BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2271. NHÌN LẠI KINH TẾ TRUNG QUỐC 2013 VÀ TRIỂN VỌNG 2014 (phần đầu)

Posted by adminbasam trên 24/01/2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Tư, ngày 22/01/2014

(“Thời báo kinh tế Trung Quốc” số ra ngày 5 tháng 11 năm 2013)

Thời báo nói trên cho rằng năm 2013 là năm khởi đầu quán triệt thực hiện toàn diện tinh thần của Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc, cũng là năm then chốt đẩy nhanh chuyển đổi phương thức phát triển trong bối cảnh chuyển tiếp giai đoạn tăng trưởng. Đứng trước tình hình phức tạp ở trong và ngoài nước, Trung Quốc đã áp dụng một loạt biện pháp điều tiết, dự báo định hướng thị trường hữu hiệu, kinh tế vận hành theo hướng tích cực, bắt đầu có dấu hiệu mới chuyển hướng sang trạng thái mới phát triển bình thường. Tuy nhiên, do bị hạn chế bởi những vấn đề mang tính kết cấu nên cơ sở phát triển theo hướng chuyển đổi vẫn chưa chắc chắn, dự tính GDP cả năm đạt mức tăng trên dưới 7,6%.

Nhìn về triển vọng năm 2014, trên cơ sở kinh tế thế giới có chiều hướng ổn định tổng thể, nhu cầu nội địa đứng trước áp lực đi xuống, dự tính kinh tế sẽ tăng ở mức hơi cao hơn 7%. Trong khi thực thi chính sách “ổn định lành mạnh kép” về tài chính và tiền tệ, cũng đồng thời duy trì cách tư duy tiến trong ổn định, lấy ổn định thúc đẩy phát triển, tiếp tục tìm kiếm ưu thế của cải cách, khơi dậy sức sống của thị trường và sức sáng tạo trong xã hội, giảm giá thành kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, đưa kinh tế quá độ trở lại trạng thái bình ổn thông thường.

I- Cơ s tăng trưỏng bình thưng trở lại chưa ổn định chắc chắn, mâu thuẫn mang tính kết cấu nổi rõ

Bắt đầu từ tháng 7, nền kinh tế vận hành thể hiện xu hướng khởi sắc trở lại, những động lực chính trong đó gồm có thị trường bên ngoài tiếp tục ổn định, xuất khẩu tăng, mức tăng tuy vẫn thấp nhưng đã giảm bớt tình trạng thương mại giả tạo như ở đầu năm, tác dụng lôi cuốn của những động lực này đối với tăng trưởng kinh tế cũng tăng mạnh; đầu tư cho cơ sở hạ tầng và ngành sản xuất chế tạo tăng trở lại, đầu tư tài sản cố định duy trì mức tăng khoảng trên 20%, tác dụng lôi cuốn đối với các ngành công nghiệp đầu nguồn trong chuỗi ngành nghề (như các ngành sản xuất chế tạo, sản xuất linh kiện rời ban đầu…), trong đó có công nghiệp nặng, dần dần thấy rõ; các biện pháp về giảm thuế cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, mở rộng phạm vi thí điểm chuyển đổi thuế doanh nghiệp thành thuế giá trị gia tăng, giảm biên chế-giao thêm quyền, từng bước mở rộng đầu tư ngành đường sắt, thành lập Khu thương mại tự do Thượng Hải…, đã khiến thị trường tăng thêm sức sống, dự báo thị trường được cải thiện; tiêu dùng của người dân tăng lên, kết cấu cũng được cải thiện một phần…

1) Cơ sở tăng trưởng trở lại chưa vững chắc

Thứ nhất, tính liên tục trong phục hồi tăng trưởng của ngành công nghiệp nặng không mạnh. Với sự lôi cuốn của đầu tư bất động sản và đầu tư cơ sở hạ tầng từ trước tiếp tục tăng, các ngành công nghiệp nặng như tuyển chọn than đá và kim loại đen, gang thép, điện lực, xây dựng đường sắt… tăng trở lại, nhưng đầu tư bất động sản có phần giảm xuống, mức tăng trong quý III giảm 0,6 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm; Bắt đầu từ tháng 9, lượng ăn than trung bình một ngày của các nhà máy điện cũng có phần giảm, số ngày có thể sử dụng than trong kho dự trữ của các nhà máy điện trọng điểm tăng lên, lượng điện phát trong tháng 9 tăng chậm rõ rệt; Giá các sản phẩm công nghiệp như thép cây, than đốt nhiệt, kim loại mầu từ giữa tháng 8 có biểu hiện đi xuống; Chỉ sổ tổng hợp CRB và chỉ số nguyên liệu công nghiệp thấp đi.

Thứ hai, cơ sở phục hồi tăng trưởng lần này chưa dẫn đến những điều chỉnh tích cực về lượng hàng trong kho. Thông thường, kinh tế phục hồi trước hết biểu hiện ở việc gia tăng cải thiện tình hình như đã dự kiến và ở lượng hàng tại kho của doanh nghiệp tăng lên. Từ tháng 7 kinh tế có hướng khởi sắc tốt, trong khi lượng hàng trữ trong kho lại giảm tương đối. Trong tháng 8 giá trị hàng thành phẩm công nghiệp trong kho đạt 3.190 tỉ Nhân dân tệ, chỉ tăng 5,7% so với cùng kỳ năm ngoái, đến tháng 9 chỉ hơi tăng ơ mức 0,3 điểm phần trăm. Tỉ trọng của lượng hàng thành phẩm trong kho chiếm trong GDP ở vào mức thấp kể từ năm 2008 đến nay. Các chỉ số về hàng thành phẩm trong kho thuộc diện PMI và chỉ số nguyên vật liệu trong kho đều giảm xuống dưới vạch 50 điểm trong bảng đánh giá. Thực tế như vậy có nghĩa là nhu cầu để thúc đẩy đầu tư tăng trở lại ở thời kỳ trước đây chủ yếu đã phát huy tác dụng dẫn nối giữa sản xuất và kho hàng tiêu thụ chứ không gia tăng hàng trong kho tiêu thụ, nâng cao hiệu quả về lợi dụng năng lực sản xuất và chu kỳ tích cực trong việc mở rộng sản xuất. Nếu không tiếp tục mở rộng nhu cầu thì trong ngắn hạn xu hướng phục hồi tăng trưởng kinh tế sẽ có thể đảo ngược.

Thứ ba, lợi nhuận của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp tập trung ở một số ít ngành nghề. Trong ba quý đầu năm, lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp tăng 13,5% so với cùng kỳ năm trước, nhưng lợi nhuận trong các nghiệp vụ kinh doanh chính chỉ đạt mức tăng 5,3%, trong đó lợi nhuận của hai ngành điện – nhiệt, gia công luyện dầu – nhiên liệu hạt nhân tính ra đạt 145,6 tỉ Nhân dân tệ, chiếm 86,5% trong toàn bộ lợi nhuận tăng mới của các doanh nghiệp công nghiệp. Giữa các ngành đầu nguồn và cuối nguồn chưa hình thành được cục diện thúc đẩy lẫn nhau tích cực.

2) Tình trạng kìm hãm do những mâu thuẫn mang tính kết cấu vẫn rõ rệt

1. Biến dạng trong phân bổ nguồn vốn, giá cả đội lên cao. Lượng cung ứng tiền tệ tăng cao hơn mức tăng GDP trên danh nghĩa, vào cuối tháng 8 tỉ trọng tiền theo nghĩa rộng M2 trong GDP vượt quá 200%, quy mô huy động vốn xã hội mở rộng nhanh chóng, nhưng bất hợp lý trong phân bổ nguồn lực và kỳ hạn phân bổ nguồn lực trong hệ thống tài chính thể hiện rất rõ, nguồn vốn của các xí nghiệp được phân bổ cứ lớn thêm, ,càng ngày càng nhạy cảm với chính sách mang tính lưu động của ngân hàng trung ương, lãi suất vốn vay leo thang lên một nấc cao mới. Một lượng lớn vốn mới tăng được phân bổ vào bất động sản bằng cách trực tiếp hay gián tiếp, buộc nảy ra nhu cầu vốn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

2. Thị trường bất động sản có xu hướng phân hóa, rủi ro tiếp tục tích tụ. Thị trường bất động sản ở các thành phố loại một, loại hai, loại ba, loại bốn thay đổi theo hướng giống nhau, hơn nữa thành phố loại một thường có vai trò đi đầu, lôi kéo. Tuy nhiên, sau quá trình phát triển mạnh trong những năm gần đây, thị trường bất động sản đã có chiều hướng thay đổi. Các thành phố loại ba, loại bốn cho thấy trạng thái “buông lỏng kép” về cung ứng nhà ở và cung cấp đất.Việc cung ứng nhà ở tiếp tục tăng lên, tốc độ tập trung dân số có chiều chậm lại, ở các thành phố loại ba, loại bốn bắt đầu có tình trạng cung lớn hơn cầu. Nhưng trong khuôn khổ tài chính hiện hành, để đẩy mạnh xây dựng đô thị và duy trì cân bằng tài chính, chính quyền vẫn tiếp tục cung cấp đất, dẫn đến quan hệ cung cầu về nhà ở càng được buông lỏng hơn, bong bóng bất động sản ở một số thành phố bắt đầu vỡ. Ngược lại, các thành phố loại một và loại hai lại cho thấy tình trạng “siết chặt kép” về cung cấp nhà ở và cung cấp đất. Do khả năng thu hút việc làm tăng lên và dịch vụ công tương đối hoàn thiện nên quy mô thành phố vẫn ở vào trạng thái tiếp tục mở rộng, nhu cầu mang tính bức thiết vẫn mạnh nhưng tỉ lệ đất dùng làm nhà ở thành thị lại có chiều hướng thấp, việc cung ứng nhà ở và đất đai bất cập tương đối, sức ép do tăng giá cũng tương đối lớn, dẫn đến bong bóng tiếp tục lớn thêm.

Năng lực sản xuất dư thừa nghiêm trọng, tiến trình điều chỉnh chậm lại. Kết quả một cuộc điều tra về tình hình năng lực sản xuất dư thừa được tiến hành trong tháng 9/2013 với 3.545 xí nghiệp, cho thấy tình hình “hết sức nghiêm trọng” hoặc “tương đối nghiêm trọng”. Tính đến nay, hoạt động sản xuất của xí nghiệp chỉ cần sử dụng 72% trang thiết bị hiện có của xí nghiệp là được, thấp hơn thời điểm cuối năm ngoái 0,7 điểm phần trăm, trong đó tỉ lệ sử dụng thiết bị của ngành sản xuất chế tạo chỉ có 70,8%, thấp hơn cuối năm ngoái 1 điểm phần trăm. Những xí nghiệp có tỉ lệ sử dụng trang thiết bị dưới mức 75% chiếm 55% tổng số xí nghiệp sản xuất chế tạo. Đồng thời, năng lực sản xuất dư thừa cho thấy đặc điểm là số lượng các xí nghiệp có năng lực sản xuất dư thừa tồn tại rất đông trên diện rộng, năng lực sản xuất dư thừa ở mức độ tuyệt đối là rất cao. Có 76,7% số xí nghiệp cho rằng, muốn tiêu hóa được hết năng lực dư thừa nói trên phải cần đến thời gian “3 năm trở lên”, trong đó có 22,7% xí nghiệp cho rằng “phải cần đến 5 năm trở lên”.

4. Sức cạnh tranh xuất khẩu giảm đi, thị phần quốc tế bị co hẹp. Từ năm 2011, tỉ trọng thương mại của Trung Quốc trong thương mại toàn cầu bắt đầu thấp hơn tỉ trọng GDP Trung Quốc trong GDP toàn cầu. Trong các năm 2011 và 2012, thị phần quốc tế của các mặt hàng thuộc diện tập trung nhiều nhân công lao động truyền thống tiếp tục giảm. Trong năm 2012, thị phần quốc tế dành cho các mặt hàng xuất khẩu đã hoàn thành công đoạn gia công tập trung nhiều nhân công ở trong nước, và xuất khẩu bằng phương thức gia công chế xuất, lần đầu tiên trong hơn 10 năm qua đã sụt giảm, trong năm 2013 tình trạng này vẫn tiếp tục, dự tính trong một thòi gian tới đây, giá trị đồng Nhân dân tệ sẽ vẫn tăng chậm so với đồng USD, trong khi đồng tiền của các nước khác đã hình thành quan hệ cạnh tranh với Trung Quốc phần lớn là ở thế yếu, như vậy sẽ tiếp tục làm yếu đi sức cạnh tranh giá cả của các mặt hàng xuất khẩu Trung Quốc. Điều đáng mừng là, thị phần quốc tế của các mặt hàng tập trung nhiều vốn và kỹ thuật của Trung Quốc vẫn ở xu hướng tăng, nhưng thực trạng này liệu có triển vọng thay thế được những mảng tăng trưởng xuất khẩu đã có từ trước trong thời gian bao lâu và ở những mức độ nào được hay không, vấn đề này sẽ phụ thuộc vào sức cạnh tranh xuất khẩu tăng lên và tốc độ tiến bộ cua công nghệ.

Hiệu quả của chính sách vĩ mô thấy rõ, thị trường được cải thiện như dự tính, đó là nguyên nhân chính khiến kinh tê tăng trở lại như hiện nay. Nhưng do bị hạn chế bởi những mâu thuẫn mang tính kết cấu và bởi nhu cầu tăng trở lại chưa có xu hướng vững chắc nên những nhân tố rủi ro trong vận hành của nền kinh tế tương đối nhiều, tính bền vững vẫn đứng trước thách thức. Trong quý III sau khi GDP có được mức tăng nhẹ trở lại, dự tính mức tăng trong quý IV cũng có khả năng được điều chỉnh lại, mức tăng GDP cả năm sẽ đạt 7,6%, chỉ số vật giá tăng nhẹ khoảng 2,8%. Nhìn tổng thể, kinh tế vận hành ở khu vực an toàn hợp lý, dự tính mục tiêu dự kiến có thể thực hiện được.

II- Dự tính kinh tế năm 2014 tăng nhẹ trên 7%

1) Kinh tế thế giới trên tổng thể ổn định, xuất khẩu của Trung Quốc giữ mức tăng thấp tương đi

Năm 2014, kinh tế thế giới vẫn ở trong thời kỳ phục hồi sau khủng hoảng, trên tổng thể có xu hướng ổn định. Kinh tế châu Âu bước ra khỏi suy thoái sẽ làm tăng thêm động lực tăng trưởng kinh tế toàn cầu, nhưng đòi hỏi phải quan tâm cao độ ảnh hưởng do việc Mỹ rút ra khỏi chính sách nới lỏng định lượng (QE) đối với triển vọng phục hồi của nền kinh tế Mỹ và tác động đối với các nền kinh tế mới nổi. Dự tính năm 2014 tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ hơi cao so với năm 2013, tình hình nhu cầu bên ngoài đối với Trung Quốc sẽ được cải thiện ở mức vừa phải. Đồng thời, trong ngắn hạn những nhân tố làm yếu đi sức cạnh tranh xuất khẩu khó có thay đổi nên có thể dự kiến xuất khẩu sẽ tăng trên dưới 7%.

Mức nợ trần và việc rút ra khỏi QE sẽ làm tăng tính chất khó lường của nền kinh tế Mỹ. Bởi hai đảng ở nước Mỹ không đạt được thỏa hiệp về dự toán ngân sách khiến Chính phủ liên bang phải tạm đóng cửa. Ảnh hưởng trực tiếp của hiện tượng này đối với nền kinh tế Mỹ tuy có hạn, hơn nữa việc điều chỉnh mức trần nợ được gia hạn trong thời gian ngắn nhưng đã phản ánh sâu sắc mâu thuẫn nghiêm trọng giữa hai đảng, và làm mất đi hiệu năng của chính phủ, trong thời gian ngắn sẽ khó được giải quyết ổn thóa. Do bị ảnh hưởng bởi vấn đề nợ, Ngân hàng dự trữ liên bang dự kiến trong năm 2014 khó rút ra khỏi QE, trong ngắn hạn có lợi cho thị trường vốn toàn cầu ổn định, nhưng tình trạng hỗn loạn và tính nhạy cảm do rút ra khỏi QE dự kiến sẽ mạnh lên, sẽ tiếp tục làm tăng thêm tính chất chao đảo của thị trường tài chính, đặc biệt là mức độ tác động đối với khả năng lưu động ngắn hạn trong nguồn vốn của các nước đang phát triển lớn thêm. Việc rút ra khỏi QE có thể làm thu hẹp tính lưu động, lãi suất tăng lên từ đó sẽ kiềm chế bất động sản phục hồi, cũng sẽ nâng cao giá thành trong hoạt động tín dụng liên quan tiêu dùng và huy động vốn trong thương mại, không có lợi cho tiêu dùng và đầu tư tư nhân tăng trưởng. So với năm 2013, năm 2014 tính chất khó lường của nền kinh tế Mỹ có phần gia tăng. Xét đến hiệu qủa thực tế có được do điều chỉnh trong nền kinh tế Mỹ, cũng như việc làm từng bước được cải thiện, tiêu dùng cho nhà đất và xe hơi phục hồi tốt thì năm 2014 kinh tế Mỹ vẫn có hy vọng tăng khoảng 2%.

Kinh tế châu Âu từng bước thoát ra khỏi đáy vực. Châu Âu đang từng bước thoát khỏi suy thoái kinh tế do khủng hoảng nợ gây ra. Việc Thủ tướng Đức Angela Merkel tái cử có lợi cho chính sách có tính liên tục của châu Âu và Ngân hàng trung ương châu Âu, cũng có lợi cho Khu vực đồng euro phát triển theo hướng “củng cố đồng euro”. Trước mắt, ngoài nước Đức là đầu tàu kinh tế của châu Âu tăng trưởng trở lại, với tư cách là nền kinh tế thứ hai, nước Pháp cũng từng bước chuyển biến tốt, quốc gia Nam Âu là Tây Ban Nha cũng có dấu hiệu lạc quan, trong năm 2013 kinh tế EU có hy vọng tăng trưởng dương. Năm 2014 sẽ tiếp tục xu hướng này, đồng thời cũng thúc đẩy cải thiện lòng tin vào thị trường toàn cầu, nhưng với tỉ lệ thất nghiệp cao điều chỉnh kết cấu chậm, nên vẫn chưa có nhiều hy vọng kinh tế EU sẽ có mức tăng trên 1%.

Hiệu ứng kích thích kinh tế của Nhật Bản thu hẹp. Với sự hỗ trợ của chính sách nới lỏng tiền tệ không phải thông thường và chính sách tài chính mang tính kích thích, cùng với hiệu ứng mất giá mạnh trong tỉ giá hối đoái, kinh tế Nhật Bản năm 2014 từng bước thoát ra khỏi giảm phát, dự tính năm 2014 GDP Nhật Bản sẽ tăng khoảng 2,6%, nhưng cải cách mang tính kết cấu trong 3 trụ cột lớn khó thấy được hiệu quả trong thời gian ngắn, cộng thêm tỉ lệ thuế tiêu dùng tăng từ 5% lên thành 8% bắt đầu từ tháng 4/2014 sẽ kìm hãm tiêu dùng tăng trưởng, hiệu ứng ngắn hạn của “chính sách kinh tế Abe” giảm đi. Cho dù Chính phủ Nhật Bản sử dụng biện pháp tài chính tương ứng để kích thích, nhằm loại bỏ tình trạng này nhưng bởi giá thành năng lượng, xuất khẩu tài nguyên tăng, vật giá và lãi suất dài hạn cũng tăng, cộng thêm áp lực nợ công tăng, tác dụng lôi cuốn trong ngắn hạn của Thế vận hội Olympic còn ít, khả năng tăng trưởng của kinh tế Nhật Bản năm 2014 có thể giảm xuống mức khoảng 1,5%, tình hình thương mại Trung Quốc-Nhật Bản khó có được thay đổi rõ rệt.

Tình hình các nền kinh tế mới nổi giảm tốc tương đối sẽ vẫn duy trì. Việc kinh tế Mỹ phục hồi sẽ lôi cuốn kinh tế các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước xuất khẩu hàng tiêu dùng tăng trưởng, cũng giúp cho kinh tế Trung Quốc đi vào phát triển ổn định thông qua kênh xuất khẩu, từ đó kéo theo nhiều thị trường hàng hoá phục hồi, có lợi cho kinh tế nước xuất khẩu tài nguyên tăng trưởng, Tuy nhiên từ năm 2013, các nền kinh tế phát triển từng bước phục hồi, tình hình giảm tốc tương đối của các nước đang phát triển duy trì không thay đổi. Đặc biệt là ảnh hưởng từ việc Mỹ rút ra khỏi QE, tác động của nguồn vốn lưu động, cùng với áp lực lạm phát… vẫn là nhân tố rủi ro tiềm tàng đối với quá trình phát triển ổn định của các thị trường mới nổi.

2) Nhu cầu nội địa đứng trước áp lực giảm nhất định

1. Đóng góp của đầu tư cho tăng trưởng kinh tế có phần giảm.

Một là đầu tư bất động sản sẽ cho thấy xu hướng giảm, Tình hình khu vực bất động sản ngày càng phân hóa, việc cung ứng ở các thành phố loại ba và loại bốn đã dư thừa tương đối. Do ảnh hưởng của các yếu tố trong năm nay về diện tích đất đặt mua và diện tích khởi công xây nhà mới giảm xuống tương đối thấp, lãi suất vay vốn tương đối cao, đầu tư cho nhà ở thuộc diện chính sách chậm lại rõ rệt, dự tính mức tăng của đầu tư bất động sản trong năm 2014 sẽ giảm xuống còn khoảng 16%.

Hai là đầu tư cơ sở hạ tầng sẽ có phần giảm. Trong các lĩnh vực đường sắt, đường tàu điện ngầm thành phố và hạ tầng cơ sở công cộng, quản lý môi trường, mạng Internet băng thông rộng…có tiềm lực đầu tư tương đối lớn, nhưng tỉ lệ nợ trong mặt bằng huy động vốn đầu tư tương đối cao, thu nhập ngân sách sụt giảm, mức tăng thu nhập từ đất giảm mạnh, khả năng đầu tư huy động vốn của các chính quyền địa phương bất cập. Cùng với việc giảm biên chế và giao thêm quyền, mở rộng cửa thị trường, tính tích cực từ việc tham gia của nguồn vốn xã hội tăng lên, nhưng tác dụng thay thế trong ngắn hạn sẽ không thật rõ rệt.

Ba là, do bị ảnh hưởng bởi nhu cầu ở cuối nguồn không lạc quan, năng lực sản xuất dư thừa và lợi nhuận có chiều hướng thấp đi…, đầu tư cho các ngành sản xuất chế tạo sẽ tiếp tục phân hóa. Sức cạnh tranh trong các ngành dệt, điện gia dụng tương đối mạnh, đầu tư trong các ngành tập trung vừa phải, có hy vọng duy trì ổn định; Các ngành thuộc lĩnh vực làm ra công cụ sản xuất như gang thép, công nghiệp hóa chất, vật liệu xây dựng đã đầu tư gần đến đinh điểm bão hòa, đầu tư trong lĩnh vực này sẽ tiếp tục giảm; Trong các ngành đã được coi là phát triển như y dược, sản xuất mô hình, công cụ, đồ dùng trong các công việc văn phòng…, đầu tư sẽ tăng cao. Ngoài ra, nếu loại bỏ các ngành bất động sản và một bộ phận xây dựng cơ bản thì đầu tư trong ngành dịch vụ chiếm đến 12% vốn đầu tư cho tài sản cố định. Với sự tác động từ việc nâng cấp tiêu dùng của cư dân, chính phủ chi nhiều hơn cho dân sinh, đầu tư trong các ngành văn hóa thể thao, dịch vụ thương mại, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường, bán buôn bán lẻ… có hy vọng tiếp tục tăng cao. Tuy nhiên, so với các ngành như xây dựng cơ bản, bất động sản và sản xuất chế tạo truyền thống thì tác dụng nâng đỡ của các ngành mang tính trưởng thành còn bất cập, dự tính năm 2014, đầu tư cho tài sản cố định tăng khoảng 17%, đóng góp trong tăng trưởng kinh tế có phần giảm nhẹ.

2. Chi phí tiêu dùng cơ bản giữ mức tăng ổn định. Từ đầu năm 2013, mức tăng trong chi phí tiêu dùng giữ xu hướng ổn định trong đà suy giảm, vừa phản ánh bong bóng trong chi phí “tam công” (ba loại chi phí bằng tiền công là chiêu đãi khách, phương tiện đi lại và đi công tác nước ngoài) bị đẩy lui, mặt tích cực trong chi phí mạng Internet đại chúng phát triền mạnh, cũng vừa thể hiện ảnh hưởng trực tiếp từ việc giảm đà tăng trương trong thu nhập của cư dân, hiệu quả, lợi ích của doanh nghiệp không lạc quan, khó khăn việc làm mang tính kết cấu. Năm 2014 triển vọng tiêu thụ nhà ở kinh doanh không dễ lạc quan, các loại hình tiêu thụ liên quan đến nhà ở như tu sửa, vật liệu xây dựng, đồ điện gia dụng, đồ dùng gia đình sẽ bị kìm hãm. Các dịch vụ về thương mại điện tử, mạng thông tin, vay tiền số lượng ít tiếp tục hoàn thiện, những điểm nóng tiêu dùng như trong các lĩnh vực thông tin, văn hóa, giáo dục, sức khỏe, du lịch sẽ không ngừng xuất hiện, các địa điểm ẩm thực, giải trí cao cấp có hy vọng mặt tích cực trong các loại hình này sẽ chuyển đổi mô hình hướng đến thị trường, kết cấu tiêu dùng từng bước được cải thiện. Dự tính năm 2014 tổng lượng hàng tiêu dùng bán lẻ xã hội tăng khoảng 13%, đóng góp trong tăng trưởng kinh tế có phần tăng lên.

Vật giá tăng vừa phải, phân hóa về giá cả trong các mặt hàng nông phẩm, dịch vụ và hàng công nghiệp. Trước mắt, giá cả hàng hóa ở Trung Quốc trên tổng thể đang ở vào chu kỳ tăng vừa phải, cộng thêm lượng tiền đọng có xu hướng nhiều lên, giá thành sức lao động và giá nhà tăng lên, thực hiện kế hoạch bảo vệ nguồn nước và thổ nhưỡng đất đai, giá cả thuộc các diện thực phẩm, dịch vụ và chỗ ở trên tổng thể vẫn tiếp tục tăng. Sau Hội nghị toàn thể Trung ương ba, nếu cải cách giá cả ở những yếu tố liên quan được khởi động suôn sẻ thì cũng có thể hình thành áp lực nhất định đối với việc vật giá tăng lên. Nhưng cũng phải thấy rằng do ảnh hưởng từ việc Mỹ rút khỏi QE và nhu cầu tiêu dùng trên toàn cầu tăng vừa phải, áp lực tăng giá của rất nhiều mặt hàng sẽ không lớn. Mức tăng PPI có hy vọng dần dần trở về trạng thái đúng mức, nhưng năng lực sản xuất dư thừa có thể sẽ tiếp tục kiềm chế hàng công nghiệp tăng giá, CPI và PPI vẫn có hướng đi ngược chiều nhau ở mức độ nhất định. Năm 2014 áp lực do vật giá tăng tổng thể có phần lớn hơn năm 2013, nhưng vẫn ở trạng thái ôn hòa tương đối.

Năm 2014, kinh tế thế giới vẫn ở thời kỳ phục hồi sau khủng hoảng, trên tổng thể cho thấy xu hướng ổn định, tình hình giảm tốc tương đối của nền kinh tế mới nổi sẽ vẫn được duy trì, nhu cầu nội địa ở Trung Quốc đứng trước áp lực đi xuống. Xem xét một cách tổng hợp, có thể dự tính kinh tế Trung Quốc năm 2014 sẽ tăng cao hơn mức 7% không nhiều, CPI sẽ tăng ở mức 3,5%. Ở giai đoạn hiện nay, duy trì mức tăng GDP trong khoảng 7% – 7,5% sẽ vừa có lợi cho việc tạo ra môi trường khách quan thả lỏng tương đối để cải cách thể chế và điều chỉnh lại cơ cấu, cũng vừa có lợi cho việc từng bước tăng cường khả năng thích ứng với tốc độ tăng trưởng trung bình của chủ thể vi mô. (Còn tiếp)

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d người thích bài này: