BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2156. ẢNH HƯỞNG CỦA TPP ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC VÀ ỨNG PHÓ CỦA TRUNG QUỐC

Posted by adminbasam trên 16/12/2013

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Chủ Nhật, ngày 15/12/2013

(Tạp chí “Nghiên cứu kinh tế chính trị thế giới”, Trung Quốc, số 4/2013)

nh hưởng của Hiệp định quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đối vi Trung Quốc

Từ góc độ toàn khu vực, TPP được coi là một cơ chế xây dựng khu vực Đông Á mới nổi. Tuy nhiên, trong tiến trình xây dựng cơ chế Đông Á trùng lặp nhau, phức tạp, Trung Quốc được coi là nước lãnh đạo và thúc đẩy, sự xuất hiện của một cơ chế mới đương nhiên có thể tác động đến vai trò của Trung Quốc. Đánh giá từ nguyên nhân chiến lược và kinh tế khiến Mỹ thúc đẩy TPP, sức ép mà Trung Quốc phải đối mặt trong tương lai không thể xem nhẹ. Phần lớn mọi người cho rằng Mỹ tích cực thúc đẩy đàm phán TPP, là bộ phận quan trọng của chiến lược trở lại châu Á và cân bằng chiến lược của Mỹ. Việc thúc đẩy TPP có thể gây ảnh hưởng sâu rộng đến kinh tế, chính trị và chiến lược ở Đông Á.

Về kinh tế, sau vòng đàm phán đầu tiên, TPP đã tạo ra sự hào hứng đối với nhiều quốc gia châu Á – Thái Bình Dương, số nước có nguyện vọng tham gia đàm phán ngày càng gia tăng, đặc biệt là triển vọng để Nhật Bản, Hàn Quốc tham gia đàm phán được nhiều người quan tâm. Sau khi đạt được hiệp định khung TPP, trên đà thắng lợi, Mỹ tuyên bố nhanh chóng thúc đẩy ký văn bản pháp lý về TPP. Trong quá trình này, Trung Quốc luôn bị gạt ra ngoài rìa. Một khi TPP đạt được hiệp định mang tính thực chất, được coi là một loại liên minh hải quan, TPP sẽ hình thành phân biệt đối xử và hiệu ứng chuyển dịch thương mại đối với Trung Quốc. Trung Quốc là một nền kinh tế mở. Lâu nay, ngoại thương có vai trò quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ của ngoại thương và đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế Trung Quốc là cao nhất trong số những cường quốc kinh tế. Trong tình hình chuyển đổi cơ cấu kinh tế chưa hoàn thành, nhu cầu trong nước còn phải có thời gian để gia tăng, có thể dự báo, tỷ trọng của ngành ngoại thương trong tương lai sẽ vẫn chiếm một nửa cả nền kinh tế Trung Quốc. Hơn nữa, trong ngành ngoại thương Trung Quốc, khu vực châu Á – Thái Bình Dương luôn chiếm địa vị quan trọng, xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ và các quốc gia Đông Á khác chiếm khoảng một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc. Căn cứ vào báo cáo phân tích của Bộ Thương mại Trung Quốc, Mỹ là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc. Tốc độ tăng trưởng giao dịch thương mại với Mỹ năm 2012 của Trung Quốc là 8,5%, với ASEAN là 10,2%, Mỹ vượt qua Liên minh châu Âu (EU) trở thành thị trường xuất khẩu số một của Trung Quốc. Từ đó có thể thấy, khu vực châu Á – Thái Bình Dương có ý nghĩa rất quan trọng đối với kinh tế Trung Quốc. Hơn nữa, sau khi TPP có hiệu lực, hiệu ứng chuyển dịch thương mại mà TPP tạo ra tác động tiêu cực rất rõ đối với kinh tế Trung Quốc, có thể thu hẹp thị trường xuất khẩu của Trung Quốc, dẫn đến xuất khẩu của Trung Quốc giảm, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng ổn định bền vững của nền kinh tế.

Ngoài ra, TPP cũng gây ảnh hưởng bất lợi đối với địa vị của Trung Quốc trong bản đồ kinh tế thế giới. TPP là một mô hình thương mại kiểu mới mà Mỹ tốn nhiều công sức kiến tạo. Họ đã xây dựng tiêu chuẩn chặt chẽ trong các vấn đề quy định lao động, sản phẩm môi trường, sở hữu trí tuệ, việc mua sắm của chính phủ, doanh nghiệp nhà nước… Hơn nữa, chưa cần đề cập đến việc Mỹ có chấp nhận Trung Quốc và Trung Quốc có muốn chủ động tham gia TPP hay không, chỉ riêng những tiêu chuẩn thương mại đã là một cửa ải mà Trung Quốc rất khó vượt qua trong chế độ chính trị và kinh tế hiện nay. Điều này có nghĩa là Trung Quốc buộc phải đứng ngoài TPP một thời gian, chấp nhận những tác động kinh tế từ TPP. Đương nhiên, là nền kinh tế lớn nhất và động lực quan trọng nhất để thức đẩy tăng trưởng kinh tế châu Á. Hiện nay, Trung Quốc chưa thể thông qua khuôn khổ “10+3” (10 nước ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) để thúc đẩy hợp tác kinh tế Đông Á, ứng phó, làm giảm những ảnh hưởng tiêu cực đối với kinh tế Trung Quốc. Tuy nhiên, nước tham gia quan trọng của cơ chế “10+3”, Nhật Bản, đã trở thành một nhân tố khó lường trong giai đoạn hiện nay. Chính quyền Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã thực hiện hàng loạt hành động lớn chưa từng có so với các nhiệm kỳ trước đây, cùng với việc chính thức tuyên bố đàm phán gia nhập TPP, Tokyo đã xây dựng một Tổng cục hoạch định chính sách để đàm phán. Hiện nay, hai nước Nhật Bản và Mỹ đã đạt được hiệp định thương mại ban đầu đàm phán gia nhập TPP, Nhật Bản đã tiến một bước quan trọng để đàm phán gia nhập TPP. Năm 2012, Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ hai của Trung Quốc. Nếu cuối cùng Nhật Bản gia nhập TPP, hiệp định thương mại này sẽ có quy mô lớn chưa từng có (chiếm 40% tổng sản phẩm quốc nội toàn thế giới), tiến trình hợp tác kinh tế khu vực châu Á với cơ chế “ 10+X” làm hạt nhân sẽ rơi vào trì trệ. TPP cũng làm cho Trung Quốc đối mặt với cục diện cô lập trên bản đồ kinh tế châu Á – Thái Bình Dương.

Về chính trị, Mỹ coi TPP là vũ khí hàng đầu để tăng cường quan hệ kinh tế với các nước Đông Á, làm phân tán hội nhập kinh tế trong khu vực này, từ đó làm gia tăng khó khăn cho phát triển kinh tế và chính trị Đông Á. Trong cơ cấu khu vực tiếp tục tồn tại đồng thời hai cơ chế, mức độ tập trung ít, sức mạnh kinh tế của Trung Quốc rất khó chuyển hướng thuận lợi sang tác động chính trị, vai trò mang tính xây dựng của Trung Quốc trong công việc chính trị khu vực bị hạn chế. Việc xây dựng liên kết khu vực thường do một, hai nước hạt nhân chỉ đạo, trước hết là những bước đi đầu tiên trong lĩnh vực kinh tế, sau đó dần dần mở rộng sang các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, an ninh…, việc xây dựng liên kết Đông Á cũng không phải là ngoại lệ. Cùng với sự phát triển kinh tế của Trung Quốc, ảnh hưởng của Trung Quốc tại khu vực Đông Á ngày càng lớn. Trong hơn 10 năm qua, dựa vào các cơ chế như “10+1”, “10+3”, đối thoại Trung – Nhật – Hàn…, Trung Quốc đã đóng vai trò lãnh đạo tiến trình liên kết Đông Á, cục diện hợp tác kinh tế khu vực Đông Á lấy Trung Quốc làm hạt nhân đang hình thành, việc xây dựng chính trị khu vực cũng có một số tiến triển. Đây là một cục diện mà Mỹ không dễ dàng chấp nhận, bởi vì điều này có nghĩa là Mỹ đã mất đi quyền lãnh đạo khu vực kinh tế năng động nhất thế giới và vai trò chủ đạo quy tắc quốc tế. Đối mặt với tình hình trên, một khi Mỹ đã thay đổi thái độ đối với liên kết Đông Á, chen chân vào tham gia “Hiệp ước hợp tác hữu nghị Đông Nam Á”, Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) và nắm vai trò chủ đạo trong việc đàm phán TPP, Mỹ đã chính thức tăng cường can dự chính trị vào các cơ chế ở Đông Á.

Tóm lại, động cơ tham gia đàm phán TPP của Mỹ mang tính phức hợp, vừa xem xét đến kinh tế, vừa xem xét đến địa chính trị. Những tính toán về địa chính trị không thể tách rời sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc, đồng thời dẫn đến dư luận cho rằng Mỹ đang tìm cách kiềm chế Trung Quốc. Kết quả là TPP đã chia rẽ khu vực, loại bỏ một cách có hệ thống các nước không phải thành viên trong đó có Trung Quốc. TPP vừa là “chốt chặn” về kinh tế, vừa là “chốt chặn” về chính trị. Hơn nữa, là một kế hoạch mang tính chính trị, TPP cũng là một mũi tên trúng hai đích: Vừa giành được quyền lãnh đạo quy tắc mới, vừa có thể chuyển hướng điều chỉnh Đông Á, tập trung sự chú ý của các nước vào việc xây dựng cơ chế hóa khu vực châu Á – Thái Bình Dương do Mỹ lãnh đạo. Sự xuất hiện của TPP có nghĩa là Mỹ cải tổ lại cơ cấu chương trình nghị sự của khu vực Đông Á, ra sức xây dựng cơ chế hợp tác mới tại châu Á – Thái Bình Dương, đánh dấu sự cạnh tranh giữa hai mô hình do Trung Quốc và Mỹ lãnh đạo trên toàn châu Á. Khi tạo ra sự lựa chọn mới để các nước Đông Á tham gia hợp tác khu vực, TPP cố ý xây dựng một hàng rào ngăn chặn Trung Quốc tham gia vào công việc khu vực. Việc thúc đẩy TPP đi vào chiều sâu, có khả năng gây rối, thậm chí xóa bỏ, thay thế lộ trình hợp tác Đông Á hiện có, đặc biệt là các cơ chế “10+1”, “10+3” và cơ chế đối thoại Trung-Nhật-Hàn, làm cho vai trò của Trung Quốc trong khu vực bị gạt ra ngoài rìa, từ đó đạt được mục đích làm suy yếu, giảm bớt ảnh hưởng của Trung Quốc.

Điều đáng chú ý hơn là Mỹ thúc đẩy đàm phán TPP có thể là một tín hiệu được các nước Đông Á giải mã là cân bằng với Trung Quốc, dẫn đến một số nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc có lập trường cứng rắn khi xử lý các vấn đề có liên quan, từ đó phân hóa, kiềm chế quan hệ song phương giữa Trung Quốc với những quốc gia này. Từ năm 2009 đến nay, Việt Nam, Philippines trên Biển Đông, Nhật Bản trên Biển Hoa Đông liên tục gây tranh chấp với Trung Quốc. Những nước này đơn phương phá hoại hiện trạng, dẫn đến quan hệ căng thẳng thường xuyên. Xem xét từ thời cơ Mỹ nắm vai trò chủ đạo trong đàm phán TPP, sự bùng nổ tranh chấp ở phía Đông và phía Nam Trung Quốc có lẽ không phải là hành động ngẫu nhiên.

Xem xét về chiến lược, TPP còn có thể hình thành thách thức đối với địa vị của Trung Quốc trong cục diện Đông Á. Bề ngoài, các điều khoản của TPP chỉ thể hiện tính chất kinh tế, nhưng những tính toán đọ sức chiến lược giữa các nước lớn ẩn chứa đằng sau TPP mới là mục tiêu cuối cùng của hiệp định này. Đối tác đàm phán TPP hiện nay tại Đông Á chủ yếu là các đồng minh quân sự của Mỹ. Sự việc này đã chứng tỏ một cách đầy đủ mô hình ưu tiên đàm phán thương mại tự do với đồng minh quân sự của Mỹ. Trên cơ sở quan hệ thương mại chặt chẽ hơn mà TPP tạo ra, Mỹ vừa có thủ đoạn vừa có nguyện vọng điều chỉnh đối với các nước thành viên TPP ở tầm chiến lược, quan hệ an ninh giữa Mỹ và các đồng minh quân sự Đông Á sẽ có thể nhờ đó mà được tăng cường.

Khu vực địa lý xuyên Thái Bình Dương vốn là “lô cốt đầu cầu” trong chiến lược toàn cầu của Mỹ theo truyền thông. Sau Chiến tranh Lạnh, khu vực này càng là một trọng tâm trong bố cục chiến lược toàn cầu của Mỹ, điều đó được thể hiện rõ rệt trong chiến lược trở lại châu Á của Mỹ hiện nay. Trong thời gian tham dự Hội nghị phi chính thức các nhà lãnh đạo APEC tại Hawaii năm 2011, cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton đã trình bày và phân tích rõ ràng những đánh giá của Mỹ về chiến lược châu Á – Thái Bình Dương. Trong bài phát biểu với tựa đề “Thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ”, bà đã tuyên bố: “Châu Á – Thái Bình Dương là trọng tâm của kinh tế và chiến lược thế giới trong thế kỷ 21. Là quốc gia Thái Bình Dương và một nước lớn về ngoại giao, quân sự, kinh tế, giống như vai trò hạt nhân trong xây dựng cơ cấu xuyên Đại Tây Dương, Mỹ cũng đang đóng vai trò như vậy trong hệ thống xuyên Thái Bình Dương. Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ. Trong mấy chục năm tới, một nhiệm vụ quan trọng nhất của Mỹ là tăng cường can dự về ngoại giao, kinh tế và chiến lược tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương”. Hơn nữa, là một chức năng mới của Mỹ trong chương trình nghị sự về thương mại, TPP sẽ biến các thể chế kinh tế xuyên Thái Bình Dương thành một cộng đồng thương mại duy nhất trong thế kỷ 21, từ đó trở thành phương thức tốt nhất để Mỹ xây dựng lại chiến lược châu Á, thúc đẩy lợi ích về chính sách ngoại giao và kinh tế của Mỹ thực hiện mục tiêu an ninh quan trọng – kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Hiển nhiên, trong sự điều chỉnh cục diện châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ, TPP được kỳ vọng sẽ được giao cho sứ mệnh chiến lược của Mỹ. Mỹ mong muốn lấy chương trình thương mại mang tính chiến lược này để xây dựng và tăng cường địa vị chủ đạo của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương, truyền bá về quan niệm giá trị của Mỹ, hạn chế không gian phát triển của Trung Quốc, thúc đẩy tiến trình đân chủ hóa của Trung Quốc, đồng thời giám sát Trung Quốc gánh vác nhiều trách nhiệm quốc tế hơn. Hành động này của Mỹ sẽ tạo thành một thách thức to lớn cho con đường trở thành nước lớn của Trung Quốc.

Lựa chọn đối sách của Trung Quốc

TPP chắc chắn đã gây ra ảnh hưởng trong thực tế hoặc tiềm ẩn đối với các công việc của Trung Quốc ở Đông Á, Trung Quốc đã nhìn thấy trước sự việc, tích cực ứng phó với ảnh hưởng của nó cũng là điều hoàn toàn hợp lý. Trung Quốc làm thế nào để tìm ra đối sách ứng phó, phải phân tích hai tình huống tham gia hoặc không tham gia đàm phán TPP. Về lâu dài, cùng với việc TPP không ngừng phát triển, lớn mạnh, đồng thời trở thành cơ chế hợp tác thương mại thực sự tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Trung Quốc có thể đối mặt với lựa chọn chiến lược gia nhập TPP ở một thời điểm nào đó trong tương lai. Trên thực tế, lãnh đạo Trung Quốc đã dự báo đầy đủ về khả năng xảy ra. Tháng 11/2011, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã tuyên bố tại Hội nghị các nhà doanh nghiệp APEC tại Hawaii: “Trung Quốc ủng hộ thúc đẩy vững chắc việc xây dựng khu vực thương mại tự do trên cơ sở lấy khu vực tự do thương mại Đông Á, quan hệ đối tác kinh tế toàn diện Đông Á, Hiệp định quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)…” Quyết sách này rất nhanh được các ban ngành chức năng quán triệt. Gần đây, Bộ Thương mại cho biết Trung Quốc luôn coi trọng và theo dõi tình hình tiến triển đàm phán TPP. Trên cơ sở nghiên cứu thận trọng, căn cứ vào nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, Trung Quốc đã phân tích khả năng, lợi và hại của TPP. Cho dù điều kiện chủ quan và khách quan như thế nào, cho dù không thể loại trừ khả năng gia nhập TPP, thì ý nghĩa của việc dự báo chuẩn bị tốt quyết sách và phương án ứng phó là điều mọi người đều biết. Nếu thời cơ chín muồi, gia nhập đàm phán TPP trở thành lựa chọn mang tính khả thi, Trung Quốc đã đặt nền tảng vững chắc để đàm phán, quy hoạch chiến lược đàm phán.

Một là đánh giá tác động của việc gia nhập TPP đối với các ngành sản xuất trong nước, trên cơ sở đó thực hiện cải cách và điều chỉnh tương ứng. Trung Quốc dần dần chuyển từ phương thức tăng trưởng kinh tế dựa vào nhu cầu của nước ngoài sang dựa vào nhu cầu tiêu dùng trong nước, tăng cường khả năng ứng phó của hệ thống kinh tế, có thể giảm đến mức thấp nhất ảnh hưởng tiêu cực của việc gia nhập TPP, đồng thời tạo ra điều kiện mới để nền kinh tế tiếp tục phát triển. Hai là thông qua việc xây dựng chương trình nghị sự về ảnh hưởng của đàm phán TPP, tránh hình thành quy tắc bất lợi nhất đối với Trung Quốc. Trung Quốc có thể tăng cường tiếp xúc và giao lưu với các nước Singapore, Chile, New Zealand, Brunei tạo ra nhiều cơ hội hơn cho họ trong các cuộc đàm phán cụ thể. Trung Quốc phải cố gắng tránh để những nước này chỉ có thể lựa chọn cục diện dựa vào Mỹ, ngăn chặn TPP trở thành nơi Mỹ chỉ đạo. Như vậy, Trung Quốc có thể phát huy ảnh hưởng kinh tế của mình trong quy tắc trò chơi của TPP, nỗ lực làm nhạt màu sắc chính trị và chiến lược của TPP, làm nổi bật giá trị kinh tế của hiệp định này, thúc đẩy TPP trở thành hiệp định chất lượng cao về tự do thương mại và của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, xóa bỏ phương thức “bát mỳ Ý” về hiệp định tự do thương mại, cuối cùng có đóng góp thiết thực vào tiến trình liên kết khu vực Đông Á.

Đương nhiên, trên cơ sở TPP là chương trình kinh tế được Mỹ thúc đẩy có màu sắc chính trị rõ ràng, việc Trung Quốc có thể tham gia đàm phán hay không không hoàn toàn được quyết định bởi Trung Quốc, lập trường của Mỹ là một nhân tố có ảnh hưởng quan trọng hơn. Từ góc độ này, Trung Quốc có thể thấy tín hiệu trong cuộc đọ sức ngoại giao giữa Trung Quốc và Mỹ về trình tự Trung Quốc tham gia đàm phán. Hơn nữa, xem xét từ cánh cửa gia nhập TPP hiện nay và động cơ của Mỹ, Trung Quốc không thể gia nhập hiệp định này trong giai đoạn hiện nay. Trong tình hình đó, để ứng phó vói ảnh hưởng bên ngoài của TPP, Trung Quốc làm thế nào để tìm kiếm lựa chọn đối sách?

Thứ nhất là phải thoải mái và ứng phó một cách ung dung. Trung Quốc phải ý thức được thách thức đã dự báo trước hoặc nằm ngoài dự báo trong quá trình phát triển, TPP chỉ là một trong những thách thức đó. Mỹ tuy có những đánh giá chiến lược dùng TPP để cô lập, loại bỏ Trung Quốc nhằm khôi phục và tăng cường quyền lãnh đạo của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhưng lại không có được khả năng tuyệt đối để thực hiện. Có ít nhất ba nhân tố có thể chứng tỏ vì sao Mỹ không thể cô lập một cách hiệu quả Trung Quốc tại Đông Á: (1) Trung Quốc quá lớn và không thể kiềm chế, Trung Quốc là nền kinh tế lớn nhất châu Á và lớn thứ hai thế giới; (2) Các nước Đông Á hưởng lợi từ quan hệ kinh tế với Trung Quốc, họ có động lực xây dựng quan hệ chặt chẽ hơn với Trung Quốc; (3) Đa số các nước châu Á thích sự cân bằng mà không muốn một nước lớn nào nắm quyền chủ đạo tại khu vực. Đối với TPP, chỉ cần Nhật Bản và Hàn Quốc không gia nhập TPP, thì hiệp định này khó làm nên điều gì lớn lao. Chỉ có Nhật Bản gia nhập mới có thể làm cho ý nghĩa của TPP to lớn hơn, nhưng do chịu sức ép chính trị trong nước, Nhật Bản rất khó gia nhập TPP ngay.

Thứ hai là đẩy nhanh đàm phản Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, thúc đẩy hợp tác một cách thiết thực với Nhật Bản và Hàn Quốc. Trung Quốc đã ký 15 hiệp định tự do thương mại, đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm đàm phán và nhận thức đối với FTA. Trên cơ sở những kinh nghiệm và nhận thức đó, khi đàm phán FTA với Nhật Bản và Hàn Quốc, Trung Quốc có thể quán triệt sách lược dễ trước khó sau, tuần tự từng bước. Trên cơ sở thái độ rất tích cực thúc đẩy FTA của Hàn Quốc và thái độ lạnh nhạt của Nhật Bản đối với FTA, Trung Quốc phải đi theo quy luật, tập trung nhanh chóng hoàn thành đàm phán có liên quan với Hàn Quốc. Tiếp đó, lấy FTA giữa Trung Quốc và Hàn Quốc làm bước đột phá, hỗ trợ sự phát triển ổn định của khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN, định hướng để Nhật Bản và Trung Quốc đàm phán về FTA. Tuy nhiên, khi đàm phán với Nhật Bản, Trung Quốc thực hiện lập trường cởi mở linh hoạt hơn. Thực ra, việc Trung Quốc thực hiện sách lược đàm phán này đã có tiền lệ, chẳng hạn Trung Quốc – chấp nhận đề nghị của Nhật Bản, thúc đẩy Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc ký hiệp định đầu tư. Trung Quốc hào hứng hơn với việc chuyển hướng từ khuôn khổ “ASEAN+3” mang tính bài ngoại sang khuôn khổ “ASEAN+6”, đây cũng là chương trình được Nhật Bản ưa chuộng. Hai bước đi này của Trung Quốc sẽ làm cho Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc chính thức khởi động đàm phán ba bên FTA giữa Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Sách lược đàm phán hiệu quả linh hoạt này phải được thúc đẩy một cách kiên trì và đi vào chiều sâu. Vào một ngày nào đó, khu vực tự do thương mại Trung – Nhật – Hàn có hy vọng được xây dựng. Nếu có hai trụ cột và chỗ dựa là khu vực tự do thương mại Trung Quốc – ASEAN và khu vực tự do thương mại Trung – Nhật – Hàn, thì cho dù TPP gạt Trung Quốc ra ngoài rìa, cũng không còn trở ngại nào nữa.

Thứ ba là tích cực tham gia và thúc đẩy Quan hệ đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Trong Hội nghị thượng đỉnh Đông Á vào tháng 11/2012, 10 nước ASEAN đã khởi xướng, 6 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia hưởng ứng, 16 quốc gia này đã khởi động đàm phán RCEP. RCEP là hợp tác liên kết kinh tế khu vực lấy ASEAN làm chủ đạo, là hình thức tổ chức mở cửa thị trường, thực hiện liên kết kinh tế khu vực giữa các nước thành viên. Mục tiêu là xóa bỏ hàng rào thương mại trong nội khối, tạo ra và hoàn thiện môi trường đầu tư tự do, mở rộng thương mại dịch vụ, đồng thời đề cập đến nhiều lĩnh vực như bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh…, mức độ tự do hóa cao hơn hiệp định tự do thương mại mà ASEAN và 6 quốc gia trên đã đạt được. Việc xây dựng RCEP sẽ lấy việc hoàn thiện, điều chỉnh FTA mà ASEAN đã ký với Trung Quốc, cao như TPP, đương nhiên khả năng RCEP sẽ có tính khả thi hơn TPP. Về chính trị, ASEAN là nước xây dựng quy tắc RCEP, có thể củng cố vị thế trung tâm của ASEAN trong hợp tác khu vực, đồng thời phát huy vai trò lớn hơn trong công việc quốc tế. Kinh nghiệm lịch sử xây dựng khu vực Đông Á đã thể hiện rõ bởi tiến trình hợp tác Đông Á do ASEAN thúc đẩy có lẽ đã thể hiện nhu cầu phát triển, phù hợp hơn với phương thức này. Trên cơ sở đó, đối với sự phát triển của RCEP, Trung Quốc phải cố gắng ủng hộ ASEAN. Bởi vì việc xây dựng RCEP phù hợp với chính sách ngoại giao xung quanh “thân thiện với láng giềng, yên ổn láng giềng, làm giàu láng giềng” mà Trung Quốc thực hiện, đồng thời bắt nguồn từ việc RCEP có lợi cho việc nâng cao mức độ liên kết kinh tế khu vực, xây dựng thị trường độc lập với nhu cầu của các nước châu Âu, Mỹ và phù hợp với quy tắc kinh tế châu Á, từ đó có lợi cho ổn định và phồn vinh tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Chắc chắn, nhờ vào RCEP, Trung Quốc không những có thể mở ra không gian lớn hơn để phát triển kinh tế, mà còn có thể phát huy vai trò tương ứng với thực lực quốc em trong công việc khu vực Đông Á.

Kết luận

TPP hiện nay đang ở trong tiến trình đàm phán, tuy có thể tiến triển vào bất cứ thời điểm nào, nhưng do đòi hỏi quá cao về tiêu chuẩn tự do hóa, phương hướng chính trị và sự khác biệt lớn về mức độ kinh tế giữa các nước thành viên, TPP có thể hoàn thành việc đàm phán toàn diện hay không vẫn còn phải chờ đợi. Bất luận thế nào, TPP có thể có một vị trí trong chương trình nghị sự của khu vực Đông Á, chứng tỏ hợp tác Đông Á hiện nay xuất hiện nhiều tiến trình, cục diện cùng tồn tại. Cục diện này đã tác động toàn diện đến Trung Quốc. Đối với xu hướng mới xuất hiện trong việc xây dựng Đông Á, Trung Quốc đã ứng phó hợp lý và được nhiều người quan tâm. Một mặt, Trung Quốc phải giữ thái độ cởi mở đối với bất kỳ cơ chế hợp tác nào bao gồm cả TPP có lợi cho phồn vinh, ổn định và an ninh của khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Mặt khác, đối với trở ngại và tiêu cực có thể xuất hiện khi Đông Á được sắp xếp lại, Trung Quốc phải thông qua khởi xướng hợp tác như xây dựng đổi mới cơ chế, tham gia và thuận theo xu hướng phát triển khu vực để giữ ổn định và điều chỉnh. Từ đó, cùng với việc hội nhập vào trào lưu lớn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, Trung Quốc cần phát huy ưu thế riêng, dẫn dắt và thúc đẩy sự phát triển theo chiều sâu đối với tiến trình liên kết Đông Á./.

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: