BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2499. NGUY CƠ TỪ VIỆC TRUNG QUỐC GIA TĂNG ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM

Posted by adminbasam trên 24/03/2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Tư, ngày 19/03/2014

(Đài RFA 14/3)

Kinh tế hay chính trị?

Dư luận Việt Nam thể hiện qua báo chí và các diễn đàn trên mạng, đang bày tỏ sự quan tâm rất lớn về hiện tượng người Trung Quốc xâm nhập sâu vào nền kinh tế Việt Nam và với cung cách đặc biệt khác thường. Câu hỏi đặt ra là phía sau những hành động đó ẩn khuất những mưu toan gì cả về kinh tế lẫn chính trị?

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh chuyên gia kinh tế độc lập từ Hà Nội nhận định:

“Sự lo ngại trong công luận của Việt Nam rất là lớn, tôi cũng không hiểu tại sao mà trên lãnh thổ Việt Nam lại có các đơn vị Trung Quốc kinh doanh đóng kín như người dân ở đấy nói lại, như ở Hà Tĩnh họ cũng không cho công an vào. Như vậy ở đấy thành ra lãnh địa của Trung Quốc rồi chứ còn gì nữa!

Và nhân kinh nghiệm ở Ukraine làm người ta cũng liên tưởng đến, nếu như ông Putin đã lấy lý do để bảo vệ kiều dân Nga ở Ukraine, thì cũng rất có thể đến một ngày nào đấy Trung Quốc lấy lý do để bảo vệ những công nhân Trung Quốc ở đấy, họ cũng sẽ làm một đòn tương tự thì lúc ấy sẽ ra sao?”.

Mô tả thực chất các hoạt động đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam mà dư luận cho là bất thường, có thể tiềm ẩn những toan tính khó hiểu. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh phân tích:

“Đầu tư chính thức nước ngoài của Trung Quốc vào Việt Nam thì không lớn nhưng Trung Quốc có khá nhiều ảnh hưởng đối với kinh tế Việt Nam. Việt Nam xây nhà máy điện nhưng không có vốn lại vay từ quỹ xuất khẩu của Trung Quốc, cho nên phải chấp nhận nhà thầu Trung Quốc, công nghệ Trung Quốc. Trung Quốc có những cách làm không phù hợp với luật pháp của bất kì nước nào, là hối lộ để mua lại các doanh nghiệp Việt Nam, các mỏ khoáng sản là thứ mà Trung Quốc hiện nay đang rất cần. Trung Quốc cũng mua lại một công ty mà hiện nay chiếm 70% thị trường thức ăn gia súc của Việt Nam. Sự lo ngại của người dân Việt Nam là hiện Trung Quốc có những dự án ở Tây Nguyên, là địa bàn chiến lược quân sự đối với Việt Nam. Ngoài ra, Trung Quốc đầu tư vào nhiều dự án, khác với các nước khác, Trung Quốc xây một khu riêng và dựng hàng rào kín mít và người dân không biết trong đấy họ làm cái gì và đấy là công nhân hay là lính, hay là họ định chuẩn bị cái gì”.

Bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ bày tỏ sự đồng tình với công luận. Theo đó, về mặt kinh tế thì Việt Nam đã lệ thuộc Trung Quốc khá nhiều mặt, nhất là tình trạng nhập siêu nặng nề. Từ trước đến nay có khá nhiều dự án của Trung Quốc vào Việt Nam không qua kênh đầu tư trực tiếp mà qua đấu thầu, trúng thầu EPC đối với các nhà máy quan trọng của Việt Nam như điện, cảng biển, hóa chất… Bà Phạm Chi Lan cho biết:

“Thực tế có nhiều doanh nghiệp hoặc cá nhân Trung Quốc vào làm ăn ở Việt Nam theo kiểu không có phép tắc gì cả và gây ra những nhiễu loạn trong xã hội cũng như gây rất nhiều thiệt hại cho người Việt Nam. Như chuyện họ nuôi tôm nuôi cá ở vùng biển Khánh Hòa, hoặc thuê người dân trồng khoai lang ở Vĩnh Long hay thu mua các loại rễ cây, sừng móng trâu bò… Những câu chuyện gần như là thường kì trên báo chí.

Ngoài ra, lượng người Trung Quốc nhập cư bất hợp pháp vào Việt Nam và làm việc ở Việt Nam hiện nay cũng quá nhiều qua các nhà máy, các công trình khác nhau. Họ vào Việt Nam không có phép tắc gì cả. Thí dụ báo chí gần đây nói, họ vào một nhà máy điện, chính quyền địa phương yêu cầu phải làm thủ tục để xin Visa làm việc, xin phép cho người lao động của Trung Quốc ở đó. Nhưng người ta cứ thản nhiên bỏ mặc tất cả những yêu cầu của chính quyền, cứ để người của họ vào Việt Nam không có phép tắc gì cả. Tất cả những chuyện đó cộng với tất cả những vấn đề về biên giới, biển đảo mà Trung Quốc ngày càng lấn tới và tỏ thái độ ngang ngược hơn thì chắc chắn sẽ gây lo ngại cho người việt Nam. Điều lo ngại của người Việt Nam là hoàn toàn chính đáng và cảnh báo ngay là điều hết sức cần thiết hiện nay”.

Cần có hành động gì?

Trả lời câu hỏi của phóng viên là đứng trước những sự báo động cả về kinh tế lần chính trị mà công luận quan tâm, người Việt Nam sẽ phải có hành động gì. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh phát biểu:

“Rõ ràng bây giờ cần phải có một báo cáo trình Quốc hội về thực trạng đầu tư của Trung Quốc, họ làm gì, những người nào có phép, những người nào không có phép và nếu như họ dựng hàng rào, không cho công an vào kiềm soát, chúng ta không biết họ ở trong đó xây dựng nhà máy hay đào công sự thì đấy là điều hết sức nguy hiểm. Tôi rất mong Quốc hội kỳ này họp sẽ có ý kiến và yêu cầu Chính phủ báo cáo về những tình hình đó và công bố công khai cho dân biết… Quốc hội sẽ có những quyết định và biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền Việt Nam”.

Báo Đất Việt Online ngày 11/3 đưa lên mạng bài “Trung Quốc đầu tư nghìn tỉ vào Nam Định, thêm lo?” Theo đó, UBND tỉnh Nam Định vừa cấp chứng nhận đầu tư cho Tập đoàn dệt may Yulun Giang Tô, Trung Quốc, xây dụng nhà máy sản xuất sợi, dệt, nhuộm với tổng vốn đầu tư 68 triệu USD, tương đương 1.400 tỉ đồng tại khu công nghiệp Bảo Minh huyện Vụ Bản. Dự án này có tiến độ thực hiện từ nay đến tháng 6/2016, thời hạn sử dụng đất 46 năm. Tập đoàn Yulun Trung Quốc sẽ xây dựng nhà máy trên diện tích 80.000m2, công suất sản xuất sợi 9.816 tấn/năm; dệt 21,6 triệu mét vải/năm; nhuộm 24 triệu mét/năm. Ngoài dự án của Yulun, tỉnh Nam Định cũng đang xem xét để trình Chính phủ dự án khu công nghiệp dệt may sử dụng tới 1.000 hécta đất tại huyện Nghĩa Hưng. Tờ báo trích một loạt ý kiến chuyên gia quan ngại Trung Quốc đầu tư mạnh, lộ ý đồ kiểm soát thị trường Việt Nam.

Bên cạnh sự xâm nhập nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế Việt Nam, Trung Quốc được cho là sẽ có làn sóng đầu tư mạnh vào ngành may mặc, một phần nhỏ vào ngành dệt nhuộm. Chiến lược của các nhà đầu tư Trung Quốc vào Việt Nam trong lĩnh vực dệt may là đón đầu cơ hội Việt Nam tham gia Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP), mà bản thân Trung Quốc không tham gia. Theo dự kiến, sản phẩm dệt may xuất khẩu vào Mỹ và các nước nội khối TPP sẽ hưởng lãi suất 0% nếu đáp ứng điều kiện hàng may mặc phải được sản xuất từ sợi có xuất xứ từ các nước thành viên TPP. Trong bối cảnh doanh nghiệp dệt may Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu là gia công, phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc, thì họ sẽ rất khó khăn trong cạnh tranh khi TPP trở thành hiện thực.

Trả lời câu hỏi của phóng viên về việc ngành dệt may Việt Nam trông chờ nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực sản xuất bông sợi, dệt nhuộm để có thể đáp ứng điều kiện “tính từ sợi” của TPP, nhưng nay dư luận lại rất lo lắng khi có yếu tố Trung Quốc. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từ Hà Nội nhận định:

“Khi mà Trung Quốc quyết định đầu tư vào ngành dệt ở Việt Nam, tôi cho là một phần nào đó cũng có thể chấp nhận được, nếu như những nhà máy dệt mà họ đưa vào thực sự hiện đại, tốt cả về hiệu quả kinh tế cũng như bảo vệ môi trường. Nhưng phía Việt Nam phải có được cơ chế kiểm soát tốt về giá trị của đầu tư như thế nào, trình độ công nghệ như thế nào, lượng nhân công làm việc ở nhà máy là bao nhiêu. Còn nếu họ đầu tư theo kiểu một số trường hợp đã diễn ra, họ đưa nhân công của họ vào làm việc tất cả các khâu, kể cả lao động bình thường rất giản đơn không cần kĩ thuật mà không sử dụng người Việt Nam thì đấy lại là vấn đề khác.

Tôi cho là một mặt thì được, nhưng mặt khác vào giai đoạn này Việt Nam cũng rất cần tự mình phát triển ngành dệt và có thể tìm kiếm con đường hợp tác với các đối tác khác nữa, chứ không nhất thiết chỉ có Trung Quốc. Tôi cho là để tránh phụ thuộc lâu dài thì cần tránh phụ thuộc chỉ vào một đối tác, nên có một số nhà đầu tư khác nhau từ các nước khác nhau, ví dụ có thể từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ và các nơi khác để tránh sự phụ thuộc vào nhà đầu tư Trung Quốc. Khi vào Việt Nam quá nhiều, họ nắm phần khống chế ngành dệt Việt Nam thì Việt Nam sẽ lệ thuộc vào họ”.

Theo các chuyên gia, luật pháp của Việt Nam có thể chưa đầy đủ, nhưng chỉ với những quy định hiện hành, cũng có thể kiểm soát sự lũng đoạn kinh tế xã hội Việt Nam từ phía người Trung Quốc. Có chăng là các cấp chính quyền từ cao xuống thấp đã không thực thi pháp luật một cách đúng mực.

Việc Trung Quốc gia tăng đầu tư vào Việt Nam đang gây lo ngại cho các chuyên gia về nguy cơ Việt Nam mất quyền kiểm soát kinh tế, đặc biệt với việc các công ty Trung Quốc dần dần thâu tóm các công ty Việt Nam.

Đáng chú ý, doanh nghiệp Trung Quốc chú trọng đầu tư vào hai lĩnh vực bất động sản và dệt may, đẩy mạnh tiếp cận các lĩnh vực: khai khoáng, sản xuất và chế biến, xây dựng và cơ sở hạ tầng…

Trung Quốc đang gia tăng đầu tư vào lĩnh vực bất động sản của Việt Nam. Theo báo Đất Việt ngày 18/1/2014, cùng với các nhà đầu tư Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, một số nhà đầu tư Trung Quốc đang đổ tiền đầu tư bất động sản tại khu vực miền Trung. Báo cáo mới nhất của Công ty dịch vụ bất động sản CBRE cho biết, các nhà đầu tư Hồng Kông, Trung Quốc đang ngấp nghé nhiều dự án nghỉ dưỡng kèm theo loại hình kinh doanh giải trí ở Đà Nẵng. Cách đây không lâu, nhiều người đã lên tiếng báo động về việc Trung Quốc trúng thầu và thâu tóm hơn 90% các công trình trọng điểm quốc gia ở khắp Việt Nam.

Lợi dụng thời điểm nhiều công ty Việt Nam đang gặp khó khăn về mặt tài chính, phải bán một phần vốn cho doanh nghiệp nước ngoài, công ty Trung Quốc tham gia mua cổ phần của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng nhiều. Các chuyên gia trong nước lo ngại là sau một thời gian, những công ty đó có nguy cơ biến thành công ty Trung Quốc, không còn là công ty Việt Nam, nếu như họ mua được nhiều cổ phần và chiếm đa số ghế trong hội đồng quản trị.

Trang mạng Diễn đàn Doanh nghiệp ngày 14/2 vừa qua đã có bài báo động về nguy cơ này với hàng tựa: “Trung Quốc ‘âm thầm’ thâu tóm doanh nghiệp Việt”. Tiêu biểu là vụ công ty Firstland (Trung Quốc) mới đây đã trở thành cổ đông lớn của Tổng Công ty cổ phần Bảo Minh (BMI), với ti lệ sở hữu 5,63%. Cuối tháng 12/2013, Gaoling, một quỹ của nhà đầu tư Trung Quốc, cũng đã chi 40 triệu USD để mua 6,2 triệu cổ phiếu và trở thành cổ đông lớn thứ 2 của công ty Vinacaíe Biên Hòa.

Tại hội thảo “Triển vọng kinh tế và tầm nhìn chính sách năm 2014” mới đây, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho biết không chỉ doanh nghiệp Trung Quốc, mà hiện các doanh nghiệp nước ngoài khác cũng tham gia ngày càng sâu vào nền kinh tế Việt Nam. Theo bà Phạm Chi Lan, hoạt động của doanh nghiệp FDI có thể có lợi trước mắt, nhưng về lâu dài Việt Nam lại đang đẩy kinh tế vào tay các nhà đầu tư nước ngoài.

Bà Phạm Chi Lan đặc biệt lo ngại về việc ở Hà Tĩnh thời gian qua, “mức độ,có mặt của người Trung Quốc nhiều đến mức có thể cắt Việt Nam làm đôi”, đặt ra những thách thức không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, xã hội.

Tuy nhiên, đối với một số chuyên gia kinh tế như Tiến sĩ Nguyễn Quang A, việc Trung Quốc gia tăng đầu tư vào nước láng giềng Việt Nam là chuyện bình thường. Nguy cơ ở đây chính là do bản thân nền kinh tế Việt Nam còn quá yếu kém, doanh, nghiệp tư nhân không được tạo điều kiện phát triển, doanh nghiệp Nhà nước hoạt động thiếu hiệu quả, nên phải dựa ngày càng nhiều vào đầu tư nước ngoài. Sau đây là phần trả lời phỏng vấn của tiến sĩ Nguyễn Quang A:

+ Xin chào tiến sĩ Nguyễn Quang A. Thưa ông, trong thời gian gần đây người ta nhận thấy đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam, đặc biệt trong hai lĩnh vực dệt may và bất động sản đã gia tăng đột biến, và ngày càng có nhiều công ty Trung Quốc mua lại các cổ phần của các công ty Việt Nam. Vậy xin ông cho biết lý do vì sao bây giờ Trung Quốc lại gia tăng đầu tư vào Việt Nam như vậy?

– Thứ nhất, Trung Quốc lấy tư cách là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, qui mô đầu tư chính thức theo thống kê của Nhà nước Việt Nam, mức đầu tư nước ngoài đến từ Trung Quốc chưa tương xứng với vị thế đứng thứ hai thế giới và Trung Quốc là nước láng giềng của Việt Nam, khoảng cách địa lý rất gần. Tôi nghĩ, chuyện đầu tư nước ngoài từ Trung Quốc vào Việt Nam nếu tương xứng với qui mô của họ, với môi trường địa lý giữa Việt Nam và Trung Quốc thì chắc Trung Quốc phải đứng thứ nhất hay thứ hai mới hợp lý. Việc đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam xét theo khía cạnh kinh tế như thế là chuyện bình thường, không có gì khác biệt cả. Như anh nói, là trong thời gian gần đây tăng đột ngột trong lĩnh vực dệt may thì có thể có giả thiết để giải thích cho chuyện này, đó là Việt Nam đang đàm phán gia nhập TTP, Trung Quốc chưa tham gia tổ chức này và trong TTP có một điều khoản rất khác biệt, đó là sản phẩm phải có xuất xứ của các nước TTP thì mới được hưởng ưu đãi. Nếu phần lớn là nguyên liệu Trung Quốc như thực tế ngành dệt may Việt Nam hiện nay đang hoạt động, là mua nguyên liệu Trung Quốc sản xuất ra thành phẩm rồi bán sang các nước

Mỹ, Nhật Bản… thì không được hưởng ưu đãi gì cả. Vậy nên, việc Trung Quốc đầu tư vào lĩnh vực nguyên liệu dệt may, hoặc bản thân dệt may ở Việt Nam cũng là để đón trước việc khả năng Việt Nam sẽ tham gia TTP trong tương lai. Đó cũng là điều dễ hiểu và cũng là điều bình thường đối với tất cả các nhà đầu tư.

Đối với bất động sản, có thể thấy Trung Quốc đầu tư mua các công ty ở Mỹ, Canada hay các nước EU cũng khá rầm rộ. Chuyện họ vào Việt Nam mua lại công ty này hay công ty kia, hoặc mua cổ phần là một hiện tượng nếu mà xét thuần túy về kinh tế thì cũng không có gì và cũng là điều dễ hiểu.

+ Thưa ông, riêng trong ngành dệt may, một số chuyên gia lo sợ rằng do các công ty dệt may của chúng ta thứ nhất phụ thuộc vào nguyên liệu của Trung Quốc và thứ hai là sức cạnh tranh còn yếu, khi gia nhập TTP, chúng ta sẽ không được hưởng tất cả các ưu đãi của hiệp định này và phần lớn các ưu đãi đó sẽ gián tiếp lọt vào tay Trung Quốc?

– Trong một thế giới hội nhập và phân công như thế này, chúng ta lại muốn cái gì cũng chỉ chúng ta được hưởng lợi thì không bao giờ chúng ta được hưởng cái gì cả. Sự khéo léo ở đây là phải biết mình mạnh cái gì và mình có thể len chân vào một vài khâu nào đó trong một chuỗi cung của cả ngành công nghiệp để phát huy. Tất nhiên, chuyện lo sợ của một số chuyên gia như anh nói là thực tế và tôi nghĩ việc họ biết để họ sợ, để họ thay đổi chiến lược kinh doanh của họ là một điều tốt. Vì cạnh tranh là thúc đẩy và sàng lọc, ai yếu thì sẽ bị loại bỏ, đó là qui luật. Đối với Việt Nam, nếu chúng ta chỉ mong được hưởng những ưu đãi và Việt Nam suốt đời chỉ làm dệt may, thì đó cũng không phải là hay.

+ Thưa ông, có một vấn đề như chúng tôi đã có nói ở phần đầu, đó là ngày càng có nhiều công ty Trung Quốc mua lại cổ phần của các công ty Việt Nam, nhất là các công ty đang gặp khó khăn buộc phải tìm thêm vốn, nhất là nguồn vốn từ nước ngoài để tiếp tục hoạt động. Liệu có nguy cơ dần dần các công ty Trung Quốc sẽ chiếm cổ phần và chiếm đa số trong hội đồng quản trị, dẫn đến họ sẽ thâu tóm và kiểm soát các công ty lớn của Việt Nam?

– Đó là một nguy cơ có thực không chỉ đối với riêng các công ty có vốn cổ phần của Trung Quốc, mà cả các công ty có vốn cổ phần của Nhật Bản và có vốn cổ phần ở một số nước khác nữa. Đó là một áp lực rất lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam và tôi nghĩ rằng, trước nhiều áp lực như thế thì những doanh nghiệp nào có khả năng chịu đựng được, sẽ có cơ hội phát triển và doanh nghiệp nào kém thì đành chịu để các doanh nghiệp nước ngoài nuốt chửng. Trong một nền kinh tế mà chúng ta muốn hội nhập, thì những chuyện như thế là bình thường và sẽ xảy ra. Tất nhiên, trừ những chuyện liên quan đến an ninh quốc gia hoặc những vấn đề lớn, ở một số ngành thì để cho thị trường tự điều tiết; còn ở một số ngành thì sẽ giải quyết trong khuôn khổ của các hiệp định quốc tế mà Việt Nam được phép can thiệp và những vấn đề đó là những vấn đề khác chứ không phải là những vấn đề thuần túy về kinh tế.

+ Vấn đề là hiện nay trong nền kinh tế Việt Nam, khu vực kinh tế tư nhân chưa thực sự được tạo điều kiện để phát triển và nhất là hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp đang bị phá sản và gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước chưa được cải tổ theo hướng hoạt động một cách lành mạnh, có hiệu quả và dẫn đến việc chúng ta phải dựa ngày càng nhiều vào đầu tư nước ngoài. Phải chăng đó là một nguy cơ tiềm tàng? Nếu như chúng ta cứ phụ thuộc ngày càng nhiều vào đầu tư nước ngoài, chúng ta sẽ có nguy cơ bị mất chủ quyền về kinh tế, đúng không thưa ông?

– Đó là một nguy cơ có thực. Một thực trạng như anh nói, là doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam yếu, doanh nghiệp Nhà nước của Việt Nam cũng yếu, đó là một sự thật và đó là một hậu quả rất rõ ràng của chính sách phát triển kinh tế chưa đúng đắn trong thời gian qua. Lẽ ra phải cải tổ các doanh nghiệp Nhà nước một cách triệt để và phải tạo điều kiện thuận lợi để khu vực kinh tế tư nhân phát triển, đủ lớn để cạnh tranh sòng phẳng với các doanh nghiệp nước ngoài. Nhưng trong thời gian qua, chính sách của Nhà nước lại không như thế và hiện nay, những điều như anh nói là sự thật, đó là một nguy cơ. Nhưng nếu như chúng ta quá chăm chú vào phát triển doanh nghiệp nội địa của Việt Nam mà hạn chế đầu tư nước ngoài, thì cũng không đúng. Việc làm sao giữ cân đối giữa quỹ đầu tư trong nước và nước ngoài đối với Việt Nam là vấn đề hết sức cần thiết; và không thể để việc ưu ái cho bên này mà ảnh hưởng đến việc phát triển của bên kia./

Một bình luận tới “2499. NGUY CƠ TỪ VIỆC TRUNG QUỐC GIA TĂNG ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM”

  1. […] NGUY CƠ TỪ VIỆC TRUNG QUỐC GIA TĂNG ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM […]

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d người thích bài này: