BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2274. NHÌN LẠI KINH TẾ TRUNG QUỐC 2013 VÀ TRIỂN VỌNG 2014 (phần cuối)

Posted by adminbasam trên 25/01/2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Năm, ngày 23/01/2014

(“Thời báo kinh tế Trung Quốc” s ra ngày 5 tháng 11 năm 2013)

III- Coi trọng tín hiệu tích cực và mâu thuẫn nổi cộm khi quá độ sang trạng thái bình thưng mi

Kinh tế Trung Quốc đang trong thời kỳ then chốt từ giai đoạn tăng trưởng tốc độ cao 10% chuyển sang giai đoạn tăng trưởng tốc độ vừa phải 7%. Chuyển đổi giai đoạn tăng trưởng không chỉ là điều chỉnh tốc độ tăng trưởng mà quan trọng hơn là sự thay đổi động lực và phương thức tăng trưởng mang tính thực chất. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, kết thúc thời kỳ tăng trưởng cao lâu dài không có nghĩa là tăng trưởng vừa phải tự nhiên sẽ đến. Nếu như sự tiếp nối động lực giữa cũ và mới không thành công thì phương thức phát triển mới chưa thể kịp thời xác lập, tăng trưởng tốc độ trung bình cũng khó đứng vững, tăng trưởng kinh tế sẽ trượt dốc nhanh chóng, có khả năng dẫn đến rủi ro mang tính hệ thống.

1) Trạng thái bình thường mớí: Tốc độ giảm, chất lượng tăng

Hơn 30 năm qua, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào ưu thế tạo ra bởi nhân tố giá thành thấp, tới đây sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào sức sống sáng tạo của doanh nghiệp và cá nhân, mở rộng không gian đổi mới sáng tạo, thúc đẩy nâng cấp chuyển đổi ngành nghề; nâng cao hiệu quả chủ yếu thông qua chuyển dịch từ lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp, trọng điểm chuyển hướng thông qua cạnh tranh và tái cơ cấu trong nội bộ ngành nghề, không ngừng đào thải những doanh nghiệp có hiệu quả thấp. Nếu như sự chuyển đổi đó thực hiện thuận lợi, kinh tế Trung Quốc có thể vận hành tốt với tốc độ tăng trưởng tương đối thấp, mối quan hệ giữa quy mô và chất lượng, tốc độ và hiệu quả sẽ đạt đến sự cân bằng mới, tốc độ tăng trưởng thấp xuống và chất lượng tăng lên sẽ đồng thời được thực hiện.

Căn cứ điều kiện của bản thân Trung Quốc và kinh nghiệm quốc tế, trạng thái bình thường mới có thể tích cực đạt được cần có những đặc điểm: Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế từ mức 10%, từng bước quá độ và ổn định ở mức khoảng 7%; Thứ hai, tăng trưởng kinh tế bớt phụ thuộc vào đầu tư, tỷ lệ đầu tư từ trên dưới 48% dần dần trở về khoảng 40%, đóng góp từ tiêu dùng cho tăng trưởng tăng lên rõ rệt, ngành dịch vụ có xu thế phát triển nhanh chóng; Thứ ba, tốc độ tăng trưởng khoảng 7% có thể tạo ra nhiều việc làm, nâng cấp của ngành nghề cơ bản thích ứng với nguồn vốn nhân lực được nâng lên, bộ phận thu nhập trung lưu lớn mạnh vừng chắc; Thứ tư, trong điều kiện tăng trưởng tương đối thấp, doanh nghiệp làm ăn vẫn có lãi bình thường, ngân sách của nhà nước và thu nhập của người dân tăng chắc chắn; Thử năm, nguồn vốn đi vào chiều sâu thuận lợi, động lực đổi mới sáng tạo được tăng cường rõ rệt, năng suất lao động nâng lên có khả năng làm giảm một cách hiệu quả ảnh hưởng do giá thành lao động tăng.

2) Dấu hiệu tích cực khi quá độ sang trạng thái bình thường mới

Trước hết, khu vực miền Đông đã dần thích ứng với môi trường vĩ mô tăng trưởng vừa phải. Mấy năm gần đây tăng trưởng kinh tế khu vực miền Đông đã giảm xuống còn trên dưới 7%, tình hình hiện nay đã thể hiện xu thế ổn định, bước đi chuyển đổi nâng cấp doanh nghiệp nhanh rõ rệt, chất lượng và hiệu quả vận hành kinh tế được cải thiện. Một số doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả đã bị thị trường đào thải, số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và mức thua lỗ giảm, tình hình kinh doanh của phần lớn doanh nghiệp từng bước trở lại bình thường, ngành sản xuất mới công nghệ cao có xu hướng phát triển tốt, tiềm lực đầu tư của xã hội được phục hồi. Chỉ số quản lý sức mua (PMI) khu vực miền Đông cũng cao hơn khu vực miền Trung và miền Tây. Căn cứ số liệu điều tra tháng 9, có 40,9% doanh nghiệp miền Đông dự báo tình hình năm 2014 sẽ tiếp tục chuyển biến tốt, 46,8% doanh nghiệp cho ràng năm 2014 đại thể tương đương năm 2013, nhận định tình hình xấu đi chỉ chiếm 12,3%.

Thứ hai, trong quá trình điều chỉnh chậm lại sau thời kỳ tăng trưởng tương đối dài, vấn đề việc làm nhìn chung ổn định, chưa có tình trạng thất nghiệp hàng loạt. Cung cầu về việc làm trong cả nước duy trì trạng thái cầu lớn hơn cung chút ít, tỷ lệ giữa số người cần việc và số vị trí việc cần người cao hơn 1, đặc biệt nhu cầu công nhân kỹ thuật, công nhân lành nghề, kỹ sư thực hành vẫn thiếu khá nhiều. Tuy còn tồn tại vấn đề mang tính cơ cấu về sinh viên ra trường tìm việc khó, nhưng nhìn vào số liệu thống kê hiện nay thì sức ép về việc làm trước thực tế tăng trưởng chậm lại không đến mức căng thẳng.

Thứ ba, trong tình hình tốc độ tăng trưởng chậm lại, tình trạng làm ăn thua lỗ của doanh nghiệp giảm. Trước đây, khi giá trị công nghiệp tăng với tốc độ trên dưới 10%, tình trạng doanh nghiệp thua lỗ khá nghiêm trọng, mức thua lỗ lên tới trên 2% trong thu nhập của ngành nghề chủ yếu, như từ năm 1997 đến năm 2000. Từ.tháng 5/2012 đến nay, giá trị gia tăng của ngành công nghiệp luôn ở mức dưới 10%, nhưng tình hình thua lỗ của doanh nghiệp nhìn chung lại không đến mức như trươc đây, mức thua lỗ chỉ chiếm khoảng 0,8% trong thu nhập của ngành nghề chủ yếu, thấp hơn mức bình quân 1,4% từ năm 1997, cũng vừa thấp hơn mức bình quân 0,9% của thời kỳ tăng trưởng nhanh từ năm 2003 đến nay. Điều này chứng tỏ tốc độ tăng GDP trên dưới 7% và tốc độ giá trị gia tăng của ngành công nghiệp trên dưới 10% có thể cơ bản duy trì hoạt động bình thường của doanh nghiệp.

Thứ tư, doanh nghiệp có kỳ vọng tương đối lý tính đối với triển vọng tăng trưởng kinh tế trong tương lai. số liệu điều tra tháng 9/2013 cho thấy, các nhà doanh nghiệp nhận định mức tăng trưởng kinh tế bình thường hiện nay là 7,2%, 5 năm tiếp theo sẽ tiếp tục giảm. Trước vấn đề đặt ra “trong 2 năm tới, tình hình tăng trưởng kinh tế như thế nào sẽ phải đòi hỏi chính phủ có chính sách kích thích mạnh hơn”, 81,4% doanh nghiệp nhận định là “dưới 7%”. Số doanh nghiệp cho rằng “dưới 6% nhà nước mới cần có chính sách kích thích” chiếm 34,4%. Hầu hết các doanh nghiệp đều phản ánh, chính sách vĩ mô của chính phủ về tổng thể là thích hợp. Từ góc độ ổn định kinh doanh và mong đợi của doanh nghiệp, họ mong muốn giữ ổn định trong chính sách vĩ mô. Khác với trước đây, đứng trước hoàn cảnh vĩ mô mới, doanh nghiệp đã chủ động chuyển hướng, mong muốn đổi mới nhiều hơn.

3) “6 loại giá thành cao” là mâu thuẫn ni cộm khi quá độ sang trạng thái bình thường mới

Quá độ sang trạng thái bình thường mới, về mặt vĩ mô biểu hiện ở việc chuyển đổi mô hình và động lực tăng trưởng kinh tế. Về doanh nghiệp ở tầm vi mô, điều cốt lõi là hạ giá thành và tăng hiệu quả, khả năng và mức độ sinh lời ít phụ thuộc hơn vào việc mở rộng quy mô đơn thuần, phương thức sinh lời chuyển hướng từ “hiệu quả của tốc độ” sang “hiệu quả của chất lượng”.

Điều tra nghiên cứu qua thực tế đã phát hiện, 6 loại giá thành cao là , thách thức nổi bật khi doanh nghiệp chuyển hướng nâng cấp. Một là giá lao động tăng nhanh hơn nhiều so với năng suất lao động. Sách lược ứng phó của doanh nghiệp chủ yếu là “máy móc thay thế sức người”, nhưng đứng trước rủi ro đầu tư một lần quá cao, triển vọng thị trường không rõ ràng, nhiều doanh nghiệp không đủ sức chịu đựng. Hai là chi phí cho nguồn vốn đầu vào quá cao. Do việc phân bổ nguồn tài chính biến dạng, nguồn vốn lớn giá thành cao cùng tồn tại, huy động vốn khó khăn và đắt đỏ trở thành vật cản khó vượt qua của nhiều doanh nghiệp đang trong điều chỉnh, chuyển hướng. Ba là giá đất quá cao. Không đủ mặt bằng sản xuất và giá tăng quá nhanh khiến một số khu vực miền Đông chỉ đáp ứng một phần nhu cầu đất đai sử dụng của các doanh nghiệp lớn, ngành dịch vụ phát triển cũng bị hạn chế bởi giá đất, tiền thuê nhà. Bốn là giá thành cho khâu lưu thông cao. Không những phương thức vận hành thương mại truyền thống bị trói buộc bởi giá thành lưu thông hàng hóa, mà phương thức mới như bán hàng qua mạng cũng bị ảnh hưởng giá cả cao. Năm là giá bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ quá cao. Do vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ kém, giá thành thực hiện quá cao, nên nhiều doanh nghiệp có năng lực và nguyện vọng đổi mới sáng tạo, nhưng sản phẩm mới, công nghệ mới dễ bị làm nhái làm giả đã buộc họ phải bỏ cuộc vì đầu tư cho đổi mới bị thua lỗ nghiêm trọng, Sáu là giá thành để được cấp phép vẫn cao. Qua điều tra có 38% số doanh nghiệp mong muốn thông qua đi vào các ngành khác để chuyển đổi mô hình doanh nghiệp, trong đó hơn 50% doanh nghiệp thuộc các ngành như dệt may, sợi nhân tạo, luyện kim màu mong muốn chuyển hướng ngành nghề, nhưng phản ánh chung là rào cản đến với những ngành làm ăn được cho là thuận lợi rất cao, sự can dự nhìn thấy và không nhìn thấy từ phía chính quyền vẫn rất nhiều.

IV- Ốn định tăng trưng, thúc đẩy cải cách, khống chế rủi ro, tăng cưng động lực và sức sống bên trong

Quá trình chuyển đổi và xác lập trạng thái bình thường mới cũng là quá trình chính quyền, doanh nghiệp và người dân từng bước điều chỉnh thích ứng. Trong quá trình đó, mục tiêu hàng đầu của chính sách vĩ mô là giữ ổn định cơ bản, không để vượt giới hạn rủi ro trong vận hành kinh tế. Trong thời gian tới, cần tiếp tục kiên trì tư duy tổng thể là ổn định chính sách vĩ mô, linh hoạt chính sách vi mô, cải thiện, ổn định chính sách xã hội, kết hợp giữa phát triển trong ổn định, lấy ổn định để phát triển, trên cơ sở duy trì tổng thể nhu cầu cơ bản ổn định, tập trung cải cách thể chế theo chiều sâu, tiếp tục kích hoạt, giải phóng tiềm năng và sức sống của thị trường, tích cực dẫn dắt, cải thiện dự báo thị trường, phòng ngừa và giải tỏa rủi ro bong bóng bất động sản, nợ nần tín dụng của địa phương, hạ thấp giá thành kinh doanh của doanh nghiệp.

1) Thực thi chính sách tài chính, tiền tệ ổn định lành mạnh

Kinh nghiệm chính sách vĩ mô thời kỳ chuyển đổi giai đoạn tăng trưởng của các nước đi trước cho thấy, nhu cầu chung về giữ ổn định cơ bản chính sách là điều kiện quan trọng để chuyển đổi thành công. Xem xét nhiều rủi ro tồn tại trong vận hành kinh tế hiện nay của Trung Quốc cũng như đòi hỏi về tính hiệu quả và không gian lựa chọn chính sách, kiến nghị năm 2014 áp dụng chính sách ổn định lành mạnh về tài chính và tiền tệ. Tiếp tục giảm thuế mang tính cơ cấu, giảm thuế hợp lý hơn đối với các doanh nghiệp nhỏ. Với tiền đề ổn định cơ bản quy mô bội chi ngân sách, tăng hợp lý quy mô phát hành công trái thay cho chính quyền địa phương; tập trung khởi động lại nguồn vốn ứ đọng, làm tối ưu cơ cấu tiền gửi, nâng lương cơ bản và mức phụ cấp cho công nhân viên chức. Tiếp tục thực thi chính sách tiền tệ ổn định lành mạnh, tăng trưởng M2 khống chế ở mức trên dưới 13%, giữ tỷ giá hối đoái đồng nhân dân tệ cơ bản ổn định, thúc đẩy hơn nữa thị trường hóa lãi suất, cho phép ngân hàng phát hành phiếu chuyển nhượng vốn quy mô lớn trong thị trường giữa các ngân hàng, nâng cao mức trần lãi suất tiền gửi, hướng dẫn ngành ngân hàng chuyển hướng nghiệp vụ; khi có đủ các điều kiện liên quan, sẽ thận trọng mở cửa cho vay vốn, nhanh chóng công bố quy chế bảo hiểm tiền gửi, nâng cao năng lực của tổ chức kinh doanh tiền tệ vừa và nhỏ đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

2) Xử lý tt mi quan hệ giữa đi sâu cải cách và tăng trưởng ngắn hạn

Lựa chọn lĩnh vực trọng điểm, đột phá khẩu và thứ tự ưu tiên trong cải cách là điều vô cùng quan trọng. Cần phải xem xét các nhân tố: Một là hiệu ứng tăng trưởng trong cải cách. Cải cách cần phải có lợi cho tăng trưởng hoặc tạo điều kiện để tiếp tục tăng trưởng bền vững. Đây cũng là thước đo cơ bản kiểm nghiệm tính hợp lý của cải cách. Trong giai đoạn khởi đầu của vòng cải cách mới, để tăng cường hơn nữa động lực và sức sống bên trong, đặc biệt phải đòi hỏi lựa chọn những giải pháp cải cách có hiệu ứng tăng trưởng rõ rệt. Hai là tính cấp thiết, điều phối và mức độ đi đến đồng thuận. Những lĩnh vực có mâu thuẫn nổi cộm, nếu không thay đổi sẽ kìm hãm nghiêm trọng phát triển hoặc ổn định thì phải đặt ở vị trí ưu tiên. Nếu điều kiện đi cùng không theo kịp sẽ gây khó khăn cải cách đi vào chiều sâu; tăng cường sự đồng thuận sẽ giúp giảm bớt và xóa bỏ lực cản trong quá trình cải cách. Ba là tính khó lường và tính phức tạp của các giải pháp cải cách. Đối với những cải cách mà những tính chất đó tương đối cao sẽ có thể hoãn lại ở mức độ hợp lý, đồng thời làm tốt công tác chuẩn bị thông qua các phương thức như đi sâu điều tra nghiên cứu, vạch kế hoạch cẩn thận chu đáo, thử nghiệm phân tán… ở giai đoạn ban đầu.

3) Thực hiện chính sách nhà đất khác biệt ở từng khu vực

Coi trọng tình hình phân hóa khu vực thị trường bất động sản, tăng cường chỉ đạo phân loại, giảm chính sách làm đồng loạt, nâng cao tính mục tiêu và tính hữu hiệu trong chính sách điều tiết. Các đô thị loại một và loại hai cung cấp tăng thêm đất đai, điều chỉnh cơ cấu cấp đất, nâng cao tỷ trọng đất nhà ở cho họ sử dụng vừa và nhỏ, thông qua hình thức hạn chế giá và nhà thuộc quyền sở hữu chung để tăng số lượng cung ứng nhà ở bán giá thấp. Đối với những đô thị cung cầu tương đối lỏng lẻo, phải khống chế nhịp độ cấp đất, thu hẹp chu kỳ mua bán tồn đọng, để điều hòa giữa tiến trình xây dựng quản lý đô thị và tiến trình đô thị hóa. Nhanh chóng thúc đẩy đăng ký bất động sản, công tác liên mạng, mở rộng phạm vi thí điểm thuế bất động sản. Nâng cao khả năng cân bằng tiền vốn dự án cải tạo các khu nhà ở đơn sơ; thông qua các biện pháp như công khai lãi suất, tăng tỷ lệ sử dụng đất thương mại, hoàn thiện đồng bộ cơ sở hạ tầng trong xây dựng quản lý đô thị để tăng cường thu hút nguồn vốn xã hội hóa.

4) Tích cực phòng ngừa và loại bỏ rủi ro

Căn cứ theo quy định kiểm toán mới đối với nợ của địa phương, nhanh chóng đưa ra phương án giải quyết và xử lý nợ, Làm rành mạch quan hệ pháp luật giữa chính phủ trung ương, chính quyền địa phương, cơ quan đầu tư vốn, ngân hàng. Xác định rõ các điều kiện và giải pháp trừng phạt khi chính phủ trung ương trợ giúp chính quyền địa phương, bao gồm sát hạch quan chức, ràng buộc ngân sách và hạn chế đầu tư, ngăn chặn rủi ro suy thoái đạo đức. Phát triển hợp lý nguồn vốn bằng trái phiếu, thúc đây lưu chuyển vốn theo mặt bằng huy động vốn của chính quyền địa phương. Đối với số dư nợ phù hợp điều kiện như có đảm bảo thế chấp, sử dụng nguồn vốn, lưu chuyển tiền mặt, các tổ chức kinh doanh tiền tệ địa phương cho vay cần cho phép kéo dài thời gian vay để thực hiện đồng bộ giữa dự án và hạn vay của địa phương. Đối với một số ngân hàng khó duy trì liên tục nguồn vốn cho vay cần có quy định xử lý dự án. Nhanh chóng xây dựng bảng biểu nguồn vốn nợ công hoàn chỉnh, vào thời điểm thích hợp chính quyền địa phương có thể thí điểm tự phát hành trái phiếu theo phương thức thị trường.

5) Cải thiện môi trường vận hành doanh nghiệp, thúc đẩy chuyển đi nâng cấp

Mở rộng phạm vi thí điểm “Quy chế thanh toán mặt trái”, bình đẳng đối với mọi doanh nghiệp, thiết thực hạ giá thành đầu vào của doanh nghiệp. Đơn giản hóa thủ tục hành chính và giao quyền không phải là phân quyền hành chính, mà phải giao quyền tối đa cho thị trường và doanh nghiệp, chứ không thể đơn giản buông lỏng cho chính quyền cấp dưới. Đổi mới phương thức quy chế ngành nghề, căn cứ theo tiêu chuẩn và quy phạm kỹ thuật về tiền hao năng lượng, bảo vệ môi trường, chất lượng để hình thành hệ thống quy chế ổn định, công khai minh bạch. Xây dựng thị trường cạnh tranh bình đẳng, hạn chế việc làm của địa phương kích thích đầu tư quá độ bằng các biện pháp như giá đất thấp, tiêu chuẩn môi trường thấp, ưu đãi thuế và trợ cấp tài chính bất hợp lý… Nhanh chóng thực thi chính sách khấu hao, nâng cao tỷ lệ khấu trừ thuế thu, khuyến khích doanh nghiệp đổi mới thiết bị và thay thế nhân công bằng máy móc. Đi sâu cải cách tài chính tiền tệ, nâng cao hiệu quả phân bổ các nguồn lực, thiết thực hạ giá thành đầu vào trong nền kinh tế thực. Thực thi chính sách thuế, tài chính theo hướng sáp nhập và tái cơ cấu, hỗ trợ tài chính, khuyến khích các doanh nghiệp có ưu thế tổ chức lại theo hướng sáp nhập xuyên khu vực, có nhiều chế độ sở hữu, thúc đẩy ngành nghề nâng cao độ tập trung. Tăng cường thực hiện pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ, khuyến khích doanh nghiệp tự chủ đổi mới sáng tạo.

Ngày 6/1, mạng Tin tức Trung Quốc đăng bài viết “Kinh tế Trung Quốc sẽ đối mặt với 4 thách thức lớn trong năm 2014” của chuyên gia Đàm Hạo Tuấn, trong đó cho rằng bước sang năm 2014, kinh tế Trung Quốc vẫn tồn tại rất nhiều nhân tố không xác định, ngoài các nhân tố bất lợi bên ngoài như tình hình kinh tế thế giới ảm đạm, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch tràn lan, chương trình nới lỏng định lượng (QE) thoái trào, thì các nhân tố ràng buộc trong nước cũng rất nhiều, đặc biệt là thách thức đến từ các phương diện sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến tiến trình phát triển kinh tế cũng như hiệu qủa của sự điều chỉnh kết cấu và chuyển đổi mô hình kinh tế.

Thứ nhất, đi sâu cải cách phải đối mặt với thách thức đến từ các nhóm lợi ích. Nếu nói cải cách của 30 năm trước, vấn đề phải đối mặt chủ yếu là thách thức về quan niệm tư tưởng và nhận thức, chỉ cần giải quyết vấn đề tư tưởng và nhận thức, trở ngại của cải cách sẽ được giảm thiểu tối đa. Tuy nhiên, cải cách ngày nay không chỉ cần tiếp tục giải quyết tư tưởng, chuyển biến quan niệm, mà còn phải phá vỡ thành luỹ của các nhóm lợi ích, khắc chế trở lực từ các nhóm lợi ích này.

Theo quyết định của Hội nghị Trung ương 3 khoá 18, năm 2014 không chỉ là năm bắt đầu đi sâu cải cách toàn diện, mà còn là năm đặt nền tảng cho việc đi sâu cải cách toàn diện của Trung Quốc. Rất nhiều phương án cải cách đều cần được xây dựng và đưa vào triển khai trong năm 2014 này. Nhưng xét từ tình hình thực tế hiện nay, những phương án này đang trong quá trình nghiên cứu xây dựng, chắc chắn sẽ chịu sự ngăn cản quyết liệt của các nhóm lợi ích liên quan. Những nhóm lợi ích này không chỉ đến từ các lĩnh vực có tài nguyên của cải phân phối bất công, mà còn đến từ các lĩnh vực như phân phối quyền lực bất hợp lý, đến từ lĩnh vực kinh tế cơ bản, kiến trúc thượng tầng, kể cả mối quan hệ không thuận chiều giữa chính quyền và doanh nghiệp, giữa chính phủ và thị trường. Tất cả những vấn đề đó đều cần thông qua đi sâu cải cách để giải quyết, nhưng đồng thời cũng hình thành trở ngại và thách thức cho việc đi sâu cải cách. Cho nên, khi nghiên cứu xây dựng phương án cải cách và thực hiện các biện pháp cải cách, việc có thể vượt qua các thách thức nói trên hay không, sẽ là một lần khảo nghiệm nghiêm túc đối với Chính phủ Trung Quốc.

Nhưng cũng có thể thấy, tập thể ban lãnh đạo Trung ương khoá mới của Trung Quốc đã nhận thức được đầy đủ mức độ khó khăn và áp lực về những thách thức nói trên, đã thực hiện bố trí sắp xếp ở cấp bậc cao nhất có thể để đi sâu cải cách, do đích thân Tổng Bí thư Tập Cận Bình làm tổ trưởng Tổ lãnh đạo đi sâu cải cách. Bên cạnh đó, tất cả các phương án cải cách đều dựa trên cơ sở yêu cầu thiết kế cấp cao, tiến hành từ trên xuống dưới, từ đó giảm thiểu trở lực và áp lực của cải cách. Chính vì vậy, mặc dù áp lực đi sâu cải cách rất lớn, trở lực rất nhiều, nhưng với cách làm quyết liệt, hợp lý như trên, chắc chắn sẽ không xuất hiện những vấn đề không thể vượt-qua. Năm 2014 sẽ là một năm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong nền kinh tế, thậm chí trong lịch sử Trung Quốc.

Thứ hai, đô thị hoá mô hình kiểu mới của Trung Quốc sẽ đối mặt với thách thức đến từ chính quyền địa phương. Đô thị hoá mô hình kiểu mới cũng giống với cải cách, đều được coi là một trong những nguồn chủ yếu để tạo ra lợi nhuận. Nhất là đô thị hoá mô hình kiểu mới không chỉ trở thành lĩnh vực tạo ra lợi nhuận, mà sẽ còn trở thành vũ đài quan trọng để Trung Quốc thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, thực hiện xã hội công bằng, chính nghĩa. Nhưng thực hiện đô thị hoá mô hình kiểu mới cũng không phải là một việc đơn giản. Trong đó, làm thế nào để khắc chế trở lực và thách thức từ chính quyền địa phương là điều hết sức quan trọng. Xét từ kinh nghiệm và bài học trong việc xây dựng đô thị hoá Trung Quốc, mặc dù đô thị hoá đã thúc đẩy kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh hơn, đồng thời cũng đã đem lại sự thay đổi tích cực về diện mạo đô thị, nhưng các dạng mâu thuẫn và vấn đề đem lại cũng không thể coi nhẹ. Bên cạnh việc chính quyền địa phương đang đẩy nhanh xây dựng đô thị, thì đồng thời cũng lấy xây dựng đô thị làm công cụ cho thành tích của cá nhân lãnh đạo và chính quyền địa phương, vì vậy trong phát triển đô thị hoá, đã không chú ý đến yếu tố con người là nhân tố cốt lõi của đô thị hoá. Cho nên, làm thế nào để trong xây dựng đô thị hoá mô hình kiểu mới đặt con người vào vị trí trung tâm, đồng thời để chính quyền địa phương không vì lợi ích bản thân để bẻ cong xây dựng đô thị hoá, làm cho đô thị hoá mô hình kiểu mới trở thành bản sao của xây dựng đô thị hoá, đòi hỏi tầng quyết sách và tầng quản lý phải đưa ra nhiều phương pháp và biện pháp hơn nữa, có thể phát huy vai trò tích cực, hiệu quả trong xây dựng đô thị hoá mô hình kiểu mới. Rõ ràng, năm 2014 cũng là năm cất bước của đô thị hoá mô hình kiểu mới, do đó cũng sẽ là thách thức và khảo nghiệm nghiêm túc đối với tập thể ban lãnh đạo khoá mới của Trung Quốc.

Thứ ba, kinh tế tăng trưởng phải đối mặt với thách thức đến từ các nhân tố bất lợi như nạn khói mù. Trong một năm qua, vấn đề khói mù tại Trung Quốc là đặc biệt nghiêm trọng. Mặc dù, khói mù là một khái niệm môi trường, nhưng nó thể hiện nội hàm kinh tế hết sức sâu sắc. Vì nguồn gốc chủ yếu của khói mù là xuất phát từ sự bất hợp lý nghiêm trọng của kết cấu kinh tế và phương thức tăng trưởng kinh tế quá thô, quá lỏng lẻo. Nếu kết cấu kinh tế và phương thức tăng trưởng kinh tế hợp lý, vấn đề khói mù sẽ không thể nghiêm trọng như thế. Ngược lại, muốn giải quyết khói mù, phải đẩy nhanh điều chỉnh kết cấu và chuyển đối mô hình kinh tế, đẩy nhanh chuyển biến phương thức tăng trưởng kinh tế.

Vậy thì làm thế nào xử lý tốt quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, để cho tăng trưởng kinh tế không tiếp tục phải trả giá cho phá hoại môi trường, mà bảo vệ môi trường lại không ảnh hưởng quá lớn đến sản xuất và tăng trưởng kinh tế. Không chỉ có vậy, việc sử dụng nguồn tài nguyên như thế nào, tiết kiệm năng lượng như thế nào… cũng sẽ trở thành sự ràng buộc quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Như vậy, năm 2014 sẽ trở thành một năm mang tính cột mốc cho việc cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường của Trung Quốc.

Thứ tư, chính sách tiền tệ phải đối mặt với thách thức đến từ ngân hàng. Kể từ khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đến nay, chính sách tiền tệ của Trung Quốc cơ bản bị ngân hàng dẫn dắt. Ngân hàng tung các gói tín dụng quá mức, đã đưa đến áp lực lạm phát tiền tệ, chỉ có thể thông qua điều chỉnh chính sách tiền tệ để giải quyết: sau khi ngân hàng tung các gói tín dụng này, họ xuất hiện tình trạng “thiếu tiền”, do đó lại phải cần đến chính sách tiền tệ. Đây chính là mối quan hệ chủ động và bị động do ngân hàng sắp xếp, ngân hàng hoàn toàn có thể đảo ngược, làm cho chính sách tiền tệ trở thành công cụ của ngân hàng.

Mặc dù các chuyên gia tài chính cho rằng năm 2014 có thể không xuất hiện hiện tượng “thiếu tiền”, nhưng tác giả cho rằng nếu quan niệm tín dụng của ngân hàng không thay đổi, hiện tượng “thiếu tiền” không chỉ sẽ xuất hiện, mà còn xuất hiện thường xuyên hơn. Vì vậy, ngân hàng Trung Quốc phải tính toán đến lợi ích lâu đài và lợi ích toàn cục, nếu không tình trạng sẽ còn nghiêm trọng hơn những năm trước đây.

Tác giả kết luận kinh tế Trung Quốc năm 2014 đang được kỳ vọng rất nhiều, nhưng những thách thức trước mắt cũng cần phải đối diện, đồng thời áp dụng mọi biện pháp cần thiết để giải quyết thoả đáng./.

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d người thích bài này: