BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2272. TRẬN HẢI CHIẾN HOÀNG SA: 40 NĂM SAU NHÌN LẠI

Posted by adminbasam trên 24/01/2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Tư, ngày 22/01/2014

Theo báo mạng Asia Sentinel, nếu như Mỹ có ý định duy trì sự can dự ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương thì nước này phải thiết lập những mục tiêu rõ ràng và tìm ra một biện pháp để phát triển cùng với Trung Quốc.

Ngày 19/1 năm nay là tròn 40 năm kể khi Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ tay miền Nam Việt Nam. Nằm ở phía Đông của Việt Nam và phía Nam đảo Hải Nam của Trung Quốc, quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa, tên quốc tế là Paracels) vẫn là một điểm nóng vô cùng nhức nhối giữa hai nước láng giềng Trung Quốc và Việt Nam. Vấn đề này đã lôi kéo cả hai nước vào các cuộc tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải khác.

Trước cuộc xâm lược của hải quân Trung Quốc vào năm 1974, sự chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa được phân chia giữa hai bên là Trung Quốc và miền Nam Việt Nam. Trung Quốc khi đó kiểm soát các hòn đảo được gọi là cụm đảo Amphitrite (Trung Quốc gọi là Tuyên Đức, Việt Nam gọi là An Vĩnh), và miền Nam Việt Nam kiểm soát cụm đảo Crescent (Trung Quốc gọi là Vĩnh Lạc, Việt Nam gọi là Lưỡi Liềm hoặc Trăng Khuyết).

Cho đến năm 1973, cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam đã ngăn cản Trung Quốc thúc đẩy các động thái chiếm những hòn đảo do miền Nam Việt Nam kiểm soát do lo sợ khả năng Mỹ trả đũa quân sự. Tuy nhiên, không lâu sau khi Mỹ từ bở sự can thiệp ở Việt Nam, Trung Quốc đã nhanh chóng tấn công bất ngờ và chiếm giữ nhóm đảo Trăng Khuyết từ tay hai quân miền Nam Việt Nam . Cuộc giao tranh đã bắt đầu và kết thúc gần như ngay sau đó với việc Trung Quốc đã củng cố được quyền kiềm soát của họ đối với quần đảo Hoàng Sa.

Năm 1973 là một năm quan trọng và mang tính quyết định đối với 3 quốc gia ở khu vực Đông Nam Á. Vào năm 1972, khi Mỹ bình thường hóa quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thông qua chuyến thăm lịch sử của Tổng thổng Mỹ Richard Nixon tới Bắc Kinh – sau khi Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc) bị khai trừ khỏi Liên hợp quốc và được thay thế bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tiếp sau nghị quyết 2758 được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua trong năm 1971.

Cùng thời gian đó, Mỹ đang tiếp tục thực hiện kế hoạch rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, trong khi chuyển giao các trách nhiệm chiến tranh cho Chính quyền miền Nam Việt Nam trong một chiến lược được biết đến với tên gọi “Việt Nam hóa chiến tranh.” Vào ngày 27/1/1973, Thỏa thuận Chấm dứt Chiến tranh và Khôi phục Hòa bình ở Việt Nam, còn được gọi là Hiệp định Hòa bình Paris, đã được ký kết bởi ba bên gồm Mỹ, miền Nam Việt Nam và miền Bắc việt Nam. Việc ký kết Hiệp định Hòa bình Paris chính thức dẫn đến sự kết thúc cuộc chiến kéo dài và không được nhiều người ủng hộ của Mỹ ở Việt Nam, nó cũng đánh dấu điểm khởi đầu của một sự kết thúc đối với chế độ miền Nam Việt Nam-đồng minh của Mỹ.

Bất chấp sự hiện diện của Hạm đội 7 Hải quân Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương, những lời kêu gọi của Sài Gòn đề nghị sự hỗ trợ của Mỹ nhằm đẩy lui cuộc tấn công của Trung Quốc đã bị từ chối. Những thông tin được tiết lộ trong một bức điện tín từ Washington tới Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn đã cho thấy những mệnh lệnh cho Đại sứ quán Mỹ khuyên Chính quyền miền Nam Việt Nam thực hiện các bước đi tối thiểu để tự phòng vệ và tránh đối đầu hơn nữa với Trung Quốc.

Có lẽ là khi đó có rất nhiều khả năng các lực lượng của hải quân miền Nam Việt Nam sẽ chiếm lại được các vùng lãnh thổ của họ ở quần đảo Hoàng Sa với một số sự hỗ trợ của quân đội Mỹ. Tuy nhiên, những quan ngại về việc kích động một cuộc xung đột lớn hơn ở khu vực Đông Nam Á liên quan đến Trung Quốc, phải nói là mệt nhọc và vô nghĩa với Mỹ ở Việt Nam, đã đảm bảo rằng những sự xâm chiếm mới của Trung Quốc ở Biển Đông không bị tranh đoạt lại.

Việc Mỹ từ bỏ miền Nam Việt Nam đã được nhận thấy đầy đủ chỉ hơn 1 năm sau đó, khi họ không tham gia bảo vệ đồng minh của mình trước cuộc xâm chiếm của miền Bắc Việt Nam, kết thúc với sự đầu hàng của Chính quyền Sài Gòn và cuối cùng là việc tái thống nhất đất nước Việt Nam. Bức ảnh nổi tiếng của Hubert van Es về một máy bay trực thăng Mỹ đậu trên nóc một tòa nhà để đón những người miền Nam Việt Nam di tản khi các lực lượng của miền Bac Việt Nam tràn vào Sài Gòn sẽ mãi mãi đánh dấu một sự kết thúc nhục nhã đối với một cuộc chiến tranh mà lẽ ra nó không bao giờ nên kéo dài như diễn ra, và đã chấm dứt cái cách mà nó đã diễn ra.

Tìm kiếm ý chí hành động

40 năm sau trận hải chiến Hoàng Sa ngày ấy, thế giới đã thay đổi rất nhiều, mặc dù cuộc tranh chấp quần đảo này vẫn đang tiếp tục diễn ra và gây nhiều bất ổn. Các cuộc tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải ở khắp khu vực châu Á – Thái Bình Dương vốn đã rất nhạy cảm, lại càng bị làm cho tồi tệ hơn bởi sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng như sự hung hăng ngày càng gia tăng của nước này, điều bị nhiều quốc gia trong khu vực coi là một dấu hiệu cho thấy những điều tồi tệ nhất sẽ xảy đến.

Vụ cắt cáp ở Biển Đông, vụ hộ chiếu có in đường lưỡi bò gây ồn ào, một cuộc đối đầu xung quanh bãi cạn Scarborough (Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham, Philippines gọi là Panatag), và việc thiết lập một Vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ) ở biển Hoa Đông, tất cả đều góp phần làm gia tăng những căng thẳng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Chiến lược xoay trục của Mỹ sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương có thể và được hiểu rộng rãi là một sự phản ứng đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc, mặc dù những ảnh hưởng mà Washington hi vọng chiến lược tái cân bằng của họ sẽ có được ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương là gì thì vẫn còn cần phải chờ xem. Do vậy, đến nay Mỹ vẫn né tránh việc can thiệp vào mớ hỗn độn những tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, liên tiếp nhắc lại rằng các bên liên quan cần phải tìm ra giải pháp giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và bảo vệ tự do hàng hải ở các vùng biển.

Chính vì các nước láng giềng của Trung Quốc phải điều chỉnh để thích nghi với sự trỗi dậy của Trung Quốc nên Trung Quốc cũng phải điều chỉnh để thích nghi với các nước láng giềng của họ. Việc giao tranh và/hoặc tạo ra sự xuất hiện của các hành động xâm lược sẽ chỉ gieo mầm những sự bất hòa và khiến cho việc tìm kiếm một nền hòa bình ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương càng trở nên khó khăn hơn.

Mặc dù sự hiện diện của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ tạo ra lực cản đối với bất kỳ bên nào nỗ lực phủ nhận tự do hàng hải ở khu vực này, nhưng nếu không có những mục tiêu rõ ràng và được xác định cụ thể để theo đuổi ở trong khu vực này, Mỹ sẽ làm cho bản thân nước này quay cuồng trong những vòng quay phức tạp hơn nhiều so với bình thường.

Vậy thì Washington muốn điều gì? Họ sẽ đạt được các mục tiêu này như thế nào? Cho dù là như thế nào thì trước khi các nhà lãnh đạo Mỹ có thể đưa ra bất kỳ mục tiêu nào, trước tiên họ cũng cần phải có ý chí chính trị. Phải có một sự khao khát chính trị và là sự khao khát công khai trong việc hành động – điều này, trên tất cả những thứ khác, sẽ cho thấy khó khăn và bất ổn nhất, dễ bị ảnh hưởng sự thay đổi tỷ lệ những lá phiếu tiêu cực. Chính vì công chúng Mỹ đã mất đi sự mong muốn về chiến tranh ở Việt Nam (và gần đây nhất là ở hai nước Iraq cùng với Afghanistan), nên họ cũng có thể mất đi sự mong muốn can thiệp nhiều hơn ngay lập tức vào một góc xa xôi của thế giới.

Dĩ nhiên, đó là một cuộc thảo luận khác, hoàn toàn về khả năng liệu Washington có can thiệp vào các vấn đề của các quốc gia khác hay không – một cuộc thảo luận tốt nhất là để cho người dân Mỹ và những quan chức được bầu chọn của họ, nhưng do Biển Đông (đang là môi trường cho một số cuộc tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải) là một tuyến đường thương mại quan trọng đi qua Thái Bình Dương, nên Mỹ tốt nhất nên đóng một vị trí lãnh đạo trong các cuộc tranh chấp này và giải quyết những tranh chấp đó một cách hòa bình và lâu dài.

(Đài BBC 17/1)

Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy cho rằng lãnh đạo Việt Nam đang có những đổi mới mà ông cho là ‘lạ’ khi nhìn lại quan hệ lịch sử gần đây với Trung Quốc, đặc biệt là các cuộc xung đột lãnh thổ lãnh hải, trong đợt đánh dấu kỷ niệm 40 năm Trung Quốc có hành động cưỡng chiếm các đảo ở Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng hòa.

Ngày 17/1/2014, trao đổi với BBC, cựu Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu trong thập niên 1990 nói báo chí, truyền thông đã được nói “công khai”, ‘thẳng thắn” nhiều vấn đề mà trước đây trong thời gian dài được cho là “nhạy cảm” trong quan hệ Việt-Trung khi đề cập xung đột Hoàng Sa, Trường Sa hay thậm chí Chiến tranh biên giới 1979. Nhà nghiên cứu này cho hay ông theo dõi chặt chẽ báo chí Trung Quốc và thấy rằng các báo Trung Quốc tỏ ra “khá im ắng” về sự kiện Hải chiến Hoàng Sa trong dịp này.

“Hun đúc tinh thần”

Cựu quan chức ngoại giao nhân dịp này hy vọng rằng cách lãnh đạo Việt Nam hiện nay cũng như trong tương lai sẽ học được các bài học từ quá khứ trong quan hệ với Trung Quốc, chẳng hạn giữ lời hứa và cho phép đưa vào sách giáo khoa, các chương trình giáo dục các sự kiện lịch sử như cuộc, xung đột Hoàng Sa, Trường Sa, Chiến tranh biên giới phía Bắc. Nhà nghiên cứu cho rằng Việt Nam nên đẩy mạnh “giáo dục” để hun đúc tinh thần và ý chí “một ngày nào đó thu hồi Hoàng Sa” trong nhân dân và nhà nước nên quan tâm việc này, vì theo ông “không ai mạnh mãi, Trung Quốc không thể mạnh mãi” và Việt Nam cũng sẽ “không yếu mãi”.

Mở đầu cuộc trao đổi ngày 17/1, từ Hà Nội, ông Dương Danh Dy đưa ra nhận xét về cách thức đánh dấu sự kiện trên báo chí, truyền thông chính thức của Việt Nam nhân sự kiện Hải chiến Hoàng Sa tròn 40 năm:

+ Tôi thấy không khí năm nay khác hẳn mọi năm vì đây là lần đầu tiên ngày chúng ta bị mất một nửa Hoàng Sa được tiến hành kỷ niệm một cách khá phổ biến và rộng rãi. Nhiều tổ chức, dân chúng, đoàn thể, các tờ báo được công khai phát biểu về sự kiện này. Riêng cá nhân tôi trả lời Vietnamnet về việc vì sao Việt Nam vào tháng 1/1974, khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền miền Nam Việt Nam thì Chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa lại không lên tiếng. Bài phỏng vấn đã được đăng và tất cả bạn đọc Việt Nam hoan nghênh rất nhiều về chuyện đó.

– Thế còn các quan chức lãnh đạo nhà nước, không biết họ có tham gia hoặc tổ chức những lễ tưởng niệm hay kỷ niệm một cách chính thức cấp nhà nước hay không?

+ Chưa đến ngày đó nên tôi chưa biết thế nào, nhưng những tờ báo chính thức của Việt Nam thì đều đăng khá rộng rãi về Hoàng Sa. Ngoài ra, các tổ chức dân chúng thì họ tổ chức rất công khai.

– Còn các nguyên thủ, các vị lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, họ có tham gia sự kiện nào trong đợt kỷ niệm này không?

+ Đến bây giờ tôi chưa thấy.

– Không biết phản ứng của phía Trung Quốc thế nào?

+ Trước những phản ứng của Việt Nam, phía Trung Quốc chưa có phản ứng gì.

– Gần đây, chúng tôi biết Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ cho phép có điều chỉnh đưa sự kiện Trường Sa, Hoàng Sa vào trong sách giáo khoa. Theo ông, lãnh đạo có giữ lời không?

+ Chắc chắn giữ chứ, tôi nhớ có nhà xuất bản đã phát hành quyển sách tranh cho trẻ em đề cập đến Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam gồm những hòn đảo nào.

– Không biết ai sẽ là người chịu trách nhiệm về vấn đề này do trong nhiều năm qua sự kiện Hoàng Sa không được kỷ niệm ở quy mô như hiện nay, thậm chí vắng mặt trong nhiều sách nghiên cứu chính thức, kể cả trong sách giảng dạy ở phổ thông?

+ Câu hỏi khó đấy. Tôi là người thắc mắc rất nhiều về chuyện này. Năm 2009, khi tôi viết về sự kiện Trung Quốc xâm lấn biên giới Việt Nam thì chỉ có BBC dám đăng bài của tôi, trong nước thì không tờ báo nào dám đăng. Bây giờ truy ai cũng chẳng có ích lợi gì, chỉ hy vọng rằng ban lãnh đạo qua các thế hệ sẽ rút kinh nghiệm, họ tìm ra cái nào là đúng, cái nào chưa đúng và tự họ sửa, còn mình là người dân bình thường thì làm sao xoay chuyến được tình thế.

– Động thái kỷ niệm năm nay liệu có đánh dấu thay đổi cách đưa tin của truyền thông hay không? Không biết có liên hệ gì với sự thay đổi nào đó trong tương lai của lãnh đạo Việt Nam?. Chẳng hạn, lãnh đạo Việt Nam có thể quyết định đưa vụ việc Hoàng Sa ra tòa án quốc tế để đòi chủ quyền của Việt Nam một cách chính thức?

+ Tôi biết sau sự kiện Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 cũng như trong cuộc chiến biên giới do Trung Quốc gây ra năm 1979 thì thái độ ban lãnh đạo của Việt Nam hiện nay bắt đầu có sự thay đổi.

– Theo ông, bao giờ Việt Nam đưa vụ kiện Hoàng Sa ra tòa án quốc tế để đòi lại chủ quyền?

+ Cái này còn tùy thuộc vào ban lãnh đạo. Còn ý kiến riêng của tôi thì phải giáo dục cho thanh niên Việt Nam ý thức thu hồi Hoàng Sa. Đưa ra hội nghị như Philippines thì không giải quyết được gì mà còn mất thời gian.

– Trong những ngày tới đây, theo ông nếu có những cuộc mít-tinh xuống đường kỷ niệm của người dân Việt Nam, nhà nước có ủng hộ các cuộc xuống đường đó hay có những can thiệp gì không?

+ Tôi chỉ biết rằng ngày 19/1/2014, người ta tập họp tại vườn hoa Lý Thái Tổ. Còn có những hành động gây trở ngại hay khuyến khích thì tôi không thể nói được.

(Đài RFA 17/1)

40 năm đã trôi qua kể từ trận hải chiến Hoàng Sa 1974, người Việt Nam phải tự vấn lương tâm là đã làm được gì bởi mất Hoàng Sa và không giữ được Trường Sa là mất Biển Đông, là sinh mệnh của dân tộc.

Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, nguyên Trưởng nhóm Tư vấn Lãnh đạo Bộ Ngoại giao, sẽ khẳng định như vậy tại cuộc hội thảo khoa học nhân sự kiện 40 năm Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa ở Đà Nang ngày 19/1 này:

+ Theo tôi biết, ngoài buổi hội thảo khoa học thì Đà Nẵng còn có một số hoạt động khác nữa. Trung tâm Minh Triết chúng tôi sắp tới đây đề nghị với Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là phải vinh danh, phải công nhận 74 chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa đã bỏ mạng vì Hoàng Sa ngày đấy cũng phải được vinh danh như 64 liệt sĩ của Hải quân Nhân dân Việt Nam trong vụ thảm sát Gạc Ma ở Trường Sa năm 1988.

– Thưa tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, trong tư cách tham luận viên tại buổi hội thảo khoa học 40 năm Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sai điều quan trọng nhất ông muốn trình bày là gì?

+ Đầu tiên, tôi muốn nói hòn đảo bị chiếm không phải là hòn đảo bị mất. Đó là thông điệp rất quan trọng. Bởi vì hành động chiếm đóng đó là một hành động bằng vũ lực, hành vi đó đi ngược lại với Luật pháp Quốc tế. Chúng ta hiện đang bước vào thiên niên kỷ thứ ba được 15 năm rồi, có nghĩa là thế giới không ở cái thời kỳ mông muội nữa, không ở thời kỳ mà anh mạnh bắt nạt anh yếu, không ở thời kỳ có thể múa gậy vườn hoang nữa. Mọi chuyện tất nhiên không phải được quyết định hoàn toàn bởi Luật pháp Quốc tế, nhưng trong thế giới hiện đại văn minh này thì Luật pháp Quốc tế càng ngày càng có vị trí quan trọng. Vì vậy, tôi nói rằng đảo bị chiếm không phải là đảo bị mất. Trong lúc này, lợi ích quốc gia dân tộc là tối thượng, nếu nhìn mọi vấn đề từ lợi ích quốc gia dân tộc mình sẽ có hướng đi và sẽ giải quyết được nhiều vấn đề. Tất nhiên, nếu ngồi lại với nhau mạn đàm khoa học, trao đổi trên tinh thần tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau.

– Thưa ông có thể nói điều gì trước thực tế là Hoàng Sa đã mất, Trường Sa cũng mất một số đảo, trong lúc Trung Quốc ngang nhiên leo thang khiêu khích ngày càng nhiều?

+ Tính nghiêm trọng của vấn đề Hoàng Sa bị cưỡng chiếm rồi một phần Trường Sa bị cưỡng chiếm và nay mai Trung Quốc có thể có những biện pháp mạnh trên Biển Đông nữa. Nói nguy hiểm cũng không nói hết tầm mức nghiêm trọng của vấn đề mà phải nói rằng con đường sinh mệnh của dân tộc Việt Nam, con đường sinh mệnh của đất nước Việt Nam bị chặn lại. Điều này không chỉ trên vấn đề về tư duy khoa học-về chính trị, kinh tế mà ngay đến mặt tâm linh mà nói cũng rất nghiêm trọng.

– ông nói lợi ích dân tộc và chủ quyền quốc gia là điều tối thượng, vậy phải làm gì để bảo vệ điều tối thượng và tài sản quí báu nhất đó?

+ Tôi muốn nói rằng việc đầu tiên những người Việt Nam không chỉ ở trong nước mà cả những người Việt Nam ở nước ngoài, ở khắp nơi trên qủa đất này, phải suy ngẫm là mình hết sức đoàn kết, hết sức làm thế nào cùng nhau hướng về mục tiêu tối thượng để một ngày nào đó, bằng những phương tiện khác nhau chúng ta phải giành lại được Hoàng Sa, phải dành lại được những đảo đã mất ở Trường Sa. Tất nhiên, nói thì nghe đơn giản nhưng làm không đơn giản. Hiện nay chúng ta có khu vực hóa, có chủ nghĩa khu vực mở, Việt Nam cũng đã xây dựng được một quan hệ quốc tế rất linh hoạt, đó là hệ thống đối tác chiến lược, hệ thống đối tác toàn diện với hầu hết tất cả các nước thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên họp quốc, trong đó có cả Trung Quốc. Việc dựa vào Luật pháp quốc tế cũng có những chuyện khá quyết định nhưng với tư cách là người trong nước, tôi nghĩ trước hết Việt Nam phải làm thế nào có được sự hòa giải hòa hợp dân tộc, giữ được trong ấm ngoài êm và phải thúc đẩy những chương trình hiện nay trong nước, đang có như chương trình Nhịp cầu Hoàng Sa, nghìn thanh niên thế kỷ 21, Giấc mơ Việt Nam, Minh Triết về Biển Đông, Nuôi chí giành lại Hoàng Sa. Cổ vũ những chương trình này trong khắp cả nước là đấu tranh về mặt chính trị, tất nhiên còn phải làm nhiều mặt khác nữa.

– Còn trước mối hiểm nguy nước lớn từ Trung Quốc thì việc mang lợi ích quốc gia trên Biển Đông gắn với lợi ích của khu vực ASEAN và quốc tế nên chăng điều cần thiết phải làm?

+ Nói về ASEAN và trong khu vực, tôi cũng phải nói trong và ngoài ASEAN, trong đó có Mỹ và Nhật Bản, đã biết từ sớm và khá rõ là khi Trung Quốc đâu chỉ đe dọa mỗi mình Việt Nam mà đe dọa toàn khu vực. Những lúc này ta phải hỏi “Chuông nguyện hồn ai?” Đây là chuông nguyện chính những nước trong khu vực và những nước ngoài khu vực! Vì vậy nhu cầu hợp đoàn, nhu cầu phải có một tiếng nói chung như vừa thấy sau tuyên bố của Trung Quốc mới đây là lần lượt Đài Loan, Philippines, Việt Nam, Mỹ và gần đây nhất là Nhật Bản đã tỏ thái độ. Đó chính là sức mạnh, nhưng tôi vẫn nhấn mạnh là Việt Nam phải coi trọng sức mạnh nội tại. Sức mạnh bên ngoài chỉ có thể phát huy được khi mình có sức mạnh trong nước, cả hai điều đó mới thành nền tảng bền lâu trong cuộc đấu tranh giành lại, giữ gìn và bảo vệ biển đảo.

– Bao năm nay, như ông thấy, nỗ lực từ các nước tranh chấp cùng những quốc gia bạn bè trong ASEAN buộc Trung Quốc tôn trọng Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và tiến tới Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) coi như thất bại. Việt Nam có nên cậy vào Luật pháp Quốc tế như Philippines chăng?

+ Phải nói thẳng trong thực tế, Trung Quốc đang chà đạp DOC, không tôn trọng DOC, nếu đến ngày mà ASEAN và các nước đối thoại không thấy tính chất nghiêm trọng của vấn đề này thì sẽ rất nguy hiểm. Còn đối với COC thì rõ ràng sau khi thiết lập Vùng xác nhận phòng không (ADIZ) của Trung Quốc ở biển Hoa Đông, rồi sau cấm bắt đánh cá ở Biển Đông thì tương lai của COC càng xa. Mặc dù sau một thời gian nửa năm vừa qua ta thấy có vẻ sóng yên biển lặng nhưng đấy chỉ là bề ngoài, nhiều khi đấy là sự yên tĩnh trước cơn bão. Hiện chưa ai có thể lường trước được tình hình an ninh khu vực năm 2014 này sẽ thế nào nhưng tôi nghĩ là sẽ khó khăn.

Còn hỏi Việt Nam có thể làm gì hơn, có thể theo gương Philippines không? Việc này trước hết thuộc phạm vi của giới hoạch định chính sách của nhà nước. Tôi nghĩ nếu đưa Trung Quốc ra tòa án quốc tế thì Việt Nam phải dày công nghiên cứu kinh nghiệm của quốc tế, bởi vì tòa án quốc tế không có một mà có hai hay ba tòa án quốc tế. Tại sao Philippines kiện Trung Quốc trong khi Trung Quốc không ra, tại vì Philippines đưa Trung Quốc ra tòa án chiểu theo Phụ Lục VII của Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS) 1982. Nếu Việt Nam cũng muốn đưa vấn đề này ra thì chọn tòa án nào, Tòa án hòa giải, Tòa án theo phụ lục VII, hoặc Tòa án theo điều VIII? Dù tòa án nào thì Việt Nam phải phân biệt trong tranh chấp này là có phần tranh chấp lãnh thổ và có phần tranh chấp biển. Đây là vấn đề phải có nghiên cứu kỹ lưỡng, công phu và phải có sự quyết định từ giới hoạch định chính sách chứ không phải ở những trung tâm phi chính phủ (NGO) như chúng tôi./.

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d người thích bài này: