BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2414. TRUNG QUỐC ĐƯỢC CAI TRỊ NHƯ THẾ NÀO

Posted by adminbasam trên 05/03/2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Chủ Nhật, ngày 02/03/2014

(Foreign affairs, tháng 1 và 2/2004)

Tại sao Bắc Kinh ngày càng khó cai trị

Trung Quốc đã trải qua ba cuộc cách mạng trong thế kỷ 20. Đầu tiên là vào năm 1911 với sự sụp đổ của triều đại nhà Thanh, kéo theo đó là sự sụp đổ của hệ thống cai trị phong kiến lâu đời. Sau giai đoạn xung đột kéo dài là cuộc cách mạng thứ hai vào năm 1949, khi Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản Trung Quốc giành thắng lợi trong cuộc nội chiến và lập nên nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; sự thực thi quyền lực “đầy bạo lực và thất thường” của Mao chỉ kết thúc khi ông ta qua đời vào năm 1976.

Cuộc cách mạng thứ ba đang tiếp diễn, và cho đến nay, những kết quả của nó là tích cực hơn nhiều. Cuộc cách mạng này bắt đầu vào giữa năm 1977 với sự nổi lên của Đặng Tiểu Bình, người khởi động một kỷ nguyên cải cách chưa từng có kéo dài nhiều thập kỷ đã làm chuyển đổi nền kinh tế manh mún của Trung Quốc thành một nền kinh tế hàng đầu thế

giới, giúp hàng trăm triệu người Trung Quốc thoát khỏi đói nghèo và mở ra một cuộc di dân ồ ạt đến thành phố. Cuộc cách mạng này được tiếp nối qua các nhiệm kỳ của những người kế nhiệm Đặng Tiểu Bình, gồm Giang Trạch Dân, Hồ cẩm Đào và Tập Cận Bình.

Dĩ nhiên, cuộc cách mạng được bắt đầu với Đặng Tiểu Bình lại không mang tính cách mạng theo một nghĩa quan trọng nào đó: Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) vẫn duy trì sự độc quyền về quyền lực chính trị. Nhưng quan điểm rập khuôn cho rằng Trung Quốc đã trải nghiệm một cuộc cải cách kinh tế mà không có cải cách chính trị trong những năm qua kể từ 1977 đang che mờ một sự thật quan trọng: rằng một cuộc cải cách chính trị ,như một chính trị gia Trung Quốc bí mật cho tôi (tác giả bài viết) biết vào năm 2002, đã “diễn ra một cách lặng lẽ và ngoài tầm quan sát”.

Sự thật là Chính quyền trung ương Trung Quốc ngày nay hoạt động trong môi trường cơ bản khác biệt với môi trường trong những năm đầu nhiệm kỳ của Đặng Tiểu Bình, ít nhất trên ba phương diện quan trọng. Thứ nhất, vai trò cá nhân của các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã dần yếu hơn trong tập thể lãnh đạo cũng như đối với toàn xã hội. Thứ hai, xã hội Trung Quốc, cũng như nền kinh tế và bộ máy quan liêu, đã bị rạn nứt, làm sinh sôi nảy nở nhiều khu vực cử tri mà các lãnh đạo Trung Quốc phải có những đáp ứng, hoặc ít nhất là phải kiểm soát được. Thứ ba, giới lãnh đạo Trung Quốc giờ đây phải lãnh đạo một quốc gia vốn cần nhiều nguồn lực hơn trước đây, xét về tiền bạc, nhân lực và thông tin.

Với tất cả những lý do trên, việc quản trị Trung Quốc nay đã trở nên khó khăn hơn so với thời của Đặng Tiểu Bình. Bắc Kinh đã đối phó với nhũng thay đổi này bằng cách tích hợp ý kiến công luận vào hoạt động hoạch định chính sách của mình, trong khi vẫn duy trì các cấu trúc chính trị cơ bản một cách thích hợp. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ sai lầm nếu họ cho là có thể duy trì ổn định chính trị và xã hội một cách vô hạn định mà không cần cải cách mạnh mẽ hệ thống quản trị của nước này. Một Trung Quốc được đặc trưng bởi một nhà nước yếu hơn và một xã hội dân sự mạnh hơn đòi hỏi một cơ cấu chính trị khác biệt hơn nhiều. Nó đòi hỏi một cam kết mạnh mẽ hơn về nền pháp trị, với các cơ chế đáng tin cậy hơn – chăng hạn như tòa án và cơ quan lập pháp – để giải quyết các xung đột, dung hòa các lợi ích khác nhau cũng như phân phối các nguồn lực. Nó cũng cần một chính phủ hoạt động tốt, minh bạch và có trách nhiệm hơn. Thiếu đi những tiến triển như vậy, Trung Quốc trong tương lai sẽ xảy ra bất ổn chính trị nhiều hơn so với những gì nước này đã trải qua trong hơn bốn thập niên vừa qua. Xét bối cảnh Trung Quốc đang vươn ra thế giới, những dư chấn do bất ổn chính trị tại Trung Quốc chắc chắn sẽ được cảm nhận bởi các nước láng giềng cũng như trên qui mô toàn cầu. Những cải cách trước đây của Trung Quốc đã tạo ra nhiều hoàn cảnh mới mà các nhà lãnh đạo nước này buộc phải nhanh chóng thích nghi. Cải cách cũng giống như đi xe đạp, hoặc là đạp xe để đi tiếp, hoặc bị ngã nhào.

Không phải mọi lãnh đạo đều giống nhau

Nhà xã hội học người Đức Max Weber cho rằng các chính phủ có thể có được quyền lực nhờ ba nguồn: truyền thống, những phẩm chất và uy tín của cá nhân nhà lãnh đạo, và các chuẩn mực được pháp định và hiến định. Trung Quốc, trong giai đoạn cải cách, đã chuyển đổi từ hai tính chính đáng đầu tiên và đang hướng tới một cái gì đó giống như tính chính đáng thứ ba.

Giống như Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình đã nắm quyền nhờ có sự kết hợp của quyền lực truyền thống và uy tín cá nhân. Nhưng các nhà lãnh đạo kế tiếp lại có quyền lực theo những cách rất khác nhau. Giang Trạch Dân (cầm quyền 1989-2002) và Hồ cẩm Đào (cầm quyền 2002- 2012), ở những mức độ khác nhau đều được chính Đặng Tiểu Bình chỉ định làm lãnh đạo, trong khi Tập Cận Bình lên giữ vị trí đứng đầu năm 2012 lại là sản phẩm của một tiến trình chính trị tập thể trong ĐCSTQ. Cùng với thời gian, một tập hợp những tiêu chuẩn quy định việc lựa chọn lãnh đạo đã hình thành, bao gồm cả những giới hạn về nhiệm kỳ và tuổi tác, các biện pháp thực hiện, kết quả thăm dò ý kiến trong nội bộ đảng. Mặc dù quan trọng, các tiêu chuẩn này không nên được nhầm là luật pháp – chúng không đầy đủ, không chính thức và có thể bị thay đổi – nhưng chúng thật sự đánh dấu một sự chuyển hưóng ấn tượng khỏi hệ thống của Mao Trạch Đông.

Giữa lúc các cơ sở của tính chính đáng đã thay đổi, những nhà lãnh đạo kế nhiệm Đặng Tiểu Bình nhận thấy năng lực của họ khi một mình làm chính sách bị sụt giảm. Mặc dù Đặng Tiểu Bình không có được sức mạnh không gì kiềm chế như Mao Trạch Đông, nhưng khi cần đưa ra các quyết định chiến lược, ông có thể hành động một cách đầy uy quyền và dứt khoát một khi đã tham khảo ý kiến của những đồng chí có ảnh hưởng. Hơn nữa, quy mô và phạm vi các quyết định của Đặng Tiểu Bình thường rất lớn. Bên cạnh việc tiến hành cải cách kinh tế, Đặng Tiểu Bình đã thực hiện nhiều chính sách quan trọng khác, như chính sách một con (năm 1979), đàn áp phong trào phản kháng Bức tường Dân chủ cùng năm, và vào năm 1981 tuyên bố thiết quân luật và triển khai quân đội tại Bắc Kinh. Liên quan đến vấn đề Đài Loan, Đặng Tiểu Bình cảm thấy đủ yên tâm để thông qua “mộ lập trường thoải mái” đối với hòn đảo này, dành việc giải quyết quan hệ hai bờ eo biển cho thế hệ kế tiếp.

Ngược lại, Giang Trạch Dân, Hồ cẩm Đào và Tập Cận Bình bị nhiều hạn chế hơn. Sự khác biệt này được thể hiện đầy đủ vào cuối năm 2012 vì trong năm 2013 khi Tập Cận Bình lên nắm quyền từ tay Hồ cẩm Đào. Trong những năm 1970, để xây dựng mối quan hệ với Nhật Bản, Đặng Tiểu Bình đã có thể né tránh các hoạt động chính trị dân tộc chủ nghĩa nhạy cảm xunị quanh vấn đề chu quyền đối với quần đảo Điếu Ngư (Nhật Bản gọi là quần đảo Senkaku). Nhưng Tập Cận Bình, chỉ vừa ngoi lên vị trí chóp bu và đang hăng hái muốn củng cố quyền lực của mình tiếp sau việc Tokyo vào tháng 9/2012 tuyên bố quốc hữu hóa quần đảo này, cảm thấy buộc phải hành động mạnh tay nhằm đáp trả động thái của Tokyo.

Trung Quốc, nói cách khác, đã chuyển từ thời kỳ cai trị bởi những Cá nhân quyền lực có uy tín cá nhân sang thời kỳ các nhà lãnh đạo bị hạn chế bởi quyết định tập thể, giới hạn nhiệm kỳ và các tiêu chí khác, công luận cũng như những đặc tính kỹ trị của chính họ. Như một nhà ngoại giao Trung Quốc kỳ cựu giải thích vào năm 2002, “Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình có thể quyết định; Giang Trạch Dân và các nhà lãnh đạo hiện nay phải tham khảo ý kiến”.

Giới lãnh đạo Tung Quốc hiện nay còn không giống Mao Trạch Đông, không giống Đặng Tiểu Bình ở một khía cạnh quan trọng khác: về mục đích, họ ít mong muốn tạo ra sự thay đối lớn, trong khi lại để tâm nhiều hơn đến việc giữ  ổn định hệ thống và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống đó. Mục tiêu của Đặng Tiểu Bình là tạo sự chuyển hóa. Đặng Tiểu Bình đã tìm cách đưa Trung Quốc lên các bậc thang kinh tế cũng như vào hệ thống quyền lực toàn cầu, và ông ta đã làm được điều đó. Đặng Tiểu Bình đã mở cửa để Trung Quốc đến với kiến thức nước ngoài, khuyến khích thanh niên Trung Quốc ra nước ngoài học tập (nhờ những trải nghiệm của chính bản thân ông trong những năm học ở Pháp và Liên Xô), và để cho các lợi thế so sánh, thương mại, giáo dục làm điều kỳ diệu của chúng.

Kế tục Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân lên nắm quyền hoàn toàn là vì ông đại diện cho sự thay đổi lớn trong phong cách lãnh đạo: tiếp sau cuộc biểu tình Thiên An Môn (1989), cả lực lượng ủng hộ cải cách và những người còn cảnh giác với cải cách đều xem ông như một lãnh đạo có năng lực và không gây nên mối đe dọa nào với họ. Nhưng Giang Trạch Dân rốt cuộc đã nhanh chóng “nhảy rào về phía cải cách”. Giang Trạch Dân đưa Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), chuẩn bị cho việc đưa người Trung Quốc vào vũ trụ, và lần đầu tiên vạch rõ rằng ĐCSTQ cần thiết phải thu hút một số lượng lớn những người có đầu óc sáng tạo, có tay nghề cao vào hàng ngũ của đảng. Trong 13 năm cầm quyền của Giang Trạch Dân, nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ trung bình hàng năm là 9,7%.

Nhưng Giang Trạch Dân, do cả tính cách và hoàn cảnh, còn xa mới sánh được với nhà “cải cách mả cửa” Đặng Tiếu Bình. Là một kỹ sư được đào tạo bài bản, Giang Trạch Dân có tính thực tế và tập trung vào làm những việc khả thi nhất. Ví dụ vào năm 1992, ông nói với một nhóm người Mỹ rằng một thập kỷ trước đó, khi ông đang là một quan chức cấp thấp, ông đã đến thăm Chicago và đặc biệt quan tâm đến việc thu gom rác thải của thành phố, vì ông hy vọng khi trở về nhà sẽ tìm thấy một giải pháp cho vấn đề vỏ dưa hấu thải bỏ vương vãi. Sau đó, ông đã tự hào nói với người Mỹ rằng khi làm thị trưởng thành phố Thượng Hải, ông đã tiết kiệm được đất đai bằng cách xây dựng cầu xoắn ốc trên các đường dốc, nhờ đó giảm bớt sự di dời của cư dân thành phố. Không phải những thay đổi xã hội mạnh bạo mà chính những mối quan tâm về vật chất của Giang Trạch Dân đã cải thiện được cuộc sống của những người Trung Quốc bình thường.

Hồ Cẩm Đào và vị Thủ tướng cùng thời là Ôn Gia Bảo đã cho thấy ít có những biến đối hơn. Điều này có thế dự đoán được ngay trong năm 2002, vào đêm trước khi Hồ Cẩm Đào lên nắm quyền. Một nhà ngoại giao Trung Quốc cao cấp nói tại thời điểm đó rằng “một xu hướng khác sẽ là hướng tới một tập thế lãnh đạo, thay vì một lãnh tụ tối cao” và “lãnh đạo trong tương lai sẽ có tính tập thể, dân chủ hơn; các nhà lãnh đạo sẽ tìm kiếm sự đồng thuận chứ không phải đưa ra các quyết định độc đoán”. Nhưng mặt tiêu cực của vấn đề là thế hệ lãnh đạo này sẽ được hưởng quyền lực ít hơn. Và sẽ khó khăn hơn cho họ khi cần phải đưa ra các quyết định táo bạo vào đúng lúc cần thiết. Hồ Cẩm Đào thực sự không ban hành bất cứ quyết sách nào có tính cải cách, cả về chính trị lần kinh tế. Thành tựu đáng chú ý nhất của ông là đã tăng cường quan hệ với Đài Loan. Lý giải một cách khoan dung cho những năm tại vị của Hồ Cẩm Đào là ông đã thực hiện được các cải cách sâu rộng do Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân khởi xướng.

Sau khi vào vị trí lãnh đạo tối cao của đảng tháng 11/2012, Tập Cận Bình đã củng cố quyền lực của mình một cách đầy ấn tượng vào năm 2012 cho phép tiến hành một cuộc tranh luận mạnh mẽ về cải cách, ngay cả khi ông đã thắt chặt các hạn chế về tự do ngôn luận, cốt lõi của các cuộc tranh luận này liên quan đến câu hỏi: làm thế nào để phục hồi tăng trưởng kinh tế và thay đổi chính trị đến cấp độ nào để nó trở thành một điều kiện tiên quyết giúp kinh tế phát triển hơn nữa.

Sau Hội nghị TW 3 vào tháng 11/2013, Chính quyền Tập Cận Bình tuyên bố ý định sẽ “cải cách sâu rộng toàn diện” và thành lập nhóm chỉ đạt trung ương để chỉ đạo thực hiện. Sự cần thiết phải thành lập Nhóm chỉ đạo này báo hiệu rằng nhiều mâu thuẫn chính sách vẫn tồn tại và chính quyền trung ương còn phải tập trung vào các cải cách cho đến ít nhất là năm 2020 Nhưng điều đơn giản ở đây là tình trạng không có một đường hướng rõ ràng cho tương lai phía trước, bởi lẽ trong một số lĩnh vực, Trung Quốc cần được thị trường hóa; còn ở những lĩnh vực khác lại cần được phân cấp hoặo cần phải tập trung.

Mặc dù còn chưa rõ nét, song động lực của chính sách mới là phải để thị trường giữ vai trò quyết định trong phân bổ các nguồn lực, với việc Bắc Kinh phải tạo sân chơi bình đẳng trong nước cho các doanh nghiệp nhà nước và ngoài quốc doanh, đồng thời đơn giản hóa các quy trình thủ tục hành chính. Người nước ngoài có thể tìm thấy những điểm thích hợp trong cam kết của chính phủ về việc “tạo điều kiện tiếp cận đầu tư, đẩy nhanh tiến độ xây dụng các khu thương mại tự do và mở rộng thị trường nội địa và mở cửa ven biển”. Những chính sách như thế cũng sẽ dẫn đến các hậu quả chính trị, và trong Thông cáo Hội nghị Trung ương đã đề cập đến sự cần thiết phải thay đổi trong ngành tư pháp và trong chính quyền địa phương, cũng như đề xuất mở rộng hơn các quyền cho người nông dân Với việc kêu gọi thành lập ủy ban An ninh Quốc gia, Hội nghị xác định vấn đề an ninh cả bên trong lẫn bên ngoài đã trở thành mối quan tâm lớn của quốc gia. Cuộc vạn lý trường chinh mới đã bắt đầu.

Xã hội bị phân chia

Những thay đổi trong phong cách lãnh đạo cá nhân đã khá trùng hợp với sự thay đổi mang tính kiến tạo: sự đa dạng hóa trong xã hội, trong nên kinh tế và ngay trong bộ máy cai trị quan liêu. Dưới thời Mao Trạch Đông, các nhà lãnh đạo khẳng định rằng họ chỉ phục vụ cho một lợi ích duy nhất – đó là lợi ích của quần chúng nhân dân Trung Quốc. Công việc của chính phủ là trấn áp các lực lượng chống phá và giáo dục người dân về các lợi ích thực sự của họ. Cai trị không phải là để dung hòa sự khác biệt mà là để loại bỏ chúng.

Tuy vậy, ngay từ thời của Mao Trạch Đông, xã hội và bộ máy cai trị quan liêu ở Trung Quốc đã bị phân thành nhiều mảnh, khiến Bắc Kinh ngày càng khó khăn khi đưa ra các quyết định cũng như khi thực hiện chính sách. Để đối phó với thách thức này, Chính phủ Trung Quốc, đặc biệt là kể từ thời kỳ của Đặng Tiểu Bình, đã phát triển một hệ thống thẩm quyền có tính ứng phó mà rõ ràng là nhằm cân bằng các lợi ích chính về địa lý, chức năng, phe phái và chính sách thông qua đại diện ở các cấp cao nhất của ĐCSTQ. Mặc dù sự tự thể hiện về chính trị vẫn còn hạn chế, việc ra quyết định của nhóm tinh hoa vẫn chưa minh bạch, nhưng giới lãnh đạo Trung Quốc giờ đây đang tìm cách giải quyết, chứ không phải là loại bỏ những xung đột giữa các nhóm lợi ích cạnh tranh nhau, và chỉ trấn áp các xung đột chỉ khi họ nhận thấy chúng là các mối đe dọa đặc biệt lớn. Họ đã cố gắng tập hợp các nhóm đạ số thuộc những khu vực cử tri khác nhau trong khi lại thẳng tay trấn áp lãnh đạo của các phong trào chống chính phủ.

Về bản chất, nhiều nhóm lợi ích mới, có thể lực ở Trung Quốc là liên quan đến kinh tế. Người lao động và giới chủ giờ đây đang xung đột nhau về điều kiện làm việc và tiền lương. Tương tự như vậy, khi các doanh nghiệp Trung Quốc phát triển đến độ như các công ty phương Tây, họ sẽ chỉ phục tùng phần nào đó các chỉ thị của đảng. Ví dụ, như học giả Tabitha Mallory đã nêu, ngành công nghiệp đánh cá ngày càng được tư nhân hóa – trong năm 2012, có tới 70% số các công ty “đánh bắt xa bờ” của Trung Quốc đã được tư nhân hóa – khiến chính quyền trung ương khó khăn hơn trong việc ngăn chặn việc đánh bắt quá mức.

Trong khi đó, ở khu vực thuộc sở hữu nhà nước, Tổng Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) đang hậu thuẫn các chính sách vốn ủng hộ sự quyết đoán hơn ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), nơi được xem có trữ lượng dầu – khí lớn, và CNOOC đã tìm thấy điểm chung với Hải quân Trung Quốc, vốn đang có nhu cầu ngân sách lớn hơn để hiện đại hóa hải quân, về các vấn đề đối với cả ở trong nước cũng như bên ngoài, các nhóm lợi ích đã trở thành lực lượng tham gia ngày càng có tiếng nói trong tiến trình xây dựng và thực hiện chính sách.

Bộ máy quan liêu Trung Quốc đã trở nên thích nghi với sự gia tăng cửa các nhóm lợi ích bằng cách tự đa dạng hóa hơn nữa. Các quan chức sử dụng những diễn đàn được gọi là các “tổ lãnh đạo nhỏ” nhằm giải quyết xung đột giữa các tổ chức và địa phương vốn đang tranh cãi nhau. Và các phó thủ tướng cũng như ủy viên quốc vụ phải dành nhiều thời gian hơn để dàn xếp các xung đột như vậy. Trong khi đó, các tỉnh, thành phố lớn như Thượng Hải, các Hiệp hội công nghiệp và thương mại ngày càng dựa vào các đại diện của họ tại Bắc Kinh nhằm thúc đẩy lợi ích của nhóm mình bằng cách vận động hành lang đối với các quyết sách quốc gia – một mô hình cũng đã được nhân rộng ở cấp tỉnh, thành phố.

Quyền lực nhân dân

Mao Trạch Dân hầu như không bao giờ cho phép công luận kiềm chế các chính sách của ông; ý chí nhân dân là một cái gì đó do chính bản thân ông định đoạt. Đến lượt mình, Đặng Tiểu Bình đã thông qua cải cách, vì lo sợ rằng ĐCSTQ sắp sửa mất đi tính chính đáng, nhưng Đặng Tiểu Bình chỉ chấp nhận công luận khi nó phù hợp với các phân tích của ông.

Trái lại, gần như tất cả các nhà lãnh đạo Trung Quốc ngày nay đều công khai nói về tầm quan trọng của công luận, với mục tiêu là để chặn trước các vấn đề rắc rối. Thí dụ, vào tháng 8/2013, tờ “China Daily” đã lưu ý độc giả rằng ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia đã ban hành quyết định yêu cầu các quan chức địa phương phải tiến hành đánh giá rủi ro để xác định khả năng xảy ra biến động do phản ứng của dân chúng đối với những dự án xây dựng lớn và yêu cầu tạm ngừng nếu dự án có “sự phản ứng mức trung bình” trong dân chúng.

Trung Quốc đã xây dựng một bộ máy lớn nhằm đo lường quan điểm của người dân – trong năm 2008, vốn là năm gần đây nhất mà các dữ liệu có sẵn, khoảng 51.000 công ty, trong đó chủ yếu là các công ty thực thi những hợp đồng của chính phủ, đã tiến hành thăm dò công luận – và Bắc Kinh thậm chí đã bắt đầu sử dụng các số liệu khảo sát để giúp đánh giá nhiệm đối với các quan chức ĐCSTQ. “Sau Đặng Tiểu Bình, đất nước không còn nhà lãnh đạo có bàn tay sắt nào, nhờ đó công luận đã trở thành như một kiểu xã hội dân sự”. Đây là nhận xét của một chuyên gia thăm dò dư luận, người có nhiều đơn hàng từ chính quyền trung ương, đưa ra năm 2012. Chuyên gia này nói tiếp: “Tại Mỹ, thăm dò dư luận được dùng cho các cuộc bầu cử, nhưng tại Trung Quốc, công dụng chính của các cuộc thăm dò là giám sát các hoạt động của chính phủ”.

Những tiến triển như vậy cho thấy giới lãnh đạo Trung Quốc giờ đây thừa nhận rằng chính phủ ngày càng phải đáp ứng được nhiều hơn nữa, hoặc ít nhất phải tỏ ra là đi theo hướng đó. Thực tế, kể từ năm 2000, chính phủ ngày càng viện dẫn nhiều đến công luận khi giải thích các chính sách về tỷ giá, thuế, và cơ sở hạ tầng. Công luận thậm chí có thể “chống lưng” cho lập trường quyết  đoán của Bắc Kinh ở cấp khu vực trong năm 2009 và 2010. Ngưu Tân Xuân, một học giả Trung Quốc, lập luận rằng Bắc Kinh đã lựa chọn một lập trường cứng rắn hơn trong các tranh chấp trên biển và trong các vấn đề đối ngoại khác trong thời gian này như là một phản hồi trực tiếp trước sự giận dữ của công chúng về những chỉ trích của phương Tây đối với nhân quyền ở Trung Quốc, đặc biệt là trong thời gian chuẩn bị cho Thế vận hội Olympics 2008, khi một số nhà lãnh đạo phương Tây tỏ ý rằng họ có thể không tham dự. Người Trung Quốc đã quá chán ngấy cách cư xử của người Pháp, đặc biệt đến mức mà tờ “China Daily” đưa tin rằng “người dân Trung Quốc không muốn Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đến tham dự Lễ khai mạc Thế vận hội Bắc Kinh 2008”.

Phản ứng ngày càng mạnh hơn của Bắc Kinh phần lớn bắt nguồn từ sự thừa nhận rằng khi chính quyền địa phương, các tổ chức phi nhà nước, và các cá nhân phát triển mạnh hơn, thì chính quyền trung ương dần mất đi thế độc quyền đối với ngân sách, nguồn lực con người và ngay cả với thông tin. Ví dụ như về nguồn vốn, kể từ thời Đặng Tiểu Bình, tiền bạc ngày càng tích tụ nhiều trong các “két sắt” bên ngoài chính quyền trung ương. Từ năm 1980 đến 2010, tỷ lệ chi tiêu ở cấp địa phương trên tổng thu nhà nước đã tăng từ 46% lên 82%. Trong khi đó, phần tổng sản lượng công nghiệp do khu vực thuộc sở hữu nhà nước đem lại giảm từ 78% năm 1978 xuống còn 11% vào năm 2009. Dĩ nhiên, nhà nước vẫn nắm quyền kiểm soát chặt chẽ đối với các khu vực chiến lược, như quốc phòng, năng lượng, tài chính và cơ sở hạ tầng công cộng quy mô lớn, và người dân bình thường vẫn không được hưởng bất cứ điều gì liên quan đến sự tự do kinh tế không giới hạn. Sự thay đổi này cũng đã tạo thuận lợi cho tệ nạn tham nhũng trong số các quan chức địa phương, giới lãnh đạo quân sự và làm lợi cho các băng nhóm tội phạm, các công ty lừa đảo, đi ngược lại với lợi ích của đông đảo người dân. Nhưng khi người dân giành được quyền kiểm soát các nguồn lực kinh tế, họ sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn về nơi ở, những tài sản cần tích lũy, cách thức giáo dục con cáinhững cơ hội mà  họ sẽ theo đuổi. Tuy đây chưa phải là sự tự do hoàn toàn, nhưng nó là một  sự khởi đầu nhiều hứa hẹn.

về nguồn nhân lực, trong năm học 1977-1978, năm đầu tiên sau Cách mạng Văn hóa, khoảng 400.000 học sinh đã trúng tuyển vào các trường đại học; đến 2010, con số này đã tăng lên đến 6,6 triệu. Hơn nữa, nhiều sinh viên Trung Quốc giờ đây đang học tập ở nước ngoài – trong năm học 2001 2013, có hơn 230.000 theo học ở Mỹ – và nhiều người trở về nước sau k tốt nghiệp. Kết quả là Trung Quốc hiện sở hữu một lượng lớn các cá nhân tài năng, những người có thể trợ giúp cho các tổ chức và các doanh nghiệp nằm ngoài sự kiếm soát của nhà nước. Theo thời gian, các thực thể này đã phát triển thêm lên về số lượng và sức mạnh, và trong một số trường hợp chính họ đã bắt đầu thực hiện nhũng chức năng mà theo truyền thống phải do nhà nước giải quyết – hoặc chưa được bất kỳ ai giải quyết. Ví dụ, Học viện Dịch vụ công và Môi trường, một tổ chức phi chính phủ chuyên tl thập và công bổ những dữ liệu về tình trạng quản lý chất thải của các nhà máy, đã tìm cách gây áp lực với một số công ty gây ô nhiễm môi trường buộc những công ty này phải thay đổi cách thức hoạt động.

Người dân Trung Quốc bình thường giờ đây đang được tiếp cận  nhiều hơn với thông tin. Hơn nửa tỷ người Trung Quốc đang sử dụng Internet. Ngoài việc hạn chế dòng chảy thông tin bằng cái gọi là bức “ tường lửa”, chính phủ hiện phải chiến đấu với thông tin bằng chính các thông tin. Ví dụ, nhằm phản hồi lại các tin đồn trực tuyến trong vụ hại Bạc Hy Lai, chính phủ chỉ công bố một phần rất hạn chế các tranh tụi tại .tòa án cho giới truyền thông xã hội của Trung Quốc. Chính quy trung ương đã thực hiện những nồ lực to lớn nhằm vừa khai thác các lợi ích của Internet đồng thời vừa loại bỏ những hiệu ứng gây bất ốn định nhất từ công nghệ này.

Ở một khía cạnh khác, ngày càng nhiều người dân Trung Quốc đổ đến thành phố. Đô thị hóa khiến giáo dục và thu nhập được nâng cao điều này khiến người dân cảm thấy hân hoan. Như một chuyên gia kinh Trung Quốc kỳ cựu nêu rõ vào năm 2010, “với việc được sống ở đô thị người dân đang được hít thở bầu không khí trong lành của tự do”.

Những đô thị đông nghịt dân cư với các nhu cầu gia tăng nhanh chóng, có kiến thức hơn, và việc dễ dàng hơn khi tham gia các hoạt động xã hội đã gây nhiều khó khăn hơn cho giới lãnh đạo Trung Quốc trong quản trị xã hội. Sự thật đó đã được minh chứng. Ví dụ, vào tháng 12/2011, báo “The Guardian” đưa tin ông Zheng Yanxiong, một bí thư địa phương của tỉnh Quảng Đông khi phải đối diện với những nông dân đang tức giận do bị thu hồi đất đai, đã nói trong bức xúc: “Hiện chỉ có một số người thực sự nếm trải khó khăn năm này sang năm khác. Họ là ai? Là những cán bộ, trong đó có tôi”.

Công dân hay thần dân

Công cuộc cải cách mang tính cách mạng ở Trung Quốc đã đạt kết quả mà chính Đặng Tiểu Bình cũng như các đồng chí của ông không thể dự đoán trước. Giới chức lãnh đạo cao nhất ở Trung Quốc đang gặp phải những khó khăn trong quản trị quốc gia theo phương thức tập thể, chứ chưa nói đến việc phải quản lý bộ máy ngày càng quan liêu, phức tạp và một xã hội đang phát triền nóng. Công việc của họ lại càng khó khăn hơn do thiếu vắng các định chế điều chính các lợi ích khác nhau, phân xử một cách công bằng những xung đột giữa các lợi ích này, đồng thời đảm bảo việc thực hiện một cách có trách nhiệm và liêm chính các chính sách. Nói cách khác, mặc dù Trung Quốc có thể có một nền kinh tế mạnh mẽ và một quân đội hùng mạnh, song hệ thống quản trị quốc gia của nước này đã trở nên dễ đổ vỡ.

Những áp lực này có thể dẫn Trung Quốc đến một trong những ngả đưòng sau: Một là, các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ tìm cách thiết lập lại hệ thống tập trung và toàn trị hơn, nhưng cuối cùng sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu của một xã hội đang biến đổi nhanh chóng. Hai là, khi phải đối mặt với tình trạng rối loạn và phân rã, một nhà lãnh đạo mới có uy tín, đáp ứng được với cái cách sẽ xuất hiện và thiết lập nên một trật tự mới – có lẽ sẽ dân chủ hơn nhưng cũng có khả năng sẽ độc đoán hơn. Kịch bản thứ ba nguy hiểm hơn với việc Trung Quốc tiếp tục được đa nguyên hóa, nhưng không xây dụng được các định chế và chuẩn mực cần thiết cho một nền quản trị quốc gia có tinh thần trách nhiệm và liêm chính ở trong nước và có tính xây dụng khi đối ngoại. Con đường đó có thế dẫn đến sự hỗn loạn.

Nhưng hiện cũng có một kịch bản thứ tư, theo đó các nhà lãnh đạo Trung Quốc ra sức thúc đẩy đất nước tiến lên, thiết lập nền pháp trị và các cơ chế điều tiết phản ánh được đầy đủ hơn các lợi ích đa dạng của đất nước. Bắc Kinh cũng phải tăng cường các nguồn lực nhằm xây dựng tính chính đáng, bên cạnh duy trì tốc độ tăng trưởng, cải thiện cuộc sống vật chất của dân chúng, tăng cường vị thế toàn cầu bằng cách xây dựng các định chế dựa trên sự ủng hộ thực sự của người dân. Điều này không nhất thiết có nghĩa là biến chuyển thành một nền dân chủ đầy đủ, nhưng nó có nghĩa là phải có các điểm sau: sự tham chính của các cấp địa phương, minh bạch trong điều hành, các cơ quan tư pháp và chống tham nhũng trở nên độc lập hơn, một xã hội dân sự năng động, hiến định quyền kiểm soát đối với hành pháp, đồng thời các thể chế lập pháp và các tổ chức dân sự phải chuyển tải các lợi ích đa dạng của quốc gia. Chỉ sau khi các bước này được thực hiện, Chính phủ Trung Quốc mới có thế bắt đầu thử nghiệm việc để người dân có tiếng nói trong quá trình lựa chọn các nhà lãnh đạo tối cao của mình.

Những vấn đề chính hiện nay là liệu Tập Cận Bình có ủng hộ một tiến trình như vậy hay không, và liệu Ông có theo đuổi mục tiêu đó không. Những dấu hiệu ban đầu cho thấy các bộ phận ủng hộ cải cách kinh tế được tiếp thêm sức mạnh từ sự điều hành của Tập Cận Bình, và các chính sách quan trọng được thông qua tại Hội nghị TW 3 (2013) sẽ gia tăng áp lực với yêu cầu cải cách chính trị. Nhưng kỷ nguyên Tập Cận Bình chỉ vừa mới bắt đầu, và vẫn còn quá sớm đế nói rằng liệu khoảng thờị gian của ông phục vụ trong quân đội cũng như kinh nghiệm công tác ở các khu vực đô thị hóa, hiện đại hóa nhất và mang tính quốc tế – như Phúc Kiến, Chiết Giang Trạch Dân và Thượng Hải – có giúp cho ông có đủ quyền lực và tầm nhìn cần thiết để thúc đấy đất nước theo hướng phát triển của lịch sử hay không. Tập Cận Bình, cùng sáu thành viên khác của ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị, cơ quan quyền lực tối cao quyết định vận mệnh của Trung Quốc, là tập thể các thành viên có học vấn rộng hơn các vị tiền nhiệm. Sự đa dạng này có thể báo hiệu một kỷ nguyên sáng tạo, nhưng cũng có thể gây nên tình trạng tê liệt, xơ cứng.

Hiện cũng có mối hiểm họa ở phía trước và những nhân vật đã leo lên vị trí hàng đầu trong hệ thống chính trị có thể không đủ tầm nhìn vượt quá nó. Nhưng lịch sử cũng cho người ta niềm hy vọng: ở Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình đã có tầm nhìn vượt qua Mao Trạch Đông và hệ thống mà ông ta đã tạo ra ở Đài Loan, vào những năm 1980, Tưởng Kinh Quốc đã mở đầu cải cách tự do hóa mà trước đó cha của ông, Tưởng Giới Thạch từng ngăn chặn.

Những hiểm họa do sự chững lại gây nên hiện vẫn lớn hơn các mối nguy do việc phải thúc đẩy xã hội tiến lên, và Trung Quốc chỉ có thể hy vọng rằng giới lãnh đạo nhận ra sự thật này để đưa quốc gia tiến về phía trước, thậm chí cho dù không biết chính xác là tiến về đâu. Nếu Tập Cận Bình cùng các đồng chí của mình khống hành động như vậy, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng: tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại, tiềm năng con người bị lãng phí, và thậm chí bất ổn xã hội có thể xảy ra. Tuy nhiên, nếu các lãnh đạo mới của Trung Quốc tìm cách vạch ra một con đường hướng tới một hệ thống quản trị dựa trên luật pháp, mang tính nhân văn hơn và có sự tham gia của các thành phần- trong xã hội nhiều hơn – trong khi vẫn duy tri được tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và ổn định được xã hội – thì họ sẽ hồi sinh được quốc gia này. Đây chính là mục tiêu của những người yêu nước và cải cách trong hơn một thế kỷ ruỡi qua./.

 

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: