BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

2063. ĐÁNH GIÁ VỀ BẢN CHẤT QUAN HỆ TRUNG-MỸ HIỆN NAY (Phần cuối)

Posted by adminbasam trên 11/10/2013

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Ba, ngày 08/10/2013

TTXVN (New York 6/10)

Theo mạng tin tình báo Stratfor, Mỹ tiếp tục đối mặt với những trở ngại trong chính sách trở lại châu Á-Thái Bình Dương của mình. Nhà Trắng đã hủy chuyến thăm của Tổng thống Obama tới 4 nước Đông Nam Á với lý do gặp khó trong vấn đề “hậu cần” phát sinh từ việc đóng cửa một phần chính phủ liên bang.

Việc hủy chuyến thăm này cho thấy Washington tiếp tục gặp khó khăn trong việc thúc đẩy chính sách trở lại châu Á. Thứ nhất, chính sách này tiếp tục bị hạn chế do sự can dự quá sâu và vẫn đang tiếp diễn ở Trung Đông. Dù đã rút quân khỏi Iraq vàAfghanistan, nỗ lực đàm phán bình thường hóa quan hệ với Iran, kiểm soát mối quan hệ với các đồng minh Israel, Thổ Nhĩ Kỳ và Saudi Arabia cùng nỗ lực xóa bỏ vũ khí hóa học của Syria cho thấy chính sách ngoại giao của Mỹ vẫn bị hút vào khu vực này.

Thứ hai, nỗ lực ngoại giao của Mỹ với châu Á thường xuyên bị tác động bởi các yếu tốđối nội. Tháng 3/2010, Obama đã hủy chuvến thăm tới Indonesia và Australia để tập trung vận động thông qua Luật Y tế tại Quốc hội. Trong tháng 6/2010, ông lại hủy tiếp các chuyển thăm đến hai nước này do sự kiện tràn dầu ở vịnh Mexico, về cơ bản, các chuyến thăm của Tổng thống có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược bao quát, trái ngược với các thỏa thuận về mặt kỹ thuật đạt được từ các cấp đàm phán thấp hơn.

Chuyến thăm của Obama là nhằm khẳng định tầm quan trọng rộng lớn của khu vực châu Á-Thái Bình Dương đối với an ninh, sự thịnh vượng của Mỹ nhưng 2 vấn đề này đã bị gạt ra ngoài chương trình nghị sự của người đứng đầu nước Mỹ. Thứ nhất, tạiPhilippines, Obama hy vọng sẽ hoàn tất một thỏa thuận cho phép bảo đảm sự linh hoạt lớn hon cho quân đội Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự tại Philippines để luân chuyển quân. Mỹ đã mất các căn cứ thường trực tại Philippines năm 1992 và từ 1999 đã hoạt động dựa trên một thỏa thuận cho phép tăng cường luân chuyển các lực lượng viếng thăm. Với môi trường an ninh đang thay đổi nhanh chóng ở khu vực, nhất là trong bối cảnh căng thẳng gia tăng ở Biển Đông, Mỹ và Philippines đã tìm cách khôi phục liên minh quân sự. Chuyến thăm của Obama sẽ là nỗ lực thúc đẩy về mặt ngoại giao để đạt được mục đích này.

Thứ hai, tại Malaysia, Obama đáng lẽ sẽ có cơ hội trao đổi với Thủ tướng Najib Razakvề các cuộc đàm phán đang diễn ra để ký được Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào cuối năm nay. Sự phản đối hiệp định này đang gia tăng trong những tháng gần đây tại Malaysia vì những vấn đề hóc búa như sở hữu trí tuệ, cải tổ doanh nghiệp nhà nước, tiêu chuẩn lao động và môi trường. Hơn nữa, cựu Thủ tướng Mahathir Mohamad đang dẫn đầu phong trào phản đối này, buộc ông Najib,người sẽ đối mặt với các cuộc bầu cử nội bộ đảng cuối tháng này, phải đảm bảo rằng chính phủ của ông sẽ phải thận trọng trong đàm phán nhằm giải quyết các mối quan ngại này.

Khi liên minh cầm quyền Malaysia phải chật vật đương đầu với phong trào phản đối gia tăng, triển vọng chấp nhận thêm những nhượng bộ với Mỹ trong đàm phán TPP về các vấn đề doanh nghiệp nhà nước, tiêu chuẩn lao động, môi trường sẽ trở nên khó khăn hơn. Nếu Obama tới Kuala Lumpur theo kế hoạch vào ngày 11/10 tới, ông có thể gặp phải các cuộc biểu tình tại Malaysia. Thế nhưng, chuyến thăm của ông lại thể hiện sự cam kết mạnh mẽ trong quan hệ của Mỹ với Malaysia khi ông là vị tổng thống đầu tiên tới thăm quốc gia Hồi giáo này trong hơn 40 năm qua. Malaysia cũng là quốc gia có vai trò quan trọng trong ASEAN liên quan đến Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC). Nếu Mỹ có thể khuyến khích Malaysia giữ lập trường kiên định trong tranh chấp lãnh hải, điều đó sẽ giúp tăng cường sự thống nhất trong ASEAN về vấn đề này.

Trong khi đó, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đi trước một bước bằng chuyến thăm của mình tới Malaysia vào ngày 3-5/10. Từ năm 2009, Trung Quốc đã tìm cách nối lại quan hệ với Malaysia cả vì mục đích kinh tế lần do vị trí chiến lược của nước này tại ngã ba bán đảo Đông Nam Á. Trung Quốc không tham gia đàm phán TPP nhưng vẫn có thể chào mời những khoản đầu tư lớn vào Malaysia mà không cần bất cứ điều kiện đặc biệt nào. Trung Quốc cũng hy vọng sẽ khuyến khích Malaysia chia sẻ quan điểm của mình trong các cuộc đàm phán với phần còn lại của ASEAN về COC, làm tăng vị thế của cường quốc này và tiếp tục chia rẽ ASEAN trong vấn đề Biến Đông.

Khi cả Trung Quốc và Mỹ đang tìm cách ve vãn Malaysia, chuyến thăm của ông Tập Cận Bình rõ ràng đối nghịch hoàn toàn với sự vắng mặt của Obama dù việc chuyến thăm bị hủy không phá vỡ các chính sách của Mỹ với quốc gia Hồi giáo này trong dài hạn. Rõ ràng sự vắng mặt của Obama sẽ đem lại tín hiệu tiêu cực đối với Malaysia trong các cuộc đàm phán TPP. Nhưng sự lưỡng lự và tác động từ chính trị nội bộ của Malaysia cũng không thể ngăn cản việc đạt được thỏa thuận cuối cùng về hiệp định thương mại này giữa các thành viên. Malaysia hiện đã hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu, hiện cũng có vị thế cạnh tranh khá cao, đồng thời cũng đã có các hiệp định thương mại với hầu hết các đối tác TPP. Malaysia cũng muốn tiếp cận nhiều hơn tới các thị trường châu Mỹ nhằm đạt mục tiêu trở thành nền kinh tế phát triển.

Tại Philippines, chuyến thăm của Obama có thể sẽ giúp tạo ra động lực chính trị cho nỗ lực hồi phục sự hiện diện quân sự của Mỹ tại đây. Nhưng

một lần nữa, những quan ngại an ninh của Philippines, đặc biệt là việc thiếu tiềm lực quân sự để đối phó với Trung Quốc trong tranh chấp đảo, đang khiến nước này muốn tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ và Chính quyền của Tổng thống Benigno Aquino cũng đang có được sự ủng hộ của dân chúng để đạt được thỏa thuận này với Mỹ. Nhưng sự trì hoãn liên tục có thể làm suy yếu lòng tin vào cam kết của Mỹ ở khu vực này, trong bối cảnh các nước ASEAN đang do dự khi quyết định có đáng phải đứng lên chống lại Trung Quốc hay không khi khu vực cần duy trì mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ với cường quốc này.

Khi chính sách hướng Đông của Mỹ còn đang tập tễnh, điều đặc biệt quan trọng khi các đồng minh như Nhật Bản, Australia trở thành các nhà tiên phong trong chính sách khu vực và nồ lực làm sâu sắc việc can dự với ASEAN. Nhật Bản đang đặc biệt nỗ lực làm hồi sinh chủ nghĩa dân tộc, bao gồm không chỉ mở rộng tham gia các hiệp định thương mại quốc tế như TPP mà còn đưa các chính sách an ninh, kinh tế ngoại giao trực tiếp vươn tới Đông Nam Á. Thủ tướng Shinzo Abe không chỉ đưa ra chương trình nghị sự ngoại giao với mỗi thành viên ASEAN mà còn dự định chủ trì hội nghị thượng đỉnh ASEAN tại Tokyo vào cuối năm nay. Với Nhật Bản, mục tiêu xây dựng lại uy tín quốc gia được thực hiện thông qua việc làm mới các mối quan hệ hiện tại, dựa chủ yếu vào viện trợ và đầu tư, đồng thời đối phó với những bất trắc và mối lo ngại do sự trỗi dậy của Trung Quốc. Điều này đòi hỏi phải tìm kiếm sự ủng hộ của khu vực trong việc bình thường hóa vai trò quân sự của Nhật Bản vì mục đích kiến tạo hòa bình khu vực và thế giới.

Nói tóm lại, việc hủy chuyến thăm của Obama cho thấy Mỹ vẫn thiếu khả năng triển khai thành công chính sách trở lại châu Á-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, chính sách này sẽ vẫn tiếp tục được thực hiện vì nó được đưa ra xuất phát không chỉ từ lợi ích của người Mỹ mà còn của chính các quốc gia Đông Nam Á, khu vực luôn trông đợi vào sức mạnh kinh tế và quân sự của Mỹ để cân bằng quyền lực ở khu vực. Với sức mạnh quốc gia của mình, Nhật Bản cũng có tiềm năng giúp tăng cường sự can dự Mỹ-ASEAN khi cường quốc này đang tìm cách thoát khỏi tình trạng kinh tế trì trệ. Sự trợ giúp của Nhật Bản không chỉ vì lợi ích của Mỹ mà còn vì chính nhu cầu về động lực tăng trưởng và an ninh nhằm xây dựng các mối liên kết bền vững với khu vực Đông Nam Á.

*

*        *

Tạp chí “The National Interest” của Mỹ ngày 23/9 đăng bài viết của tác giả Dean Cheng, nhà nghiên cứu cấp cao thuộc Trung tâm Nghiên cứu châu Á của “The Heritage Foundation”, trong đó cho biết mặc dù hiện nay các nhà hoạch định kế hoạch tác chiến của Lầu Năm Góc đang tập trung mọi nỗ lực vào cuộc khủng hoảng Syria nhưng họ cũng buộc phải chuẩn bị kế hoạch đối phó với Trung Quốc trong việc nâng cao khả năng “chống tiếp cận và chống thâm nhập khu vực” (A2/AD).

Nỗ lực phát triển các khả năng A2/AD mà Bắc Kinh gọi là chiến lược “chống can thiệp” được bắt nguồn từ tốc độ tăng trưởng kinh tế và đánh giá những bài học kinh nghiệm được rút ra từ các cuộc chiến tranh lớn gần đây trên thế giới. Trong những năm 1960 và 1970, do lo sợ bị Mỹ và Liên Xô tấn công, Chủ tịch Mao Trạch Đông tập trung phát triển kinh tế trong nước. Chủ tịch Mao tìm cách bảo vệ Trung Quốc khỏi cuộc tấn công bằng cách tạo nên khoảng cách giữa các trung tâm kinh tế nằm sâu trong nội địa của Trung Quốc và các đối thủ có khả năng tấn công Trung Quốc. Nhưng sau khi kế nhiệm Chủ tịch Mao Trạch Đông, ông Đặng Tiểu Bình đã thay đổi hầu hết các chính sách như vậy và bắt đầu giai đoạn cải cách và mở cửa năm 1978. Nhờ chính sách của ông Đặng Tiểu Bình, trung tâm kinh tế của Trung Quốc đã chuyển từ nội địa đến các khu vực ven biển, từ đó thu hút mạnh mẽ các khoản đầu tư trong và ngoài nước. Nhưng ý đồ phát triển chiều sâu chiến lược nhằm ngăn chặn các kẻ thù tiềm tàng thâm nhập các trung tâm kinh tế của Trung Quôc là một trong nhiều nhân tố quan trọng trong việc phát triển các khả năng A2/AĐ và được thúc đẩy hơn nữa trên cơ sở quan sát cũng như đánh giá các cuộc chiến tranh của Mỹ với các nước khác trên thế giới trong những thập kỷ gần đây. Từ Chiến dịch Bão táp Sa mạc năm 1990 thông qua các hoạt động của NATO tại khu vực Balkan, các cuộc chiến tranh lật đổ Taliban, Saddam Hussein và phá hủy chế độ Gaddafi ở Libya, Trung Quốc nhận thấy sức mạnh không quân của Mỹ và đồng minh đóng vai trò rất lớn, nếu không muốn nói là trung tâm, trong chiến tranh. Trong mỗi cuộc xung đột như vậy, các lực lượng do Mỹ lãnh đạo liên tục sử dụng các loại máy bay chiến đấu và ném bom, phát động các cuộc tấn công từ trên không để làm suy yếu các khả năng phòng thủ của đối phương, đồng thời phá hủy nặng nề các cơ sở hạ tầng kinh tế, chính trị và thông tin liên lạc của đối phương với chi phí hạn chế tới mức tối thiểu. Trung Quốc cũng nhận thấy khả năng nhanh chóng triển khai sức mạnh không quân từ các hàng không mẫu hạm của MỸ qua cuộc khủng hoảng Đài Loan năm 1995-1996 là một nhân tổ đáng lo ngại. Từ những thực tế đó, các nhà phân tích và các nhà hoạch định chính sách chiến lược của Trung Quốc khẳng định hỏa lực không quân là con át chủ bài để Mỹ và các nước đồng minh tiến hành một cuộc chiến tranh “không tiếp xúc, không giới tuyến, không cân xứng”. Theo quan điểm của Bắc Kinh, 3 nội dung đó là đặc điểm của “các cuộc chiến tranh khu vực trong điều kiện thông tin hóa”, trong đó sức mạnh không quân, cùng với các khả năng không gian vũ trụ và mạng, rất cần thiết để giành thắng lợi trong chiến tranh. Vì vậy Bắc Kinh yêu cầu Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) đẩy mạnh các nỗ lực phát triển khả năng A2/AD nhằm ngăn chặn và nếu có thể sẽ đánh bại bất cứ đối thủ nào, kể cả Mỹ và nước đồng minh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, có khả năng phát động một cuộc tấn công trên không kéo dài đánh phá các mục tiêu quan trọng của Trung Quốc. Do đó hiện nay Trung Quốc đang tập trung nỗ lực phát triển các khả năng A2/AD nhằm đáp trả sức mạnh không quân đặt căn cứtrên biển cũng như trên bộ của Mỹ, không những bao gồm các hàng không mẫu hạm mà cả các tên lửa mang đầu đạn hạt nhân tầm thấp và máy bay ném bom tầm xa.

Để đạt được mục tiêu này, chiến lược A2/AD của Trung Quốc bao gồm cả quy mô chiến lược, chiến dịch và chiến thuật:

Quy mô chiến lược được thể hiện trong cái gọi là “3 cuộc chiến tranh” pháp lý, dư luận công chúng và chiến tranh tâm lý. Về cơ bản, mục tiêu của Trung Quốc là phủ nhận tính hợp pháp của các hoạt động của lực lượng Mỹ ở khu vực Tây Thái Bình Dương bằng cách phát động cuộc đấu tranh pháp lý, kích động dư luận công chúng và chiến tranh tâm lý. Những sáng kiến này của Trung Quốc được phối hợp chặt chẽ với nền ngoại giao đa phương cùng các nỗ lực khác để giành quyền kiểm soát tất cả các nước ven biển Đông Á. Tuy nhiên, Bắc Kinh xác định Mỹ không phải là mục tiêu duy nhất của chiến lược A2/AD. Các nỗ lực phát triển chiến lược A2/AD của Trung Quốc chủ yếu nhắm vào các đồng minh của Mỹ và các đối thủ khác ở khắp khu vực châu Á- Thái Bình Dương. Một mặt Bắc Kinh sẽ tìm cách thuyết phục các nước đồng minh của Mỹ không phận cho phép Washington triển khai lực lượng tác chiến trong không phận và hải phận của họ. Mặt khác Bắc Kinh cũng sẽ đe dọa việc các nước cho phép Mỹ sử dụng không phận và hải phận sẽ là hành động chống Trung Quốc và như vậy sẽ bị nguy hiểm, nhằm ngăn chặn hiệu quả và phá hủy các khả năng triến khai lực lượng của Mỹ trong khu vực.

Quy mô chiến dịch của chiến lược A2/AD tập trung ngăn chặn các khả năng của Mỹ tiến hành các hoạt động theo thông lệ. Trên cơ sở đánh giá của

giới phân tích và các nhà chiến lược Trung Quốc về hành động quân sự do Mỹ lãnh đạo trong các cuộc chiến tranh trước đây, Bắc Kinh nhận thấy việc đánh thắng trong các cuộc chiến tranh tương lai được bắt nguồn từ khả năng thiết lập “sự thống trị thông tin”. Bên nào có thể thu thập, truyền tải và khai thác thông tin tốt hơn, đồng thời ngăn chặn đối phương đạt được khá năng tương tự, sẽ là bên chiến thắng. Thực tế đối với quân đội Trung Quốc, điều này có nghĩa PLA phải tìm cách tấn công các hệ thống thông tin và đặc biệt các khả năng không gian vũ trụ của Mỹ. Bằng cách kết hợp tấn công các vệ tinh để làm gián đoạn thông tin liên lạc và hạn chế các hoạt động của chúng, đồng thời tấn công các thông tin được chuyển tải qua các vệ tinh, quân đội Trung Quốc hy vọng sẽ ngăn chặn lực lượng Mỹ tấn công hiệu quả các mục tiêu sâu trong nội địa, mặc dù quân đội Trung Quốc đã có các hệ thống phòng thủ bảo vệ lãnh thổ, có lợi thế hoạt độnggần bờ biển và cơ sở hạ tầng.

Quy mô chiến thuật của chiến lược A2/AD liên quan đến các hệ thống vũ khí nhằm tiêu diệt hoặc gây tổn thất cho các khả năng của lực lượng Mỹ như các hệ thống tên lửa đạn đạo chống tàu (ASBM), các tàu ngầm và tên lửa mang đầu đạn hạt nhân tầm xa. Hiện nay phần lớn các cuộc thảo luận về A2/AD của quân đội Trung Quốc đều tập trung vào cấp độ này. Ngoài ra, các nhà phân tích và chiến lược của Trung Quốc cũng đang thảo luận sôi nổi vấn đề liệu các hàng không mẫu hạm của Mỹ có thể hoạt động trong tầm bắn ASBM của Trung Quốc và liệu các máy bay chiến đấu F-35, với cự ly bay tương đối ngắn, có tạo nên ưu thế so với Trung Quốc hay không, Tương tự, Trung Quốc cũng ngày càng quan tâm đến các khả năng cúa căn cứ không quân Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, kể cá trên đảo Guam, chống Trung Quốc sử dụng các loại tên lửa đạn đạo và tên lửa mang đầu đạn hạt nhân tầm thấp.

Ngược lại, Lầu Năm Góc đã và đang tìm cách đối phó với các nỗ lực A2/AD của Trung Quốc thông qua cái gọi là chính sách “trở lại châu Á”. Trên cấp độ chiến lược, Mỹ sẽ triển khai một thỏa thuận thương mại tự do rộng khắp châu Á mang tên Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Sau khi hoàn tất, TPP sẽ cung cấp cho các quốc gia thành viên khác nhau trong khu vực nhiều ưu đãi và quan hệ thân thiện hơn với Mỹ nhằm chống lại các nỗ lực chiến lược của Trung Quốc, từ đó hình thành 2 phe ở khu vực Thái Bình Dương. Nhưng hiện nay nỗ lực chống Trung Quốc của Mỹ đang bị hạn chế bởi những khó khăn trong chính sách an ninh và ngân sách. Mỹ cũng thường xuyên cảm thấy Trung Quốc có chung mối quan tâm trong việc cho phép Mỹ hoạt động tự do ở Tây Thái Bình Dương. Mặc dù đề cập nhiều về chính sách “trở lại châu Á”, nhưng sự cô lập của Mỹ sẽ làm giảm lòng tin của các nước đối với chính sách đó. Hơn nữa giảm bớt các cuộc diễn tập và sự hiện diện của Mỹ trong khu vực cũng sẽ ảnh hưởng đến lòng tin về vai trò ngăn chặn cũng như tính khả thi về phản ứng của Mỹ chống các nỗ lực A2/AD của Trung Quốc. Điều này càng ảnh hưởng hơn nữa đến các nỗ lực của Mỹ trong việc thuyết phục Trung Quốc chấp nhận vai trò của Mỹ trong khu vực. Chưa rõWashington làm thế nào để hợp tác với Trung Quốc trong việc hạn chế những hành động thâm nhập không gian mạng mặc dù ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy Chính phủ Trung Quốc đang can dự vào các hoạt động gián điệp mạng. Tương tự, việc Mỹ mời Trung Quốc tham gia cuộc diễn tập quân sự đa phương mang tên “Vành đai Thái Bình Dương” (RIMPAC) dường như có ý đồ hạn chế tầm quan trọng của A2/AD ở cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Nhưng một số nước tham gia RIMPAC như Nhật Bản nhìn Trung Quốc bằng con mắt nghi ngờ. Họ cho rằng mời Trung Quốc tham gia RIMPAC không những cho phép Bắc Kinh quan sát mà còn dẫn đến nguy cơ bộc lộ các khả năng quan trọng về cuộc chiến tranh chống ngầm của Mỹ và đồng minh, chiến tranh phòng không và các hoạt động tấn công một quốc gia đang âm mưu tìm kiếm và lợi dụng các điểm yếu của đối phương để đề ra biện pháp đối phó hiệu quả như một bộ phận trong chiến lược A2/AD của Trung Quốc. Lời mời này đã được Mỹ gửi tới Bắc Kinh, bất chấp PLA đã và đang tăng cường các khả năng A2/AD, do đó Mỹ dường như thể hiện sự yếu kém và thiếu định hướng trong việc đối phó với Trung Quốc.

*

*        *

TTXVN (Algiers 7/10)

Cuộc chiến bí mật giữa Mỹ và Trung Quốc tại Sudan là một trong những mặt trận mà cuộc đối đầu giữa hai cường quốc này xung quanh việc kiểm soát và khai thác nguyên liệu của châu Phi diễn ra quyết liệt. Theo tạp chí “Địa chính trị”, để biết được nguyên nhân nào dẫn đến cuộc đối đầu này, cần tìm hiểu các ván cá cược địa chính trị và địa kinh tế, chính sách mới của Mỹ và Trung Quốc ở châu Phi.

Cuộc xung đột lợi ích giữa hai nước này xuất phát từ việc tìm kiếm sức mạnh mang tính quyết định trên trường quốc tế, một số cuộc chiến kinh tế mới giữa các cường quốc lớn trên đất châu Phi sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Sự ủng hộ không gì lay chuyển nổi của Trung Quốc đối với chế độ Khartum và sự chia tách đất nước này vào tháng 7/2011 là những dấu hiệu cho phép nhìn nhận cuộc chiến bí mật giữa hai cường quốc này ở Sudan.

Cuộc đối đầu chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc ở châu Phi xung quanh việc kiểm soát và khai thác nguyên liệu được cụ thể hóa bằng một số cuộc xung đột tại chỗ. Cuộc đối đầu đó có phải là một phần của cuộc Chiến tranh Lạnh đang dần xuất hiện trở lại không? Tính quyết liệt của cuộc đối đầu này quả thực thể hiện tầm quan trọng của nguồn nguyên liệu châu Phi đối với sự sống còn của các nước này về phương diện kinh tế, đồng thời cũng cho thấy sức mạnh của họ trên trường quốc tế. Châu Phi trở thành một cuộc chơi năng lượng quy mô lớn đối với hai cường quốc kinh tế lớn này. Năm 2008, Trung Quốc nhập khẩu 32% lượng dầu mỏ của châu Phi so với 80% của Mỹ. Cuộc chiến bí mật Mỹ-Trung ở châu Phi có thể nhận biết được về nhiều phương diện, cụ thể là ở Sudan, nơi sự chia tách đất nước và việc Nam Sudan được công nhận vào tháng 7/2011 là một trong những dấu hiệu rõ nhất về cuộc đối đầu ngấm ngầm giữa hai nước này. Để nhận biết cuộc đối đầu chiến lược Mỹ-Trung ở Sudan, cần phân tích những cái được mất của sự kình địch đó và đưa ra những dấu hiệu của cuộc đối đầu này.

Liên quan đến cuộc đối đầu Mỹ-Trung ở Sudan, châu Phi là nơi diễn ra cuộc đối đầu về kinh tế và ngoại giao giữa Bắc Kinh và Washington xung quanh việc kiểm soát và khai thác nguyên liệu. Nguyên liệu châu Phi quả thực đã làm xấu đi mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Hai cường quốc này cạnh tranh ngấm ngầm để có được dầu mỏ châu Phi. Trong cuộc chạy đua tìm kiếm nguyên liệu với Trung Quốc ở châu Phi, Mỹ sử dụng nhiều mưu mẹo khác nhau để làm suy yếu các chế độ thân Bắc Kinh ở châu lục, trong đó có Sudan. Quyết tâm của Chính phủ Mỹ làm suy yếu, thậm chí phá vỡ Sudan, nằm trong lôgích đó. Việc kiểm soát vùng bờ biển của Sudan là một ván cá cược chiến lược lớn trong cuộc đối đầu chiến lược này. Trước ý đồ của Bắc Kinh, Washington quyết biến Port Sudan thành chiếc “máy bơm nhiên liệu” cho quân đội và nền kinh tế, đồng thời đưa Sudan vào vòng ảnh hưởng của mình. Như vậy, xác định cái được mất trong cuộc chiến bí mật giữa Mỹ và Trung Quốc ở nước này có nghĩa là phải phân tích những lý do khiến Mỹ không tin tưởng, còn Trung Quốc hỗ trợ chế độ Khartum.

Nguyên nhân khiến Mỹ không tin tưởng là Sudan trở thành trạm trung chuyển của khủng bố quốc tế và mối đe dọa đối với an ninh của Mỹ. Từ sau vụ khủng bố 11/9, châu Phi là một ưu tiên chiến lược lớn đối với Mỹ. Tuy nhiên, về phương diện an ninh, châu lục này là một ví dụ điển hình vì chịu ảnh hưởng của tư tưởng cực đoan từ Trung Đông. Chính xác hơn là sự kết hợp các yếu tố như việc chia sẻ một số thực tế xã hội-chính trị với Trung Đông, sự gần gũi về địa lý và khả năng tương đối của châu lục phải đối mặt với làn sóng đe dọa xuyên quốc gia gia tăng trên lãnh thổ, khiến châu Phi trở thành chủ đề đáng phải quan tâm nhất. Vùng Đông Phi, cụ thể là Sudan và Somalia, là hang ổ thực sự của khủng bố quốc tế. Kể từ sau cuộc đảo chính năm 1989 do tướng al-Bashir và cố vấn của ông là Hassan al Torabi tiến hành năm 1989, Khartum quả thực bị biến thành thủ đô của cuộc cách mạng Hồi giáo ở châu Phi.

Để ngăn chặn mối đe dọa khủng bố đó, Mỹ lập ra một liên minh thần thánh chốngKhartum. Trong cuộc chiến chống Hồi giáo chính trị đó, Chính phủ Mỹ sử dụng các đầu mối của mình ở châu Phi, như Tổng thống Uganda Yoweri Museveni, Isaias Aferwerki(thủ lĩnh Mặt trận giải phóng nhân dân Eritrea, người giành chiến thắng trước Ethiopia và tuyên bố độc lập cho Eritrea vào năm 1991, rồi được bầu làm tổng thống qua trưng cầu dân ý vào năm 1993 và Thủ tướng Ethiopia Meies Zenawi. Từ khi Clinton lên cầm quyền, một mặt trận chống Hồi giáo hình thành ở Mỹ. Ngày 18/8/1993, Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Sudan vào danh sách các nhà nước hỗ trợ khủng bố, từ đó biến nước này thành một “Nhà nước không lương thiện”. Bà Madeleine Albright, đại diện của Mỹ tại Liên hợp quốc vào lúc đó, quan tâm đến tầm quan trọng của Sudan trong viễn cảnh cuộc xung đột ở Trung Đông. Bà đặt câu hỏi về khả năng lật đổ chế độ Bashir/Torabi để dựng lên chính phủ John Garang, chính khách và nhà quân sự Sudan đã chết năm 2005. Thay đổi như vậy ở cấp lãnh đạo cao nhất Sudan có thể sẽ bảo đảm an toàn cho chính sách gây áp lực đối với người Palestine. Chính với nhãn quan đó mà sự hỗ trợ cường độ thấp đối với Tổng thống Rwanda Paul Kagamé sau đó được Clinton biến thành cam kết vững chắc để giúp ông lên nắm quyền và, từ đó, làm vui lòng Yoweri Museveni, nhân vật chủ chốt của chế độ được dựng lên, và qua đó khiến các chiến binh thiện chiến châu Phi theo Thiên chúa giáo tập hợp xung quanh John Garang.

Vụ khủng bố vào Trung tâm thương mại thế giới ở New York tháng 2/1993 khiếnWashington quyết tâm tạo ra phương tiện và tìm cách để tiếp tục gây áp lực mạnh đối với Khartum. Việc Bin Laden sống ở Sudan từ năm 1991 đến năm 1996 càng khiến Chính phủ Mỹ quyết tâm hơn trong việc vô hiệu hóa chế độ Khartum. Bà Susan Ricekhẳng định về vấn đề này như sau: “Sudan là nhà nước châu Phi duy nhất ở vùng Hạ Xahara là mối đe dọa đối với lợi ích và an ninh của nước Mỹ.” Tổng thống Clinton cũng đi theo lôgích

đó nên tháng 11/1997 ban hành sắc lệnh Executive Order 13067 tăng cường trừng phạt đối với Khartum. Theo Chính phủ Mỹ, tình hình ở Sudan là mối đe dọa đặc biệt và bất thường đối với an ninh quốc gia và chính sách đối ngoại của Mỹ. Chính quyền Washington phản đối hành động và chính sách của Khartum, đặc biệt vì Sudan hỗ trợ khủng bố quốc tế.

Tuy nhiên, người ta nhận thấy có sự mập mờ nào đó của Mỹ vì Washington một mặt tỏ thái độ phê phán trong những vấn đề liên quan đến Darfur, mặt khác hỗtrợ Chính phủ Sudan trong cuộc chiến chống khủng bố. Chính phủ Sudan bí mật cung cấp gián điệp cho Mỹ để thu thập thông tin về cuộc nổi dậy ở Iraq. Khartumdường như cũng hỗ trợ Mỹ trong việc vô hiệu hóa Tòa án Hồi giáo ở Somalia, duy trì mối liên hệ với một số thành viên ôn hòa của tổ chức này và một số thủ lĩnh chiến tranh.

Trái lại, Sudan là nhà cung cấp dầu mỏ quan trọng của Trung Quốc. Năm 2010, Trung Quốc, vượt qua Mỹ trở thành nước tiêu thụ năng lượng nhiều nhất thế giới. Đối với ban lãnh đạo chính trị Trung Quốc, dầu mỏ trở thành “nỗi ám ảnh quốc gia” thực sự. Nước này chỉ nắm giữ 1,7% trữ lượng dầu mở thế giới, trong khi nhu cầu gia tăng một cách chóng mặt. Đến năm 2020, Trung Quốc sẽ phải nhập khẩu 10-15 triệu thùng/ngày, gấp hơn hai lần sản lượng hiện nay của Saudi Arabia, tương đương với toàn bộ sản lượng của châu Phi. Để khắc phục sự thiếu hụt trầm trọng đó, Trung Quốc triển khai trên toàn bộ các vùng chiến lược của thế giới một “chính sách ngoại giao tài nguyên” thực sự. Bắc Kinh xem xét lại trên diện rộng chính sách nhập khẩu dầu mỏ và thực hiện một chính sách năng lượng mới. Trong viễn cảnh đó, mối quan tâm về mặt địa chiến lược đối với châu Phi tăng lên đáng kể trong chính sách năng lượng của Trung Quốc. Đối với nước này, các nước châu Phi, trong đó có Sudan, là một kiểu “miền đất hứa mới”.

Trong, lòng đất Sudan có rất nhiều dầu mỏ và chỉ riêng dầu mỏ của nước này đáp ứng 10% nhu cầu của Trung Quốc. Năm 2008, Trung Quốc nhập từ Sudan mỗi ngày trung bình 800.000 thùng. Sudan là nước duy nhất ở châu Phi mà Trung Quốc khai thác dầu mỏ bằng chính các công ty của mình. Điều này còn được Bắc Kinh coi là thành công và giải thích tại sao tất cả các lãnh đạo củaChina National Petroleum Corporation (CNPC) đều được đền đáp bằng việc thăng chức trong Đảng cộng sản. Tại Sudan, Trung Quốc khai thác dầu mỏ ở vùng lòng chảo Muglad thông qua CNPC và trở thành nước mua dầu mỏ hàng đầu và nắm giữ hơn 40% vốn của tổ họp Greater Nile Petroleum OperatingCompagny (GNPOC) của Sudan.

Những dấu hiệu của cuộc chiến bí mật Mỹ-Trung ở Sudan vừa thể hiện thông qua sự hỗ trợ của Trung Quốc đối với chế độ Khartum, vừa bằng sự chia tách đất nước và sự ra đời của Nam Sudan được Mỹ đạo diễn.

Về sự hỗ trợ của Bắc Kinh đối với chế độ Khartum, tăng cường hợp tác song phương giữa Trung Quốc và Sudan trong các lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp, giáo dục và y tế, cộng với một khoản viện trợ tài chính quan trọng, giúp Trung Quốc trở thành đối tác kinh tế quan trọng nhất của Sudan. Kim ngạch thương mại đã vượt ngưỡng 3 tỷ USD vào năm 2009. Do đó, Trung Quốc quyết tâm bảo vệ chế độ Sudan trước áp lực của các cường quốc phương Tây. Trung Quốc quả thực hỗ trợ Sudan tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về vấn đề Darfur. Khi Tổng thống Omar al-Bashir phản đối việc triển khai quân Liên hợp quốc để thay thế binh sĩ Liên minh châu Phi ở miền Tây, Trung Quốc không bỏ phiếu theo hướng này, đồng thời phản đối việc thông qua mọi biện pháp trừng phạt đối với chế độ Khartoum, rồi cuối năm 2006 từ chối một hành động quốc tế chung trong khuôn khổ giải quyết cuộc xung đột, vì muốn thực hiện lợi ích của mình vớiKhartum.

Năm 2004, Bắc Kinh quả thực dọa dùng quyền phủ quyết để phản đối nghị quyết 1564 của Hội đồng Bảo an Liên họp quốc về cấm vận vũ khí đối với Sudan do Mỹ đề xuất. Rồi tháng 8/2006, nhờ sự hỗ trợ của Bắc Kinh nên Khartum chống lại được áp lực của quốc tế, cụ thể là của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc muốn thông qua nghị quyết 1706 đưa 17.300 lính Mũ nồi Xanh đến thay thế 7.000 lính Mũ nồi Trắng của Liên minh châu Phi. Hơn thế nữa, ngày 23/10, Jan Pronk, đại diện đặc biệt của Tổng thư ký Liên hợp quốc, bị trục xuất khỏi Sudan. Như vậy, các biện pháp trừng phạt của Mỹ và quốc tế được tăng cường bao nhiêu, ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Sudan gia tăng bấy nhiêu.

Cộng đồng quốc tế buộc phải thương lượng với Trung Quốc để đưa lính Mũ nồi Xanh đến. Bắc Kinh trong thế mạnh đưa ra điều kiện của mình để tham gia sứ mệnh này. Trung Quốc cho mình là người cứu vãn tình thế, đầu tư ồ ạt vào Sudan, cung cấp vũ khí cho nước này và hết sức bảo vệ Sudan tại Hội đồng Bảo an Liên họp quốc.

Về phần mình, Mỹ tìm cách phá vỡ Sudan. Vụ khủng bố 11/9, dự trữ dầu mỏ quốc gia giảm dẫn đến sự lệ thuộc vào các nhà cung cấp nước ngoài, cộng với việc Hugo Chavez. Tổng thống Venezuela đã qua đời, quốc hữu hóa ngành dầu mỏ, thúc đẩy toàn bộ chính giới Mỹ phải xác định lại các vùng lợi ích chiến lược mới đối với việc cung ứng năng lượng cho nước mình. Điều đó có nghĩa là giống như các cường quốc công nghiệp khác, Mỹ rất quan tâm đến tài nguyên châu Phi, cụ thể là ở Sudan. Kể từ khi Nam Sudan tuyên bố độc lập ngày 9/7/2011, Mỹ ủng hộ chính phủ nước này nhằm không cho Trung Quốc tiếp cận các mỏ dầu thuộc sở hữu của Nhà nước thứ 193 của thế giới này. Đó là khoảng 80% trữ lượng dầu mỏ của nước Sudan cũ. Để có được nguồn dầu mỏ quan trọng này, ngăn chặn Trung Quốc vào Nam Sudan và vô hiệu hóa chế độ Hồi giáo Khartum, Mỹ sử dụng tất cả bộ máy tạo ra sức mạnh của mình. Mối quan tâm của Mỹ đối với Sudan được khẳng định dưới thời Tổng thống Obama qua việc bố nhiệm đặc phái viên Scott Gration, một viên tướng về hưu. Nhiệm vụ của nhân vật này là thúc đẩy chính sách mở cửa đối với Chính phủ Sudan thông qua việc thực hiện chính sách cây gậy và củ cà rốt, đồng thời tìm cách bảo đảm lợi ích của Mỹ ở Nam Sudan.

Chính phủ Mỹ trước hết hỗ trợ về nhiều mặt đối với Quân đội giải phóng nhân dân Sudan (SPLA) của John Garang. Để thực hiện việc này, viên Đại tá Mỹ Richard Orthđóng vai trò chủ chốt trong việc cung cấp vũ khí cho SPLA. Trong cuộc chiến chiến lược này, Washington đưa cả xã hội dân sự của mình vào cuộc theo một lôgích mới. Trong khuôn khổ đó, hành động của một số người như Roger Winter (nhân vật tân bảo thủ, một trong những người nguy hiểm nhất đối với Sudan theo đánh giá của GhaziSalahdin, cố vấn của Tổng thống Omar al-Bashir), góp phần đáng kể vào việc làm suy yếu, thậm chí phá vỡ Sudan. Đối với ông Roger Winter, giải pháp tốt nhất để chấm dứt cuộc chiến tranh giữa miền Bắc và miền Nam Sudan là “miền Nam – nơi một số vùng xung đột có thể sát nhập vào, phải tách khỏi miền Bắc Sudan và trên thực tế, là một nước độc lập và có chủ quyền”. Ông tham gia tất cả các cuộc họp của Phòng chính trị SPLA. Trong một cuộc họp báo tại Viện hòa bình Mỹ tại Washington ngày 17/9/1997,Roger Winter yêu cầu “Chính phủ Mỹ hỗ trợ hoàn toàn một cuộc chiến nhằm đánh đổChính quyền Khartum, cho dù có phải gây ra thảm họa nhân đạo”. Theo nhân vật này, đó sẽ là một cuộc chiến mượn tay người khác, bằng cách sử dụng quân đội Uganda và Eritrea, với vũ khí, hậu cần và công tác huấn luyện của Mỹ. Năm 2004, ông được bổ nhiệm làm đại diện đặc biệt của Bộ Ngoại giao Mỹ trong các cuộc thưong lượng giữaKhartum và quân nổi dậy Nam Sudan. Cuộc thương lượng đó dẫn đến việc ký kết Hiệp định hòa bình toàn diện chấm dứt cuộc chiến tranh giữa miền Bắc và miền Nam và cho phép miền Nam được độc lập vào năm 2011. Mối liên hệ giữa John Garang và các phong trào nổi dậy ở Darfur được Roger Winter đảm nhận và ông này đóng vai trò quyết định trong việc cung cấp cho họ vũ khí, đạn dược và máy bay qua Nairobi (sân bay Wilson), Rumbek (thành phố ở Nam Sudan), nơi máy bay tiếp nhiên liệu và chất vũ khí đạn dược để bay đến một sân bay ở Bắc Darfur. Từ khi Nam Sudan độc lập, ông trở thành cố vấn của chính phủ Juba.

Hơn thế nữa, một đồng minh của Washington trong cuộc chiến chống khủng bố quốc tế là Israel cũng coi Sudan là quốc gia rất nguy hiểm vì nước này hoàn toàn có khả năng hỗ trợ các kẻ thù của mình. Tại một hội nghị diễn ra ở Viện an ninh vào đầu tháng 9/2008, Bộ trưởng An ninh nội địa Israel, Avi Dichter, tuyên bố: “Chúng tôi phải làm sao để Sudan luôn phải quan tâm đến các vấn đề ở trong nước.” Ông nói tiếp: “Điều quan trọng là Sudan không ổn định được lâu dài. Điều quan trọng nữa là Israel duy trì cuộc xung đột ở Nam Sudan trong ba thập kỷ và hiện đang duy trì xung đột ở Tây Sudan, cần làm gì đó để Sudan không trở thành một cường quốc có ảnh hưởng ở châu Phi và thế giới Arập.” Avi Dichter còn khẳng định tại Mỹ có một số lực lượng quan trọng, trong trường hợp để Nam Sudan được độc lập, ủng hộ việc can thiệp có hỗ trợ vào Sudan vàDarfur giống như những gì đã diễn ra ở Kosovo.

Lập trường đó giúp Washington làm suy yếu Sudan, một trong những đối tác của Trung Quốc ở châu Phi, bằng cách làm cho nước này tan vỡ. Sự chia tách đất nước đó càng không hay đối với Trung Quốc khi 3/4 nguồn tài nguyên dầu mỏ nằm ở miền Nam, thuộc ảnh hưởng của Mỹ. Nhưng sau chuyến thăm của bà Clinton ngày 3/8/2012 tại Juba ở Nam Sudan, một thỏa thuận đã được ký kết giữa hai bên, theo đó Juba trả choKhartum, trong vòng ba năm rưỡi, 9,48 USD/thùng dầu xuất khẩu. Hơn nữa, Nam Sudan cũng chấp nhận chi gần 3 tỷ USD cho người láng giềng phương Bắc để đền bù thiệt hại về thu nhập từ khi chia tách./.

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d người thích bài này: