiều khi dưới cả mức giá cửa hàng Việt phải trả tại các khu chợ Việt bán buôn. Trong khi đó, hành trình lưu thông hàng hóa người Việt vẫn nguyên xi truyền thống, không thể hoặc không cần hoặc không chịu thay đổi; hàng đến được tay người tiêu dùng Đức phải mua trực tiếp tại cửa hàng bán lẻ Việt; trước đó phải qua chợ Việt, trước nữa qua tay người “đánh hàng“, rồi người xuất khẩu trong nước hay các nước tương tự, rồi xí nghiệp sản xuất, với số lượng hạn chế. Không thể cạnh tranh nổi với quy trình hiện đại mua tận gốc bán tận ngọn, đa quốc gia, số lượng khủng, thậm chí chỉ diễn ra trên mạng, mang tận nhà.

Loài người ở đâu co cụm ở đó khó lòng mở mang phát triển. Hiện phần đa cửa hàng, quán xá, nhất là bán buôn trong các khu chợ Việt, hầu hết hoang mang lo lắng khi doanh thu ngày càng giảm sút theo cấp số nhân, trong khi đó các khoản chi từ tiền thuê mặt bằng, tới thuế, điện nước, lò sưởi, phụ phí, lương nhân công… ngày một tăng. Nhiều cửa hàng cả bán lẻ lẫn giao buôn buộc phải đóng cửa gia nhập „quân đoàn 4“ (tiếng lóng chỉ những người xin trợ cấp nhà nước mang tên Hartz IV do thu nhập không đủ bảo đảm cuộc sống), ngoại trừ số ít nhanh nhậy chớp được cơ hội từ buổi giao thời. Nay họ kinh doanh chỉ để thêm thắt, theo mô hình “chân trong chân ngoài“, vừa được miễn thuế, lại được nhà nước trợ cấp tiền nhà cửa, trang thiết bị tối thiểu, đồ sinh hoạt hàng ngày, ăn uống, học hành, chữa bệnh… không phải lo nghĩ gì. Trong khi sẵn tài sản, nhà đất tích trữ trong nước, tới nhiều triệu đô, cho thuê nhà, kinh doanh chứng khoán, tháng lãi tới trăm ngàn đô là chuyện thường.

*Tư bản hiện đại Đức. Khác với thời sơ khai thiếu luật lệ, mạnh thắng yếu chết, tư bản hiện đại được bảo đảm bằng hành lang pháp lý, chính sách, tài chính và bộ máy thực thi. Năm ngoái, Đức có 722.285 doanh nghiệp mới, gấp tới 7 lần tổng số người Việt tại Đức. Nghĩa là cơ hội kinh doanh luôn sẵn. Nhà nước sinh ra có nhiệm vụ tạo mọi điều kiện cho họ ra đời và phát triển. Từ phòng công thương IHK, tới các hội nghề nghiệp tổ chức các lớp tập huấn đào tạo kiến thức cơ bản cho họ miễn phí, đến các chính sách trợ cấp bảo đảm cuộc sống, cấp vốn khởi nghiệp, ưu đãi thuế đối với người lấy lãi đầu tư… Thế nhưng doanh nhân Việt với thực trạng sơ khai lại khép kín trên, không mấy thụ hưởng được tính ưu việt của nền kinh tế tư bản hiện đại đó.

Người Việt ở Đức không có nhà nước riêng để phục vụ mỗi đặc thù kinh doanh của người Việt, mà chỉ có hội đoàn thiện nguyện có thể tập hợp hỗ trợ lẫn nhau nhưng lại cũng không vượt ra khỏi nền tảng ý thức xã hội tư bản sơ khai của mình. Tính từ khi Đức thống nhất tới nay đã 25 năm, mới thành lập nổi Liên hiệp người Việt ở Đức cách 3 năm trước, nhưng ngay sau đó đã chìm đắm trong kiện tụng triền miên nay chưa dứt, bởi người đứng đầu vẫn nhận thức cũ tự cho mình là cấp trên như chính quyền, coi mọi chỉ trích mình là phá liên hiệp, chống cộng đồng. Đến Đại sứ từng bảo trợ thành lập góp ý cũng bị cáo buộc trên truyền thông “ném đá“, để rốt cuộc từ 175 sáng lập viên chỉ còn lại vài chục, trên tổng số trăm nghìn người Việt. Cũng đã ít nhiều hội đoàn điạ phương tổ chức được các buổi hội thảo, mời chuyên gia tư vấn chính sách thuế khoá, lao động, trợ cấp, hoà nhập. Nhưng phát triển rộng khắp hoặc liên kết ở cấp toàn cộng đồng, tư vấn chuyên sâu, kết hợp các ngân hàng, quỹ đầu tư, hoà nhập cộng đồng doanh nghiệp Đức thì xưa nay hiếm. Chỉ hy vọng, qua cú sốc kinh doanh hụt hẫng, “nước tới chân“ hiện nay, sẽ buộc các doanh nghiệp Việt “phải nhảy“, hoà nhập để tự cứu mình nhờ ưu thế sẵn có nền tảng nước Đức tư bản hiện đại. Nếu phóng đại cộng đồng người Việt ở Đức thành quốc gia và nước Đức là một thế giới đại đồng sẽ thấy được cả tình thế cấp bách hiện nay không chỉ đối với người Việt ở Đức!

*(Bài được biên tập đăng trên Thời báo Kinh tế Sài gòn)

Một bình luận trước “4828. Đức và 40 năm gian nan hoà nhập doanh nhân Việt”

  1. […] 4828. Đức và 40 năm gian nan hoà nhập doanh nhân Việt […]

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d người thích bài này: