BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2236. VẤN ĐỀ HOÀNG SA DƯỚI KHÍA CẠNH PHÁP LÝ

Posted by adminbasam trên 16/01/2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Tư, ngày 15/01/2014

(Đài BBC 12/1)

Việt Nam không thể trông chờ vào biện pháp ‘ngoại giao’ vốn dựa trên ‘nhân nhượng’, cố giữ ‘hòa hiếu’ khi đòi chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông từ tay Trung Quốc, theo một chuyên gia công pháp quốc tế và luật biển từ Hà Nội. Theo Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyên Bá Diến, Trưởng Bộ môn Công pháp Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, các động thái ngoại giao trong suốt nhiều năm qua tỏ ra ‘không hiệu quả’ khi vẫn không thể buộc Trung Quốc trao trả lại chủ quyền đối với hai quần đảo này cho Việt Nam.

Trao đổi với BBC vào ngày 12/1/2014, Phó giáo sư Diến, người tham gia nhiều chương trình, đề tài, dự án cấp quốc gia về pháp lý chủ quyền cho Việt Nam nhấn mạnh trong tình hình Trung Quốc quyết ‘phớt lờ’ và ‘coi thường’ các ‘nguyên tắc cơ bản’ của luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982, Việt Nam phải ‘cương quyết’ hơn và sử dụng ‘con đường pháp lý’, ông nói: “Ngoại giao chỉ là một kênh thôi, còn đất đai lãnh thỗ là quyền thiêng liêng, vô giá. Đấu tranh bằng ngoại giao để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ chỉ là một kênh, mà thường không hiệu quả, theo quan điểm của chúng tôi là không hiệu quả. Nếu mà cứ căn cứ vào kênh ngoại giao để đấu tranh bảo vệ chủ quyền, thì xem chừng không cẩn thận lợi bất cập hại, nó chỉ là một kênh. Chủ quyền quốc gia là vấn đề tối thượng, một thành tố vật chất để duy trì sự tồn tại quốc gia, mà ngoại giao tức là nhân nhượng, là thương lượng và đàm phán, cho nên người ta khó mà làm được chuyện đó (đòi chủ quyền)”.

Luật gia này tin rằng con đường duy nhất đấu tranh đòi chủ quyền hiệu quả của Việt Nam là dựa trên luật pháp quốc tế. Ông gợi ý: “Việt Nam có thể đưa vụ việc ra trước Liên hợp quốc, nặng hơn, chúng ta (Việt Nam) có thể đưa ra trước bất kỳ một cơ quan tài phán quốc tế nào, Tòa án Luật Biển, rồi Trọng Tài theo phụ lục 7 Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982, Trọng Tài Đặc Biệt theo mục 8 Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982, hoặc trước bất kỳ một cơ quan trọng tài nào”.

‘Con đường dt điểm’

Theo Phó giáo sư Nguyễn Bá Diến, vì hành vi của nhà cầm quyền Trung Quốc trên Biển Đông ngày càng ‘ngang ngược’, việc đàm phán ngoại giao sẽ ‘không dễ dàng’ và Việt Nam sẽ buộc phải dùng biện pháp khác mà ông hy vọng là hữu hiệu hơn. ông Diến khẳng định: “Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc xâm chiếm trái phép 40 năm qua, Việt Nam đã bao nhiêu lần đề xuất đàm phán, thương lượng, nhưng phía Trung Quốc từ chối, ví dụ như vậy và sau này họ còn ngang ngược đánh chiếm thêm một số đảo, thí dụ sự việc năm 1988. Rõ ràng là việc thương lượng đàm phán trong vấn đề lãnh thổ, đặc biệt trong vấn đề Biển Đông, vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa không dễ dàng. Trung Quốc rõ ràng đã đánh chiếm, xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam 40 năm qua rồi, nhưng… ngày càng cố tình phớt lờ yêu sách đòi hỏi trả lại (chủ quyền) của Việt Nam bằng biện pháp hòa bình, bằng thương lượng. Thế cho nên chỉ có con đường pháp lý, chỉ có con đường chính trị quốc tế, pháp lý quốc tế mới có thể giải quyết một cách thỏa đáng, dứt điểm được vấn đề này. Mà tôi nghĩ không chỉ có vấn đề tranh chấp ở trên Biển Đông mà trên thực tiễn ở Đông Nam Á, người ta cùng đã đưa tranh chấp của Malaysia với Singapore, rồi Malaysia với Indonesia, người ta cũng đã đưa ra Tòa án Quốc tế và ngay cả (vụ) Đền Preah Vihear của Thái Lan và Campuchia người ta cũng đưa ra Tòa án Quốc tế đấy chứ”.

Phó giáo sư Diến cho hay hiện có hai luồng quan điểm trong nước về việc Việt Nam nên đưa vụ đòi chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa từ tay Trung Quốc ra sao. Ông Diến nói: “Có người nói bây giờ đã quá muộn rồi, Việt Nam không đưa vụ việc này ra cơ quan tài phán quốc tế, trước tổ chức quốc tế, ít nhất là Liên hợp quốc, như thế cũng là quá muộn rồi. Nhưng cũng có quan điểm cần tính toán, cân nhắc, và cũng cần xem xét thái độ của Trung Quốc, bởi vì Việt Nam vẫn muốn giữ hòa hiếu với Trung Quốc, chưa muốn làm căng với Trung Quốc”.

‘Còn chthi cơ?’

Chuyên gia pháp lý khẳng định Việt Nam hiện đã có ‘quá thừa’ những căn cứ pháp lý, lịch sử để đòi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng chính quyền vẫn còn chưa quyết định đưa ra tài phán quốc tế. Ông nói: “Xin khẳng định một điều là Việt Nam có quá thừa căn cứ pháp lý, cũng như có đầy đủ căn cứ lịch sử, nói cách khác là có đầy đủ căn cứ lịch sử, pháp lý để chứng minh chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như các vùng biển được quy định của luật pháp quốc tế, cụ thể là Công ước Liên hợp quốc về luật biến 1982. Việt Nam có đầy đủ những căn cứ, những bằng chứng để chứng minh đòi lại, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung Quốc chiếm đóng một cách trái pháp luật bằng vũ lực”.

Giải thích về việc vì sao Chính phủ Việt Nam nhiều năm qua vẫn chưa quyết định kiện Trung Quốc dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa và nhiều đảo khác ở Trường Sa, trên Biển Đông, ra tài phán quốc tế, ông Diến nói: “Cái này còn tùy thuộc vào thái độ của Trung Quốc, tham vọng của Trung Quốc, yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông và thứ hai nữa là còn tùy thuộc vào ý chí chính trị của Việt Nam”.

Nhà luật học này cho rằng có thể Việt Nam đang đợi tới một thời điểm chính trị thuận lợi, như một thời cơ thuận lợi để tung ra hồ sơ lên tài phán quốc tế, nhưng ông cũng lưu ý: “Tuy nhiên tính toán như thế nào cũng là một vấn đề, bây giờ hay sau này, cái đó cũng phải có sự cân nhắc tính toán kỹ lưỡng”.

‘Trung Quốc lấn ti’

Nhân dịp này, chuyên gia cũng lên tiếng bình luận về việc Trung Quốc mới đây đưa ra quy định mới gọi là “Dự thảo sửa đổi Biện pháp thực hiện Luật Ngữ nghiệp” của Trung Quốc dưới danh nghĩa văn bản dưới luật của tỉnh Hải Nam có hiệu lực từ ngày 1/1/2014. Theo quy định này, người nước ngoài và tàu cá nước ngoài ‘tự ý đi vào vùng nước tỉnh Hải Nam quản lý để thực hiện sản xuất ngư nghiệp và các hoạt động điều tra tài nguyên nghề cá sẽ bị xua đuổi, có thể bị tịch thu tài sản, xử phạt hành chính… Phó giáo sư Nguyễn Bá Diễn nói với BBC: “Đương nhiên là theo quy định luật pháp quốc tế, đặc biệt Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982 thì quy định của Trung Quốc về cái yêu cầu hay đòi hỏi các quốc gia cũng như tàu thuyền của các nước khi vào vùng đánh cá, không chỉ vùng đánh cá mà vào vùng biển khoảng 2/3 diện tích Biển Đông phải có giây phép, như là một sự tuân thủ nhà cầm quyền TQ, thì như thế là vi phạm luật pháp quốc tế, vi phạm Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 rồi”.

Vào ngày 10/1/2014, người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lương Thanh Nghị, cũng đã có phản ứng trên truyền thông trong nước, ông Nghị được dẫn lời nói: “Việt Nam yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ những việc làm sai trái nói trên, đóng góp thiết thực vào việc duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực”.

Trước đó, vào ngày 3/1/2014, nhìn lại công tác đối ngoại năm 2013 và nêu trọng tâm đối ngoại trong năm mới của Việt Nam, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, ông Phạm Bình Minh, trên truyền thông trong nước, đã đề cập xử lý quan hệ với Trung Quốc trên Biển Đông. Ông nói với trang mạng của Đài Tiếng Nói Việt Nam: “Về vấn đề Biển Đông, trong năm 2013, chúng ta tiếp tục duy trì được môi trường ổn định ở Biển Đông. Trong năm 2013, một mặt chúng ta đấu tranh bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế, đồng thời đấu tranh chống lại các biện pháp ngăn cản ngư dân của chúng ta trên các vùng biển của Việt Nam…”.

***

(Đài BBC 10/1)

Theo quan điểm của một luật gia và cựu quan chức Ban Biên giới Chính phủ Việt Nam, thời điểm để Việt Nam đưa Trung Quốc ra tòa quốc tế nhằm đòi chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa ở Biển Đông đã chín muồi.

Theo Phó giáo sư, tiến sĩ Hoàng Ngọc Giao, nguyên Vụ trưởng Ban Biên giới chính phủ, Hà Nội đã có đầy đủ căn cứ pháp lý và lịch sử về chủ quyền biển đảo đối với các vùng lãnh thổ nói trên ở Biển Đông và chi cần khẳng định bản lĩnh để đưa Bắc Kinh ra tài phán quốc tế.

Theo ông Giao, hành động pháp lý này vẫn cần được tiến hành sớm nhất ngay cả khi Trung Quốc được dự báo sẽ có động thái đáp lại là bác bỏ, lẩn tránh tranh tụng tại các phiên tòa quốc tế và gây các áp lực chính trị với Việt Nam.

Vẫn theo quan chức này, Trung Quốc đang có những hành vi mang tính chất ‘bành trướng và đế quốc mới’, muốn ‘lập lại trật tự khu vực’ khi mới đây tuyên bố bắt buộc các tàu bè vào khu vực rộng hơn 2/3 Biển Đông phải xin phép, sau khi đã tuyên bố vùng cấm bay ở biển Hoa Đông và chưa thu hồi bản đồ ‘đường lưỡi bò’ dù đã bị quốc tế, khu vực chỉ trích.

Về thời điểm của hành động pháp lý đòi chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa mà năm nay đánh dấu tròn 40 năm sự kiện của cuộc cưỡng chiếm, một chuyên gia từng nghiên cứu về pháp lý chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông từ Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, Việt Nam nên đưa hồ sơ đòi chủ quyền ra quốc tế ‘càng sớm càng tốt’. Giáo sư Nguyễn Đăng Dung nói Việt Nam đã ‘quá chậm’ khi chưa trình hồ sơ lên Tòa án Quốc tế và cho rằng điều này là bất lợi cho Việt Nam, trong khi có lợi cho ‘phía chiếm hữu’ vì theo ông càng “để lâu cứt trâu hóa bùn”.

‘Nay là thi điểm’

Trước hết, ngày 10/1, Phó giáo sư, tiến sĩ Hoàng Ngọc Giao nói với BBC, nay là thời điểm Việt Nam phải ‘mạnh mẽ’ hơn trong hành động pháp lý đòi chủ quyền, ông nói:

“Chính phủ Việt Nam hiện nay, với nguyện vọng của dân tộc, nhân dân Việt Nam hiện nay, mạnh mẽ hơn nữa, tôi nghĩ thời điểm này, đã đến lúc cần phải mạnh mẽ hơn và cần phải khẳng định bản lĩnh của dân tộc Việt Nam đứng trước một nguy cơ xâm phạm bờ cõi tổ tiên để lại. Đây là thời điểm cần thiết phải đứng ra rồi. Cần thiết phải có những động thái về mặt chính trị, pháp lý mạnh mẽ hơn nữa trong quan hệ quốc tế đối với Trung Quốc”.

Ổng Giao cho rằng về mặt các căn cứ để đòi chủ quyền, Việt Nam hoàn toàn có thể ‘yên tâm’. Ông nói thêm:

“Cụ thể hồ sơ về Hoàng Sa, Trường Sa, các nhà nghiên cứu lịch sử, cũng như các chuyên gia pháp luật đều có những nghiên cứu và đều có đánh giá chung rằng, Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý về chủ quyền lãnh thổ. Trong lịch sử, về mặt pháp lý, cũng như về mặt chiếm hữu thực sự hữu hiệu, dưới góc độ công pháp quốc tế, Việt Nam có đủ căn cứ và Việt Nam có thể hoàn toàn yên tâm”.

Theo nhà luật học, để đương đầu với khả năng Trung Quốc bác bỏ đàm phán, từ chối hợp tác trong tranh tụng và né tránh xuất hiện trước Tòa án Công lý Quốc tế, Việt Nam cần tham khảo kinh nghiệm của Philippines trong xử lý tranh chấp biển đảo với Trung Quốc. Ông Giao cho biết:

“Việt Nam cũng có thể có những động thái về mặt pháp lý tương tự như Philippines, để đưa ra Tòa án về Luật biển quốc tế theo cơ chế giải quyết tranh chấp theo Công ước Liên hợp quốc về luật biển Quốc tế 1982”.

Tòa án này, theo ông Giao, đã tiếp nhận hồ sơ thưa kiện của Philippines theo một cơ chế ‘hòa giải bắt buộc’ vốn chấp nhận một trong các bên có tranh chấp, khiếu nại về chủ quyền biển đảo được đệ trình đơn và hồ sơ khiếu nại của mình, mà không đòi hỏi phía bị thưa kiện cùng phải đồng thuận hay không, như theo một nguyên tắc và cơ chế xử lý của Tòa án Công lý quốc tế mà Trung Quốc vẫn dựa vào đó để né tránh ra tòa.

‘Cứt trâu hóa bùn’

Về khả năng và căn cứ pháp lý đòi lại chủ quyền của Việt Nam riêng với Hoàng Sa, sau 40 năm Trung Quốc tấn công chiếm quần đảo này từ tay Việt Nam Cộng hòa, Giáo sư Nguyễn Đăng Dung từ Đại học Quốc gia nói:

“Các chứng cứ pháp lý về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa chắc chắn hơn những nơi khác, bởi vì cứ liệu theo tôi nghiên cứu Việt Nam có lịch sử lãnh thổ về chủ quyền với Hoàng Sa sớm hơn tất cả các nước khác, kể cả Trung Quốc, ngay cả có bằng chứng lịch sử nhiều hơn”.

Chuyên gia từng tham gia nghiên cứu các chủ đề về chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông từ 20 năm về trước cho rằng Việt Nam đã ‘hơi muộn’ nếu ngay bây giờ bắt đầu đệ trình các hồ sơ đòi chủ quyền lên các tòa án quốc tế. Ông Dung nói:

“Quan điểm của tôi là đưa càng sớm càng tốt, chiếm cứ lãnh thổ càng để lâu thì sẽ càng tốt cho người cưỡng chiếm, theo tôi nghĩ, cứ liệu của Việt Nam với Hoàng Sa là chắc chắn. Việt Nam có dám đưa hay không, đấy là vấn đề. Về thời điểm, tôi nghĩ càng đưa sớm càng tốt, Việt Nam càng để chậm thì sự cưỡng chiếm của người ta càng có hiệu lực hơn. Tôi nghĩ bây giờ đưa ra cũng đã là chậm rồi. Việt Nam có câu càng để lâu ‘cứt trâu hóa bùn’”.

Trong một trao đổi với BBC từ trước về công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 liên quan một tuyên bố về hải phận của Trung Quốc, Giáo sư Monique Chemillier Gendreau từ Pháp cho rằng Việt Nam đã có đủ căn cứ pháp lý, lịch sử về chủ quyền với Hoàng Sa, Trường Sa.

Theo chuyên gia về công pháp quốc tế này, Việt Nam cần có những bước đi thích hợp, tận dụng sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế và có những hành động không chậm trễ vì “Trung Quốc trong nhiều năm đã có sự chuẩn bị ráo riết về dư luận quốc tế, trong khi không ngừng tranh thủ, vận động hành lang ở nhiều diễn đàn quốc tế và khu vực”. Ngày 10/1, Phó giáo sư, tiến sĩ Hoàng Ngọc Giao nói với BBC về các động thái, chiến thuật của Trung Quốc ở các vùng biển khu vực, trong đó có Biển Đông và đưa ra khuyến nghị với Việt Nam. Ông Giao nói:

“Hành vi của Trung Quốc trong những năm gần đây là họ đang dùng sức mạnh nước lớn và họ đang muốn thay đổi trật tự quan hệ quốc tế trong khu vực, do đó không chỉ đối với Việt Nam, mà còn đối với Nhật Bản và các nước khác trong khu vực. Họ cũng có những động thái xé rào, phá bỏ những luật lệ, các nguyên tắc quan hệ đã được thiết lập từ thế kỷ trước đến nay, thậm chí họ không tôn trọng Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982, mặc dù họ đã ký, cam kết, nhưng việc họ đưa ra ‘đường lưỡi bò’ không có một căn cứ nào phù hợp với luật quốc tế, trật tự quốc tế, trật tự pháp lý quốc tế hiện nay”.

‘Không phải đơn độc’

Theo nhà luật học, Trung Quốc đã có những ‘bước đi’ mà theo ông đã thể hiện ‘tham vọng đế quốc và bá quyền’, ‘muốn lập lại trật tự trong khu vực’ khi tuyên bố vùng nhận dạng phòng không ở biển Hoa Đông và gần đây quy định tàu đánh cá nước ngoài đi vào một khu vực hơn 2/3 Biển Đông cũng phải ‘xin phép thì mới được đánh cá”. Ông Giao cho biết:

Theo tôi Việt Nam không đơn độc trong việc xử lý các vấn đề này, Việt Nam có các nước ASEAN, Việt Nam có luật pháp quốc tế, Việt Nam có những mối quan hệ đang ngày càng phát triển với Nhật Bản, với Mỹ, Việt Nam cần tăng cường hơn nữa quan hệ quốc tế đa phương và phải có bản lĩnh, quan trọng là phải có bản lĩnh.

Dù mối quan hệ chính trị hiện nay giữa Hà Nội và Bắc Kinh như thế nào, nhưng đất đai của tổ tiên, bờ cõi của tổ tiên, cần phải được gìn giữ như ông cha ta đã làm”.

Ngày 3/1, trong cuộc trao đổi với Đài Tiếng nói Việt Nam, nhìn lại công tác đối ngoại trong năm 2013 và bình luận ‘trọng tâm công tác đối ngoại’ của Việt Nam trong năm mới, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh không nhắc tới vấn đề đòi chủ quyền với Hoàng Sa và các nơi khác trên Biển Đông, Ngoại trưởng Phạm Bình Minh được trích thuật nói: Hiện nay, trong ASEAN xu hướng chung là đều muốn xây dụng được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) với Trung Quốc. Vai trò của Việt Nam trong COC rất quan trọng. Năm 2012, khi là điều phối viên của ASEAN- Trung Quốc, Việt Nam đã cùng các nước xây dựng được các thành tố cơ bản về COC. Trên cơ sở những thành tố đó thì ASEAN và Trung Quốc sẽ tiếp tục thảo luận về bộ quy tắc này”.

***

(Đài TNHK 12/1)

Cuộc chiến trên biển gây nhiều thương vong cho phía Việt Nam năm 1974 đã được đưa ra ‘mổ xẻ’ dưới nhiều lăng kính khác nhau của các nhà nghiên cứu gốc Việt tại Đại học Harvard vào ngày 11/1.

Tiến sỹ Ngô Như Bình, Giám đốc chương trình tiếng Việt tại trường đại học danh tiếng nằm ở bang Massachusetts, cho VOA Việt Ngữ biết, cuộc hội thảo được tổ chức để đánh dấu tròn 40 năm trận hải chiến đẫm máu. Ông Bình cũng nói rằng ý kiến của các chuyên gia Mỹ và Canada gốc Việt tham gia diễn đàn có thể đóng góp phần nào vào việc tìm ra giải pháp cho cuộc tranh chấp lãnh hải trên Biển Đông, ông Bình nói: “Chúng tôi muốn lắng nghe ý kiến của các chuyên gia từ những góc độ khác nhau, từ lịch sử, pháp luật, kinh tế hay thương mại. Nếu như kết quả cùa các công trình nghiên cứu của các diễn giả và kết quả của hội thảo này được nhiều người biết đến thì chúng tôi nghĩ rằng nó sẽ góp phần giải quyết vấn đề biển đảo ở Biển Đông một cách hòa bình”.

Ồng Ngô Vĩnh Long, Giáo sư khoa lịch sử của Đại học Maine, là một trong các diễn giả thuyết trình tại cuộc hội thảo với sự tham gia của nhiều thành phần, trong đó có khá nhiều sinh viên người Việt, về tác động của cuộc chiến trên biển năm 1974 đối với các diễn biến những năm sau đó, ông Long nhận định với VOA Việt Ngữ rằng nó là điểm khởi đầu cho một loạt rắc rối mà Trung Quốc gây ra sau này. Theo ông, việc Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa là nhằm thâu tóm và kiểm soát Biến Đông, ông Long nói: “Trung Quốc lấy nốt Hoàng Sa rồi để từ đó mới nói rằng Trung Quốc có lãnh hải mấy trăm dặm, thành ra, gây tranh chấp khắp khu vực. Trung Quốc gây sự, chiếm chỗ này, chiếm chỗ kia, mà người ta phải tới để thương lượng với Trung Quốc. Khi mà tới nói chuyện với Trung Quốc thì Trung Quốc tuyên bố chỉ nói chuyện song phương thôi, chứ không nói đa phương. Trung Quốc dùng sức mạnh của nước lớn để ăn hiếp các nước nhỏ”.

Liên quan tới khía cạnh pháp lý trong vấn đề tranh chấp ở Biến Đông, nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam nên đi theo cách làm của Philippịnes. Tiến sỹ Tạ Văn Tài, cựu giảng viên trường luật của Đại học Harvard, nhận định với VOA Việt Ngữ rằng Hà Nội nên theo gót Philippines đưa Trung Quốc ra tòa trọng tài quốc tế để phân xử. Ông Tài nói: “Hai tòa án chính là tòa trọng tài và tòa luật biển. Muốn giải thích điều khoản nào về luật biển, một bên có quyền đưa ra và bên kia không ngăn cản được. Bên kia có trình hồ sơ thì họ xem, không trình thì họ cứ tuyên bố một bản án mà dĩ nhiên nó không có tính cưỡng hành, nhưng mà ít ra nó cũng tạo được một cái thế về luật pháp, về chính nghĩa cho Việt Nam và Philippines. Đó là điều nên làm”.

Trung Quốc từng tuyên bố rằng nước này không có ý định tham gia vụ kiện mà Bắc Kinh cho là nỗ lực của Philippines nhằm hợp thức hóa việc chiếm đóng các đảo của Trung Quốc ở Biển Đông. Tiến sỹ Tài cho rằng Hà Nội hiện chú tâm theo dõi vụ kiện do Manila khởi xướng để xem có thể học được gì. Ông Tài nói: “Đối với Trung Quốc, một anh khổng lồ hung hăng, dùng ngoại giao súng ống thì chỉ có cách dùng luật pháp, là khí giới của kể yếu chống kẻ mạnh, giống như Nguyễn Trãi nói, đem đại nghĩa (tức luật pháp) để thắng hung tàn. Trước tòa án, dù là không có lôi được Trung Quốc ra, nhưng nếu mà có một bản án, kết án lập trường của Trung Quốc, điều đó rất có lợi cho dư luận quốc tế chống Trung Quốc và bảo vệ các nước nhỏ ở Đông Nam Á”.

Tiến sỹ Vũ Quang Việt, một chuyên gia từng làm việc cho LHQ và hiện nghiên cứu về cuộc tranh chấp Biển Đông, cũng có cùng quan điểm với ông Tài. Ông Việt cho rằng Việt Nam ‘là nước nhỏ thì phải dựa vào luật pháp quốc tể để giải quyết’, và việc ‘Philippines làm là đúng đắn và Việt Nam nên ủng họ’. Ông Việt nói: “Việt Nam có thể đưa Trung Quốc ra tòa bất cứ lúc nào, nhưng Việt Nam cần phải tìm hiểu để biết những vấn đề nào cần đưa ra tòa được. Việt Nam muốn kiện thì phải tìm ra cái gì liên quan tới Việt Nam, chứ không thể lấy các điểm đưa ra tòa của Philippines được”.

Ông Paul Reichler, luật sư đại diện của Chính phủ Manila trước tòa trọng tài quốc tế từng nói với VOA Việt Ngữ rằng quyền lợi của Việt Nam ‘hoàn toàn giống với hai điểm chính mà Philippines mang ra tòa’. Trong chuyến thăm Mỹ năm ngoái, khi được hỏi về việc Manila đưa Bắc Kinh ra tòa, Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang nói rằng đó là ‘thẩm quyền của Philippines’ và Việt Nam ‘tôn trọng Philippines’. Trong khi đó, tiến sỹ Ngô Như Bình cho rằng Chính quyền Hà Nội cần phải cho người dân thấy rõ ‘quan điểm cua mình, quan điểm của phía Việt Nam’ trong vấn đề Biển Đông.

***

(Đài TNHK 10/1)

Năm nay đánh dấu 40 năm ngày bùng nổ trận hải chiến giữa Việt Nam với Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa tháng 1/1974. Vấn đề Hoàng Sa hiện nay có vai trò thế nào đối với an ninh của Việt Nam và cả khu vực giữa căng thẳng tranh chấp Biển Đông với các hành động gây hấn không ngừng của Trung Quốc?

Trong cuộc trao đổi với VOA Việt ngữ, nhà nghiên cứu và giảng dạy về châu Á học thuộc Đại học Maine Mỹ, Giáo sư Ngô Vĩnh Long, nhận định như sau:

“Hoàng Sa với an ninh và quyền lợi của Việt Nam thì ta đã thấy rõ, nhưng an ninh và quyền lợi của thế giới nhiều nước chưa thấy rõ. Khi Trung Quốc chiếm đóng toàn bộ Hoàng Sa ngày 19/1/1974, họ đã tính sẽ dùng đảo này để đẩy yêu cầu của họ chiếm thêm những vùng khác trong Biển Đông. Rõ ràng từ đó đến nay, Trung Quốc càng ngày càng khiêu khích. Họ dùng Hoàng Sa làm căn cứ địa, rồi lập thành phố Tam Sa để kiểm soát toàn bộ Biển Đông.”

VOA: Với sách lược đòi chủ quyền bằng ngoại giao, liệu Việt Nam và các nước Đông Nam Á có thể thành công? Nhìn lại 40 năm đã qua kể từ trận chiến Hoàng Sa, chưa thấy một kết quả cụ thể nào cho Việt Nam, thưa ông?

– Vâng, Hoàng Sa là vấn đề rất quan trọng về khía cạnh chủ quyền, an ninh cho khu vực, và về luật pháp, về mặt luật pháp, nếu mình để càng lâu, Trung Quốc càng có thời gian. Sau này nếu có đem ra tòa kiện được, người ta cũng cho rằng Trung Quốc đã chiếm đóng lâu rồi, người ta không muốn làm lộn xộn vấn đề. Cho nên, mình phải dùng vấn đề an ninh khu vực. Chẳng hạn lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc gần đây rõ ràng là sự đe dọa an ninh cho cả thế giới chứ không phải chỉ cho một nước Việt Nam. Nếu hai nước bị thiệt hại nhiều nhất là Việt Nam và Philippines đẩy mạnh vấn đề thành trách nhiệm chung của thế giới thì tôi nghĩ có thể giải quyết sớm vấn đề.

VOA: Còn kịch bản khả dĩ nào khác giúp giải quyết tranh chấp theo chiều hướng ôn hòa, tốt đẹp nhất ngoài vận động ngoại giao? Các biện pháp chế tài, ràng buộc, hoặc kiện tụng thì sao?

– Việt Nam là nước phải đứng ra kiện vì quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng và khi chiếm đóng, Trung Quốc còn giết người Việt Nam. Đây là vấn đề không những mang tính luật pháp mà còn mang tính nhân đạo. Cho nên, chúng ta có thể đem ra nói với thế giới. Nhưng theo tôi, khi Việt Nam nói với thế giới điều này, cần cho thế giới biết rằng Trung Quốc có đảo Hải Nam với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Nếu họ dùng Hoàng Sa và cũng nói rằng họ có 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế ở đây, trong khi giữa Hải Nam và Hoàng Sa chưa tới 400 hải lý, thì Trung Quốc sẽ làm tắc nghẽn cả đường lưu thông từ dưới Biển Đông lên đến vùng Đài Loan. Thành ra, trong lúc Trung Quốc đang ‘quậy’ thế này, Việt Nam nên đẩy mạnh vấn đề, đặc biệt là Liên hợp quốc, buộc Liên hợp quốc phải xét xử vụ này vì chuyện này không phải chỉ là chủ quyền lãnh thổ mà là an ninh biển, ảnh hưởng Luật Biển của Liên hợp quốc.

VOA: Thế nhưng những áp lực mạnh tay hơn liệu chăng sẽ đưa tới những rủi ro như một trận hải chiến cách đây 40 năm? Giáo sư nhận định khả năng xảy ra xung đột vũ trang tại khu vực ra sao?

– Bây giờ Trung Quốc và Mỹ có quan hệ cộng sinh. 20 năm qua nhờ Mỹ, Trung Quốc mới có thể phát triển như ngày nay. Nếu có rắc rối trong khu vực hại đến quyền lợi của Mỹ thì Mỹ phải nói rõ với Trung Quốc là ‘Chúng tôi không thể chấp nhận’. Trách nhiệm của Mỹ và quyền lợi của Mỹ bây giờ rất rõ trong vấn đề này. Cho nên, tôi nghĩ Mỹ không thể dùng dằng. Trong khi đang tìm cách đối phó, Mỹ cần sự giúp đỡ của các nước Đông Nam Á có quyền lợi bị đe dọa. Cho nên các nước cần tìm cách gây áp lực với Mỹ hay giúp Mỹ có cớ để giữ an ninh trong khu vực. Việt Nam là nước có lãnh thổ, lãnh hải dài nhất ở Biển Đông. Cho nên, tiếng nói của Việt Nam có sức nặng. Nếu không, đúng như cô nói, sẽ xảy ra sự cố. Khi xảy ra sự cố giữa khu vực Hải Nam và Hoàng Sa, chắc chắn sẽ làm tắc nghẽn lưu thông toàn khu vực. Chúng ta biết 90% các trao đổi hàng hóa của thế giới là trên đường biển và 60% các trao đổi đó là qua Biển Đông. Cho nên thế giới không nên để cho sự cố xảy ra./.

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d người thích bài này: