2222. LỘ TRÌNH QUAN HỆ HAI BỜ DƯỚI THỜI TẬP CẬN BÌNH
Được đăng bởi adminbasam trên 13/01/2014
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Thứ Ba, ngày 07/01/2014
TTXVN (Hong Kong 5/1)
Theo tạp chí “Góc rộng” phát hành tại Hong Kong, quan hệ hai bờ Đài Loan đã thoát khỏi nguy cơ chiến tranh, hiện đang bước vào thời kì phát triển hòa bình và đã đạt được một số lợi ích rõ rệt. Sau Đại hội 18, Bắc Kinh bắt đầu tập trung vào vấn đề chính trị giữa hai bờ, thế hệ lãnh đạo khóa mới Trung Quốc mà người đứng đầu là Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã triển khai toàn diện chính sách mới đối với Đài Loan.
Trước buổi hội đàm với ông Tiêu Vạn Trường, đặc phái viên của Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu, Chủ tịch Tập Cận Bình đã chỉ ra rằng vấn đề bất đồng chính trị vốn tồn tại từ lâu giữa hai bờ cần phải được giải quyết từng bước, không để những vấn đề đó truyền từ đời này qua đời khác. Sau khi lên nhậm chức, ông Tập Cận Bình coi bất đồng chính trị giữa hai bờ eo biển Đài Loan là vấn đề trọng điểm trong nhiệm kì của mình. Vì vậy, chủ đề chính trong cuộc gặp giữa ông Tập Cận Bình và ông Tiêu Vạn Trường đã tập trung vào vấn đề chính trị mà xem nhẹ vấn đề kinh tế, qua đó cho thấy quyết tâm của người đứng đầu Trung Quốc trong việc giải quyết bất đồng chính trị giữa hai bờ eo biển.
Trong buổi hội đàm giữa Chủ tịch Tập Cận Bình và Đặc phái viên Tiêu Vạn Trường, các báo cáo của giới chức Đại lục thể hiện quan điểm và cách lý giải của ông Tập Cận Bình đối với quan hệ hai bờ. Trước hết, ông Tập Cận Bình nhấn mạnh người dấn Đại lục và Đài Loan hy vọng quan hệ hai bờ sẽ phát triển thêm một bước. Theo nhà lãnh đạo này, hai bên cần kiên trì đi theo con đường đúng đắn là phát triển hòa bình quan hệ hai bờ, đề xướng quan điểm “hai bờ là một nhà”, tăng cường giao lưu hợp tác và cùng thúc đẩy sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa. Sau buổi hội đàm, Chủ tịch Tập Cận Bình chỉ ra rằng hai bên cần trân trọng cơ hội lịch sử, duy trì xu thế tốt đẹp trong việc phát triển hòa bình quan hệ hai bờ. Quần chúng nhân dân đều hy vọng quan hệ hai bờ đạt được nhiều tiến triển hơn nữa. Hai bên cần thuận theo ý dân, nắm bắt cơ hội, thúc đẩy quan hệ hai bờ phát triển và đạt được thành quả mới.
Đối với cái gọi là “tiến triển hơn nữa”, Chủ tịch Tập Cận Bình khẳng định việc tăng cường lòng tin chính trị giữa hai bờ và phát huy hiệu quả của nền tảng chính trị chung là mấu chốt đảm bảo quan hệ hai bờ phát triển hòa bình. Bắc Kinh đã nhiều bày tỏ quan điểm muốn tiến hành hiệp thương bình đẳng với Đài Loan về vấn đề chính trị hai bờ trong khung “một nước Trung Quốc” nhằm đạt được những sắp xếp hợp tình hợp lý. Đối với những vấn đề cần giải quyết trong quan hệ hai bờ, người phụ trách các bộ ngành chủ quản của hai bên cũng có thể gặp mặt trao đổi ý kiến. Đây là lời phát biểu rõ ràng nhất của Chủ tịch Tập Cận Bình cho đến thời điểm này về quan hệ hai bờ, đặc biệt là vấn đề chính trị hai bờ, đồng thời thể hiện rõ hai điểm mấu chốt lớn là “một nước Trung Quốc” và “không thể để những vấn đề này truyền từ đời này sang đời khác”.
Khi nói đến hợp tác kinh tế giữa hai bờ, Chủ tịch Tập Cận Bình nhấn mạnh khái niệm “Trung Hoa”. Ông Tập Cận Bình chỉ rõ kinh tế hai bờ đều thuộc nền kinh tế của dân tộc Trung Quốc. Trong tình hình mới phát triển kinh tế của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chỉ có tăng cường hợp tác hai bờ mới có thể ứng phó tốt hơn với các thách thức, cần tăng cường xây dựng chế độ hợp tác kinh tế giữa hai bờ và coi trọng hơn nữa việc thúc đẩy hợp tác giữa các ngành nghề.
Có chuyên gia quan sát cho rằng bài phát biểu đi thẳng vào vấn đề chính trị giữa hai bờ lần này của Chủ tịch Tập Cận Bình có ý nghĩa mạnh mẽ, thể hiện quyết tâm nhất định phải giải quyết bất đồng chính trị giữa hai bờ trong nhiệm kì lãnh đạo của ông Tập Cận Bình. Chuyên gia này tin tưởng trong tương lai Bắc Kinh sẽ tập trung, đồng thời thúc đẩy, phát triển chính trị giữa hai bờ một cách thiết thực, chủ động hơn; ngoài ra, Đài Loan sẽ phải đối mặt với áp lực lớn hơn trong vấn đề chính trị giữa hai bờ.
Trước đó, trong buổi hội kiến ông Ngô Bá Hùng, Chủ tịch danh dự Quốc dân Đảng, Chủ tịch Tập Cận Bình đưa ra ý kiến bốn điểm về việc phát triển thêm một bước quan hệ hai bờ. Nội dung ý kiến là: kiên trì nắm vững cục diện lớn trong quan hệ hai bờ từ lợi ích tổng thể của dân tộc Trung Hoa; kiên trì nắm vững tiền đồ quan hệ hai bờ từ góc độ nhận thức rõ ràng xu thế phát triển lịch sử quan hệ hai bờ; kiên trì thúc đẩy sự tin tưởng lẫn nhau, phối hợp hành động tốt đẹp, gác lại bất đồng, tiến thủ thiết thực; kiên trì thúc đẩy quan hệ hai bờ phát triển toàn diện một cách ổn định.
Sau Đại hội Đảng lần thứ 18, Bắc Kinh bắt đầu tập trung vào vấn đề chính trị giữa hai bờ, thậm chí còn cho biết có thể để người dân thảo luận vấn đề này trước. Để quan hệ hai bờ có đột phá mới, Bắc Kinh đã ban hành nhiều chính sách mới mang đặc sắc thiết thực, đồng thời tiến hành các công tác chuẩn bị về vấn đề liên quan đến Đài Loan.
Ví dụ, việc chính quyền Đại lục bố trí ông Du Chính Thanh, người có gốc gác Đài Loan vào chức vụ Chủ tịch Hội nghị hiệp thương chính trị toàn quốc, đồng thời trực tiếp tham gia các công việc liên quan đến Đài Loan đã cho thấy lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ dốc hết sức nhằm thúc đẩy phát triển vấn đề chính trị trong quan hệ hai bờ.
Tại Diễn đàn hợp tác kinh tế thương mại hai bờ lần thứ 9, ông Du Chính Thanh đã nhắc tới phương châm “4 kiên trì” đối với Đài Loan của Tổng Bí thư Tập Cận Bình. Ông Du Chính Thanh chỉ rõ, việc thực hiện sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa là giấc mơ vĩ đại nhất của dân tộc Trung Quốc từ thời kì cận đại đến nay, đồng thời đã kế thừa, phát huy ý nguyện xưa của nhiều thế hệ, thể hiện lợi ích căn bản của toàn dân tộc. Thông qua sự phấn đấu bền bỉ của toàn thể nhân dân Trung Hoa, viễn cảnh phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa đã toát ra ánh hào quang chưa từng có, việc phát triển hòa bình mối quan hệ hai bờ đã trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong công cuộc phục hưng vĩ đại của cả dân tộc. Nhân dân hai bờ cần nhìn thấy được xu thế lớn của sự phát triển thời đại, sự chấn hưng của dân tộc từ trong trào lưu diễn tiến của lịch sử; đồng thời cùng đồng tâm hiệp lực, khắc phục khó khăn, trở ngại, chữa lành các vết thương lịch sử và thực hiện lý tưởng chung của những người con Trung Quốc.
Cùng chấn hưng đất nước Trung Hoa là tập trung những mong đợi tốt đẹp của những người con dân tộc Trung Hoa, dẫn dắt phương hướng tiến lên trong việc phát triển hòa bình quan hệ hai bờ. Nhân dân hai bờ cần căn cứ theo quan điểm “hai bờ – cùng chung một gia đình” để cùng thúc đẩy sự phát triển hòa bình của quan hệ hai bờ, đóng góp sức lực của bản thân vào công cuộc phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa. Ông Du Chính Thanh hy vọng nhân dân hai bờ ghi nhớ sâu sắc sứ mệnh lịch sử là chấn hưng đất nước Trung Hoa, nắm chắc cơ hội lịch sử, tích cực thúc đẩy sự nghiệp phát triển hòa bình quan hệ hai bờ, cùng viết nên trang sử hoàn toàn mới về sự phồn vinh, thịnh vượng của dân tộc Trung Hoa.
Đồng thời, ông Du Chính Thanh chỉ ra tại Hội nghị Trung ương 3 khóa 18, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nghiên cứu vấn đề cải cách sâu sắc, trù tính chung thúc đẩy cái cách ở các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và văn minh sinh thái. “Vòng cải cách lần này có phạm vi rộng, cường độ mạnh và chưa từng có trong lịch sử”. Sự phát triển mới về kinh tế xã hội của Đại lục sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ cho hợp tác kinh tế cũng như quan hệ hai bờ. Ông Du Chính Thanh cho rằng nhiệm vụ chú yếu hiện nay và trong tương lai sẽ là làm sâu sắc hơn các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và cơ sở xã hội trong việc phát triển hòa bình quan hệ hai bờ, đồng thời nỗ lực mở ra cục diện quan hệ mới.
Tại Diễn đàn hòa bình hai bờ, ông Trương Chí Quân, Chủ nhiệm Văn phòng các vấn đề Đài Loan của Đại lục cho rằng cần sớm chấm dứt tình trạng “chỉ tập trung vào kinh tế, chưa chú trọng đến chính trị” trong quan hệ hai bờ. Điều này được dư luận xem là Bắc Kinh đang phát đi tín hiệu đối với Đài Loan trong việc triển khai đàm phán chính trị giữa hai bờ. Tại cuộc “Hội đàm Bắc Kinh” của học giả hai bờ được tổ chức hồi tháng 6, Phó Chủ nhiệm Văn phòng các vấn đề Đài Loan thuộc Quốc vụ viện, ông Tôn Á Phu kiến nghị khi nghiên cứu giải quyết vấn đề quan hệ hai bờ cần gác lại bất đồng, tập trung tìm kiếm biện pháp nhằm tháo gỡ vấn đề chính trị. Ông Tôn Á Phu nhấn mạnh dưới nền tảng chính trị cùng thuộc “một nước Trung Quốc” và trong bối cảnh không thể hình thành “hai nước Trung Quốc” hay “một Trung Quốc, một Đài Loan”, có thể thảo luận vấn đề sử dụng công quyền của một số cơ quan trong quá trình giao lưu qua lại giữa hai bờ. Điều này cho thấy Bắc Kinh luôn muốn đạt được những bước đột phá thực sự trong việc thúc đẩy vấn đề chính trị giữa hai bờ.
Hơn 5 năm qua, Đại lục không ngừng nhường lợi ích, song không để xuất hiện cục diện “hòa bình thống nhất”. Theo kết quả một cuộc điều tra ý kiến người dân Đài Loan được tiến hành gần đây, gần 60% người dân cho rằng vận mệnh cuối cùng của Đài Loan là duy trì tình trạng hiện nay. Tuy nhiên, chính sách “không thống nhất, không độc lập, không sử dụng vũ lực” của Tổng thống Mã Anh Cửu lại khiến cho lãnh đạo cấp cao Trung Quốc nổi nóng. Về phía Bắc Kinh, việc thực hiện ưu đãi kinh tế đối với Đài Loan đã sớm tỏ ra không thể thỏa mãn lợi ích cốt lõi hòa bình, thống nhất đất nước. Trong khi về phía Đài Loan, mặc dù ông Mã Anh Cửu luôn nhấn mạnh “duy trì hiện trạng” tiêu cực “không thống nhất, không độc lập, không sử dụng vũ lực” thì cũng vẫn cần nền tảng tin tưởng lẫn nhau về chính trị, quân sự cao độ giữa Bắc Kinh và Đài Loan.
Đối mặt với thế lực mạnh mẽ của Bắc Kinh, Đài Loan ở thế yếu hơn nên không có cách nào khác là dùng cách nói “dân ý chưa trưởng thành” để tạm thời chống đỡ. Ông Mã Anh Cửu thường né tránh vấn đề chính trị, dùng kinh tế để thay thế chính trị, đưa ra lý luận đàm phán chính trị theo nghĩa rộng, cho rằng tất cả các buổi hội đàm kinh tế giữa hai bờ chính là đàm phán chính trị. Theo ông Mã Anh Cửu, không nên vội vàng tham gia đối thoại chính trị hai bờ bởi người dân không có nguyện vọng này, và sự tin tưởng lẫn nhau về quân sự lại càng không nên nhắc đến.
Mặc dù trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, Trung Quốc đại lục và Đài Loan đã đạt được những bước phát triển đáng kể, song ở lĩnh vực quân sự lại không có tiến triển nào. Năm 2005, Trung Quốc thông qua “Luật chống chia rẽ đất nước”, đồng thời tiếp tục bố trí tên lửa nhằm vào Đài Loan khiến cho Đài Loan vô cùng lo sợ. Báo cáo đánh giá sức mạnh quân sự Trung Quốc trong mấy năm gần đây của Mỹ cũng rêu rao số tên lửa của Trung Quốc đại lục nhằm vào Đài Loan tăng mạnh, khiến Đài Loan gia tăng cảm giác không an toàn. Chính bởi vậy, mặc dù chính sách của Bắc Kinh đối với Đài Loan và chính sách mới của Đài Loan đối với Trung Quốc đại lục đã giảm bớt khả năng xảy ra xung đột quân sự ở mức độ lớn, song rất nhiều người vẫn lo lắng đối với hòa bình giữa hai bờ. Vì vậy, trong mối quan hệ qua lại giữa hai bờ, Bắc Kinh nên tiến hành giao lưu ở lĩnh vực quân sự trước nhằm xây dựng lòng tin về quân sự, kết thúc tình trạng đối lập tồn tại suốt hơn 60 năm qua. Chính quyền đại lục tin tưởng Đài Loan sẽ trông đợi và dễ dàng tiếp nhận vấn đề này.
Một số phân tích cho rằng đối thoại chính trị giữa hai bờ phải đối mặt với các trở ngại tương đối lớn. Những trở ngại này chủ yếu xuất phát từ 2 phương diện:
Thứ nhất, sự phản đối, kìm hãm của phe màu lục do Đảng dân tiến đứng đầu ở Đài Loan. Đến nay, với tư cách là đảng đối lập lớn nhất, Đảng dân tiến vẫn kiên trì “Đài độc” (Đài Loan độc lập) – lập trường quyết định thái độ cơ bản trong vấn đề hiệp thương, đối thoại chính trị hai bờ của đảng này, tức là kiên quyết phản đối, ngăn cản bằng mọi cách. Mấu chốt của vấn đề không chỉ có vậy, xuất thân của Đảng dân tiến là những thường dân nên năng lực xây dựng đề tài thảo luận cũng như khả năng xúi giục dân chúng giỏi hơn Quốc dân đảng vốn giữ vị thế cầm quyền. Trong bối cảnh đại đa số người dân Đài Loan nghiêng về quan điểm duy trì hiện trạng quan hệ hai bờ, bất kì động thái lớn nào của Quốc dân đảng đều có thể bị Đảng dân tiến xuyên tạc thành bán Đài Loan hay đầu hàng… làm cho Quốc dân đảng, vốn đang đứng trước khó khăn, khó có thế chống đỡ được. Thêm vào đó, xét về góc độ thực lực của đảng cầm quyền, khoảng cách giữa Đảng dân tiến và Quốc dân đảng không lớn, tỉ lệ ủng hộ của người dân trong mấy cuộc bầu cử gần đây cho thấy tỉ lệ ủng hộ Đảng dân tiến vào khoảng 45%. Đây là những nhân tố mà Chính quyền Mã Anh Cửu phải lo lắng, từ đó biến thành trở ngại trong nội bộ Đài Loan khi tiến hành đối thoại hiệp thương về chính trị hai bờ.
Thứ hai, sự kiềm chế của các thế lực quốc tế trong đó có Mỹ. Chính quyền Mã Anh Cửu với chủ trương “thân Mỹ, hữu hảo với Nhật Bản và hòa thuận với Đại lục”, thà phán đoán thái độ thực tế của Chính phủ Mỹ thông qua những hành động chứ không dựa vào lời nói của nước này để lựa chọn chính sách tiếp theo với đại lục, thậm chí Đài Loan còn lý giải “quan điểm thực tế” của Mỹ thành “thà khuynh tả không khuynh hữu” để duy trì khoảng cách đối với Đại lục nhằm củng cố hình ảnh thân Mỹ của Đài Loan để Mỹ yên tâm hơn, từ đó nhận được nhiều hơn sự ủng hộ của nước này.
Đài Loan là một xã hội mà ở đó sự đối địch giữa “màu lam” (do Quốc dân đảng đứng đầu) và “màu lục” (do Đảng dân tiến đứng đầu) vô cùng gay gắt, trong đó phe màu lục do Đảng dân tiến đứng đầu với chính sách phản đối và kìm hãm quan hệ với Đại lục lại có ảnh hưởng rất lớn đối với mong muốn của người dân. Trong khi đó, nguyện vọng của người dân có sự chia rẽ, bất đồng đã dẫn đến thực tế là khi suy xét các vấn đề có liên quan ông Mã Anh Cửu không thể không lo ngại, dè dặt. Đối với ông Mã Anh Cửu, sự kìm hãm của các thế lực bên ngoài, trong đó có Mỹ, không thể nói là không đáng quan tâm, đặc biệt sự kìm hãm của Mỹ còn khiến cho các lãnh đạo Đài Loan phải cúi đầu thì Mã Anh Cửu cũng không ngoại lệ.
Bắc Kinh hiểu rõ, hoàn cảnh khó khăn của ông Mã Anh Cửu do hai trở lực nói trên gây ra, do vậy quyết tâm chờ đợi thời cơ thay đổi, từng bước thúc đẩy phát triển quan hệ hai bờ, bước đầu thực hiện chính sách “đàm phán kinh tế trước, chính trị sau”. Áp lực của Trung Quốc đại lục đối với Đài Loan trong vấn đề đàm phán chính trị hòa bình “lúc cương lúc nhu”, từ chính sách “một Trung Quốc” thời Ngô Bá Hùng đến chính sách không hạn chế “giao lưu qua lại giữa nhân dân hai bờ” thời Mã Anh Cửu có thể thấy Trung Quốc đại lục rốt cuộc sẽ đưa Mã Anh Cửu vào phạm vi đã định để Đại lục có thể lấy lại quyền phát biểu ở hai bờ. Tuy nhiên, nếu như đổi chính sách “đàm phán kinh tế trước, chính trị sau” thành chính sách “chỉ đàm phán kinh tế, không nhắc đến chính trị” thì Trung Quốc đại lục không thể khoan nhượng. Quan hệ giữa hai bờ là công việc của hai bờ, chứ không phải của Mỹ, càng không phải của các phần tử chủ trương “Đài Loan độc lập”. Việc Tổng Bí thư Tập Cận Bình đề cập trực tiếp đến vấn đề chính trị cho thấy sự tin tưởng quan hệ hai bờ sẽ đạt được đột phá mới.
Cho dù có bao nhiêu khó khăn song quyết tâm giải quyết bất đồng chính trị giữa hai bờ của Bắc Kinh rất kiên quyết. Một số chuyên gia quan sát cho rằng sau khi ông Tập Cận Bình lên nhậm chức, thế hệ lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đi đến nhận thức chung về chính sách đối với Đài Loan, nghĩa là càng chú trọng hơn nữa đến quan hệ “chi phí” và “lợi ích”, đồng thời cùng với việc Đại lục không ngừng “đầu tư” cho Đài Loan, thì “lợi nhuận” mà Đài Loan báo đáp lại nên phù hợp với “chi phí” của Đại lục. Gần đây việc Bắc Kinh liên tiếp có những phát biểu về hai bờ đã cho thấy ông Tập Cận Bình dự định cùng tính nợ chính trị và nợ kinh tế trong vấn đề này. Song, “lợi ích” mà Bắc Kinh mong đợi cũng chính là sự đột phá trong thảo luận chính trị và sự tin tưởng trong lĩnh vực quân sự.
Ông Mã Anh Cửu luôn thể hiện sự kháng cự đối với đối thoại chính trị hai bờ. Trong buổi trả lời phỏng vấn báo chí hồi tháng 4/2013, khi được hỏi về vấn đề “liệu hai bờ có triển khai đối thoại chính trị”, ông Mã Anh Cửu đã trả lời rằng Trung Quốc đại lục muốn “tìm kiếm sự phát triển trong ổn định” đối với quan hệ hai bờ và không tạo ra bất kì áp lực nào đối với Đài Loan… Thời cơ đối thoại chính trị giữa Đài Loan và Trung Quốc đại lục vẫn chưa chín muồi, “vẫn chưa có ý kiến thống nhất, do vậy cần gì phải vội vàng”. Ông Mã Anh Cửu còn cho biết thêm, “trước đây đã đàm phán được 18 thỏa thuận, ít nhiều vấp phải vấn đề chính trị song đều đã giải quyết xong, nếu như phải tiến hành đối thoại chính trị thì phải nói cái gì?” Từ những phát biểu và thái độ này của ông Mã Anh Cửu có thể thấy ông ta không có hứng thú đối với đối thoại chính trị hai bờ, thậm chí còn thấy khó chịu.
Tuy nhiên, sau cuộc gặp thượng đỉnh không chính thức giữa hai nhà lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc và Mỹ tại Sunnylands, California hồi tháng 6/2013 ông Mã Anh Cửu có lẽ đã ý thức được rằng nếu như tiếp tục đứng ở “bờ bên kia” hoặc “vùng nước nông” thì không thể giải quyết được vấn đề “vùng nước sâu” trong quan hệ hai bờ. Quan hệ hai bờ phát triển đến “vùng nước sâu” sẽ không thể tránh khỏi vấn đề chính trị nhạy cảm cũng như đề cao sự tin tưởng lẫn nhau về chính trị.
Ông Mã Anh Cửu cho biết dân số của Trung Quốc đại lục gấp 56 lần dân số Đài Loan, diện tích lãnh thổ gấp hơn 200 lần, trong bối cảnh như vậy để duy trì quan hệ cân bằng giữa Đại lục và Đài Loan, hai bên không thể cạnh tranh về lực lượng mà cần phải phát huy trí tuệ để tìm ra điểm chung, gác lại tranh chấp và cùng giành được thắng lợi.
Tại buổi lễ kỷ niệm ngày quốc khánh 10/10 ở Đài Loan (kỉ niệm thành công Cách mạng Tân Hợi, thành lập Trung Hoa dân quốc), ông Mã Anh Cửu đã thừa nhận hai bờ cùng thuộc Trung Hoa, quan hệ hai bờ không phải quan hệ quốc tế, đồng thời nhấn mạnh hai bờ cần thông qua hiệp thương để tăng cường sự tin tưởng lẫn nhau về chính trị. Ông Mã Anh Cửu cũng cam kết sẽ tăng cường lòng tin chính trị giữa hai bờ eo biển, điều này đi ngược hoàn toàn với thái độ trước đây về đối thoại chính trị hai bờ.
Từ những thay đổi của ông Mã Anh Cửu có thể thấy cùng với sự phát triển sâu sắc trong quan hệ hai bờ, áp lực phải tiến hành đối thoại chính trị với Trung Quốc đại lục của Chính quyền Mã Anh Cửu ngày càng lớn. Mã Anh Cửu nhận thức được rằng thời đại sau Hiệp định khung về hợp tác kinh tế hai bờ (ECFA), quan hệ hai bờ eo biển không thể tránh được xu thế phát triển từ “vùng nước nông” sang “vùng nước sâu”. Nếu như ông Mã Anh Cửu tiếp tục sử dụng phương thức trước đây là đứng ở “bờ bên kia” hoặc “vùng nước nông” để giải quyết được vấn đề “vùng nước sâu” trong quan hệ hai bờ, điều này hiển nhiên không thể thành công.
Ngoài ra có phân tích cho rằng sự thay đổi thái độ đối với đối thoại chính trị hai bờ của ông Mã Anh Cửu ngoài nguyên nhân bên ngoài còn có một nguyên nhân quan trọng khác đó là nhu cầu khẳng định, theo đuổi định vị lịch sử của ông Mã Anh Cửu. Theo một nguồn tin thân cận với ông Mã Anh Cửu, ông này luôn theo đuổi định vị lịch sử, đặc biệt sau khi tái đắc cử ông ta đã chú trọng nhiều hơn đến sự đánh giá của bên ngoài đối với bản thân. Có phân tích cho rằng nếu hai bờ kí thỏa thuận hòa bình thì chính sách hai bờ của ông Mã Anh Cửu rất có khả năng khiến ông ta đạt được giải Nobel Hòa bình. Thái độ gần đây của ông ta lại một lần nữa khiến mọi người liên tưởng đến khát vọng đoạt giải Nobel của ông Mã Anh Cửu.
Tuy nhiên, sau đó ông Mã Anh Cửu đã có buổi trả lời phỏng vấn báo “Washington Post”, khi phóng viên hỏi: “Liệu hai bờ có khả năng tiến hành đối thoại chính trị trong nhiệm kỳ của ông hay không?”. Ông Mã Anh Cửu đã trả lời: “Về việc Trung Quốc đại lục hy vọng thảo luận thỏa thuận hòa bình với Đài Loan, người dân Đài Loan vẫn có chút lo lắng, cho nên hai năm trước, khi đưa ra vấn đề này chúng tôi có nói rằng tốt nhất nên trải qua một lần bỏ phiếu của người dân để quyết định, nếu mọi người ủng hộ thì mới có thế dễ dàng triển khai các thảo luận có liên quan”.
Trên thực tế, hơn 20 năm nay, các cuộc điều tra dân ý của ủy ban các vấn đề đại lục của Đài Loan đối với quan hệ hai bờ cho thấy gần 80%, có lúc hơn 80% người dân ủng hộ duy trì hiện trạng “không thống nhất, không độc lập, không sử dụng vũ lực”, “chúng tôi cho rằng điều này sát thực với mong muốn chính đáng của người dân Đài Loan”. Thái độ của ông Mã Anh Cửu phần nào cho thấy đối thoại chính trị hai bờ cần thông qua bỏ phiếu toàn diện? Sắp xếp như vậy quả thật khó có thể tưởng tượng được.
Đồng thời, Bộ trưởng Quốc phòng Đài Loan, ông Nghiêm Minh lại nói rằng: “quan hệ hai bờ là quan hệ đối địch”. Điều này có ý gì? Viện trưởng Viện hành chính (Thủ tướng Chính phủ) Giang Nghi Hoa trả lời rằng Nghiêm Minh phụ trách quân sự quốc phòng, về vấn đề quân sự quốc phòng quả thực tồn tại tình trạng căng thẳng hoặc đối địch nên câu trả lời của ông Nghiêm Minh không có gì sai.
Trên thực tế, ông Mã Anh Cửu chỉ còn đương nhiệm hơn 2 năm, trong thời gian này Mã Anh Cửu phải đối mặt với 2 cuộc bầu cử lớn nên thời gian, không gian của ông đều có hạn. Đối với Đài Loan ở thế phòng thủ, trong cuộc đấu mà tương quan lực lượng ngày càng mất cân bằng thì việc lựa chọn tiếp tục giằng co tuyệt đối sẽ không mang lại bất kì lợi ích gì cho bản thân, thậm chí dẫn đến việc hai bên đều thiệt hại. Hơn nữa, cho dù kết quả của cái gọi là “tranh giành chiến lược” ra sao rốt cuộc chỉ là trò chơi của các chính khách, đối mặt với hạnh phúc và lợi ích của người dân hai bờ lại có lí do gì để tiếp tục “trò chơi” này.
Có phân tích nước ngoài chỉ ra hơn 5 năm nay quan hệ hai bờ phát triển mạnh mẽ, xu thế tổng thể tốt đẹp là một thực tế không thể tranh cãi. Giống như Tưởng Hiếu Nghiêm đã nói, “chúng tôi chấm dứt tình trạng không có gì, chúng tôi có tất cả”. Tuy nhiên, khi quan hệ hai bờ phát triển sâu sắc hơn thì không có cách nào né tránh một số vấn đề có liên quan đến chính trị, an ninh. Đài Loan muốn vĩnh viễn tránh các vấn đề này, “nghịch nước” ở vùng nước nông là không thực tế. Việc tránh tranh chấp cũng chưa chắc có thể khiến quan hệ hai bờ tiếp tục phát triển về phía trước. Nếu như các vấn đề này không được giải quyết thỏa đáng, không những quan hệ hai bờ sẽ đình trệ không phát triển, thậm chí cục diện hòa bình không dễ dàng có được cũng có khả năng sẽ bị đẩy lùi, các nhà chính trị của Trung Quốc đại lục và Đài Loan đều nhận thức được vấn đề này.
Trong cuộc cạnh tranh mới giữa hai bờ, Bắc Kinh chiếm thế thượng phong trong “cuộc thi đấu kéo co” về đàm phán chính trị hòa bình hơn nữa. Câu nói “một thế hệ có trách nhiệm của một thế hệ” của ông Ngô Bá Hùng cũng cho thấy thế hệ người Đài Loan sẽ không “không có bất kì động thái nào” đối với vấn đề này. Được biết trước khi đến Quảng Tây tham gia Diễn đàn, ông Ngô Bá Hùng đã có buổi hội kiến đặc biệt với ông Mã Anh Cửu. Chuyến thăm Trung Quốc đại lục lần này có hàm ý thay mặt ông Mã Anh Cửu truyền đi quan điểm của lãnh đạo Đài Loan. Những tin tức được tiết lộ trong lời phát biểu của ông Ngô Bá Hùng trên thực tế cũng cho thấy sợi dây thắng lợi trong cuộc đấu “kéo co” về nội dung đàm phán giữa hai bờ đã từng bước bị kéo về phía Đại lục./.
Sorry, the comment form is closed at this time.





