BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

1884. Giải pháp nào cho vấn đề biển Đông trong hoàn cảnh mới?

Posted by adminbasam trên 07/07/2013

Ngày 1/8 tới, Trung tâm Minh triết sẽ có buổi họp mặt các tác giả có bài về biển đảo Việt Nam. Nhân dịp này, BS xin giới thiệu một trong số các bài viết về đề tài biển Đông trong bối cảnh sau các cuộc gặp cấp cao Trung-Mỹ và Việt-Trung:


Đinh Hoàng Thắng & Hoàng Việt*
 

Luật quốc tế UNCLOS và bộ Quy tắc COC không được thể hiện trong Tuyên bố Việt-Trung. Tin về biển Đông ở Cấp cao Trung-Mỹ cũng không nhất quán. Bối cảnh này khiến việc tìm kiếm giải pháp cho các tranh chấp biển đảo trong khu vực tiếp tục là vấn đề cấp bách. Quyền lợi của ngư dân Việt tại Hoàng Sa, Trường Sa không thể không được đảm bảo.

Xin được kiến nghị một dạng thức “mô hình giải pháp” (solution model, paradigm), bao gồm năm biện pháp (measures), gọi là P-DOWN. Đây là một tập hợp năm chữ cái tiếng Anh, mỗi chữ cái tiêu biểu cho một biện pháp: PPartnership (Đối tác), DDemocracy (Dân chủ), OCoC for Ocean (bộ Quy tắc ứng xử trên biển Đông), WWisdom (Minh triết) NNetwork (Kết nối). Mô hình năm biện pháp này là cách tiếp cận theo tư duy hệ thống đối với các tranh chấp phức tạp ở biển Đông trong bối cảnh Đông Nam Á hậu Chiến tranh Lạnh. Vấn đề trở càng trở nên cấp bách sau cuộc gặp cấp cao Tập-Obama và chuyến thăm cấp nhà nước Trung Quốc của Chủ tịch Trương Tấn Sang. Bởi vì, nhiều chỉ dấu cho thấy, cấp cao Trung-Mỹ và cấp cao Việt-Trung dường như làm tăng thêm tính bất định cho cục diện trên biển Đông.

Tình hình hiện nay, theo nhận định của TS. Ian Storey từ Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Singapore), tiếp tục diễn biến theo chiều hướng tiêu cực. Các bên liên quan vẫn giữ lập trường cũ, đặc biệt là Trung Quốc, vẫn nhất quyết đeo bám yêu sách về chủ quyền lãnh thổ và và đòi hơn 80% diện tích biển Đông. Tại hội đàm cấp cao Việt-Trung mới đây nhất, mặc dù hai bên cam kết thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện nhưng cũng chỉ có Chủ tịch Trương Tấn Sang nêu đề nghị cần tăng cường phối hợp, xử lý thỏa đáng, bảo đảm lợi ích và quyền lợi của ngư dân Việt Nam. Tiến trình CoC và việc tuân thủ Công ước LHQ về Luật Biển (UNLOS-1982) không được khẳng định trong Tuyên bố chung và các văn kiện chính thức. Trong tiếp xúc cấp cao Trung-Mỹ, ông Tập Cận Bình tiếp tục khẳng định nhất quyết bảo vệ cái gọi là “chủ quyền quốc gia của Trung Quốc” trên Hoa Đông và biển Đông.

Môi trường tiếp tục phức tạp

Có lẽ ít ai hoài nghi về tầm quan trọng của bang giao Trung-Mỹ đối với các mối quan hệ quốc tế thế kỷ XXI. Tuy nhiên, cục diện thế giới đa cực ngày nay khác xa với môi trường quốc tế của những năm 1970, thời điểm “tam quốc” Mỹ-Xô-Trung tranh hùng. Cho dù ông Tập Cận Bình, ngay trong ngày đầu của cuộc gặp đã cố ý so sánh cấp cao Cali với chuyến thăm của ông Nixon sang Bắc Kinh năm nào, song ít ai tin rằng những ngày qua, ông Tập và ông Obama đã có các thỏa thuận có thể khuynh đảo thế giới như kỷ nguyên “hai phe bốn mâu thuẫn” ấy! Hẳn nhiên thời nào thì bang giao Trung-Mỹ, Việt-Trung cũng đều có không gian cho thỏa hiệp và căng thẳng, hợp tác và cạnh tranh. Các mối bang giao này vốn đã phức tạp, sau cấp cao Cali, cấp cao Bắc Kinh không ai nghĩ là chúng sẽ đơn giản hơn. Dư luận trong/ngoài khu vực quan tâm đến môi trường mới ở biển Đông là vì thế.

Theo TS. Bonnie Glaser, nữ cố vấn cao cấp của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) Hoa Kỳ, quan trọng nhất ở đây là bản chất của mối quan hệ: “Cả Tổng thống Obama lẫn Chủ tịch Tập Cận Bình đều nhận thức rằng, Mỹ và Trung Quốc cũng như toàn thế giới sẽ phải gánh chịu hậu quả nặng nề nếu hai nước sa vào vết xe đổ của lịch sử, khi một cường quốc mới nổi thách thức một cường quốc đang đứng đầu thế giới và kết thúc bằng xung đột quân sự. Tại cuộc gặp gỡ Cali, hai nhà lãnh đạo đã bàn thảo về mô thức quan hệ mà hai bên mong muốn, như ông Tập Cận Bình tuyên bố với báo giới là một mối quan hệ dựa trên nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, đôi bên cùng có lợi và mở rộng sự hợp tác”.

Về khả năng thỏa thuận ngầm, Phó Giám đốc Viện Viễn Đông Sergei Louzyanin phân tích, ông Obama sẵn sàng có nhượng bộ mang tính chiến thuật, bởi tới nay Trung Quốc vẫn là chủ nợ lớn nhất của Mỹ, là thị trường quan trọng đối với các tập đoàn Hoa Kỳ. Từ khi mở ra giao thương, lúc nào cán cân mậu dịch của Mỹ cũng bị thâm hụt và số thâm hụt ngày càng tăng. Năm 2011, hàng “Made in China” vào Mỹ trên 399 tỷ USD, trong khi Mỹ chỉ bán cho Trung Quốc được 104 tỷ, thâm thủng 295 tỷ. Năm 2012 Mỹ nhập của Trung Quốc trên 425 tỷ và bán cho Trung Quốc chỉ có 110 tỷ, thâm thủng 315 tỷ. Tuy nhiên, sức mạnh thật sự lại không nằm trong tay nước có dự trữ ngoại hối lớn mà lại ở trong tay nước có thể dễ dàng đi vay bằng đồng nội tệ của chính họ. Chưa nói, ràng buộc đồng Nhân dân tệ vào đồng USD đang đặt Trung Quốc trước không ít rủi ro!

Mỹ-Trung còn dè chừng nhau bởi nhiều chuyện khác, trong đó đáng quan tâm nhất là chiến lược “Á tâm” và quá trình “tái cân bằng” các lực lượng vũ trang của Mỹ sang Thái Bình Dương. Ngoài ra, gián điệp mạng, khả năng chạy đua vũ trang trên không gian của Trung Quốc… đều là những vấn đề “nóng” trong nghị trình. Theo ông Thẩm Định Lập, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Mỹ của Đại học Phục Đán ở Thượng Hải, cách xử lý của Tổng thống Obama đối với Bắc Kinh mang tính đối đầu nhiều hơn so với người tiền nhiệm George W Bush: hai lần Obama quyết định bán vũ khí cho Đài Loan và hai lần gặp gỡ Đức Đạt Lai Lạt Ma (Bush chỉ có một lần). Một số phân tích vẫn cho rằng, sau cấp cao Cali để “bắt mạch và nắn gân nhau” dường như hai bên vẫn chưa định hình được khuôn khổ của cái gọi là “mô thức mới” trong quan hệ. Hai bên vẫn như những đối thủ trong thế giằng co nhau trên sới vật.

Kết thúc cấp cao, món quà ông Obama tặng ông Tập là một chiếc ghế băng. Mặt trước ghế được khắc ngày tháng hai vị đàm đạo kèm theo dòng chữ Hán, viết rằng chiếc ghế băng được làm từ gỗ đỏ California. Trong lúc đi dạo ngoài trời tại khu nghỉ mát đầy nắng gió ở California, ông Tập đã cùng ông Obama ngồi lại một lúc trên chính chiếc ghế ấy. Lãnh đạo hai cường quốc thế giới đã dành tám tiếng đồng hồ trong hai ngày để “kết giao” và thảo luận về một số lĩnh vực mang tính biểu trưng cao, bao gồm vấn đề an ninh mạng (quan hệ song phương), phi hạt nhận hóa bán đảo Triều Tiên (vấn đề an ninh khu vực) và biến đổi khí hậu (mối quan tâm toàn cầu). Cho đến nay, các nguồn tin về vấn đề biển Đông tại Cấp cao Cali không nhất quán.

Dù sao, cuộc gặp Cali vẫn đặt các nước châu Á trước một một môi trường lành ít dữ nhiều do sự hung hăng của Trung Quốc và “sự ỡm ờ chiến lược” (strategic ambiguity) của Hoa Kỳ. Cả hai người đàn ông quyền lực nhất hành tinh muốn qua “so găng” để khẳng định dấu ấn cá nhân trong hoạch định chính sách, xây dựng quan hệ siêu cường kiểu mới, thực hiện “giấc mơ Mỹ” lẫn “giấc mộng Trung Hoa”. Còn nhiều dịp có thể hiểu thêm về tầm vóc lẫn vị thế của hai nhân vật “kỳ phùng địch thủ” này trong lịch sử đương đại, vì họ còn gặp nhau trong tương lai gần. Điều chắc chắn, biển Đông tiếp tục là võ đài để cả hai thi thố sức mạnh lẫn kế sách, đồng thời là địa danh nguy hiểm vì khả năng đụng độ cao. Hai nỗ lực then chốt nhằm đi tới giải quyết tranh chấp mà Việt Nam và thế giới luôn nhấn mạnh trong những năm gần đây và đón đợi nhiều từ cấp cao Bắc Kinh là các cam kết đối với CoC và Công ước Liên Hiêp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) bị gạt khỏi các văn kiện chính thức.

Tiếp cận theo tư duy hệ thống

Trong môi trường đầy thách thức về địa-chính trị như vậy, lãnh đạo Việt Nam sớm tiên liệu được các xu hướng đe dọa đến an ninh và phát triển của đất nước. Ngoài việc ưu tiên cao và liên tục bồi đắp “sức mạnh cứng”, từ nhiều năm trước, lãnh đạo Việt Nam đã khẳng định quyết tâm xây dựng “sức mạnh mềm”. Một trong những biểu hiện của quyết tâm này là sớm thiết kế hệ thống “đối tác chiến lược” với các nước thường trực HĐBA (P5) như một sự đột phá, một sự “trở về nguồn” của tư duy đối ngoại. Trong lịch sử, khi tham gia phe đồng minh chống phát xít, Đảng CSĐD cũng từng xác định: “Ta có mạnh thì họ mới chịu ‘đếm xỉa đến’. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay kẻ khác, dầu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”**. Vấn đề đối tác (P) không chỉ là khởi nguồn của quá trình “làm cho ta mạnh”, mà còn gắn liền với việc xây dựng hệ thống của Việt Nam về cân bằng và đối trọng. Không ngừng làm sâu sắc thêm bang giao với Nhật Bản và Nga, Ấn Độ và Úc, Hàn Quốc và Eu phản ánh chính những nỗ lực này. Con đường triển khai chủ trương không phải lúc nào cũng suôn sẻ, nhưng một khi đã nhất tâm trở lại với các giá trị “dân tộc và dân chủ”** thì không gì có thể cản trở được lộ trình đi tới các đối tác chiến lược ấy.

Liên quan đến vấn đề dân chủ (D) và độc lập dân tộc, ông Nguyễn Phú Trọng đã từng phát biểu ở Hội nghị TW 6 (ngày 15/10/2012): Bộ Chính trị, Ban Bí thư là một tập thể lãnh đạo kiên quyết bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Vậy là, chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc chiếm ưu tiên trong chiến lược lãnh đạo. Các giá trị thiêng liêng ấy gắn bó máu thịt với con dân đất Việt từ khắp mọi góc bể chân trời. Vì thế, “lòng tin chiến lược” từng tuyên bố tại diễn đàn Shangri-La cần tiếp tục được xây dựng với chính người dân trong và ngoài giải đất hình chữ S thì mới thực thi được bài học dân chủ trong hoàn cảnh mới. Dân chủ sẽ chọn được nhân tài cho đất nước, tạo ra đồng thuận xã hội. Dân chủ sẽ phát huy thế trận lòng dân được tôi luyện qua lịch sử dựng nước và giữ nước. Được như vậy, Việt Nam mới có thể thành một quốc gia mạnh, vượt lên được chính mình để viết tiếp câu chuyện cổ tích hiện đại tại vùng đất Davos này của châu Á.

Dân chủ, đồng thuận xã hội là điểm tựa bên trong. Hệ thống đối tác chiến lược là điểm tựa bên ngoài. Đây là hai nền tảng vững chắc cho công cuộc vận động ngoại giao, trong đó có việc phấn đấu cùng ASEAN đẩy nhanh tiến trình CoC, bộ Quy tắc ứng xử trên biển Đông (O). Muốn chủ động đối phó với tình trạng không rõ ràng trong quan hệ Trung-Mỹ nói chung và trên biển Đông nói riêng, phải mạnh trong các kết nối quốc nội và quốc tế. Phải coi trọng vai trò ASEAN như một nhân tố trung tâm của các tiến trình. Hẳn nhiên, Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ không vì biển Ðông mà gây chiến. Nhưng biển Đông cũng không nhờ thế mà được yên ổn. Kế sách của Trung Quốc là không trực tiếp đối đầu với Mỹ, nhưng sẽ tìm mọi cách để Mỹ không thể can thiệp vào quyền lợi ích kỷ của Bắc Kinh trên biển Đông. CoC tuy không thay đổi được chính sách của Trung Quốc, nhưng sẽ góp phần thay đổi “luật chơi” trên biển. Chủ nghĩa đa phương, so sánh lực lượng và lợi ích địa-chính trị của các bên đang và sẽ tiếp tục là những nhân tố quyết định cuộc chơi.

Song song với tiến trình P – D – O, chúng ta có thể mạnh mẽ thúc đẩy các dự án W “Minh triết làm chủ biển Đông”!  Chương trình này vốn xuất phát từ một dự báo thiên tài của tiền nhân cách đây 500 năm: “Vạn dặm biển Đông dang tay giữ / Muôn năm cõi Việt vững thanh bình” (Nguyễn Bỉnh Khiêm). Minh triết làm chủ biển Đông là một quan niệm mới/một tư duy mới về làm chủ dựa trên tâm thức văn minh của thời đại, biết bảo vệ chủ quyền của mình và tôn trọng chủ quyền của các quốc gia khác trên cơ sở hòa bình, hợp tác thân thiện, biết chia sẻ trách nhiệm và lợi ích (Việt Nam nên sớm kết thúc đàm phán với ASEAN về các vấn đề liên quan đến chủ quyền). Từ nay cần nhân rộng các dự án “Minh triết làm chủ biển Đông” ra khắp cả nước. Đây là sáng kiến của Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Minh triết. Trung tâm đang “nối vòng tay lớn” liên kết các đơn vị nghiên cứu về bảo vệ chủ quyền biển đảo, về các vấn đề kinh tế, văn hóa và khoa học biển đảo thành một mạng lưới rộng lớn nhằm tìm kiếm giải pháp từng phần và chung cuộc cho vấn đề biển Đông hiện nay.

Kết nối (N) sự chủ động của Việt Nam với các sáng kiến lớn trong khu vực vốn là một ý tưởng vượt trội xuất hiện cách đây khá lâu từ thời ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm. Phấn đấu sao cho an ninh và phát triển của Việt Nam trở thành một bộ phận cơ hữu của an ninh và phát triển khu vực. Chủ trương hội nhập toàn diện từ Đại hội XI cho phép chúng ta cùng lúc có thể tham gia vào nhiều cấu trúc mở về chính trị, kinh tế và chiến lược như EAS, TTP, hay RCEP***. Việt Nam có thể cập nhật lời kêu gọi của Indonesia về một hiệp ước kiềm chế xung đột ở châu Á, “Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mở rộng”. Cùng với các thành viên khác trong cộng đồng, Việt Nam nên chủ động hơn nữa để thích nghi với “Trật tự Á-Thái” (Pax Asia-Pacifica). Hãy nêu cao bài học của Singapore hay Israel để thấy vai trò của các nước vừa và nhỏ trong hệ thống quốc tế hiện đại. Sự chuyển tiếp của các xã hội khép kín như Myanmar và gần đây nhất là Iran cho ta những trải nghiệm quý báu về tính đàn hồi và năng động của các quốc gia có thân phận phần nào giống Việt Nam.

Hẳn nhiên là các thành tố trong “mô hình P-DOWN” có những tương tác đặc biệt, như là một sự “tùy duyên” hay “tương hỗ”. Không đổi mới về chính trị, không thành tựu về dân chủ hóa trong sinh hoạt nội bộ thì khó có thể xây dựng và thúc đẩy các quan hệ đối tác chiến lược một cách thực chất. Chính hệ thống đối tác chiến lược ấy sẽ nâng chất lượng đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam lên một tầm cao mới so với thời kỳ đầu mở cửa. Chất lượng mới này, đến lượt nó sẽ thay đổi đời sống kinh tế-xã hội trong nước theo hướng ngày càng tích cực. Trong toàn bộ mô hình, thành tố này là tiền đề cho thành tố kia và ngược lại. Dân chủ hóa đất nước là một lợi khí và lợi thế mà đối thủ của Việt Nam hết sức lo ngại, thậm chí đã nhiều lần rắp tâm phá hoại. Ngược lại, đó là điều người dân trong nước cũng như bao bạn bè lẫn đối tác của Việt Nam vẫn hằng đón đợi. Chính sách đối ngoại, vì vậy, không còn là sự kéo dài của chính sách đối nội, mà cả hai đều nằm trong một chiến lược tích hợp vì an ninh và phát triển bền vững của đất nước. Dù môi trường biển Đông có phức tạp đến mấy, nếu chủ động ngay từ bây giờ, P-DOWN sẽ là một trong những chìa khóa an toàn!

*

Tính hợp trội (Emergence) của hệ thống toàn cầu chính là sự nổi lên của các cấu trúc và sự cố kết trong quá trình tự tổ chức của hệ thống. P-DOWN là mô thức tổng quát, nếu được định hình và ứng dụng có thể sẽ phù hợp với chủ nghĩa khu vực mở ở châu Á-TBD. Các lợi thế do tính hợp trội này mang lại có thể là: i) Hệ thống các đối tác chiến lược sẽ trở thành sức mạnh chế ngự mọi tham vọng quá khích, hiếu chiến; sẽ là quyền lực bao quát cái toàn thể, không hội đủ trong từng đơn vị quốc gia hợp thành), ii) Dân chủ hóa sẽ đoàn kết bên trong và tạo ra sự cố kết giữa bên trong với bên ngoài, bảo đảm độ bền vững của tiến trình, iii) Luật quốc tế là cơ sở tạo thành bộ Quy tắc ứng xử CoC, sau này có thể hội nhập với các cấu trúc khác đang định hình trong khu vực, như EAS, TPP, RCEP, iv) Tư duy minh triết sẽ hội tụ, liên kết và mở rộng mạng lưới như một quá trình tiến hóa, chứ không đột biến cách mạng (gây sốc/đổ vỡ) và v) Kết nối trong nước và trên toàn cầu mang lại tính đại diện cao nên dễ được cộng đồng quốc tế và khu vực chấp thuận.

Năm biện pháp từng phần để đi tới mô hình hợp nhất này là một tiến trình đi tới giải pháp tổng thể. Hẳn nhiên, tiến trình này sẽ còn gặp nhiều trở lực, thậm chí chống đối và cả sự phá hoại ngầm và công khai từ nhiều phía. Để P-DOWN thành công, phải vô hiệu hóa được các thế lực chống phá ấy, phải vượt qua trở lực do các “ma-sát xấu” của nền ngoại giao ý thức hệ rơi rớt lại. Rất có thể, đây sẽ là đề tài tiếp theo của bài viết mới, một khi các điều kiện cho phép hội đủ, chúng tôi sẽ phục vụ bạn đọc gần xa. Thiện tâm của người viết không hướng đến mô hình mang tính học thuật. Đây là yêu cầu cấp bách của tình thế. Nếu mô hình này được thực thi bài bản, hy vọng sẽ thêm một viên đá góp phần bảo vệ và xây dựng Hoàng Sa, Trường Sa. Bạn có thể quên nhiều điều trong bài viết này. Mọi lý thuyết đều màu xám! Song bạn đừng quên một loại quả lành trên đất Việt, đó là quả “bí đao”, phát âm hao hao với P-DOWN. Cái “bí”, cái “khó” chắc chắn sẽ làm “ló” cái khôn sáng, cái minh triết để bảo vệ và gìn giữ biển Đông cho đời này và muôn đời sau!

_________________________________

 

* TS. Đinh Hoàng Thắng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Vương quốc Hà Lan, Trưởng Nhóm Tư vấn Lãnh đạo Bộ Ngoại giao, hiện đang cộng tác với Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Minh triết. Ths. Hoàng Việt, Giảng viên Đại học Luật, Tp. Hồ Chí Minh.

** Trích từ Văn kiện đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II (tháng 2/1951), trong đó còn ghi rõ: “Chính sách ngoại giao của ta là chính sách ngoại giao có tính dân tộc và dân chủ. Nguyên tắc cơ bản của chính sách đó là: bảo vệ toàn vẹn độc lập, dân chủ, chủ quyền lãnh thổ và thống nhất quốc gia”.

*** EAS: Hội nghị Cấp cao Đông Á, gồm 18 thành viên, trong đó 16 quốc gia Đông Á  + Hoa Kỳ và Nga tham gia sau này, lấy ASEAN làm trung tâm. TPP: Hiệp định Đối tác Kinh tế-Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (gọi tắt là Hiệp định xuyên TBD) là thỏa thuận thương mại tự do với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương lại với nhau; Các vòng đàm phán do Hoa Kỳ chủ trì, hiện có 11 nước tham gia, trong đó có Việt Nam. RCEP: Hiệp định Đối tác Toàn diện Khu vực: gồm 16 thành viên (ASEAN+6 đối tác: 10 nước ASEAN + Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Australia và New Zealand, chính thức khởi động đàm phán ngày 20/11/2012, Việt Nam là một trong 16 thành viên của Hiệp hội. 

 

17 bình luận tới “1884. Giải pháp nào cho vấn đề biển Đông trong hoàn cảnh mới?”

  1. […] biển Đông trong bối cảnh sau các cuộc gặp cấp cao Trung-Mỹ…” href=”https://anhbasam.wordpress.com/2013/07/07/1884-giai-phap-nao-cho-van-de-bien-dong-trong-hoan-canh-mo…; rel=”nofollow”>1884. Giải pháp nào cho vấn đề biển Đông trong hoàn […]

  2. MH said

    CÁC BUỚC ĐI CHAO ĐÃO HIỆN NAY là MÀN ẢO THUẬT NHẰM TRÁNH NÉ ÂM MƯU BÁN NUỚC

    Mời xem : “Chĩ còn một lối đi như Miến điện là đổi luật chơi với TQ “

    Những buớc đi chao đảo hiện nay đủ cho thây Đãng và nhà nuớc hiện nay chĩ chống đỡ mọi biến cô dồn dập ào tới bằng cách tránh né .Các buớc đi chao đảo để tránh né tạo ra màn ảo thuật truớc mắt nhân dân nhằm kéo dài sự sống còn cuả Đãng nhằm che đậy một điều sinh tử là phủ nhận quyền sống cuả Đất nuớc và Dân tộc.
    Nhân dân chĩ còn trông cậy vào hàng ngũ nhân sỉ trí thức đứng lên giúp nhân dân VN trong giai đoạn lịch sử này .

  3. Biển Đông vẫn hoà bình said

    Mọi việc ở biển Đông đã có Đảng và Nhà nước lo, cụ thể là những lần họp cấp cao giữa Việt nam và Trung quốc lãnh đạo hai Đảng đều có tuyên bố chung về biển Đông. Nhờ vậy mà không khí tranh chấp giữa ta và Trung quốc nói chung là êm thắm trong khi Philipin vì không cùng ý thức hệ Cộng sản nên họ phải vất vã chống đở trước Trung quốc. Phải nhìn xuyên suốt vấn đề mới thấy là Đảng, Nhà nước ta rất vận dụng khôn khéo trong đường lối ngoại giao, mềm dẽo tiếp cận vấn đề trên cơ sở song phương , lợi dụng tình đồng chí anh em , nếu không thì ta đã nhanh chóng mất cả Trường sa rồi.
    Về lâu về dài với xu thế đòi hỏi quyết liệt 80% biển Đông của Trung quốc chưa hẳn ta còn có thể giữ được Trường sa thì phải tính thương thảo giao Trường sa cho Trung quốc để xin trả nợ việc Trung quốc đã viện trợ cho ta đánh Mỹ giải phóng đất nước. Tính ra ta vẫn có lợi, chỉ mất Hoàng sa , Trường sa mà nước Việt nam không bị đế quốc Mỹ xâm lược, ta còn nguyên vẹn một đất nước lục địa. Hơn nữa khi Trung quốc đã có Hoàng sa Trường sa thì vấn đề an ninh mặt biển ta không còn lo nừa vì các tàu của đế quốc Mỹ muốn xâm nhập vào nước ta phải đi qua Hoàng sa Trường sa do Trung quốc trấn giữ. Nên thời gian qua bộ quốc phòng vẫn nói về hoà bình là vậy , vì với chủ trương duy nhất đúng như vậy thì không thể có binh đao đến với Việt nam. Phải nói là dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng , nước ta mới có thiên hạ thái bình.

    • Khách said

      Có phải “Biển Đông vẫn hòa bình” là TBT Trọng đấy không?
      Hay bác là anh Tư Sang? Tướng Nguyễn Chí Vịnh?
      Hay cũng chỉ là loại tay sai chỉ biết còn đảng, còn mình, thà mất nước hơn mất sổ hưu?

    • MH said

      TỪ “ ĐẢNG” CHĨ DÀNH CHO BUỔI HỌP CHI BỘ

      1. Những lý luân cuả Biển Đông là không thể bác bỏ . Việc không thể này là ở thời điểm 1940s-70s lúc mà mọi nguời dân nghe lời Bác và Đãng lăng xã đổ máu vào hai cuộc chiến tranh giãi phóng và thống nhất mà không một nuớc thuộc điạ nào tại Á Châu nhão vào mà vẫn giàĩ phóng cho đất nuớc họ. Ngày nay , không ai không biết rằng “ Hồ Chí Minh dùng lòng yêu nuớc (trong hai cuộc chiến tranh “ giải phóng và thống nhất “) để truyên truyền chủ nghia Cộng sãn VÀO Việt nam” (Hà Sỉ Phu khám phá ). Phải nói là duơi sư sáng suốt cuả Đãng “ dẫn Mỹ vào khám xét Lăng Bác kính yêu(1) và tiếp tực trả nợ “cho cuồng tín , dốt nát cuả Bác và Đãng CSVN “ mà nuớc taa mới có thiên hạ thái bình” trên lưả!

      2. Diễn đàn này là nơi thảo luận cuả nguời dân trong thời đại tin học truớc các đại hoạ mất ruộng vuờn , mất biển mất nuớc. Đây toàn là những bức xúc cuả nguời dân bà chuyện nguời dân , hoàn toàn không mắc mớ gì tới ai.
      Đề nghị ông đồng chí “Biển Đông hay Biển Máu gì đó”làm ơn lần sau cất “Đãng” trong túi hay dành cho buổi họp Chi bộ Đãng cua ông thì hợp hơn.
      ————————————————-
      MỜI ÔNG “BIỂN ĐÔNG” HỌP CHI BỘ ĐƯA CÁI NÀY RA NÈ :
      “ĐÃNG DẪN MỸ LỤC SOÁT LĂNG BÁC HỒ TỪ 1992”
      Trong sách “Tour of Duty” : cuả Douglas Brinkley(1) , Thuợng Nghị Sĩ ,JOHN KERRY(2) kể lại như sau :
      “Tiếng đồn cho biết tù binh Mỹ đang bị nhốt làm con tin duới lăng Hồ Chí Minh tại Hà nội. Truớc đó, hãng tin Reuter đã chạy hai câu chuyện trong tháng Tám 1992 báo cáo nhiều tù binh Mỹ bị bắt giữ trong các đuờng hầm Hà nội sát lăng Hồ. Trong số tiếng đồn đáng thuyết phục nhất là cuộc phỏng vấn Đại sứ Nga tại Việt Nam .Đại sứ này tin rằng những lời đồn tệ hại đó là sự thực . Vì vậy , Thuợng nghị si Kerry cùng TNS Bob Smith quyết đòi hỏi phái đoàn phải đuợc “phép” điều tra khám xét tại chỗ . TNS Kerry nhớ lại :
      ” HỌ BẮT BUỘC CHÚNG TÔI KHÔNG ĐUỢC TIẾT LỘ (cuộc khám xét này ). THẬT LÀ KỲ CỤC ! ” Nhưng rồi chúng tôi cung khám xét các mồ mã trong hang rêu mốc và các đuờng hầm ngóc ngách đó “.(tạm dịch ,trang 450)
      ——————————–
      (1a) Sách ” Tour of Duty “: by Douglas Brinkley John Kerry and the Vietnam War (1):
      “The rumor was that US servicemen were being held hostage under Ho Chi Minh ’s tomb in Hanoi Reuters news service had run two stories in August 1992 claiming there were U.S. POWs being held captive in the underground tunnels of Hanoi near the Ho tomb. The most convincing of these was an interview with the Russian ambassador to Vietnam , who said he believed these grim rumors to be true. So Kerry , accompagned by (Senator) Bob Smith , insisted that they were ” permitted ” to conduct an on-the-spot investigation. “It was weird, Kerry recalled, We were forced to keep it quiet But there we were inspecting these musty catacombs ( mồ mã trong hang) and crazy tunnels” (page 450)

      (1b) Hình cuả TNS John Kerry đuợc Đãng treo trong Bảo Tàng Viện tai Hànội với câu ca tụng:” J. Kerry là một trí thức tiến bộ đã đóng góp to lớn vào sự nghiệp thống nhất cua nuớc ta.” Hì hì

  4. montaukmosquito said

    Bài này xứng đáng với tên công thức của nó

    P-Down! Down where?

    Mọi người nên ủng hộ bằng cách P cho nó Down.

  5. KTS Trần Thanh Vân said

    Đ/c Đại sứ có lý luận tốt và đang rất lưu ý mảng thực hành. Tôi xin ủng hộ đ/c mảng thực hành.

    Biển Đông mênh mông, nhiều chỗ hiểm, lắm cạm bẫy, chưa biết đâu mà lần, nên trước khi ra biển, hãy bơi thạo ở hồ. Tôi xin hỗ trợ đ/c Đại sứ bơi khỏe trên Hồ

    Hậu phương vững, ra khơi sẽ khỏe

  6. Bùi Thành Ca said

    Tôi không thấy khả thi ở dự án này. Không phải các tác giả đưa ra không đúng mà vì nó không có điểm nhấn.

    Về đánh giá chính sách của VN, các tác giả dựa vào “ông Nguyễn Phú Trọng đã từng phát biểu ở Hội nghị TW 6 (ngày 15/10/2012): Bộ Chính trị, Ban Bí thư là một tập thể lãnh đạo kiên quyết bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia.”, rồi đưa ra nhận định “Vậy là, chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc chiếm ưu tiên trong chiến lược lãnh đạo”. Nhận định này theo tôi không thỏa đáng bởi HNTW6 đề cập nhiều vấn đề, chắc chắn không phải vấn đề nào cũng được “ưu tiên”. Kinh nghiệm cho thấy, đừng nghĩ họ nói cái gì cũng thành thật, dù điều đó được nói trong đại hội hay hội nghị TW. Những vấn đề nào họ ưu tiên họ sẽ nói nhiều lần, nhiều cấp, nhiều ngành nói cùng lúc, băng rôn khẩu hiệu phải được treo đầy đường. Với những biểu hiện thời gian qua thì có thể khẳng định, vấn đề “kiên quyết bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia” chắc chắn không được ưu tiên.

    Về giải pháp, tôi nghĩ chỉ cần xem xét câu đánh giá của chính các tác giả là đủ: “Không đổi mới về chính trị, không thành tựu về dân chủ hóa trong sinh hoạt nội bộ thì khó có thể xây dựng và thúc đẩy các quan hệ đối tác chiến lược một cách thực chất”. Về tổng thể, đây là đánh giá đúng, nhưng về cụ thể thì nó quá chung chung và không tạo ra điểm nhấn. Thực ra vấn đề “đổi mới về hệ thống chính trị”, “dân chủ hóa” được họ nhắc đi nhắc lại trong các văn kiện từ năm 1930 đến nay nhưng họ có thực hiện đâu. Chính vì thế nhắc điều đó một cách chung chung thì hoàn toàn vô giá trị. Cần có giải pháp cụ thể: xóa bỏ điều 4 HP, trả lại quyền làm chủ thực sự cho người dân, hạ thấp quyền lực của đảng, nâng cao quyền lực của nhà nước.

    • Hoa Cải said

      Ý kiến của anh đây nghiêm túc, đúng đắn, vì tự do, dân chủ cho VN! Xin “bình” đoạn kết một tí: “Xóa bỏ Điều 4 HP, trả lại quyền làm chủ thật sự cho người dân, hạ thấp quyền lực của đảng, nâng cao quyền lực của nhà nước”. – – Đã xóa bỏ điều 4 HP thì không còn phải lo “hạ thấp quyền lực của đảng”, mà tự họ hạ bệ mà thôi. Một thể chế đa đảng, tam quyền phân lập, thượng tôn pháp luật, xã hội dân sự làm nòng cốt chính trị quốc gia, người ta thấy các đảng phái “rất dễ thương”, luôn gần gụi với mọi tầng lớp nhân dân. Không ai thấy họ có quyền gì cả ngoài quyền “xin phiếu”. “Đảng ta” quên thói lâu đời rồi, khó mà mặc cả với họ lắm. Đúng là “cái nết đánh chết không chừa”.

  7. […] 1884. Giải pháp nào cho vấn đề biển Đông trong hoàn cảnh mới? 07/07/2013 […]

  8. lộc Nguyễn said

    Ðảng Cộng sản đang nắm quyền hiện nay có những cái đầu u mê không còn biết gì ngoài quyền hành và lợi lộc!việc này để giải quyết hầu mang lại hòa bình cho xứ sở và phồn thịnh cho dân tộc có thể dễ như trở bàn tay:Làm theo các nước xung quanh xứ mình như Phi, Nhật,Thái ,Indonesia ,Mã lai:Ðể dân chúng tự do lựa chọn người hay đảng điều hành đất nước(nội lực mạnh),sau đó toàn thể dân chúng trên hoàn cầu sẽ luôn ủng hộ hay giúp đỡ dân tộc ta,Mỹ là một thế lực mạnh mẽ nhất mà Trung quốc e dè,nên bắt tay với họ để nhờ họ mà ta thoát khỏi sự bắt nạt của người phương bắc,hãy làm theo Myanma,toàn đảng thống trị đất nước Việt đã quá lâu,làm nhân dân khốn khổ đã nhiều,túi đã đầy,nên hạ cánh.

    • Hoa Cải said

      Đôi lúc cũng muốn “hạ cánh” nhưng phi trường còn hẹp, lại thiếu an toàn nên chấp nhận tiếp tục bay. Biết rằng nguy cơ gãy cánh không phải là thấp.

  9. Chu Mot said

    Đảng csvn nói khác với làm. “Bảo vệ độc lập và chủ quyền QG” chỗ nào khi toàn bộ đảng KHÔNG DÁM nâng mình mạnh lên về quân sự. Đem tiền của hoang phí vào các lễ hội, công tác tuyên truyền, tượng đài tốn kém; đợi đến lúc bị chỉ trích dữ dội, gần đây đảng mới mua số lượng nhỏ tàu ngầm, máy bay (mục đích đối phó với dư luận dân hơn chống giặc) tháng trước mới ra mắt lữ đoàn dù ! Từ 1978 đến nay, có ai trong chính-trị-bộ dám công khai đòi lại Hoàng-Trường Sa, ra mặt phản đối sự chiếm đóng phi pháp của TQ ? (chỉ là việc lập lại đến nhàm chán của “người phát ngôn”!)
    Nếu thấy bất lợi thì đừng ký kết vào VĂN KIỆN BÁN NƯỚC ấy, hởi “chủ-tịt-nước Nguyễn-tăm tối” ?

  10. bagan3 said

    Thuyết lý mà hai tác giả đưa ra không mới mẻ, nhưng rất cụ thể phù hợp với tình thế hiện hữu của VN.

    Ai sẽ áp dụng quốc sách này?
    Câu hỏi ngay đứa trẻ cũng biết nhưng thật sự trong các năm qua, nhà cầm quyền csvn lại muốn tự hiểu “cầm quyền tức cầm đồ” nên đã và vẫn đang áp dụng chính sách mafia nhuộm đỏ mang vỏ bọc đường lối xã hội XHCN anh em ( với nước Tàu).

    Tôi đồng ý với NHQ v/v đảng đã (và đang) quên “điều kiện thứ hai” mà bấy lâu nay các nhà tri thức yêu nước trong ngoài góp ý là dựa vào “nội lực” của Dân tộc Việt Nam.
    Nếu không được kẻ cai trị đất nước áp dụng thì cái kết luận (hay ho) của hai tác giả bài viết cũng bằng thừa !
    Mời quý vị tiếp tục tham gia…

  11. Nguyễn Hữu Quý said

    Xin được góp ý với hai tác giả.
    Bài này có mấy điểm đáng chú ý:

    Tại hội đàm cấp cao Việt-Trung mới đây nhất, mặc dù hai bên cam kết thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện nhưng cũng chỉ có Chủ tịch Trương Tấn Sang nêu đề nghị cần tăng cường phối hợp, xử lý thỏa đáng, bảo đảm lợi ích và quyền lợi của ngư dân Việt Nam. Tiến trình CoC và việc tuân thủ Công ước LHQ về Luật Biển (UNLOS-1982) không được khẳng định trong Tuyên bố chung và các văn kiện chính thức. Trong tiếp xúc cấp cao Trung-Mỹ, ông Tập Cận Bình tiếp tục khẳng định nhất quyết bảo vệ cái gọi là “chủ quyền quốc gia của Trung Quốc” trên Hoa Đông và biển Đông.
    ———-
    Như vậy là, việc ông Sang sang bên TQ ký một văn kiện nhưng không mang lại tích cực nào cho Đất nước, về vấn đề này đã có một số bài viết trên các diễn đàn Face Book, Blog… Ông Sang tuy cũng có đặt vấn đề, nhưng không được Bắc Kinh đếm xỉa đến, rồi lại phải ký những điều do họ soạn sẵn, có lợi cho TQ… Đây có thể được xem là một nỗi nhục được không?

    Dân chủ, đồng thuận xã hội là điểm tựa bên trong. Hệ thống đối tác chiến lược là điểm tựa bên ngoài. Đây là hai nền tảng vững chắc cho công cuộc vận động ngoại giao, trong đó có việc phấn đấu cùng ASEAN đẩy nhanh tiến trình CoC, bộ Quy tắc ứng xử trên biển Đông (O).

    … Không đổi mới về chính trị, không thành tựu về dân chủ hóa trong sinh hoạt nội bộ thì khó có thể xây dựng và thúc đẩy các quan hệ đối tác chiến lược một cách thực chất. Chính hệ thống đối tác chiến lược ấy sẽ nâng chất lượng đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam lên một tầm cao mới so với thời kỳ đầu mở cửa. Chất lượng mới này, đến lượt nó sẽ thay đổi đời sống kinh tế-xã hội trong nước theo hướng ngày càng tích cực.

    … Dân chủ hóa đất nước là một lợi khí và lợi thế mà đối thủ của Việt Nam hết sức lo ngại, thậm chí đã nhiều lần rắp tâm phá hoại . Ngược lại, đó là điều người dân trong nước cũng như bao bạn bè lẫn đối tác của Việt Nam vẫn hằng đón đợi. Chính sách đối ngoại, vì vậy, không còn là sự kéo dài của chính sách đối nội, mà cả hai đều nằm trong một chiến lược tích hợp vì an ninh và phát triển bền vững của đất nước. Dù môi trường biển Đông có phức tạp đến mấy, nếu chủ động ngay từ bây giờ, P-DOWN sẽ là một trong những chìa khóa an toàn.
    ———-
    Thực tiễn cho thấy, lãnh đạo VN hiện đang chú trọng “điểm tựa bên ngoài” (chưa hẳn đã có kết quả như mong muốn), mà quên “điểm tựa bên trong”-yếu tố quyết định thành công. Phải chăng, viễn kiến chính trị của ông TBT Trọng nói riêng và tập thể lãnh đạo Đảng chỉ có thế thôi, không thể nhìn xa trông rộng hơn được nữa? Hay do ảnh hưởng bởi yếu tố TQ quá lớn nên các ông không thể tự xoay chuyển được?!

    CoC tuy không thay đổi được chính sách của Trung Quốc, nhưng sẽ góp phần thay đổi “luật chơi” trên biển.
    ———-
    Nhận định này tôi cho là rất chính xác. Trong mọi trường hợp, C.o.C hay D.o.C đều là sự thất bại của VN, vì đã để TQ có mặt ở Trường Sa từ sự kiện Gạc Ma vào năm 1988. C.o.C hay D.o.C đều là sự công nhận việc có mặt của TQ ở khu vực Trường Sa là hợp pháp.
    Tuy nhiên, hiện nay, người Việt hoàn toàn có thể chủ động để làm thay đổi luật chơi, nếu biết cách và hợp tác thực tâm với Hoa Kỳ.

    Đoạn cuối của bài viết rất hay, mong mọi người góp ý tiếp.

    • bagan3 said

      Thuyết lý hai tác giả đưa ra không gì mới mẻ nhưng lại cụ thể dẫn đến hiệu quả cho VN nếu đem áp dụng.

      Ai đem ra áp dụng – câu hỏi trẻ con cũng biết nhưng nhà cầm quyền csvn lại muốn là nhà cầm quyền = cầm đồ nên đã thực thi bằng đường lối…”mafia nhuộm đỏ” nghĩa là mang danh nghĩa (cuội) Xã Hội XHCN !
      Do đó – tôi hoàn toàn đồng ý với ông NHQ là “họ” đã quên “điều kiện bên trong” mà giới có học yêu Nước trong ngoài đã thường nhấn mạnh là “nội lực” của Dân tộc Việt Nam.

      Không làm thì kết luận của hai tác giả bài viết trong phần kết luận – cũng bằng thừa.
      Mời quý vị…tham gia góp ý.

  12. NguNgơ said

    Tôi hoàn toàn ủng hộ giải pháp P-DOWN của hai bác Đinh Hoàng Thắng và Hoàng Việt!

    Cứ chiều chủ nhật là CLB NO-U lại đá bóng giao hữu…vậy hay chăng các bạn khác thành lập thêm một CLC bóng đá khác, mang tên P-DOWN … để NO-U đỡ buồn.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: