BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2451. TRUNG QUỐC KHÔNG CÓ CHỦ QUYỀN HỢP LỆ Ở BIỂN ĐÔNG?

Posted by adminbasam trên 13/03/2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Hai, ngày 10/03/2014

Mới đây, mục “Bình luận” của Viện Nghiên cứu Quốc tế Rajaratnam (RSIS) đã đăng tải bài viết của các tác giả Robert Beckman – Giám đốc Trung tâm Luật Quốc tế thuộc Đại học Quốc gia Singapore, và Giáo sư Clive Schofield thuộc trường Đại học Wollongong (Australia), đưa ra một đề xuất gây tranh cãi về cách thức để Trung Quốc có thể “đưa các tuyên bố chủ quyền lãnh hải phù hợp với luật pháp quốc tế trong khi vẫn bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình ở Biển Đông”. Tuy nhiên, đề xuất này đã bị ông Raul Pedrozo, Giáo sư Khoa Luật Quốc tế, Đại học Hải quân Mỹ, lên tiếng phản bác.

Theo ông Pedrozo, Trung Quốc không có tuyên bố chủ quyền hợp lệ đối với các quần đảo ở Biển Đông. Do vậy, ý tưởng cho rằng Bắc Kinh nên được phép đưa ra một tuyên bố về vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) từ những đảo này là phản động và sẽ đưa Trung Quốc tiến một bước gần hơn đến mục tiêu kiểm soát tạm thời Biển Đông. Ông Pedrozo khẳng định một đề xuất như thế sẽ không đóng góp cho hòa bình và ổn định trong khu vực. Nhượng bộ Trung Quốc theo thái độ như vậy không chỉ là phản động, mà còn cho phép Bắc Kinh thúc đẩy hơn nữa chiến lược cắt lát mỏng ở Biển Đông, gây hại cho các nước có tuyên bố chủ quyền khác.

Ông Pedrozo cho rằng có 6 lý do để giải thích tại sao đề xuất nói trên không hữu ích. Trước tiên, nó giả định Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền hợp pháp với các đảo ở Biển Đông. Ngoại trừ Trung Sa, Trung Quốc không có tuyên bố chủ quyền hợp lệ đối với bất kì đảo nào trên Biển Đông. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều là lãnh thổ của Pháp cho đến khi Nhật Bản xâm chiếm các đảo này trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Khi chiến tranh kết thúc, Nhật Bản từ bỏ quyền của mình đối với các quần đảo này và chúng trở lại với Pháp. Nam Việt Nam đã có chủ quyền đối với các quần đảo này bằng quyền nhượng lại sau Chiến tranh Pháp-Đông Dương. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, CHXHCN Việt Nam thừa hưởng chủ quyền của Nam Việt Nam đối với hai quần đảo này.

Thứ hai, đề xuất nói trên tán đồng hành động chiếm đóng trái phép của Bắc Kinh đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cuối Chiến tranh Thế giới thứ Hai, quân đội Trung Quốc đã được cử tới đến đảo Itu Aba (Việt Nam gọi là Ba Bình, Philippines gọi là Ligaw, Trung Quốc và Đài Loan gọi là Thái Bình) và đảo Woody (Việt Nam gọi là Phú Lâm, Trung Quốc gọi là Vĩnh Hưng) để giải giáp vũ khí và tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật Bản. Tuy nhiên, Quân lệnh số 1 không chuyển chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Căn cứ vào một trao đổi công hàm, Trung Quốc đã đồng ý rằng quân đội Pháp sẽ thay thế quân Trung Quốc đồn trú ở phía Bắc Đông Dương 16 độ vĩ bắc (bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) từ ngày 31/3/1946.

Thực tế, việc lực lượng Trung Quốc vẫn đồn trú bất hợp pháp tại các đảo Itu Aba và Woody sau khi lực lượng Đồng minh chấm dứt chiếm đóng Đông Dương vào năm 1946 là sự vi phạm rõ ràng Điều 2 (4) Hiến chương Liên hợp quốc, và vì thế, không trao cho Trung Quốc chủ quyền rõ ràng đối với hai quần đảo này. Các hành động xâm lược tiếp theo của Trung Quốc vào năm 1974 (quần đảo Hoàng Sa), năm 1988 (quần đảo Trường Sa), năm 1995 (bãi Mischief – Bãi Vành Khăn), và năm 2012 (bãi cạn Scarborough) do đó cũng vi phạm điều khoản cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của Hiến chương Liên hợp quốc.

Thứ ba, đề xuất cho rằng Trung Quốc nên được phép tuyên bố EEZ từ 12 đảo lớn nhất ở Trường Sa là bởi “tất cả đều có thực vật và tại một số đảo, đường sá và công trình đã được xây dựng”. Từ đó, các tác giả cho rằng Trung Quốc có thể tranh luận có “cơ sở rằng đây là các ‘đảo’ để tuyên bố EEZ chiếu theo Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS)”. Trên thực tế, một đảo nhỏ có thực vật hay một bên tuyên bố chủ quyền cải tiến nó, không phải là cách thức xác định hiện trạng vùng đất theo UNCLOS. Chỉ vùng đất nào có thể “duy trì sự sống của con người hay đời sống kinh tế của họ” mới có quyền yêu cầu đưa ra tuyên bố EEZ.

Các tác giả dường như đề xuất rằng các nước nên được cho phép biến những gì nếu không phải là “tảng đá” hay “cấu trúc nhô cao hơn mức thủy triều dâng” thành “đảo” để tối đa hóa những tuyên bố lãnh hải của họ. Một đề xuất như vậy không chỉ mâu thuẫn với UNCLOS, mà còn dẫn đến việc bắt chước làm gia tăng số lượng lớn các “đảo” rải rác trên Biển Đông. Điều này chỉ có thể làm gia tăng căng thẳng và tiếp tục gây bất ổn cho tranh chấp hiện tại.

Thứ tư, đề xuất cho phép Trung Quốc sử dụng một “đường cách đều đầy đủ hiệu lực” từ các đảo lớn nhất đến vùng duyên hải xung quanh của nước ven Biển Đông. Tuy nhiên, ngay cả các tác giả cũng thừa nhận rằng một đường cách đều đầy đủ hiệu lực là “không công bằng và không phù hợp với hiệu ứng giảm bớt thường được tòa án quốc tế áp dụng cho các đảo nhỏ ngoài khơi”. Trên thực tế, lý do căn bản cấp bách nhất cho việc tạo ra EEZ không phải để phóng đại mục đích chính trị của các quốc gia ven biển, mà là để bảo vệ ngư dân.

Thứ năm, đề xuất giả định Trung Quốc sẵn sàng chia sẻ các nguồn tài nguyên ở Biển Đông. Tuy nhiên, quy định đánh cá mới của Trung Quốc, yêu cầu tàu nước ngoài phải có sự chấp thuận trước của Trung Quốc để hoạt động trong vùng biển trong “đường 9 đoạn” đang chứng tỏ giả định đó sai. Hơn nữa, hồ sơ của Trung Quốc khi đề cập đến các dự án phát triển chung là yếu kém. Năm 2008, Trung Quốc và Nhật Bản đã đồng ý để cùng nhau phát triển các mỏ khí đốt ở Biển Hoa Đông. Thỏa thuận này được cho là một mô hình hợp tác. Song đến nay, chưa hề có sự phát triển chung nào diễn ra, và có bằng chứng cho thấy Trung Quốc đang khai thác nguồn tài nguyên về phía đường trung tuyến của mình. Khi đề cập đến phát triển chung, Trung Quốc hành động theo nguyên tắc “những gì của tôi là của tôi, những gì của bạn cũng là của tôi, nhưng tôi sẵn sàng chia sẻ phần của bạn”.

Cuối cùng, các tác giả tin rằng Trung Quốc sẽ tuân thủ nghĩa vụ của mình theo UNCLOS để tránh hành động đơn phương tại các khu vực chồng lấn có hại cho một thỏa thuận phân định cuối cùng. Việc Trung Quốc không tuân thủ các cam kết của mình theo Tuyên bố ASEAN về cách ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) là một minh chứng. Bất chấp việc đã ký DOC, Bắc Kinh đã có một loạt hành động kể từ năm 2002 mà rõ ràng mâu thuẫn với cam kết tự kiềm chế trong việc đưa ra các hoạt động làm phức tạp hoặc leo thang tranh chấp ở Biển Đông.

Những ví dụ gần đây cho thấy hành động không thay đổi của Trung Quốc như: sự cố tàu Viking II, sự cố bãi Reed (bãi cỏ Rong), sự cố cắt cáp tàu Bình Minh 2, việc thành lập thành phố Tam Sa, sự cố bãi cạn Scarborough, áp đặt các quy định an ninh hàng hải và quy định đánh cá mới của của tỉnh Hải Nam, và hải quân tuần tra bãi James.

Được thực hiện nhằm thay đổi hiện trạng thông qua các hành động đe dọa bất hợp pháp, mỗi hành vi này sẽ đưa Trung Quốc tiến gần hơn một bước tới mục tiêu kiểm soát thực tế Biển Đông. Niềm tin rằng Trung Quốc sẵn sàng cùng tồn tại trên cơ sở bình đẳng với các nước láng giềng là huyễn tưởng. ASEAN có thể chùn bước và cho phép Trung Quốc từng bước củng cố tuyên bố chủ quyền lãnh hải của mình ở Biển Đông thông qua ép buộc, hoặc ASEAN cũng có thể, cùng với các nước chung quan điểm, đứng lên chống lại chiến lược bên miệng hố chiến tranh của Trung Quốc trước khi quá muộn./.

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: