BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2570. Thư ngỏ gửi lãnh đạo Đảng và Nhà nước yêu cầu đình chỉ ngay toàn bộ dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên

Posted by adminbasam trên 21/05/2014

Boxit Vietnam

Hà Nội ngày 24-04-2014

Kính gửi:

– Ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng bí thư, Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam,

– Ông Trương Tấn Sang – Chủ tịch, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam,

– Ông Nguyễn Tấn Dũng – Thủ tướng, Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam,

– Ông Nguyễn Sinh Hùng – Chủ tịch, Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam,

– Ông Nguyễn Thiện Nhân – Chủ tịch, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam.

Đồng kính gửi:

– Toàn thể quốc dân đồng bào,

Chúng tôi, những người Việt Nam quan tâm đến vận mệnh đất nước ký tên trong thư ngỏ này, khẩn thiết yêu cầu quý vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận (dưới đây gọi tắt là quý vị lãnh đạo) quan tâm và có quyết định giải quyết dứt điểm vấn đề khai thác bô-xít Tây Nguyên trên cơ sở 5 năm thực hiện kết luận của Bộ Chính trị, Đảng Cộng Sản Việt Nam được nêu trong Thông báo số 245-TB/TƯ ngày 24-04-2009 về “Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025” (dưới đây viết tắt là thông báo số 245).

Thưa quý vị lãnh đạo, trước tiên, chúng tôi hiểu “…Chủ trương thăm dò, khai thác, chế biến bô-xít là chủ trương nhất quán từ Đại hội IX và Đại hội X của Đảng đến nay. Triển khai các nghị quyết đại hội, trong 2 nhiệm kỳ, Bộ Chính trị đã nhiều lần bàn và ra các nghị quyết, kết luận để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng ngành công nghiệp bô-xít, alumin, nhôm, phục vụ phát triển kinh tế đất nước nói chung, góp phần phát triển kinh tế-xã hội Tây Nguyên nói riêng…” như đã được nêu trong Thông báo số 245.

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến quan điểm của Bộ Chính trị về khai thác bô-xít Tây Nguyên được nêu trong Thông báo số 245, bao gồm:

“- Quy hoạch và kế hoạch triển khai các dự án phải trên cơ sở hiệu quả tổng thể, gồm cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội; trong đó, chú ý đúng mức đến việc tiết kiệm tài nguyên, nhu cầu thị trường, sản phẩm phải có sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới…

– Khai thác bô-xít, sản xuất alumin có tác động lớn đến môi trường từ khâu khai thác, chế biến, vận chuyển đến xử lý chất thải, nếu không được quản lý tốt không tính hết đến tác động môi trường thì sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng mà việc khắc phục phải mất nhiều năm với chi phí tốn kém lớn.

– Kết cấu hạ tầng Tây Nguyên còn thấp kém, nguồn nước và nguồn điện hạn chế, nên cần phải đẩy mạnh phát triển để vừa đáp ứng yêu cầu khai thác bô-xít, sản xuất alumin, vừa bảo đảm yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội vùng này.

– Việc lựa chọn công nghệ là một nội dung quan trọng; yêu cầu là phải sử dụng thiết bị và công nghệ hiện đại trên thế giới.

– Quan tâm đúng mức đến đời sống và giữ gìn bản sắc văn hoá các dân tộc Tây Nguyên; tạo công ăn việc làm cho nhân dân địa phương; việc sử dụng lao động nước ngoài phải đúng quy định của pháp luật.

– Tây Nguyên là khu vực nhạy cảm, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh, quốc phòng cho cả trước mắt và lâu dài, đến môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá…”

Đối chiếu giữa một bên là tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị như trong thông báo nêu trên, và một bên là những gì đã diễn ra trong quá trình xây dựng nhà máy, khai thác, chế biến bô-xít để sản xuất alumina suốt 5 năm qua tại Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắc Nông) do Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản (dưới đây gọi tắt là tập đoàn TKV) thực hiện, chúng tôi thấy nổi lên những vấn đề rất đáng lo ngại sau đây:

Một là: Toàn bộ việc xây dựng nhà máy và triển khai mỏ ở Tân Rai và Nhân Cơ đã diễn ra theo một quy trình ngược, dựa trên các nghiên cứu và quy hoạch có rất nhiều sai sót.

Thực tế cho thấy việc triển khai 2 nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ chỉ dựa trên những nghiên cứu, khảo sát kém chất lượng và không đủ độ tin cậy. Các tính toán, thông số kinh tế – kỹ thuật trong qui hoạch của các dự án và trong thực tế thực thi công trình đều có chênh lệch lớn. Các khâu liên quan đến kết cấu hạ tầng đều không được chuẩn bị trước với sự tính toán chu đáo. Hệ quả là: Việc xây dựng nhà máy alumina và khai thác các mỏ bô-xít được tiến hành trước khi có các phương án khả thi về giao thông vận tải, còn nhiều khó khăn trong cân đối các nguồn cung ứng cho quá trình sản xuất đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra, dẫn tới những ách tắc, việc sau chờ việc trước… Nhà máy Tân Rai đã xây dựng xong được 2 năm nhưng vì những yếu kém nêu trên nên không thể thực sự đi vào sản xuất có hiệu quả. Đến nay hầu như không thực hiện được các chỉ tiêu kinh tế – tài chính đã được TKV cam kết. Nhà máy Nhân Cơ đang xây dựng, tiến độ thực hiện chậm 3 năm so với kế hoạch.

Nhà máy Tân Rai đã đi vào sản xuất từ 2 năm nay, song cho đến nay vẫn chưa có phương án khả thi nào cho vấn đề giao thông vận tải (vận chuyển nguyên liệu, nhiên liệu cho sản xuất alumina ở nhà máy và chở sản phẩm xuống cảng để xuất khẩu). Dự án cảng Kê Gà đã phải hủy bỏ và phương án vận tải cho dự án alumina Nhân Cơ lại càng bế tắc. Việc sử dụng hệ thống đường sá và cảng hiện có cho yêu cầu vận tải của 2 nhà máy đòi hỏi phải mất thêm nhiều thời gian, và ngân sách nhà nước phải có khoản đầu tư mới để nâng cấp hệ thống này (sẽ đắt không kém xây dựng mới) mà vẫn không tránh khỏi ách tắc giao thông trong vùng. Giả thiết có sẵn một hệ thống vận tải như thế, giá thành alumina của 2 nhà máy này cũng sẽ không thể chịu đựng nổi chi phí vận tải đường bộ 2 chiều cho khoảng cách trên 200 km để có thể cạnh tranh được trên thị trường. Nếu thêm nhà máy Nhân Cơ đi vào vận hành, ách tắc trong vấn đề giao thông vận tải sẽ trở nên bất khả kháng hơn.

Do công nghệ lạc hậu, mức sử dụng nước theo cam kết của nhà thầu cho tuyển quặng và sản xuất alumina nhiều gấp 1, 4 lần so với mức cao nhất của thế giới. Cho đến nay, chủ đầu tư vẫn còn gặp khó khăn về nguồn cân đối bổ sung cho nhu cầu sử dụng nước để sản xuất alumina tại 2 nhà máy. Tây Nguyên vốn khan hiếm nước, đặc biệt vào mùa khô kéo dài hơn 6 tháng / năm, nếu duy ý chí cấp đủ nước cho 2 nhà máy này sẽ dẫn đến hao hụt lớn nguồn nước cung cấp cho cây công nghiệp và dân sinh trong vùng và các khu vực hạ lưu. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho việc khai thác bô-xít và sản xuất alumina trên Tây Nguyên rất không khả thi.

Việc đảm bảo nguồn nhiệt năng cho sản xuất alumina tại 2 nhà máy cũng đang đòi hỏi những khoản đầu tư tốn kém và làm tăng chi phí vận hành. Thực tế cho thấy việc điện phân nhôm trên Tây Nguyên sẽ không có hiệu quả, vì 2 lẽ: (1) giá điện ở Việt Nam và ở Tây Nguyên không rẻ (dù là thủy điện hay nhiệt điện); (2) nền kinh tế hiện rất mất cân đối về năng lượng, điện phải được ưu tiên sử dụng cho các dự án kinh tế mang lại nhiều giá trị gia tăng và lợi nhuận hơn, thân thiện môi trường hơn.

Việc áp dụng công nghệ của cả 2 dự án alumina không phù hợp và lạc hậu đã dẫn đến những hệ quả như: Tỷ lệ tổn thất tài nguyên (quặng bô-xít) lên tới trên 50%, công nghệ khí hóa than ở Tân Rai và Nhân Cơ đã lạc hậu hơn nửa thế kỷ và chứa đựng nhiều rủi ro kỹ thuật. Chất lượng sản phẩm alumina khó được kiểm soát (về độ ẩm, tỷ lệ dưới cỡ). Khâu nghiệm thu/bàn giao công trình đang bị kéo dài và còn để lại nhiều câu hỏi về chất lượng nhà máy, công suất, khả năng vận hành liên tục, mức độ tiêu hao nguyên vật liệu và năng lượng cho đầu vào. Các giải pháp thiết kế, bố trí mặt bằng sân công nghiệp của cả hai nhà máy có nhiều bất cập, gây lãng phí trong sản xuất…

Đặc biệt, cả 2 nhà máy đều áp dụng công nghệ thải bùn đỏ “ướt” (nghĩa là vẫn phải thải cả dung dịch xút ăn da- NaOH ra hồ chứa sau một thời gian mới thu hồi về lại nhà máy). Với công nghệ thải ướt – chờ khô như vậy, trong suốt quá trình vận hành của cả 2 dự án thường xuyên vẫn có các hồ bùn đỏ ướt độc hại ở Tây Nguyên với độ cao 700 – 800m, đe dọa nghiêm trọng các vùng xung quanh và hạ lưu. Thiên tai và biến đổi khí hậu sẽ làm cho hiểm họa bùn đỏ càng trở nên khó lường, nhất là thời tiết Tây Nguyên khắc nghiệt và có nhiều hiện tượng cực đoan trong thời gian gần đây. Việc sử dụng bùn đỏ để sản xuất sắt xốp có thể khả thi trong phòng thí nghiệm, nhưng hoàn toàn không khả thi về mặt kinh tế. Trên thế giới chưa có nơi nào triển khai được ở qui mô công nghiệp cho sắt xốp như vậy. Việc sản xuất các vật liệu xây dựng khác từ bùn đỏ cũng gặp những khó khăn tương tự.

Hai năm khai thác bô-xít vừa qua cho thấy việc hoàn thổ không diễn ra hoặc không thể diễn ra như trong báo cáo của luận chứng kinh tế kỹ thuật. Việc khai thác và hoàn thổ theo qui trình “cuốn chiếu” như dự tính của TKV trước đây không thể thực hiện được bởi vì địa hình thực tế của Tây Nguyên chủ yếu là các đồi: ở đỉnh đồi quặng bô-xít đã bị phong hóa, dưới chân đồi quặng bô-xít đã bị rửa trôi, chỉ còn lại đất sét. Quặng bô-xít chỉ tập trung ở các sườn đồi nên việc khai thác đòi hỏi phải chiếm nhiều diện tích. Công nghệ khai thác đang được áp dụng chủ yếu là bóc các lớp quặng ở sườn đồi (giống như làm đường giao thông trong vùng đồi núi), đất bị gạt xuống chân đồi vốn là nơi có khả năng canh tác nông nghiệp ở Tây Nguyên. Vì vậy, việc hoàn thổ không thể thực hiện được, toàn bộ cân bằng của tự nhiên được tạo ra trong suốt quá trình kiến tạo địa lý hàng chục triệu năm đang bị phá vỡ. Thực tế cho thấy, không thể dự báo được các hệ lụy của việc xâm hại đến môi trường tự nhiên như thế và cái giá phải trả sẽ rất đắt. Kể từ khi bô-xít được khai thác đến nay, trên thực tế TKV chưa thể thực hiện hoàn thổ, phục hồi môi trường đất. Trong khu vực trồng cây thử nghiệm trên đất đã khai thác bô-xít ở Tân Rai không có loại cây công nghiệp nào có thể phát triển được.

Về mặt tài chính: Vốn Đầu tư ban đầu dự tính khoảng 350 triệu USD cho mỗi nhà máy, sau đã phải điều chỉnh lên đến 466 triệu USD cho nhà máy Tân Rai, và 499, 2 triệu USD cho nhà máy Nhân Cơ với cùng một công suất là 650. 000 tấn alumina/năm. Cả 2 dự án thử nghiệm đều được giao cho một nhà thầu thực hiện. Theo kinh nghiệm, với cùng một công nghệ và cùng một nhà thầu lẽ ra nhà máy sau phải rẻ hơn nhà máy trước ít nhất 15%, nhưng thực tế đã ngược lại, nhà máy Nhân Cơ (sau) đắt hơn nhà máy Tân Rai (trước) trên 33 triệu USD. Tổng mức đầu tư theo dự toán cập nhật cho chương trình bô-xít ở 2 nhà máy này khoảng 1, 6 tỷ USD. Sản phẩm của cả 2 dự án chủ yếu (hơn 95%) để xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu và cả 2 dự án sẽ không có đóng góp đáng kể vào nguồn thu của ngân sách cũng như tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương. TKV cho biết nhà máy Tân Rai năm 2013 lỗ 258 tỷ VNĐ, năm 2014 sẽ lỗ 176 tỷ VNĐ, từ 2016 mới thôi không lỗ (?). Nhà máy Nhân Cơ nếu đi vào sản xuất dự kiến sẽ lỗ liên tiếp trong khoảng 5 – 6 năm đầu… Tại các hội thảo phản biện do Liên hiệp các hiệp hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức, dự báo nhu cầu alumina trên thế giới tương đối ổn định và giá sẽ có xu hướng tăng, nhưng do công nghệ lạc hậu và chi phí vận tải quá cao sẽ khiến 2 nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ nếu chạy hết công suất, mỗi năm sẽ lỗ từ 50 – 100 triệu USD. Xin lưu ý: Các con số tính lỗ này, dù là của TKV hay là của VUSTA cũng mới chỉ dựa trên tính toán đơn thuần bên trong nhà máy, chưa bao gồm chi phí từ ngân sách nhà nước phải bỏ ra để nâng cấp / xây dựng mới và duy tu, bảo dưỡng hàng năm cho khoảng 200 km đường giao thông và cảng, ước tính sẽ là nhiều trăm triệu USD nữa mà nền kinh tế của đất nước phải gánh chịu.

Hai là: Toàn bộ việc khai thác bô-xít Tây Nguyên vừa qua cho thấy TKV không tuân thủ các quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị nêu trong thông báo số 245. Trong điều kiện hiện nay của đất nước việc khai thác bô-xít Tây Nguyên chỉ đem lại những thua lỗ nặng nề cho nền kinh tế, gây ra nhiều hệ lụy về môi trường, xã hội cho Tây Nguyên nói riêng và cho cả nước nói chung.

Trước hết, nói về TKV:

Có sự thật khách quan là thông báo số 245 được ban hành giữa lúc đã triển khai xong việc quy hoạch khai thác bô-xít cho nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ. Trong đó, nhà máy Tân Rai đã thực thi xong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Tuy nhiên, lẽ ra phải bám sát quan điểm chỉ đạo của thông báo số 245 để điều chỉnh kịp thời các việc tiếp theo, nhưng TKV chỉ một mực đẩy mạnh thực hiện kế hoạch đã có. Trong thời gian kể từ khi có thông báo số 245 (24-04-2009) đến khi xây dựng xong nhà máy Tân Rai (2011), trong cả nước tiếp tục có các hội thảo phản biện về đề tài bô-xít Tây Nguyên. Song hầu như các ý kiến phản biện đều không được tiếp thu.

Từ khi nhà máy Tân Rai đi vào sản xuất cho đến nay đã 2 năm, TKV cũng chưa một lần đánh giá lại toàn bộ tình hình công việc theo tinh thần chỉ đạo của thông báo số 245, thậm chí còn đẩy mạnh việc xây dựng tiếp nhà máy Nhân Cơ giữa lúc TKV thiếu vốn và gặp phải rất nhiều khó khăn trong dự án nhà máy Tân Rai. Cũng trong 2 năm qua đã có nhiều đoàn của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành đến Tân Rai và Nhân Cơ kiểm tra, giám sát. Nhưng vì thiếu những thông tin khách quan và đầy đủ của chủ đầu tư, nên việc giám sát / kiểm tra không đạt kết quả xác thực.

Hệ quả là: Việc xây dựng 2 nhà máy và khai thác bô-xít tại Tân Rai và Nhân Cơ hoàn toàn không tuân thủ tinh thần chỉ đạo của thông báo số 245 là chỉ làm thí điểm, phải đảm bảo khắt khe các yêu cầu mọi mặt về phát triển kinh tế – xã hội ở Tây Nguyên, phải gìn giữ môi trường tự nhiên. Việc khai thác bô-xít để chế biến alumina như đang diễn ra ở Tây Nguyên đứng trước thực tế: Cả 2 nhà máy sẽ không thể vận hành đúng công suất nếu vấn đề giao thông vận tải và việc cung ứng nước và than đá không được đảm bảo. Giả định những khó khăn này được khắc phục, việc sản xuất alumina vẫn không tránh khỏi thua lỗ (vì công nghệ lạc hậu và chi phí vận tải quá lớn); những hiểm họa do bùn đỏ, do thiên tai, hoặc do cả bùn đỏ và thiên tai vẫn thường trực và không thể lường trước được.

Việc khai thác bô-xít để sản xuất alumina hiện nay ở Tân Rai và Nhân Cơ đang đặt ra cho cả nước nhiều vấn đề:

Trước hết, hai nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ và việc khai thác bô-xít như đang làm đã đặt đất nước đứng trước tình trạng bỏ thì thương, vương thì tội. Duy trì để sản xuất thì lỗ nặng và tích tụ nhiều hiểm họa không thể kiểm soát được về các mặt kinh tế, môi trường, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng… cho cả nước. Dẹp bỏ thì tổn thất lớn và chồng chất thêm nợ công mới cho cả nền kinh tế.

Việc khai thác bô-xít trên Tây Nguyên như đang diễn ra là sai lầm nghiêm trọng về chiến lược phát triển kinh tế (phát triển theo chiều rộng: dựa trên đầu tư để bóc lột tài nguyên và tận dụng lao động rẻ, hủy hoại môi trường). Trong khi nền kinh tế đất nước đang đòi hỏi phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu trong quá trình đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng (chiến lược phát triển chủ yếu phải dựa trên phát huy chất lượng nguồn nhân lực, tận dụng các lợi thế địa kinh tế, tận dụng sự phát triển của công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật). Tình hình còn trở nên đặc biệt nghiêm trọng ở chỗ nền kinh tế nước ta từ nhiều năm nay lâm vào khủng hoảng cơ cấu sâu sắc, giữa lúc này việc huy động một nguồn lực lớn cho bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ chẳng những không hợp lý mà còn gây ra những ách tắc mới và gánh nặng mới cho nền kinh tế cả nước. Điều này đi ngược với định hướng phát triển kinh tế bền vững đã ghi trong nghị quyết đại hội XI của ĐCSVN. Hơn nữa, việc khai thác bô-xít để sản xuất alumina như đang tiến hành sẽ dẫn tới trong thực tế cuối cùng sẽ chỉ có một người sử dụng duy nhất là Trung Quốc; sản phẩm alumina Việt Nam sẽ phải đối mặt với một sự lệ thuộc rất nguy hiểm và không có lối ra; sản xuất càng nhiều, sự lệ thuộc càng lớn. Trong khi đó bài toán dùng alumina để sản xuất nhôm trong nước không có lời giải trên các phương diện kinh tế, kỹ thuật, các lợi thế so sánh.

Có thể dễ dàng so sánh, nếu sử dụng nguồn tiền ước tính khoảng 1, 6 tỷ USD đầu tư vào bô-xít Tây Nguyên để phát triển các đề án kinh tế theo hướng phát triển Tây Nguyên xanh, bền vững (các công trình thủy lợi và kết cấu hạ tầng, các dự án kinh tế nông nghiệp công nghệ cao và công nghệ sinh thái, các dự án kinh tế dịch vụ…) sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm mới, sẽ có thể đem lại những kết quả gì và tránh được những hệ lụy gì cho Tây Nguyên nói riêng và cho cả nước nói chung.

Vấn đề bô-xít – alumina hiện nay ở Tân Rai và Nhân Cơ còn phải được xem xét trong bối cảnh sự phát triển của Tây Nguyên trong những thập kỷ vừa qua chủ yếu dựa trên sự khai thác các yếu tố tự nhiên; sự khai thác này đã tới ngưỡng không được phép vượt qua. Thực trạng hiện nay ở Tây Nguyên: đất đai, rừng, nguồn nước đã bị khai thác cạn kiệt, tới hạn và không thể chịu đựng thêm những dự án khai thác mới; môi trường tự nhiên trên thực tế không thể phục hồi lại được. Trong khi đó, ở Tây Nguyên kết cấu hạ tầng vẫn rất lạc hậu; dân trí và chất lượng nguồn nhân lực nói chung thấp; chênh lệch giàu nghèo ngày càng rộng trong quá trình phát triển và tạo ra những bất công mới; người chịu thua thiệt nhất trong quá trình phát triển này là cộng đồng các dân tộc tại chỗ. Cho đến nay Tây Nguyên vẫn là một trong những vùng nghèo và có chênh lệch giàu nghèo lớn nhất của cả nước.

Trong bối cảnh này cần đặc biệt nhấn mạnh: (1) Tây Nguyên là quê hương tự nhiên của cộng đồng các dân tộc tại chỗ, (2) Tây Nguyên là mái nhà của Đông Dương cả về mặt tự nhiên và về mặt địa chính trị, và (3) Tây Nguyên trong tương lai rất gần còn là không gian sinh tồn mới của cả nước khi biến đổi khí hậu (nước biển dâng) sẽ làm thu hẹp diện tích đất đai sinh sống của cả nước. Bất kể sự phát triển nào ở Tây Nguyên xâm phạm 3 đặc điểm này, đất nước sẽ phải trả giá. Ngay từ bây giờ, sự phát triển của Tây Nguyên nói riêng và của cả nước nói chung nếu không tính đến 3 đặc điểm này của Tây Nguyên, sự bình yên và an ninh của đất nước bị uy hiếp.

***

Kính thưa quý vị lãnh đạo,

Toàn bộ những vấn đề trình bày trong thư ngỏ này đã được dự báo trước, đã được làm rõ nhiều lần trong rất nhiều hội thảo khắp cả nước, trong các thư và các kiến nghị của các tầng lớp nhân dân khác nhau. Điều đáng tiếc là những ý kiến phản biện như thế đều không được tiếp thu và đáng tiếc hơn nữa là thực tế đã diễn ra ở Tân Rai và Nhân Cơ đang xác nhận tính đúng đắn của các dự báo, các tính toán đã được nêu trong những ý kiến đóng góp, phản biện. Sự việc dẫn tới kết quả hai nhà máy Tân Rai (đã hoàn thành) và Nhân Cơ (đang trong giai đoạn xây dựng) trở thành việc đã rồi, hai nhà máy này đang gây ra những hậu quả không thể cứu chữa đối với đất nước.

Chúng tôi, những người soạn thảo và ký vào Thư ngỏ này một lần nữa cùng nhau đánh giá lại toàn bộ vấn đề khai thác bô-xít như đang tiến hành ở Tây Nguyên, nhất trí bằng thư ngỏ này kiến nghị với các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước ra quyết định đình chỉ ngay việc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Đóng cửa nhà máy Tân Rai và dừng việc xây dựng tiếp nhà máy Nhân Cơ. Việc khai thác bô-xít Tây Nguyên trong tương lai sẽ chỉ được đặt ra khi đất nước có những điều kiện kinh tế và khoa học kỹ thuật mới.

Chúng tôi hiểu đây là một quyết định rất khó khăn, nhưng là một quyết định có trách nhiệm vì cái giá phải trả sẽ vẫn còn rẻ hơn rất nhiều cho Tây Nguyên, cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân và cho cả nước nói chung so với những tổn thất đã xảy ra, đang xảy ra và sẽ còn tiếp tục xảy ra nếu duy trì hoạt động của 2 nhà máy này. Chúng tôi đề nghị quý vị lãnh đạo kêu gọi nhân dân cả nước phát huy sáng kiến của nhân dân để giảm bớt những tổn thất phải chấp nhận của quyết định này, kể cả việc bán đấu giá các thiết bị của 2 nhà máy này (không bán mặt bằng, càng không nên cổ phần hóa để không “rơi” vào tay những đối tác ngoài mong đợi).

Thưa quý vị lãnh đạo,

Chúng tôi tin rằng quyết định đầy tinh thần trách nhiệm này của quý vị lãnh đạo sẽ được nhân dân cả nước đồng tình, hậu thuẫn. Nhân dân cả nước sẽ kề vai sát cánh với các vị lãnh đạo và đồng bào Tây Nguyên khắc phục những khó khăn trong việc thực hiện quyết định này để chung tay xây dựng Tây Nguyên phát triển bền vững. Chúng tôi kính mong các vị lãnh đạo cho nhân dân cả nước được biết ý kiến của quý vị về đề nghị nêu trong thư ngỏ này của chúng tôi.

Kính thưa toàn thể quốc dân đồng bào,

Vì tầm quan trọng sống còn đối với đất nước và vì nhiệm vụ phát triển bền vững Tây Nguyên, chúng tôi hy vọng toàn thể quốc dân đồng bào sống ở trong nước cũng như ở nước ngoài đồng tình ủng hộ kiến nghị của chúng tôi bằng cách ký tên vào thư ngỏ này. Sự đồng tình hưởng ứng như vậy của quốc dân đồng bào sẽ tăng thêm ý nghĩa quan trọng của thư ngỏ này và củng cố tình đoàn kết của nhân dân cả nước trong giải quyết những việc khó của đất nước.

Kính thư

NHỮNG NGƯỜI THAM GIA KÝ TÊN

1. Nguyên Ngọc, nhà văn, Hà Nội và Hội An

2. Nguyễn Trung, nguyên trợ lý cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội

3. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ & Môi trường, Hà Nội

4. Nguyễn Thành Sơn, TS, Giám đốc Ban Quản lý các dự án than Đồng bằng sông Hồng – Vinacomin, Hà Nội

5. Huỳnh Sơn Phước, nhà báo, thành viên Viện IDS, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Tuổi trẻ, Hội An, Quảng Nam

6. Phạm Gia Minh, TS Kinh tế, Phó Tổng thư ký Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài, Hà Nội

7. Lê Đăng Doanh, TS Kinh tế, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ Tướng, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

8. Trần Nam Bình, PGS TS, Đại học New South Wales, Sydney, Australia

9. Ngô Vĩnh Long, GS, Khoa Sử, Đại học bang Maine, Hoa Kỳ

10. Nguyễn Đăng Hưng, GS danh dự thực thụ, Đại học Liège, Bỉ, TP HCM

11. Vũ Giản, chuyên gia Kinh tế, Tài chính, nguyên Tư vấn cho Bộ Kinh tế Thụy Sĩ, Genève, Thụy Sĩ

12. Trần Văn Thọ, GS, Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản

13. Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội

14. Hoàng Tụy, GS, Viện Toán học, Hà Nội

15. Hà Dương Tuấn, nguyên chuyên gia công nghệ thông tin, Pháp

16. Trần Hữu Dũng, cựu GS kinh tế, Đại học Wright State, Dayton, Ohio, Hoa Kỳ

17. Nguyễn Khắc Mai, Giám đốc Trung tâm Minh triết, Hà Nội

18. Trần Thị Băng Thanh, PGS TS, Văn học cổ trung đại Việt Nam, Hà Nội

19. Trần Ngọc Vương, GS TS, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

20. Tương Lai, nguyên Viện trưởng Xã hội học, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu Thủ tướng, TP HCM

21. Võ Thị Thắng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên ĐBQH, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam, TP HCM

22. Trần Quốc Thuận, luật sư, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, TP HCM

23. Nguyễn Đức Hiệp, chuyên gia khoa học khí quyển, Office of Environment & Heritage, New South Wales, Australia

24. Phạm Tư Thanh Thiện, nguyên Phó Ban Việt ngữ – đài RFI, Pháp

25. Nguyễn Ngọc Giao, nhà giáo về hưu, Pháp

26. Phạm Xuân Yêm, nguyên Giám đốc Nghiên cứu Khoa học (CNRS), Đại học Pierre et Marie Curie, Paris, Pháp

27. Hoàng Dũng, PGS TS, Đại học Sư phạm TP HCM, TP HCM

28. Nguyễn Phương Chi, Biên tập viên chính, nguyên Phó phòng Tạp chí Nghiên cứu văn học, Viện Văn học, Hà Nội

29. Nguyễn Trác Chi, TP HCM

30. Nguyễn Thế Hùng, GS TS, Phó chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam, giảng viên Đại học Đà Nẵng, Thành phố Đà Nẵng

31. Nguyễn Đình Nguyên, TS, Bệnh viện St Vincent, Sydney, Australia

32. Phan Thị Hoàng Oanh, TS Hóa học, Tân Phú, TP HCM

33. Tống Văn Công, nguyên Tổng Biên tập báo Lao Động, TP HCM

34. Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban Nghiên cứu của Thủ tướng, Hà Nội

35. Vũ Minh Khương, TS, Hải Phòng và Singapore

36. Hoàng Xuân Phú, GS TSKH, Hà Nội

37. Đỗ Đăng Giu, nguyên Giám Đốc Nghiên Cứu CNRS – Đại học Paris Sud, Pháp

38. Hồ Uy Liêm, PGS TS, nguyên quyền Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội

39. Nguyễn Ngọc Sơn, nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chí Thế giới trong ta (Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam), Hà Nội

40. Đặng Thị Hảo, TS, Hà Nội

41. Đinh Hữu Thoại, linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, TP HCM

42. Khương Quang Đính, chuyên gia tin học, Paris, Pháp

43. Nguyễn Quang A, TS, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội

44. André Menras Hồ Cương Quyết, nhà giáo, tù chính trị chế độ cũ, Pháp

45. Lê Ngọc Thanh, linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, TP HCM

46. Nguyễn Trung Tôn, Quảng Xương, Thanh Hóa

47. Lê Đức Triết, Thành phố Đà Nẵng

48. Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM

49. Nguyễn Bắc Truyển, TP HCM

50. Phan Tấn Hải, nhà văn, California, Hoa Kỳ

51. Huy Đức, nhà báo độc lập, TP HCM

52. Lê Xuân Khoa, nguyên GS thỉnh giảng Đại học Johns Hopkins, Hoa Kỳ

53. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, TP HCM

54. Đặng Hùng Võ, GS TSKH, nguyên Thứ trưởng, Bộ Tài nguyên & Môi trường, Hà Nội

55. Huỳnh Tấn Mẫm, Bác sĩ, Ủy viên Ủy ban MTTQVN TPHCM, nguyên Tổng Biên tập báo Thanh Niên, TP HCM

56. Nguyễn Tử Siêm, GS TS, nguyên Phó Viện trưởng Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Hà Nội

57. Nguyễn Vi Khải, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu Thủ tướng, Hà Nội

58. Trần Thị Lành, Chủ tịch sáng lập Trung tâm Nghiên cứu kiến thức bản địa và phát triển Quảng Bình, Hà Nội

59. Nguyễn Huệ Chi, GS, Hà Nội

60. Nguyễn Đình Cống, GS, Đại học Xây dựng, Hà Nội

61. Nguyễn Đình Bin, nguyên Đại sứ, Ủy viên Trung ương Đảng khóa VIII, nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, Hà Nội

62. Trần Đình Nam, nguyên Trưởng ban biên tập Nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội

63. Trần Ngọc Sơn, kỹ sư, Pháp

64. Nguyễn Thanh Hằng, dược sĩ, Pháp

65. Hoàng Ngọc Biên, nhà văn, California, Hoa Kỳ

66. Lê Trung Hiếu, công nhân, Đà Nẵng

67. Vũ Thư Hiên, nhà văn, Paris, Pháp

68. Bùi Chát, nhà thơ, TP HCM

69. Maily Nguyen, Illinois, Hoa Kỳ

70. Lê Mạnh Đức, hưu trí, TP HCM

71. Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh, Vinh, Nghệ An

72. Huỳnh Công Minh, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM

73. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM

74. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM

75. Lê Quốc Thăng, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM

76. Lê Ngọc Thanh, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM

77. Đinh Hữu Thoại, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM

78. Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hoá lịch sử, Huế

79. Bùi Minh Quốc, nhà thơ, nhà báo, nguyên Chủ tịch hội văn học nghệ thuật tỉnh Lâm Đồng, Đà Lạt, Lâm Đồng

80. Nguyễn Kim Cương, Thạc sĩ Bác sĩ, giảng viên đại học, Hà Nội

81. Võ Văn Cần, hưu trí, Canada

82. Đào Xuân Sâm, nguyên thành viên Ban nghiên cứu Thủ tướng, TP HCM

83. Võ Văn Thôn, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp, TP HCM

84. Nguyễn Trí Nghiệp, Công ty nông trang Island, Vĩnh Long

85. Phạm Minh Vũ, Hội Anh em Dân chủ, Quảng Trị

86. Hà Văn Thùy, nhà văn, TP HCM

87. Nguyễn Đắc Diên, Bác sĩ nha khoa, TP HCM

88. Thái Văn Cầu, chuyên gia khoa học không gian, Hoa Kỳ

89. Nguyễn Đăng Nghĩa, TS, Trung tâm nghiên cứu Đất, Phân bón và Môi trường phía Nam, TP HCM

90. Nguyễn Gia Hảo, chuyên gia tư vấn kinh tế độc lập, nguyên thành viên tổ tư vấn của Thủ tướng, Hà Nội

91. Phạm Quang Tuấn, PGS TS, Đại học New South Wales, Sydney, Australia

92. Hà Thúc Huy, PGS TS Hóa học, giảng dạy đại học, TP HCM

93. Vũ Trọng Khải, PGS TS, chuyên gia kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, TP HCM

94. Nguyễn Văn Tạc, nhà giáo hưu trí, Hà Nội

95. Nguyễn Mai Oanh, chuyên gia nông nghiệp, nông thôn, TP HCM

96. Nguyễn Đăng Quang, Đại tá, nguyên cán bộ Bộ Công an, Hà Nội

97. Lê Thân, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Tổng thư ký Lực lượng nhân dân sinh viên học sinh tranh thủ dân chủ Đà Lạt, Nha Trang, Khánh Hòa

98. Nguyễn Hữu Vinh, kỹ sư xây dựng, Hà Nội

99. Ngô Kim Hoa, nhà báo tự do, TP HCM

100. Ngô Thanh Hà, cán bộ hưu trí, TP HCM

101. Dương Tường, nhà thơ – dịch giả, Hà Nội

102. Mai Nghiêm, chuyên gia sinh học và giáo dục, Canada

103. Trần Tiến Đức, nhà báo, nguyên vụ trưởng Vụ Giáo dục – Truyền thông Ủy ban Quốc gia Dân số và Kế hoạch hóa Gia đình, Hà Nội

104. Nguyễn Thị Từ Huy, TS Văn học, TP HCM

105. Nguyễn Văn Cường, kỹ sư xây dựng, TP HCM

106. Trần Minh Thảo, Viết văn, Bảo Lộc, Lâm Đồng

107. Trần Hải, kỹ sư xây dựng, TP HCM

108. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên, Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại TP HCM, TP HCM

109. Vũ Thị Phương Anh, TS, nguyên giảng viên Đại học Quốc gia TP HCM, TP HCM

110. Phùng Hoài Ngọc, Thạc sĩ, nguyên Trưởng bộ môn Ngữ Văn Trường Đại học An Giang, An Giang

111. Nguyễn Duy, nhà thơ, TP HCM

112. Phạm Bá Hải, Thạc sĩ kinh tế, TP HCM

113. Nguyễn Xuân Nghĩa, TS, giảng viên đại học,TP HCM

114. Nguyễn Xuân Diện, TS, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội

115. Hà Sĩ Phu, TS, nhà văn, Đà Lạt, Lâm Đồng

116. Phạm Chí Dũng, nhà báo, TP HCM

117. Mai Thái Lĩnh, nhà giáo nghỉ hưu, Đà Lạt, Lâm Đồng

118. Huỳnh Nhật Hải, cán bộ hưu trí, Đà Lạt, Lâm Đồng

119. Huỳnh Nhật Tấn, cán bộ hưu trí, Đà Lạt, Lâm Đồng

120. Trần Công Thạch, nhà giáo nghỉ hưu, TP HCM

121. Trần Thế Việt, nguyên Bí thư thành ủy Đà Lạt, Lâm Đồng

122. Lê Công Giàu, nguyên Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư, TP HCM

123. Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM

124. Lê Thăng Long, doanh nhân, TP HCM

125. Doãn Mạnh Dũng, kỹ sư kinh tế biển, TP HCM

126. Lê Anh Hùng, dịch giả, Hà Nội

127. Nguyễn Mạnh Hùng, mục sư, Dĩ An, Bình Dương

128. Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, nghỉ hưu, California, Hoa Kỳ

129. Trần Hữu Khánh, cán bộ hưu trí, TP HCM

130. Đặng Bích Phượng, cán bộ hưu trí, Hà Nội

131. Ngô Thị Kim Cúc, nhà văn, nhà báo, TP HCM

132. Trần Hữu Kham, thương binh, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM

133. Phạm Duy Hiển, kỹ sư đã nghỉ hưu, Vũng Tàu

134. Bùi Ngọc Thanh, cán bộ hưu trí, Geneva, Thụy Sỹ

135. Nguyễn Quang Nhàn, cán bộ hưu trí, Đà Lạt, Lâm Đồng

136. Hoàng Thị Hà, cán bộ hưu trí, Hà Nội

137. Uông Đình Đức, kỹ sư cơ khí đã nghỉ hưu, TP HCM

138. Trần Quốc Trọng, nghệ sĩ ưu tú, Hà Nội

139. Trương Anh Thụy, nhà văn, Hoa Kỳ

140. Lê Mạnh Chiến, nhà nghiên cứu ngôn ngữ,Hà Nội

141. Tiêu Dao Bảo Cự, nhà văn tự do, Đà Lạt, Lâm Đồng

142. Chân Phương, nhà thơ, Boston, Hoa Kỳ

143. Đỗ Khiêm, nhà văn, California, Hoa Kỳ

144. Trần Công Thạch, nhà giáo hưu trí, TP HCM

145. Nguyễn Lương Thúy Kim, nghề tự do, TP HCM

146. Huỳnh Minh Nguyệt, cán bộ hưu trí, TP HCM

147. Trần Văn Bang, kỹ sư, TP HCM

148. Lê Vĩnh Trương, Vận tải, TP HCM

19 bình luận trước “2570. Thư ngỏ gửi lãnh đạo Đảng và Nhà nước yêu cầu đình chỉ ngay toàn bộ dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên”

  1. […] 2250. Thư ngỏ gửi lãnh đạo Đảng và Nhà nước yêu cầu đình chỉ ngay toàn bộ… […]

  2. Trần said

    Bóng đá nữ VN-TL đang 0-2.
    Nhà máy giấy ở Long An 2ooo tỷ ngừng thở.
    Ôi Tân Rai, Nhân Cơ! Cơ nghiệp này có mà trời đỡ.

  3. montaukmosquito said

    Qua lá thư ngỏ/kiến nghị này, chúng ta thấy rõ lòng tin yêu Đảng của các nhân sĩ trí thức . Tâm họ rất sáng, lúc nào cũng đặt Đảng ở vị trí cao nhất, và họ có một lòng tin mãnh liệt vào một Đảng lúc nào cũng kiên định lý tưởng Cộng Sản .

    Các bác còn yêu và tin Đảng nên ký vào kiến nghị này .

    Em thì rất hối lỗi vì lòng tin yêu Đảng của em không phải vào những chuyện như thế này . Em chỉ thích Đảng càng ngày càng Cộng Sản, càng ngày càng chuyên chính . Vì chỉ như vậy, Đảng nhìn mới ra hồn, xứng đáng với cái tên Cộng Sản của mình . Đi ngược lại lý tưởng, Đảng tự lột truồng mình không cần cả tên thợ may lừa đảo .

    • KHÔNG GIẢI TÁN ĐẢNG CSVN NHANH THÌ BỐC CỨT ĂN VÃ HẾT CẢ NƯỚC. said

      Giờ này mà còn nhiều người tin vào đảng csVN còn lương tri và liêm sỷ để tỉnh ngộ ? tại sao cứ uống nước mơ mãi thế không biết?
      KHÔNG DẸP NGAY ĐẢNG CS CẦM QUYỀN THÌ KHÔNG NHỮNG BÔ XÍT TÂY NGUYÊN MÀ ĐỂ LÀM TAY SAI TÀU THÌ SẼ CÒN ĐỦ CÁI KHỐN NẠN NỮA CÒN TIẾP TỤC ĐẺ RA ĐỂ GIỮ ĐẢNG CSVN -DÙ CÓ PHẢI ĐÀO MẢ BỐ 16 ĐỨA TRONG BCT LÊN CHÚNG CŨNG CỨ LÀM.
      KHÔNG GIẢI TÁN ĐẢNG CSVN NHANH THÌ BỐC CỨT ĂN VÃ HẾT CẢ NƯỚC.

      • Tiểu Yêu said

        tôi thấy bây giờ cho bác bốc shit ăn vã luôn cũng được rồi, cần gì đợi giải tán đảng CS Việt Nam =_= thế nào là làm tay sai tàu, thế nào là đảng không còn lương tri và liêm sỷ? bác đưa dẫn chứng nào xác thực cái coi, đừng có viện cái màn thực tế tình hình ngày nay đã chứng minh ra vs tôi, ko đủ đô đâu =_= mà nói thẳng nhé, thách bác giờ dám ôm bom ném bọn Tàu khựa ở Hoàng sa đấy? hay lại sợ chúng nó tặng kẹo đồng đến vãi tè trong quần về nhà trùm chăn trốn hoặc là tếch ra nước ngoài tị nạn? anh hùng bàng phím chém gió chém bão thì giởi mà đầu óc viển cận vãi ra ý =_+

        • BẢNG VÀNG THÀNH TÍCH 84 NĂM CỦA ĐẢNG "TA" ĐÂY, ĐỌC CHO HẾT ĐI: said

          • HÃY KHÁCH QUAN VỀ LỊCH SỬ 84 NĂM QUA:
          Ban đầu với mong muốn độc lập tự chủ cho dân tộc và xóa bỏ bất công xã hội,những lãnh tụ tiền bối của đảng CSVN với trình độ nhận thức non nớt, nông cạn, mơ hồ đã ăn phải bả đảng CS Liên Xô và quốc tế CS- bằng việc tuyên truyền “CNXH” đã giác ngộ? ( thực chất là lừa bịp) được người dân VN theo đảng cs, để sẵn sàng chết, và nhiều thế hệ có thể tính đến hàng chục triệu người dân VN từ các phía đã chết vì “sự nghiệp” ấy (khoa học!-nhưng thực tế là viễn tưởng đến mức ảo tưởng – chính Albert Einstein, nhà khoa học vĩ đại của nhân loại từng nhận định là CNCS đưa ra những ý tưởng tốt đẹp, nhưng tôi không tin những gì mà những người CS có thể sẽ đưa được loài người đến được đích ấy-vì nó thực sự không có cơ sở khoa học và thực tiễn).
          Kết quả của việc lừa bịp của đảng về “giải phóng dân tộc” đã đánh trúng vào khát vọng sẵn có của người dân VN về độc lập tự do, về xóa bỏ bất công, nên đã có cuộc CMT8/1945, mà CS VN lấy danh nghĩa phe đồng minh, huy động được dân chúng, lợi dụng cơ hội sụp đổ của phát xít mà giành được “độc lập”. Sau đó, dân VN cũng vì khát khao độc lập và lại được đảng cs tuyên truyền về “giải phóng giai cấp”(xóa bỏ bất công-để có công bằng xã hội?) mà người dân hăng hái theo đảng đánh Pháp, rồi nghe phe CS phỉnh nịnh, xúi dại, cấp vũ khí cho để trở thành người tiên phong (tay sai?) ngăn chặn CNTB cho Liên xô, Tàu có điều kiện hưởng thái bình (toạ sơn quan hổ đấu) và VN trở nên”tiền đồn” của… ở ĐNÁ”, “anh hùng” trong việc đuổi Mỹ, lật “Nguỵ” (?) là như thế. Trong khi đó, các nước khác thì không cần phải trả giá đến mấy triệu sinh mạng mà họ vẫn có được độc lập thống nhất không những vậy mà lại có thêm giàu mạnh, ấm no, tự do, dân chủ thực sự. Thế nhưng bộ máy tuyên truyền của CSVN vẫn cứ tự vỗ ngực ca ngợi và tự hào, và do nhiễm độc nhồi sọ mà nhiều người đến nay vẫn ngộ nhận như vậy.
          Sau khi đã nắm được toàn bộ quyền lực, đảng tiếp tục lãnh đạo xây dựng cái “thiên đường” “XHCN” ở ngay dưới hạ giới – VN:
          Vì đã từng chứng kiến cảnh điêu linh của cải cách ruộng đất những năm 50 TK20
          (làm hàng chục vạn người dân (kể cả những người từng có công lớn với chế độ cs)
          bị chết oan, tài sản bị trưng thu, gia đình ly tán, con đấu tố cha, vợ đấu tố
          chồng…), và ít nhiều được sống tự do, dân chủ, và sung túc trong thời kỳ “tư
          bản thực dân Pháp”, nên khi có hiệp định Giơ-ne-vơ, nhiều người, trong đó có
          những người công giáo- sợ chủ nghĩa vô thần-cộng sản, những người làm việc cho
          chế độ cũ, đã di tản vào Nam mong tiếp tục cuộc sống tự do (cuộc di cư này có
          tổ chức và không có những rủi ro lớn cho người di cư).
          Sau đó, xảy ra việc hai bên tố cáo nhau vi phạm Hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ và thực tế phía “cách mạng” đã cài nhiều đảng viên, và cả lực lượng vũ trang,
          bán vũ trang, ở lại Miền Nam để tiếp tục lãnh đạo quần chúng với mục đích “thống
          nhất đất nước” bằng đấu tranh chính trị và bạo lực cách mạng – một phần vì
          vậy mà việc tổng tuyển cử đã không thể thực hiện được trong cả nước. Chính
          quyền thân tư bản ở miền Nam tổng tuyển cử riêng, truy lùng những người cộng
          sản cài cắm ở lại “bất hợp pháp?”- đây là vấn đề mà “ta” vẫn gọi là “Diệm ra
          luật 10/59, lê máy chém khắp Miền Nam, tố cộng, diệt cộng…” đây.
          Được Liên Xô, Trung quốc “cổ vũ” (xúi bẩy, xui dại?) và cấp vũ khí (là chủ yếu), đảng ta tiếp tục lãnh đạo dân ta vượt Trường Sơn vào “giải phóng” Miền Nam, “giành hết thắng lợi này, đến thắng lợi khác”, đánh cho “Mỹ cút” 1973, “Nguỵ nhào” 1975. Mà những ngày cuối của cuộc chiến thì dù đã và đang được “giải phóng”, số người dân “ngoan cố” vẫn cứ chạy theo “bám đít” Mỹ “Nguỵ” chứ không muốn ở với chế độ mới với “thiên đường” XHCN”.
          Ở miền Bắc, đảng lãnh đạo dân làm cách mạng XHCN bằng “cải tạo quan hệ SX”,
          với phong trào “hợp tác hoá”, “quốc hữu hoá tư bản tư doanh”, cái thiên đường
          “XHCN” ở Miền Bắc hình thành là các hợp tác xã mà 2 chục năm sau, khi “giải
          phóng” miền Nam – thì dân miền Nam mới ngớ ra là “cái thiên đường CNXH” hoá ra
          là rất ư đói rách: nông dân thì suýt chết đói nếu không “nới trói” kịp theo Đại hội 6.
          Để “ổn định xã hội”: sau giải phóng, đảng bắt mấy chục vạn kẻ thất trận đi tập
          trung cải tạo dài hạn (thực chất là tù đày) – vì sợ họ không chịu khuất phục?
          Đảng tập trung người nhà của “chế độ bại trận” đi xây dựng kinh tế mới; bỏ mặc
          họ thiếu thốn đói rách.
          Đảng xóa “tàn dư” “văn hóa lạc hậu” bằng thủ tiêu các “văn hóa phẩm” dưới chế
          độ cũ, tịch thu các tác phẩm, kiểm điểm (thậm chí bắt đi cải tạo, xử tù “phản
          động”, “phản tuyên truyền”) các nhà văn nhà báo viết những gì không ủng hộ quan
          điểm của đảng, khác quan điểm của đảng, hay chỉ là nói lên tiếng nói tự do của
          người dân, hay tác phẩm không có tính đảng… làm Hàng chục văn nghệ sĩ, trí
          thức, giáo sư đại học, nhà báo… như nhóm “Nhân văn Giai phẩm” ở miền Bắc sau
          1954 bị bỏ tù nhiều năm mà không hề xét xử công khai, như Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần, Tử Phác, Đặng Đình Hưng, Trần Đức Thảo… Nhiều người bị trấn áp, truy bức đến lâm bệnh và chết trong uất hận, như Phan Khôi, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Bính… Hàng ngàn người có cảm tình với “Nhân Văn – Giai Phẩm” bị mất việc, bị xét hỏi, bị ghi lý lịch, gia đình bị trù dập… Thảm kịch đó kéo dài suốt trên 30 năm qua ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Cả một lớp trí thức, văn nghệ sĩ tài ba, uyên bác bị vùi dập oan uổng! Cả một thời gian gần một phần ba thế kỷ, nền văn học, nghệ thuật và giáo dục của đất nước bị thui chột! mà những nạn nhân tiêu biểu của phong trào này là các ông Nguyễn Hữu Đang-người tổ chức lễ độc lập 2/9/45 tại Ba Đình, GS Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, các Giáo sư Cao Xuân Huy; Nhà văn Nguyễn
          Tuân; Nhạc sỹ Văn Cao; Họa sĩ Bùi Xuân Phái, Nhà triết học Trần Đức Thảo; Giáo sư Đào Duy Anh; Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý; Nhà thơ Nguyễn Bính;Nhà thơ Quang Dũng; Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán, Yến Lan, Hoàng Cầm….
          Sau này, đến 1975 đảng tiếp tục áp dụng kiểu đàn áp giới trí thức văn nghệ sỹ Miền Nam theo kiểu cũng như với Nhân văn Giai phẩm: các trí thức, văn nghệ sỹ ở miền Nam sau 1975 cũng bị đàn áp, o ép, đày đọa, chết oan.
          Ngay trong hàng ngũ lãnh đạo của đảng và nhà nước thì người cầm quyền cũng
          không từ những thủ đoạn và hành động độc ác nào để độc taì áp đặt về tư tưởng,
          quan điểm. Họ tàn nhẫn đối với cả ngay chính đồng chí của mình: Trong đảng từ
          những năm 60 của thế kỷ 20 cũng đã xuất hiện những người tiến bộ, muốn xây dựng
          đảng thành một đảng vì dân tộc, muôn thoát ly ảnh hưởng nguy hại làm tay sai
          cho cs quốc tế chống lại nhân dân, phản bội lại tổ quốc, không muốn theo đuổi
          chính sách gây chiến biến người dân thành kẻ bắn giết bất lương, nồi da xáo
          thịt, muốn thực hiện tự do dân chủ thực sự, muốn đảng phải phục vụ dân tộc
          …những người này cũng bị đảng tìm cách cầm tù, hãm hại bằng các tội danh”xét
          lại chống đảng”, “chống nhà nước” mà những người đó như: Hoàng Minh ChínhViện
          trưởng Viện Triết học Mác-Lênin; Vũ Đình Huỳnh-thư ký chủ tịch Hồ chí Minh, đại
          tá Lê Trọng Nghĩa Cục trưởng Cục 2 (Cục Tình báo quân đội); Đại tá Lê Minh
          Nghĩa Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng; Đại tá Đỗ Đức Kiên Cục trưởng Cục Tác
          chiến; Hoàng Thế Dũng Tổng Biên tập báo Quân đội Nhân dân; Nguyễn Kiến Giang
          phó giám đốc nhà xuất bản Sự thật, nguyên tỉnh Ủy viên tỉnh Ủy Quảng Bình; Minh
          Tranh giám đốc nhà xuất bản Sự thật; Trần Minh Việt phó bí thư thành ủy Hà Nội
          kiêm Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội; Phạm Hữu ViếtTổng thư kí
          toà báo Quân Đội Nhân Dân; nhà báo Vũ Thư Hiên…Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm,
          thứ trưởng bộ văn hóa Lê Liêm(xứ uỷ viên Bắc Kỳ cũ), thiếu tướng Đặng Kim Giang(Theo Vũ Thư Hiên, ông này cũng bị bắt giam ở Hoả lò); thứ trưởng bộ quốc phòng trung tướng Nguyễn Văn Vịnh, phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước Bùi Công Trừng,nguyên Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ tổng hợp Bộ Nội vụ Lê Hồng Hà,…
          Những nhân vật xin tị nạn tại Liên Xô: có khoảng 40 người lúc đó đang đi học
          hay đi công tác ở Liên Xô đã xin ở lại như Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà
          Nội Nguyễn Minh Cần; Chính uỷ sư đoàn 308, Phó chính uỷ Quân khu khu III đại tá
          Lê Vinh Quốc; nguyên Tổng biên tập Báo Quân đội Nhân dân thượng tá Ðỗ Văn Doãn. (tất cả bị xử lý đợt đó có đến hơn 300 người)
          Sau này còn nhiều nhân vật nổi tiếng có tâm, có tầm muốn “đổi mới”, dân chủ,
          cũng bị bức hại: từ những người như Kim Ngọc(bí thư tỉnh ủy Vĩnh-Phú), ủy viên
          bộ chính trị thường trực ban bí thư Trần Xuân Bách; trung tướng phó tư lệnh quân giải phóng MN phó chủ tịch quốc hội Trần Độ; phó chủ tịch tổng Công đoàn VN- chủ tịch mặt trận TQVN thành phố HCM Nguyễn Hộ, bộ trưởng y tế chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN-BS Dương Quỳnh Hoa, Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Đà Lạt kiêm Thành ủy viên Huỳnh Nhật Hải, Phó Giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng kiêm Tỉnh ủy viên dự khuyết Huỳnh Nhật Tấn ….. Đến các nhân sỹ, trí thức nổi tiếng như Hà Sĩ Phu (viết bài Dắt Tay Nhau Đi Dưới Những Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ). Hoàng Hoàng Minh Chính (viết Góp Ý kiến Về Dự Thảo Cương lĩnh), Phan Đình Diệu “Kiến Nghị Về Một Chương trình Cấp Bách Nhằm Khắc Phục Khủng Hoảng Và Tạo Điều kiện Lành Mạnh Cho Sự Phát triển Đất Nước”;. Trần Quốc Vượng (viết Nỗi Ám Ảnh Của Quá Khứ). Nữ nhà văn Dương Thu Hương dự đoán “nếu Đảng không cải cách sẽ có một cuộc lưu huyết”.
          Còn Bùi Tín, cựu phó tổng biên tập báo Nhân Dân từng là phóng viên chiến trường có mặt tại dinh độc lập ngày 30/4(con cụ Bùi Bằng Đoàn- phó chủ tich quốc hội VNDCCH) sau khi trốn sang Pháp, đã gửi “Bản Kiến nghị của một công dân” và kêu gọi “xây dựng một chế độ dân chủ thực sự có tính chất nhân dân” cũng bị đảng tuyên là phản động;…
          Gần đây nhất (2/2014): ông Đặng Xương Hùng, đang là đại sứ VN tại Thụy Sỹ, từng là một cán bộ cấp vụ của Bộ Ngoại Giao, đã tuyên bố bỏ đảng cs và sau đó xin tị nạn chính trị…..
          Đã bao giờ các vị tự hỏi: tại sao rất nhiều người từng hết mình theo đảng nhưng sau một thời gian theo đảng, cống hiến hết mình, họ lại bỏ cả quyền lực, địa vị, bổng lộc đang có để ra đảng?:
          Nguyễn Hữu Đang (từng là cánh tay phải của Hồ Chí Minh, vào VNthanh niên CM đồng chí hội từ 1929, người tổ chức buổi lễ độc lập 2/9/45 tại quảng trường Ba Đình); Trung tướng Trần Độ (phó CT quốc hội, phó chính ủy quân giải phóng MN), BS Duơng Quỳnh Hoa(bộ trưởng y tế chính phủ CMLTCHMNVN), Nguyễn Hộ (phó chủ tịch tổng công đoàn, chủ tịch mặt trận TPHCM), TS Võ Nhân Trí, KS Truơng Như Tãng, TS Nguyễn Thanh Giang, Đại tá Phạm Đình Trọng, Đại tá BS Phạm Quế Duơng,Tỉnh uỷ Huynh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn, Nữ nghê sĩ Kim Chi, Nguyễn Thị Hài…. gần đây như ks Nguyễn Chí Đức, LS Lê Hiếu Đằng, TS Phạm Chí Dũng, BS Nguyễn Đắc Diên…..
          Đảng ngăn cản tự do tôn giáo, tín ngưỡng: phá bỏ nhiều đình chùa, nhà thờ, đền miếu sau 1954, ngăn cản (thậm chí lấy cớ để bắt bớ, đàn áp một số tín đồ) dằn mặt người dân theo đạo, hành đạo – sợ không quản lý được tư tưởng của họ, sợ họ bị tôn giáo “lợi dụng”. Sau 1975, thậm chí đảng còn “quốc doanh” hóa tôn giáo (Phật giáo VN chẳng hạn).
          Từ khi giành được quyền lãnh đạo cả nước, đảng với cái nền tảng “sở hữu toàn
          dân” đã tiến hành “cải tạo quan hệ SX” bằng việc “đánh Tư sản””cải tạo công
          thương”, “hợp tác hóa” mà kết quả là thủ tiêu sản xuất hàng hoá theo phương
          thức Tư bản, thủ tiêu cạnh tranh dẫn đến làm suy sụp nền kinh tế công thương
          nghiệp, cả xã hội thiếu hàng tiêu dùng đến cái kim sợi chỉ cũng đem ra phân
          phối. Nhiều nhà tư bản có tầm, có tâm bị tịch thu tài sản, tù đày, chết oan,
          một số trốn chạy ra nước ngoài không chính thức, một số nộp tiền cho các nhà
          chức trách “lót tay” để được đi cùng với phong trào vượt biên.
          Chính vì thấy rõ được “cái ưu việt, tốt đẹp” của chế độ “ta”, mà trong những
          năm 75-90, hàng triệu người dân miền Nam+một phần không nhỏ dân miền Bắc đã “bỏ phiếu bằng chân” bằng cuộc vượt biển lớn nhất trong lịch sử loài người: hàng
          triệu người bất chấp nguy hiểm rủi ro, hải tặc, sóng bão, cá mập, đói khát, thậm chí trong túi không có tiền bạc vẫn đóng bè để tìm đường đến với tự do-từ đây, từ điển ngôn ngữ thế giới có thêm từ vựng mới“Thuyền nhân”. Tại sao họ từ bỏ “thiên đường XHCN” tốt đẹp để ra đi nhỉ? Mà đa phần họ có làm gì cho chế độ cũ đâu? Họ có “chạy trốn” vì phạm tội gì đâu? Và khi đi có ai muốn quay về không? Tại sao người ta cứ bảo “nếu được đi thì đến cây trụ điện nó cũng đi”?…
          Cho đến nay, vẫn chưa hết hiện tượng “bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi” đó (dù
          không còn quy chế nhập cư cho người “tỵ nạn”, nhưng 8 tháng đầu năm 2013 vẫn
          còn có đến hơn 700 người Việt vượt biển tới Úc, 50 người tới Đài Loan …là sao?).
          Ngoài ra, do lo sợ “con ngựa thành Tơ-roa” mà chính sách cực đoan “bài Hoa”
          cũng tạo ra những xáo trộn lớn trong những năm77-80 tạo cớ cho kẻ thù phương
          Bắc “dạy cho VN một bài học”.
          Sau khi xảy ra cuộc xâm lược “đòi đất” của Polpot ở biên giới Tây Nam được sự
          hậu thuẫn của quan thầy của chúng là Trung quốc bị VN phản công đánh bại, Tiếp sau đó ở biên giới phía Bắc Trung Quốc đã đem 60 vạn quân xâm lược cướp phá giết chóc tại tỉnh biên giới phía Bắc.
          Trong mấy cuộc chiến tranh đã qua do đảng lãnh đạo, nếu nói đánh giá khách quan và công bằng, thì chỉ có cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới 1979 mới thực sự là “công lao” có ý nghĩa nhất của đảng, vì đây mới thực sự là cuộc chiến tranh để giữ độc lập, chủ quyền cho tổ quốc (để giữ lấy đất nước cho đảng cầm quyền?) – nhưng điều này, ngày nay “đảng ta” sợ Trung Quốc đến mức không những chẳng dám tự hào (mà khiếp nhược Trung Quốc đến nỗi cấm cả dân kỷ niệm ngày đánh thắng Trung Quốc xâm lược, tạo điều kiện cho Trung Quốc lập rất nhiều ”nghĩa trang liệt sỹ Trung Quốc” (chết do xâm lược mà được dựng nghĩa trang liệt sỹ ngay trên đất VN-có lẽ nay mai Gò Đống Đa cũng được xây nghĩa trang liệt sỹ Trung Quốc chăng?) – nhất là sau hội nghị Thành Đô đến nay (là hội nghị đầu hàng, bán nước của những người lãnh đạo đảng), họ tôn vinh 16 chữ vàng và 4 tốt, mặc cho TQ cướp biển đảo, lấn đất liền, bắt ngư dân, khoan dầu goài biển của VN (làm trò mua tàu ngầm, sắm máy bay SU30, tên lửa S300 để lấy lòng dân hay để gửi phần trăm vào đó? Vũ khí không xác định rõ kẻ thù thì vũ khi đánh ai, ai dám ra lệnh đánh, ai đánh?).
          Tới những năm 1989-1992, lo sợ phong trào đòi dân chủ như Đông Âu và Liên Xô
          làm sụp đổ mình, lãnh đạo đảng “ta” không những không nhận ra quy luật khách
          quan về sự sụp đổ không thể tránh khỏi được của cái gọi là ”lý tưởng CS” và chế
          độ “CNXH” hoang đường, mà còn bảo thủ khi ông Nguyễn Văn Linh sang Đông Âu với để nghị “cứu CNXH” (chỉ sau đó một tháng thì toàn bộ khối Đông Âu và Liên Xô
          sụp đổ).
          Thất bại với việc cầu và “cứu” CNXH ở Liên xô và Đông âu, đảng ta lúng túng (hết chỗ dựa về hệ tư tưởng?) và, thay vì quay về với quy luật khách quan là lấy chủ nghĩa dân tộc làm trọng như các quốc gia khác trên thế giới, thì lại tiếp tục tôn thờ “ý thức hệ” lỗi thời, mà ngả hẳn vào lòng CS Trung quốc để tiếp tục con đường “XHCN?” (giả cầy). Bắt đầu từ 9/1990, sau khi những người đứng đầu đảng và nhà nước VN sang Thành Đô (TQ) để “dàn hòa” với “đảng anh em” nhằm “cứu CNXH” (thực chất đây chính là sự đầu hàng nhục nhã đối với kẻ thù của dân tộc cốt chỉ để lấy chỗ dựa tồn tại cho cái “ý thức hệ” cộng sản – đảng CS) mà để có chỗ dựa này cho đảng CSVN, thì ngay sau đó VN đã phải chịu “những điều kiện tiên quyết” (rất đau đớn về biên giới và lãnh thổ…) để đổi lấy việc”bình thường hóa quan hệ “ giữa hai nước – thực chất là bảo kê cho sự tồn tại của đảng CSVN nhờ vào CS Trung Quốc). Đây là quyết định mù quáng và nguy hiểm nhất mà hệ lụy của nó thì ngày càng rất rõ ràng.
          Quay về nước, để ngăn ngừa đối lập, ngăn tự do dân chủ “quá trớn”, đảng chính
          thức giải tán 2 đảng Xã hội và Dân chủ, mặc dù trước đó chỉ là 2 đảng hình
          thức, do đảng quản lý và tự đưa thẳng vào Điều 4 Hiến pháp cái điều rất mất dân
          chủ và trơ tráo là: chỉ riêng có và duy nhất đảng CS mới được quyền và vĩnh
          viễn cầm quyền lãnh đạo nhân dân (bất luận đảng xấu tốt ra sao?).
          Cùng với chế độ công hữu, quy định quản lý đất đai là của “toàn dân”, của chung
          hoá ra là chẳng của riêng ai, và vì thế người dân đã không làm chủ thực sự mà
          quyền định đoạt thuộc về nhà nước, trong khi nhà nước là của đảng, mà đảng thì
          trao toàn quyền cho người trực tiếp cầm quyền, sinh ra tệ cha chung không ai
          khóc, người có quyền chức tha hồ mặc sức tham ô.
          Chính 2 cái “tử huyệt” đó, 2 cái nền tảng đó của CNXH mà đảng có được quyền lực
          tối đa, quyền lợi tối đa và chính những người có quyền lực đã ”tự diễn biến” do
          cán bộ cầm quyền của đảng đã không thắng được chính mình, thoái hoá biến chất
          về đạo đức và lối sống rất nhanh (nhất là từ khi “đổi mới” theo “kinh tế thị
          trường, định hướng XHCN”), biến đảng từ một đảng cách mạng thành một đảng hoạt động chỉ vì quyền lợi của một thiểu số người cầm quyền, “nhóm lợi ích” và lũ mafia
          thao túng mọi đường lối chính sách của đảng và nhà nước.
          Khi đã nắm được toàn bộ quyền lực, các cán bộ có quyền chức từ bắt đầu tư lợi, từ thu vén cá nhân làm giàu, đến tham ô vơ vét, từ sống xa dần cuộc sống người dân đến cuộc sống xa hoa, truỵ lạc, sa đoạ về phẩn chất đạo đức và lối sống người cách mạng. Cứ vậy quá trình diễn biến ”Tham-Sân-Si” làm biến chất người cầm quyền trong đảng, những người này, nhân danh đảng đã dần biến đảng từ một đảng cách mạng, thành một đảng phản động, đi ngược lại lợi ích của dân, thậm chí chống lại nhân dân, mà họ lại đổ cho “thế lực thù địch” đã dùng ”diễn biến hòa bình” biến cán bộ của họ thành ”tự diễn biến…”
          Thực chất THAM NHŨNG LÀ BẢN CHẤT CỦA MỌI CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI ĐỘC ĐẢNG TOÀN TRỊ, NÓ LÀ MỤC ĐÍCH TỒN TẠI, LÀ THUỘC TÍNH BẤT BIẾN CỦA MỌI CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI nhưng nó tác oai tác quái nhất là với các chế độ độc đảng cs toàn trị
          trong đó tiêu biểu là đảng csVN.
          Hiện nay đã đến “một bộ phận không nhỏ-tức là phần lớn” đảng viên hư hỏng thoái
          hoá biến chất cách mạng, tham nhũng, hủ hoá về đạo đức lối sống thì lãnh đạo ai?
          Giới lãnh đạo quyền lực từ hơn chục năm lại đây đã tập hợp thành hệ thống,
          thành nhóm lợi ích để thao túng đường lối chính sách của đảng và nhà nước, để
          thực hiện tham nhũng khép kín từ trung ương đến địa phương. Những quyết sách
          của họ để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng về kinh tế. Các vụ PMU,
          Vinashin, Vinalines… và rất nhiều vụ khác bị bưng bít che giấu, đã làm mất đi
          phần lớn tài sản của quốc gia vào túi các quan tham, quy ra ngang với 60 tỉ USD
          (1,4triệu tỷ đồng-theo thống kê đã được che đậy bớt của nhà nước), số tiền nợ
          nước ngoài tới độ kinh khủng (=165 tỉ USD, theo thống kê quốc tế=1,5GDP hàng
          năm) phải đến 2 năm chỉ làm, không ăn tiêu mới trả nổi.
          Trước tình hình đó, chính phủ (X) giao cho các ngân hàng phải gánh nợ (trả
          tiền thay Vinashin), bù vào sự “thất thoát “ của các doanh nghiệp nhà nước.
          Chính vì vậy, mà các ngân hàng có chỗ dựa (có lý do để tìm nguồn “bù vào chỗ đã
          gánh nợ thay”) để tự tung tự tác vơ vét, bằng cho vay nặng lãi làm cho sổ doanh
          nghiệp đã phá sản có thể tới một nửa số doanh nghiệp từng có, số còn lại đang
          đứng trước bờ vực phá sản, thị trường nhà đất đóng băng mà để cứu nó thì với
          riêng HN, nhà nước cần phải bơm ra khoảng vài chục tỷ USD. Những kẻ cầm quyền
          tìm mọi cách vơ vét hết tốc lực trong nhiệm kỳ của mình bằng khai thác ồ ạt tài
          nguyên (dầu mỏ, than, sắt, bô xít, vonfram, ….) đem bán, đẻ ra những dự án
          khủng (đường sắt cao tốc Bắc Nam, Điện hạt nhân, Sân bay Long thành, Sân bay
          Tiên lãng…. ) để có cớ vay nợ quốc tế về lấy tiền chi và rút % ra chia nhau.
          Bao nhiêu thứ thuế phí liên tục được sáng tác ra để móc hầu bao người dân. Bao
          nhiêu gạo, cà phê, điều, bao nhiêu cá tôm …. đem xuất khẩu để có tiền trả nợ,
          bù vào thâm thủng, trong khi nhiều vùng sâu vùng xa dân phải ăn mèn mén quanh
          năm.
          Người công nhân ”giai cấp tiên phong” (mà đảng luôn nói là người đại diện quyền
          lợi cho họ) thì thất nghiệp, lương thấp đến độ “khoái ăn sang” mà để có chỗ ở,
          họ cần mấy trăm năm may ra mới mua nổi một căn hộ vài chục m2, các ngành giáo
          dục, y tế làm cho người dân điêu đứng khi đi học, thà chịu chết vì không có đủ
          tiền để đi chữa bệnh, chất lượng giáo dục, y tế quá tồi tệ, các doanh nghiệp
          độc quyền do nhà nước nắm tự do tăng giá xăng dầu, điện làm cho thu nhập thực
          tế của người dân liên tục sụt giảm, các loại thuế phí tăng liên tục để móc sạch
          túi tiền của người dân, nền văn hoá dân tộc bị băng hoại, các giá trị nhân bản
          bị đảo lộn: tung hô những chuyện chân dài bồ bịch, đĩ điếm, cờ bạc, loạn luân,
          chém giết, lối sống hủ bại dẫm đạp lên nhau để sống, không coi trọng đạo đức
          nhân cách kể cả giới lãnh đạo chóp bu
          (Xem tiếp 2)

          SỰ THẬT VN 84NĂM QUA(Tiếp 2) •
          Trước những đòi hỏi về tự do dân chủ, chống TQ xâm lược, chống tham nhũng…, rất nhiều người nổi tiếng là nhân sỹ, trí thức hàng đầu, nhiều vị là tướng lĩnh lão thành cách mạng và những người có công với nước, những người từng tham gia “khai quốc công thần”, cùng hàng vạn người dân đã mạnh dạn đề xuất nói lên những kiến nghị, góp ý để đảng nhà nước có những cải tổ thích hợp mà trước hết là xây dựng một bản hiến pháp thật sự vì dân, thật sự công bằng dân chủ văn minh tiến bộ làm cơ sở cho sự phát triển tốt đẹp nhất của đất nước. Nhưng thay vì tiếp thu, khuyến khích người dân để tự điều chỉnh hoàn thiện mình – những người cầm quyền lại tìm cách theo dõi, ngăn cản đe dọa, vu cáo và đàn áp bắt bớ bỏ tù người dân nói lên sự thật, gây lên bao nỗi oan trái và bất bình của những người có tâm có tầm, của những người dân nặng lòng với vận mệnh đất nước; họ thủ tiêu nhân tài bởi không có tuyển dụng cạnh tranh minh bạch.
          Trước những hành vi tham nhũng của quan chức cầm quyền trong quản lý đất đai, tham nhũng trong quản lý ngân sách quốc gia, trước những sự tàn ác trong việc đàn áp nguời dân của bọn quan lại cầm quyền, người dân khiếu kiện kiến nghị không được giải quyết đã nảy sinh bao nhiêu cuộc biểu tình và bị giới cầm quyền đem công an thậm chí cả quân đội đến đàn áp thô bạo, điển hình là những vụ Cồn dầu, Cống Rộc, Ecopak, Dương Nội…
          Trước những hành động cướp đảo, cướp đất, khoan dầu, đánh giết ngư dân ngoài biển, người dân phẫn nộ lên án Trung quốc, thì nhà cầm quyền hèn nhát không có một động thái tích cực nào: khi các nước Asean đề nghị thương lượng đa phương nhằm tạo sức ép của cả cộng đồng Asean với TQ thì csVN lại nghe TQ, để thương lượng tay đôi với TQ để rồi bọn TQ cả vú lấp miệng em phần thua thiệt luôn thuộc về VN, TQ luôn được đà lấn tới theo kiểu vết dầu loang từ khi tuyên bố lưỡi bò đến nay chúng luôn ngày một trắng trợn hành động ăn cướp.
          Trước những hành động ngang ngược của TQ, trước sự hèn nhát bạc nhược của lãnh đạo csVN, người dân căm phẫn bọn xâm lược, bức xúc với lãnh đạo csVN nhiều lần đã xuống đường biểu tình ôn hoà (tay không) biểu thị tinh thần ái quốc của mình nhưng thay vì khuyến khích bồi dưỡng hun đúc lòng yêu nước, ý chí tự tôn dân tộc cho người dân thì nhà cầm quyền lại ngăn cản, đe doạ, đàn áp, bắt bớ giam cầm những người biểu tình (vì sợ họ “chuyển hướng lật đổ chế độ”-một nhà nước “của dân….vì dân”mà sợ người dân tay không lật đổ chế độ là sao vậy, có chính nghĩa không?
          Vì thế, dân chúng đã kết luận giới cầm quyền VN hiện nay “hèn với giặc, ác với dân” thật chẳng sai.
          Ấy vậy nhưng khi “phê và tự phê” , “bỏ phiếu tín nhiệm” (những trò mị dân rẻ tiền đã quá quen thuộc xưa cũ) cả 175uỷ viên TW, và 500 ông nghị gật (do đảng chỉ định –vì >92% nghị là đảng viên, quan chức đương chức) không tìm ra được một “con sâu” nào, không quy kết được cho một cá nhân phạm tội nào-chỉ có những kẻ tay sai dưới quyền phải chịu làm hình nhân thế mạng cho họ (nhưng cũng là những án tù rất nhẹ nhàng chưa đủ sức răn đe, kể cả vụ Dương Chí Dũng dù đã khai ra đến ủy viên trung ương, thượng tướng thú trưởng bộ CA Phạm Quý Ngọ, rồi cả ủy viên bộ chính trị bộ trưởng CA Trần Đại Quang thì vụ việc rồi cũng đã được giới cầm quyền chóp bu cho chìm xuồng để bảo vệ “uy tín” cho đảng), hiến pháp thì không do một quốc hội lập hiến thảo ra, cũng không được người dân phúc quyết dưới sự giám sát khách quan công khai minh bạch của quốc tế mà ngay việc gọi là “sửa đổi” thì cũng là trò ảo thuật lừa đảo trí trá chỉ nhằm củng cố thêm độc tài đảng toàn trị mãi mãi và các ông nghị gật phải bỏ phiếu theo lệnh của bộ chính trị csvn để “thông qua” ….
          Như vậy xin hỏi quý vị rằng: tình hình đảng và nhà nước ta như thế thì liệu, còn cứu chữa được đảng và chế độ không?
          Với một thể chế chính trị lạc hậu, phản động, chống lại người dân và còn ngoan cố khư khư giữ gìn thì chỉ là đồng lõa câu giờ vơ vét và gây thêm tội ác với nhân dân?.
          CẦN PHẢI LÀM RÕ MỘT ĐIỀU:
          Từ khi cướp được chính quyền, đảng cs chỉ chăm lo “dạy” dân ca ngợi “công lao”đảng , “dạy” dân trung thành với việc làm nô lệ cho đảngcs.
          Nước người ta thì tự hào là nước làm ra được máy bay, ô tô; dân người ta tự hào đi học không mất tiền đến tận hết đại học, người ốm đau vào bệnh viện không mất tiền, người dân thường cũng được ứng cử và trực tiếp bầu đến tổng thống…. Nhưng dân ta được đảng dạy phải luôn luôn tự hào đánh thắng Pháp Mỹ. Vậy thế nào là đánh thắng? và mục đích của đánh thắng là gì? Đánh thắng cho ai ?- núi xuơng sông máu người dân đổ ra nhưng người dân chẳng những không được tự do mà còn mất tự do hơn chế độ cũ, phải chịu bất công hơn chế độ cũ( vậy thắng để làm gì ? lấy độc lập cho đất nước hay lấy quyền cai trị cho người cs, tránh tư bản ngoại bang để rồi lại làm tay sai cho csquốc tế trước đây và tàu cộng khựa ngày nay?).
          Cái quan niệm “đánh” thắng-nếu không vì mục đích bảo vệ tổ quốc thì bản thân nó đã thiếu tính nhân văn, bởi trong tất cả các cuộc chiến tranh dưới danh nghĩa gọi là “giải phóng”, “trấn áp bạo loạn”…(nếu không vì mục đích bảo vệ tổ quốc) thì phần thiệt hại đều thuộc về người dân, chỉ có người cầm quyền này thắng người cầm quyền kia mà thôi.
          Khi đánh nhau thì cs luôn đem dân ra làm lá chắn (nhất là chống chiến tranh không quân Mỹ ở Miền Bắc-vì trận địa, doanh trại quân đội thường làm ở cạnh nhà dân hoặc ngay trong khu dân cư đông đúc, hòng làm cho đối phương vì sợ dân chết lây mà không dám đánh?).
          Để có được cái kết quả “đánh thắng” ấy, mà ta chết gấp nhiều mấy chục lần phía “địch” rồi sau khi thắng lại quay ra làm tay sai cho thằng mất dạy khốn nạn hơn thì thắng cái gì?ai thắng đây?; đánh thắng bằng giết được nhiều người mà chủ yếu vẫn là những người anh em cùng dòng giống Việt của ta, mà giết những ngưòi cùng giòng giống thì nhiều gấp hàng chục lần của ngoại bang thì ta giết nhau nồi da xáo thịt chứ hay ho gì mà khoe mà tự hào-ngu hết chỗ nói.
          Hơn nữa, nắm quyền lực bằng cách bắn giết người của chế độ cũ rồi cướp đoạt và áp đặt quyền cai trị của mình đối với dân chúng như đảng csVN thì đó là hành động cướp đoạt bất công, phi lý chứ vinh quang vẻ vang gì?
          Một lực lượng chính trị lên cầm quyền chỉ được coi là chính đáng, chính danh, là chiến thắng vể vang và vinh quang khi và chỉ khi họ thắng bằng việc cạnh tranh thi thố tài đức giữa các đối thủ chính trị, thông qua tổng tuyển cử ứng cử tranh cử và bầu cử tự do công khai dưới sự giám sát khách quan minh bạch của quốc tế, mà người ta được đa số người dân tín nhiệm lựa chọn bầu lên-đó mới thực sự vẻ vang và vinh quang và người cầm quyền ấy mới đủ chính danh về tư cách. vì thế, sự cầm quyền của đảng csvn xưa nay là hoàn toàn bất chính,(mà người đời nay hay nói khác đi là không chính danh để cho nó khỏi nặng nề) bởi vì nó giành quyền thống trị xã hội bằng bắn giết để lật đổ và áp đặt chứ nơ không do qua cạnh tranh tự do dân chủ minh bạch mà được người dân tín nhiệm bầu lên, nó tự đẻ ra “hiến pháp”, tự nặn ra “quốc hội” nhằm duy trì nền cai trị độc tàì đảng toàn trị vĩnh viễn .
          Đảng cs “dạy” Và bắt mọi công dân phải ghi nhớ“công ơn” đảng (hơn cả công ơn cha mẹ sinh thành nuôi nấng mình, hơn cả tổ tiên gia tộc mình!) để rồi đòi “muôn năm” cai trị dân. (cứ xem họ treo mấy cái khẩu hiệu: “đảng csVN quang vinh muôn năm” lên trên và lên trước cả “nước cộng hòa….VN muôn năm” đã thấy ngay sự hợm mình ngạo mạn của họ. Ngay bảng hiệu cộng sở, họ treo tên “ đảng ủy” luôn trước cả “hội đồng nhân dân” và “ủy ban nhân dân” …); việc làm lưu manh đó cũng như việc bịp bợm trong lạm dụng ngôn từ, đánh tráo khái niệm: báo tiếng nói của đảng nhưng đánh tráo thành báo “nhân dân”, “thế lực thù địch của đảng” thì đánh đồng tráo vị thế thành thế lực thù địch của nhân dân….- thế nhưng họ vẫn leo lẻo nói “dân chủ”, nói quyền lực trên hết thuộc về nhân dân.
          Ngay cái gọi là quốc hội , với 92% là đảng viên đương chức được đảng lệnh cho mặt trận tổ quốc bắt dân phải bầu thì làm sao quốc hội là cơ quan đại diện cho quyền lực của người dân? có tiếng nói của dân? nó chỉ là bù nhìn làm theo lệnh đảng để lừa bịp quốc tế rằng có quốc hội là dân chủ?
          Hiến pháp là luật mẹ của mỗi nước, nó sinh ra để làm căn cứ bảo vệ cho mọi người dân. nhưng hiến pháp VN là nơi đảng kể lể công lao(? tội thành công) trước dân và biến hiến pháp của quốc gia thành một bản nội quy nhà tù để đảng cai trị người dân vĩnh viễn.
          Tất cả những tiêu chí phổ quát về những quyền con người trên thế giới bị đảng cs lấy cớ đặc thù mỗi quốc gia để tước đoạt của người dân, không cho nguời dân được hưởng cả những quyền tối thiểu của con người như tự do ngôn luận, tự do tiếp nhận và phổ biến thông tin trên mạng ….,
          Đã vậy, mỗi khi có ý kiến người dân tham gia góp ý, hiến kế, kiến nghị, tố cáo thì họ bỏ ngoài tai, họ tìm cách che giấu sự thật, họ quy kết những người đòi hỏi dân chủ tự do là “gây rối”, ”phản động”, ”thế lực thù địch”, ”tuyên truyền chống phá nhà nước”… để lấy cớ đàn áp, bắt giam, bỏ tù họ.
          Tóm lại, CNCS thực chất là tà thuyết lừa mỵ giai cấp CN và nhân dân lao động, hay là thứ CN hoang tưởng đã phá sản ở ngay quê hương nó sinh ra và gần hết hệ thống ngay từ cách đây hơn 20 năm -thời gian đó đủ để cho người cầm quyền CS ở VN biết mở mắt ra, không phải ngần ngại gì mà không vứt tổ nó đi, chứ không cần phải chữa chạy với mưu kế “sách lược” gì-nếu thực tâm vì dân vì nước-chẳng qua là kẻ cầm quyền đang lợi dụng nó “chết từ từ” để có thời gian nhằm mưu lợi riêng trong những tháng ngày còn lại.
          Chưa bao giờ những vấn đề khó khăn về kinh tế được đảng CS giải quyết một cách căn bản: bởi lẽ cái nền tảng công hữu là nền tảng không cho phép phát huy cái mặt tốt của quản lý, của trách nhiệm cá nhân, là phải tham ô tham nhũng vì nó là một thành phần của hệ thống (tham nhũng làm thuộc tính cơ bản và bất biến của mọi chế độ độc tài và là bản chất của chế độ độc tài), là sản xuất không có năng suất cao, chất lượng kém vì không cần cạnh tranh.
          (Xem tiếp 3)

          SỰ THẬT VN 84NĂM QUA(Tiếp 3)
          Đã là so sánh để thấy tiến bộ hay yếu kém thì phải khách quan, minh bạch, đừng“mèo khen mèo dài đuôi” như vậy, đừng “trung ương hát, quan chức khen hay” như vậy:
          Để biết mình tiến bộ hay thua kém , người ta không thể so sánh với chính người ta, mà phải so sánh với người khác để thấy mình giỏi giang cao lớn hay yếu kém ở chỗ nào?
          Không thể so đứa con của mình 15 tuổi hôm nay, so với chính nó khi 5 tuổi để nói rằng nó đã cao, nặng, và giỏi hơn trước rất nhiều. Mà phải so nó với con nhà hàng xóm cùng lứa tuổi mới biết con nhà mình cao, nặng, và giỏi hơn hay kém hơn?
          Với một quốc gia cũng vậy, phải so sánh với phần lớn các quốc gia khác khi có cùng một điều kiện, đừng đổ vì chiến tranh (do ai tạo ra? tại sao họ không có chiến tranh? mà mình cứ phải chiến tranh? vẫn có cách tránh chiến tranh khác kia mà, hơn nữa để xảy ra chiến tranh thì lỗi đó có phải là lỗi của dân không?).
          Cộng sản, XHCN tốt đẹp nhưng như Bẳc Triều tiên, CNTB xấu xa mà như Hàn quốc, Thụy điển thì nên chọn mô hình nào?. Đó là một ví dụ về sự tương đồng như nước ta.
          Vể cái thói tuyên truyền “mèo khen mèo dài đuôi”: những cái thành công tạm thời đạt được là do người cầm quyền bất lực buông xuôi mới thành ra nới trói cho người dân nên đã có những chuyển biến tích cực trong nông nghiệp chứ không phải tài giỏi gì ở người lãnh đạo.”Mất mùa là tại thiên tai, được mùa bởi tại thiên tài đảng ta”, nếu mà đảng có dân chủ và cầu thị thì những tiến bộ đó đã có từ những cuối thập niên 60 TK20 chứ không phải đến 1986.
          Còn với các ngành khác, có vẻ ngoài là “tiến bộ, phát triển” như điện, đường sá giao thông, xây dựng là liên quan đến số tiền khủng vay nợ về đầu tư mà dựa vào đó, số % móc ra đút túi các quan nhà ta là rất lớn, đấy không phải là thực lực của nền kinh tế, đó là số tiền vay nợ nước ngoài (con số quốc tế thống kê đến 165-170 tỷ USD, bằng 2.000Mỹ kim/đầu người dânVN) mà nếu người ta đòi thì có mà bán hết thóc gạo, dầu thô, than, sắt, cá tôm, cà phê, các khu đô thị, đường sá…thậm chí cả “gái xuất khẩu’ cũng chẳng đủ trả một phần số nợ ấy. Hiện tại, tất cả tài nguyên đất nước (mỏ dầu, than, sắt, bô xít…) đang bị các “nhóm lợi ích” ồ ạt khai thác vơ vét bán để lấy tiền riêng, vậy vài chục năm nữa thế hệ con cháu đất nước này sống bằng cái gì đây?
          Chính vì đảng cộng sản độc quyền cai trị mà đất nước ta bị kìm hãm đà phát triển, không theo được nhịp độ chung của thế giới, kể cả so với những nước xung quanh. Sự thật đã công bố Việt Nam thụt lùi 51 năm so với Indonexia, 78 năm so với Thái Lan, 158 năm so với Singapore (báo cáo đề tài khoa học cấp nhà nước do trường đại học Kinh tế quốc dân làm theo yêu cầu của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội – báo Người lao động), trong khi sau 1975 kinh tế của họ không hơn gì nước ta.
          Đừng thấy bây giờ có nhiều hàng hoá, hàng rẻ hơn thời trước mà cho đấy là “thành tựu” do đảng làm ra. Nếu không “mở cửa” để được tư bản giãy chết cho tham gia vào cái chợ chung WTO, để mà có hàng mà mua, để có chỗ mà bán hàng, thì đến cái quần lót người dân mặc cũng sẽ còn phải phân phối. Đó là cái thuận lợi thời gian đầu gia nhập WTO mang lại hàng hoá nhiều cho mà mua thôi, cái này là cái ưu thế chung của 20 năm đầu được mua và bán trong cái chợ đó chứ đảng ta tài tướng gì ? Tới 2015 là thời điểm đáo hạn dồn dập của các khoản nợ quốc tế, cũng là thời điểm vơ vét của nhiệm kỳ đại hội 11 đảng kết thúc, bấy giờ là thời điểm hết nói phét bắt đầu đấy quý vị ạ.
          Nếu là người đang ra sức lập luận bênh vực bao che cho đảng cs (bảo hoàng hơn vua?), vậy quý vị đã xem “dự thảo hiến pháp” của Nhóm kiến nghị 72 chưa? Tại sao nhà cầm quyền VN lại sợ bản kiến nghị 72 đến như vậy? Và bản kiến nghị 72 đó nội dung có thật sự “phản động”không hay hay nó tiến bộ, dân chủ hơn so với bản “hiến pháp của đảng” mà đảng và nhà nước cứ quy chụp, nhưng không dám và không vạch được ra cái nội dung nào là “phản động, chống phá” và không dám công khai và cố tình không công khai kiến nghị 72?
          Để khách quan, quý vị hãy xem kỹ và đối chiếu 2 bản hiến pháp đó mà rút ra lẽ phải. Tại sao Nhà báo Nguyễn Đức Kiên có “Tuyên bố công dân tự do”, Tại sao có Góp ý của hội đồng Giám mục VN, mà những lời tuyên bố, kiến nghị, góp ý ấy dù mới được rỉ tai truyền miệng, phải xem lén trên mạng bị tường lửa, dù bị bôi nhọ, ngăn cấm đe dọa, bắt bớ bỏ tù; sau khi công bố trên mạng chỉ một thời gian ngắn vẫn có hàng chục ngàn người “dám ký tên?” Do quá khát khao một nước VN có tự do dân chủ, công bằng văn minh và phát triển, một nước VN độc lập tự do, mà ở đó người dân thực sự hạnh phúc ngang với các quốc gia khác trên thế giới, đó là tiếng nói thật lòng, là nguyện vọng tha thiết chính đáng của người dân VN hiện nay. Nhưng trái với những tuyên bố của người cầm quyền rằng “khuyến khích tự do góp ý XD hiến pháp”, “không có vùng cấm” thì họ lờ tịt, ngăn và giấu không cho dân được biết nội dung kiến nghị 72, tuyên bố công dân tự do, góp ý của hội đổng giám mục… ấy như thế nào, nhưng cứ vu bừa, quy kết láo rằng là “phản động, thế lực thù địch…”.
          Về mặt nguyên lý: “tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội”, “cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng”,vậy thế thì với kinh tế như hiện nay (thực chất là kinh tế tư bản, sản xuất theo quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, lấy lợi nhuận làm hàng đầu, với nhiều thành phần-điều mà trước đây những nhà lý luận cs ra sức phê phán vì cho là bóc lột, thì nay nhổ ra rồi liếm lại), vậy tại sao vẫn đòi một mình một chợ lãnh đạo (thì lãnh đạo sao được với những thành phần ngoài quốc doanh?)ngày nay, CNXH kiểu Việt nam là “kinh tế thị trường, theo định hướng XHCN” thì thật là điều nực cười, bởi không thể ăn thịt chó mà lại bảo rẳng tôi đang ăn chay, lừa bịp kiểu này thì liệu lừa được ai? Bế tắc về lý luận đến mức cứ “phát kiến” bừa (đúng hơn là thủ đoạn lừa dân?), bởi chỉ họ mới có quyền nói, còn người dân thì đã bị họ bịt miệng-bịt tai-bịt mắt bằng hệ thống tuyên truyền đồ sộ độc quyền với 17000 người “cả vú lấp miệng em” mà mỗi năm hệ thống này tiêu mất hàng ngàn tỷ tiền thuế của dân đóng góp .
          “…KHÔNG THỂ BỊT MIỆNG CẢ MỘT DÂN TỘC MÀ NGƯỜI TA KHÔNG THỂ KHUẤT PHỤC BẰNG LƯỠI KIẾM CỦA ĐAO PHỦ”- kết luận ấy của Luis Aragon- nhà báo Pháp thế kỷ trước sau vụ thực dân Pháp hành quyết chém đầu anh hùng Nguyễn Thái Học, Phó đức Chính và các đồng chí của ông -được ghi trên tấm bia tại đài tưởng niệm khởi nghĩa Yên bái phải chăng cũng là lời nhắc nhở với kẻ cầm quyền VN hiện nay?.
          Tóm lại, CNXH thực sự là hoang đường, chế độ CSVN thực sự đã trở lên lưu manh phản động. Sẽ không bao giờ đảng CSVN khắc phục được những cái “sai lầm” nếu còn tiếp tục không “nghe dân và vì dân”, quay lưng lại với người dân và còn ngu xuẩn coi Mỹ như một kẻ xâm lược, hay bạc nhược ươn hèn với bọn bành trướng Trung Quốc bằng luận điệu mỵ dân ”nước xa không cứu được lửa gần”, ” lạt mềm buộc chặt?”. Khỏi phải bàn dài dòng: nếu không đa đảng nhanh thì không những đảng CS không giữ được (ngay cả cái xác chứ đừng nói cái hồn) mà đất nước này sẽ rơi vào tay đại Hán, điều này đang hiện hữu rất nhanh chóng.
          Phải nhìn thẳng vào sự thực: Đảng Cộng Sản Việt Nam không phải là một đảng yêu nước và không ai trong số những người có quyền nhất trong chế độ đặt quyền lợi của đất nước và dân tộc lên trên hết cả. Họ ứng xử với người dân không khác gì một lực lượng chiếm đóng của tàu cộng. Tất cả đều chủ trương đàn áp thẳng tay mọi khát vọng dân chủ của người dân để ngoan cố tồn tại bất chính.. Dù muốn bưng bít sự thật, muốn dập tắt tiếng kêu của người dân bằng những thủ đoạn và hành động nham hiểm độc ác, tàn bạo đến đâu thì những kẻ cầm quyền của đảng csvn cũng sẽ không bao giờ đạt được mục đích, bởi hướng tới một xã hội tự do dân chủ, một chế độ đa nguyên đa đảng là khát vọng bỏng cháy của con người VN yêu nước yêu tự do, nó phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của xã hội loài người- điều này không có một trở lực nào ngăn cản nổi, những kẻ ngoan cố đi ngược lại nguyện vọng tha thiết chính đáng đó của người dân nhất định sẽ bị lịch sử nghiền nát.
          Những kẻ lãnh đạo đảng CSVN nghĩ rằng có thể dựa vào Trung Quốc, cùng với việc nắm giữ lực lượng công an quân đội để khi cần dùng làm công cụ đàn áp người dân để tiếp tục duy trì sự thống trị đất nước. Tội này là gì nếu không là tội của những tên tay sai tiếp tay cho kẻ xâm lược? tội phản quốc?, đây là trọng tội của họ đối với nhân dân và lịch sử VN.
          (Xem tiếp 4)

          SỰ THẬT VN 84NĂM QUA(Tiếp 4)
          Phải nhìn thẳng vào sự thực:
          Thủ phạm đã gây ra hàng triệu cái chết cho người dân VN suốt 80 năm qua chính là đảng CS. Thủ phạm gây ra bao bất công trong XHVN hiện nay chính là đảng CS. Thủ phạm gây ra sự tụt lùi (hiện nay và mãi mãi về sau cho tương lai dân tộc) so với các nước khác trên thế giới chính là đảng CS. Thủ phạm gây ra sự bạc nhược ươn hèn, quỳ gối làm tay sai cho tàu cộng, bán đất buôn dân chính là đảng CS. Thủ phạm của nạn tham nhũng vô phương chữa trị chính là đảng CS. Thủ phạm của việc phá hoại đạo đức con người VN, hủy hoại nền tảng văn hóa truyền thống mỹ tục thuần phong VN hiện nay chính là đảng cs.
          Tóm lại:
          Do bị bưng bít sự thật, bị tuyên truyền nhồi sọ đánh trúng vào khát vọng xoá bỏ bất công đem lại tự do (giải phóng giai cấp, xây dựng công bằng xã hội, không còn người bóc lột người, người dân làm chủ xã hội), khát vọng độc lập dân tộc (chống xâm lược, giải phóng dân tộc) và giàu mạnh (xây dựng xã hội chủ nghĩa giàu đẹp, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu… )-những cái bánh vẽ ấy đã làm dân ta ngộ nhận sự lừa bịp như là lẽ phải, như là lý tưởng hiện thực làm cho người ta mù quáng, cuồng tín thờ phụng sự dối trá, tự nguyện làm con rối, làm vật hy sinh cho đảng cs thực hiện chính sách bắn giết, cướp quyền nhằm mục đích áp đặt sự độc tài toàn trị xã hội giành những THẮNG LỢI CHO ĐẢNG trong suốt 84 năm qua.
          Những người cầm đầu đảng csvn đã phạm những tội lỗi cực kỳ nghiêm trọng với dân tộc trong suốt thời gian cầm quyền và đến nay họ vẫn tiếp tục ngoan cố lừa bịp để kéo dài việc cầm quyền bất chính gây khổ đau cho người dân vn và cam tâm làm tay sai cho tàu cộng nhằm biến vn thành một tỉnh lẻ của tàu cộng theo mật ước bán nước đã ký với tàu cộng ở thành đô (tq)từ năm 1990.
          P/s: Bây giờ, cac vi còn đang say sưa với “lý tưởng”ảo, cuồng tín với “sự nghiệp cách mạng”, tự hào với “thành quả, chiến thắng” của nhân dân (thực chất là của đảng đối với nhân dân) và quy chụp những người như nhóm 72… là thế lực thù địch, phản động nhưng chắc chắn vài năm nữa, nếu nhận thức tốt cháu sẽ thấy rõ sự thật mà “bên thắng cuộc”đã chép lại. khi đó chắc chắn cháu sẽ thấy căm ghét oán giận đảng csVN vì đã lừa dối nhân dân, phản bội dân tộc, làm tay sai cho Trung cộng, lừa dối cả bản thân cac vi-và khi đó cac vi- lại trở thành “phản động, thế lực thù đich, chống phá… “(của đảng)cho mà xem.
          Hãy ghi nhớ điều này xem có đúng như vậy không?
          (một đảng viên hơn 40 tuổi đảng đã từ đảng).

        • XEM LAI BAI "BẢNG VÀNG THÀNH TÍCH 8o NĂM CỦA ĐẢNG "TA"- ĐỌC CHO HẾT ĐI: said

          ngu thi co ma co suy cho cai dang lua dan chet de doc tai tham nhung ban nuoc (khong la tay sai thi con la gi ma de mat dat, mat dao, mat bien… vo tu vay?)

  4. Người Sàigon said

    Chúng nó chẳng nghe đâu vì đang bận cúi đầu ăn nhậu vơ vét tài nguyên đất nước thành tài sản cũa bọn chúng mà.

  5. Nguyễn Hùng said

    Chính phủ phải dừng ngay chương trình bauxit gây thiệt hại nghiêm trọng kinh tế, môi trường , an ninh . Tôi cũng muỗn ký tên cùng các nhà khoa học , nhân sỹ trí thức để yêu cầu chính phủ dừng ngay lập tức . Nguyễn Hùng

  6. TÔI MUỐN KÝ TÊN ỦNG HỘ LỜI KÊU GỌI MÀ KHÔNG BIẾT LÀM SAO?

  7. Trần said

    Gần như thuộc tên hầu hết các vị ký tên. Có lẽ khoảng mươi người mới, nhưng chỉ cần thấy trong đó có tên anh Bin bên ngọai giao, anh Đức con bác Trần Duy Hưng và công tác cùng chỗ bác Giáp là vui rồi.
    Thư ngỏ khẩn thiết mà nhã nhặn lắm, bức xúc mà lạt mềm lắm.
    Nghiêm túc ủng hộ 100%.

  8. Cao Vi Hiển said

    Tôi Cao Vi Hiển cán bộ nghỉ hưu 131 TP Kon Tum tự nguyện tham gia ký tên cùng những nhân sỷ trí thức trên thư ngỏ gởi lãnh đạo Đảng và Nhà Nước yêu cầu đình chỉ ngay toàn bộ dự án khai thác bô – xít ở tây nguyên

  9. Ts. Nguyễn Thạch Cương said

    Tôi: Nguyễn Thạch Cương, tiến sỹ, Hà Nội xin đăng ký được ký tên.

  10. Mongun said

    Các bác làm một trang để mọi người cùng ký tên với

  11. con cai lai quan cung ban said

    Tuong cho no lay boxit thi no thoi nhom ngo bien Dong ai ngo… “chu truong lon cua dang” hoa ra gay ong dap lung ong.De giai quyet tan goc nhung chu truong ngu ngoc nhu cong ham PVD 1958, giai phong mien Nam, khai thac boxit…DCSVN hay doi ten va vo hieu hoa tat ca nhung van ban da ky ket voi Trung cong.Voi bon nao con kien dinh 4 tot 16 chu dem ra xu voi toi danh phan quoc

  12. DATNUOCTOI said

    Đã có bao nhiêu cái thư, bao nhiêu kiến nghị …được lắng nghe, được phản hồi?
    Hầu như bằng không.
    Nói với bọn dối trá, dốt nát, bảo thủ thì không có tác dụng gì!

  13. ký tên ủng hộ thư ngỏ said

    Rất cảm kích những tấm gương nhân sỹ trí thức yêu nước thương dân đã lên tiếng vì lương tâm và công lý giúp người dân Việt: bà Võ thị Thắng (nguyên tổng cục trưởng TC Du lịch VN, anh hùng LLVT) và chồng là ông Trần Quốc Thuận (nguyên chủ nhiệm UB pháp luật của Quốc hội) ; anh em ông Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn, cán bộ hưu trí, Đà Lạt, Lâm Đồng nguyên là cán bộ tỉnh đảng bộ Lâm đồng, các ông: TSLê Đăng Doanh, TS;Đào Xuân Sâm, Nguyễn Trung, Tương Lai,… nguyên thành viên Ban nghiên cứu cố vấn cho các Thủ tướng,;
    các ông bà như TSNguyễn Xuân Diện; TSNguyễn Quang A, ;GS nguyên Thứ trưởng Chu Hảo;GS TS- nguyên Thứ trưởng Đặng Hùng Võ, GS TSKH Hoàng Xuân Phú, GS Hoàng Tụy; GS Trần Thị Băng Thanh, GS Nguyễn Đăng Hưng; PGD-TS Hoàng Dũng, Gs Nguỹen Thế Hùng… các ông: bs Huỳnh Tấn Mẫm;Đại tá Công an Nguyễn Đăng Quang
    dịch giả Lê Anh Hùng , các nhà báoTS Phạm Chí Dũng, Huy Đức, nhà văn Nguyên Ngọc, Phạm Đình Trọng; Nhà giáo Phạm Toàn, Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, ông André Menras Hồ Cương Quyết; …
    Bấy nhiêu thôi cũng đủ để những cái đầu đất nhưng ngoan cố trong bộ chính trị biết rằng NẾU CÒN CỨ TIẾP TỤC DỰ ÁN BÔ XÍT TÂY NGUYÊN NGHĨA LÀ MUỐN TIẾP TỤC HẠI DÂN, HẠI NƯỚC, GIÚP QUÂN XÂM LƯỢC DỄ DÀNG XÂM CHIẾM NƯỚC TA.
    tôi, Trịnh đắc Tạo-CCB hưu trí tại Hà nội cũng xin được ký tên ủng hộ thư ngỏ này

  14. nguyễn phú khinh-ba đình-hà nội. said

    Tôi xin đồng ý thư yêu cầu phải huỷ ngay dự án bôxit hại dân, mất nước gửi 4 ông tham nhũng bán nước: ký tên nguyễn phú khinh-ba đình-hà nội.

  15. CÒN ĐẢNG CS CẦM QUYỀN THÌ MẤT NƯỚC LÀ CHẮC CHẮN100% said

    gửi thư ngỏ cho lũ mất dạy ấy làm gì, tốt nhất là gửi cho chúng 1 quả bom

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d người thích bài này: