BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2415. TRUNG QUỐC TÁI TỔ CHỨC CHO TƯƠNG LAI

Posted by adminbasam trên 05/03/2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Chủ Nhật, ngày 02/03/2014

(tạp chí foreign affairs, 16/12/2013)

Tại sao Trung Quốc phải định hình lại nhà nước?

Vào đầu tháng 11, khi Bắc Kinh đang chuẩn bị cho Hội nghị Lần thứ 3 Đảng Cộng sản Trung Quốc (Hội nghị Trung ương 3 Đảng Cộng sản Trung Quốc), một hội nghị cấp cao mà sẽ quyết định các chính sách quan trọng cho thập kỷ tới, Chủ tịch Tập Cận Bình dường như đã chủ tâm gia tăng những kỳ vọng về các cải cách kinh tế lớn. Ông đã đề cập đến một kế hoạch cải cách “toàn diện” và đã viện dẫn trường hợp Đặng Tiểu Bình, nhân vật đã làm thay đổi lịch sử bằng cách cải tổ nền kinh tế và chính trị của Trung Quốc tại một Hội nghị Lần thứ 3 trước đó vào năm 1978.

Tuy nhiên, ngay sau khi Hội nghị khép lại và Đảng cộng sản Trung Quốc ra thông cáo ban đầu của mình, các nhà quan sát cho rằng hội nghị này đã bị phá sản. Các thị trường sụt giá. Chỉ số chứng khoán Hang Seng của Hong Kong giảm 1,9%, xuống mức thấp nhất trong 10 tuần. Chỉ số chứng khoán Thượng Hải cũng giảm 1,8%. Nhiều nhà bình luận cho rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc, vốn phải đối mặt với thử thách lớn đầu tiên của họ, đã cảm thấy không hứng thú – hoặc là khác quá rụt rè – trong việc thực hiện những cải cách kinh tế sâu rộng mà ông Tập Cận Bình đã hứa hẹn.

Nhưng sau đó, dư luận đã đột ngột thay đổi khi Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra một văn kiện gồm 60 điểm, trong đó trình bày một chương trình nghị sự cải cách kinh tế sâu rộng gồm những cam kết mới về tự do hóa tài chính, điều chỉnh mạng lưới an sinh xã hội của Trung Quốc, đưa ra các tiêu chí bảo hộ mới về quyền sở hữu tài sản, và sự phụ thuộc hơn nữa vào các lực lượng thị trường. Khắp châu Á, điểm số các thị trường đã quay đầu tăng mạnh trở lại.

Có một số yếu tố giải thích cho sự thay đổi nhanh chóng từ bi quan sang hồ hởi này, đặc biệt trong số đó là sự pha trộn mong manh giữa những kỳ vọng khá cao đối với Trung Quốc với tư cách là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và sự hoài nghi sâu sắc về những ý định và ý chí chính trị của giới lãnh đạo Trung Quốc nhằm vượt qua các nhóm lợi ích vốn chống lại cải cách. Nhiều người mong muốn Bắc Kinh thay đổi mô hình tăng trưởng  dựa vào đầu tư sang một mô hình dựa trên tiêu dùng và sự đổi mới. Và do đó nhiều người sẽ tiếp tục chứng kiến những gì mà họ muốn thấy trong chương trình nghị sự cải cách của Hội nghị Trung ương 3 – cả những hứa hẹn lẫn những thiếu sót của nó.

Nhưng việc đánh giá cam kết cải cách của Hội nghị Trung ương 3 trước thực trạng của nền kinh tế chính trị Trung Quốc và những mục tiêu của Chính phủ Trung Quốc là điều cực kỳ quan trọng. Và trong vấn đề đó, Hội nghị Trung ương 3 đã làm hồi sinh một tiến trình cải cách, mà sẽ kịp thời làm cho nền kinh tế Trung Quốc trở nên bền bỉ, năng động và bền vững hơn.

Đối vi thị trường

Một tháng đã trôi qua, và việc phản ánh nhiều hơn Hội nghị Trung ương 3 về những gì mà nó đã làm được cũng như những gì nó không thể đạt được là điều hoàn toàn có thể.

Sự đóng góp mang tính khái niệm khá quan trọng của hội nghị lần này là việc thay thế từ “cơ bản” bằng từ “mang tính quyết định” trong văn kiện gồm 60 điểm mang tựa đề “Quyết định về các vấn đề quan trọng liên quan đến cải cách sâu sắc toàn diện” để mô tả vai trò của thị trường trong việc phân bố các nguồn lực. Với sự thay đổi đó, hiện nay rõ ràng là Chính phủ Trung Quốc đang cam kết theo đuổi và thực hiện các cải cách trên cơ sở thị trường, như những gì đã được dự đoán trong tạp chí “Foreign Affairs” số Xuân năm 2013. Theo quan điểm của Bắc Kinh, đây là bước đột phá mang tính trí tuệ bởi vì điều đó có nghĩa là các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẵn sàng cho phép thị trường có một vai trò lớn hơn trong những bộ phận của nền kinh tế mà cho tới nay đã so là được dành riêng cho nhà nước. Một ví dụ là việc phân bổ vốn, lâu nay được tập trung ở các ngân hàng được nhà nước ủng hộ hay những thực thể khác thuộc các kênh cho vay không chính thức. Hội nghị Trung ương 3 đã cam kết thúc đẩy vai trò chính thức của nguồn vốn tư nhân.

Nhưng dù cho bước đột phá này là đáng kể, sẽ là sai lầm nếu nghĩ rằng nó sẽ đưa đến kết luận sau: để làm cho thị trường trở nên mang tính quyết định, nhà nước cũng phải rút lui. Đó là lý do tại sao câu hỏi về vai trò nhà nước sẽ xác định phần lớn thách thức cải cách ở phía trước. Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã tuyên chiến với “các nhóm lợi ích” đầy thế lực vốn đang phản đối cải cách thị trường. Nhưng nhóm lợi ích lớn nhất trong nền kinh tế Trung Quốc trên thực tế lại chính là nhà nước.

Vì vậy, Bắc Kinh phải thay đổi mối quan hệ của nhà nước không chỉ đối với nền kinh tế mà còn đối với xã hội và các cá nhân công dân Trung Quốc. Nói một cách ngắn gọn, nhà nước phải quá độ từ một nhà nước “quản trị” sang một nhà nước “điều tiết” – nói cách khác, nhà nước phải trở thành một trọng tài phân xử các lợi ích xung đột nhau hơn là một bên tham gia tích cực trong một nền kinh tế tự mình làm trọng tài.

Không việc nào trong số các vấn đề nói trên sẽ được thực hiện dễ dàng. Thậm chí sau 35 năm cải cách kinh tế, vẫn còn những người không thực tế. Theo bản năng, họ vẫn không tin tưởng các lực lượng thị trường và vẫn muốn chính phủ thao túng và kiểm soát thị trường. Kết quả Hội nghị Trung ương 3 đề xuất rằng nhà nước phải từ bỏ những vai trò như vậy nếu đa số các cải cách được thực hiện mang lại hiệu quả.

Xét vấn đề giá cả – đây là tín hiệu quan trọng của thị trường cho thấy mối quan hệ giữa cung và cầu. Ở Trung Quốc, 3 loại giá cả quan trọng nhất được nhà nước kiểm soát hoặc là đối tượng của những hành động can thiệp thường xuyên của bộ máy quan liêu của Trung Quốc là tỷ giá hối đoái (giá của đồng nhân dân tệ so với các đồng tiền khác), lãi suất (nói theo thuật ngữ đơn giản nhất là giá của tiền); và giá năng lượng và nguồn tài nguyên (giá cả đầu vào).

Nhằm giảm trợ cấp tốn kém đối với các ngành xuất khẩu và khuyến khích tiêu dùng nội địa, đồng tiền của Trung Quốc đã được định giá cao trước khi diễn ra Hội nghị Trung ương 3, và sau đó tỷ giá hối đoái dường như là do thị trường quyết định. Hai loại giá cả khác – lãi suất và giá năng lượng – dường như cũng dự kiến sẽ được tự do hóa hơn nữa.

Thứ nhất, Trung Quốc đã tự do hóa lãi suất cho vay, nhưng có thể cuối cùng cùng tự do hóa cả lãi suất tiền gửi. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã vạch ra nhiều bước đi khác nhau, bao gồm cả việc thử nghiệm những chính sách trên cơ sở thực nghiệm ở Khu vực tự do thương mại Thượng Hải mới được thiết lập; thực hiện bảo hiểm tiền gửi, mà có thể khiến lãi suất phải dựa trên cơ sở thị trường trong một vài năm tới.

Thứ hai, trong thập kỷ qua, Trung Quốc đã tự do hóa một cách bừa bãi giá cả một số mặt hàng đầu vào. Trong nhiều trường hợp, điều đó đã tạo ra các mức giá cả phức tạp và bị bóp méo. Chăng hạn, mặc dù Trung Quốc nhập khẩu dầu thô với giá thị trường toàn cầu, nhưng mức giá tại các điểm bán xăng dầu lại được chính quyền trung ương kiểm soát để bảo vệ người tiêu dùng trước lạm phát. Chính sách này đã dẫn đến tình trạng thường xuyên tích trữ xăng dầu trước khi có các đợt tăng giá theo dự kiến cũng như trước việc ngành dầu khí phàn nàn là bị thua lỗ trong các hạng mục đầu tư về thăm dò và khai thác. Trong Hội nghị Trung ương 3 gần đây, Trung Quốc cam kết sẽ tự do hóa giá hàng hóa và những nguồn tài nguyên khan hiếm mà trước đây được trợ cấp, bao gồm dầu lửa, khí đốt tự nhiên, và có lẽ thậm chí cả nước.

Việc bắt buộc những loại giá cả này tuân thủ nguyên tắc thị trường sẽ khuyến khích cạnh tranh hơn nữa, cho phép các ngân hàng hoạt động giống các công ty kinh doanh thương mại hơn, và khuyến khích các nhà sản xuất vốn càng nhiều năng lượng hoạt động hiệu quả hơn và đầu tư dựa trên cảm nhận đúng đắn hơn về phí tổn. Việc định giá trên cơ sở thị trường sẽ là một công cụ mạnh mẽ cho chính phủ và các công ty nhằm phân bổ hợp lý và hiệu quả các nguồn lực và quản lý vấn đề tiêu thụ tài nguyên. Tuy nhiên, để làm vậy, nhà nước Trung Quốc cũng phải sẵn sàng từ bỏ những thẩm quyền đã tồn tại từ lâu, giảm bớt sự kiêm soát giá cả, và có thể chấp nhận mức lạm phát cao hơn.

Khế ước  xã hội

Hàng triệu người Trung Quốc đã từng tin tưởng vào một khế ước xã hội rõ ràng với Bắc Kinh. Trong phần lớn lịch sử đương đại của mình, nhà nước Trung Quốc đã thực sự đảm bảo mọi lĩnh vực bao gồm việc làm, an sinh xã hội, an sinh hưu trí, thường được ủy thác thông qua các doanh nghiệp sở hữu nhà nước (SOE) và các đơn vị công tác khác. Điều đó đã thay đổi vào những năm 1990 khi các SOE đối mặt với thời khắc “cải cách hay là chết”, bị buộc phải thay đổi đáng kể các chức năng của mình. Họ đã trở nên mang tính thương mại hơn, và trong quá trình đó, họ đã vứt bỏ nhiều nghĩa vụ liên quan đến phúc lợi xã hội.

Nhưng kể từ đó, Bắc Kinh phần lớn đã thất bại trong việc thay thế hệ thống cũ bằng một hệ thống mới có chất lượng và quy mô tương tự. Các chính quyền địa phương, bị lôi cuốn bởi sự tăng trưởng dựa vào đầu tư, đã chi tiêu một cách tùy tiện vào cơ sở hạ tầng, nhà ở và các tài sản cố định khác thay vì dành cho các dịch vụ phúc lợi xã hội và hưu trí. Trong một số trường hợp, các chính trị gia địa phương đã chuyển các nguồn lực dành cho phúc lợi xã hội sang cho các hoạt động kinh doanh sinh lời như kinh doanh bất động sản. Một ủy viên Bộ Chính trị, Trần Lương Vũ, thậm chí đã bị truy tố vì tội “lấy cắp” khoảng 4,8 tỷ USD từ quỹ an sinh xã hội Thượng Hải để nhồi nhét đầy ví các công ty kinh doanh bất động sản.

Hội nghị Trung ương 3 đã nói rõ sự cần thiết phải điều chỉnh mạng lưới an sinh xã hội Trung Quốc, một phần thông qua các vụ chuyển giao tài chính mà sẽ cho phép chính quyền trung ương thúc đẩy chi tiêu công đối với y tế và lương hưu. Nó cũng khuyến khích khu vực tư nhân đóng một vai trò lớn hơn trong việc cung cấp các dịch vụ này, đặc biệt là khi xã hội đang già hóa của Trung Quốc đòi hỏi phải có nhiều dịch vụ phúc lợi xã hội hơn. Nói một cách mỉa mai, các SOE sẽ có thể bị buộc phải đảm đương trở lại từng phần vai trò trước đây của mình với tư cách là một nguồn cung cấp tài chính cho các dịch vụ xã hội. Những khoản cổ tức mà họ chi trả cho Bắc Kinh sẽ được tăng lên gấp 2 hay 3 lần đến 30% vào năm 2020, với các quỹ tăng thêm này sẽ được dành cho phúc lợi xã hội.

Nhưng để đáp ứng được các nhu cầu và những kỳ vọng ngày càng gia tăng của dân chúng, nhà nước không thể chỉ đơn giản sắp xếp lại các nguồn lực và xây dựng lại khế ước xã hội. Nhà nước cũng phải giải quyết những vấn đề về quyền sở hữu tài sản. Quyết định của Hội nghị trung ương 3 đã bắt đầu giải quyết những vấn đề này bằng việc cho người dân, đặc biệt là người dân ở nông thôn Trung Quốc, có nhiều quyền sở hữu tài sản hơn. Mặc dù trên danh nghĩa nhà nước “sở hữu” tất cả đất đai, người dân Trung Quốc sống ở các thành phố được cho phép mua và bán bất động sản, và họ có thị trường cho vay cầm cố giúp họ làm như vậy. Nhưng những người nông dân ở nông thôn gần như lại không có quyền bán, chuyển nhượng, hay khai thác mảnh đất cúa chính họ. Hội nghị Trung ương 3 cam kết, cho dù không có một thời gian biểu cụ thể, sẽ cho phép đất đai ở nông thôn được bán, thuê, hay cho thuê với “các quyền ngang bằng” và “giá ngang bằng” với đất đai do nhà nước sở hữu. Việc cho phép người nông dân sử dụng đất đai như vật thế chấp sẽ sớm diễn ra sau đó. Và đến lượt, điều đó sẽ khuyến khích người dân Trung Quốc ở vùng nông thôn chuyển đến sống ở các thành phố và tìm kiếm công ăn việc làm trong các lĩnh vực hữu ích hơn.

Một bước đi lôgích tiếp theo sẽ là giảm, và cuối cùng là loại bỏ, những kiểm soát đối với việc di chuyển chỗ ở – hệ thống được gọi là hộ khẩu vốn không cho phép hàng triệu người dân Trung Quốc có quyền tiếp cận công bằng đối với những phúc lợi xã hội nếu họ di cư “bất hợp pháp” đến các thành phố. Chính sách này, được thực hiện trong thời kỳ trước nhằm ngăn chặn dòng người khổng lồ đổ vào các thành phố, hiện không còn nhiều ý nghĩa nữa. Hiện nay, Trung Quốc là một nước có đa số dân sống ở khu vực thành thị và rất nhiều người nhập cư vốn có ý định vẫn sống ở các thành phố sẽ không rời đi đơn giản chỉ vì chính phủ không công nhận các quyền công bằng của họ. Hiện có lời nói bóng gió về sự thay đổi rằng chính sách hộ khẩu giờ đây có thể bị loại bỏ ở các khu vực hành chính và các thành phố nhỏ hơn – nhưng điều đó sẽ không thể thực hiện được một cách nhanh chóng và dễ dàng.

Trạng thái tồn tại

Cuối cùng, Trung Quốc sẽ cần phải sắp xếp lại những chức năng cơ bản của nhà nước liên quan đến thị trường, khế ước xã hội và người dân. Nhưng Bắc Kinh cũng phải tìm cách tổ chức lại chính nhà nước để nhà nước có khả năng quản trị hơn nữa và điều này sẽ cho phép thị trường hoạt động hiệu quả. Điều đó có nghĩa là nhà nước phải trở thành một trung gian giống như một trọng tài hơn là một bên tham gia thâm nhập khắp mọi lĩnh vực và tự điều tiết trong nền kinh tế.

Tự do hóa giá cả là một bước đi theo hướng đúng đắn bởi vì nó sẽ làm suy yếu bộ máy quan liêu hiện nay, vốn đang được phép sử dụng các biện pháp kiểm soát giá cả để can thiệp vào thị trường. Một bước đi khác sẽ là giải tỏa lối vào thị trường cho các công ty tư nhân, vốn thường phải đối mặt với những rào cản hành chính lớn từ các nhà chức trách địa phương Chính quyền trung ương đã thực hiện những bước đi khiêm tốn với các cải cách theo đó cắt giảm tệ quan liêu và sắp xếp hợp lý hóa việc phê chuẩn các dự án ở cấp địa phương. Trung Quốc không thiếu các quy tắc và điều lệ, nhưng cơ chế kiểm soát và cân bằng thì hầu như không có. Bắc Kinh có thể quay trở lại với những nền tảng cơ bản bằng cách củng cố các thể chế điều tiết và gia tăng năng lực thực thi.

Tuy nhiên, chắc chắn là nhiều người sẽ băn khoăn về việc nhà nước có thể được tổ chức lại ra sao nếu như các SOE vẫn quá áp đảo trong nền kinh tế. Quyết định của Hội nghị Trung ương 3 không hề đề cập đến việc sẽ cắt giảm quy mô hay tư nhân hóa các công ty sở hữu nhà nước quan trọng nhất, nhưng những kỳ vọng như vậy ngay từ đầu đã là không thực tế. Sự thực là việc tư nhân hóa quy mô lớn cho đến nay vẫn chưa được đề cập đến.

Mặc dù vậy, Bắc Kinh có thể giúp siết chặt kỷ luật đối với các SOE bằng cách đặt các SOE trước những cạnh tranh mạnh mẽ. Nếu những khu vực do các SOE chi phối được mở cửa cho các công ty tư nhân và công ty nước ngoài, các SOE sẽ trở thành những thực thể ít được bảo vệ hơn. Văn kiện Hội nghị Trung ương 3 đã ám chỉ đến điều này, nhưng việc thử nghiệm có thể diễn ra trong các cuộc đàm phán thương mại và đầu tư. Những đối thủ nước ngoài sẽ khăng khăng đòi Bắc Kinh phải mở cừa nhiều lĩnh vực hơn đế đảm bảo sự cạnh tranh công bằng, và việc này cuối cũng cũng sẽ có lợi cho các công ty Trung Quốc. Nếu các SOE không thể cạnh tranh và sống sót, thì nhà nước sẽ cần được chuẩn bị để cho một số công ty phá sản, như những gì Chính phủ Trung Quốc dường như đã chịu đựng vào những năm 1990.

Sự cạnh tranh là một thành phần không thể thiếu trong các thị trường vận hành tốt mà sẽ định hình cách hành xử của một công ty, dù là công hay tư. Statoil của Na Uy là một công ty thuộc sở hữu nhà nước nhưng lại có cách hành xử giống như bất cứ công ty tư nhân nào và đã chấp nhận những thông lệ tốt nhất của toàn cầu. Ngược lại, công ty viễn thông khổng lồ của Trung Quốc Huawei trên danh nghĩa là một công ty tư nhân nhưng lại vận hành như một quán quân được nhà nước hậu thuẫn, thường nhận được sự ủng hộ của nhà nước dưới nhiều hình thức khác nhau. Ngay cả không có sự tư nhân hóa, thì các SOE của Trung Quốc cũng có thể trở nên kỷ luật hơn nếu phải đối mặt với sự cạnh tranh lớn hơn ở trong và ngoài nước.

Việc không kém phần quan trọng là phải tái cơ cấu một nền kinh tế 9.000 tỷ USD, theo đó các cải cách tài chính, lao động và công nghiệp giờ đây phải có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Nếu các cải cách thành công Trung Quốc không chỉ cần mở rộng thị trường mà còn cần phải định hình lại nhà nước, cho dù thực tế vẫn tồn tại một khu vực nhà nước khổng lồ, Đây là một vấn đề mang tính chính trị hơn là một vấn đề kinh tế, và là một vấn đề không thể được giải quyết chỉ sau một đêm. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi Bắc Kinh cho phép mình khoảng thời gian từ nay cho đến năm 2020 – thời điểm nửa chừng trong nhiệm kỳ thứ 2 của Tập Cận Bình, khi ông được dự kiến sẽ cùng với 5 đồng nghiệp mới tham gia ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị gồm 7 thành viên – để thực hiện một số cải cách cứng rắn nhất. Điều đó mang lại cho ban lãnh đạo Trung Quốc và nền kinh tế nước này một không gian để xoay xở giữa lúc Trung Quốc đang cố gắng thực hiện một sự tái cân bằng lớn đến vậy.

Nhiều người đã đặt cược nhiều vào sự tăng trưởng của Trung Quốc trong thập kỷ qua, tin rằng Bắc Kinh sẽ tiếp tục chứng tỏ khả năng thích ứng đáng kinh ngạc. Chương trình nghị sự cải cách kinh tế tham vọng xuất hiện từ Hội nghị Trung ương 3 cho rằng bản năng của những người này là đúng. Thậm chí ngay cả khi làn sóng bi quan đang xuất hiện trong những năm gần đây, thì việc lại đặt cược nhiều vào những cải cách trong thập kỷ tới là điều đáng làm.

***

(Foreign Affairs 20/01/2014)

Tháng 11/2013, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã tổ chức Hội nghị TW 3 Khóa 18, một Hội nghị được nhiều mong đợi. Các Hội nghị TW 3, thường được tổ chức một năm sau Đại hội đảng, nhìn chung sẽ được sử dụng để ấn định chương trình nghị sự chính sách cho chính quyền mới. Hơn 30 năm trước, Đặng Tiểu Bình đã đưa ra những cải cách kinh tế mang tính đột phá tại Hội nghị TW 3 khóa 11 – một Hội nghị đã làm thay đổi quỹ đạo của Trung Quốc và, vì thế, của cả thế giới. Diễn ra chỉ một năm sau cuộc chuyển giao thế hệ lãnh đạo mới nhất tại Trung Quốc, Hội nghị tháng 11 vừa qua đã cung cấp một cái nhìn cụ thể nhất về việc làm thế nào mà nhà lãnh đạo hàng đầu của nước này, Tổng Bí thư Tập Cận Bình, sẽ chèo lái đất nước.

Hầu hết các phân tích đã tập trung vào chương trình nghị sự cải cách kinh tế sâu rộng tại hội nghị này. Dĩ nhiên, những điều chỉnh về kinh tế được công bố là sâu rộng hơn nhiều những gì mà mọi người trông đợi, và nếu được thực hiện, chúng có thể tạo nên một giai đoạn tăng trưởng kinh tế bền vững mới. Những cải cách này bao gồm cho phép tư nhân có quyền sở hữu cổ phần trong các công ty nhà nước, giảm bớt các rào cản pháp lý cho các doanh nghiệp thương mại, trao cho các cư dân ở nông thôn quyền kiểm soát lớn hơn đối với đất đai của họ, tự do hóa khu vực tài chính, và thêm nhiều nội dung khác nữa.

Tuy nhiên, ngay khi đã hoan nghênh các cải cách kinh tế này, thế giới vẫn chỉ trích ban lãnh đạo mới của Trung Quốc đã lảng tránh, không đưa những cải cách chính trị vốn được nhiều người kỳ vọng vào trong chương trình nghị sự của Hội nghị. Một số nhà bình luận đã chỉ ra, một cách chính xác, rằng lãnh đạo của đảng đã thực sự tăng cường được quyền lực của mình. Các phương tiện truyền thông như tờ The Wall Street Journal, CNN, và The Economist đã mô tả tiến triển này về cơ bản như là “sự rẽ phải về kinh tế và rẽ trái về chính trị của đảng”. Nhưng các quan điểm như vậy chưa hẳn đúng.

Hội nghị lần này đã khởi động những cải cách chính trị quan trọng, và trong một số trường hợp, là chưa từng có mà sẽ làm thay đổi căn bản cách thức cai trị của quốc gia lớn nhất thế giới này. Chúng bao gồm việc thiết kế lại mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương cũng như tái cơ cấu cơ chế kiểm tra kỷ luật trong đảng và hệ thống tư pháp của nhà nước. Hội nghị cũng đưa đến việc tái tổ chức một cách mạnh mẽ nhất các cấu trúc ban hành quyết định của đảng trong lịch sử nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Hành động tái cân bằng

Trong nhiều thế kỷ, một trong những vấn đề chính trị gây nhiều tranh cãi nhất của đế quốc Trung Hoa là sự cân bằng quyền lực giữa chính quyền trung ương và địa phương. Thành công hay thất bại của quản trị quốc gia phụ thuộc phần lớn vào việc mối quan hệ này được quản lý như thế nào. Một sự cân bằng lành mạnh bảo đảm mang lại thịnh vượng và ổn định trong thời gian dài. Ngược lại, nó đã dẫn đến các cuộc đảo chính và phản đảo chính, và đôi khi dẫn đến sự sụp đổ của các triều đại.

Trung Quốc đương đại cũng không là ngoại lệ. Trong lịch sử 64 năm của mình, quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương đã trải qua ít nhất ba giai đoạn. Đầu tiên, từ 1949 đến 1956, là giai đoạn tập trung hóa theo kiểu Liên Xô. Bị thúc đẩy bởi sự cần thiết phải củng cố quyền lực chính trị và khôi phục nền kinh tế bị tê liệt, ĐCSTQ đã nhập khẩu mô hình của Liên Xô và Bắc Kinh nắm quyền tối thượng.

Nhưng bắt đầu từ cuối những năm 1950, Mao Trạch Đông đã thực hiện chính sách phân quyền toàn diện. Tại thời điểm đó, các điều kiện kinh tế và xã hội khác nhau đáng kể giữa các vùng. Hơn nữa, sự thiếu vắng hoàn toàn quyền lực chính trị ở các cấp địa phương đã dẫn đến việc quản lý yếu kém của bộ máy quan liêu ở trung ương và tình trạng trì trệ chung. Mao cho rằng phân quyền sẽ giải phóng năng suất kinh tế và làm hồi sinh các hoạt động chính trị tại địa phương. Tiến trình này đã được tăng cường cho đến khi kết thúc Cách mạng Văn hóa vào cuối những năn 1970. Đến thời điểm đó, chính quyền các địa phương đã giành được quyền kiểm soát đáng kể đối với hoạt động thu thuế, các doanh nghiệp nhà nước, và thậm chí cấu trúc quản lý của quân đội. Những tàn dư của giai đoạn này đã tiếp tục tồn tại cho đến giai đoạn đầu của cuộc cải cách do Đặng Tiểu Bình tiến hành vào cuối những năm 1970. Trong suốt những năm 1980, chính phủ trung ương nhiều lần do quá thiếu tiền mặt đi phải yêu cầu sự hỗ trợ tài chính từ các địa phương.

Mãi cho đến đầu những năm 1990, ĐCSTQ mới bắt đầu cân bằng lại được quyền lực giữa trung ương và các địa phương. Cựu Thủ tướng Chi Dung Cơ là người đã chính thức hóa tiến trình này vào năm 1994 bằng cách chuyên quyền đánh thuế trở lại với Bắc Kinh, song khoảng thời gian gần ba thập kỷ phân quyền là không dễ gì đảo ngược. Tại thời điểm Hội nghị mới nhất này khai mạc, chỉ một nửa trong số 20 nghìn tỷ nhân dân tệ doanh thu thuế hàng năm của quốc gia là được dồn vào ngân sách tài chính quốc gia do Bắc Kinh kiểm soát.

Hội nghị lần gần đây nhất này đã sửa chữa lại hoàn toàn cơ cấu nói trên. Trong cái có lẽ được coi là cải cách lớn nhất đối với quản trị chính trị của Trung Quốc trong nhiều thập kỷ qua, các nhà lãnh đạo đảng công bố rằng Trung Quốc giờ đây sẽ có một ngân sách quốc gia duy nhất, kiên quyết hợp nhất doanh thu và chi tiêu dưới sự kiểm soát của Bắc Kinh. Theo hệ thống mới này, chính quyền trung ương sẽ kiểm soát gần như hoàn toàn chi tiêu quốc gia. Những trách nhiệm hành chính như giám sát các dự án cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sẽ được phân định rõ ràng hơn giữa Bắc Kinh với chính quyền các khu vực và địa phương. Quy định về chuyển tiền thanh toán giữa trung ương và địa phương sẽ được chuẩn hóa. Đồng thời, Bắc Kinh sẽ nắm quyền quản lý trực tiếp các khoản nợ của chính quyền địa phương.

Những thay đổi này sẽ là các yếu tố then chốt cho sự phát triển dài hạn của Trung Quốc. Hệ thống thuế và cơ chế kiếm soát nợ mới nói trên sẽ giúp ngăn ngừa các chính quyền địa phương tránh khỏi việc lạm dụng các nguồn lực nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế ngắn hạn. Và với khả năng về chi tiêu mới này, chính phủ trung ương có thể tài trợ được cho các  chính sách xã hội cần thiết trong những năm tiếp theo.

Xem xét vấn đề đô thị hóa: trong 20 năm tới, mỗi năm sẽ có 13 triệu người di chuyển đến các thành phố hiện tại cũng như trong tương lai ở Trung Quốc. Khoảng cách nông thôn – đô thị và việc đô thị hóa dân nhập cư lâu nay đã đặt ra những vấn đề dai dẳng cho mô hình phát triển của Trung Quốc. Các cư dân ở nông thôn không được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và không được hưởng những lợi ích từ giáo dục, thậm chí không có các quyền gắn với đất đai như dân cư đô thị – dẫn đến sự phát triển mất cân đối theo hướng có lợi cho các thành phố. vấn đề này đặc biệt hóc búa đối với lao động nhập cư, những người đã chuyển đến các thành phố để sống và làm việc nhưng vẫn được xếp loại là cư dân nông thôn. Họ bị mắc kẹt trong một tình huống bấp bênh – xa đất đai của họ song lại không được hưởng những lợi ích của đô thị. Giờ đây, Bắc Kinh sẽ có thể phân bổ thêm nguồn lực quốc gia cho các “sản phẩm công” như y tế, phúc lợi xã hội và giáo dục, tạo điều kiện cho cư dân nông thôn trở thành cư dân đô thị chính thức.

Nội dung nêu tại Hội nghị và được đưa tin rộng rãi nhất đó là nguyên tắc rằng thị trường phải là một yếu tố quyết định trong phân bổ các nguồn lực kinh tế. Một số người cho rằng việc tái cân bằng quyền lực chính trị về trung ương đang đi ngược lại với mục tiêu được tuyên bố này.

Nhưng không phải như vậy. Quá trình 30 năm phát triển phi tập trung hóa đã dẫn đến chủ nghĩa bảo hộ ở địa phương và tình trạng thiếu vắng các quy tắc được chuẩn hóa cho hoạt động thương mại. Cả hai yếu tố này đã cản trở sự phát triển nền kinh tế thị trường ở Trung Quốc. Các công ty thường xuyên sử dụng mối quan hệ của họ với chính quyền địa phương để ngăn chặn đối thủ cạnh tranh tham gia thị trường. Những quy tắc và qui định khác nhau giữa các tỉnh gây khó khăn cho các công ty hoạt động bên ngoài địa phương của họ.

Vì vậy, các chính sách tập trung hóa được đưa ra tại Hội nghị TW 3 sẽ tăng cường nền kinh tế thị trường sôi động của Trung Quốc. Và bên cạnh đó, tập trung hóa cũng có thể có những tác động tích cực khác. Thí dụ, chính quyền trung ương có thể bảo vệ tốt hơn đối với môi trường và an toàn thực phẩm khi họ có các tiêu chuẩn quốc gia để thực thi.

Sau sự kiện Bạc Hy Lai

Tệ tham nhũng đã gây quan ngại cho ĐCSTQ kể từ những giai đoạn phát triển đầu tiên của đảng. Cơ quan kiểm tra nội bộ đầu tiên của ĐCSTQ, sau đó được gọi là ủy ban Kiểm tra Trung ương, được thành lập vào năm 1927, chỉ 6 năm sau khi đảng thành lập và 22 năm trước khi đảng thực sự giành được quyền lực chính trị. Mặc dù quyền lực và sự thích đáng của ủy ban này có lúc tăng lúc giảm trong nhiều năm qua, nhưng nguyên tắc chỉ đạo của nó vẫn nhất quán.

Từ năm 1927 đến nay, ĐCSTQ đã áp dụng mô hình tổ chức kiểm tra nội bộ của Đảng Cộng sản Liên Xô trong thực hiện các nỗ lực chống tham nhũng, về lý thuyết, ủy ban Kiểm tra Kỷ luật ở mỗi cấp chính quyền chịu sự lãnh đạo của ủy ban kiểm tra kỷ luật cấp cao kế tiếp. Tất cả các ủy ban này phải báo cáo lên ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương. Tuy nhiên, trong thực tế, hệ thống này bị phá vỡ. Nhân vật chịu trách nhiệm kiểm tra tệ tham nhũng thường làm việc dưới ảnh hưởng, hoặc bị chi phối, bởi nhân vật đứng đầu các cấp ủy đảng. Lấy ví dụ về Bạc Hy Lai, vị bí thư bị thất sủng của Trùng Khánh, ông Bạc, bị kết tội tham nhũng hồi năm ngoái, là ủy viên Bộ Chính trị, có quyền lực cao nhất ở Trung Quốc. Tuy nhiên, người đứng đầu ủy ban chống tham nhũng của Trùng Khánh thậm chí lại không phải là ủy viên trung ương và vị trí của ông này thấp hơn Bạc Hy Lai ít nhất là hai cấp. Vì thế, quan chức này không thể kỷ luật được ông Bạc Hy Lai tại bất kỳ thời điểm nào trong suốt nhiệm kỳ của mình. Khỏi cần phải nói, một chế độ như vậy, mặc dù thành công trong việc trừng phạt các hành vi phạm tội ở mức độ thấp, không thể kiểm soát được sự lạm dụng quyền lực ở các cấp cao hơn.

Hội nghị TW 3 đã tái thiết kế mạnh mẽ cấu trúc của chế độ kiểm tra, biến ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương thành một cơ quan theo cơ chế ngành dọc, có quyền ban hành quyết định độc lập với các cấp ủy đảng. Các Ủy ban kiểm tra kỷ luật giờ đây phải báo cáo lên ủy ban Trung ương tại Bắc Kinh, ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương cũng sẽ có toàn quyền trong việc bổ nhiệm các quan chức chống tham nhũng ở tất cả các cấp trên toàn quốc và tiến hành điều tra tất cả các vụ việc. Như để minh chứng cho sự tác động tức thời do việc tái cơ cấu này mang lại, ngay khi kết thúc Hội nghị, Bắc Kinh đã bổ nhiệm Hầu Khải, một quan chức đảng có ảnh hưởng ở thủ đô, làm người đứng đầu ủy ban Kiểm tra Kỷ luật tại Thượng Hải.

Song song với việc cải cách chế độ kiểm tra nội bộ đảng, Hội nghị cũng đã cơ cấu lại hệ thống tư pháp. Giờ đây, hệ thống tòa án ở mỗi cấp không còn phụ thuộc cơ quan hành chính cùng cấp và chỉ chịu kiểm soát của tòa án cấp trên. Người ta chưa thể đánh giá hết tầm quan trọng của những cải cách này đối với quản trị quốc gia của Trung Quốc trong tương lai, nhưng đây là những thay đổi chất lượng nhất trong phân định quyền lực của đảng trong nhiều thập kỷ tới. Trung Quốc là một đất nước rộng lớn với một chính phủ phức hợp. Sự ra đời của cơ quan giám sát độc lập ở mọi cấp chính quyền có thể giúp đảng ngăn chặn được tham nhũng và tăng cường hiệu quả hoạt động, việc mà trước đây đảng chưa thực hiện được.

Sự kết thúc của mô hình “ba đầu tàu”

Có lẽ cải cách chính trị đáng chú ý nhất tại Hội nghị lần này là việc thành lập ủy ban An ninh Quốc gia và Nhóm Chỉ đạo Cải cách Trung ương mà sẽ hướng dẫn các hoạt động an ninh quốc gia và chính sách kinh tế. Cả hai cơ quan này sẽ hoạt động dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Thường vụ Bộ Chính trị, và do đó sẽ giải quyết được sự mâu thuẫn trong cơ cấu chính trị của Trung Quốc vốn gây rắc rối cho nước này trong nhiều thập kỷ qua.

Khi ĐCSTQ thành lập nước Cộng hòa Nhân dân vào năm 1949, đảng đã xây dựng một chính phủ theo cái gọi là mô hình ba đầu tàu của Liên Xô. Về  hình thức, có ba cơ quan song song chia sẻ quyền lực: Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc – cơ quan lập pháp do một vị chủ tịch đứng đầu; Quốc vụ Viện – một nội các do thủ tướng lãnh đạo; và Bộ Chính trị đứng đầu là tổng bí thư. Chủ tịch Quốc hội và Thủ tướng cũng là thành viên của Bộ Chính trị (Trong những thập kỷ gần đây, Tổng Bí thư cũng đồng thời là Chủ tịch nước). Tuy nhiên, cho đến nay, Hiến pháp vẫn khẳng định vai trò lãnh đạo cao nhất của đảng.

Sự phân định như trên đã gây ra những phức tạp về thể chế và sự bất ổn. Từ những ngày đầu của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nhiều tranh cãi đã nổ ra về mức độ nhất thể hoặc tách biệt giữa đảng, đứng đầu bởi ủy ban Trung ương và Bộ Chính trị, và chính phủ, được điều hành bởi Quốc vụ Viện. Trong 30 năm đầu tiên dưới thời Mao Trạch Đông, người cầm lái vĩ đại này đã vừa lãnh đạo đảng, nhưng đồng thời cũng khẳng định quyền kiểm soát trực tiếp toàn bộ chính phủ. Những xung đột thể chế như vậy, bị làm trầm trọng do ảnh hưởng của cá nhân người đứng đầu, có thể dẫn đến những hậu qua thảm khốc. Vào giữa những năm 1960, những bất đồng chính trị giữa Mao Trạch Đông, đứng đầu ĐCSTQ, với Lưu Thiếu Kỳ, đúng đầu chính phủ, đã là ngòi nổ gây nên thảm họa Cách mạng Văn hóa.

Với việc thành lập ủy ban An ninh Quốc gia và Nhóm Chỉ đạo Cải cách Trung ương, Hội nghị TW 3 đã đánh dấu sự kết thúc của mô hình ba đầu tàu. Giờ đây, đảng đã nắm chắc vị trí đứng đầu và là trung tâm nền quản trị chính trị quốc gia, đồng thời củng cố hơn nữa tính hợp hiến của đáng. Chức trách của ủy ban An ninh Quốc gia sẽ bao gồm toàn bộ các khía cạnh của những chính sách an ninh đối nội và đối ngoại của Trung Quốc, từ lực lượng công an cho đến bộ ngoại giao. Nhóm Chỉ đạo cải cách Trung ương sẽ là mũi nhọn trong chiến lược kinh tế quốc gia. Cả hai cơ quan này giờ đây đều được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Bộ Chính trị. Ở một ý nghĩ, mang tính thực tế nào đó, hệ thống của Trung Quốc, trong một số khía cạnh, đã gần hơn với hệ thống bán tổng thống của những nước như Pháp.

Cải cách sẽ giúp ổn định quản trị và cũng có thể báo hiệu một bước đột phá lớn về chính trị; Thực ra mà nói, ĐCSTQ cuối cùng đang thừa nhận rằng họ là một tổ chức quản trị, chứ không phải là một đảng chính trị. Hơn 100 năm trước đây, Trung Quốc đã nhập khẩu mô hình các chính đảng hiện đại từ phương Tây. Nhưng ở các nước phương Tây, nhà nước quốc gia được thiết lập trước và các đảng phái đại diện cho từng nhóm dân cư trong hệ thống chính trị thường ra đời sau đó. Ở Trung Quốc, quá trình này xảy ra theo chiều ngược lại, đảng ra đời trước, và 28 năm sau, đảng lập nên nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Từ đó, ĐCSTQ đã tuyên bố đại diện cho một đa số dân tộc Trung Hoa.

Với việc chính thức chấm dứt mô hình ba đầu tàu theo kiểu Liên Xô và hàn gắn về mặt cấu trúc giữa đảng với chính phủ, Hội nghị TW 3 đánh dấu một mốc quan trọng cho sự trưởng thành trong quản trị quốc gia của đảng, về lâu dài, quản trị quốc gia của Trung Quốc về chất có thể sẽ khác với mô hình hiện đang vận hành tại hầu hết các quốc gia, trong đó nhiều đảng chính trị đại diện cho các nhóm lợi ích khác nhau cạnh tranh nhau thông qua bầu cử. ĐCSTQ đang phát triển thành một tổ chức quản trị sẽ là hiện thân cho toàn bộ xã hội Trung Quốc, nhưng không giống các triều đại phong kiến Trung Hoa. Tương lai của quản trị chính trị ở Trung Quốc sẽ phụ thuộc vào năng lực thể chế của ĐCSTQ có tiếp tục thích ứng được với một xã hội đang thay đổi nhanh chóng hay không.

Thành công tổng thể

Ngay sau Hội nghị, các nhà bình luận thuộc hầu hết các cơ quan truyền thông chủ chốt của phương Tây và giới nghiên cứu đã đánh giá thấp những cải cách chính trị cúa ĐCSTQ với lý do rằng những cải cách này đã không đưa được Trung Quốc đi trên con đường hướng tới nền dân chủ bầu cử đa đảng. Nhưng với Trung Quốc, thuật ngữ “cải cách chính trị” đã bị đánh cắp và thường được dùng để nói đến sự dân chủ hóa theo kiểu phương Tây. Do vậy, mọi cải cách không phù hợp với ý nghĩa này, dù lớn hay nhỏ, đều bị bác bỏ. Các quan điểm như vậy phản ánh một sự hiểu biết non nớt, nếu không nói là hoàn toàn nguy hại về Trung Quốc.

Hầu hết các học giả về Trung Quốc đương đại thường chia sự lãnh đạo của đảng ở quốc gia to lớn này thành hai giai đoạn, mỗi giai đoạn khoảng 30 năm. Giai đoạn đầu tiên từ năm 1949 – 1979, dưới thời Mao Trạch Đông; Giai đoạn thứ hai bắt đầu với những cải cách mở cửa của Đặng Tiểu Bình vào năm 1979 và kéo dài đến nay. Một số cho rằng giai đoạn 30 năm thứ hai là một sự chuyển hướng, thậm chí là đối nghịch với giai đoạn trước đó. Nhận định như vậy là sai lầm. Mặc dù giai đoạn đầu tiên và thứ hai dường như cho thấy có sự tương phản gay gắt về quan điểm ý thức hệ, nhung giai đoạn thứ hai là kết quả tự nhiên của giai đoạn đầu tiên. Nếu không có những thành tựu của giai đoạn đầu tiên – độc lập dân tộc và việc xây dựng được cơ sở hạ tầng công nghiệp cùng lớp người cơ bản hiện đại – thì không thể có được giai đoạn thứ hai.

Nếu những cải cách chính trị mới này được tiến hành, Hội nghị TW 3 sẽ mở đầu một kỷ nguyên thứ ba – kỷ nguyên tích hợp thành quả của hai kỷ nguyên trước và tạo ra kỷ nguyên mới cho Trung Quốc hiện đại, với mô hình quản trị quốc gia vận hành không qua bầu cử nhưng hiệu quả. Do bị buộc phải tính đến cơ chế giám sát và cân bằng mới, chính quyền sẽ trở nên có năng lực hơn, có khả năng đáp ứng nhiều hơn và linh động hơn.

Ngày nay, các cuộc khủng hoảng về quản trị quốc gia đang gặp nhiều tai họa cho các quốc gia trên khắp thế giới. Từ hiện trạng đảng phái tê liệt ở Mỹ cho đến những bế tắc của chủ nghĩa tinh hoa châu Âu, các nước phát triển đang ngập chìm trong tình trạng trì trệ kéo dài. Ớ hầu hết các nước đang phát triển, từ Thái Lan đến Nam Sudan, chế độ bầu cử hoặc là không được thực hiện hoặc là hoàn toàn mất tính hợp pháp.

Mặc dù phải đối mặt với vô vàn thách thức và những đau đớn ngày càng tăng, Trung Quốc, trên nhiều phương diện, đã đạt thành tích về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và gắn kết xã hội nói chung. Dưới sụ giám sát của Tập Cận Bình, Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Và với quỹ đạo hiện tại, đến giữa thế kỷ này, Trung Quốc sẽ trở thành một cường quốc thật sự – về kinh tế, chính trị và quân sự. Nhưng khả năng đó không thể trở thành hiện thực một khi thiếu vắng một hệ thống quản trị chính trị chặt chẽ, trưởng thành và phù hợp với đất nước. Những gì đã xảy ra tháng 11 năm ngoái ở Bắc Kinh có thể sẽ mang lại nhiều điều hơn so với những gì mà người ta đã thừa nhận./.

 

 

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: