BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2356. TRUNG QUỐC VẪN LÀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA CHÂU Á-THÁI BÌNH DƯƠNG?

Posted by adminbasam trên 19/02/2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Hai, ngày 17/02/2014

Theo báo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng (Hong Kong), tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của khu vực châu Á sẽ giảm từ 5% vào 10 năm trước xuống còn 4,7%, nền kinh tế khu vực cũng sẽ tăng trưởng bền vững hơn, và hoạt động thương mại trong khu vực theo đó cũng sẽ phát triển mạnh mẽ hơn.

Trong bối cảnh các nước phát triển đang từng bước thoát khỏi bóng đêm của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, trong 12 tháng tới, nền kinh tế của khu vực châu Á-Thái Bình Dương cũng sẽ bước vào giai đoạn phục hồi. Mặc dù phải chịu ảnh hưởng từ việc Mỹ và chính phủ các khu vực khác đang từng bước cắt giảm quy mô thu mua trái phiếu, nhưng một viễn cảnh thương mại tươi sáng vẫn đang mở ra trước mắt khu vực châu Á- Thái Bình Dương.

Khu vực châu Á-Thái Bình Dương nên dựa vào những tình hình này để điều chỉnh chiến lược đàm phán, thu hút đầu tư tài chính-thương mại và chiến lược đối phó với khủng hoảng trong năm 2014. Việc tiếp theo sẽ là thảo luận chi tiết về những chiến lược đó. Tuy nhiên, muốn làm được điều này trước hết cần phải có một cái nhìn tổng thể về tình hình hiện nay ở khu vực.

Một số người cho rằng trong bối cảnh một bộ phận các ngân hàng trung ương rập khuôn chính sách tiền tệ, hiệu ứng bất đối xứng trong chính sách tiền tệ của khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ làm tăng mức độ thiệt hại từ rủi ro tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, theo dự đoán của chúng tôi, với đà chuyển biến ngày càng tích cực của nền kinh tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương, các vụ doanh nghiệp phá sản cũng sẽ giảm dần. Dựa vào số liệu các doanh nghiệp phá sản chính thức được công bố trên phạm vi toàn cầu, có thể thấy tỉ lệ phá sản ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương là thấp nhất, dự đoán xu hướng này sẽ được giữ vững trong vòng 12 tháng tới.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, các nhà nước và các doanh nghiệp cần phải vạch ra kế hoạch chiến lược mới nhằm thích ứng với sự phát triển trong tương lai. Trên thực tế, khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang đón chờ một mô hình chu kỳ phát triển mới, mà mọi người vẫn thường gọi là mô hình chu kỳ 3S – ổn định, bền vững, nhưng phát triển tương đối chậm.

Sự phát triển của nền kinh tế châu Á-Thái Bình Dương vẫn là động lực lớn thúc đẩy tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của thế giới, tiếp tục duy trì mức đóng góp cao nhất là 50% – 60%. Khu vực này do 5 khu vực kinh tế lớn hợp thành, bao gồm Tổ chức Phát triển Họp tác Kinh tế (OECD – với hai thành viên khu vực là Nhật Bản và Hàn Quốc), khu vực Đại Trung Hoa (Trung Quốc Đại lục cùng với Hong Kong, Macau, Đài Loan), 5 nước chính trong ASEAN (Indonesia, Philippines, Malaysia, Singapore và Thái Lan), Nam Á (Ấn Độ và các nước láng giềng) cùng với châu Đại Dương (Australia và New Zealand).

Mặc dù khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ vẫn là đầu tàu kinh tế của thế giới, và Trung Quốc sẽ vẫn là động lực tăng trưởng kinh tế của khu vực này, nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ giảm từ 5% vào 10 năm trước xuống còn 4,7%. Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế cũng sẽ bền vững hơn, hoạt động thương mại trong khu vực nhờ đó cũng sẽ phát triển mạnh mẽ hơn, góp phần làm giảm xung đột trong quá trình phát triển của cả khu vực.

Đồng thời, tình hình xuất khẩu yếu kém ở các quốc gia phát triển nhiều khả năng sẽ cản trở sự phát triển của khu vực này, ít nhất là trong giai đoạn đầu. Mặc dù chỉ vừa mới thoát khỏi bóng đen của cuộc khủng hoảng nợ công, nhưng khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) vẫn được coi là một trong những khu vực có triển vọng kinh tế tương đối lạc quan. Viễn cảnh kinh tế Trung Quốc cũng được dự đoán tương đối sáng sủa vì hiện nay quốc gia này đang tiến hành cuộc điều chỉnh cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử.

Như đã phân tích ở trên, trong một nền kinh tế đầy rẫy những nguy cơ, những cơ hội và thách thức luôn song hành cùng nhau.

Cùng với việc tốc độ tăng trưởng đầu tư giảm trên diện rộng, dự đoán năm 2014, tăng trưởng GDP của Trung Quốc sẽ giảm xuống còn 7,5%. Chúng ta hy vọng Trung Quốc sẽ thực hiện chuyển tiếp giai đoạn một cách suôn sẻ. Một số người bày tỏ lo ngại đối với tình hình phát triển của ngành ngân hàng Trung Quốc bởi vốn lưu động của hệ thống tín dụng đen có thể chiếm tới 34% tổng GDP vào năm 2014. Tuy nhiên, các cơ quan chính phủ có rất nhiều biện pháp. Khó khăn lớn nhất để có thể giải quyết vấn đề này là làm sao để giảm bớt việc đầu tư thái quá.

Kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc năm 2014 có thể lên đến 210 tỷ USD, trong đó nhu cầu về linh kiện điện tử vẫn là lớn nhất, nhu cầu năng lượng tiếp tục xếp thứ 2. Nhu cầu thị trường này của Trung Quốc sẽ ảnh hưởng lớn đến đến các khu vực, thậm chí là toàn thế giới.

Do Chính phủ Trung Quốc hiện nay chủ yếu dựa vào việc bán đất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà không dựa vào việc đầu tư nền kinh tế, cho nên chính sách điều chỉnh cơ cấu của Trung Quốc sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển kinh tế. Chúng tôi tin chắc rằng trong một năm tới, nhu cầu thị trường ngoài nước vẫn sẽ là động lực chính cho tăng trưởng thương mại, đồng thời điều đó cũng góp phần thúc đẩy thực hiện mục tiêu đưa GDP năm 2014 lên 7,5%. Chính quyền mới cũng ủng hộ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các đơn vị xuất khẩu và các ngành công nghiệp chiến lược (như ngành năng lượng tái tạo và các ngành có giá trị gia tăng cao đòi hỏi tính sáng tạo). Những biện pháp này cũng sẽ từng bước tạo ra ảnh hưởng đối với tăng trưởng GDP.

Năm 2013 vừa qua, tỉ lệ doanh nghiệp Trung Quốc phá sản tương đối thấp, gần như ổn định. Năm 2014, cùng với việc tăng số lượng các doanh nghiệp, tỉ lệ doanh nghiệp phá sản có khả năng tăng nhẹ thêm 2%.

Trong tương lai gần, nhờ có những chính sách tài chính và tiền tệ có lợi, Nhật Bản vẫn là quốc gia phát triển mạnh mẽ nhất ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương. Tuy nhiên, nếu như chính sách tài chính và tiền tệ của Nhật Bản bị chi phối bởi việc cắt giảm quy mô thu mua trái phiếu của chính phủ thì tiềm lực phát triển của nước này ít nhiều cũng sẽ bị ảnh hưởng.

Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản sẽ tăng thuế tiêu dùng từ mức 5% lên 8% vào tháng 4/2014 nhằm tạo thêm nguồn thu và giảm đầu tư công. Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản còn ban hành một số chính sách kích thích bằng cách cắt giảm một vài loại thuế khác. Các chính sách này xét về tổng thể là tương đối khả quan, tuy nhiên, trong thời gian ngắn trước mắt nó vẫn có thể gây ra những ảnh hưởng nhất định đến sự tăng trưởng của nền kinh tế.

Nhật Bản đã từng tăng thuế giá trị gia tăng vào năm 1997 (từ 3% lên 5%), nhưng tình hình lúc bấy giờ không mấy lạc quan, chi tiêu hộ gia đình theo đó cũng sụt giảm một cách trầm trọng. Lần này, mặc dù các biện pháp được đưa ra có thể cản trở tăng trưởng chi tiêu hộ gia đình, nhưng theo dự đoán của chúng tôi, chỉ số này vẫn sẽ tăng song tốc độ tăng sẽ chậm. Để giải quyết nợ công khổng lồ của Nhật Bản, quốc gia này có khả năng sẽ áp dụng nhiều biện pháp khác nhằm cắt giảm chi tiêu công.

Năm 2014, do sức cạnh tranh khốc liệt cùng với sự mất giá của đồng Yên, Nhật Bản sẽ dựa vào các hoạt động ngoại thương để thúc đẩy phát triển kinh tế. Kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản năm 2014 được kỳ vọng sẽ tăng khoảng.7%.

Tóm lại, cùng với ngoại thương tiếp tục được xem là đầu tàu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng GDP của những trung tâm đầu tư lớn như Đài Loan, Hong Kong, Singapore được kỳ vọng sẽ lần lượt tăng 3%, 3,5% và 3,8%, nhu cầu của thế giới cũng sẽ tăng lên.

Trong phạm vi ASEAN, kinh tế Malaysia có triển vọng tương đổi lạc quan. Năm 2014, theo đà hồi phục của kim ngạch xuất khẩu, tăng trưởng GDP của Malaysia được dự báo sẽ tăng 4,6%, niềm tin của người dân đối với việc điều chỉnh hệ thống tài chính cũng sẽ lớn hơn, lượng vốn đầu tư thương mại cũng sẽ tăng cho dù tốc độ tăng tương đối chậm. Dự đoán kim ngạch xuất khẩu của Malaysia sẽ con số 24 tỷ USD, trong đó nhu cầu từ Trung Quốc chiếm đến 1/4. Các công ty điện tử và năng lượng sẽ trở thành những đối tượng hưởng lợi chính.

Kim ngạch xuất khẩu của Singapore dự đoán sẽ tăng lên 65 tỷ USD trong năm 2014, trong đó Ấn Độ, Malaysia và Trung Quốc sẽ là 3 thị trường nhập khẩu quan trọng nhất của Singapore ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, thậm chí là toàn thế giới. Điện tử, năng lượng, sản phẩm hóa học là những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu. Năm 2013, số lượng doanh nghiệp phá sản ở 3 quốc gia này đã giảm đáng kể, dự đoán tỷ lệ này sẽ còn tiếp tục giảm trong năm 2014.

Còn về Hàn Quốc và New Zealand, cùng vói việc tình trạng vỡ nợ giảm đi một cách đáng kể, tỷ lệ doanh nghiệp phá sản cũng giảm khá nhiều. Trong khi đó tại Australia, con số này lại tăng lên ở mức độ vừa phải. Tình trạng vỡ nợ cách nói duy nhất ám chỉ “phá sản” một cách thực sự) của Hàn Quốc năm 2013 giảm rõ rệt so với dự đoán (giảm 13%). Sở dĩ nước này có được tăng trưởng kinh tế liên tục như vậy là nhờ sự gia tăng mạnh mẽ của nhu cầu trong nước cùng với bước phát triển đột phá của ngoại thương. New Zealand cũng là một ví dụ như vậy. Còn ở Australia, tỷ lệ doanh nghiệp phá sản duy trì ở mức 3%, tăng trưởng kinh tế của nước này lại dựa vào thương mại có độ bất ổn định tương đối lớn (hay còn gọi là thương mại tương đối yếu kém).

Sự phát triển liên tục của 3 quốc gia này có được là nhờ vào sự gia tăng mạnh mẽ của nhu cầu trong nước cùng với bước phát triển đột phá của lĩnh vực ngoại thương. Đương nhiên là ngoại thương của ba nước này lại phụ thuộc vào cơ chế tái cân bằng của Trung Quốc.

Một viễn cảnh kinh tế tươi sáng đang ở phía trước khu vực châu Á- Thái Bình Dương. Tuy nhiên, đằng sau sự tăng trưởng thương mại, khu vực này nhiều khả năng sẽ vạch ra những chính sách huy động đầu tư thương mại phức tạp hơn nhằm thích ứng với sự phát triển của thời đại. Tỷ lệ phá sản giảm bớt chứng tỏ một tiến trình mới đã bước vào giai đoạn khởi đầu. Bảo hiểm tín dụng thương mại (TCI) đã bắt đầu tạo ra những ảnh hưởng nhất định đối với các trung tâm kinh tế như Hong Kong và Singapore.

Ngành chế tạo, thương mại và cung ứng dịch vụ ngày càng phụ thuộc vào hoạt động tín dụng chứ không còn đặt niềm tin vào các điều khoản đảm bảo, như tín dụng thư (LC) – một mô hình giao dịch truyền thống ở châu Á.

Xu thế mới này được lý giải như sau: “Các khoản phải thu” là nguồn vốn lớn nhất trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, thông thường chiếm đến 1/3 tổng tài sản của công ty. Ban lãnh đạo các công ty thương mại đã nhạy bén phát hiện ra rằng, tình trạng tín dụng của công ty (bao gồm cả tín dụng khách hàng) một khi có chiều hướng xấu đi, sẽ gâv ra những ảnh hưởng rõ rệt. Điều này càng đúng hơn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Theo dự tính, 1/3 nguồn vốn vay rơi vào tình trạng chậm trễ, điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến luồng lưu chuyển tiền mặt của doanh nghiệp. Chính vì vậy, các doanh nghiệp nên tìm một nhà cung cấp tín dụng đáng tin cậy cũng như xây dựng hồ sơ tín dụng khách hàng uy tín, đồng thời tiến hành giải quyết rủi ro sai hẹn. Trong một thị trường “đói khát” như hiện nay, bảo hiểm tín dụng là một biện pháp đơn giản nhất, có hiệu quả nhất nhàm bảo đảm các khoản phải thu và vượt qua các đối thủ cạnh tranh./.

 

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: