BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2478. VỀ NHỮNG TUYÊN BỐ CHỦ QUYỀN MÂU THUẪN Ở ĐÔNG BẮC Á

Posted by adminbasam trên 19/03/2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Bảy, ngày 15/03/2014

(worldaffairsjournal.org1-2/2014)

Phần lớn mọi người đã được nghe về cuộc tranh cãi Biển Hoa Nam (Biển Đông); tranh luận kéo dài giữa Trung Quốc và hầu hết mọi nước khác có bờ biển trên tuyến đường hàng hải đó. Từ Indonesia đến Philippines, tất cả các nước đều tức giận với Trung Quốc về tuyên bố của nước này rằng Trung Quốc duy trì quyền sở hữu đầy đủ đối với gần như tất cả các đảo và tài nguyên của vùng biển này.

Cuộc tranh luận đó dường như không thể giải quyết được. Một bất đồng tương tự, ít được thảo luận hơn nhưng thậm chí còn rắc rối hơn, treo lơ lửng trên một vùng biển gần đó: Biển Hoa Đông. Tại đó, Đài Loan, Nhật Bản và Trung Quốc mỗi bên đều giữ lập trường kiên quyết về quyền sở hữu của một số hòn đảo và các vùng lãnh hải xung quanh chúng.

Nhóm đảo nhỏ này được biết đến là Điếu Ngư trong tiếng Trung Quốc, hay Senkaku trong tiếng Nhật Bản. Vào tháng 8/2013, tác giả bài viết đã tham dự một hội nghị ở Đài Bắc gọi là Diễn đàn Hòa bình Biển Hoa Đông – có lẽ là một phép nghịch ngữ. Người dân trong khu vực thường gọi quần đảo này bằng tên viết tắt, DSS.

Các cuộc thăm dò khác nhau cho thấy rằng khu vực này giàu dầu lửa, khí tự nhiên và than đá chưa được khai thác – cũng như cá và các hải sản khác. Chẳng hạn, Sheng Chung Lin, chủ tịch Tập đoàn CPC, một công ty năng lượng Đài Loan, nói rằng những cuộc thăm dò thụ động đã phát hiện từ 1 đến 2 nghìn tỷ mét khối khí tự nhiên hóa lỏng. Và Cơ quan Quản lý Thông tin Năng lượng Mỹ ước tính rằng “Biển Hoa Đông có trữ lượng dầu đã xác minh và trữ lượng có thể có là từ 60 đến 100 triệu thùng”.

Do đó, không bất ngờ, Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản mắc vào những cuộc tranh chấp gay gắt, khó giải quyết về quyền sở hữu.

Trung Quốc lập luận rằng nước này sở hữu toàn bộ khu vực, cũng giống như ở Biển Đông, và sẽ không cho phép tranh luận về điều đó. Nhật Bản phản bác rằng bất kỳ nỗ lực đàm phán nào đều là vô nghĩa vì quyền sở hữu của nước này là không thể phủ nhận; không có lý do để thậm chí thảo luận về nó. Phát biểu trước Liên hợp quốc vào cuối tháng 9/2013, Thủ tướng Shinzo Abe đã từ chối thậm chí thừa nhận cuộc tranh chấp, nói rằng: “Serlkaku là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Nhật Bản theo các sự thật lịch sử và dựa trên luật pháp quốc tế”. Nhật Bản đã chiếm giữ một số hòn đảo của quần đảo này. Đồng thời, Đài Loan cũng cho rằng quần đảo này là một phần lãnh thổ lịch sử của mình.

Nói một cách hòa nhã, vấn đề lớn hơn là tất cả các bên không ưa gì nhau. Trung Quốc ghét Nhật Bản và ngược lại – một di sản của sự chiếm đóng tàn bạo Trung Quốc của Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, khi quân đội Nhật Bản được cho là đã sát hại ít nhất 10 triệu người Trung Quốc, tàn phá đất nước này. Hai nước cũng tranh giành nhau về tính thích đáng chính trị và kinh tế. Xét cho cùng, Trung Quốc và Nhật Bản có Tổng sản phẩm quốc nội lớn thứ hai và thứ ba thế giới, sau Mỹ.

Thêm vào thế tiến thoái lưỡng nan đó, Trung Quốc không công nhận rằng Đài Loan thậm chí có quyền tồn tại như một quốc gia độc lập – càng có ít hơn quyền đàm phán về các tranh chấp lãnh thổ. Trên thực tế, nhiều lúc Trung Quốc đã cho biết nước này sẽ hài lòng nếu Đài Loan giành được quyền sở hữu quần đảo tranh chấp vì Đài Loan dù sao vẫn là một phần của Trung Quốc.

Và rồi lại có mối quan hệ của Nhật Bản với Đài Loan – hầu như không tồn tại. Giống như phần lớn thế giới, Nhật Bản không duy trì quan hệ ngoại giao với Đài Loan – nhưng vì những lý do khác. Hầu hết các nước, gồm cả Mỹ, lo ngại họ sẽ chọc giận Trung Quốc bằng việc chính thức công nhận Đài Loan. Nhật Bản công nhận một cách không chính thức Đài Loan là Trung Hoa Dân quốc, chính phủ đã cai trị Trung Quốc trong thời Nhật Bản chiếm đóng và cho tới cuộc cách mạng Cộng sản năm 1949. Hiện nay, đó cũng là cách Đài Loan tự nhìn nhận mình. Nhiều người Đài Loan tin họ vẫn là những người cai trị chính đáng của cái ngày nay họ gọi là Trung Quốc Đại lục, và họ ra những tuyên bố chủ quyền tương tự đối với Biển Đông và biển Hoa Đông như đại lục. Như Đại sứ Bruce J. D. Linghu, một vụ trưởng thuộc Bộ Ngoại giao Đài Loan, nói với tác giả: “Chúng tôi tuyên bố chủ quyền với tất cả các quần đảo ở Biển Hoa Nam (Biển Đông). Đó là một tuyên bố lịch sử đối với chúng tôi”.

Nguồn gốc của cuộc tranh luận này xảy ra vào năm 1946, ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Đó là khi phưong Tây thúc ép Trung Quốc làm rõ mọi tuyên bố chủ quyền trên biển trong khu vực. Do đó, Trung Hoa Dân quốc, chính phủ đại lục ở thời điểm đó, đã ban hành một bản đồ chính thức thể hiện tuyên bố chủ quyền của mình đối với gần như tất cả Biển Đông. Nó được biết đến là bản đồ “11 đoạn” vì ai đó phác thảo nó đã vẽ ra một đường gồm các đoạn gạch dọc theo các bờ biển của vùng biển này, kéo sâu xuống Indonesia và quay trở lại.

Không nhiều người chú ý tới nó khi ấy. Theo lời Linghu: “Không ai phản đối nó vào thời điểm đó”.

Có lẽ đó là vì 3 năm sau, sau một cuộc nội chiến dài, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đánh bại Quốc dân đảng theo chủ nghĩa dân tộc vốn đã điều hành Trung Hoa Dân Quốc và giành quyền kiểm soát toàn bộ đất nước. Chính phủ cũ chạy ra Đài Loan, giữ tên Trung Hoa Dân Quốc, và vẫn tuyên bố là chính phủ hợp pháp của đại lục.

về phần Biển Đông, nguyên trạng từ lâu vẫn không đổi cho tới năm 2009. Nhưng rồi đến lúc: khi các nước trên thế giới chuyển cho Liên hợp quốc tài liệu về các tuyên bố chủ quyền của họ đối với bất kỳ vùng lãnh hải nào, như là một phần của công ước Luật biển. Trong một sự trớ trêu không được thừa nhận của lịch sử , Chính phủ Trung Quốc đã chính thức đệ trình bản đồ năm 1946 – tấm bản đồ của kẻ thù trước đây của họ, nay đang ở Đài Loan, đã vẽ ra – và khẳng định rằng gần toàn bộ biển này và các vùng lãnh hải liền kề là “một phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc”.

Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra vấn đề này kể từ thời những người Quốc dân đảng làm việc đó năm 1946. Và đó là những gì đã khởi đầu mâu thuẫn ở cả Biển Đông lẫn Biển Hoa Đông. Nó đã dẫn đến nhiều cuộc đụng độ trên biển mà, cho tới nay, chỉ còn thiếu nổ súng và giết chóc.

Cho tới nay, những hành vi thù địch bạo lực nhất là các cuộc chiến bằng vòi rồng giữa các tàu Bảo vệ bờ biển Nhật Bản và Đài Loan trước các tàu hải giám Trung Quốc – gần đây nhất vào giữa tháng 9/2013. Không ai bị thương nghiêm trọng, nhưng một số người trong Chính quyền Đài Loan nói với tác giả rằng họ hy vọng triển khai cái họ gọi là các vòi rồng “mạnh hơn”.

Trung Quốc thường xuyên cử các tàu hải tuần đi qua quần đảo này – gần như hàng ngày. Nước này cũng tận dụng hàng loạt tàu đánh cá của mình, hàng nghìn trong số đó, như một đội tàu tiên phong. Các đội tàu nhỏ gồm các tàu này đi vào những khu vực tranh chấp để xem liệu họ có gặp phải thách thức. Và hơn một lần trong năm 2013, các tàu Trung Quốc đã “phát hiện” tàu hải quân Nhật Bản với radar kiểm soát hỏa lực vũ khí – một mối đe dọa thực sự. Cho tới nay, Trung Quốc chưa khai hỏa bất kỳ vũ khí thực sự nào, nhưng tình hình vẫn tiếp tục căng thẳng.

Tại hội nghị Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương ở Bali, Indonesia vào giữa tháng 10/2013, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình được cho là đã tích cực “làm mất mặt” Thủ tướng Abe của Nhật Bản. Như chuyên gia Chris Nelson thuộc Báo cáo Nelson của tổ chức tư vấn Samuels International viết: “Đương nhiên, đối với Trung Quốc mọi thứ phải được điều hành thông qua bộ lọc giữ lợi thế chiến lược, khi Bắc Kinh tìm cách làm Tokyo lúng túng với hy vọng rằng Abe một lúc nào đó sẽ chịu làm ngơ vì thế việc Trung Quốc theo đuổi một cách hiếu chiến chống lại nguyên trạng của quần đảo Senkaku cuối cùng sẽ có kết quả”.

Trong khi đó, Lực lượng Không quân Mỹ đang bố trí nhiều hơn các máy bay chiến đấu, máy bay không người lái và máy bay ném bom tàng hình ở Thái Lan, Ấn Độ, Singapore và Australia. Theo quan điểm của Trung Quốc, điều dường như đi ngược lại giọng điệu của Washington: Mỹ sẽ không can dự vào các tranh chấp lãnh thổ khu vực. Tuy nhiên trên thực tế, Mỹ quản lý quần đảo đó, cùng với Okinawa, cho tới năm 1972, khi Mỹ trao trả chúng cho Nhật Bản. Tất cả cuộc tranh luận khi đó là về Okinawa. Hầu như không ai đề cập đến quần đảo DSS.

Cuộc tranh chấp hiện tại khiến khu vực gần như thường xuyên trong tình trạng lo ngại, không bao giờ chắc chắn khi nào những đòn nghi binh đe dọa này sẽ phát triển thành một cuộc chiến thực sự – phần lớn vì, theo Tổng thống Mã Anh Cửu của Đài Loan, Trung Quốc “không muốn ngồi vào bàn đàm phán với Nhật Bản và Đài Loan”.

Trong khi đó, nhiều người trong khu vực cảnh báo rằng một sai lầm hoặc rủi ro có thể dẫn tới chiến tranh. Theo Richard c. Bush, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Đông Á của Viện Brookings, trong một bài phát biểu tại hội nghị Đài Bắc: “Những xung đột nhỏ có thể dễ dàng biến thành các cuộc đụng độ lớn. Có nguy cơ các đụng độ có thể dễ dàng trở nên tồi tệ hơn, và mọi người đều phải hứng chịu hậu quả”. Và Valerie Niquet, một nhà phân tích Trung Quốc thuộc Ọuỹ Nghiên cứu Chiến lược có trụ sở ở Paris, đã nói với tạp chí Chiristian Science Monitor rằng một cuộc va chạm hải quân, hoặc ngay cả một vụ chìm tàu ngẫu nhiên “có thể bắt đầu một điều gì đó khó chấm dứt”, vẫn số tạp chí này đã đăng một tấm hình cho thấy các tàu Bảo vệ Bờ biển Nhật Bản và Trung Quốc đi cách nhau chỉ vài mét.

Như một dấu hiệu nữa cho thấy Trung Quốc nghiêm túc về việc mở rộng lãnh hải của mình, những bản đồ mà Chính phủ Trung Quốc in trên các hộ chiếu của nước này hiện nay bao gồm Biển Đông và Biển Hoa Đông. Vì điều này, riêng Việt Nam không còn chấp nhận những tấm hộ chiếu đó. Các cơ quan biên giới của nước này từ chối đóng dấu lên chúng và thay vào đó đóng dấu lên một tờ giấy rời.

Nhật Bản không đơn thuần ngồi yên và theo dõi. Nước này đang thực sự tăng cường quân đội của mình, ngay cả dù Hiến pháp Nhật Bản được soạn thảo sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai từ bỏ chiến tranh và tình trạng sẵn sàng chiến đấu của quân đội. Nhưng Thủ tướng Abe dường như tin rằng thời đại đã thay đổi, và Nhật Bản không còn có thể tồn tại như một quốc gia yêu chuộng hòa bình. Do đó, ông đã bắt đầu gia tăng nhẹ ngân sách quân đội nhưng nói rằng Hiến pháp cần những sửa đổi lớn. ông lên kế hoạch mở một chiến dịch cho việc đó. Ông cũng muốn chế tạo hoặc mua máy bay do thám không người lái, tên lửa chống tên lửa đạn đạo và các vũ khí khác. Và ông cho biết ông dự định tổ chức một lực lượng lính thủy đánh bộ có thể thực hiện các cuộc phản công trên những đảo xa xôi, gồm cả quần đảo tranh chấp ở Biển Hoa Đông. Trong một sách trắng chính phủ vào mùa Hè năm 2013, Nhật Bản đã cáo buộc Trung Quốc liên tục xâm nhập vào lãnh hải và không phận của Nhật Bản, sử dụng “các chiến thuật cậy quyền không phù hợp với luật pháp quốc tế”. Sách trắng này bổ sung răng Trung Quôc phạm tội thực hiện “các hành động nguy hiêm có thể dẫn đến những hậu quả không lường trước”.

Năm 2012, Chính phủ Nhật Bản trên thực tế đã mua một số đảo của quần đảo DSS từ các chủ sở hữu tư nhân như một sự bảo đảm hơn nữa chủ quyền, làm Trung Quổc tức giận. Theo hãng thông tấn nhà nước Tân Hoa xã của Trung Quốc, ngay lập tức, Bắc Kinh cử một vài tàu khu trục hải quân đến vùng biển xung quanh quần đảo, và phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc đã công khai thúc giục chỉ huy các tàu “sẵn sàng cho bất kỳ cuộc tấn công quân sự có thể xảy ra nào”.

Hiện nay, các tàu Bảo vệ Bờ biển Trung Quốc vẫn tuần tra các vùng biển xung quanh quần đảo này gần như mọi lúc. Và vào mùa Hè năm 2012, Nhật Bản đã bắt giữ hơn 10 nhà hoạt động Trung Quốc đặt chân lên một trong những hòn đảo của quần đảo DSS, nơi họ tuần hành xung quanh và cắm cờ Trung Quốc.

Dấu hiệu nhỏ bé duy nhất của sự nối lại quan hệ tốt đẹp rõ ràng trong những tháng gần đây là một thỏa thuận đánh bắt cá giữa Đài Loan và Nhật Bản, được ký kết vào tháng 4/2013. Các tàu đánh cá của hai bên đã đi vào các khu vực mà cả hai đều tuyên bố chủ quyền. Do đó trong năm 2013, họ đã đàm phán một thỏa thuận cho phép cả hai bên sử dụng các vùng lãnh hải – cho hoạt động đánh bắt cá.

Chuyên gia Dennis Hickey thuộc Đại học Bang Missouri cho biết: “Nhật Bản đã có sự nhượng bộ lần đầu tiên với thỏa thuận đánh bắt cá đó”. Theo Stephen S. F. Chen, một quan chức an ninh quốc gia Đài Loan, việc đó đặc biệt có ý nghĩa cho Đài Loan vì họ “cần Nhật Bản hơn là Nhật Bản cần Đài Loan”. Nhưng ngay cả với dấu hiệu ngoại giao này, hai bên đã phải đàm phán thỏa thuận đánh bắt cá đó thông qua các tổ chức phi chính phủ đại diện vì họ không có quan hệ ngoại giao chính thức.

Tổng thống Mã Anh Cửu của Đài Loan đã bước vào cuộc tranh luận lớn hơn với hy vọng giải quyết tranh chấp Biển Hoa Đông có vẻ nan giải này. Năm 2012, ông đã đề xuất cái ông gọi là Sáng kiến Hòa bình Biển Hoa Đông, một nỗ lực nhằm trì hoãn cuộc tranh luận về chủ quyền. Theo ông, “Trung Hoa Dân Quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Nhật Bản đều có các tuyên bố chủ quyền quan trọng về” DSS. “Người dân sẽ không bao giờ nhượng bộ về chủ quyền. Rất khó để giải quyết những vấn đề này”.

Mã Anh Cửu nói thêm: “Ngay dù chúng tôi đệ trình điều này đế phân xử tại Tòa án Hình sự Quốc tế, một số người sẽ không hài lòng với kết quả. Tôi nhắc lại, chủ quyền không thể bị phân chia, nhưng tài nguyên thiên nhiên thì có thể”.

Giờ đây, sau một năm, ông và các phụ tá của mình chỉ ra rằng kế hoạch đó đã được đón nhận rât tích cực. Theo Linghu, quan chức Bộ Ngoại giao Đài Loan: “Chúng tôi đã nhận được sự ủng hộ cấp cao từ một số thành viên của Nghị viện, các học giả và những người định hướng dư luận” ở Mỹ và khắp thế giới. Tổng thống Mã Anh Cửu bổ sung rằng “chúng tôi đã thấy truyền thông đưa tin rất nhiều trên khắp thế giới”, trong khi Ngoại trưởng David Y. L. Lin chỉ ra rằng thỏa thuận đề xuất “đang được thảo luận rộng rãi; đã có 2.000 bài viết trên báo chí quốc tế”.

Theo đánh giá chung, ý tưởng của Mã Anh Cửu là một ý tưởng tốt, tiến bộ. Nó đề cao Đài Loan, một hòn đảo nhỏ bị gạt ra lề về ngoại giao. Nhưng nó dường như không có ngay cả một cơ hội có hiệu lực, cả vì nguyên nhân lịch sử lẫn hiện tại.

Kể từ cuộc cách mạng năm 1949 của Trung Quốc, Trung Quốc đại lục đã tiếp tục khẳng định rằng Đài Loan thực chất là một tỉnh của nước này, bất chấp những tuyên bố chủ quyền từ lâu của Đài Loan. Những đe dọa xâm lược đã giảm bớt vì Mã Anh Cửu đã sắp xếp một cách chiến lược quan hệ gần gũi hơn với đại lục. Hơn 80 chuyến bay mỗi ngày hiện đưa du khách và doanh nhân qua lại giữa Đài Loan và Trung Quốc. Hàng nghìn sinh viên Trung Quôc học tại các trường đại học Đài Loan. Và phần lớn ngành công nghiệp che tạo của chính Đài Loan được đặt ở Trung Quốc, nơi chi phí lao động thấp hơn. Tuy nhiên, gần như ngay lập tức sau khi lên nắm quyền, nhà lãnh đạo mới của Trung Quôc, Tập Cận Bình, đã nhân mạnh rằng ông sẽ không bao giờ mặc cả “những lợi ích cốt lõi” của đất nước mình – kê cả việc nước này tiếp tục tuyên bố Đài Loan là một phần của Trung Quốc. Do đó, tại sao Trung Quốc lại ngồi xuống và đàm phán với Đài Loan về các quyền về dầu lửa và khoáng chất ở Biển Hoa Đông? Theo cách nhìn của Trung Quốc, điều đó sẽ giống như việc Mỹ đàm phán các quyền trên biển với Hawaii.

Với tất cả sự rắc rối này – một khối rubic những tuyên bố và phản tố mâu thuẫn nhau, các chiến lược ngắn hạn và lợi ích dài hạn, viễn cảnh giành được quyền lực và nguy cơ bị mất mặt – liệu 3 bên sẽ sớm thực sự ngồi lại với nhau và đàm phán các quyền chung về tất cả những nguồn tài nguyên phong phú đó trên Biển Hoa Đông? Không có cơ hội nào./.

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: