BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

3553. Hồi ký Dương Văn Ba: Những Ngã Rẽ – Chương 8 và 9

Posted by adminbasam trên 12/03/2015

Viet-studies

Chương 8: NHỮNG CHUYẾN ĐI THĂM NƯỚC NGOÀI

11-03-2015

Trong thời gian làm dân biểu từ 1967 đến 1971, tôi có nhiều dịp đi thăm nước ngoài. Lần đầu tiên tôi cùng 5 dân biểu khác được Hạ Nghị Viện chính thức cử đi thăm xã giao các nước Ấn Độ, Thái Lan, Philippine, Nhật Bản, Đài Loan, Nam Triều Tiên. Lần đó tôi làm Trưởng đoàn, cùng đi với tôi có Nguyễn Văn Lễ, dân biểu tỉnh Gò Công (sau giải phóng mới lộ diện ông Lễ là cán bộ quân báo của Cộng sản. Trước đây ông từng là Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia của nhiều tỉnh. Không ai ngờ ông Nguyễn Văn Lễ hoạt động cho cộng sản. Tướng tá ông có vẻ nông dân, ông luôn theo phe thân chính phủ, từng nhiều lần ngửa tay nhận tiền của Phụ tá Tổng thống Nguyễn Cao Thăng và Phụ tá Tổng thống Nguyễn Văn Ngân. Trong các kỳ họp của Quốc hội, ông Lễ chẳng bao giờ phát biểu ý kiến, ông chỉ giơ tay bỏ phiếu thuận theo phe thân chính quyền. Ông chơi thân với những tay “cù lự” như Nguyễn Bá Cẩn, Võ Văn Phát, Huỳnh Ngọc Anh…Thế mới biết phía Cộng sản chuyên môn cài tình báo vào sâu trong phe chính quyền “bảo hoàng hơn vua”. Tiền của Nguyễn Cao Thăng và Nguyễn Văn Thiệu ông Lễ cứ ăn, nhưng phận sự làm điệp báo ông vẫn cứ âm thầm làm. Đâu có ai ngờ Cựu trưởng ty công an Gò Công, Trưởng ty công an Trà Vinh lại mang hàm Trung uý của quân giải phóng). Xin đóng ngoặc lại về ông Nguyễn Văn Lễ để tiếp tục câu chuyện đi thăm sáu nước Á Châu. Cùng trong chuyến đi của tôi còn có Bùi Văn Nhân, dân biểu đại diện cho Phật giáo Hoà Hảo tỉnh Long Xuyên, Danh Cường dân biểu tỉnh Trà Vinh, Tăng Cửu dân biểu Chợ Lớn.

Tại Ấn Độ, đoàn chúng tôi được Thủ Tướng Morarji Desai tiếp kiến. Ông Desai chỉ tiếp xã giao, chào hỏi cầu chúc cho chuyến đi thăm Ấn Độ được vui vẻ, tốt đẹp. Ông không phát biểu ý kiến gì về chính trị, vì Ấn Độ lúc đó có lập trường trung lập, cả phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng có Đại sứ tại New Delhi. Chuyến viếng thăm của chúng tôi tại Ấn kéo dài 4 ngày, lập trường hoà bình của chúng tôi được báo chí Ấn Độ đăng tải rùm beng. Lúc đó chúng tôi chủ trương các phía tham chiến tại Việt Nam phải ngồi lại với nhau, để có thể đàm phán với Bắc Việt, Việt Nam Cộng Hòa cần có thủ tướng dân sự.

Nước thứ hai chúng tôi viếng thăm là Philippines. Lúc đó Đại sứ tại Manila là ông Phạm Đăng Lâm. Ông Lâm rất ủng hộ chúng tôi, đích thân ông đưa đoàn chúng tôi đến chào tổng thống Ferdinand Marcos. Tổng thống Marcos tiếp đoàn chúng tôi tại phòng khách Phủ Tổng thống. Ông rất nhanh nhẹn và có nói thẳng: “Tôi mong muốn Tổng thống và Phó Tổng thống của các ông phải thật đoàn kết, các ông mới có sức mạnh”. Cách tiếp đón của ông Marcos rất giản dị, không khách sáo. Phòng đại sảnh của Dinh Tổng thống Philippine thời đó thiết kế cùng lúc cả chục khu salon tiếp khách. Ông Marcos liên tục tiếp kiến nhiều đoàn trong một buổi sáng, cho nên thời gian ông dành tiếp đoàn dân biểu Việt Nam Cộng Hòa chỉ khoảng 15 phút. 

Thái Lan hưởng lợi lớn từ chiến tranh VN

Tại Thái Lan, tôi được Đại sứ Đinh Trình Chính hướng dẫn đi thăm Thủ tướng Thanom Kitti Kachorn. Ông Kachorn bày tỏ lập trường ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa mạnh mẽ để tiến hành cuộc chiến tranh chống cộng sản. Ngay trong tình hình chính trị của Thái Lan,  Chính phủ Thái  lúc bấy giờ chưa dẹp yên được quân nổi dậy Cộng sản. Ông Thanom Kittikachorn nhiệt tình bày tỏ quan điểm chống cộng vì lúc đó nước Thái Lan đang hưởng lợi lớn do có cuộc chiến tranh Việt Nam. Thời kỳ đó Mỹ đã đổ vào Việt Nam hơn 300 ngàn quân. Mỗi tháng đều có vài ngàn lính Mỹ sang Thái Lan nghỉ phép, du lịch, ăn chơi. Nhờ vậy ngành du lịch Thái Lan bắt đầu phát triển mạnh.

Trong chiến tranh Việt Nam, tính từ khoảng thời gian năm 1965 đến 1975, ròng rã hơn 10 năm, Thái Lan hưởng món lợi to lớn qua việc cung phụng các dịch vụ du hí, nghỉ ngơi, các sex –tour cho lính Mỹ. Ngoài ra Thái còn có 2 căn cứ không quân lớn dành riêng cho Mỹ làm điểm xuất phát máy bay khổng lồ B-52 tàn phá Việt Nam. Thu nhập từ khoản du hí của lính Mỹ cộng với khoản cho mướn đất làm căn cứ không quân để đánh phá nước láng giềng, chính phủ Thái Lan đã làm giàu cho đất nước họ trên những đau khổ của Việt Nam. Cho đến nay, Thái Lan vẫn là đồng minh lớn của Mỹ tại lục địa Châu Á, là lính canh của Mỹ trong mọi tình huống. Chính phủ Thái Lan đang phát huy vai trò đó để tranh thủ nhiều món lợi đưa nhanh đất nước họ thành một nước phát triển lớn trong lục địa da vàng.

Đoàn dân biểu của chúng tôi còn được chính phủ Thái cho người hướng dẫn thăm 2 sân bay lớn cũng là 2 căn cứ không quân lớn của Mỹ tại miền Bắc Thái Lan: căn cứ Udon Thani và căn cứ Nakhon Thani. Chúng ta thử làm bài toán lợi nhuận mà chính phủ Thái Lan đã thu vét được từ chiến tranh Việt Nam. Với tổng số 500 ngàn lính Mỹ tham chiến tại Đông Dương, mỗi năm 1 lính Mỹ chỉ cần chi tiêu 1,000 USD cho ngành du lịch Thái Lan. Như vậy trong 8 năm liền từ năm 1966 đến năm 1974, số ngoại tệ chính phủ Thái thu được là:

1.000 USD x 500.000 x 8 = 4.000.000.000 USD

(bốn tỷ đô la – tính vào thời giá của năm 1975)

Con số đô la Mỹ lọt vào các tài khoản của ngân hàng Thái Lan còn lớn hơn nhiều. Đó là nguồn lợi tức khổng lồ mà chính phủ Thái dùng để phát triển kinh tế của nước họ từ nông thôn cho đến thành thị. Năm 1970, nhiều người Việt Nam có dịp đi thăm Bangkok đều có chung nhận xét:  Bangkok và cả nước Thái lúc đó so với thành phố Sài Gòn không hơn bao nhiêu. Thế mà sau 5 năm, trong khi Việt Nam tiếp tục đổ nát điêu tàn do bom đạn của Mỹ, với sự khôn ngoan khai thác món lợi từ chiến tranh Việt Nam, chính phủ Thái đã đưa nước họ vào một quỹ đạo tiến bộ nhảy vọt. 

Biện pháp mạnh của Đại Hàn

Đến Đài loan, đoàn dân biểu của chúng tôi được Liên Minh Á Châu Chống Cộng tiếp đón nồng nhiệt. Ông Cốc Chính Cương, Chủ tịch Liên minh Á Châu Chống Cộng mở đại tiệc chiêu đãi đoàn dân biểu VNCH, coi như đoàn của chúng tôi với Đài Loan là một phe.

Ấn tượng sâu đậm của chúng tôi là nước Đại Hàn (hiện nay là Nam Triều Tiên). Chúng tôi được Thủ Tướng Kim Chong Pil đích thân mở tiệc thiết đãi. Giữa ông và chúng tôi không có nói gì khách sáo, chỉ nhấn mạnh đến lập trường chống cộng sản. Ông Kim Chong Pil nói: “Nước chúng tôi chủ trương mạnh tay đối với những ai làm cản trở công việc chống cộng sản của chính phủ. Nếu cần chúng tôi sẵn sàng sử dụng biện pháp quân sự”.

Nhớ lại thời đó là thời kỳ của tổng thống Đại Hàn Pak Chung Hi, người chủ trương dùng bàn tay sắt, dùng vũ khí mạnh để giải tán tất cả cuộc biểu tình của sinh viên. Chính quyền thật mạnh tay đối với ai chống chính phủ, nhưng ngược lại họ đặc biệt đãi ngộ những gia đình có con em đi lính, có con em đã tử nạn vì chiến đấu chống cộng sản. Tổng thống Pak Chung Hi đã thành công trong việc đàn áp sinh viên, đàn áp các cuộc biểu tình chống đối. Nhưng họ cũng đã thành công trong việc xây dựng một chính phủ mạnh, ổn định được trật tự xã hội, tạo tiền đề cho việc phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế, biến Nam Triều Tiên thành một trong năm con rồng ở Châu Á. Họ cũng không giấu giếm việc các quan lớn sau khi tận lực làm việc được vui chơi hưởng lạc. Trong tiệc chiêu đãi đoàn Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa cả quan chức chính phủ cùng với khách mỗi bên mỗi người đều có một cô gái đẹp ngồi phục vụ.

Nhật Bổn là nước đoàn chúng tôi đến thăm sau cùng. Chúng tôi được Chủ tịch Thượng Nghị Viện Nhật Bổn là ông Takeo Kishi tiếp đón. Tôi có dịp đại diện cho đoàn Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa phát biểu ý kiến trước hơn 15 Nghị sĩ Quốc hội Nhật về lập trường hoà bình càng sớm càng tốt cho Việt Nam. Tôi mong mỏi Quốc hội Nhật đóng góp vào việc giúp đỡ cho Việt Nam có hoà bình với vị thế cường quốc kinh tế của họ. Ông Takeo Kishi cũng đã hoan nghinh đoàn chúng tôi đến thăm Thượng Nghị viện Nhật Bổn. Ông nói: “Nhật Bổn rất vui mừng thấy Việt Nam Cộng Hòa đã có sinh hoạt dân chủ”. Ông hứa sẽ làm hết sức mình để Việt Nam sớm có hoà bình. Đoàn của chúng tôi sau đó, còn được chính phủ Nhật cho người hướng dẫn đi thăm thành phố Yokohama, thăm hồ nghỉ mát Hakonei ở cách Tokyo 150 cây số.

Chuyến đi thăm 6 nước Châu Á lần đầu tiên của đoàn chúng tôi, có thể đã đạt được mấy kết quả sau đây:

– Tạo cho các nước láng giềng của Việt Nam hiểu được miền Nam Việt Nam đang cựa mình chơi trò dân chủ.

– Trong miền Nam Việt Nam, có một lực lượng mới, tha thiết muốn có hoà bình nhưng không thích Mỹ, đó là lực lượng quần chúng trẻ.

– Ngược lại qua chuyến đi đó tôi đánh giá được một điều: Các nước bạn bè của Việt Nam Cộng Hòa không đánh giá cao Tổng thống Thiệu và Phó tổng thống Kỳ. Họ cho chúng tôi thấy Việt Nam Cộng Hòa khó thắng nổi Cộng sản.

Đi thăm một số nước Châu Âu

Đầu năm 1969 ông Trương Gia Kỳ Sanh dân biểu tỉnh Phan Thiết và tôi được cử đi thăm một số nước Âu Châu. Cùng đi có dân biểu Nguyễn Thế Linh, dân biểu Tăng Cửu và 2 dân biểu khác tôi không nhớ tên.

Chặng đầu tiên chúng tôi ghé Oslo, Thủ đô của nước Norway (Na Uy). Trời quá lạnh, đầy tuyết phủ trắng. Đón chúng tôi là những đoàn biểu tình phản chiến, chống chính phủ VNCH. Chúng tôi đi đến đâu trong thủ đô Oslo nhất là ở các đại học, cũng chỉ thấy những biểu ngữ “Long live Ho Chi Minh”, “Peace for Viet Nam”. Tiếp đón đoàn chúng tôi trong quốc hội Na Uy chỉ là các dân biểu thuộc cánh hữu. Na Uy để lại trong tôi ấn tượng tuyết phủ trắng, giá cóng tay cóng chân, hai vành tai không còn cảm giác giống như có thể xút ra khỏi cái đầu. Dân chúng, sinh viên, báo chí của Na Uy lúc đó chống Mỹ, chống chiến tranh Việt Nam, chống chính phủ Sài Gòn mà họ cho là do Mỹ dựng nên. Dĩ nhiên họ ủng hộ Mặt Trận Dân Tộc Giải phóng Miền Nam, ủng hộ Hồ Chí Minh.

Khách sạn nơi chúng tôi ở luôn luôn có cảnh sát bảo vệ vì các nhóm phản chiến ở Na Uy rất hăng, sẵn sàng ném cà chua trứng thối vào đoàn chúng tôi. Ông Trương Gia Kỳ Sanh, dù là một người nổi tiếng chống cộng sản ở Phan Thiết vẫn phải lắc đầu ngao ngán. Ông nói với tôi: “Miền Nam thua chắc rồi anh Ba ơi. Trước tình hình này mình đâu có tuyên truyền được cái gì cho chủ nghĩa chống cộng ở bên nhà”.

Ông Trương Gia Kỳ Sanh là trưởng đoàn, ông nói tiếng Pháp khá giỏi vì từng là giáo sư Pháp văn ở Phan Thiết, ông đỗ tú tài đôi Pháp, là một trí thức nổi tiếng ở miền Trung. Trong chế độ Ngô Đình Diệm, nghi ngờ ông theo cộng sản, Diệm-Nhu đã bắt ông, thả dù ra ngoài Bắc cùng với bác sĩ Phạm Văn Huyến thân sinh của bà luật sư Ngô Bá Thành. Rơi xuống Đồng Hới, ông Sanh bị dân quân Đồng Hới chém một nhát vào đầu mà không chết. Ông bị chính phủ miền Bắc nghi ngờ là gián điệp, lại ra lệnh buộc ông phải trở lại miền Nam. Ông bị bắt đi đường bộ băng qua cầu Hiền Lương. Khi ông Sanh được thả về miền Nam với vết dao chém trên đầu, chính quyền Diệm Nhu mới tin và không truy đuổi ông nữa. Ông Sanh rất thương và tin tôi. Trong chuyến đi Châu Âu, tôi luôn ngủ chung phòng khách sạn với ông. Có lần ông tâm sự với tôi “anh Ba, tôi tin anh nên mới tiết lộ tôi là chú ruột của Trần Bạch Đằng. Cháu tôi Tết Mậu thân là Bí Thư Thành uỷ Sài Gòn Gia Định, chỉ huy tiến đánh Sài Gòn Chợ Lớn. Nó rất tin vào sinh viên, sử dụng lực lượng sinh viên học sinh trong nội thành Sài Gòn như ngòi nổ của cách mạng tiến đánh và lật đổ chính quyền. Trần Bạch Đằng, có cảm tình với các bài báo của Dương Văn Ba đăng trên Tin Sáng. Nếu có cơ hội, tôi sẽ giới thiệu anh với nó”. Là một người chống cộng nổi tiếng ở miền Trung, ông Trúc Viên Trương Gia Kỳ Sanh lại có cháu ruột làm khá lớn trong Mặt trận Giải phóng. Sự đặc thù trong chiến tranh Việt Nam là như thế. Chằng chịt về máu mủ, gia tộc, chằng chịt về tình cảm thân thuộc, về tình xóm giềng, tình bạn bè lúc thiếu thời. Người Mỹ vào Việt Nam giống như rơi vào một màng nhện hay lọt vào một rừng tre nứa, song mây quấn quít lấy nhau, khó thoát ra được. 

Công du hay đi chơi? Thu hoạch được gì?

Oslo là chặng đầu tiên của Châu Âu cũng là chặng mà chúng tôi cảm nhận được một điều hiển nhiên: “Bênh vực cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa là làm một điều không tưởng. Trong con mắt của người Châu Âu lúc đó Việt Nam Cộng Hòa là bù nhìn của Mỹ”.

Từ cảm nhận đó, khi sang Pháp. Thụy Sĩ, Bỉ, Anh Quốc ông Trương Gia Kỳ Sanh và tôi đều đồng ý với nhau ca bài hát: “Chúng tôi là thành phần chống Thiệu Kỳ, chúng tôi muốn ở miền Nam Việt Nam thật sự có dân chủ. Chúng tôi muốn chấm dứt chiến tranh. Chúng tôi muốn ở miền Nam Việt Nam có một chính phủ dân sự để thương thuyết với MTGP và với Bắc Việt”. Bài hát đó của ông Sanh và tôi lọt lỗ tai một số báo chí, một số dân biểu nghị sĩ tại các nước Châu Âu. Các ông Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Anh, Bỉ, Ý, Đức đều đồng tình với bài hát của chúng tôi. Vì tại Châu Âu lúc đó mà đi bênh vực cho Nguyễn Văn Thiệu chẳng khác nào chọc giận, đổ dầu thêm vào ngọn lửa căm phẫn đang bùng cháy. Mục đích riêng của các cá nhân trong đoàn dân biểu chúng tôi là đi du lịch để cho biết xứ người văn minh đến mức nào, để tận tai nghe rõ ràng sự phi chinh nghĩa của một chính quyền thân Mỹ tại Sài Gòn. Điều thu lượm được của mỗi một thành viên trong đoàn Quốc hội miền Nam đều khác nhau.

Như Dân biểu Nguyễn Thế Linh, do đánh xì phé ăn ông Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Bỉ  (Bruxelles), anh ta đã ghé Ý mua một chiếc xe Fiat 850, gửi tàu chở về Sài Gòn. Ông Trương Gia Kỳ Sanh, trong chuyến đi tại Bỉ đã rất vui vì được dịp gặp lại nhiều cựu học sinh của ông trước đây là con cháu của các chủ hãng nước mắm tại Phan Thiết, đi học xong ở luôn bên Bỉ sinh sống.

Cá nhân tôi, thu hoạch được nhiều điều riêng tư. Trước nhất tôi được đi chơi các hộp đêm tại Paris và Bonn nhờ tiền đánh bài ăn ông Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Bỉ, được biết thêm nhiều cô đầm khá đẹp. Thứ hai, mua được nhiều sách hay ở Paris, ăn được paté gan ngỗng, được Đại sứ Phạm Đăng Lâm ở Paris đãi ăn món hàu sống ướp đá ở một quán danh tiếng nhất nước Pháp. Tôi được đi xem bảo tàng Louvre, được lựa sách cũ bày bán bên bờ sông Seine, được cùng Dương Minh Đức, con trai lớn của Tướng Dương Văn Minh lái xe hơi đi Tours với ông Lê Văn Lâu để thăm anh Âu Trường Thanh (lúc đó đang dạy kinh tế tại đại học Tours). Trao đổi về tình hình chính trị, anh Thanh cho chúng tôi biết, anh không thích về Việt Nam nữa, vì theo anh Sài Gòn khó tồn tại lâu dài, chính quyền quân sự ở Sài gòn ăn chơi quá đáng, tham ô quá mức, không có cách gì chống cộng nổi.

Trong mấy ngày ở London tôi được quen với anh Diệp Quang Hồng, Cố Vấn Đại sứ Việt Nam tại Anh Quốc. Anh Hồng, quê quán ở Bạc Liêu, thuộc dòng dõi địa chủ lớn, là anh ruột của Phó Đề Đốc Diệp Quang Thuỷ, tham mưu trưởng hải quân VNCH. Tôi và anh Hồng đã đi thăm Đại học Coventry, thành phố dệt lớn ở phía Nam London. Đến đại học Coventry, giữa giá tuyết, nhưng người của chúng tôi nóng lên vì được nghe những tiếng hoan hô “Long live Ho Chi Minh”, “Victory for the Front”, “Thiệu American puppet in South Vietnam”…

Anh Hồng nói với tôi: “Nếu chiến tranh Việt Nam chấm dứt, moi sẽ ở luôn bên này vì làm sao về Việt Nam sống được dưới chế độ cộng sản”. Và anh Hồng, anh Thuỷ Tư lệnh Phó Hải quân đã làm như thế. Thuỷ rời Việt Nam trên con tàu hải quân ngày 28-4-1975. Tôi vẫn nhớ anh Hồng với những kỷ niệm ở London, anh dẫn tôi đi chơi cho biết xứ người. Dù ở xa, thật xa Bạc Liêu, anh từng nói với tôi, anh luôn nhớ về xứ sở nơi có những người Tiều Châu làm rẫy, trồng rau, nơi có những cánh đồng rộng xa tít tắp với những đàn cò trắng bay trong những chiều quê thanh bình. 

Bài học đáng suy gẫm về dân chủ

 Tôi học được ở Quốc hội các nước Châu Âu một vài điều lý thú: Mỗi dân biểu hay Nghị sĩ đều thuộc về một chinh đảng, đa số hay thiểu số. Họ đều có lập trường rõ ràng về các vấn đề của đất nước, có ý kiến rõ rệt đối với các đạo luật, nhất là về thuế. Họ tự do phát biểu ý kiến về bất cứ vấn đề gì, dù những ý kiến đó có tính cách chỉ trích đích danh Thủ tướng hay Tổng thống. Báo chí được tự do đăng tải các ý kiến đó. Cử tri ở các địa phương có quyền yêu cầu dân biểu hay nghị sĩ tìm cách giúp giải quyết các vấn đề đặc thù. Dân biểu, nghị sĩ bắt buộc phải có trả lời, họ có quyền yêu cầu chính phủ làm sáng tỏ các vấn đề cử tri thắc mắc. Dân biểu, nghị sĩ không nhất thiết phải tham dự tất cả buổi họp của quốc hội. Vấn đề nào họ cần lên tiếng ở nghị trường, họ mới đăng đàn trình bày. Đối với các vấn đề quan trọng, họ chỉ cần có mặt lúc biểu quyết. Ví dụ các phiên họp khoáng đại của quốc hội Anh, quốc hội Ý, có khi chỉ có vài chục người hiện diện (có mặt mà không dám nói điều gì cần thiết, sự có mặt đó chỉ là nghị gật). Nhưng không phải vì thế mà sinh hoạt quốc hội tại các nước buồn tẻ. Các nghị sĩ, dân biểu ít khi nói theo một chiều đã có sẵn. Vấn đề nào, văn phòng của họ cũng có ý kiến bằng văn bản. Quốc hội cung cấp tài chinh để dân biểu, nghị sĩ mở văn phòng riêng, mỗi người đại diện cho dân đều được quyền lựa chọn một hay hai cố vấn, quốc hội chi trả lương. Các cố vấn thường là các chuyên gia về luật pháp, kinh tế, tài chính, xã hội, các giáo sư đại học. Các cố vấn có trách nhiệm giúp ý kiến rõ ràng cho dân biểu, nghị sĩ về những vấn đề quan trọng của đất nước. Dân biểu hay nghị sĩ chỉ phải lấy quyết định dựa trên các ý kiến của cố vấn. Do đó, nghị sĩ dân biểu lúc nào cũng nắm sâu sát được các vấn đề. Thời gian họ dành nhiều cho việc vận động, tiếp xúc, trao đổi ý kiến cụ thể với các giới cử tri. Một văn phòng của một đại biểu quốc hội hàng năm nhận được nhiều ngàn thư từ góp ý kiến bày tỏ nguyện vọng, nêu thắc mắc của nhiều giới cử tri. Quốc hội của họ thật sự là một cơ quan quyền lực tối cao của dân.

Ngân sách hàng năm là vấn đề trọng đại nhất, không dân biểu nghị sĩ nào dám tự tiện bỏ qua các cuộc họp xét duyệt ngân sách. Thảo luận xét duyệt từng chương, từng mục của ngân sách nhà nước, chấp nhận cho chi tiêu khoản nào, bác bỏ khoản nào họ đều họp công khai trong khoáng đại hội nghị, luôn luôn có báo chí truyền thanh, truyền hình trực tiếp tham dự. Tiền của dân nộp thuế, họ công khai quyết định việc chi xài trước mắt của nhân dân. Trước hết, họ xem xét kết quả việc sử dụng ngân sách nhà nước trong tài khóa vừa qua. Họ cân đối tỷ lệ sử dụng các khoản chi tiêu. Những việc cần sử dụng ngân khoản to lớn, họ xét nét cặn kẽ. Các Bộ trưởng phải ra trước khoáng đại hội nghị trình bày chi tiết các đề án, phân tich hiệu quả của việc sử dụng tài chinh. Đề án nào được chấp thuận mới có ngân sách. Các Bộ, các địa phương không thể tự tiện chi tiêu. Không hề có sự ưu đãi về quyền lợi và tiện nghi riêng cho các Bộ Trưởng, Thị trưởng, Tỉnh trưởng. Tất cả đều phải có quy chế nhà nước. Không phải địa phương nào muốn sắm phương tiện sử dụng cho các cá nhân nắm quyền, cứ tự tiện quyết định (ở Việt Nam hiện nay, nhiều tỉnh muốn mua xe Toyota Land Cruiser 70-80 ngàn đô la một chiếc, Phó Chủ Tịch Tỉnh, phụ trách tài mậu đã đủ quyền quyết định). 

Được gặp Đức Giáo Hoàng Paul VI

Vinh dự lớn nhất của đoàn chúng tôi trong chuyến đi Châu Âu là được Giáo Hoàng Paul VI tiếp kiến. Ngài thăm hỏi về tình hình đất nước Việt Nam và cầu nguyện cho nhân dân Việt Nam sớm có hoà bình. Chúng tôi mỗi người trong đoàn đều được vinh dự bắt tay Đức Giáo Hòang Paul VI, hôn nhẫn thánh của ngài, được chụp hình kỷ niệm. Tấm ảnh chụp chung với Giáo Hoàng Paul VI trong kỳ tái tranh cử lần thứ nhì 1971 –  1975 là vũ khí có giá trị lớn của tôi đối với các cử tri Công giáo Bạc liêu. Nhờ tấm ảnh đó, đa số người Công giáo ở Bạc liêu đã bầu phiếu cho tôi. Đối với họ, cá nhân nào trong cuộc đời được diện kiến và hôn nhẫn thánh của Giáo Hoàng, đó là phúc đức và là người được ân sủng của Thiên Chúa.     

Một mình đi Mỹ quốc

Tháng 6-1970, tôi quyết định đi thăm nước Mỹ một mình. Trước khi đi, tôi tìm gặp dân biểu Trần Ngọc Châu, còn bị chính quyền Nguyễn Văn Thiệu giam giữ tại khám Chí Hoà. Nói là giam giữ, thật sự Trần Ngọc Châu vẫn được thường xuyên liên lạc với bên ngoài. Nữ dân biểu Kiều Mộng Thu có lúc là người tình của Châu, mỗi tuần đều vào khám Chí Hoà tâm sự với Châu nhiều giờ. Lúc đó, Đại tá Trần Vĩnh Đắc là Giám đốc Trại giam Chí Hoà, đã dành nhiều dễ dãi và tình cảm ưu đãi anh Châu, coi như là một loại tù chính trị.

Tôi cho anh Châu biết tôi dự định đi Mỹ và nhờ anh giới thiệu với các bạn bè Mỹ. Thời gian Trần Ngọc Châu làm Tỉnh trưởng tỉnh Bến Tre anh chơi thân với John Paul Vann một trùm tình báo Mỹ ở Vùng 4. Châu cũng là bạn thân của Daniel Ellsberg, người tiết lộ và xuất bản bộ sách “Pentagon Papers” gây chấn động nước Mỹ.  Trần Ngọc Châu cho tôi địa chỉ của Daniel Ellsberg, dặn khi tôi đến Nhật Bổn hãy đánh điện tín cho Ellsberg biết tin, để ông ta ra sân bay đón tôi.

Tôi làm y như thế. Trên đường đi Mỹ tôi ghé ngang Osaka Nhật Bản 2 ngày. Tại Osaka, tôi gửi điện tín cho Ellsberg, nói rõ mình là bạn của Trần Ngọc Châu muốn nhờ Ellsberg tổ chức đón và hướng dẫn tôi đi thăm các nơi trong một tuần lễ ở Hoa Kỳ. Khi tôi đến sân bay Los Angelès trong chuyến bay Boeing 747 của hãng hàng không Pan Am, vợ chồng Ellsberg đã có mặt tại sân bay để đón tiếp tôi. Anh ta tự lái xe đưa tôi về nơi nghỉ mát ngay bờ biển Santa Monica. Căn nhà nhỏ xinh đẹp của vợ chồng Dan ở sát mé nước biển, đầy ánh nắng và lộng gió. Tôi như bị choáng ngợp bởi sóng biển tràn sát mí nhà, nắng mênh mông trên bờ cát trắng dọc dài. Biển Santa Monica xanh biếc, đầy những cánh buồm trắng của những người lướt sóng trên tấm ván (surf-riding). Cảm giác choáng ngợp đó cho tôi thấy nước Mỹ rộng mênh mông, mỗi con người như viên sỏi được ném xuống dòng biển, tha hồ thỏa thích quay lăn, người giỏi đủ sức lăn được đến nơi mình muốn, kẻ yếu kém phải chấp nhận số kiếp của viên cuội nằm yên trên bờ cát. Tôi đến Santa Monica lần đó với cảm giác của người say rượu, thấy đã đời nhưng cũng chẳng biết mình sẽ rẽ về đâu.

Vợ chồng Daniel Ellsberg lập ngay chương trình làm việc cho tôi sau khi đưa tôi về ở một khách sạn nhỏ, sát bờ biển. Tối hôm đó, Daniel đãi tôi ăn bít tết bò Mỹ, uống rượu vang đỏ của Mỹ. Daniel hỏi thăm tình hình của Trần Ngọc Châu, tôi nói: “Sức khỏe của anh Châu khá tốt. Nhưng khi nào Thiệu sụp đổ Châu mới ra khỏi khám Chí Hoà”. Tôi hỏi Daniel: “Anh có giúp cho chúng tôi làm cho Thiệu sụp đổ được hay không?”. Daniel Ellsberg cười và nói: “Tôi sẽ đưa anh đi gặp Tướng Haig và tiến sĩ Henry Kissinger để anh nói điều đó với họ”. Tôi hỏi ngược lại Daniel: “Có thật là tôi có thể gặp Henry Kissinger không?” Daniel trả lời: “Những người bạn của tôi có thể làm được việc đó”.

Hai ngày sau, Daniel và một thanh niên Mỹ, từ Santa Monica, chở tôi đi San Clemente trên một xe Ford 4 chỗ ngồi, rộng rãi. Đường xa lộ trên nước Mỹ thênh thang, lần đầu tiên đến Mỹ quốc cảm giác của tôi thấy mình thật nhỏ bé. Không gian, kích cỡ quen thuộc của mình ở Việt Nam đột nhiên thay đổi hẳn. Một kích cỡ mới, một không gian mới bao quanh con nguời cũ. Tôi tự cảm thấy không thể nào sống lâu ở Mỹ được. 

Báo chí Mỹ chi phối thế giới

Điểm đến đầu tiên của chúng tôi là Trung tâm Báo chí của Toà Bạch ốc miền Tây. Đó là một cao ốc năm tầng. Ở mỗi tầng, hàng trăm phóng viên đang làm việc với các máy móc của họ. Daniel quen rất nhiều nhà báo. Một số người ngưng công việc đang làm để nói chuyện với Daniel. Họ đang chuẩn bị cho cuộc họp báo buổi chiều hôm đó của Tổng Thống Richard Nixon. Trung tâm báo chí của Tổng Thống Richard Nixon ở San Clemente gây ấn tượng mạnh nơi một nhà báo còn ở trong giai đoạn “thủ công” như tôi, đến từ miền Nam Việt Nam. Máy quay phim, máy ghi băng, máy viễn ký bày đầy la liệt trên bàn làm việc của mỗi phóng viên. “Caféteria” phục vụ cho khách ngày đêm. Lần đầu tiên tôi đến với nền công nghiệp báo chí lớn nhất thế giới (tháng 6-1970) tôi mới mường tượng được ảnh hưởng lớn lao của nền công nghịêp đó đối với mọi vấn đề của thế giới và đối với mọi nước trên toàn cầu. Người ta làm báo để thông tin cho toàn thế giới, để loan truyền những điều mới lạ sắp xảy ra liên quan đến vận mạng nhân loại.

Chiến tranh ở Việt Nam là một đề tài nóng. Không phải vì số phận đau đớn quằn quại của nhân dân Việt Nam hàng ngày. Đối với họ những người làm báo ở tầm cỡ quốc tế, quyết định số phận của chiến tranh Việt Nam là quyết định mối tương quan toàn cầu, Mỹ, Liên Xô, Trung quốc, thế giới Ả Rập, cả thế giới thứ ba chịu ảnh hưởng lan đi từ kết cuộc và diễn biến từng ngày của chiến tranh Việt Nam. Chiến tranh Việt Nam ngay lúc đó đã bị toàn cầu hoá. Nixon, Kissinger đang tiến hành cuộc giải quyết chiến tranh Việt Nam trong chiều hướng Việt Nam là một mắc xích quan trọng trong dây chuyền xếp đặt thế giới. Thiệu không thể nào tồn tại lâu dài được vì Nixon và Kissinger phải cởi bỏ gánh nặng của mắc xích Việt Nam để sắp xếp lại cuộc cờ thế giới trong một thế chủ động mới. Toàn thể báo chí hình ảnh và báo viết đang tập trung tại San Clémenté để theo dõi những gì sắp xảy ra trong thời gian tới, xuất phát từ kỳ nghỉ hè của Bộ Tham Mưu của Nixon tại toà Bạch Ốc miền Tây. 

Gặp Cố vấn An ninh của Tổng thống Nixon

Sau Trung tâm Báo Chí Quốc tế, tôi được Daniel và bạn của anh ta đưa thẳng vào khu dinh thự mùa hè của Nixon, Kissinger và Haig.

Người đầu tiên tôi được gặp là một thanh niên Mỹ khoảng 27 tuổi, cao khỏang 1m 8 phụ tá báo chí của Tướng Haig. Đó là Winston Lord (sau này Winston Lord trở thành Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ). Lord tiếp tôi và Daniel trong 15 phút. Anh ta dặn tôi trình bày những điều muốn nói với Tướng Haig thật ngắn gọn vì Haig và Kissinger sắp có cuộc họp với tổng thống Nixon.

Tướng Haig là phụ tá An ninh quốc gia của tổng thống Nixon cùng với tiến sĩ Henry Kissinger. Haig là một tỷ phú (không đúng – THD) trong nhóm Cộng hoà, nhỏ hơn Nixon chừng 10 tuổi. Alexander Haig tiếp tôi trong phòng làm việc của ông ta khoảng 30 phút. Ông ta hỏi tôi: “anh nghĩ thế nào về việc chấm dứt chiến tranh Việt Nam?” Tôi nói: “Dân Việt Nam nghĩ tổng thống Thiệu là cản trở số một trước mắt. Hãy thay đổi Thiệu một chính phủ dân sự sẽ nói chuyện được với Việt cộng và sẽ có hoà bình nhanh chóng”. Tướng Haig nói: “Ông không sợ chính phủ dân sự sẽ giao miền Nam cho cộng sản hay sao?” Tôi nói: “Dân Việt Nam muốn có hoà bình. Nếu nói chuyện được với cộng sản để sớm có hoà bình là một điều tốt nhất cho dân tộc chúng tôi”. Haig cười không trả lời. Ông lại nói tiếp: “Ông có muốn chính phủ Mỹ giúp gì thêm cho Việt Nam?”. Tôi nói: “Chính phủ Mỹ nên giúp Việt Nam sớm có hoà bình là điều cần làm nhất”. Tướng Haig nói: “Tôi sẽ nói chuyện với tiến sĩ Kissinger về cuộc gặp ông hôm nay”. Chúng tôi từ giã Haig ra về. Bên ngoài chiếc trực thăng Air Force One của Richard Nixon đậu lù lù trong sân chờ sẵn. Chuyến viếng thăm nước Mỹ của tôi có thể coi như kết thúc tại đó, sau khi nói chuyện với Tướng Alexander Haig. Vì tôi đi Mỹ, trong lòng chỉ có từng ấy nguyện vọng, nói thẳng với Toà Bạch ốc là nên gạt bỏ Thiệu.

Daniel Ellsberg nói với tôi: “Haig là phần tử cứng trong Bộ tham mưu của Nixon. Anh đã nói với Haig ngắn gọn như thế, có lẽ ông ta sẽ suy nghĩ”. Daniel vui vẻ chở tôi đi một vòng dạo quanh bờ biển San Clemente. Tôi trở lại Santa Monica, ở chơi với vợ chồng Daniel thêm 2 hôm, cố ý thăm dò quan điểm của anh ta về tình hình chính trị ở Việt Nam. Daniel cho tôi biết đang thu thập tài liệu để công bố thêm những bí mật chưa được tiết lộ của Toà Bạch ốc thời kỳ Nixon về chiến tranh Việt Nam. Từ giã vợ chồng Daniel Ellsberg tôi bay đi Washington DC gặp thêm một số bạn bè của Daniel trong phong trào phản chiến. Tôi đi lang thang ở một số Bar và Night Club trong hai đêm một mình. Sau đó đến nhà Đại Tá Nguyễn Linh Chiêu, Tuỳ viên Quân sự Việt Nam Cộng Hòa tại Mỹ. Đại tá Chiêu có lúc làm Tỉnh trưởng tỉnh Trà Vinh. Vợ ông ta khá đẹp, nấu phở rất ngon. Ông ta chở tôi đi chơi New York một ngày. Đại tá Chiêu một con người lịch sự nhẹ nhàng, có căn biệt thự đẹp ở Thủ đô Mỹ. Trong vườn nhà ông có nhiều cây táo chín đỏ. Vườn nhà bên Mỹ không có hàng rào ngăn cách hai bên láng giềng. Họ có thể qua lại với nhau bằng đường bên hông nhà. Hàng rào chỉ có phía trước mặt nhà, trang trí cho đẹp. Đại tá Chiêu, một người có văn hoá có tài sản, ngoại giao lịch sự. Nhưng ông ta lại mắc một chứng bịnh bẩm sinh, bịnh ăn cắp vặt. Cứ vào siêu thị, ông có tật hay lén lấy đồ bỏ túi áo, không tính tiền. Nhiều lần bị bảo vệ siêu thị Mỹ bắt tại trận. Bộ Ngoại giao Mỹ có lưu ý VNCH, nhưng không ra lệnh trục xuất ông vì biết đó là một loại “chứng tật di truyền” của một người giàu có.

_____

Viet-studies

Chương 9: ĐỐI MẶT VỚI GIAN LẬN BẦU CỬ

12-03-2015

Thời gian 4 năm tôi làm dân biểu tỉnh Bạc Liêu qua cũng khá nhanh. Sau khi tôi đi Mỹ về, cuối tháng 6-1970, quỹ thời gian của tôi chỉ còn lại có 12  tháng.

Kiểm điểm lại những gì mình đã làm được với tư cách đại diện nhân dân Bạc Liêu, tôi có những đánh giá sau:

– Với tư cách một người trí thức trẻ, quê quán gốc Bạc Liêu, tôi đã chứng tỏ được mình là một con người không quay lưng trước bạo quyền, dám công khai chỉ trích những tệ nạn do chính quyền cũ gây ra, và chỉ trích mạnh trên báo chí.

– Tôi đã gây dựng được một phong trào đấu tranh trong lòng quần chúng Bạc Liêu, những người trẻ khác, cùng lứa tuổi với tôi, tại tỉnh Bạc Liêu, đã mạnh dạn dám ăn dám nói, dám đối lập với chính quyền. Những người đó đã đi đầu trong việc hướng dẫn quần chúng, kết hợp với sự đấu tranh của Phật Giáo. Nhiều người trẻ ở Bạc Liêu đã trở thành diễn đàn nói thẳng với chính quyền và là chỗ dựa của dân khi họ gặp chuyện bất công, oan ức. Các bạn trẻ của tôi Đỗ Khắc Tường, Tạ Văn Bo là những thầy giáo của trường Trung học Bồ Đề, nhờ mạnh mẽ đứng ra nói tiếng nói của quần chúng, trong kỳ bầu cử Hội đồng tỉnh năm 1970, anh Tường và anh Bo đã đắc cử Nghị viên tỉnh Bạc Liêu, cùng với anh Tạ Kim, đại diện chính thức của tôi, cũng đắc cử. Ba người này tạo ra tiếng nói đối lập với chính quyền của Tỉnh trưởng Hoàng Đức Ninh. Họ công khai chống đối với Ninh trong việc đuổi chợ Bạc Liêu, giao cho một tay thầu ở Vĩnh Long xuống Bạc Liêu sắp xếp lại toàn bộ việc mua bán trong chợ. Giới mua bán nhỏ trong chợ kêu cứu, các ông Nghị viên trẻ đã chống đối ngăn cản không cho Ninh phá chợ, phá chén cơm của nhiều người đem giao cho một tay thầu có ăn chia với ông ta. Để tạo áp lực, các Nghị viên Bo, Tường, Kim đã tuyệt thực tại Hội đồng tỉnh với biểu ngữ chống Tỉnh trưởng phá chợ. Ninh đã cho lịnh bắt giam những nguời này, tôi đã bay về Bạc Liêu để can thiệp. Tôi đã dẫn theo một đoàn mấy nhà báo Sài Gòn, kể cả mot nhà báo Mỹ, nữ phóng viên Marie Joannidis người gốc Hy Lạp. Tôi đã yêu cầu ông Chánh An Huỳnh Văn Xuân phải xét lại việc Ninh bắt giam 3 Hội Đồng tỉnh. Chánh An Xuân đã lập phiên toà xử công khai, tuyên án trả tự do cho họ. Việc bắt giam 3 hội đồng tỉnh trong cả 4 ngày, là thêm một việc làm bạo ngược của Tỉnh trưởng Hoàng Đức Ninh. Tôi đã loan tin trên báo, phê phán Ninh nặng nề, Ninh rất căm ghét tôi, Thiệu thì cho tôi là thằng luôn phá rối trật tự trị an. Đối với độc tài, không có cách nào khác hơn là phải công phá dư luận. Liên tiếp trong nhiều tháng, trên báo Tin Sáng, báo Thời Đại Mới, báo Bút Thép, báo Công Luận là những tờ báo thân hữu, hầu như tuần nào tôi cũng loan tin, nêu bật các sự kiện hỗn loạn, vô trật tự, mất dân chủ ở tỉnh nhỏ Bạc Liêu. Vận dụng sức mạnh của dư luận báo chí, một vũ khí tấn công của tôi đối với chính quyền ngang ngược ở tỉnh. Một lần, Hoàng Đức Ninh đã cho lính địa phương quân thuộc tiểu khu Bạc Liêu tổ chức giết tôi. 

Chết hụt 2 lần

Trong tháng 4-1971, tháng Thanh Minh, những người dân Bạc Liêu, Cà Mau, xa quê thường về thăm gia đình và nhân đấy cúng mã mồ ông bà tổ tiên. Có một Đại úy làm việc ở Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn, lần đó, mặc thường phục chở vợ con về xã An Trạch, quận Giá Rai cúng Thanh Minh. Xui cho ông ấy, ngày đó cũng là ngày tôi đi Giá Rai thăm cử tri, vận động quần chúng. Từ Giá Rai, khoảng 3 giờ chiều tôi đã đi về Bạc Liêu. Tôi đi trên một xe Datsun 1300, sơn màu trắng. Về đến Bạc Liêu gần 4 giờ chiều. Tối hôm đó, tôi nghe một số người trong chợ Bạc Liêu báo: “Hồi chiều có một xe du lịch từ Cà Mau ra khỏi xã An Trạch vừa qua ấp Khúc Tréo bị Việt Cộng phục kích bắn chết tài xế.”

Tôi cũng mừng mình về sớm, nếu không, lỡ gặp cảnh đó không biết số mạng mình sẽ ra sao. Ai ngờ, ba tháng sau, tôi gặp chị Nguyễn Thị Trung, vợ thứ nhì của anh Hồ Ngọc Nhuận, chị Trung cho biết: “Anh Ba, mạng anh lớn lắm đó”. Tôi hỏi tại sao chị lại nói như vậy. Chị Trung kể: “Ba tháng trước, thằng cháu rể của tôi là đại uý, mặc civil, chở vợ con về An Trạch cúng mả, dọc đường bị lính địa phương quân phục kích bắn chết. Bắn xong, chúng nó chạy ùa lên đường, lật xác người chết xem, có đứa chỉ huy la lên: “Đ.M. không phải thằng Dương Văn Ba tụi bây ơi”. La xong, cả bọn lại lũi xuống ruộng dông mất. Vì tôi có ân oán giang hồ với Hoàng Đức Ninh, hắn đã cho người phục kích giết tôi nhưng lại giết lầm kẻ khác. Ông đại uý, cháu rể chị Trung, đã thay mạng tôi chết oan, tôi chưa thắp nén nhang nào để cầu siêu cho anh ấy. Hôm nay, qua những dòng chữ này, tôi xin lỗi đối với oan hồn của anh và tin chắc anh đã tiêu diêu nơi cõi Phật.  Mạng sống của tôi, anh đã thay thế tới bây giờ, tôi mới hối hận là hồi đó, khi biết tin, mải mê với công việc, tôi chưa lần nào vào chùa để cầu siêu cho anh. Kẻ tổ chức giết tôi, lại giết nhầm anh. Đó là số phận. Kẻ giết anh đến nay cũng chưa đền tội.

Lần thứ nhì, Hoàng Đức Ninh giết tôi hụt, cũng là vận may của tôi. Ngày đó, một ngày trong tháng 8-1971, tôi đã sắp xếp chương trình đi vào xã Vĩnh Hưng quận Phước Long để vận động dân chúng. Thầy Quảng Thiệt và dân biểu Thạch Phen đã chuẩn bị sẵn sàng mấy chiếc Honda 70 cùng với 8 học sinh trường trung học Bồ Đề đi theo. Sáng hôm đó, tự nhiên tôi có linh cảm không hay. Tôi nói với thầy Quảng Thiệt: “Tôi cảm thấy trong người bất an, không muốn đi, hay là thầy cùng 8 em học sinh đi thay tôi và Thạch Phen. Thầy đầy đủ tư cách để nói chuyện với bà con ở Vĩnh Hưng”. Quảng Thiệt đồng ý, nói: “Vĩnh Hưng là một xã nguy hiểm. Vào đó, có thể gặp tụi lính của Mã Thành Nghĩa tiểu đoàn 411 làm bậy. Để tôi đi một mình với mấy em học sinh Bồ Đề là đủ rồi”. Thầy Thiệt và mấy em học sinh, khăn gói đầy đủ truyền đơn vận động tranh cử, hình ảnh của tôi và Thạch Phen. Thầy Thiệt dẫn đám quân học sinh đi bằng 5 xe Honda 70 đàn ông. Tôi tiễn họ đi mà trong lòng không yên. Mãi đến khuya hôm đó họ vẫn chưa về. Cả ngày hôm sau, chúng tôi chờ đến 6, 7 giờ tối mới thấy tàn quân của Quảng Thiệt dẫn về. Ao thầy tu màu lam của thầy rách tả tơi. Học sinh có em bị sưng mặt, có em bị lọi tay, có em chân đi cà nhắc. Chúng tôi họp nhau ở nhà của Đỗ Khắc Tường, kế bên Chùa Vĩnh Hoà thầy Thiệt nói: “Anh Ba không đi chuyến này là hên lắm. Thầy trò tụi tui bị Mã Thành Nghĩa đích thân tiếp đón. Tụi nó cho tui một trận đòn nhừ tử, cả chục thằng lính địa phương quân vây đánh bọn tôi. Chúng nó vừa đánh vừa chửi: “Đ.M. thằng Dương Văn Ba chưa tới số, hôm nay, nó xuống đây, tụi tao cho tụi bây ôm xác nó về chợ Bạc Liêu”. Mã Thành Nghĩa uống rượu say bí tỉ, chống nạnh, chửi thề: “Đ.M. thằng Ba Dương xuống đây, đích thân tao đánh nó chết. Đ.M. nó còn hên lắm. Tụi tao đươc lệnh chờ nó ở đây mấy ngày rồi. Mày thầy tu hả, tao đánh theo kiểu thầy tu. Tụi bây bắt chúng nó nhốt trong mấy chuồng trâu cho muỗi cắn, cho nó biết thế nào là dám chống chính quyền, thế nào là lễ độ với Đại tá Ninh…”. Thầy Quảng Thiệt nói: “Tụi nó định bắn anh tại Vĩnh Hưng. Không có anh, tụi nó đánh thầy trò tui ê mình, ê mẩy, may mà tôi có chút võ công, nên không đến nổi”. Mấy em học sinh vừa khóc vừa nói: “Thầy Ba ơi, rất hên cho thầy đó, hôm qua thầy xuống dưới, tụi em đã phải ôm xác thầy về”.

Quảng Thiệt và các em học sinh đã nói lên sự thật: Hoàng Đức Ninh đã cho lệnh “phơ” tôi ở các vùng xôi đậu nặng như vùng Vĩnh Hưng, Phước Long. Số tôi chưa hết nên tôi đã không đi xuống chỗ tử địa. 

Không thể đào ngũ

Trước ngày bầu cử Hạ Nghị Viện lần thứ hai mấy tháng, vào khoảng tháng 6-1971, tôi và các anh em trí thức ở Bạc Liêu có họp bàn kế hoạch: “Tôi có nên tái tranh cử ở Bạc Liêu hay không?”. Anh Tạ Kim người lớn tuổi nhất trong nhóm nói: “Dương văn Ba không nên về Bạc Liêu tái ứng cử. Hoàng Đức Ninh nó mạnh lắm. Chắc chắn nó tổ chức gian lận, mình không địch lại nó được đâu”. Thầy Quảng Thiệt có ý kiến khác: “Dương Văn Ba phải sống chết ở Bạc Liêu đấu tranh, bỏ về Sài Gòn ứng cử, rất có thể thắng vì bây giờ Dương Văn Ba đã có nhiều tiếng vang tốt trên báo Sài Gòn. Nhưng bỏ Bạc liêu là đào ngũ. Tụi tôi ăn nói làm sao với những người ủng hộ Dương Văn Ba đây”.

Đỗ Khắc Tường, Tạ Văn Bo cũng đồng tình với ý kiến của Thầy Thiệt. Riêng tôi, tôi không muốn bỏ chạy vì biết rõ mình được đại đa số cử tri Bạc Liêu ủng hộ. Bỏ chạy là hèn nhát. Ở lại chiến đấu chống gian lận bầu cử của Hoàng Đức Ninh mới đáng là đại diện cho dân. Tôi quyết định tái tranh cử năm 1971 ở Bạc Liêu, mặc dù bác Trầm Đức Quang khuyên tôi nên ra tranh cử ở Chợ Lớn, Bang Hội Triều Châu Chợ lớn sẽ ủng hộ tôi vận động người Hoa, kể cả tài chinh nữa. Tôi hơi phân vân. Nhưng vẫn quyết định ở lại Bạc Liêu, vì còn có Thạch Phen, tôi không thể bỏ ông ta một mình ở lại đối mặt với Hoàng Đức Ninh.

Buổi chiều ngày nộp đơn ứng cử, tôi vào Tòa Tỉnh trưởng làm thủ tục. Gặp Đại tá Ninh, anh ta nói: “Ông dân biểu tái tranh cử ở Bạc Liêu, chắc chắn là thắng rồi, yên chí đi”. Anh ta vừa nói vừa cười, vẻ mặt hớn hở. Anh ta biết chắc tôi đã lọt vào cái bẫy mà ông ta đã giăng sẵn, chờ đó, cả mấy tháng rồi.

Trong 30 ngày vận động tranh cử, nhóm anh em cộng sự cuả tôi giới hạn việc đi xuống các vùng sâu, vùng xa, sau biến cố Quảng Thiệt và các học sinh Bồ Đề bị đánh nhừ tử ở Phước Long. Chúng tôi mời các Ban đại diện Phật Giáo ở các xã về, mời các đại diện sư sãi Khơ Me về, mời các thầy giáo trong hệ thống của tôi về. Mọi người đều nói: “Thầy Ba và Thầy Phen kỳ này chắc chắn đắc cử, nếu chính quyền không gian lận. Thầy Ba không nên một mình đi đâu xa khỏi chợ Bạc Liêu, chỉ cần đưa truyền đơn, chúng tôi âm thầm phát cho bà con các nơi. Uy tín thầy Ba, thầy Phen to lớn lắm, không phải tuyên truyền nữa. Tạ Kim nói: “Chúng nó càng cấm cản đường đi của thầy Ba, chúng nó càng làm cho dân đổ xô ủng hộ thầy Ba thêm. Không lo vận động nữa, Hoàng Đức Ninh đã vận động dân bỏ phiếu cho Dương Văn Ba rồi”. Đỗ Khắc Tường nói: “Tôi lo là không giữ nổi các thùng phiếu, tụi nó sẽ tráo phiếu, sửa biên bản”.

Ngày 19-8-1971, tôi nhớ mãi ngày đó, có cuộc nói chuyện công khai của các ứng cử viên với đông đảo công chức, giáo chức, cán bộ và đại diện nhân dân trong tỉnh Bạc Liêu tại hội trường của tỉnh Bạc Liêu, ngay sát bên toà hành chinh tỉnh.

Sáng sớm hôm đó, lúc 6 giờ, tôi và bạn tôi là thầy giáo Khương cùng dân biểu Thạch Phen ngồi ăn sáng ở quán Năm Châu, truớc rạp hát Nam Tiến trên đường Trưng Trắc. Đang ăn, có một thanh niên khoảng 25 tuổi, mặc thường phục, tạt vào ngồi bàn của chúng tôi. Người thanh niên mắt ngó dáo dác xung quanh, nói nhỏ và rất nhanh: “em báo cho anh Ba biết, 9 giờ sáng nay, trong cuộc nói chuyện tại Hội trường tỉnh, lính tiểu khu Bạc Liêu đã được lịnh tổ chức phá anh và thầy Phen, không cho nói, chúng nó sẽ ném cà chua trứng thúi, đập bàn đập ghế và nếu cần, được lệnh đánh luôn những người ủng hộ các anh. Em là Trung sĩ làm ở tiểu khu. Em nghe việc này hồi sớm, vội vã ra đây tìm các anh báo để các anh liệu đề phòng”. Cho thông tin xong, anh thanh niên vội vã đi mất.

Tôi và Thạch Phen vội vàng về nhà Thạch Phen ở đường Triệu Ấu. Tôi cử người ra chợ mua ngay 5m vải trắng khổ 0,9m. một hộp sơn đỏ, một cây cọ. Dụng cụ mua về, tôi nhờ thầy Tạ Văn Bo viết ngay biểu ngữ: “Đả đảo tỉnh trưởng Bạc Liêu, tổ chức đàn áp bầu cử, đả đảo Nguyễn Văn Thiệu tác giả của chiến tranh”. Biểu ngữ đó, tôi xếp nhỏ lại, lận vào lưng quần tây, tôi mặc áo sơ mi 3 túi bằng vải kaki màu, áo bỏ ngoài. Tôi nói với Thạch Phen và Quảng Thiệt: “Khi tôi lên nói chuyện, tụi nó ném cà chua trứng thúi, mình phát động ngay cuộc biểu tình”. Mọi người đồng ý và khí thế nổi nóng rất hăng. 

Cuộc biểu tình tự phát tại chợ Bạc Liêu

Đúng như điều được mật báo trước, hôm đó, công chức giáo chức trong tỉnh đi nghe diễn thuyết rất đông. Ban tổ chức sắp xếp cho Lâm Hoàng Hôn, Nguyễn Văn Chi, hai con gà thân chính quyền lên diễn đàn nói trước 15 phút. Tới lượt tôi, người thứ ba, tôi vừa đứng lên, chuẩn bị tiến lên sân khấu, ở phía dưới hội trường, nhiều tên lính mặc đồng phục đứng lên, đập bàn đập ghế  “ĐM không cho nó nói. Đánh chết mẹ tụi nó, đánh chết mẹ tụi nó”.

Y như dự liệu, tôi rút tấm biểu ngữ đã giấu sẵn trong người, Thạch Phen cùng với tôi căng biểu ngữ, tiến ra phía ngoài hội trường. Các học sinh thanh niên ủng hộ chúng tôi, đánh nhau với lính Hoàng Đức Ninh. Chúng tôi hô to: “Đả đảo Hoàng Đức Ninh, tên tham ô giết hại dân Bạc Liêu. Đả đảo Nguyễn Văn Thiệu tên khát máu”. Ngoài đường hàng trăm dân chúng ùa vào hàng ngũ của chúng tôi, tự phát biến thành cuộc biểu tình sôi động trong chợ Bạc Liêu. Bọn lính đánh nhau với dân một lát, rã hàng. Đoàn biểu tình của chúng tôi kéo qua đường giữa chợ Bạc Liêu, kéo qua cầu Quây, đi về phía nhà thờ Lớn. Cha Nhì mở cổng ra đón chúng tôi vào. Cha nói: “Hoan nghinh các anh đã dám biểu tình, nhưng không thể ở nhà thờ lâu, chúng nó sẽ cô lập nhà thờ”.

Tôi nói với Quảng Thiệt: “Mình kéo về Phường 4, Chùa Vĩnh Hoà, ở đó có nhiều nhà dân”. Đoàn biểu tình của chúng tôi gồm đủ hạng nguời, học sinh có, lao động có, dân buôn bán ở chợ có, phu xe lôi, xe xích lô có, họ bỏ mọi việc đi theo sau tôi và Thạch Phen. Chúng tôi tiếp tục hô: “Đả đảo Hoàng Đức Ninh tỉnh trưởng độc ác. Đả đảo Nguyễn Văn Thiệu, còn Thiệu còn chiến tranh”.

Một khí thế sôi sục đấu tranh. Lúc đó, tôi và Thạch Phen, bất chấp việc gì sẽ xảy ra. Khi đoàn biểu tình đi ngược lên cầu Quây, tôi chạm mặt với Trung tá Nguyễn Oanh, Trưởng ty Cảnh sát Bạc Liêu. Tôi nói: “Oanh, anh dám chận đường chúng tôi hả?”. Oanh trong quân phục cảnh sát dã chiến nói: “Tôi không cản đường anh, nhưng anh nên giải tán sớm. Hoàng Đức Ninh  sẽ dùng lính tiểu đoàn 411 tấn công anh, nếu tiếp tục biểu tình”. Trung tá Oanh, tự động lách sang một bên, cảnh sát dã chiến dưới quyền anh cũng kéo dây kẽm gai giãn ra, tránh đường cho đoàn biểu tình. Chúng tôi vừa đi vùa la to các khẩu hiệu tự phát. Phu xe lôi và phu xe xích lô Bạc Liêu được một dịp đả đảo chính quyền thỏa thích. Thấy tình hình không thể kéo dài, chúng tôi hướng đoàn biểu tình nhanh về cầu số 4, xóm làng, tản hàng vào chùa Vĩnh Hoà, một cứ điểm ủng hộ phe đối lập của chúng tôi. Ở đó, thầy Thích Trí Đức cho giọng chuông thật lớn, thật lớn như trong ngày lễ Phật, chào mừng một ngày dân Bạc Liêu xuống đường hả hê đả đảo bạo quyền. Chúng tôi ở lại Chùa Vĩnh Hoà tới chiều, khuyên anh em cảm tình viên, ủng hộ viên về nhà lánh mặt một buổi, đè phòng bọn cảnh sát chìm, bọn phòng Nhì Bạc Liêu biết mặt, bắt giam trả thù.

Nhiều người lớn tuổi tại chợ Bạc Liêu cho biết “Cuộc biểu tình ngày 19-8-1971 tại chợ Bạc Liêu là cuộc biểu tình tự phát đông người tham gia lần thứ nhì trong tỉnh Bạc Liêu. Cuộc biểu tình lần thứ nhất xảy ra cũng tại Bạc Liêu ngày 19-8-1945 dưới phong trào Việt Minh”. Lịch sử về cuộc nổi dậy của dân chợ Bạc Liêu đã có sự lặp lại. Cả 2 lần cũng chỉ với một mục tiêu: “Chống cường quyền áp bức, đòi hỏi tự chủ, tự do”.

Cuộc biểu tình tự phát của dân chợ Bạc Liêu ngày 19-8-1971 dưới sự sách động của tôi và Thạch Phen và những người ủng hộ chúng tôi, đã xảy ra với sự vô cùng bất ngờ của chính quyền tỉnh và của cả dân trong chợ. Cho nên, chính quyền không kịp trở tay, họ cũng không kịp ra lệnh cho cảnh sát bắt bớ và đàn áp. Đã có cuộc biểu tình, vì đã có sự thông báo đột xuất của một người dân. Chúng tôi đã hành động đúng theo ý nguyện của dân. Nhiều người thấy biểu tình, vội vàng bỏ việc chạy theo ủng hộ. Nguyễn Oanh, Trưởng Ty Cảnh Sát, là một trí thức, cũng không biết phải tính làm sao. Vì anh ta biết rõ có đàn áp bầu cử, con người trí thức trong anh cảnh sát lúc đó dạy anh ta phải đứng yên, không cản trở. Cuộc biểu tình đó, bây giờ vẫn còn sống trong tôi như lúc tôi 30 tuổi. Con người bị đè bẹp quá, phải có lúc bung lên như phản ứng của chiếc lò xo bị dồn nén. Ngày 19-8-1971 dân chợ Bạc Liêu đã bùng lên, cho thấy sức đề kháng của đa số thầm lặng nhưng bất khuất.

Anh Tạ Kim nói: “Hoàng Đức Ninh tổ chức cuộc đàn áp cuộc nói chuyện của Dương Văn Ba trước quần chúng, Dương Văn Ba đã sách động được dân biểu tình. Hoàng Đức Ninh đã lùa dân tự động về phía Dương Văn Ba, chúng ta có nhắm mắt cũng thấy Dương Văn Ba nắm được đại đa số phiếu bầu”. 

Đánh đập sinh viên để gian lận bầu cử         

 Trước ngày 29-8-71, một ngày, các sinh viên Sài Gòn ủng hộ tôi đã lần lượt kéo nhau về Bạc Liêu để tình nguyện làm quan sát viên giữ thùng thăm. Kế hoạch chống gian lận bầu cử của tôi là sử dụng quan sát viên sinh viên và sử dụng một số phóng viên nhà báo. Đâu có ngờ Hoàng Đức Ninh cao tay hơn, trưa ngày 28-8-1971 Ninh thả vài chục an ninh chìm và mật vụ của tiểu khu Bạc Liêu ra chật cả bến xe đò Bạc Liêu, hễ thấy thanh niên lạ mặt mà từ xe đò xuống, chúng hè nhau vây đánh cho sưng mặt, sưng mày không kịp bỏ chạy. Mấy người quan sát viên của tôi không kịp la, không kịp báo, chỉ tìm đường chạy thoát thân ra quốc lộ 4 đón xe lôi máy chạy về Cái Dầy, đón tiếp xe đò, xe hàng chạy về Sài Gòn. Cả ngày hôm đó, bến xe Bạc Liêu xảy ra hàng chục cuộc ấu đả. Sinh viên bị “đánh bề hội đồng” làm sao mà đỡ, chỉ tìm cách thoát thân. Kết cục kế hoạch kiểm soát thùng phiếu bằng lực lượng sinh viên Sài Gòn bị Ninh bẻ gãy.

Vụ đánh đập sinh viên lan nhanh khắp nơi trong tỉnh. Những người quan sát viên bầu cử của tôi không ai dám rục rịch, ho hen nói năng gì trong ngày bầu cử, im thin thít như đám ma. Chỉ có những nhân viên giữ thùng phiếu, kiểm tra phiếu, ghi biên bản phiếu là còn làm việc. Đa số những người nầy là giáo chức. Họ âm thầm làm, không nói không rằng, nhưng sau khi kiểm phiếu xong, họ đều mật báo cho các đại diện của tôi ở tất cả các xã “con chim bồ câu ngậm bông lúa mang ngôi sao” của tôi thắng lớn. Phiếu của dân bầu cho tôi chiếm 81%, các ứng cử viên của chính quyền chia nhau khoảng 20% còn lại. Có những nơi xa xôi, Ninh cho lính canh cửa, cầm súng chĩa vào dân cấm không cho bỏ phiếu cho Dương Văn Ba. Kết quả ngược lại, vào phòng kín họ chỉ bỏ cho con chim bồ câu, mấy phiếu khác, họ xé bỏ quăng vào thùng rác. Cuộc kiểm phiếu kết thúc vào lúc 11giờ đêm. Kết quả hoàn toàn trái ngược với mong muốn của Ninh. Hắn ra lệnh tất cả trưởng phòng phiếu phải làm lại biên bản, lấy kết quả phiếu của tôi chia cho Lâm Hoàng Hôn và Nguyễn Văn Chi. Nhiều thầy giáo sợ quá, không làm, phải ngất xỉu. Như thầy giáo Nguyễn Văn Hiệp ở Xã Hoà Bình, quận Vĩnh Lợi, hiệu trưởng tiểu học Hoà Bình, phải chở đi bệnh viện vì khủng khiếp quá. Hiệp từng là học trò lớp Đệ Nhất A của tôi ở trường Nguyễn Đình Chiểu năm 1965 ở Mỹ Tho. Sau nầy gặp lại, Hiệp kể: “Sau vụ đó, họ cho em nghỉ. Em bây giờ thôi dạy học, thôi làm Hiệu Trưởng, đi phụ bán hàng xén với vợ ở chợ Hoà Bình”. Cô giáo Trần Kim Nhan bạn học cũ của tôi, nói: “Tụi em kiểm phiếu thấy toàn là phiếu chim bồ câu, con Thu ở trường tiểu học Hoà Bình cũng nói như vậy. Họ đổi ngược hết kết quả bầu cử”.

Hoàng Đức Ninh 3 giờ sáng hôm sau, cho lệnh chở tất cả thùng phiếu về Toà Hành chinh ở Bạc Liêu. Cô lập 2 căn phòng bên hông toà tỉnh trưởng, tập trung 6 công chức ngồi làm lại tất cả biên bản kiểm phiếu, làm tới đâu bắt các trưởng phòng phiếu ký lại biên bản tới đó. Làm như thế ròng rã 3 ngày, 3 đêm mới xong. Năm đó, kết quả bầu cử đơn vị Bạc Liêu, Trà Vinh của Ngô Công Đức, công bố chậm nhất. Đến ngày 5-9-1971, Bạc Liêu mới công bố kết quả chính thức. Tôi đã tập hợp tất cả các tài liệu, các nhân chứng, có số liệu đầy đủ tất cả các phòng phiếu ở các đơn vị xã, quận, viết thành cuốn Bạch thư về gian lận bầu cử ở Bạc Liêu, đem tố giác trước báo chí Sài Gòn và quốc tế tại tiền sảnh Nhà Hát Lớn vào ngày 3-9-1971. Tài liệu của chúng tôi rõ đến mức: Số phiếu của tôi, họ lấy làm phiếu của Lâm Hoàng Hôn và ngược lại, phiếu của Lâm Hoàng Hôn họ gắn cho tôi.

Tài liệu công bố xong, tôi nộp đơn thưa bầu cử gian lận ở toà án Bạc Liêu. Toà Bạc Liêu không xử, tôi chuyển cho toà Sài Gòn, toà Sài Gòn không xử bảo là thuộc thẩm quyền của toà án thượng thẩm. Toà thượng thẩm bảo thuộc quyền của tối cao pháp viện. Vụ án gian lận bầu cử Bạc Liêu bị nhận chìm xuồng. Báo chí có la lớn thế mấy, ngày họp Hạ Nghị Viện Khoá II vẫn khai mạc. Lâm Hoàng Hôn thay tôi vào ngồi ghế ở Nhà Hát Lớn. Cuộc bầu cử diễn ra như một tuồng hát. Thiệu đã quyết định cho Lâm Hoàng Hôn thắng cử ở Bạc Liêu, thay tôi vì tôi là “thằng hỗn nhất nước” và vì Hôn là ông thầy Ký, chủ tịch Đảng Dân Chủ tỉnh Bạc Liêu, một tên gia nô hạng I ở chợ Bạc Liêu, từ thời Tây cho đến thời Mỹ.

Thất cử xong, tôi trở lại nghề cầm bút để chiến đấu. Tôi cầm ngòi bút mạnh mẽ hơn, sâu lắng hơn, tiếng nói của tôi tại diễn đàn quốc hội. Cầm bút hay cầm micro, để nói những điều cần nói, cầm bút khó hơn, nhưng có nhiều người đọc và suy nghĩ nhiều hơn khi nghe mình nói. 

Trốn khỏi quê hương Bạc Liêu

Tôi suýt quên kể thêm một chuyện quan trọng vào ngày bầu cử 29-8-1971.

Sáng hôm đó, anh em trong Bộ Tham Mưu của tôi đóng trụ sở tại chùa Vĩnh Hoà. Máy bay trực thăng có chở 2 nhà báo Mỹ xuống Bạc Liêu quan sát bầu cử để hổ trợ cho cuộc chiến đấu của chúng tôi. Nhà báo nữ Marie Joannadis là bạn tôi ở Sài Gòn, chị nhờ Quảng Thiệt chở xe Honda chạy loanh quanh trong tỉnh đến 3 giờ chiều thì về. Máy bay trực thăng đáp xuống chùa Vĩnh Hoà, khiến thầy Trí Đức trụ trì chùa, phải cho chặt mất 3 cây dừa để làm chỗ đáp. Sự hiện diện của ký giả Mỹ và trực thăng của Kỳ làm cho Hoàng Đức Ninh nổi khùng hơn, anh ta cho lính tiểu đoàn 411, bao vây quanh chùa để canh tôi ở các ngõ ra, và bọn lính trẻ luôn luôn được cho uống rượu “thả giàn”. Buổi chiều, nhà báo Mỹ về Sài Gòn, trực thăng đã bay đi mất, bọn lính siết vòng vây chùa chặt hơn. Buổi tối, thầy Trí Đức cho tụng kinh gõ mõ vang rân để trấn an mọi người trong chùa. Thầy Trí Đức và thầy Thiệt bàn: “Coi mòi đêm nay chúng nó sẽ tấn công vào chùa. Bọn lính đứa nào đứa nấy say rượu và nói năng toàn giọng điệu khát máu”. Thầy Trí Đức nói: “Phải tìm cách bảo vệ thầy Ba và thầy Phen”. Thầy Đức cho chúng tôi trốn trong 1 cái buồng kín của thầy, chung quanh che bởi 4 cái tủ gỗ đứng. Đến 2 giờ sáng, thầy Quảng Thiệt bàn với ông giáo Trần Trung Tình, phải tổ chức cho Dương Văn Ba và Thạch Phen đang đêm trốn về Sài Gòn. Ở đây, hết bầu cử, Hoàng Đức Ninh có thể bắt Dương Văn Ba. Tôi đồng ý trốn đi. Cách trốn: Lúc 3 giờ sáng, vợ thầy giáo Tình đóng vai kẻ ăn sương. Tôi và Thạch Phen trùm áo mưa kín, nón che mặt, theo chị Tình băng ngang một chiếc đòn dài bắc ngang con rạch nhỏ, từ chùa Vĩnh Hoà băng qua rạp hát Chung Bá ở gần đó. Đến rạp hát Chung Bá là ra khỏi vòng vây của lính tiểu đoàn 411, đã có sẵn 2 xe Honda ôm chờ chúng tôi. Họ đưa chúng tôi trốn ra khỏi chợ Bạc Liêu vào 4 giờ sáng ngày 30-8-1971 xe Honda ôm dừng lại bên kia cầu Cái Dầy thuộc địa phận tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi xuống xe ngồi trong bóng tối. 15 phút sau, tôi và Thạch Phen, đón xe hàng (xe tải) quá giang lên sân bay Sóc Trăng. Chúng tôi vào sân bay lúc 6 giờ 30 sáng, gặp Chỉ huy trưởng sân bay là Trung tá Không quân Nguyễn Hồng Tuyền. Trung tá Tuyền vồn vã đón tiếp tôi, hỏi thăm tình hình. Tôi kể: “Bọn này phải trốn Hoàng Đức Ninh ra khỏi Bạc Liêu ban đêm, ban ngày sợ Ninh cho lính bắt”. Tuyền an ủi tôi: “Anh đến chỗ tôi là an toàn rồi. Thằng Ninh không có quyền gì ở đây. Hôm nay tôi sẽ liên lạc với ông Kỳ, xin ý kiến cho máy bay trực thăng chở hai anh về Sài Gòn”.

Nguyễn Hồng Tuyền lớn hơn tôi chừng 3 tuổi, nguyên là học sinh College Phan Thanh Giản Cần Thơ. Nhà có cây xăng ở ngay bến xe Cần Thơ. Lần đầu tiên gặp nhau, phong cách nhanh nhẹn thẳng thắn của Tuyền gây được cảm tình của tôi và Thạch Phen. Chúng tôi biết đã tạm yên thân khi thoát khỏi nanh vuốt của con Hùm Xám Hoàng Đức Ninh. (Tôi tuổi Ngọ, Ninh tuổi Cọp. Con cọp đã vồ hụt con ngựa hai lần, vì con ngựa đi chung với con rồng Thạch Phen).

Nguyễn Hồng Tuyền, Chỉ huy trưởng sân bay Sóc Trăng, cho chúng tôi uống cà phê sữa, ăn phở gà, mở phòng máy lạnh cho hai anh em chúng tôi ngủ. Chiều hôm đó, Hồng Tuyền cho 1 trực thăng chở 2 anh em chúng tôi về Sài Gòn. Lần đó, ngày 30-8-1971 tôi trốn khỏi Bạc Liêu, trong đầu không hiểu ngày nào chắc còn xa lắm mới quay lại được, vì Thiệu còn đó, Ninh vẫn còn đó. Cảm giác này giống hệt cảm giác của tôi 18 năm sau vào ngày 22-4-1989, khi tôi bị Toà Hình sự thuộc Toà Án Tối Cao xử án tù chung thân tại rạp hát Chung Bá của tỉnh Bạc Liêu.

Rạp hát Chung Bá là nơi lúc nhỏ, tôi thường níu áo mẹ tôi đi xem hát bội. Người ta dựng rạp hát để xử tội tôi, như lời tuyên án trong một vở kịch. Chiều ngày 22-4-1989, tôi bị đưa lên xe tải của Bộ Công An chở khỏi chợ Bạc Liêu giữa cái nắng chứa chan của xứ lúa đồng bằng, tôi tự hỏi: Biết bao giờ mình sẽ được trở lại quê hương, sống vô tư lự như lúc tuổi thơ đi bắt dế, bắt cá lia thia trong những ngày bãi trường.

Quê hương của tuổi thơ giống như khúc ruột mẹ, không bao giờ dứt ra được.

Mời xem lại: Hồi ký Dương Văn Ba: Những Ngã Rẽ – Chương 1: CHUYỆN THUỞ MỚI LỚN  —  Hồi ký Dương Văn Ba: Những Ngã Rẽ – Chương 2: ĐẢO CHÁNH HAY CÁCH MẠNG   — Hồi ký Dương Văn Ba: Những Ngã Rẽ – Chương 3: DẠY HỌC   —   Hồi ký Dương Văn Ba: Những Ngã Rẽ – Chương 4: LÀM BÁO SÀI GÒN   —  Hồi ký Dương Văn Ba: Những Ngã Rẽ – Chương 5  —  Hồi ký Dương Văn Ba: Những Ngã Rẽ – Chương 6  —  Hồi ký Dương Văn Ba: Những Ngã Rẽ – Chương 7 (viet-studies/ Ba Sàm).

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: