BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2501. Nói rõ thêm về hai vùng mặn –ngọt, đê biển, đê bao… ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

Posted by adminbasam trên 08/04/2014

Lê Phú Khải

Trong bài “Đê bao Đồng Bằng Sông Cửu Long không sai lầm “ vĩ đại” ….”, tôi chỉ muốn phản biệt bài viết của tác giả Đảng Xanh trên mạng Anh Ba Sàm ngày 23/03/2014 mà thôi. Những vẫn đề liên quan đến đê bao như vùng mặn, vùng ngọt, đê biển… trong sự vận động của sản xuất nông nghiệp ở Đồng Bằng Sông Cửu Long suốt gần 40 năm qua là đề tài lớn cho những cuốn sách, những luận án tiến sỹ khoa học… nó vượt ra ngoài khuôn khổ của một bài báo. Vì vậy trong bài viết này, tôi chỉ muốn nói thêm về vùng mặn vùng ngọt, đê bao, đê biển…một cách thật ngắn gọn… để độc giả trong và ngoài nước có khái niệm về những vấn đề này của một miền đất nước vô cùng phong phú, tươi đẹp của đất nước là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Cũng cần phải nói thêm, nếu dân số nước ta cứ là 25 triệu như 1945 thì chẳng cần phải làm gì cả với ĐBSCL như tác giả Đào Văn Tùng đã viết trong bài “Thực trạng đê bao’’ trên mạng Bauxite vừa qua.

Trước hết nói về vùng mặn

Vùng nhiễm mặn ven biển Đông và vùng xâm nhập mặn ở ĐBSCL có diện tích tự nhiên đến gần 2 triệu hécta nói liền từ Gò Công đến ven biển Tây tại Hà Tiên, bao gồm một phần tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre và phần lớn Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang.

Mặn được đánh giá là tài nguyên, nhưng mặn chỉ phù hợp với dải rừng đất ướt ven biển, với những nơi hội tụ đủ điều kiện nuôi trồng thủy sản đem lại lợi nhuận cao, nhanh, và nghề làm muối. Trái lại, mặn hủy diệt cây trồng nông nghiệp và kìm hãm phát triển dân cư, gây trở ngại lớn cho cuộc sống con người. Vì thế mà các nước giàu có như Mỹ, Nhật chỉ tiêu thụ tôm chứ không nuôi tôm.

Ở những vùng nhiễm mặn ĐBSCL, từ lâu, mặn đã bị coi là “kẻ thù” của nông dân. Vì thế, từ chỗ hoàn toàn phụ thuộc vào nước trời mùa mưa, ở vùng mặn, người nông dân đã biết “luồn lách” để sống! Họ tìm cách be bờ giữ ngọt, quai đê lấn biển, đào kênh dẫn ngọt, trữ ngọt mùa mưa, tiết kiệm mùa khô… ở vùng mặn chỉ làm được một vụ lúa trông vào nước trời, năng suất thấp. Khát khao đổi đời của người nông dân vùng mặn ĐBSCL kéo dài theo năm tháng. Nhưng ngọt hóa cả vùng rộng lớn thì sức của người nông dân cá thể không làm nổi.

Từ năm 1975, bằng nỗ lực của Nhà nước và nông dân, sau nhiều năm phấn đấu, các công trình thủy lợi đầu mối: dẫn ngọt – ngăn mặn, nhằm ngọt hóa nhiều vùng đất rộng lớn đã hoàn thành. Phải lần lượt kể đến những chương trình ngọt hóa Gò Công cho 54.000 hécta, Tầm Phương – Trà Vinh cho 7.000 hécta Vàm Đồn – Bến Tre cho 8.000 hécta… và các chương trình lớn, có tác dụng dẫn ngọt, ngăn mặn cho hàng trăm ngàn hécta như Nam Măng Thít ( Trà Vinh – Vĩnh Long), Quản Lộ – Phụng Hiệp (bán đảo Cà Mau) của quyết định 99TTG do Thủ Tướng Võ Văn Kiệt ký vào ngày 9/02/1996 đã được thực hiện trong 5 năm. Nước ngọt phù sa từ sông Tiền, sông Hậu đưa về đã xóa bỏ được bao cuộc đời mặn chát cơ hàn bấy lâu nay. Những ai đã từng chứng kiến mùa khô dài dằn dặc, đất nẻ đến tận đáy ao, gió chướng mang nặng hơi mặn từ biển dội vào, tàn phá làng mạc, mới thấy hết giá trị của những dòng nước ngọt đem đến cho nông dân vùng mặn ở ĐBSCL. Lúa từ 1 vụ năng suất thấp đã ùa lên thành 3 vụ năng suất cao. Rồi vườn tược, cây trái mọc lên từ phù sa nước ngọt. Huyện Gò Công Đông nghèo đói xưa kia, nay làm lúa 3 vụ có chất lượng cao, bán được giá nhất tỉnh, hơn cả vùng Cai Lậy, Cái Bè ở phía Tây nổi tiếng giàu có xưa nay, đó là điều mới lạ ở Tiền Giang! Ở huyện Vĩnh Lợi nằm trong vùng ngọt hóa bán đảo Cà Mau, những tá điền nghèo khó của công tử Bạc Liêu xưa kia, nay bỗng nhiên nhà tường sáng choang nhờ nước ngọt sông Hậu đã về tới vùng hạ! Người viết bài này đã chứng kiến tận mắt những hình ảnh trên.

Các chương trình ngọt hóa đã làm thay đổi hẳn bộ mặt của một vùng đất đai rộng lớn có mật độ dân cư cao ở ĐBSCL những năm qua là sự thật không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, năm 2000 vừa qua, hiện tượng hàng trăm nông dân đã đồng tình đi phá đê bao ngăn mặn để nuôi tôm. Có nơi còn đi tới 30 – 40 cây số chở nước mặn về để nuôi tôm trong vùng đã quy hoạch ngọt hóa. Thế là thôn ấp náo loạn, mất đoàn kết nghiêm trọng trong cộng đồng giữa người trồng lúa và nuôi tôm.

Khảo sát nhiều nơi ở ĐBSCL, gặp gỡ nhiều người trồng lúa và nuôi tôm, nhiều cán bộ khoa học và nhiều nhà quản lý xung quanh chuyện lúa – tôm chúng tôi có thể lý giải sự kiện mặn – ngọt ở ĐBSCL như sau :

– Thứ nhất,do khách quan giá tôm có lúc lên quá cao. Tại huyện Vĩnh Châu ven biển Sóc Trăng vào những năm 1998 – 1999 giá tôm mua ngay tại chân ruộng có lúc lên đến 150.000- 160.000 đồng 1 ký. Một ký tôm có thể bằng 4 – 5 giạ lúa. Cái giá “mê hồn” này đã khiến một số người quên mất rằng, nước ngọt không phải chỉ dành riêng cho cây lúa, mà còn là cho sản xuất nói chung kể cả sản xuất công nghiệp và nhất là cho đời sống của con người. Phù sa nước ngọt tạo nên cảnh quan bạt ngàn đồng lúa, xum xuê cây trái mộng mơ của ĐBSCL mà bao thế hệ đã dày công xây đắp. Còn với mặn thì ngoài con tôm không có gì nữa. Hơn nữa, nuôi tôm là một công nghệ, phải có vốn lớn và phải hội đủ những điều kiện cần thiết. Không ít nông dân đã phá sản, phải bỏ xứ ra đi vì chưa hội đủ những điều kiện cho nghề nuôi tôm. Chính vì vậy mà tại hội nghị “Khôi phục, nâng cấp đê biển, đê cửa sông ĐBSCL” tại TP.HCM ngày 14/07/2000 khi bàn đến vấn đề mặn – ngọt, cố vấn Võ Văn Kiệt đã nói: “Môi trường ngọt là môi trường cao cấp, là vấn đề chiến lược ở ĐBSCL”.

– Thứ hai là nguyên nhân chủ quan. Khi quy hoạch các vùng ngọt hóa, ở vùng giáp ranh mặn ngọt, công tác điều tra cơ bản, điều tra xã hội học làm không kỹ, “Đã bất chấp ý kiến của bà con” như cố vấn Võ Văn Kiệt đã phê phán trong hội nghị 14/07/2000. Có thể lấy huyện Thới Bình (Cà Mau) làm ví dụ. Khi dẫn ngọt về, thay đổi cơ cấu sản xuất từ tôm sang lúa đã bị dân chúng và cả cấp lãnh đạo địa phương phản đối. Một số nơi khác cũng có tình trạng như vậy. Chính phủ đã có sửa đổi và đã quyết định mở rộng diện tích nuôi tôm cho Cà Mau. Thiết nghĩ mọi chuyện đã rõ ràng: ngọt hóa là chiến lược, là lợi ích lâu dài cho toàn cảnh ĐBSCL.

May mắn cho ĐBSCL là đã có các mô hình hài hòa lúa – tôm, mặn – ngọt như ở Gò Công, Sóc Trăng. Do quy hoạch tốt, có đê biển ngăn bão, đê ngăn mặn phân biệt vùng tôm, vùng lúa mà vùng ngọt hóa và vùng mặn của Gò Công và Sóc Trăng cả lúa 2 vụ và nghề nuôi tôm đều phát triển vượt bậc. Tỉnh nghèo Sóc Trăng đã vượt lên, đứng đầu cả nước về kinh ngạch xuất khẩu tôm năm 2000. Sóc Trăng, Gò Công là mô hình để rút kinh nghiệm cho nhiều tỉnh ven biển ở ĐBSCL.

Thứ hai, nói về đê ngăn mặn.

Tiêu biểu nhất là đê ngăn mặn của tỉnh Sóc Trăng. Nếu cho rằng ĐBSCL không cần đến một hệ thống đê điều nào cả là hoàn toàn không đúng.

Sóc trăng là một trong những tỉnh nghèo nhất ở ĐBSCL, với 319.000 héc ta đất nông nghiệp ven biển nhiễm mặn chỉ làm được lúa 1 vụ năng xuất thấp. Đời sống của đồng đồng bào dân tộc Khmer ở đây rất khó khăn. Đêm 26 rạng ngày 27/10/1992 biển Sóc Trăng đã bất thần nổi giận. Một đợt sóng thần đã ngoạm vào khúc bờ dài hơn 70km thuộc hai huyện Vĩnh Châu và Long Phú. Sóng thần dâng cao tới gần 2 mét nước chồm sâu vô bờ từ 500 đến 4000m. 13km để ngăn mặn đã bị phá hủy hoàn toàn, cuốn trôi theo 11 cống ngăn mặn, 420 héc ta cây đặc sản tỏi và hành tím, 160 héc ta lúa và 4300 héc ta nuôi tôm bị mất trắng.

Khác với lũ đầu nguồn sau khi nước rút còn để lại phù sa mới an ủi cho đồng ruộng mùa sau. Trái lại, sóng thần đem hàng vạn tấn cát vô đồng, vùi lấp, xáo trộn địa hình và nước mặn sẽ làm cho đất chai cứng, mùa sau còn tiếp tục mất mát. Ngay sau trận sóng thần kinh hoàng đó, khi các nhà báo phỏng vấn chủ tịch tỉnh Sóc Trăng Nguyễn Thanh Bình (6 Bình) là Sóc Trăng có cần Trung ương hỗ trợ gì không? Chủ tịch Sóc Trăng đã trả lời một câu bất ngờ đến thú vị “Sóc Trăng không xin TW gì cả, chỉ xin TW một… con đê!”.

Có lẽ trên đời này chỉ có các “anh Hai Nam Bộ” mới có lối xin “kỳ lạ”, “một con đê’’!. Nhưng xét cho cùng thì chủ tịch Sóc Trăng thật là khôn ngoan. Cái xứ Sóc Trăng này lạ lắm, ở Vĩnh Châu, trẻ con chơi đùa với nhau nói ba thứ tiếng: Việt, Khơmer, Hoa… Nhưng TW lấy đâu ra một con đê ngăn mặn dài hàng trăm km để cho Sóc Trăng. Vì thế sau hơn một năm trời dồn sức, dồn của nhân dân các dân tộc (Việt, Khơmer, Hoa) ở Sóc Trăng đã làm nên một kì tích là hoàn thành tuyến đê biển và đê dọc theo cửa sông dài hơn 200km. Hệ thống đê ngăn mặn này có chiều rộng 6m, cao 1,5m, xe bốn bánh có thể đi lại dễ dàng vào mùa khô, có đê ngăn mặn, Sóc Trăng thay da đổi thịt. Từ 64000 hécta lúa hai vụ đã tăng lên 90.000 hécta ngay năm sau. Đến hè thu 1995, Sóc Trăng có hơn 100.000 hécta lúa hai vụ. Có nước ngọt, hoa màu cây trái, nghề mới (làm nấm rơm) được mở ra. Dân Khơmer có công ăn việc làm không phải bỏ xứ đi tha phương. Sau 4 năm Sóc Trăng đã gia nhập thành viên “Câu Lạc Bộ 1 triệu tấn”, sánh vai cùng các bậc đàn anh An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Trong việc làm đê ngăn mặn ở Sóc Trăng, có một câu chuyện đáng được ghi lại. Đó là sự việc xảy ra ở xã Thạnh Thái Thuận Huyện Mỹ Xuyên. Gia đình bác Tám tiệm, một nông dân cần mẫn đã để dành nhiều năm để lên một ngôi nhà tầng. Khi bác Tám Tiệm khởi công xây nhà thì cán bộ thủy lợi đã đến năn nỉ bác đừng xây. Vì đê biển sẽ chạy qua chính giữa nền nhà bác! Nhưng bác Tám không thể tin được đê có thể chạy đến tận nơi xa xôi này. Bác tuyên bố: Nếu các chú làm được con đê chạy đến tận nơi đây thì tui sẽ tự tay phá nhà! Vừa ăn tân gia được hơn tuần lễ thì đê chạy tới thiệt. Thắp hương khấn vái ông bà xong, bác Tám đã tự tay cầm búa phá nhà cho con đê… phóng thẳng! Chuyện con đê ngăn mặn ở Sóc Trăng là như thế!

Thứ ba nói về hệ thống đê bao

Đê bao ở Đồng Bằng Sông Cửu Long là để ngăn cách vùng ngọt và mặn. Nó còn là chỗ dựa vững chắc để người dân vùng ngập lũ hàng năm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long “Chung sống với lũ” một cách rất hiệu quả. Trận lũ lịch sử năm 2000, vùng Đồng Tháp Mười mênh mông như biển cả. Nước ngập lên đến nóc nhà. Nhưng 400 hécta khu dân cư của thị trấn Vĩnh Hưng của Tỉnh Long An vẫn bình yên giữa biển nước Đồng Tháp Mười nhờ một hệ thống đê bao vững chắc. Người viết bài này đã vượt 50 Km trên biển nước Đồng Tháp Mười từ Tân Thạnh đến Vĩnh Hưng và tận mắt chứng kiến cán bộ và nhân dân thị trấn đang đào cả sân vận động để lấy đất gia cố đê bao, vì lúc đó nước ngoài đê đã cao hơn mặt đất thị trấn 2m! Chủ Tịch Huyện Vĩnh Hưng lúc đó là anh Tư Ích đã trả lời chúng tôi: Năm ăn năm thua! Nhưng các Sơn Tinh ở Vĩnh Hưng đã thắng Thủy Tinh! Tư Lệnh Quân Khu Bảy lúc đó là một ông Thiếu Tướng đã đến thăm, trợ giúp đồng bào thị trấn Vĩnh Hưng mấy tạ gạo… bằng máy bay trực thăng !!!

Các nhà nghiên cứu về lũ cho rằng, cách đắp những khu đất cao làm các cụm dân cư vượt lũ, tạm gọi là các “cao nguyên nhỏ” còn có một cái lợi là chỗ lấy đất sẽ là các hố sâu chứa nước, không làm dân cao thêm mực lũ ở các nơi khác như trong trường hợp đắp đê bao. Có thể lấy Gò Tháp ở xã Đốc Bình Kiều Tỉnh Đồng Tháp làm ví dụ. Khu trung tâm xã là một quả đồi được đắp cao, ở đó trường học, bệnh xá, chợ búa, trụ sở Ủy Ban… Thật sự an toàn trong mùa lũ. Các xã vùng lũ đã định cư cần phải có khu trung tâm như Đốc Bình Kiều. Về mùa lũ, các hộ trong xã đã có nhà trên cọc, trên nền cao, có ghe xuồng đi đến khu trung tâm… thì đó là một hình mẫu đẹp và độc đáo của vùng lũ.

Tất cả những cố gắng của nông dân Đồng Bằng Sông Cửu Long gần 40 năm qua đã làm nên kỳ tích xuất gạo vào loại hàng đầu Thế Giới nhưng cuộc sống của họ rất lầm than. Năm 2012, mẹ con bà Lài ở Cần Thơ đã phải cởi chuồng để giữ đất. Năm 2007 hàng trăm nông dân các Tỉnh Miền Tây đã kéo lên nhà Quốc Hội ở đường Hoàng Văn Thụ TP.HCM biểu tình rộng rã cả tháng trời vì bị cướp đất!

Nông dân Đồng Bằng Sông Cửu Long càng xuất khẩu gạo càng khổ. Vì Quốc Doanh xuất khẩu gạo chỉ lo đi buôn gạo mà không lo cho cây lúa. Nhưng nếu ai muốn lo cho nông dân thì họ xua đuổi ngay!. Năm 1993 Công ty American Rice Incorporated (ARI) Califonia đã qua Việt Nam hợp tác, họ muốn cải tiến nhà máy ở Trà Nóc Cần Thơ để xấy, tách màu gạo… Chọn giống IR64 làm giống chính. Giám Đốc Công Ty ARI là Ông Richard Mic Combs đã nói với giáo sư Võ Tòng Xuân lúc đó rằng: Tôi chẳng tử tế gì với nông dân các ông đâu, nhưng nếu để chúng tôi kinh doanh lúa gạo thì hàm lượt chất xám trong gạo của Việt Nam cao hơn, chúng tôi bán được giá cao hơn hẳn VN đang bán, vì thế sẽ mua lúa cho nông dân giá cao hơn hẳn giá họ đang phải bán… Giáo sư VTX đã nói với lãnh đạo tỉnh Cần Thơ lúc đó rằng, ai mua lúa cho nông dân giá cao thì phải vỗ tay hoan nghênh họ. Nhưng ông Ba Sinh là lãnh đạo Cần Thơ lúc đó đã trả lời giáo sư VTX một câu xanh rờn. Phải để các doanh nghiệp lúa gạo sống chứ! thế là ARI … nhổ neo!

Vậy là người ta chỉ chăm bẵm cho các doanh nghiệp quốc doanh. Vì sao mà họ chăm băm thì trẻ con cũng biết! Còn nông dân thì bỏ mặc. Đó là bất công vĩ đại nhất ở ĐBSCL hiện nay! Là sự phản bội “lộng lẫy’’ với nông dân .

Năm 2008 trong hội nghị đánh giá “Thực hiện liên kết bốn nhà” (nhà nông, nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp) nông dân Nguyễn Văn Thôi ở xã Vĩnh Trị, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An đã phát biểu trên diễn đàn: Khi nhà nông sản xuất lúa gạo thì phải mua phân bón vật tư theo giá thị trường. Nhưng để giữ an ninh lương thực quốc gia, nhà nước có thể đình chỉ xuất khẩu lúa gạo bất kỳ lúc nào. Nông dân chịu thiệt thòi lớn. Nhưng khi lúa gạo rẻ, nông dân khốn khó thì không ai ngó ngàng tới !

Nhà nước “của dân, do dân, vì dân” ở Việt Nam thì thế, nhưng ở các nước tư bản giẫy chết như Nhật thì nhà nước mua lúa gạo của nông dân gấp đến 8 lần giá thị trường để giữ vững an ninh lương thực cho 100 triệu dân Nhật, theo giá sư Võ Tòng Xuân thì cứ mỗi ngày nước Mỹ phải chi 1 tỷ đôla để trợ giá cho nền nông nghiệp đứng đầu thế giới của họ, ở khối EU cũng thế.

Ở các nước nông nghiệp hàng đầu như Mỹ. Canada, nếu đi trên máy bay nhìn xuống, cái người ta thấy rõ nhất là các nhà kho khổng lồ (Si –lô) do nhà nước và các doanh nghiệp xây dựng để chứa lương thực cho nông dân. Ở Pháp, nước xuất khẩu nông sản thứ 2 thế giới (sau Mỹ), đứng đầu Châu Âu, các tổ chức nghề nghiệp nông nghiệp OPA (Organisaton Professionelle Agricole) có quyền cùng với chính phủ và bộ nông nghiệp quản lý nền nông nghiệp Pháp. Liên đoàn toàn quốc các xanh-đi-ca (Syndicats) của những người khai thác nông nghiệp viết tắc là FNSEA trở thành nhóm có thế lực hùng mạnh trong chính trường Pháp.

Đồng Bằng Sông Cửu Long đang khẩu thiết yêu cầu Nhà nước đầu tư xây dựng kho bãi bảo quản lương thực cho nông dân, đầu tư vốn cho doanh nghiệp (cả quốc doanh và tư doanh) để họ thu mua và tồn trữ lương thực cho nông dân. Chờ khi được giá các doanh nghiệp mới xuất như các nước trong khu vực đã làm. Trong trường hợp các doanh nghiệp lỗ, Nhà nước phải bù lỗ cho doanh nghiệp. Chính sách an ninh lương thực Quốc Gia dựa trên nền tảng như thế mới bền vững và công bằng với giai cấp nông dân. Đạo lý là thế. Nhưng hiện nay Hiệp Hội lúa gạo Việt Nam của ông Trương Thanh Phong đang làm ngược lại tất cả. Ông vừa mới bị nghỉ hưu, xưa khi chạy trọt được ở lại 1 năm khi đã đến tuổi về hưu. Tin ông Phong để về hưu là một tin vui ở ĐBSCL lúc này.

Mời xem lại: Đê bao Đồng bằng Sông Cửu Long – Sai lầm “vĩ đại” trong lịch sử cận đại (1) (Đảng Xanh). – – Lê Phú Khải: ĐÊ BAO Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG KHÔNG SAI LẦM “VĨ ĐẠI” NHƯ TÁC GIẢ ĐẢNG XANH ĐàPHÁN! (Ba Sàm). – Những SAI LẦM với Dân nhưng ĐÚNG ĐẮN với Đảng (Đảng Xanh). – Tô Văn Trường: Nói lại cho rõ về đê bao – bờ bao (Ba Sàm). – Đê bao Đồng bằng Sông Cửu Long – Sai lầm “vĩ đại” trong lịch sử cận đại (2) (Đảng Xanh). – Đê bao Đồng bằng Sông Cửu Long – Sai lầm “vĩ đại” trong lịch sử cận đại (3) (Đảng Xanh).

 

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: