BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2389. TẠI SAO TRUNG QUỐC KÍCH ĐỘNG CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG?

Posted by adminbasam trên 26/02/2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ hai, ngày 24/02/2014

Trang mạng realclearworld.com ngày 13/2 đăng bài phân tích của tác giả Robert D. Kaplan, chuyên gia phân tích hàng đầu về địa chính trị của mạng tin tình báo Stratfor với tựa đề “Tại sao Trung Quốc kích động các nước láng giềng?”. Tác giả cho rằng các hành động hung hăng và đối đầu được kiểm soát là nhằm phục vụ mục đích chính trị nội bộ ở Trung Quốc. Sau đây là nội dung bài phân tích.

Trung Quốc sẽ đẩy căng thẳng lên tới mức độ nào? Tại sao họ lại đẩy căng thẳng lên tới mức như hiện nay ở khu vực Thái Bình Dương? Tuyên bố gần đây của Bắc Kinh về các quy định đánh bắt cá mới trong vùng lãnh hải tranh chấp đã làm dấy lên sự giận dữ của các nước láng giềng có biển và gây kinh ngạc cho Mỹ. Mỹ theo sát tuyên bố mới đây về Vùng Nhận dạng phòng không (ADIZ) trên các đảo tranh chấp ở biển Hoa Đông. Các máy bay B-52 của Mỹ từ đảo Guam đã bay tới khu vực này như một thách thức trước tuyên bố của Trung Quốc và như một tuyên bố để bảo vệ Nhật Bản, nước cũng đòi hỏi chủ quyền với các đảo này. Khi phải đối mặt với ý chí quyết tâm của quân đội Mỹ và Nhật Bản, liệu Trung Quốc có thể bảo vệ được tuyên bố chủ quyền với đảo Điếu Ngư mà Nhật Bản gọi là Senkaku hay không? Hay Trung Quốc có thể thực sự thống trị quần đảo Trường Sa ở Biển Đông hay không?

Trung Quốc dường như nói nhiều hơn làm. Ở một khía cạnh nào đó, Trung Quốc đang hành động ở cả biển Hoa Đông và Biển Đông ở vị thế yếu. Thật vậy, nhiều hệ thống cảnh báo sớm trên không và mặt đất của Trung Quốc cần thiết để thực thi ADIZ mới hoặc là quá xa vời hoặc vẫn còn đang trong quá trình sản xuất. Trong khi đó, Nhật Bản vượt lên trước về nền tảng kỹ thuật bởi đó là một phần sẵn có của quân đội Nhật Bản trong nhiều thập kỷ. Hậu cần hải quân và đường tiếp vận dài của Trung Quốc khiến việc chiếm đóng chính thức các hòn đảo trong quần đảo Trường Sa khó đạt được và việc duy trì sự chiếm đóng này càng khó khăn hơn.

Ngoại trừ Nhật Bản, có thể khẳng định chắc chắn rằng lực lượng hải quân và bảo vệ bờ biển của Trung Quốc có thể chế ngự bất kỳ một quốc gia cạnh tranh đơn nhất nào. Tuy nhiên, Trung Quốc không thể đối phó với bất kỳ một sự phối hợp nào của các quốc gia trong đó có Mỹ. Mỹ chính là trở ngại của bất kỳ hành động công khai nào nhằm thay đổi nguyên trạng như chiếm giữ các đảo, đối đầu quân sự hoặc thành lập vùng nhận dạng phòng không. Trong khi đó, Philippines đã lên tiếng kêu gọi mở rộng các căn cứ hải quân và không quân Mỹ trong và xung quanh nước này. Washington sẽ sớm triển khai một trong những tàu sân bay hiện đại nhất của mình tại Nhật Bản.

Tuy nhiên điều gì sẽ xảy ra nếu Chính phủ Trung Quốc chỉ đơn thuần là muốn gia tăng căng thẳng với Mỹ vì lợi ích của người dân trong nước trong khi lại tránh xung đột thực sự với Mỹ? Đó là một giả thuyết nguy hiểm song nó giải thích rõ thái độ cư xử của Trung Quốc. Trên thực tế, nó giải thích các hành động của Trung Quốc ở toàn bộ khu vực châu Á-Thái Bình Dương, hành động gây nhiều sóng gió trong dư luận song ở mặt nào đó là tương đối ôn hòa. Trung Quốc có tàu tuần duyên quanh các đảo và những tàu này thỉnh thoảng xua đuổi một tàu đánh cá của Philippines hay của Việt Nam quanh đó. Trung Quốc chủ yếu là “diễu võ giương oai”. Trong hầu hết các trường hợp, Trung Quốc về cơ bản không thay đổi thực tế chiến lược bởi vì nước này không thể làm được điều đó. Khả năng vượt trội của hải quân và không quân Trung Quốc vẫn chưa có. Không ngạc nhiên gì khi một lần nữa và trong nhiều trường hợp, Mỹ phần lớn đang bỏ qua những hành động này của Trung Quốc. Nói cách khác, hiện vẫn không có sự tăng cường của hải quân Mỹ trong khu vực này.

Do đó những gì chúng ta đang thấy chủ yếu là một loạt các cuộc đối đầu được kiểm soát nhằm phục vụ hoạt động chính trị nội bộ ở Trung Quốc, giữ cho tinh thần dân tộc chủ nghĩa ở mức độ cao nhằm củng cố cảm giác về sức mạnh đang tăng lên của Trung Quốc, một điều đặc biệt cần thiết cho giới lãnh đạo Trung Quốc trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế đang chậm lại. “Diễu võ giương oai” trên biển cũng giúp Trung Quổc định hình các cuộc thảo luận song phương với các nước láng giềng tranh chấp biển từ một vị thế của sức mạnh lớn hơn, hay ít nhất là đặt nền móng cho những khẳng định về chủ quyền sau này bằng cách nhấn mạnh sự bất lực của các quốc gia khác trong việc phản bác hoàn toàn các yêu sách của Trung Quốc. Rõ ràng đây là điều mà các nước láng giềng của Trung Quốc lo ngại. Hơn nữa, thông qua việc lực lượng hải quân và bảo vệ bờ biển của Trung Quốc đối chọi với một quốc gia như Philippines, chứ chưa nói đến Nhật Bản, Trung Quốc cho người dân trong nước thấy chế độ đang đối mặt với Mỹ, quốc gia có quan hệ hiệp ước đồng minh với Philippines.

Tuy nhiên, quan sát cách Trung Quốc thực sự hành xử ở cả Biển Hoa Đông lẫn Biển Đông trong vài năm qua có thể nhận thấy điều này. Khi các hành động đơn phương của Trung Quốc tạo ra quá nhiều sự chú ý từ Mỹ về cơ cấu đồng minh của nước này, khi mà cái giá cho các hành động này có thể vượt quá lợi ích thu được, thì Trung Quốc chỉ làm một hành động đơn giản chuyển sự chú ý tới một nơi nào khác. Ví dụ, Trung Quốc đã làm dấy lên những căng thẳng trong nhiều tuần liên tục ở quần đảo tranh chấp Trường Sa gần Philippines trên Biển Đông. Tuy nhiên, ngay khi Mỹ bắt đầu chú ý, đe dọa một sự can dự của hải quân Mỹ, Trung Quốc đã chuyển sự chú ý về quân sự và của dư luận sang Biển Hoa Đông và Nhật Bản. Trung Quốc đã không chấm dứt hoạt động tuần tra gần Philippines mà chỉ giảm phần nào và có hành động thể hiện ở nơi khác, xung quanh quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Do đó có khả năng là tranh chấp Biển Hoa Đông này sẽ lắng xuống chút ít trên mặt báo và Trung Quốc sẽ nâng mức độ khiêu khích trên biển gần ở Việt Nam hoặc Đài Loan. Do Trung Quốc không thể hoàn toàn vươn tới các vùng biển xa tại Thái Bình Dương với việc hải quân và không quân Mỹ theo dõi từng động thái của nước này, nên các hành động của hải quân và không quân Trung Quốc dường như chủ yếu là để có được các hình ảnh nhằm quảng bá ở trong nước.

Do năng lực quân sự của Trung Quốc đang phát triển với tốc độ nhanh hơn hầu hết các nước châu Á khác nên dường như Trung Quốc muốn là một láng giềng tốt, không kích động khủng hoảng, và đơn giản là chờ thời cơ qua các năm mối tương quan sức mạnh quân sự ở Thái Bình Dương dần thay đổi theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Một chiến lược như vậy sẽ thu hút nhiều quốc gia trong khu vực gần quỹ đạo của Bắc Kinh, qua đó giảm bớt sự phụ thuộc về tâm lý của các nước này vào Mỹ. Trên thực tế, nếu các nhà lãnh đạo Trung Quốc không chịu áp lực nào ở trong nước thì họ sẽ chơi một ván cờ dài hơi với nguyên tắc tối thượng: không có hành động khiêu khích quân sự ở nước ngoài, thậm chí cả khi Trung Quốc có được một sức mạnh quân sự không thể lay chuyển. Trong nhiều năm trước đây, theo lời khuyên của cựu lãnh đạo Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc đã làm điều đó: giữ năng lực quân sự tương đối yên tĩnh, các thách thức về lãnh thổ khá kín tiếng.

Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc rõ ràng cảm thấy rằng họ đang bị áp lực từ trong nước. Kỳ tích về kinh tế của Trung Quốc không còn giống như vài năm trước đây. Cải cách căn bản và tái cân bằng là điều không thể né tránh được nữa. Thậm chí ngay cả khi những cải cách như vậy thành công và các nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc trở thành những người hùng trên con đường mà Đặng Tiểu Bình đã khởi xướng, vẫn khó có thể tránh khỏi nhiều bất ổn xã hội và chính trị. Chủ tịch mới của Trung Quốc và là nhà lãnh đạo đảng Tập Cận Bình cần các đòn bẩy giúp ông có thể giảm bớt áp lực từ công chúng về đội ngũ lãnh đạo mới của mình. Chủ nghĩa dân tộc có thể dễ dàng được đẩy lên trong một hoàn cảnh như vậy.

Tóm lại, Trung Quốc, thông qua kích động các cuộc khủng hoảng nối tiếp khủng hoảng ở các vùng biển Hoa Đông và Biển Đông, dường như đang hành động đi ngược lại các lợi ích chiến lược trung hạn của mình ở nước ngoài để đổi lấy lợi ích ngắn hạn ở trong nước. Xét cho cùng, hành động khiêu khích như “bắt nạt” Philippines và gia tăng căng thẳng với Nhật Bản sẽ chỉ khiến các quốc gia này phụ thuộc nhiều hơn vào sức mạnh của Mỹ, điều mà Trung Quốc không muốn thấy tại khu vực. Các chế độ độc tài, ít nhất là theo định nghĩa, thường không thống trị trên cơ sở sự đồng ý của người bị trị. Tuy nhiên, trong trường hợp này cũng như nhiều trường hợp khác, nó chỉ ra rằng ngay cả các nhà độc tài cũng rất cần có sự đồng ý của công chúng và thường hành động phản tác dụng để có được nó.

Tất nhiên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc và người dân của họ tin tưởng mạnh mẽ vào các đòi hỏi chủ quyền của họ ở Thái Bình Dương. Họ sẽ nói rằng họ đơn thuần chỉ là khẳng định những quyền lợi của mình khi đối mặt với tuyên bố chủ quyền sai trái của các quốc gia khác ở khu vực được bá quyền Mỹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, một lần nữa phải thấy rằng, khả năng thực thi các tuyên bố về chủ quyền này của Trung Quốc sẽ tăng lên nếu như nước này tiếp tục củng cố sức mạnh quân sự và có yếu tố bất ngờ sau đó.

Trong nhiều thập kỷ qua, Mỹ tin rằng sức mạnh của Trung Quốc sẽ chỉ ôn hòa hơn khi Trung Quốc được tự do hóa với việc công luận đóng một vai trò lớn hơn trong việc định hình chính sách. Tuy nhiên, yếu tố trái ngược đang dường như là sự thật. Khi lãnh đạo Trung Quốc cảm thấy cần phải lắng nghe ý kiến công chúng nhiều hơn thì thái độ cư xử của chế độ này lại trở nên hung hăng hơn và mang tính dân tộc chủ nghĩa hơn. Do đó, trong khi cuộc khủng hoảng ở Biển Hoa Đông này nhiều khả năng sẽ suy yếu dần thì nhiều cuộc khủng hoảng tương tự khác có khả năng sẽ lại bùng phát, về lâu dài, khi năng lực qưân sự của Trung Quốc bắt kịp với những tuyên bố hùng hồn của nước này, ý chí của các nước láng giềng trong việc phản bác tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc sẽ giảm xuống./.

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: