BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2251. BIỂN ĐÔNG VÀ QUAN HỆ VỚI TRUNG QUỐC: ĐIỂM NÓNG ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TRONG NĂM 2014

Posted by adminbasam trên 20/01/2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Sáu, ngày 17/01/2014

(Đài RFI 13/1)

Sau một năm tương đối yên tĩnh, ngay trong những ngày đầu năm 2014 này, Biển Đông lại có dấu hiệu dậy sóng trở lại, với quyết định của Chính phủ Trung Quốc được gọi nôm na là “cấm tàu cá nước ngoài”, do tỉnh Hải Nam ban hành từ cuối năm 2013, nhưng bắt đầu có hiệu lực kê từ 1/1/2014. Trong tình hình đó, việc xử lí ổn thỏa quan hệ với Trung Quốc trong tương quan với hồ sơ Biển Đông đã được cho là thách thức đối ngoại gay go nhất cho Chính phủ Việt Nam trong năm 2014 này.

Đối với các nhà quan sát, quyết định của tỉnh Hải Nam hết sức phi lí, thậm chí phi pháp, mà đối tượng chủ yếu bị nhắm tới là Việt Nam. Theo các thông tin báo chí, đây là những qui định nằm trong những “Biện pháp thực hiện Luật Ngư nghiệp nước CHND Trung Hoa của tỉnh Hải Nam”, được chính quyền tỉnh này thông qua vào cuối năm 2013, nhưng chỉ bắt đầu có hiệu lực kể từ tháng 1/2014.

Đáng chú ý nhất trong các qui định này là quyền mà tỉnh Hải Nam trao cho mình là chặn giữ, xua đuổi, có thể tịch thu tài sản, xử phạt hành chính mọi tàu cá nước ngoài tự ý đi vào vùng biển do tỉnh Hải Nam quản lí để đánh cá hay khảo sát. Muốn hoạt động trong vùng “cấm”, tàu cá nước ngoài phải xin phép Chính quyền Bắc Kinh.

Từ đường lưi bò đến vùng cấm tàu cá nưc ngoài

Vấn đề đặt ra là vùng biển mà tỉnh Hải Nam được trao quyền quản lí lại rất rộng lớn, bao trùm phần lớn Biển Đông mà Trung Quốc tự nhận chủ quyền, dựa theo một tấm bản đồ đường 9 đoạn mà họ tự đặt ra. Hải Nam chính là nơi đặt “thành phố Tam Sa”, đơn vị hành chính được Bắc Kinh trao nhiệm vụ điều hành vùng Biển Đông rộng lớn bao gồm cả những nơi đang tranh chấp với các láng giềng mà nước đứng đầu danh sách là Việt Nam.

Trong một bài nhận định nóng công bố ngày 9/1 vừa qua – một ngày sau khi thông tin về những qui định này được tiết lộ trên báo chí – về hành động leo thang của tỉnh Hải Nam trong hồ sơ Biển Đông, Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia nghiên cứu kì cựu tại Học viện Quốc phòng Australia đã ghi nhận ngay tính chất đi ngược lại luật lệ quốc tế trong các qui định của tỉnh Hải Nam.

Đối với Giáo sư Thayer, các tác hại có thể thấy được của hành động đó là phá hoại triển vọng thương thảo về một Bộ Qui tắc ứng xử tại Biển Đông đang manh nha giữa ASEAN và Trung Quốc, đồng thời khiến cho quan hệ giữa Trung Quốc và ba nước ASEAN là Việt Nam, Philippines và Malaysia có nguy cơ căng thẳng trở lại, vì các vùng thuộc thẩm quyền chế tài gắt gao của tỉnh Hải Nam lại là những vùng thường đánh bắt của ngư dân ba nước Đông Nam Á này.

Trong bài trả lời phỏng vấn qua thư điện tử của Ban Việt ngữ RFI nhân dịp đầu năm, về các thách thức mà Việt Nam phải đối phó írong năm 2014 này, Giáo sư Carl Thayer đã cho rằng Biển Đông hoàn toàn có thể trở lại thành điểm nóng đối với Việt Nam trong năm nay, khiến cho cách xử lí quan hệ với Trung Quốc trở thành thách thức đối ngoại hàng đầu của Việt Nam.

Phải xoá bỏ “văn hoá” tham nhũng

Tuy nhiên, theo Giáo sư Thayer, thách thức quan trọng nhất đối với Chính phủ Việt Nam trong năm 2014 vừa bắt đầu này là vấn đề đối nội, liên quan đến kinh tế và tham nhũng, ông cho biết: “Vấn đề kinh tế và tham nhũng sẽ là những thách thức chính yếu. Việt Nam phải đẩy mạnh tăng trưởng GDP. Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải cải tổ doanh nghiệp nhà nước và cải cách khu vực ngân hàng. Và Việt Nam cũng sẽ phải tham gia Hiệp định Quan hệ đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) để đảm bảo khả năng hội nhập kinh tế toàn cầu trong tương lai.

Việt Nam cũng phải tiếp tục thực hiện việc đưa ra trước công lí những kẻ có trách nhiệm trong những vụ tham nhũng qui mô lớn tại các tập đoàn nhà nước, chẳng hạn như Vinalines. Chiến dịch chống tham nhũng phải được mở rộng ra những người trong đảng và chính phủ, kể cả Bộ Công an, những thành phần hỗ trợ và hưởng lợi từ nạn tham nhũng.

Quản lí quan hệ với Trung Quốc sẽ là vấn đề đối ngoại quan trọng nhất của Việt Nam”.

+ Thách thức quan trọng nhất đối với Việt Nam là gì?

– Thách thức quan trọng nhất là xoá bỏ thứ văn hoá hỗ trợ tham nhũng. Việt Nam không thể hi vọng chấm dứt nạn tham nhũng trừ phi cởi trói báo chí và tạo ra một ngành tư pháp và cơ quan điều tra độc lập. Tiến trình đó phải được thực hiện bên ngoài khuôn khổ của các phe nhóm chính trị và các thế lực bao che.

Do việc Việt Nam đang chuẩn bị cho đại hội Đảng sắp tới, chiến dịch chống tham nhũng sẽ bị chính trị hoá. Chần chừ và đấu đá phe nhóm liên tục sẽ chỉ góp phần làm xói mòn tính chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hai áp lực từ Bắc Kinh: Nhận nhà thầu Trung Quốc và đồng khai thác Biển Đông

+ Về những vấn đề mà Chính phủ Việt Nam phải đối mặt trong năm 2014, Giáo sư đã nói rằng “Quản lí mối quan hệ với Trung Quốc sẽ là vấn đề đối ngoại quan trọng nhất của Việt Nam”. Cụ thể là như thế nào?

– Việt Nam bị một khoản thâm hụt thương mại khổng lồ 19 tỉ USD với Trung Quốc và đang tìm kiếm một sự thay đổi trong thủ tục hành chính của Trung Quốc để giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường Trung Quốc dễ dàng hơn.

Về phần Trung Quốc, họ đang gây áp lực buộc Việt Nam phải nhận các khoản cho vay ưu đãi để tài trợ cho các đề án phát triển hạ tầng cơ sở đường bộ và đường sắt rất qui mô tại Việt Nam, và sẽ do các công ty Trung Quốc thực hiện. Trung Quốc cũng tiếp tục ép Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động hợp tác trên biển, bao gồm cả việc cùng nhau phát triển. Cả hai lĩnh vực trên đều rất nhạy cảm tại Việt Nam, cả đối với xã hội nói chung, lẫn trong các tầng lớp thuộc đảng cầm quyền.

Thách thức đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam là làm sao quản lí mối quan hệ với Trung Quốc mà không kích động thêm các cuộc biểu tình chống Trung Quốc trong công chúng.

Qui định đánh cá mới của tỉnh Hải Nam – chủ yếu nhằm mục đích kiểm soát tàu thuyền nước ngoài trong vùng biển xung quanh quần đảo Hoàng Sa – có khả năng làm gia tăng căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Thách thức đối với Việt Nam không chỉ là quản lí tốt vấn đề mới nhất đó, mà còn là ngăn không cho hồ sơ Hoàng Sa trở thành một vấn đề gây tổn hại cho quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN khác. Nhiều nước ASEAN xem tranh chấp Hoàng Sa là một vấn đề hoàn toàn song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc, và ngần ngại trong việc công khai hậu thuẫn Việt Nam trên hồ sơ này.

Vụ “cấm tàu”: Việt Nam phản ứng chậm nhưng mạnh

+ Đánh giá của Giáo sư ra sao về phản ứng của Việt Nam trước quyết định của tỉnh Hải Nam? Một số người cho rằng Hà Nội phản ứng vừa chậm, vừa quá nhẹ so với phản ứng từ Đài Bắc, Washington và Manila?

– Trong thực tế, Việt Nam đã phản ứng hai ngày sau khi Chính phủ Trung Quốc công khai hoá các qui định đánh bắt cá của tỉnh Hải Nam, sau khi Đài Loan, Philippines và Mỹ đã có phản ứng.

Phán ứng tương đối chậm trễ của Việt Nam có thể bắt nguồn từ hai yêu tố. Đầu tiên, có thể là Việt Nam đã muốn đợi cho đến khi các quốc gia khác phản ứng trước rồi sau đó mới tham gia. Yếu tố thử hai liên quan đến cơ chế ra quyết định trong một nhà nước độc đảng.

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam đồng thời là Phó Thủ tướng. Trên nguyên tắc, ông ấy đã có thể tiếp cận ngay với Thủ tướng Chính phủ để xin cho công bố một bản thông cáo. Hiện vẫn chưa rõ là Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng có phải tham khảo ý kiến với một hoặc nhiều thành viên của Bộ Chính trị để tìm kiếm sự đồng thuận hay không.

Ngược lại, Hội đồng Đại lục của Đài Loan (MAC) là cơ chế chịu trách nhiệm trực tiếp về các quan hệ với Trung Quốc, do đó đã ở vị trí tốt nhất để có thể phản ứng ngay lập tức. MAC do một quan chức ngang cấp bộ trưởng lãnh đạo. Còn ở Philippines và Mỹ, Ngoại trưởng của họ đều có thẩm quyền để phản ứng ngay, và họ cũng có thể liên lạc ngay lập tức với tổng thống nước họ trong trường hợp cần sự đồng ý của người đứng đầu nhà nước.

Tuyên bố của Việt Nam không “quá mềm” so với lời lẽ của Đài Loan, Philippines và Mỹ. Tuyên bố của Việt Nam khá chi tiết và cụ thể.

Diễn biến các sự kiện là như sau: Ngày 8/1, sau khi Trung Quốc công bố qui định của tỉnh Hải Nam, Đài Loan là phía đầu tiên có phản ứng. Vào tối ngày 8/1, Hội đồng Đại lục cho ra một tuyên bố gồm hai đoạn, xác định là Đài Loan không công nhận các qui định mới của tỉnh Hải Nam.

Mỹ phản ứng vào ngày hôm sau, ngày 9/1 (theo giờ Washington). Bà Jen Psaki, một Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Mỹ, tuyên bố rằng các qui định của Trung Quốc mang tính chất “khiêu khích và nguy hiểm”.

Philippines phản ứng hai ngày sau đó, hôm 10/1. Một Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao nói trong một cuộc họp báo, rằng Philippines đã “hết sức quan ngại” trước các qui định mới và “đó là một hành động vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế. Diễn biến đó làm căng thẳng leo thang, làm tình hình ở Biển Đông phức tạp thêm một cách không cần thiết, và đe dọa hoà bình và ổn định của khu vực”.

Mãi đến ngày 10/1, Bộ Ngoại giao Việt Nam mới cho ra một tuyên bố, xác định rằng các qui định mới của Trung Quốc “bất hợp pháp và vô giá trị” và “làm phức tạp thêm tình hình Biển Đông”. Tuyên bố kêu gọi Trung Quốc “hủy bỏ những việc làm sai trái” và “đóng góp thiết thực vào việc duy trì hoà bình và ổn định tại khu vực”.

Tuyên bố Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng xác định rằng các hành động của Trung Quốc đã vi phạm Tuyên bổ về ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 và bản Thỏa thuận năm 2011, về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết tranh chấp trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc.

+ Trong nhận định ngày 9/1 về quyết định của tỉnh Hải Nam, Giáo sư có nói rằng: “Trung Quốc có quyền hợp pháp để ban hành một chỉ thị hành chính mà phạm vi áp dụng bao trùm vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý xung quanh đảo Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa”. Xin Giáo sư giải thích thêm?

– Trung Quốc hiện đang quản lí quần đảo Hoàng Sa và hầu hết các nước Đông Nam Á đều sẽ không muốn bị lôi kéo vào một cuộc tranh chấp về chủ quyền giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Trong bài viết của tôi, tôi đã phân biệt rõ ba vùng biển khác nhau: (1) lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế xung quanh đảo Hải Nam, nơi Trung Quốc có quyền chủ quyền và tài phán; (2) lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế xung quanh quần đảo Hoàng Sa hiện đang có tranh chấp với Việt Nam. Theo luật quốc tế, Trung Quốc không được quyền hành động đơn phương để phá vỡ hiện trạng, và Trung Quốc bị bắt buộc phải hợp tác và tự kiềm chế để không dùng hoặc đe dọa dùng vũ lực cho đến khi tranh chấp được giải quyết; và (3) vùng biển quốc tế.

Việt Nam có cả một quá trình liên tục khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa, bằng cách phản đối mọi hành động của Trung Quốc nhằm củng cố đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc. Đây là một điều cần thiết trong luật pháp quốc tế để giúp Việt Nam duy trì các tuyên bố chủ quyền của mình.

Tuy nhiên, một cách thực tế, chắc chắn là sẽ không có quốc gia châu Á-Thái Bình Dương, hoặc thậm chí ASEAN nào, có lập trường ủng hộ Việt Nam (trong vấn đề Hoàng Sa).

Biển Đông sẽ nóng nếu Bắc Kinh không sửa chữa sai lầm của Hải Nam

+ Với quyết định của chính quyền tỉnh Hải Nam về tàu cá nước ngoài, phải chăng – một lần nữa – Biển Đông sẽ là vấn đề nóng nhất đối với Chính phủ Việt Nam trong năm?

– Việc Biển Đông có trở thành một vấn đề nóng trong năm 2014 hay không phụ thuộc vào việc chính quyền trung ương Trung Quốc có can dự vào hồ sơ này hay không, và ra lệnh cho chính quyền tỉnh Hải Nam phải điều chỉnh các qui định sao cho phù hợp với luật pháp quốc tế.

Cần nhớ lại rằng khi chính quyền thành phố Tam Sa ban hành qui định về chặn bắt và khám soát tàu trong vùng biển của họ, chính quyền trung ương Trung Quốc đã phải nói rõ là điều đó chỉ áp dụng cho vùng biển nằm bên trong đường cơ sở mà thôi.

Nói cách khác, các qui định của tỉnh Hải Nam (trên nguyên tắc) được áp dụng cho ba vùng biển khác nhau: (1) hải phận quốc tế; (2) vùng biển tranh chấp (xung quanh quần đảo Hoàng Sa và các thực thể địa lí khác tại quần đảo Trường Sa); và (3) vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí của đảo Hải Nam.

Theo luật quốc tế, Trung Quốc không thể thực thi các qui định vừa ban hành trong vùng biển quốc tế. Các hành động như vậy đồng nghĩa với điều tôi gọi là “hành vi hải tặc của một nhà nước”.

Trong trường hợp của luật pháp quốc tế liên quan đến các vùng biển đang tranh chấp, Trung Quốc có nghĩa vụ không hành động đơn phương để làm thay đổi hiện trạng. Trung Quốc bị bắt buộc phải hợp tác với các quốc gia khác là một bên tranh chấp.

Còn đối với Hải Nam, Trung Quốc có quyền chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) xung quanh đảo này (trừ phi có sự chồng lấn với EEZ của nước khác). Khu vực chồng lên nhau sẽ là một vùng tranh chấp.

Cuối cùng, tỉnh Hải Nam đã nhận là họ có thẩm quyền hành chính đối với 57% Biển Đông. Tuy nhiên, họ không có phương tiện để thực thi các qui định của mình. Điều đó dẫn đến khả năng chính quyền địa phương có thể chọn lọc đối tượng áp dụng các qui định.

Họ có thể hướng sự chú ý tới Philippines, trong khi tìm cách trấn an Malaysia và Indonesia rằng ngư dân hại nước này sẽ không bị ảnh hưởng. Căn cứ vào diễn biến trong quan hệ song phương với Việt Nam, tỉnh Hải Nam có thể “bật” hay là “tắt” cách áp dụng có chọn lọc các qui định vừa ban hành đối với ngư dân Việt Nam.

Biển Đông sẽ nổi bật tại ASEAN 2014

+ Giáo sư có nghĩ rằng Việt Nam sẽ có ảnh hưởng nhất định đối với Myanmar để nước Chủ tịch ASEAN lần này nêu bật vấn đề Biển Đông trong chương trình nghị sự năm nay?

– Các quan chức Myanmar mà tôi đã tiếp xúc nhân các hội nghị gần đây ở Phnom Penh và Seoul đều xác định rằng nước họ, trong tư cách Chủ tịch ASEAN, sẽ kiên quyết thúc đẩy sự đồng thuận trong toàn khối về hồ sơ Biển Đông với tất cả các thành viên ngoài ASEAN, bao gồm cả Trung Quốc.

Các quan chức nói trên đều thừa nhận rằng Biển Đông là một vấn đề cực kì nhạy cam, không chỉ vì ảnh hưởng của Trung Quốc, mà còn là vì Myanmar đang trong thời kì chuyển tiếp trong việc phát triển quan hệ với các nước khác.

Hiện có một nhóm nòng cốt trong số các quốc gia ASEAN đã nhất trí với nhau là phải thúc đẩy một Bộ quy tắc ứng xử (COC) với Trung Quốc, bao gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Singapore và Thái Lan. Điều này sẽ đảm bảo khả năng vấn đề Biển Đông được nêu bật trong chương trình nghị sự của ASEAN.

Các hành động của tỉnh Hải Nam, nếu không bị chính quyền trung ương Trung Quốc kìm hãm, chắc chắn sẽ làm cho Biển Đông trở thành một vấn đề được ASEAN ưu tiên xem xét.

(Đài BBC 13/1)

Sắp đến ngày kỷ niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa, thông tin về sự kiện này, các bài báo, hội thảo… tràn ngập trên truyền thông Việt Nam nhưng các báo Trung Quốc như Nhân dân nhật báo, Thời báo Hoàn cầu đều im lặng.

Điều này trái hẳn các năm trước, khi mà các tờ báo lớn của Trung Quốc, đến thời gian này, luôn có các bài ca ngợi hoặc đưa tin kỉ niệm sự kiện Hoàng Sa.

Qua sự việc này, không khó để nhận ra Trung Quốc đang tránh gây căng thẳng với Việt Nam một cách trực tiếp.

Thực tế, từ khi căng thẳng Trung – Việt lên đến đỉnh điểm năm 2011, qua sự kiện tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu khảo sát Việt Nam, giữa 2 nước đã có nhiều cuộc trao đổi, làm việc để hạ nhiệt những bất đồng này càng nhanh càng tốt.

Cụ thể là ‘Thỏa thuận giải quyết bất đồng về Biển Đông’ được kí kết vào tháng 10/2011, tiếp sau đấy là chuyến viếng thăm của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng.

Đến đầu năm 2012, hai vòng đàm phán giữa Bộ Ngoại giao hai nước đã diễn ra, cộng với việc thiết lập đường dây nóng sau đó, đã giải quyết được một số bất đồng về tranh chấp trên Biển Đông, đồng thời đạt thỏa thuận cùng hợp tác ở những vùng không có tranh chấp.

Áp lực nhiều phía

Với việc Toà án Quốc tế sẽ giải quyết đơn kiện Trung Quốc của Philippines khoảng giữa năm nay, cộng với các căng thẳng đang có với Nhật Bản, hẳn Trung Quốc không muốn ‘lưỡng đầu thọ địch’ và giải pháp tạm hoà hoãn với các nước trong khối ASEAN là một chính sách hợp lí, khi mà hai bên vẫn trong giai đoạn bàn thảo về một Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông.

Theo giới phân tích, động thái xuống nước này của Trung Quốc là do áp lực cả trực tiếp lẫn gián tiếp của Mỹ, nước đang tìm cách can dự sâu hơn vào khu vực.

Các nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc tin rằng Mỹ không vô tư nhúng tay vào những bất ổn trong vấn đề Biển Đông mà thực chất, Mỹ đang lợi dụng những xung đột này để ‘đâm bị thóc, chọc bị gạo’ nhằm khoét sâu những mâu thuẫn sẵn có giữa Trung Quốc và khối ASEAN, hợp lí hoá sự có mặt lực lượng hải quân và hơn hết là để kiểm soát Trung Quốc.

Thế nhưng, kể từ khi Việt Nam và Trung Quốc đồng ý ngồi vào bàn đàm phán song phương đến nay, mọi việc như đang giậm chân tại chỗ và vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông giữa hai nước không có tiến triển gì khá quan hơn.

Không quá khi khẳng định rằng mối quan hệ bang giao giữa Trung Quốc đã bị các xung đột về Biển Đông trong mấy năm qua làm cho nguội lạnh.

Chính giải pháp mềm mỏng tạm thời của Trung Quốc, cũng như thiện chí của Việt Nam trong việc đàm phán song phương đã làm nóng lại mối qua hệ khá đặc biệt giữa hai quốc gia này.

Tuy nhiên, khác với Philippines, vốn có đồng minh hùng mạnh là Mỹ ủng hộ thì Việt Nam, một nước mà căng thẳng về tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông với Trung Quốc từng dẫn đến các xung đột vũ trang trong quá khứ, ở một vị thế khác, lại không muốn trình trạng Biển Đông quá yên ắng, hay nói cách khác là có thể rơi vào quên lãng và như thế, sự việc có khả năng sẽ bị chìm đi.

Lẽ thường thì động thái cải thiện mối quan hệ giữa hai nước khi nó đang có vấn đề là có thể hiểu được và hợp lôgích, nhưng trong trường hợp này, khi mà những bất đồng không được giải quyết một cách rốt ráo, thì việc hâm nóng lại mâu thuẫn có vẻ hợp lí hơn.

Và phải chăng sự kiện một tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc tấn công ngày 2/1, cũng như việc Trung Quốc chính thức bắt buộc các tàu đánh cá nước ngoài, từ 1/1/2014, khi hoạt động trên Biển Đông phải xin phép Chính quyền Hải Nam, đã tạo điều kiện để tình hình tiếp tục nóng, và như thể, Việt Nam sẽ có tiếng nói trở lại trong mối quan hệ với Trung Quốc.

***

Cách đây 40 năm, cũng vào tháng 1, Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa từ tay quân đội Việt Nam Cộng hoà (VNCH).

Hoàng Sa là sự kiện khởi đầu cho một chuỗi những hành động quân sự của Trung Quốc đối với các đảo, đá ngoài khơi trên vùng Biển Đông. Tiếp sau sự kiện Hoàng Sa năm 1974 là sự kiện Trường Sa năm 1988, sự kiện bãi Vành Khăn năm 1995.

Cho đến nay, 40 năm đã trôi qua, bài học về Hoàng Sa là gì? Và khả năng trong tương lai Trung Quốc sẽ lặp lại những sự kiện như Hoàng Sa trên Biển Đông và biển Hoa Đông không? Đây là những vấn đề luôn có những tranh luận khác nhau, bài viết này chỉ nhằm cung cấp với độc giả một cái nhìn.

Quần đảo Hoàng Sa gồm 2 nhóm đảo chính, nhóm Nguyệt Thiềm (Crescen) nằm ở phía Tây Nam quần đảo, nhóm An Vĩnh (Amphitrite) nằm ở phía Đông Bắc. Năm 1956, nhân khi người Pháp sau khi kí Hiệp định Geneve và rút khỏi Đông Dương, quân đội Trung Quốc đã chiếm đảo Phú Lâm (Woody) thuộc nhóm An Vĩnh (Amphitrite).

Trước đó, quân đội Pháp đã chiếm đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc nhóm Trăng Khuyết (Crescen), rồi đến năm 1956, quân đội Việt Nam Cộng hoà đã thay chân Pháp kiểm soát đảo này. Ngày 19/1/1974, quân đội Trung Quốc đã tấn công quân đội VNCH và đến ngày 20/1/1974, quân đội Trung Quốc đã thành công trong việc chiếm đoạt toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Sự kiện Hoàng Sa năm 1974 cho thấy Trung Quốc đã tính toán rất kĩ thời điểm để họ ra tay.

Tầm nhìn chiến lược

Trung Quốc đã thấy những lợi ích to lớn của biển và đại dương cả ở góc độ kinh tế lần chiến lược. Năm 1958, Hội nghị đầu tiên về Công ước Liên hợp quốc về luật biển đã được nhóm họp và cho ra đời 4 công ước về biển.

Lúc này, nhiều quốc gia cũng đã giành nhau những khu vực biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa vốn rất giàu tiềm năng kinh tế. Thấy trước các lợi ích đó nên Trung Quốc đã tham gia tích cực trong hội nghị này.

Những sự đụng độ giữa Trung Quốc và VNCH trên khu vực nhóm đảo Trăng Khuyết đã diễn ra từ năm 1959. Đầu năm 1959, hải quân của VNCH bắt đầu thách thức sự có mặt của hải quân Trung Quốc nơi đây. Tháng 2/1959, quân đội VNCH đã bắt giữ 82 ngư dân Trung Quốc trên đảo Quang Hoà (Duncan) và Trung Quốc đã chỉ trích hành động này rất mạnh mẽ.

Tháng 3/1959, các tàu của quân đội VNCH đã xua đuổi ngư dân Trung Quốc khi họ xuất hiện trên đảo Quang Hoà. Tuy nhiên, trong suốt khoảng thời gian từ năm 1960-1973, giữa Trung Quốc và VNCH đã không xảy ra căng thẳng nào, ngoại trừ một lần vào năm 1961.

Hành động “xuống thang” này của Trung Quốc thực ra bởi hai lý do: Thứ nhất, sức mạnh của hải quân Trung Quốc còn quá yếu; thứ hai, Trung Quốc luôn e ngại sự tham chiến của Hải quân Mỹ, vốn đang bảo trợ cho đồng minh VNCH.

Sau những lần đụng độ với VNCH trên đảo Quang Hoà năm 1959, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã chỉ thị cho Bộ trưởng Quốc phòng Bành Đức Hoài cần phải tăng cường lực lượng tác chiến cho hạm đội Nam Hải.

Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc lúc này vẫn chưa có tàu khu trục nào. Hạm đội này chỉ có 96 tàu tuần tra mà hầu hết là các loại tàu phóng ngư lôi loại nhỏ. Năm 1960, loại tàu lớn nhất trong hạm đội này là loại tàu hộ tống với độ choán nước khoảng 1.000 tấn. Đến cuối năm 1973, hải quân Trung Quốc đã điều động tổng cộng 76 tàu tuần tra loại lớn tới khu vực này, hầu hết các tàu này hoạt động tại khu vực nhóm đảo An Vĩnh, nhưng cũng có khi hoạt động sang cả khu vực của nhóm Trăng Khuyết. Như vậy, sức mạnh tác chiến của hải quân Trung Quốc tại đây đã được cải thiện đáng kể.

T bảo đảm an ninh

Còn về phía Mỹ, sau khi tỏ rõ sự thất bại của nước này trong Chiến tranh Việt Nam, năm 1969, Nixon đã tuyên bố một học thuyết về an ninh, theo đó, các đồng minh của Mỹ cần phải tự đảm bảo an ninh cho mình. Đến năm 1973, Mỹ đã ký kết Hiệp định Paris về Chiến tranh Việt Nam, theo đó, Mỹ sẽ lần lượt rút quân khỏi Việt Nam.

Trước đó, năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon đã sang thăm Trung Quốc. Chi tiết về trao đổi giữa các bên không được công bố, thế nhưng dường như phía Trung Quốc đã nhận được tín hiệu “mi không động đến ta thì ta không động đến mi” từ phía Mỹ.

Chính vì vậy, thời điểm năm 1974 là thời điểm chín muồi để Trung Quốc ra tay. Sức mạnh của hải quân Trung Quốc lúc này đã được cải thiện đáng kể, hải quân Mỹ không còn là mối lo ngại, chưa kể lúc này tinh thần của VNCH đang đi xuống, khi đồng minh quan trọng của VNCH là Mỹ đang “tháo chạy”. Trung Quốc đã giương ra một cái bẫy, quân đội VNCH không kiềm chế được nên đã rơi vào bẫy mà Trung Quốc đã giăng ra. Và kết cục là Trung Quốc đã thành công.

Bài học cho sự kiện Hoàng Sa năm 1974 có thể tổng kết ngắn gọn là: thứ nhất, Trung Quốc sẵn sàng ra tay bằng biện pháp vũ lực nếu thời thế chín muồi đối với họ; thứ hai, Mỹ có thể “bán rẻ” đồng minh vì lợi ích của chính họ.

Người Trung Quốc được Nguyễn Trãi tổng kết là “hiếu đại, hỷ công, cùng binh, độc vũ”. Họ luôn sẵn sàng dùng vũ lực nếu thấy cần thiết. Thấu triệt tư tưởng này của người Trung Quốc chính là Mao Trạch Đông, ông từng phát biểu “họng súng đẻ ra chính quyền”. Còn các cường quốc, khi vì lợi ích của chính họ, sẵn sàng “bỏ rơi” các đồng minh mà họ từng cam kết bảo vệ. Câu chuyện Mỹ bỏ rơi VNCH năm 1974, Liên Xô làm ngơ trước sự kiện 1988, đã chứng minh cho điều đó.

Biển Đông hiện nay vẫn như một nước cờ trong ván cờ toàn cầu với hai bên tham gia chính là Mỹ và Trung Quốc, về mặt toàn cầu, Mỹ vẫn đang là một siêu cường thế giới, chi phối an ninh toàn cầu. Còn Trung Quốc với vị thế là một cường quốc khu vực, đang vươn lên để trở thành một siêu cường, cạnh tranh với Mỹ.

Về mặt ảnh hưởng đến an ninh toàn cầu, Trung Quốc chưa thể cạnh tranh với Mỹ, nhưng tại khu vực Đông Á, rõ ràng Trung Quốc đang tìm cách thách thức vị trí của Mỹ, nhằm “thay chân” ảnh hưởng của Mỹ tại đây.

Tương lai trên Biển Đông?

Trong một thời gian dài, Mỹ bận với mối lo khủng bố từ khu vực Trung Đông và khủng hoảng kinh tế của mình, nên đã để cho Trung Quốc gần như “múa gậy vườn hoang” tại khu vực Đông Á. Cho tới 2009, khi thấy Trung Quốc quá lấn lướt tại khu vực Đông Á, Mỹ mới quay trở lại và sau đó đưa ra chính sách “xoay trục sang châu Á”, nhằm tái duy trì và tăng cường ảnh hưởng của Mỹ trên khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Thế nhưng, những sự kiện nối tiếp nhau trên Biển Đông và biển Hoa Đông từ năm 2007 tới nay đã cho thấy các hành động “leo thang” có tính toán kĩ lưỡng từ phía Trung Quốc cùng với sự “bất lực” của Mỹ và các đồng minh trước các sự kiện này.

Các hành động này của Trung Quốc dường như để đạt hai mục tiêu: thứ nhất, đây là những phép thử để Trung Quốc có thể tính toán được mức độ can dự của Mỹ vào khu vực này; thứ hai, đây là những tín hiệu để cảnh báo các quốc gia Đông Á “Thượng đế ở xa mà Trung Quốc lại ở sát bên cạnh”, chớ có dại mà chạy theo Mỹ chống lại “Thiên triều”.

Thực tế những hành động mang tính “khiêu khích” trong suốt thời gian qua của Trung Quốc tại Biển Đông và biển Hoa Đông đã cho thấy hiệu quả trong chính sách của họ cũng như những giới hạn trong việc can dự vào khu vực này của Mỹ. Trước những hành động quyết đoán của Trung Quốc, Mỹ luôn có những phản ứng, nhưng những phản ứng này chỉ dừng lại ở việc “lên tiếng”, khiến cho các đối tác và đồng minh của Mỹ không thực sự an tâm trước tình thế này.

Các chính khách Mỹ đã tỏ rõ là chính sách “xoay trục sang châu Á” của họ không bao gồm các biện pháp quân sự, mà chỉ nhằm thúc đẩy vai trò kinh tế của Mỹ với các nước châu Á, cũng như các cam kết mang tính chiến lược với các đồng minh và các đối tác liên minh.

Hiểu rõ giới hạn đó nên Trung Quốc tìm cách gia tăng hành động trên mọi phương diện, lúc sử dụng lực lượng bán quân sự, lúc thì sử dụng biện pháp ngoại giao, kinh tế cùng với các đe dọa quân sự đối với các quốc gia Đông A. Và cho đến nay, ảnh hưởng của Trung Quốc đối với khu vực này dường như đang tăng lên, bất chấp các lo ngại về các chính sách di dân, hàng hoá rẻ tiền và các tham vọng lãnh thổ của họ.

Điều mà Việt Nam và các quốc gia khác vẫn đang lo ngại là liệu Mỹ có thực tâm giữ vừng các cam kết của mình? Và khả năng can dự của Mỹ sẽ đến đâu nếu xảy ra xung đột? Trong cuộc tranh chấp Scarborough, chiến thuật “cải bắp” của Trung Quốc dường như đã phát huy tác dụng, phản ứng của Mỹ vẫn chỉ là “lên tiếng” và thực tế, cho đến nay, Philippines đã mất quyền kiểm soát bãi cạn Scaborough.

Và Nhật Bản, một đồng minh quan trọng của Mỹ ở Đông Á, trước những hành động “leo thang” căng thẳng của Trung Quốc tại khu vực Senkaku, đã phải tính đến những phương án xấu nhất, khi Trung Quốc lặp lại kịch bản Hoàng Sa đối với Senkaku, và đồng minh Mỹ sẽ “bỏ rơi” họ như từng làm với VNCH. Tuy nhiên, Nhật Bản còn là quốc gia có tiềm lực kinh tế và quân sự ngang ngửa với Trung Quốc, còn Việt Nam hay Philippines thì còn lâu mới so sánh tiềm lực được với Trung Quốc.

Như thế, kịch bản Hoàng Sa năm 1974 luôn có thể diễn ra trong tương lai, nhưng có thể dưới những hình thức khác, khi mà trên bàn cờ quốc tế, các cường quốc như những chú voi, khi “yêu nhau” hay “đánh nhau” thì đám cỏ – những nước nhỏ, luôn bị chúng dẫm nát.

Vì vậy, mỗi quốc gia tranh chấp lãnh thổ biển với Trung Quốc nên cần tự đặt riêng cho mình một chiến lược để đối phó với các tình huống xấu nhất trong tương lai./.

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d người thích bài này: