BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2281. Nhà nước pháp quyền

Posted by adminbasam trên 27/01/2014

Phan Thành Đạt

Nền dân chủ đa đảng và Nhà nước pháp quyền là những nguyên tắc chủ yếu để đảm bảo các quyền tự do cho con người.

(Tuyên ngôn Copenhague, ngày 29 tháng 06 năm 1990)

(Kỳ 1)

image002Luật hiến pháp đưa ra ba điều kiện bắt buộc để trở thành Nhà nước: Lãnh thổ, một hay nhiều cộng đồng người có mong muốn cùng chung sống trên lãnh thổ đó, để cùng nhau xây dựng tương lai. Ngoài ra, Nhà nước cần có chủ quyền bên trong và bên ngoài lãnh thổ. Theo quan điểm của Karl Marx, Nhà nước là một bộ máy trấn áp giai cấp bị trị, nhằm phục vụ giai cấp thống trị, vì trong chế độ tư bản, Nhà nước trở thành công cụ của giai cấp tư sản để phục vụ mục đích bóc lột giai cấp vô sản. Như vậy, Nhà nước là nơi tồn tại của giai cấp này bóc lột giai cấp khác, muốn loại bỏ áp bức bóc lột giữa con người với con người, cần xây dựng một xã hội lí tưởng không có giai cấp, điều này sẽ kéo theo sự biến mất của Nhà nước. Quan điểm triệt để của Karl Marx cản trở nhiều đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền.

Nhà nước pháp quyền là khái niệm dùng để chỉ một Nhà nước được đại diện bằng các cơ quan quyền lực từ trung ương đến địa phương phải hoạt động tuân theo các quy định của pháp luật hiện hành. Công dân sống trong Nhà nước pháp quyền được hưởng các quyền tự do cơ bản. Nhà nước pháp quyền thể hiện nguyên tắc hợp pháp và bình đẳng, Nhà nước này khác biệt với Nhà nước trong tình trạng vô chính phủ.

Khái niệm Nhà nước pháp quyền (Rechtsstaat) do người Đức sáng tạo ra, vào nửa sau thế kỉ XIX được các nhà luật học và triết học đề cập đến nhiều. Quan điểm về Nhà nước pháp quyền gắn với nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, duy trì và phát huy các giá trị dân chủ. Nhà nước pháp quyền là Nhà nước có tổ chức quyền lực hợp lí, nhằm bảo vệ lợi ích cho con người. Điều 28, Luật cơ bản Đức 1949 (Hiến pháp Đức) quy định các điều khoản trong Hiến pháp của các bang cần tôn trọng các nguyên tắc về dân chủ, cộng hòa và xã hội của Nhà nước pháp quyền, đúng theo tinh thần của Luật cơ bản. Nhà nước pháp quyền theo quan điểm của Pháp và Mỹ gắn với bình đẳng và tự do. Nghĩa là tất cả các quyền cơ bản của con người đều phải được Nhà nước tôn trọng. Nhà nước và công dân phải bình đẳng trước luật pháp, cần có các nguyên tắc cần thiết để duy trì tính bình đẳng đó. Như vậy Nhà nước pháp quyền đồng nghĩa với việc tạo điều kiện cho sự tồn tại của nền dân chủ, hay Nhà nước pháp quyền là một điều kiện kiến tạo nên dân chủ. Nếu tách Nhà nước pháp quyền và dân chủ thành hai khái niệm khác nhau sẽ không có ý nghĩa. Tuy nhiên, tất cả các nền dân chủ đều có Nhà nước pháp quyền, nhưng tất cả các Nhà nước pháp quyền không có nghĩa là có dân chủ. Tôi xin đưa ra 2 ví dụ:

1. Hitler trúng cử với 89 % số phiếu ủng hộ trong cuộc trưng cầu dân ý năm 1933, vào thời điểm đó, Hiến pháp cộng hòa Weimar là Hiến pháp dân chủ, đảm bảo quyền con người, thể lệ bầu cử, ứng cử của các đảng đúng với các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền. Sau khi nắm giữ quyền lực nhờ bầu cử hợp pháp, Hitler và một số phần tử cực hữu trong đảng quốc xã (viết tắt của từ quốc gia xã hội chủ nghĩa), đã thay đổi Nhà nước pháp quyền thành Nhà nước cảnh sát.

2. Cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên theo thể lệ bầu cử trực tiếp và phổ quát để lập ra nền cộng hòa đệ nhị năm 1848 ở Pháp, kết quả là Napoléon III, cháu của Napoléon I đã trúng cử, đúng theo các nguyên tắc bầu cử của một Nhà nước dân chủ, sau một thời gian cầm quyền, Napoléon III thực hiện đảo chính vào năm 1850, thiết lập đế chế thứ 2 như Napoléon I và được phong làm hoàng đế. Qua hai ví trên có thể đưa ra kết luận: Nhà nước pháp quyền và dân chủ có liên quan chặt chẽ với nhau, nhưng Nhà nước pháp quyền chưa khẳng định được toàn bộ các điều kiện cơ bản của dân chủ. Khái niệm dân chủ rộng hơn và bao quát khái niệm Nhà nước pháp quyền.

Hans Kelsen cho rằng khái niệm Nhà nước pháp quyền là một thuật ngữ thừa và tối nghĩa vì tất cả các quốc gia đều có hệ thống luật pháp, luật pháp là công cụ quản lí không thể thiếu được của nhà cầm quyền. Luật pháp dù hay hoặc dở, đều thể hiện sức mạnh trấn áp hợp pháp của Nhà nước vì Nhà nước có độc quyền làm ra luật pháp và độc quyền trấn áp, luật pháp thể hiện quyền uy của Nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, cách hiểu hiện nay về  Nhà nước pháp quyền phải là Nhà nước bảo đảm các quyền cơ bản cho con người và những người đại diện cho Nhà nước phải bị xử lí khi vi phạm. Độc quyền của Nhà nước bị giới hạn bởi Hiến pháp.

Ở đây chúng ta cùng bàn thêm về khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thuật ngữ này được Gorbatchev, tổng bí thư đảng cộng sản Liên bang Xô viết sử dụng lần đầu tiên trong Đại hội lần thứ XIX của đảng cộng sản năm 1986, trong buổi lễ bế mạc đại hội đảng cộng sản Liên Xô, Gorbatchev đưa ra kết luận “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là đòi hỏi cấp bách, để đảm bảo các quyền tự do cho nhân dân Liên bang Xô viết, đồng thời cũng đảm bảo cho hệ thống tư pháp hoạt động hiệu quả. Luật pháp phải bảo vệ phẩm giá của con người, quyền bất khả xâm phạm nơi ở, bất khả xâm phạm bí mật thư tín, nền dân chủ không thể đi kèm với tính độc đoán và thói vô trách nhiệm”. Bằng các chính sách cải tổ và đổi mới, Gorbachev phải chăng muốn khẳng định vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản Liên bang Xô viết bằng cách đổi mới tư duy, đảng sẽ lãnh đạo theo cách thức mới, dân chủ hơn, công khai, minh bạch hơn, đảng cũng sẽ trao nhiều quyền quyết định hơn cho các tổ chức cấp dưới và sẽ khuyến khích các tổ chức dân sự tham gia vào các công tác xã hội ? Sự nghiệp cải cách của Gortbachev đã dẫn tới sụp đổ Liên bang Xô viết và khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa khó hiểu này cũng chỉ còn lưu lại trong các văn bản thời đó.

Đảng cộng sản Trung Quốc trong đại hội lần thứ XV năm 1997 cũng xác định phương hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đáp ứng theo nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, theo đó, đảng cộng sản sẽ là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và nhân dân. Nhà nước tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân. Nhà nước xây dựng nền luật pháp xã hội chủ nghĩa công bằng để phục vụ nhân dân và đảm bảo sự lãnh đạo của đảng. Tất cả các nguyên tắc này đã được Đại hội đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ XVII năm 2007 nhất trí thông qua, và được ghi lại trong Hiến pháp Trung Quốc sửa đổi. Nếu như Nhà nước pháp quyền theo quan điểm của Gorbatchev có một số tiêu chuẩn có vẻ giống với xã hội dân chủ phương Tây. Nhà nước pháp quyền theo quan điểm của Trung quốc phải thể hiện sự lãnh đạo của đảng đối với nhân dân, đảng sẽ bảo đảm các quyền tự do cho nhân dân. Nhưng mối quan hệ giữa nhân dân và đảng cộng sản Trung Quốc có mâu thuẫn. Làm sao Nhà nước pháp quyền có thể đảm bảo lợi ích cho nhân dân, khi nhân dân không có quyền bầu ra người lãnh đạo đại diện cho mình, trong khi đó đảng là người lãnh đạo duy nhất, dù nhân dân có muốn hay không.

Nhà nước pháp quyền đối lập với Nhà nước cảnh sát vì quyền lực trong Nhà nước cảnh sát do một số người nắm giữ mà không bị kiểm soát và không bị giới hạn, do đó việc quản lí và điều hành đất nước dễ theo cảm tính, hoặc theo cách độc đoán. Nhà nước pháp quyền thực sự cần phải là Nhà nước dân chủ được khẳng định bằng các nguyên tắc cơ bản của một xã hội dân chủ, đó phải là Nhà nước của dân, do dân và vì dân theo cách suy luận của Abraham Lincoln, chứ không phải Nhà nước chịu sự quản lí của một đảng duy nhất và vận hành theo ý muốn của những người đại diện cho đảng phái đó. Nhà nước pháp quyền là Nhà nước dân chủ tuân theo các nguyên tắc về tổ chức và giám sát (I), các cơ quan công quyền của Nhà nước đó phục vụ nhân dân, đảm bảo công bằng và hợp pháp (II).

I. Nhà nước pháp quyền tôn trọng các nguyên tắc trong hệ thống luật pháp và theo cơ chế giám sát                                                        

Các văn bản có giá trị pháp lí từ thấp đến cao như các đạo luật và Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền được tổ chức theo các thứ bậc chặt chẽ (A), tất cả các cơ quan công quyền đều phải tuân theo. Luật pháp dựa trên các tiêu chí công bằng, đúng đắn nhằm phục vụ con người. Cơ chế giám sát luật pháp để bảo vệ các giá trị của Hiến pháp trở thành điều kiện bắt buộc để duy trì Nhà nước pháp quyền (B).

A. Hiến pháp, các đạo luật và các văn bản dưới luật tuân theo thứ bậc

Hans Kelsen (1881-1973), tác giả cuốn sách Lí thuyết thuần túy về luật pháp nhận định Nhà nước pháp quyền luôn gắn với một hệ thống bao gồm các quy tắc luật pháp có thứ bậc. Ông sắp xếp các quy định này theo một sơ đồ có hình kim tự tháp. Tất cả các văn bản có giá trị pháp lí được sắp xếp từ thấp lên cao, các thông tư, chỉ thị ở cấp bộ, cấp tỉnh thành và địa phương có giá trị thấp nhất về mặt pháp lí, sẽ đứng ở vị trí dưới đáy kim tự tháp, tiếp theo là các nghị định của cơ quan hành pháp để thực thi các đạo luật được Nghị viện thông qua, sau đó là các nghị định của người đứng đầu cơ quan hành pháp (thủ tướng hay tổng thống), các đạo luật và sắc lệnh có vị trí cao hơn nghị định, tiếp đến là luật tổ chức các cơ quan công quyền, sau đó là các hiệp ước quốc tế. Hiến pháp có vị trí cao nhất trong sơ đồ hình kim tự tháp. (Sơ đồ của Hans Kelsen cũng có thể được tính theo tiêu chí dựa trên giá trị từ cao đến thấp của các văn bản luật). Các văn bản có giá trị pháp lí thấp thường có số lượng rất lớn, các văn bản có giá trị pháp lí quan trọng hơn được ban hành với số lượng ít hơn. Văn bản có giá trị cao nhất là Hiến pháp. Trong Nhà nước có nền hành chính tập trung, sẽ chỉ có duy nhất một bản Hiến pháp, ở Nhà nước liên bang thường có Hiến pháp của Nhà nước liên bang và Hiên pháp riêng của các bang như trường hợp của Mỹ và Đức, tuy nhiên Hiến pháp các bang phải tuân theo Hiến pháp của Nhà nước liên bang).     

image004

(Thứ bậc của các văn bản pháp luật trong Nhà nước pháp quyền, theo thứ tự từ trên đỉnh xuống đáy kim tự tháp: Hiến pháp, hiệp ước quốc tế, luật pháp của Hội đồng châu Âu và Liên minh châu Âu, luật tổ chức, luật do nghị viện làm ra, sắc lệnh, nghị định có giá trị ngang luật trong một số hoàn cảnh đặc biệt, nghị định áp dụng luật, thông tư cấp bộ, cấp tỉnh và địa phương.)

Ngay cả Hiến pháp cũng quy định các nguyên tắc có giá trị khác nhau, một số điều khoản trong Hiến pháp quan trọng hơn các điều khoản khác. Ví dụ Luật cơ bản Đức khẳng định từ điều 1 đến điều 20 các quyền tự do của con người, đây là các điều quan trọng nhất. Điều 79-3 ghi nhận nước Đức được tổ chức theo mô hình Nhà nước liên bang. Nguyên tắc này cũng như các quyền cơ bản của con người sẽ không thể thay đổi được. Hiến pháp Pháp năm 1958, trong điều 89 khẳng định, chế độ cộng hòa và chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ là những điều kiện không thể thay đổi trong Hiến pháp. Điều đó xác nhận những nguyên tắc quan trọng nhất của Hiến pháp Pháp được các nhà lập hiến đặc biệt chú ý. Hiến pháp Maroc cũng ghi nhận đất nước này theo thể chế quân chủ lập hiến và nguyên tắc này sẽ không bao giờ thay đổi trong Hiến pháp. Điều 4 trong Hiến pháp Việt Nam vừa sửa đổi khẳng định đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đây cũng là nguyên tắc quan trọng nhất.

Liệu có quy chế luật pháp nào quan trọng hơn Hiến pháp, hay Hiến pháp là văn bản luật tối cao, không có gì có giá trị nào cao hơn nó ? Hans Kelsen khi được hỏi về vấn đề này, đã không tìm được câu trả lời thuyết phục. Giá trị của Hiến pháp của các nước châu Âu so với các hiệp ước quốc tế hay các nghị định, chỉ thị của các cơ quan thuộc Liên minh châu Âu so với Hiến pháp, văn bản pháp lí nào quan trọng hơn ? Đây vẫn là chủ đề gây tranh cãi vì chưa có quan điểm thống nhất. Tòa án thuộc Liên minh châu Âu, có trụ sở tại Luxembourg cho rằng các nghị quyết của tổ chức này có giá trị cao hơn Hiến pháp của các nước thành viên, (theo phán quyết Simmenthal, 09/03/1978). Hội đồng nhà nước, (Tòa án hành chính tối cao của Pháp), (trong quyết định có tên Sarran et Levacher, 30/10/1998), lại khẳng định Hiến pháp có giá trị cao hơn các văn bản luật của châu Âu và quốc tế. Những quan điểm khác nhau về giá trị của Hiến pháp so với luật pháp quốc tế vẫn chưa tìm được tiếng nói chung giữa các nước và các tổ chức quốc tế. Vì những người có thẩm quyền luôn muốn khẳng định vị trí tối cao của Hiến pháp để bảo vệ tốt hơn chủ quyền dân tộc.

Theo sơ đồ hình kim tự tháp, tất cả các văn bản cấp dưới đều phải tuân theo các quy định của văn bản ở cấp cao hơn, nếu văn bản cấp dưới vi phạm vì nội dung vượt quá thẩm quyền, văn bản đó sẽ bị bãi bỏ, hoặc nếu tồn tại sẽ không có giá trị. Ví dụ các nghị định của chính phủ phải tuân theo luật pháp, luật pháp lại phải tuân theo các công ước quốc tế mà Nhà nước kí kết, đồng thời phải tuân theo Hiến pháp. Đây là điều kiện không thể thiếu được trong Nhà nước pháp quyền, vì con người sống và làm việc theo luật pháp. Một thông báo cấm biểu tình, hay một nghị định cho phép công an được phép nổ súng trong trường hợp cần thiết, hoặc một nghị định nghiêm cấm tiếp cận các nguồn thông tin khác nhau trên mạng Internet đều là những văn bản vượt quá thẩm quyền của cơ quan hành pháp, các văn bản này cần được Nghị viện thảo luận, đây là thẩm quyền của cơ quan lập pháp, nhưng nếu các nội dung cấm trên đây được luật hóa, sẽ lại là các đạo luật vi phạm các công ước quốc tế và vi phạm Hiến pháp. Trong hoàn cảnh đó, tòa án hiến pháp sẽ xem xét tính hợp hiến của các đạo luật. Nhưng nếu không có tòa án hiến pháp, các quy định này vẫn được ban hành. Một khi Nhà nước thực thi các quy định đó mà không hề có cơ chế giám sát các văn bản dưới luật hoặc giám sát các đạo luật, Nhà nước đó không phải là Nhà nước pháp quyền, đó là Nhà nước cảnh sát vì pháp luật trở thành công cụ trấn áp, thay vì để phục vụ quyền lợi cho con người.

Lí thuyết về thứ bậc của các văn bản luật chỉ áp dụng được ở các nước có Hiến pháp viết, hay còn gọi là Hiến pháp khó sửa, đối với một số nước không có Hiến pháp viết như Anh, Israel, ở đó không có sự phân biệt giữa luật và Hiến pháp bởi vì thủ tục thông qua một đạo luật hay một quy định có giá trị ngang hàng với Hiến pháp đều dễ dàng như nhau, do vậy luật có giá trị ngang hàng với các điều khoản của Hiến pháp theo “phong tục tập quán”.

Khi Hiến pháp được Nghị viện thông qua, nhưng không được đưa ra trưng cầu dân ý, (hoặc Hiến pháp được nhân dân phúc quyết, nhưng với tỉ lệ đồng ý rất thấp, khoảng 51 %). Nếu một đạo luật được nhân dân phúc quyết với một tỉ lệ ủng hộ rất cao, khoảng 83 %, chúng ta giả thuyết rằng đạo luật này vi hiến vì nội dung trái với một hay nhiều điều khoản trong Hiến pháp. Trong trường hợp này, cần phải loại bỏ điều khoản ghi trong Hiến pháp, hay phải hủy bỏ đạo luật ? Vì Hiến pháp được ban hành, không theo cơ chế bầu cử dân chủ, hoặc có quá ít cử tri tham gia phúc quyết nên không thể hiện được ý chí và nguyện vọng của đa số các công dân, trong khi đạo luật vi hiến được đa số nhân dân ủng hộ. Trong điều kiện đó, nếu theo đúng trật tự trong sơ đồ hình kim tự tháp của Hans Kelsen, đạo luật vi hiến sẽ bị loại bỏ. Còn nếu theo quan điểm “Ý dân là ý trời”, một khi đạo luật được đa số nhân dân tán thành sẽ có giá trị thuyết phục hơn Hiến pháp do một nhóm người biên soạn và được bỏ phiếu trong phạm vi hẹp tại Nghị viện, với tỉ lệ ủng hộ quá bán. Vậy đạo luật vi hiến hay Hiến pháp sẽ có giá trị cao hơn ? Thực tế tại Thụy Sĩ đã chứng minh, không phải đạo luật nào được nhân dân phúc quyết cũng là những đạo luật đúng đắn, Hiến pháp hay các đạo luật được Nghị viện thông qua nhiều khi lại thể hiện tính chính xác cao hơn so với sự lựa chọn của nhân dân thông qua trưng cầu dân ý. Vì tính chuyên nghiệp của các nghị sĩ có nhiều ưu thế so với mặt bằng nhận thức chung của nhân dân.

B. Giám sát tính hợp hiến các đạo luật trong Nhà nước pháp quyền

Bãi bỏ các đạo luật vi hiến để bảo vệ các giá trị tối cao của Hiến pháp sẽ góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền. Vì vậy, thiết lập tòa bảo hiến trở thành điều kiện bắt buộc để đảm bảo nền dân chủ. Vì nếu không có tòa án hiến pháp, tinh thần của Hiến pháp sẽ không có cơ hội được thực thi, quyền con người sẽ không được bảo vệ trước sức mạnh của Nhà nước. Vai trò của tòa án hiến pháp trong việc bảo vệ quyền con người và xây dựng nền dân chủ là điều không thể phủ nhận. Ở một số nước như Anh, Thụy Điển, Đan Mạch, nhiệm vụ giám sát các đạo luật được giao cho các tiểu ban bên trong Nghị viện, cơ chế giám sát này trong thực tế chỉ mang tính hình thức, tuy nhiên, điều nghịch lí là những quốc gia này lại là những nền dân chủ tiêu biểu nhất.  

Nước Mỹ có cơ chế giám sát luật từ rất sớm. Sáng tạo này là công lao của Tòa án tối cao Mỹ, thông qua phán quyết Marbury v.Madison năm 1803. Trong thực tế Hiến pháp Mỹ năm 1787 không hề nhắc đến cơ chế giám sát các đạo luật vi hiến, phán quyết này thể hiện thẩm quyền của quan tòa trong Nhà nước pháp quyền, quan tòa có trách nhiệm loại bỏ tất cả các đạo luật vi hiến để bảo vệ Hiến pháp. Điều này có nhiều ý nghĩa, vì thẩm quyền của cơ quan lập pháp bị giới hạn, khi muốn đưa ra các dự thảo luật, các nghị sĩ buộc phải phân tích xem những điều luật sẽ được thảo luận có hợp với các nguyên tắc của Hiến pháp không. Sau khi dự luật được ban hành, cơ chế giám sát của cơ quan tư pháp được tiến hành trong các vụ việc cụ thể, đạo luật vẫn có nguy cơ bị loại bỏ trong các vụ tranh chấp. Giám sát luật là nhiệm vụ thường trực đối với tất cả các cấp tòa án từ các bang đến Tòa án tối cao. Điều này đã góp phần đưa Mỹ trở thành Nhà nước pháp quyền.

Tòa án hiến pháp ở châu Âu ra đời năm 1920 tại Áo, theo sáng kiến của Hans Kelsen, Giám sát tính hợp hiến các đạo luật được trao cho một cơ quan duy nhất, đây là hình thức giám sát tập trung, khác với cơ chế giám sát phổ biến ở Mỹ. Các đạo luật trước khi ban hành sẽ được các thẩm phán xem xét tính hợp hiến của chúng, các thẩm phán không thể tự quyết định giám sát mà phải đợi các cấp có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước tiến hành các thủ tục để đề nghị tòa án hiến pháp thi hành nhiệm vụ giám sát. Đây là điểm yếu trong cơ chế giám sát luật của châu Âu, vì nếu không có cơ quan nào yêu cầu tòa án giám sát, các đạo luật vi hiến vẫn được thi hành, Hiến pháp luôn luôn có thể bị vi phạm, trong khi đó, các đạo luật vi hiến vẫn tồn tại hiển nhiên.

Các giá trị cơ bản của Hiến pháp như bảo vệ quyền con người, tôn trọng nguyên tắc tam quyền phân lập, bảo đảm tính độc lập của tư pháp, duy trì nền cộng hòa… sẽ luôn bị đe dọa bởi các đạo luật vi hiến vì theo Victor Hugo “Hiến pháp lúc nào cũng có thể bị vi phạm vì nó không kêu được”. Rút kinh nghiệm từ những hạn chế trong phương thức giám sát luật từ khi chưa có hiệu lực, các nước châu Âu đã áp dụng cơ chế giám sát luật sau khi ban hành của Mĩ. Kết quả là, các đạo luật vi hiến sẽ có nhiều khả năng bị loại bỏ, nhờ đó, nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp sẽ được thực hiện hiệu quả hơn. Giám sát các đạo luật vi hiến ở Mỹ và châu Âu về cơ bản giống nhau, điểm khác biệt duy nhất hiện nay là hình thức giám sát phổ quát ở Mỹ thuộc thẩm quyền của tất cả các cấp tòa án, còn tại châu Âu, hình thức giám sát tập trung được giao cho một tòa án hiến pháp duy nhất, có vị trí cao nhất trong hệ thống tư pháp. Đây chính là đặc điểm còn lại từ mô hình tòa án hiến pháp của Áo được nhân rộng ra khắp các nước Tây Âu, sau chiến tranh thế giới thứ hai. Sau khi bức tường Berlin sụp đổ năm 1989, cùng với sự phá sản của chủ nghĩa cộng sản năm 1991, các nước Đông Âu học theo mô hình này, để xây dựng Nhà nước pháp quyền đi kèm với nền dân chủ mới.

(Kỳ 2)

II. Tam quyền phân lập và bảo vệ quyền con người là những điều kiện của Nhà nước pháp quyền

Nguyên tắc tam quyền phân lập là biện pháp hiệu quả ngăn ngừa lạm dụng quyền lực, con người không nên tin tưởng vào sự tồn tại của một xã hội dân chủ công bằng, khi quyền lực tập trung trong tay một cơ quan duy nhất mà không có biện pháp ngăn chặn. Để quyền lực không bị tha hóa, cách tốt nhất là luôn nghi ngờ cảnh giác, bằng cách xây dựng một nền tư pháp độc lập (A), đây là điều kiện không thể thiếu được để bảo vệ các quyền cơ bản của con người (B).

A. Tam quyền phân lập và tư pháp độc lập là sức mạnh của Nhà  nước pháp quyền

Aristote (-384-322 trước công nguyên) là nhà tư tưởng có công đầu tiên xây dựng nguyên tắc tam quyền phân lập sơ khai, là người chịu ảnh hưởng quan điểm triết học lí tưởng của Platon, ông mơ ước xây dựng một thành bang lí tưởng, ông quan sát công việc của các thành bang, (đây cũng là các Nhà nước thu nhỏ thời Hy Lạp cổ). Aristote cho rằng trong mỗi thành bang thường có ba cơ quan phụ trách những công việc khác nhau: Hội đồng tranh luận về những công việc chung, tương đương với nghị viện sau này, tổ chức của các thẩm phán thi hành các nhiệm vụ của thành bang, tương đương với chính phủ, cơ quan tư pháp chịu trách nhiệm xét xử những tranh chấp, tương đương với tòa án sau này. Cách sắp xếp của Aristote không thể hiện sự phân chia quyền lực bên trong Nhà nước, ông chỉ quan tâm đến cách thức tổ chức để nhận biết Nhà nước hoạt động ra sao. Phân tích của Aristote không đề cập việc phân chia quyền lực trong Nhà nước-thành bang, vì trong thực tế, các ủy viên hội đồng có quyền tham gia vào cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp vừa có quyền quản lí công việc chung của Nhà nước vừa có quyền xét xử.

Nguyên tắc tam quyền phân lập được xây dựng từ thời kì ánh sáng và được áp dụng triệt để sau cuộc cách mạng giành độc lập của 13 thuộc địa ở Mỹ năm 1774 và sau cách mạng tư sản Pháp năm 1789. John Locke và Montesquieu là các nhà triết học đi tiên phong trong việc đề cao quyền con người và xây dựng Nhà nước pháp quyền. John Locke nhận định, trong mỗi Nhà nước, luôn luôn tồn tại ba quyền cơ bản: Quyền làm ra luật, quyền thi hành luật và quyền đối ngoại. Montesquieu sau khi quan sát thể chế chính trị ở nước Anh, đưa ra kết luận : Mỗi Nhà nước đều nắm giữ ba quyền cơ bản, đó là sức mạnh lập pháp, sức mạnh hành pháp và sức mạnh tư pháp. Khi cả ba sức mạnh này tập trung trong tay một người hay một nhóm người, con người sống trong Nhà nước đó sẽ không bao giờ có tự do, bởi vì những người nắm giữ quyền lực có thể ban ra các đạo luật độc đoán và thi hành chúng theo kiểu độc đoán. Sức mạnh tư pháp cần tách rời sức mạnh hành pháp và sức mạnh lập pháp bởi vì khi sức mạnh tư pháp gắn chặt với lập pháp, quan tòa sẽ trở thành người làm ra luật, các quyền tự do của con người sẽ bị định đoạt theo cách độc đoán. Khi sức mạnh tư pháp gắn liền với sức mạnh hành pháp, quan tòa sẽ trở thành kẻ áp bức.   

Montesquieu không sử dụng khái niệm tam quyền phân lập, ông quan tâm đến việc phân chia và bố chí quyền lực hợp lí ở mỗi Nhà nước. Cần phải loại bỏ việc lạm quyền và khả năng tập trung tất cả ba quyền cơ bản vào tay một người hay một nhóm người, nếu không thể chế chính trị sẽ bị biến dạng thành độc tài. Montesquieu không nhắc đến tam quyền phân lập ở mức độ biệt lập, nghĩa là ba cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp không có bất cứ mối liên hệ nào với nhau, điều này chỉ dẫn đến bế tắc. Ông cho rằng quyền lực phải có sự hợp tác hài hòa trong một giới hạn nhất định. Tuy nhiên, ông khẳng định quyền lập pháp phải giữ vị thế độc lập trước quyền hành pháp và tư pháp. Nếu không tất cả sẽ dẫn đến thất bại. Vì sức mạnh tư pháp là phương tiện duy nhất ngăn chặn sức mạnh hành pháp và lập pháp. Montesquieu luôn lo lắng về bổn phận hoàn thành trách nhiệm của mỗi người, ông nhận định con người cần biết tôn trọng luật pháp, thực hiện đúng vai trò và nhiệm vụ được giao. Trong lời giới thiệu của cuốn sách Tinh thần luật, xuất bản tại Genève năm 1748, ông viết: “Nếu như tôi có thể làm được một điều gì đó, để con người luôn có lí do biết yêu bổn phận của mình, như ông vua biết yêu tổ quốc và biết tôn trọng các đạo luật của mình được ban ra, khi đó con người có thể cảm thấy hạnh phúc, khi họ sống ở một đất nước, làm việc trong bộ máy nhà nước và giữ một trách nhiệm quan trọng, tôi tin rằng mình sẽ là người hạnh phúc nhất trong số những người quá cố”. Ông viết thêm: “Nếu như tôi có thể làm được một điều gì đó, để các nhà lãnh đạo có thêm hiểu biết, họ sẽ ý thức được những gì họ cần phải làm, khi các công dân nhận thấy những người ấy làm tốt công việc, các công dân sẽ vui vẻ tuân theo những mệnh lệnh của họ, khi đó tôi tin rằng mình sẽ là người hạnh phúc nhất trong số những người quá cố”.

Quan điểm của Montesquieu về tam quyền phân lập đến nay vẫn gây nhiều tranh cãi, ông không nhắc đến khái niệm này, ông cũng không dùng từ quyền lực mà dùng từ sức mạnh. Montesquieu quan tâm nhiều hơn đến việc phân chia quyền lực để ngăn chặn nguy cơ lạm quyền. Những lập luận như thế thuộc về một nhóm thiểu số các nhà nghiên cứu luật như trường hợp của giáo sư Jean-Philippe Feldman, khoa luật, Đại học Rennes. Đa số các nhà luật học đều cho rằng tam quyền phân lập là quan điểm cụ thể của Montesquieu, tuy ông không nhắc đến khái niệm này trong chương 7 có tiêu đề Bàn về Hiến pháp của nước Anh, nhưng qua cách phân tích, nhiều người sẽ hiểu ngay ông đang bàn về tam quyền phân lập. Xuất phát từ quan điểm của Montesquieu về phân chia quyền lực để tạo sự cân bằng, thế hệ sau phát triển thành nguyên tắc tam quyền phân lập hoàn chỉnh. Tư tưởng của ông từ rất sớm đã được đúc kết lại, trong điều 16, Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789.

Những tranh cãi xem liệu Montesquieu có thực sự bàn về tam quyền phân lập hay không, thực ra không cần thiết, bởi vì trong thực tế, tam quyền phân lập đến mức không có bất kì hợp tác nào giữa các cơ quan quyền lực sẽ không thực hiện được, vì khi đó bộ máy nhà nước sẽ không thể hoạt động. Ví dụ cụ thể là trường hợp của nước Mỹ năm 2013, khi cơ quan hành pháp đứng đầu là tổng thống có xung đột với Nghị viện (ở đây là phe cộng hòa tại Thượng viện) về đạo luật Obamacare, kết quả là bộ máy nhà nước đã không thể hoạt động trong suốt 2 tuần, tình hình không thể kéo dài lâu hơn nữa, Thượng viện và bộ máy hành pháp buộc phải thảo luận với nhau, hai bên phải có những nhượng bộ. Tam quyền phân lập chính là phân chia quyền lực hợp lí giữa các cơ quan, đồng thời đảm bảo tính độc lập tương đối cho mỗi cơ quan, nhất là tư pháp.  

Vai trò độc lập của tư pháp là một điều kiện quan trọng để đảm bảo sự tồn tại của Nhà nước pháp quyền, quan tòa cần phải là cái miệng chỉ được phép tuyên bố những lời của luật pháp và làm theo luật pháp. Để đảm bảo cho các quan tòa luôn giữ tư thế độc lập trước áp lực của các cơ quan khác, các nước đưa ra nhiều giải pháp:

Điều III, phần 1, Hiến pháp Mỹ, năm 1787 đưa ra một số quy định để bảo đảm vị trí độc lập của ngành tư pháp: Cơ quan tư pháp của nước Mỹ được giao cho tòa án tối cao và các tòa án cấp dưới. Các thẩm phán ở Tòa án tối cao và tòa án các cấp có quyền giữ chức vụ cho đến khi không thể đảm nhiệm được nữa, họ được nhận lương cố định. Các thẩm phán không thể bị bãi chức trừ khi họ phạm tội và bị xử lí theo thủ tục impeachment.

Điều 97, Luật cơ bản Đức, 1949 quy định các thẩm phán giữ vai trò độc lập, họ được bổ nhiệm chính thức trong một công việc cố định, họ không thể bị bãi chức hoặc bị đình chỉ công tác, hay bị chuyển sang làm công việc khác, hoặc bị buộc phải về hưu, trừ khi có quyết định của cơ quan tư pháp cấp cao theo đúng quy định của luật pháp. Nghị viện có quyền đưa ra một đạo luật quy định tuổi về hưu của quan tòa được bổ nhiệm đến suốt đời, các quyền lợi của họ phải được đảm bảo. Trong trường hợp, tòa án hay các cơ quan hành chính sắp xếp lại việc tổ chức, quan tòa có thể bị luân chuyển đi nơi khác, hoặc đảm nhận nhiệm vụ khác ở tòa án, khi đó tất cả các quyền lợi của quan tòa phải được giữ nguyên.

Điều 117, Hiến pháp Tây Ban Nha, 1978 nêu rõ nền tư pháp xuất phát từ nhân dân, hệ thống tư pháp được các quan tòa và các cán bộ trong ngành đảm nhiệm, thẩm phán giữ vai trò độc lập, không thể bị bãi chức. Thẩm phán chỉ chịu trách nhiệm trước luật pháp và tuân theo luật pháp.

Hiến pháp Pháp năm 1958, trong điều 64 cũng công nhận vị trí độc lập của ngành tư pháp và Tổng thống sẽ là người chịu trách nhiệm duy trì quy định này. Hệ thống luật pháp của Pháp khá phức tạp so với các nước khác vì ở Pháp, ngoài hệ thống tư pháp chuyên xét xử những tranh chấp giữa các công dân, còn có hệ thống các tòa án hành chính chuyên chuyên xét xử các vụ việc tranh chấp giữa các cơ quan nhà nước, hoặc giữa Nhà nước với công dân. Điều 13, luật ngày 16-24 tháng 8 năm 1790 là cơ sở đầu tiên cho sự ra đời của hệ thống tư pháp và hệ thống các tòa án hành chính. Các quan tòa trong lĩnh vực tư pháp hay hành chính đều được đảm bảo các quyền lợi cơ bản: Họ không thể bị bãi miễn, không bị đình chỉ chức vụ, không chịu bất kì sức ép nào.

Các quan tòa có quyền diễn giải luật pháp trong phạm vi quyền hạn của mình, những diễn giải đó chỉ có thể làm sáng tỏ và bổ sung thêm những khoảng trống của luật pháp, họ không có quyền tạo ra các nguyên tắc có giá trị như luật. Để mọi việc được thuận lợi, họ tuân theo các án lệ của tòa án tối cao. Khi nền tư pháp có vị trí độc lập, quyền con người sẽ được đảm bảo tốt hơn, bởi vì luật pháp là quyền lực thứ ba của Nhà nước, nếu có tranh chấp giữa Nhà nước và công dân, luật pháp sẽ bảo vệ Nhà nước trước tiên. Để bảo đảm công bằng giữa Nhà nước và công dân, khi có tranh chấp, tòa án cần có tư thế độc lập, để xét xử đúng theo pháp luật. Khi đó, có thể khẳng định, Nhà nước pháp quyền đã trở thành hiện thực.

B. Bảo vệ quyền con người trong Nhà nước pháp quyền

Nhà nước pháp quyền theo nguyên tắc có vi phạm mới có kết án, khi chúng ta thực hiện các hành vi mà pháp luật không ngăn cấm, không thể gọi đó là vi phạm, khi không có điều khoản nào trong các văn bản luật cảnh báo việc chúng ta làm, quan tòa không có quyền tuyên bố kết án, vì không có bất kì căn cứ luật pháp nào để đánh giá hành vi của con người là sai trái. Béccaria là người đưa ra nguyên tắc này năm 1764. Điều này thể hiện mức độ an toàn của luật pháp, vì người vi phạm sẽ biết chính xác mức độ trừng phạt đối với mình khi đã mắc phải sai phạm. Quyền lực của Nhà nước cũng sẽ bị giới hạn, vì quan tòa áp dụng các đạo luật có nội dung khái quát dành cho tất cả mọi người, nguyên tắc công bằng của luật pháp được đảm bảo.

Nhà nước pháp quyền gắn với các giá trị tự do. John Locke cho rằng con người có các quyền tự nhiên, bất khả xâm phạm, như quyền được sống, quyền tự do và quyền sở hữu. Sau này, các nhà khai sáng ra nước Mỹ đã học theo John Locke khi công bố trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1774: Con người có quyền được sống, quyền tự do và quyền tìm kiếm hạnh phúc. Các nhà cách mạng Pháp năm 1789 cũng rất quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Họ cho rằng Nhà nước pháp quyền đích thực phải bảo vệ con người, đề cao quyền bình đẳng. Trong xã hội tự do, con người vừa được bảo vệ về quyền lợi vừa phải thực hiện nghĩa vụ. Coi thường hoặc vi phạm quyền con người do thiếu hiểu biết sẽ đem lại bất hạnh cho con người và chính quyền sẽ trở nên tha hóa.

Nhà triết học Condorcet là tác giả của lời mở đầu cho Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789, ông viết “Bản tuyên ngôn các quyền tự nhiên và bất khả nhượng, đó là các quyền thiêng liêng của con người, Bản tuyên ngôn này cần được giới thiệu đến tất cả các thành viên trong xã hội, để luôn nhắc nhở họ rằng họ có các quyền và nghĩa vụ.” Condorcet cho rằng các văn bản của cơ quan hành pháp và lập pháp mỗi khi được biên soạn, cần phải được nghiên cứu và đối chiếu với thể chế chính trị, để các văn bản đó luôn được tôn trọng. Nhà nước pháp quyền là nơi con người phải tôn trọng pháp luật và pháp luật phải bảo vệ con người và đem lại hạnh phúc cho họ.

Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 chắc chắn là tuyên ngôn hay nhất và đầy đủ nhất về quyền con người từ trước đến nay, sau này nước Pháp còn có thêm ba bản tuyên ngôn khác về quyền con người, trong các bản Hiến pháp sau đó, nhưng không có văn bản nào hay hơn và đầy đủ hơn. Văn bản này trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều tuyên ngôn khác về quyền con người. Ví dụ Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người của Liên hiệp quốc năm 1948, người đọc không mấy khó khăn để nhận biết ảnh hưởng của Tuyên ngôn quyền con người năm 1789 đối với Tuyên ngôn 1948, vì một trong những người biên soạn là René Cassin, ông học theo cách viết của các nhà tư tưởng thời kì cách mạng 1789. Bằng những đóng góp của mình cho sự nghiệp bảo vệ quyền con người, René Cassin được tặng giải Nobel hòa bình.

Nhà nước pháp quyền và tôn trọng quyền con người luôn luôn là một cặp đôi với nhau, trong các bản Hiến pháp dân chủ, các nhà lập hiến luôn đưa ra các giải pháp bắt buộc Nhà nước phải tôn trọng các giá trị ghi trong Hiến pháp, trong đó có quyền con người. Tổng thống Mỹ Ronald Reagan cho rằng: “Hiến pháp là văn bản bảo vệ các quyền công dân, bằng cách chống lại sự lạm quyền của Nhà nước”. Nếu Hiến pháp chỉ là rào chắn bằng giấy trong Nhà nước độc đoán hay độc tài, ở Nhà nước pháp quyền đích thực, Hiến pháp trở thành phương tiện lợi hại để chống lại những vi phạm của các cơ quan công quyền, nhờ có tam quyền phân lập và độc lập của tư pháp.

Nhà nước pháp quyền trong thời kì hiện đại có ý nghĩa rộng hơn, đó phải là Nhà nước phục vụ nhân dân, các nhà lãnh đạo do nhân dân bầu ra theo thể lệ bầu cử tự do. Tất cả các cơ quan công quyền cũng như công dân phải tôn trọng luật pháp, công dân và các đại diện của các cơ quan nhà nước luôn bình đẳng trước luật pháp, không có sự thiên vị và ưu tiên trừ những trường hợp đặc biệt do luật quy định. Trong các vụ kiện cáo, đơn từ phải được xem xét và được nghiên cứu trên cơ sở bình đẳng, để không bên nào bị thiệt. Nhà nước pháp quyền tạo điều kiện cho dân chủ, còn dân chủ lại là nơi trú ngụ của Nhà nước pháp quyền.

Kết luận

Nhà nước pháp quyền là một khái niệm rộng, bao quát nhiều ý nghĩa. Khi phân tích các đặc điểm về Nhà nước pháp quyền, về tam quyền phân lập, chúng ta đang thảo luận những vấn đề trọng tâm của dân chủ. Người viết bài này rất mong các nhà luật học, các nhà nghiên cứu, các nhà văn hóa ở trong và ngoài nước trình bày thêm các khía cạnh khác của Nhà nước pháp quyền và tam quyền phân lập, để đóng góp vào sự nghiệp dân chủ hóa đất nước theo cách ôn hòa.

Nền tảng dân chủ của Việt Nam là các giá trị văn hóa, lịch sử, các bài học đạo đức của cha ông đã để lại từ hàng nghìn năm nay, qua quá trình dựng nước và giữ nước, người Việt Nam chúng ta cần biết kết hợp những thành tựu đó với những giá trị dân chủ của phương Tây để xây dựng Nhà nước pháp quyền. Việc Nhà nước giữ nguyên thể chế chính trị, bằng cách khẳng định lại các nguyên tắc cơ bản trong bản Hiến pháp sửa đổi: như điều 4 công nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, quyền lực Nhà nước thống nhất có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác-Lênin… Tất cả những quy định này không giúp Việt Nam trở thành Nhà nước pháp quyền đúng nghĩa và làm tan biến những hi vọng cuối cùng để đổi mới đất nước, nhiều người Việt Nam trở nên lo lắng vì tương lai của đất nước vì “Khi quá khứ không còn chiếu sáng cho tương lai được nữa, trí tuệ buộc phải bước đi lần mò trong bóng tối ” (Alexis de Tocqueville).

Tài liệu tham khảo

1. De l’esprit des lois, Montesquieu, 1748

2. Les régimes politiques occidentaux, Jean-Louis Quermone, Éditions du Seuil, cinquième édition

3. Les grandes démocraties, Constitutions des États-Unis, de l’Allemagne, de l’Espagne et de l’Italie, Ferdinand Mélin-Soucramanien, Dalloz, 2010

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: