BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2246. ĐẠI ĐOÀN KẾT LÀ KẾ SÁCH GIỮ NƯỚC

Posted by adminbasam trên 19/01/2014

GS.TS Nguyễn Minh Thuyết – ĐBQH khóa XI, XII, nguyên Phó chủ nhiệm UB Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội chia sẻ với báo điện tử…(*) nhân sự kiện 40 năm Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Nhiều ý kiến cho rằng, mưu đồ đánh chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc đã có từ rất lâu chứ không phải chỉ từ năm 1974. GS nhìn nhận thế nào trước ý kiến này?

Ngày 17/1/1974, thừa dịp Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam theo Hiệp định Paris, Trung Quốc đem 4 tàu chiến đánh chiếm nhóm đảo Nguyệt Thiềm ở phía tây nam quần đảo Hoàng Sa thuộc quyền quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Hành động này lặp lại y nguyên kịch bản 18 năm trước đó: Năm 1956, lợi dụng cơ hội Pháp rút quân khỏi Đông Dương theo Hiệp định Genève, Trung Quốc đã đưa quân chiếm lấy nhóm đảo An Vĩnh thuộc đông bắc quần đảo Hoàng Sa lúc đó cũng thuộc quyền quản lý của chính quyền miền Nam Việt Nam. Nhưng tham vọng của Trung Quốc không chỉ dừng ở Hoàng Sa. Năm 1956, chính quyền Đài Loan chiếm đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa, và năm 1988, chính quyền Bắc Kinh đem tàu chiến đánh chiếm một số rạn đá cũng thuộc quần đảo này. Xa hơn nữa, từ trước cuộc xâm lăng 1988 hơn 40 năm, dưới thời Tưởng Giới Thạch, Trung Quốc đã bộc lộ mưu đồ thôn tính toàn bộ Biển Đông với “đường lưỡi bò” trong tấm phụ đồ kèm theo “Bản đồ khu vực hành chính Trung Hoa Dân quốc” phát hành năm 1947.  

Như vậy, có thể thấy tham vọng của Trung Quốc đã có từ rất lâu rồi. Chính thể nào của họ cũng vậy, dù có đổi màu nhưng không thay đổi tham vọng xưng bá đồ vương, mở rộng lãnh thổ, lãnh hải. Và trên thực tế, chỉ sau có 27 năm họ đã thực hiện được mưu đồ chiếm trọn Hoàng Sa. Tiếp theo Hoàng Sa sẽ là Trường Sa, nơi họ đã đứng chân được sau trận tàn sát đẫm máu các chiến sĩ Việt Nam trong tay chỉ có ngọn cờ đỏ sao vàng. Chiếm trọn 2 quần đảo này, họ sẽ áp đặt được đường lưỡi bò phi pháp trên Biển Đông, rồi cùng với việc kiểm soát biển Hoa Đông, sẽ vươn ra tranh bá trên Thái Bình Dương với các cường quốc biển.

GS nhận định thế nào về chứng lý chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa?

Trung Quốc cho rằng các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từng là một phần của nước họ, có tên trong một số thư tịch cổ và ở một vài đảo còn tìm thấy mảnh đồ gốm, tiền cổ Trung Quốc. Trên thực tế, không hề có bằng chứng lịch sử nào cho thấy họ đã liên tục chiếm cứ Hoàng Sa, Trường Sa từ xưa đến nay. Bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” xuất bản năm 1904, dưới thời nhà Thanh, ghi rõ cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam, không hề bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa.  Những bản đồ muộn hơn như  “Trung Hoa bưu chính dư đồ” xuất bản năm 1919 và “Trung Hoa bưu chính dư đồ” xuất bản năm 1933,… cũng không có Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng giả dụ cứ cho rằng thư tịch cổ Trung Quốc có chép về Hoàng Sa, Trường Sa thì lập luận của Trung Quốc cũng phi lịch sử. Bởi theo lý lẽ ấy thì các vùng Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng bây giờ chắc chắn không phải là lãnh thổ Trung Quốc. Còn nếu dựa theo cái lý “ở đâu tìm thấy hiện vật xuất xứ từ nước tôi, đó là lãnh thổ nước tôi” thì chắc ngay trên đất Trung Quốc bây giờ cũng không thiếu hiện vật có xuất xứ Việt Nam do quan quân Trung Quốc khuân về hoặc buộc phải “đeo” về như những mũi tên đồng, những mảnh đạn nằm trong cơ thể họ chẳng hạn.

Trên thực tế, các chính quyền Việt Nam suốt mấy trăm năm nay, từ đời Lê, đời Nguyễn, qua thời Pháp thuộc đến chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã liên tục quản lý Hoàng Sa, Trường Sa. Từ sau năm 1975, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và bây giờ là Cộng hòa XHCN Việt Nam thừa kế quyền quản lý các lãnh thổ này.

Ngày 7/9/1951, tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước chấm dứt chiến tranh ở Châu Á – Thái Bình Dương, khi Ngoại trưởng Nhật Bản trình bản dự thảo kế hoạch triệt thoái quân đội chiếm đóng Hoàng Sa cùng những đảo khác ở phía nam, trao quyền tiếp quản cho nước CHND Trung Hoa (giống như trao quyền giải giáp quân đội Nhật ở Việt Nam năm 1945 cho chính quyền Tưởng Giới Thạch),  đại diện Quốc gia Việt Nam tham dự hội nghị này là Ngoại trưởng Trần Văn Hữu đã long trọng tuyên bố: “Chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nơi từ xưa đến nay vẫn thuộc cương vực Việt Nam.” Việc trao quyền tiếp quản cho CHND Trung Hoa đã bị các nước tham dự Hội nghị bác bỏ với 48 phiếu chống và chỉ 3 phiếu thuận. Việc Trung Quốc bám vào bản dự thảo kế hoạch rút quân của Nhật Bản đã bị Hội nghị San Francisco bác bỏ để đòi chủ quyền cho những lãnh thổ mà họ chưa hề quản lý là hoàn toàn không có cơ sở.

Trước sự xâm lược trắng trợn của Trung Quốc năm 1974 và 1988, tại sao các tổ chức quốc tế và các nước trên thế giới rất ít lên tiếng phản đối?

Có một số lý do, chẳng hạn, mối quan hệ rất phức tạp giữa các nước lớn; nhưng lý do chính là nước ta chỉ gần đây mới công khai nói đến cuộc xâm lăng của Trung Quốc ở Hoàng Sa năm 1974 và ở Trường Sa năm 1988. Nhiều thông tin, thậm chí cả hình ảnh video về cuộc tàn sát hèn hạ đối với các chiến sĩ ta ở đảo Gạc Ma, đến người dân trong nước cũng không được tiếp cận, nói gì người nước ngoài. Tuy nhiên, gần đây, nhờ thái độ rõ ràng của Nhà nước ta, nhờ hoạt động tích cực của nhiều nhà hoạt động xã hội, nhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học Việt Nam đang sống và làm việc ở nước ngoài, và nhờ hiệu quả truyền thông của internet, một số tài liệu khoa học và tài liệu phổ cập ở nước ngoài trình bày sai về chủ quyền ở các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã được trình bày lại, và ngày càng có nhiều người, nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức nước ngoài hiểu vấn đề hơn, ủng hộ chính nghĩa của ta hơn.

Theo GS, Nhà nước và người dân cần phải làm gì để bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam?

Hàng nghìn năm nay, sống bên cạnh một nước láng giềng khổng lồ cả về diện tích, dân số lẫn tham vọng bành trướng, đất nước ta luôn đứng trước những thử thách to lớn, nhiều phen lâm cảnh hiểm nghèo. Nhưng các thế hệ cha ông, trong hoàn cảnh đương đầu với giặc mạnh, dù không có bất cứ sự chi viện quốc tế nào, vẫn giữ trọn được từng tấc đất để trao lại cho chúng ta hôm nay. Để bảo vệ được độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, cha ông ta một mặt khéo léo giữ gìn hòa hiếu với nước láng giềng, mặt khác luôn đề cao cảnh giác, cố kết lòng dân, đảm bảo “thực túc binh cường”, mưu trí, dũng cảm và kiên quyết chiến đấu đánh đuổi ngoại xâm mỗi khi chúng xâm lấn bờ cõi nước nhà. Đó là những bài học quý báu cần được nghiên cứu, phát huy.

Vận dụng các bài học giữ nước, tôi thấy có mấy việc sau cần thực hiện tốt hơn:

– Trước hết là cố kết lòng dân. Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống nhân dân, chống tham nhũng, quan liêu là những kế sách lâu bền để thực hiện mục tiêu này. Về những vấn đề liên quan đến biển đảo, cần tăng cường tuyên truyền, giải thích để người dân hiểu rõ và tin tưởng vào chính sách của Nhà nước; đồng thời có chính sách phù hợp để đoàn kết các tầng lớp nhân dân, phát huy tình cảm yêu nước của toàn dân. Theo tôi, chúng ta cần tôn trọng hơn nữa quyền thể hiện tình cảm yêu nước của người dân, tránh những hiểu lầm và xung đột không đáng có giữa người dân với chính quyền. Cần tôn vinh xứng đáng những người đã hi sinh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa từ xưa tới nay, trong đó có những người lính của các chế độ cũ, vì họ đổ xương máu để bảo vệ giang sơn, đất nước, chứ không phải chống lại cách mạng. Trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, chế độ dân chủ cộng hòa chỉ mới ra đời từ năm 1945 và đất nước cũng chỉ mới thống nhất từ năm 1976. Chúng ta không phân biệt người hi sinh cho đất nước thuộc triều đại này hay triều đại khác thì cũng không nên phân biệt họ ngã xuống trong các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm khi là lính của chế độ nào. Có như vậy mới thỏa vong linh những người đã chết cho một Tổ quốc chung và mới cố kết được lòng dân, phát huy được sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc.

– Thứ hai là tăng cường đoàn kết quốc tế. Các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mỗi người dân đều có trách nhiệm tuyên truyền về chủ quyền biển đảo và lập trường chính nghĩa của ta với nhân dân thế giới, tăng cường quan hệ hữu nghị, hiểu biết, giúp đỡ lẫn nhau giữa nước ta với các nước có quyền lợi liên quan. Theo dõi hành động của Trung Quốc trong những năm gần đây, có thể thấy họ đang hung hăng một cách thái quá để áp đặt “luật chơi” của mình cho các nước xung quanh. Điều này làm cho những nước liên quan bất bình, những nước ít liên quan nhất cũng ngờ vực tuyên bố “trỗi dậy hòa bình” của họ, và là một cơ hội để các nước cùng bị đe dọa thông cảm, chia sẻ, liên kết với nhau chống lại những hành động bá quyền vô lối của “người Trung Quốc xấu xí”. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta cần tranh thủ làm cho bạn bè quốc tế hiểu rõ sự thật và lập trường chính nghĩa của mình. Kinh nghiệm từ các cuộc kháng chiến trước đây cho thấy khi bạn bè quốc tế hiểu ta thì sẽ hết lòng ủng hộ ta, tình đoàn kết của các bạn sẽ trở thành sức mạnh hết sức to lớn, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng ta.

Một vấn đề được dư luận quan tâm nhiều trong thời gian qua là việc đưa kiến thức về quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như chủ quyền biển đảo của chúng ta vào sách giáo khoa, đặc biệt là SGK môn Lịch sử. Theo GS, việc làm này có ý nghĩa như thế nào? Bộ Giáo dục và Đào tạo cần làm gì để thế hệ trẻ có hiểu biết đầy đủ về chủ quyền biển đảo của chúng ta?

Lâu nay, các phương tiện thông tin đại chúng đã chú trọng tuyên truyền để người dân, đặc biệt là giới trẻ, hiểu rõ sự thật về chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của ta, cũng như về mưu đồ và hành động bành trướng của Trung Quốc.

Nhưng việc đưa các kiến thức nói trên vào sách giáo khoa là hết sức quan trọng, vì đó là tài liệu học tập để đào luyện thế hệ làm chủ đất nước trong tương lai. Hiện sách Địa lý đã dạy về Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng sách Lịch sử chưa có nội dung đề cập quá trình xác lập chủ quyền của nước ta đối với hai quần đảo này. Theo tôi, bổ sung nội dung này vào sách giáo khoa môn Lịch sử không phải chuyện phức tạp. Bộ GDĐT cần chỉ đạo thực hiện ngay công việc này, không cần chờ đến khi thực hiện chương trình sau năm 2015 mới làm. Đây là một việc rất cần sự nhạy cảm của nhà quản lý và nhà khoa học.

Xin cảm ơn GS!

(*) Bài phỏng vấn trên do một báo điện tử nhà nước thực hiện, định đăng vào hôm nay, 19/1/2014. Song nó đã không được đăng, minh chứng thêm khả năng có một lệnh “miệng” nào đó từ trên xuống, cùng với lệnh ngưng tổ chức thắp nến tưởng niệm tại Đà Nẵng.

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d người thích bài này: