BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2173. TRUNG QUỐC HƯỞNG LỢI TỪ BÀN TAY KIỀM CHẾ CỦA MỸ

Posted by adminbasam trên 24/12/2013

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Năm, ngày 19/12/2013

TTXVN (Hong Kong 18/12)

Từ lâu Trung Quốc luôn coi Mỹ là trở ngại chính cho tham vọng bá chủ khu vực của họ. Mới đây nhất, trong vụ Trung Quốc đơn phương tuyên b thiết lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) của họ ở biển Hoa Đông, Trung Quốc đã nhanh chóng bị Mỹ thách thức. Phần lớn các chuyên gia cho rng Mỹ đang thực hiện chính sách bao vây và kiềm chế Trung Quốc. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng Trung Quc được hưởng lợi nhiều từ sự hiện diện của Mỹ trong khu vực. Thi báo châu Á trực tuyến vừa đăng bài viết của nhà báo người Italy Francesco Sisci về vấn đề này. Dưới đây là nội dung bài viết:

Có lẽ cuối cùng có hai cách để xem xét việc thiết lập ADIZ của Trung Quốc xung quanh quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, khu vực đang xảy ra tranh chấp giữa Bắc Kinh và Tokyo. Nhiều quốc gia có ADIZ, bao gồm cả nước láng giềng Nhật Bản, và có lẽ sớm hay muộn Trung Quốc cũng sẽ phải thành lập một ADIZ. Tuy nhiên, rõ ràng ADIZ mới của Trung Quốc không phải là một động thái thông thường mà là một cách để đẩy mạnh những tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Senkaku mà hiện nay Tokyo đang nắm quyền quản lý.

Cách đầu tiên, ADIZ mới là một phần trong chiến lược lớn nhằm đối đầu với các nước láng giềng và bành trướng phạm vi lãnh thổ của Trung Quốc. Cách thứ hai, ADIZ là một sai lầm, một tính toán sai lầm thô thiển về sự cân bằng khu vực hiện nay ở các vùng biển xung quanh Trung Quốc.

Nếu ADIZ là một phần của một chiến lược thì khu vực này sẽ gần như vô dụng vì chiến lược này sẽ tự bị đánh bại và sẽ đẩy Trung Quốc vào con đường tự hủy diệt bởi vì nước này có quá nhiều láng giềng mạnh và việc tìm cách bành trướng sẽ khiến họ phải trả giá. Hơn nữa, việc bành trướng sẽ đi ngược với chiến lược phát triển hòa bình trong nhiều thập kỷ và trái với tuyên bố gần đây cúa Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kêu gọi cải thiện quan hệ với các nước láng giềng của Trung Quốc.

Nếu đó là một sai lầm lớn thì sự đánh giá kém cỏi của Trung Quốc về cán cân quyền lực sẽ bắt đầu với nhận thức sai lầm về tầm quan trọng chiến lược của sự hiện diện của Mỹ ở châu Á.

Ngày nay, nhiều người Trung Quốc nghĩ rằng sự hiện diện của Mỹ ở châu Á là một trở ngại cho sự phát triển chính trị và kinh tế của Trung Quốc trong khu vực và họ mong chờ tới thời điểm mà một nước Mỹ suy yếu sẽ phải rời khỏi khu vực và trao khu vực này vào tay họ. Họ nghĩ sở dĩ các nước láng giềng của Trung Quốc ngạo mạn là do thực tế rằng Mỹ đang ủng hộ các nước này. Nếu không có sự hỗ trợ của Mỹ, tất cà các quốc gia này sẽ quỳ gối và thừa nhận tầm quan trọng của Trung Quốc trong khu vực.

Đánh giá này hết sức sai lầm và đi ngược lại suy nghĩ đầy mơ tưởng trong tư tưởng chiến lược của Trung Quốc, tư tưởng không thể đương đầu với một thực tế hiện đại mới về các mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau, và ngược lại, ngay cả trong thời kỳ khi mà Trung Quốc được vây quanh bởi các nước chư hầu tỏ lòng tôn kính đối với triều đình ở Bắc Kinh. Rất đơn giản và không đi sâu quá nhiều vào chi tiết, thời kỳ của mối quan hệ với các nước chư hầu đã qua đi.

Các nước chư hầu không còn tồn tại nữa bởi vì các mối quan hệ quốc tế không còn dựa trên hình thái của một quốc gia trung tâm và nhóm các nước chư hầu. Mỹ, “quốc gia trung tâm” hiện nay, không hoạt động như vậy, và tiền đề vật chất của mối quan hệ quốc gia chư hầu cũ của Trung Quốc cũng không còn tồn tại nữa.

Hệ thống các nước chư hầu xung quanh Trung Quốc dựa trên một thời kỳ khi Trung Quốc chiếm hơn một nửa sự giàu có và dân số trong khu vực, trong đó các nước láng giềng được liên kết như những nước chư hầu theo một vài cách nào đó. Vào những thời điểm đó, trước tác động lớn của các cường quốc phương Tây đối với Trung Quốc trong thế kỷ 19, Tây Tạng là một hình thức quốc gia chư hầu, còn Ấn Độ hoàn toàn nằm ngoài ảnh hưởng của Trung Quốc về mặt chính trị. Mỹ không biết ở đâu, châu Âu cũng không biết ở đâu, còn một số nước láng giềng Đông Nam Á trung thành với Trung Quốc và một số nước láng giềng khác thì không trung thành như vậy. Khoảng cách địa lý quá xa là một trở ngại quá lớn để có thể giúp họ xích lại gần với Trung Quốc.

Tuy nhiên, hiện nay, khi Tây Tạng đã trở thành một phần của Trung Quốc, Ấn Độ là nước láng giềng, thì khu vực Đông Nam Á trở nên gần hơn với Trung Quốc. Nga cũng có sự hiện diện chính trị như Mỹ, châu Âu, châu Phi và Mỹ Latinh. Tất cả đều có mối quan hệ thương mại và kinh tế đáng kể với Trung Quốc. Tuy nhiên, ngay cả khi không tính đến Mỹ, Mỹ Latinh, châu Âu hay châu Phi, thì tất cả các nước láng giềng xung quanh Trung Quốc – từ Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam đến Nga – có dân số hợp lại sẽ đông hơn, giàu có hơn và có sức mạnh quân sự lớn hơn so với Trung Quốc. Vì vậy, đây là điều khác xa so với thời kỳ khi Trung Quốc là một nước lớn và các nước chứ hầu chỉ là thuộc hạ của họ.

Bối cảnh cũng rất khác nhau. Những thập kỷ trước đây, sự trỗi dậy của Trung Quốc trong những hoàn cảnh bình thường sẽ gây ra một cuộc chạy đua vũ trang hoặc các cuộc chiến tranh biên giới. Ngày nay, các nước láng giềng bắt đầu lo lắng về sự trỗi dậy của Trung Quốc – khoảng 25 năm sau vụ đàn áp phong trào sinh viên biểu tình đòi dân chủ ở quảng trường Thiên An Môn khiến thế giới sợ hãi với những ý định của giới lãnh đạo nước này. Sau đó, hành vi được kiểm soát tại Washington đã giúp duy trì toàn bộ tình hình trong tầm kiểm soát.

Trong toàn bộ giai đoạn phát triển nhanh chóng này của Trung Quốc, không hề xảy ra cuộc chiến tranh biên giới nào (bất chấp tất cả các cuộc tranh chấp xung quanh Trung Quốc) và không có các cuộc chạy đua vũ trang đáng kể nào (điều có thể làm cạn kiệt các nguồn lực cần thiết của Trung Quốc để đầu tư vào sự phát triển kinh tế). Điều này là do thực tế Mỹ đã ở đó để đảm bảo sự trỗi dậy của Trung Quốc, an ninh của khu vực, và sự cân bằng quyền lực tổng thể. Sự hiện diện của Mỹ và tầm quan trọng của nước này giờ đây vẫn còn hiện hữu rõ ràng.

Nếu Mỹ biến mất khỏi khu vực – cứ như là trò ảo thuật – thì sẽ không có chuyện tất cả các nước chấp nhận quyền lực của Trung Quốc. Ngược lại: những căng thẳng sẽ bùng nổ bởi không ai tin tưởng Trung Quốc sẽ công bằng và cũng không tin Trung Quốc có thể giải quyết những va chạm trong khu vực một cách thân thiện, điều này làm cạn kiệt các nguồn lực của Trung Quốc trong việc phát triển kinh tế vào một thời điểm mà Bắc Kinh cần phải tập trung vào phúc lợi và phát triển đất nước trong những thập kỷ tới. Sự tập trung vào các vấn đề đối ngoại có thể làm trầm trọng thêm các vấn đề trong nước, với một tác động lớn đối với sự cân bằng quyền lực trong nước.

Tại sao những căng thẳng vẫn chưa bùng nổ? Mỹ đã có mặt ở đó và Mỹ là một lực lượng giám sát quyền lực trong khu vực, ngăn cản những ý định của nhiều nước láng giềng tiến tới một cuộc chạy đua vũ trang hay áp dụng một thái độ thù địch với Trung Quốc. Điều này đã cho Trung Quốc thời gian, các nguồn lực và khả năng kinh tế để nước này có thể xử lý các vấn đề nội bộ và tập trung vào các vấn đề xã hội và chính trị trong nước, trong khi ít phải suy nghĩ hơn về các vấn đề đối ngoại.

Cụ thể, về quần đảo Senkaku, một vấn đề không phải là mới. Những căng thẳng bắt đầu hình thành cách đây ít nhất 15 năm, khi Trung Quốc và Nhật Bản cố gắng thiết lập thềm lục địa để đưa ra những tuyên bố chủ quyền đối với các mỏ khí đốt ở quanh đó. Trong giai đoạn đó, Nhật Bản mong muốn thiết lập tư cách hợp pháp của Senkaku là các hòn đảo, chứ không phải là các bãi đá, để mở rộng tuyên bố lãnh thổ của họ. Nếu như thời điểm đó, khi Nhật Bản có sức mạnh kinh tế và quân sự hơn hẳn so với Trung Quốc, và Mỹ không có mặt ở đó, thì Nhật Bản đã có thế sẵn sàng sử dụng nhiều biện pháp cưỡng ép hơn để khẳng định quyền sở hữu quần đảo Senkaku, và do đó đáng lẽ có thể gây khó khăn hơn cho Trung Quốc trong việc giành lại quần đảo này.

Hơn nữa, các nước láng giềng, cách đây 10 hoặc 20 năm đã lo ngại về sự phát triển kinh tế của Trung Quốc, và đáng lẽ đã có thể bắt đầu hành động chống lại sự phát triển của Trung Quốc sớm hơn nhiều bởi rõ ràng là sự phát triển của Trung Quốc có thể đi ngược lại lợi ích tốt nhất của họ. Do đó, nhiều quốc gia có thể đã cố gắng, trực tiếp hoặc gián tiếp, ngăn chặn sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc. Nhiều khả năng, không có sự hiện diện của Mỹ trong khu vực thì chiến tranh đã nổ ra. Và khi có chiến tranh, sự phát triển của Trung Quốc sẽ chậm lại. Trung Quốc lẽ ra đã có thế bị cô lập và một chu kỳ kém phát triển cùng sự căng thẳng có thể đã bao vây toàn bộ khu vực.

Kịch bản này đã không thành hiện thực vì nhiều lý do, bao gồm cả sự thận trọng và tính toán của Trung Quốc, và cũng bởi vì Mỹ đã đóng vai trò một người bảo vệ quan trọng cho sự ổn định của khu vực. Nếu không có Mỹ trong bối cảnh đó, mọi thứ có thể phức tạp hơn nhiều. Một ví dụ là, Nhật Bản có thể đã bắt đầu một chương trình hạt nhân để đối đầu hạt nhân với Trung Quốc, cũng như Ấn Độ đã tuyên bố chương trình hạt nhân của mình vào năm 1998 là không chống lại Pakistan nhưng chống lại Trung Quốc. Sự thật là những căng thẳng bắt đầu gia tăng vào năm 2010, khi Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton can thiệp vào vấn đề Biển Đông, khu vực tranh chấp chủ quyền lãnh hải giữa sáu quốc gia. Nhưng nếu những căng thẳng không phải là một yếu tố thì không ai có thể cắn vào mồi nhử của Mỹ.

Điểm không được chú ý nhiều là tại sao bà Hillary Clinton lại gây ra căng thẳng trong năm 2010 mà không làm điều đó sớm hơn. Tạm gác sang một bên những gì Mỹ sẽ làm và muốn làm ở châu Á trong tương lai, điều này lại là một vấn đề khác.

Điều này đưa chúng ta quay trở lại trạng thái của các vấn đề hiện tại. Khi Trung Quốc tuyên bố thiết lập ADIZ, điều gì sẽ xảy ra nếu Mỹ không ở trong khu vực? Nhật Bản sẽ thách thức ADIZ để chứng minh rằng mình không chịu sự chỉ đạo của Trung Quốc, và thậm chí nếu Nhật Bản không làm được điều đó, nhiều nước khác có thể đưa ra cách để đối phó với tham vọng mới của Trung Quốc bởi vì họ hoàn toàn sợ hãi một “ông lớn” sẽ đối xử một cách ngạo mạn, đồng thời gây sức ép đối với những nước nhỏ hơn ở xung quanh.

Trong tình hình này, Nhật Bản – hoặc Ấn Độ, Việt Nam hay Nga – có thể đưa ra một kế hoạch để thách thức ADIZ của Trung Quốc, và sau đó Trung Quốc sẽ phải xem xét biện pháp đối phó; điều này có thể dễ dàng vượt ra khỏi tầm kiểm soát. Thực tế là việc Mỹ quyết định điều máy bay bay trong khu vực này là cách làm “mềm hóa” phản ứng của Nhật Bản và nước này ngay lập tức làm chủ tình hình. Một vấn đề với Trung Quốc sau đó đã trở thành một vấn đề với một “gã khổng lồ khác” là Mỹ. Nói cách khác, nếu là Nhật Bản thách thức yêu cầu về ADIZ của Trung Quốc, ý kiến dư luận trong nước của Trung Quốc sẽ gây ra rất nhiều áp lực đòi ban lãnh đạo nước này phản ứng với Tokyo và do đó bắt đầu gây ra một cuộc chiến xung quanh quần đảo Senkaku.

Vì vậy, trong trường hợp này, Mỳ đã chứng minh rằng sự hiện diện của mình là cần thiết, không chỉ đơn giản là để kiểm soát Trung Quốc, mà còn để bảo vệ chính Trung Quốc và các nước láng giềng. Trên thực tế, trong vấn đề này, Trung Quốc cần Mỹ hơn là Mỹ cần Trung Quốc. Sự hiện diện của Mỹ có thể giúp xoa dịu những căng thẳng và thúc đẩy các mối quan hệ, các mối quan hệ này sẽ khó khăn hơn nếu Trung Quốc tiếp tục gia tăng ảnh hưởng khu vực. Tuy nhiên, nếu Mỹ rời khỏi khu vực, Trung Quốc sẽ mất đi tầm ảnh hưởng và mất đi sự bá chủ trên toàn cầu của mình, song sẽ không ảnh hưởng nhiều đến an ninh trong nước.

Điều quan trọng nhất là vấn đề về tình hình xung quanh Trung Quốc và tình hình xung quanh quần đảo Senkaku. Như mọi thứ diễn ra trước khi có tuyên bố của Trung Quốc về ADIZ của họ, Trung Quốc đang thắng thế trong cuộc đối đầu với Nhật Bản chỉ đơn giản bằng cách không làm gì cả. Trung Quốc chỉ việc chờ để làm suy yếu Nhật Bản, như trong một cuộc bao vây, và sự thực là quần đảo này bị tranh chấp trên thực tế, khi Nhật Bản không thừa nhận thì đó sẽ là sự vô lý mà sớm hay muộn Nhật Bản cũng phải nhượng bộ.

Tuy nhiên, việc mở rộng ADIZ của Trung Quốc khiến mọi thứ đổi khác. Nó hỗ trợ các lập luận của những người tin rằng Trung Quốc đang cố gắng bành trướng lãnh thổ và gia tăng các yêu sách lãnh thổ của họ, do đó Trung Quốc cần bị giám sát và kiểm soát.

Những tiếng nói này đến từ khu vực, từ Mỹ và từ khắp nơi trên thế giới chỉ bởi vì Trung Quốc lớn đến mức gây ra các mối quan ngại. Nhưng sẽ là ngây thơ khi nghĩ rằng những tranh luận này được đưa ra bởi Mỹ và lan tỏa khắp nơi trên thế giới. Ngược lại, thế giới cảm nhận thấy những tranh luận này và Mỹ góp thêm tiếng nói vào đó. Cũng với một quá trình tương tự, và sau đó là một sai lầm tương tự như ở Trung Quốc, xảy ra sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, vài năm sau khi Trung Quốc chấm dứt thả nổi đồng nhân dân tệ của họ bất chấp những sự phản đối của Mỹ. Trung Quốc cảm thấy rằng Mỹ đang gây phiền hà cho mình. Trên thực tế, tại các nước nhỏ hơn, bắt đầu với các nước láng giềng của Trung Quốc, khi đó đang phải chịu đựng nhiều hơn do tình trạng ghìm giá đồng nhân dân tệ, và thực tế là Mỹ đã phản đối việc Trung Quốc công khai làm nhụt lập trường của tất cả mọi người và giúp họ dễ tìm ra một giải pháp hơn.

Những vấn đề này đặt ra những câu hỏi khác rất hóc búa như chính sách “xoay trục” của Mỹ sang châu Á, cũng như chiến lược và phương hướng của nước này. Điều này cũng mở ra vấn đề Trung Quốc nhân tiện lôi kéo người dân trong nước chống lại các mối đe dọa có thể xảy ra từ bên ngoài để xoa dịu sự phản đối trong nước và tập trung một số sự ủng hộ tại một thời điểm nhạy cảm, khi mà Trung Quốc đang đối mặt với các cuộc cải cách kinh tế và chính trị lớn. Hai vấn đề này là những diễn biến rất quan trọng và cần được xem xét kỹ lưỡng kể từ sau tuyên bố về ADIZ mới của Trung Quốc.

Ở thời điểm hiện nay, phản ứng yếu ớt của Trung Quốc sau khi người Mỹ và người Nhật Bản không tuân thủ ADIZ dường như chỉ ra rằng Bắc Kinh đang nhận thấy sai lầm của mình trong tuyên bố về “vùng cấm bay” mới.

Điều này mang tới một cơ hội cho tương lai. Sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đang mang lại tăng trường kinh tế cho các nước láng giềng, và do đó những vấn đề với các nước láng giềng sẽ gia tăng. Những nước muốn trở thành “Trung Quốc tiếp theo” đang thách thức về mặt kinh tế đối với Bắc Kinh, nếu nền kinh tế hoạt động hiệu quả, và thách thức về mặt quân sự nếu nền kinh tế không hoạt động hiệu quá. Trong tình hình này, liệu việc đối đầu với những mối đe dọa trực tiếp về kinh tế, chính trị và quân sự từ phía Mỹ có thực sự là quyết định tối ưu với Trung Quốc?

Câu hỏi này thực sự vô nghĩa bởi Mỹ đã hiện diện ở châu Á trong nhiều thập kỷ và sẽ không từ bỏ nơi đây. Nhưng nếu Mỹ muốn kiểm soát sự phát triển của Trung Quốc và tiết kiệm tiền trong một thời gian cần thiết, nước này đơn giản có thể rút lui khởi châu Á (tiết kiệm hàng tỷ USD vũ khí), bán các vũ khí nhiều hơn hay ít phân biệt đối xử với các nước xung quanh biên giới Trung Quốc (kiếm tiền từ việc đó), và để mặc châu Á tự xoay sở lo liệu lấy, cùng với một cuộc chạy đua vũ trang đang phát triển – điều có thể đễ dàng gây ra một cuộc chiến tranh khu vực lớn, nhấn chìm khu vực trong một thế kỷ.

Thực tế là Mỹ đang không làm điều gì ngoài việc giúp Trung Quốc xem xét lại chiến lược phát triển và các mối quan hệ quốc tế của riêng mình tại một thời điểm khi mà thế kỷ 21 có lẽ đang thực sự bắt đầu./.

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: