BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2351. PHẢN ỨNG HAI MẶT CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI CHIẾN LƯỢC “XOAY TRỤC” CỦA MỸ

Posted by adminbasam trên 18/02/2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Chủ Nhật, ngày 16/02/2014

Theo Thời báo châu Á Trực tuyến, hai năm sau khi Mỹ công bố chính sách tái cân bằng về phía khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Trung Quốc dường như đã phác thảo một chiến lược hai mặt trong phản ứng đang trở nên rõ ràng hơn trong thời gian gần đây.

Một mặt, Trung Quốc đã tiếp cận khu vực Đông Nam Á và các quốc gia Trung Á, đề xuất việc thiết lập hai “Con đường tơ lụa ” thông qua ký kết đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng và các thỏa thuận thương mại tự do. Mặt khác, nước này đã ngày càng gia tăng thái độ cứng rắn đối với Philippines và Nhật Bản, hai quốc gia đang ngày càng gần nhau hơn trong một chiến lược kiềm chế Trung Quốc trong khu vực.

Đến cuối năm 2011, thông qua những tuyên bố chính thức cấp cao, Chính quyền Barack Obama đã bắt đầu tuyên bố chiến lược tái cân bằng về khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chiến lược này còn được gọi là chính sách “xoay trục” chiến lược sang châu Á. Sự định hướng chiến lược như vậy khẳng định rằng Mỹ sẽ hướng trọng tâm trong các chính sách đối ngoại và an ninh của nước này vào khu vực xung quanh bờ biển châu Á- Thái Bình Dương, từ tiểu lục địa Ấn Độ đến khu vực Đông Bắc Á.

Bằng cách này, sự hiện diện ngoại giao, quân sự và kinh tế của Mỹ trong khu vực sẽ được tăng cường. Định hướng này đã được thông qua dựa trên nhận định rằng tăng trưởng kinh tế của châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, và quá trình hiện đại hóa quân sự của nước này khiến khu vực châu Á-Thái Bình Dương trở nên quan trọng hơn đối với các lợi ích của Mỹ, đặc biệt là trong bối cảnh Mỹ rút quân khỏi Iraq và Afghanistan.

Chính sách “xoay trục” sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương có một đặc điểm kép: nó có thể là một phần trong chiến lược hợp tác với khu vực và gia tăng sự hiện diện của Mỹ, và cũng có thể là một phần trong chiến lược kiềm tỏa Trung Quốc. Tuy nhiên, những gì đã được đưa vào thực hiện cơ bản là một chiến lược ngăn chặn, được minh chứng bằng sự hiện diện và bố trí quân sự linh hoạt hơn trong khu vực, với việc phân bổ quân đến Philippines, Australia và Singapore.

Một chiến lược quân sự nhằm vào một cuộc xung đột trong tương lai với Trung Quốc đã được thực hiện, với trọng tâm chiến lược nằm trong khái niệm Tác chiến Không quân-Hải quân. Bên cạnh đó, các cuộc đàm phán đã được tăng cường xung quanh Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (một hiệp định thương mại tự do không có sự góp mặt của Trung Quốc). Mỹ đã đề xuất hiệp định này trong suốt giai đoạn của Chính quyền Tổng thống George W.Bush. Hiệp định này bao gồm những điều khoản như nới lỏng luật lao động và tự do hóa các dịch vụ cũng như tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Nó đã và đang được 11 quốc gia hai bên bờ Thái Bình Dương đàm phán.

Đáp lại, Trung Quốc dường như đã thông qua một cách tiếp cận hai mặt: Nước này thể hiện chắc chắn sẽ đáp trả chiến lược kiềm tỏa trong khi hoan nghênh một chiến lược can dự. Trung Quốc cho thấy những lợi ích tiềm năng của việc hợp tác bằng cách đề xuất các thỏa thuận thương mại và một “Vành đai kinh tế Con đường tơ lụa”. Tuy nhiên, việc thiết lập Vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ) chồng lấn lên vùng phòng không của Nhật Bản và sự hỗ trợ ít ỏi cho Philippines sau cơn bão Haiyan chứng tỏ rằng Trung Quốc sẽ không khoan dung với bất kỳ hành động khiêu khích nào trong các vùng lãnh hải tranh chấp.

Phản ứng hai mặt: Răn đe quân sự và hai “Con đường tơ lụa”

Việc thiết lập ADIZ trên biển Hoa Đông là một phản ứng của Trung Quốc trước thái độ ngày càng hung hăng của Nhật Bảns nước hoan nghênh kế hoạch tái cân bằng của Mỹ đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương thông qua: về mặt kinh tế, tham gia Hiệp đinh đối tác xuyên Thái Bình Dương; về mặt quân sự, ủng hộ học thuyết “Tác chiến Không quân- Hải quân” của Lầu Năm Góc bên cạnh việc gia tăng đáng kể ngân sách quốc phòng của mình.

Các cuộc tập trận quân sự do Trung Quốc và Malaysia tiến hành có thể thể hiện cùng một diễn biến của hành động này. vẫn cần phải chờ xem Trung Quốc sẽ phản ứng như thế nào trước sự tái lập quan hệ giữa Nhật Bản và Ấn Độ, hai nước có năng lực quân sự và sức mạnh kinh tế to lớn.

Như một phần trong cuộc tấn công ngoại giao rộng lớn hơn, được các nhà phân tích mô tả là một chính sách gây cảm tình, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã thực hiện ba chuyến công du cấp cao tới một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và Trung Á hồi tháng 9 và 10/2013. Tại khu vực Trung Á, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đến thăm Kazakhstan, Uzbekistan, Turkmenistan và Kyrgyzstan. Khi đó, một thỏa thuận cung cấp dầu mỏ quan trọng với Turkmenistan và một quan hệ đối tác chiến lược với Kyrgyzstan đã được ký kết.

Sau đó, trong tháng 10/2013, Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã gần như đồng thời thực hiện các chuyến thăm đến Indonesia, Thái Lan, Việt Nam và Brunei, Nhân dịp này, một thỏa thuận trị giá 25 tỷ USD đã được đề nghị với Malaysia, cũng như một hiệp ước về các tranh chấp trên Biển Đông đã được ký kết. Sự vắng mặt của Tổng thống Mỹ Barack Obama tại những hội nghị thượng đỉnh của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (APEC) do các vấn đề trong nước với Quốc hội Mỹ càng làm gia tăng sự quan trọng đối với các vấn đề như vậy.

Trong những chuyến thăm Đông Nam Á và Trung Á của mình, Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường đã đề xuất việc thiết lập hai “Con đường tơ lụa” mới, gồm một tuyển đường trên bộ ở khu vực Trung Á và một tuyến đường biển chạy qua khu vực Đông Nam Á. Những khái niệm như vậy là sự mô phỏng các tuyến đường thương mại mà qua đó nhiều loại hàng hóa đã được thông thương trong thời Trung cổ. Phiên bản “con đường tơ lụa” trên bộ đã kết nối nền văn minh Trung Hoa với phương Tây thông qua khu vực Trung Á, đạt đến đỉnh điểm trong thời kỳ đế chế Mông Cổ. Phiên bản “Con đường tơ lụa” trên biển có lộ trình chính là Án Độ Dương.

Sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc và tiếp sau đó là sự gia tăng nhu cầu năng lượng cũng như việc tiêu thụ hàng hóa đã làm hồi sinh nhu cầu về các tuyến đường như vậy. Mặc dù hầu hết nguồn cung cấp năng lượng của Trung Quốc được vận chuyển bằng đường biển, nhưng con đường tơ lụa mới này sẽ bao gồm một loạt các dự án cơ sở hạ tầng năng lượng và giao thông vận tải giúp kết nối khu vực Đông Á với châu Âu thành tuyến đường Á-Âu. Tuyến đường hàng hải này, được công bố tại Hội nghị cấp cao Đông Á, sẽ được cụ thể hóa thông qua sự gia tăng lưu lượng hàng hải và hoạt động xây dựng cảng biển ở Đông Nam Á.

Tuy nhiên, trên thực tế Mỹ là nước đầu tiên đề xuất việc xây dựng một “con đường tơ lụa mới” tại Âu-Á như là một biện pháp để ổn định Afghanistan sau khi họ rút quân khỏi nước này, bằng cách biến nơi đây thành một trung tâm thương mại và năng lượng của khu vực. Mặc dù Mỹ đã có những tiến triển về mặt này, nhưng Trung Quốc lại- đang là nước đi đầu trong việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng khu vực này. Trong bài phát biểu của mình tại Kazakhstan, Chủ tịch Tập Cận Bình đã đề xuất rằng “Con đường tơ lụa” mới không chỉ là một tuyến đường quá cảnh mà còn là một “Vành đai thịnh vượng” kéo dài từ biển Thái Bình Dương đến biển Baltic.

Tại Hội nghị thượng đỉnh APEC ở Bali, trong một sự đề cập rõ ràng tới hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, nhà lãnh đạo Tập Cận Bình cũng đã bảo vệ rằng “bất kỳ sự dàn xếp nào cũng sẽ dẫn đến quan hệ hợp tác chứ không phải là một mối quan hệ đối đầu; một tư duy cởi mở chứ không phải là tư duy độc đoán; những kết quả hai bên cùng có lợi chứ không phải là một kết quả của trò chơi được mất ngang nhau; và sự hội nhập chứ không phải là chia rẽ”. Mặc dù các cuộc đàm phán gần đây đã tiến triển trong một số vấn đề, ví dụ như hạn chế hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, nhưng vẫn vấp phải sự phản đối từ phía Malaysia, Việt Nam và Brunei.

Cũng trong dịp này, Chủ tịch Trung Quốc đã đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương giữa Trung Quốc và Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) lên tới 1 nghìn tỷ USD vào năm 2020. Tại Hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc-ASEAN ở Brunei, Thủ tướng Lý Khắc Cường đã tái khẳng định-ý định thành lập một khu vực thương mại tự do – được biết đến với tên gọi Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) – giữa ASEAN và năm quốc gia hiện nay vẫn duy trì các thỏa thuận thương mại tự do với tổ chức khu vực này (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand).

Cả hai nhà lãnh đạo Trung Quốc đều nhấn mạnh vai trò hiện nay của Trung Quốc trong lĩnh vực ngoại thương ở tất cả các quốc gia mà họ đến thăm. Đồng thời, họ đã đặt ra những mục tiêu đầy tham vọng về ngoại thương và xây dựng cơ sở hạ tầng, cho thấy tầm quan trọng của Trung Quốc đối với bất kỳ dự án kinh tế nào trong khu vực.

Trung Quốc đã khởi xướng sự hòa giải này với ASEAN vào tháng 6/2013 khi nước này ký kết một chương trình hợp tác 10 điểm với Việt Nam, trong đó bao gồm nhiều vấn đề từ các thỏa thuận hợp tác an ninh cho đến triển vọng thăm dò khí đốt chung tại Vịnh Bắc Bộ. Mặc dù những tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam tại khu vực này đã được giải quyết trong năm 2005, nhưng một hiệp định như vậy có thể làm cơ sở cho việc giải quyết những tranh chấp lãnh hải tại các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Điều này đòi hỏi một sự liên quan đáng chú ý do thực tế là Việt Nam, cùng với Philippines, là một trong những nước đi đầu phản đối Trung Quốc trong khối ASEAN, một tổ chức với các diễn đàn đa phương được sử dụng để ngăn chặn những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Bằng cách cho thấy những lợi ích về một mối quan hệ lớn với Trung Quốc, các nước ASEAN đã trở nên gắn kết hơn và buộc phải cải thiện quan hệ với Trung Quốc, do đó cô lập Philippines trong sự phản đối mang tính hệ thống của họ đối với nước láng giềng lớn nhất của họ.

“Cuộc trường chinh về phía Tây”

Sự chú ý ngày càng gia tăng của Trung Quốc đến các khu vực Trung Á, Nam Á và Trung Đông đã được xác định bằng một chiến lược “trường chinh về phía Tây,” như đã được đề xuất bởi Giáo sư Vương Tập Tư, Viện trưởng Viện Quan hệ Quốc tế tại Đại học Bắc Kinh. Ý tưởng cốt lõi của chiến lược này là vạch ra kế hoạch cho Trung Quốc về mặt ngoại giao và kinh tế tại các khu vực mà nước này có những lợi ích chung với Mỹ, ví dụ như việc bình ổn Afghanistan và đảm bảo hoạt động cung cấp dầu mỏ. Mục tiêu của chiến lược này là đa dạng hóa hệ thống cung cấp năng lượng, sự ổn định của khu Vực biên giới phía Tây Trung Quốc và thể hiện tiềm năng hợp tác với Mỹ.

Những chỉ dấu khác của công cuộc “trường chinh về phía Tây” này là việc xây dựng mạng lưới giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng năng lượng tại khu vực Trung Á; sự tăng cường đầu tư của Trung Quốc ở Afghanistan; chuyến thăm của một ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc tới Afghanistan; các cuộc tham vấn 3 bên Trung Quốc – Pakistan – Afghanistan do Trung Quốc thúc đẩy; sự tái lập quan hệ hữu nghị với Pakistan; và quyết định của Thổ Nhĩ Kỳ trong việc mua hệ thống phòng không HQ-9 của Trung Quốc.

Mặc dù hầu hết các sáng kiến đều không trực tiếp đụng chạm tới những lợi ích của Mỹ, thậm chí còn thường xuyên bao hàm cả những lợi ích đó, song một số diễn biến có thể được hiểu là sự bành trướng. Điều này được minh họa bằng việc bán các hệ thống phòng không cho Thổ Nhĩ Kỳ và việc Mỹ phản đối trước quyết định của Thổ Nhĩ Kỳ.

Sự hiện diện ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực này, cùng với những thách thức mà Mỹ phải đối mặt ở Trung Đông, cũng cho thấy sự cần thiết để Mỹ phải duy trì sự gắn kết với khu vực này như một phần trong chiến lược của họ đối với Trung Quốc.

Các cuộc tranh luận rằng những khó khăn ở khu vực Trung Đông sẽ khiến cho chính sách “xoay trục” sang châu Á của Mỹ không thể thực hiện được, dường như đang dần biến mất. Bất chấp sự vắng mặt của Tổng thống Obama tại các hội nghị thượng đỉnh ở châu Á cùng các cuộc tấn công ngoại giao và kinh tế của Trung Quốc, ngân sách quốc phòng và những tài liệu học thuyết của Mỹ vẫn trực tiếp hướng tới việc phát triển khả năng Tác chiến Không quân-Hải quân, một nhánh quân sự trong chính sách “xoay trục” của Mỹ sang châu Á.

Mặc dù việc kiềm tỏa Trung Quốc là trọng tâm trong chiến lược tái cân bằng đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương hiện nay, nhưng phản ứng hai mặt của Trung Ouốc dường như lại tạo điều kiện cho nhiều mối quan hệ hợp tác hơn trong khu vực, cũng như với Mỹ. Mặt khác, đối với Mỹ, những hành động của Trung Quốc như việc thiết lập ADIZ có thể đựợc xem như dấu hiệu của một Trung Quốc ngày càng hung hăng và quyết liệt hơn khi họ bảo vệ những lợi ích của mình.

Nói về Trung Quốc, cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger đã phác họa tầm nhìn về một viễn cảnh khác trong chiến lược tái cân bằng sang khu vực châu Á của Mỹ. ông Henry Kissinger đã đề xuất xây dựng một “cộng đồng Thái Bình Dương”, một kiểu môi trường đa phương, trong đó Mỹ, Trung Quốc và các nước châu Á-Thái Bình Dương còn lại có thể phát triển niềm tin chiến lược thay vì gia tăng những căng thẳng và cạnh tranh. Đó là một quan điểm thiên về sự can dự đối với chính sách : ”xoay trục” sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trái ngược với sự kiềm chế đang được tiến hành hiện nay.

Đặc điểm hai mặt trong chính sách “xoay trục” của Mỹ, cũng như phản ứng hai mặt của Trung Quốc, cho thấy sự chia rẽ có hệ thống và mang tính ý thức hệ của các nhà hoạch định chiến lược ở cả hai quốc gia. Đặc điểm này cũng phù hợp với tình thế tiến thoái lưỡng nan mà Trung Quốc và Mỹ hiện đang phải đối mặt: chấp nhận khả năng can dự và hợp tác song phương hoặc “đóng băng” các mối quan hệ giữa hai nước và biến chính sách đối ngoại thành một trò chơi được mất ngang nhau, có khả năng dẫn tới một cuộc xung đột./.

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: