BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

1822. Dân chủ và chiến tranh

Posted by adminbasam trên 07/06/2013

Phan Thành Đạt 

Si les États démocratiques désirent naturellement la paix, les armées démocratiques, elles désirent naturellement la guerre.

(Nếu như các nước dân chủ về bản chất luôn muốn hòa bình, quân đội các nước này về bản chất lại muốn chiến tranh). Tocqueville, Bàn về nền dân chủ ở Mỹ

Con người đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trong thế kỷ 20, nhưng có lẽ những ám ảnh lớn nhất là kí ức về các cuộc chiến tranh, đặc biệt là Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, 10 triệu người chết, Chiến tranh thế giới thứ 2, 50 triệu người chết, Chiến tranh Triều Tiên, cuộc chiến tranh mà người Mỹ tiến hành ở Việt Nam… Với những thiệt hại to lớn về con người và của cải, các cuộc chiến trong thế kỷ 20 gây thiệt hại về sinh mạng bằng tổng cộng hàng nghìn cuộc chiến tranh trong suốt thời kỳ Trung Cổ. 

 Machiavel trong tác phẩm Le Prince (ông Hoàng) tỏ ra rất thất vọng về những tính cách xấu của con người, muốn thống trị con người, theo Machiavel, ông Hoàng cần phải xảo quyệt như một con cáo và ác như một con sói, cần phải có chiến tranh để đạt được mục đích của mình. Thomas Hobbes cũng cho rằng con người sống trong tình trạng tự nhiên, trong tình trạng này luôn xảy ra chiến tranh, kẻ mạnh lấn át kẻ yếu, vì con người cấu xé nhau như chó sói (l’homme est un loup pour l’homme). Xuất phát từ tư tưởng của Machiavel và Thomas Hobbes, các nhà nghiên cứu theo trường phái hiện thức đưa ra nhận xét : Quan hệ quốc tế giữa các nước là mối quan hệ vô chính phủ (1) vì thiếu những quy định nhằm điều phối và tổ chức các mối quan hệ quốc tế theo một trật tự nhất định. Raymond Aron nhận xét : « Tình trạng tự nhiên là đặc điểm của các mối quan hệ quốc tế vì không có một cơ quan nào có độc quyền áp đặt quyền lực hợp pháp ». Nếu theo quan điểm của Thomas Hobbes con người luôn cấu xé nhau như chó sói, các nhà nghiên cứu theo trường phái hiện thực cũng cho rằng điều này giống như tình trạng của các nước trên bình diện quốc tế, nước lớn chèn ép nước nhỏ, và kết quả là quan hệ quốc tế luôn diễn ra căng thẳng và nguy cơ chiến tranh luôn đe dọa các nước. Tuy nhiên điều này không đúng giữa các nước dân chủ với nhau vì quan hệ quốc tế giữa các nước này diễn ra rất tốt đẹp, không có nguy cơ chiến tranh. Các nước dân chủ có nhiều điểm tương đồng về lợi ích, các bất đồng có thể giải quyết bằng các biện pháp hòa bình.

Khi quan sát các cuộc chiến tranh kể từ đầu thế kỷ thứ 20 đến nay, chúng ta nhận thấy một đặc điểm cơ bản, các cuộc chiến tranh thường xảy ra giữa các nước thiếu dân chủ với nhau, hoặc giữa các nước dân chủ với các nước không dân chủ, hiếm khi chiến tranh diễn ra giữa các nước dân chủ với nhau. Ví dụ chiến tranh giữa các nước thiếu dân chủ: Chiến tranh Irak-Iran từ 1980 đến 1988, chiến tranh Triều Tiên năm 1953, chiến tranh giữa Liên bang Xô Viết với Đức Quốc Xã từ 1943 đến 1945, chiến tranh giữa Liên bang Xô Viết với Afganistan năm 1978, Chiến tranh biên giới giữa Trung Quốc với Việt Nam trong các năm 1979 và 1984…

Ví dụ về chiến tranh giữa các nước dân chủ với các nước không dân chủ: Chiến tranh vì chủ quyền đảo Malouines giữa Anh và Argentine năm 1980, chiến tranh giữa Mỹ và Irak năm 2003, chiến tranh giữa Mỹ và các đồng minh với Taliban, chiến tranh giữa Ấn độ và Trung Quốc, chiến tranh giữa Israel với các nước Ả Rập. Từ các ví dụ trên, các chuyên gia về quan hệ quốc tế xây dựng lí thuyết (2) về nền hòa bình giữa các nước dân chủ.                                                              

Họ nhận xét các nước dân chủ không gây chiến tranh với nhau và các nước này giải quyết các mâu thuẫn bằng giải pháp thương lượng để duy trì hòa bình. Nếu giữa các nước dân chủ không có chiến tranh với nhau, không có nghĩa là các nước dân chủ không muốn chiến tranh mà ngược lại, các nước này sẵn sàng muốn có chiến tranh với các nước thiếu dân chủ, để bảo đảm các giá trị tự do và các quyền lợi của họ. Ba câu hỏi quan trọng cần phải làm sáng tỏ :

1. Nguồn gốc của lý thuyết « xây dựng nền hòa bình giữa các nước dân chủ » ?        

2. Vì sao các nước dân chủ không gây chiến tranh với nhau ?

 3. Vì sao các nước dân chủ hay gây chiến tranh với các nước không dân chủ?

 I. Cơ sở lý thuyết về một nền hòa bình giữa các nước dân chủ

 Nhà triết học người Đức Emmanuel Kant đề xuất ý tưởng nhằm xây dựng một nền hòa bình bền vững. Ông có quan điểm rất tiến bộ về các giá trị tự do và dân chủ, tư tưởng của ông sau này được nhiều nhà lãnh đạo phương Tây tiếp thu. Emmanuel Kant đã chứng kiến các cuộc chiến tranh giữa các nước Châu Âu và cũng là người tìm hiểu về cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789, ông đưa ra nhận xét về quan hệ giữa các nước, đặc biệt là các cường quốc, theo ông các nước luôn ở trong tình trạng chiến tranh, ngay cả khi các bất đồng chưa bộc lộ, nguy cơ chiến tranh luôn là mối đe dọa thường trực đối với con người, nhận xét này khá giống với Thomas Hobbes, tuy nhiên ông không bi quan như Thomas Hobbes.

Ông tin rằng mọi thứ có thể thay đổi nếu như con người luôn tôn trọng một số điều kiện quan trọng. Quan điểm của ông góp phần xây dựng một nền hòa bình lâu dài, những suy nghĩ của ông về hòa bình được phản ánh qua tác phẩm Về nền hòa bình vĩnh cửu (Vers la paix perrpétuelle), xuất bản năm 1795. Emmanuel Kant tin rằng để có hòa bình, Hiến pháp dân sự của mỗi nước phải là Hiến pháp của nền cộng hòa. Ông cũng như một số nhà tư tưởng thời kì ánh sáng, phủ nhận nền dân chủ trực tiếp của Athène vì nền dân chủ Hy lạp cổ dễ dẫn đến chế độ bạo chúa và độc tài. 

 Nền cộng hòa gắn liền với dân chủ gián tiếp sẽ tốt hơn, công dân sẽ lựa chọn được các đại diện ưu tú để điều hành đất nước. Nền cộng hòa cũng giảm được nguy cơ chiến tranh bởi vì các công dân chọn ra các nhà lãnh đạo, họ đóng góp các khoản thuế để xây dựng Nhà nước, họ cũng nuôi sống các nhà lãnh đạo để bênh vực và duy trì hòa bình cho họ, sẽ thật vô lí khi nhà lãnh đạo gây chiến tranh và tuyển mộ các công dân đi lính. Nếu họ chết trên chiến trường sẽ không có người đóng thuế và cũng không có người nuôi các nhà lãnh đạo nữa. Hơn nữa chiến tranh luôn gắn liền với tàn phá và chết chóc. Chiến tranh sẽ phá hủy những thành quả của nền cộng hòa. Do vậy, để duy trì nền cộng hòa, các nhà lãnh đạo đại diện cho công dân cần tránh chiến tranh. Ngược lại với chế độ cộng hòa là chế độ độc tài, đối với nhà độc tài, quyết định gây chiến là điều rất dễ dàng. Vì nhà lãnh đạo khi đó không phải là người đại diện cho công dân mà là người sở hữu Nhà nước, nếu có chiến tranh, nhà lãnh đạo không có mất mát gì, vì vậy nhà độc tài có thể tuyên bố chiến tranh vì những lí do rất đơn giản.

Để có 1 nền hòa bình lâu dài, quyền của người dân cần được dựa trên một liên bang tự do (ý tưởng ban đầu của Emmanuel Kant về các liên bang rộng lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực, con người có thể sống trong hòa bình nhờ có các quy chế quốc tế ngăn chặn chiến tranh, các bất đồng cần được giải quyết bằng luật quốc tế).

Emmanuel Kant khuyến cáo các nước cần xây dựng và tuân thủ các quy định quốc tế trong giao thương hàng hóa. Mỗi nước có quyền tự do trao đổi buôn bán với nước khác, nhưng không có quyền áp đặt việc giao thương hàng hóa cho nước khác, các nước không có quyền chinh phục nước khác để mở rộng thị trường. Ông phê phán chủ nghĩa thực dân.

Ý tưởng của Emmanuel Kant giống với quan điểm của Montesquieu về một nền hòa bình có thể đạt được thông qua giao thương hàng hóa. Montesquieu trong cuốn Tinh thần luật, 1748 (de l’esprit des lois, tome 2) đưa ra nhận xét giao thương hàng hóa sẽ tránh được những nguy cơ về chiến tranh, đó là quy luật chung, ở những nơi, luật lệ ít trói buộc con người và đề cao tự do, ở đó có giao thương và ở những nơi có giao thương hàng hóa, ở đó luật lệ sẽ ít trói buộc con người. Việc trao đổi buôn bán sẽ khiến con người văn minh và luật pháp sẽ trở nên nhân đạo nhằm phục vụ con người. Tocqueville bổ sung thêm về quyền sở hữu có liên hệ đến hòa bình, vì sở hữu tài sản cũng là nguyên nhân khiến con người không muốn có chiến tranh.

Ý tưởng của Emmanuel Kant được người Mỹ tiếp thu, Tổng thống Mỹ Wilson là người thực hiện bằng cách đề nghị với các nước tại Hội nghị Versailles, thành lập Hội Quốc Liên, sau này Tổng thống Roosevelt tiếp tục đề nghị thành lập Liên Hiệp Quốc để duy trì hòa bình.

Lý thuyết về một nền hòa bình giữa các nước dân chủ  xuất phát từ tư tưởng triết học của Emmanuel Kant, được bổ sung thêm bằng những nhận xét của các nhà học nghiên cứu về quan hệ quốc tế. Tuy nhiên khi xem xét lịch sử của Hy Lạp và La Mã, chúng ta sẽ nhận thấy mối liên hệ giữa dân chủ, nền cộng hòa và hòa bình gần như không có liên quan.

 Nền Cộng hòa La Mã chuyển thành đế chế La Mã, chuyên đi chinh phục các nước khác, Athène có thể chế dân chủ nhưng cũng thường xuyên có chiến tranh với Sparte và Ba Tư. Lý thuyết này có cơ sở trong giai đoạn hiện tại và có tính thuyết phục hơn, một khi các nước có nền dân chủ lâu đời được thể hiện bằng Nhà nước pháp quyền, ở đó các quyền cơ bản của con người được tôn trọng, nguyên tắc tam quyền phân lập được áp dụng triệt để. Khi đó có thể khẳng định, các nước dân chủ tiêu biểu khi có bất đồng, sẽ tìm giải pháp hòa bình.

II. Các nước dân chủ tìm giải pháp thương lượng thay vì giải quyết bất đồng bằng chiến tranh

A. Một số ví dụ về giải pháp thương lượng thay vì chiến tranh

1.Khủng hoảng Vénézuéla 

Vénézuéla có biên giới ở phía đông với thuộc địa của Anh. Vénézuéla có tranh chấp biên giới với vùng này. Mỹ khi đó đang áp dụng học thuyết Monroe, học thuyết này quy định nước Mỹ có vai trò quan trọng ở Châu Mỹ, tránh can thiệp của Châu Âu, các vấn đề của người Châu Âu không liên quan ở Châu Mỹ. Mỹ và Anh đã giải quyết khủng hoảng bằng thương lượng ngoại giao.

2. Tranh chấp Fachoda  

Anh và Pháp là hai nước ganh đua trong công cuộc chinh phục các vùng thuộc địa tại Châu Phi. Quân Pháp có mặt ở cao điểm Fachoda ở miền Nam Soudan trước, nhưng lực lượng ít, quân Anh đến sau, lực lượng đông hơn đã giành lại cao điểm này. Nguy cơ chiến tranh có thể xảy ra, nhưng Anh và Pháp đã thương lượng được bằng biện pháp ngoại giao.

3. Khủng hoảng do bồi thường chiến tranh

Nước Đức thua trận và phải bồi thường chiến tranh, theo thỏa thuận tại Hội nghị Versailles, Đức phải trả Pháp bằng các nguồn nguyên liệu, Đức từ chối không thực hiện. Pháp cử quân đội đến khu công nghiệp Ruhr năm 1923 bắt nước này phải thực hiện cam kết. Nguy cơ chiến tranh có thể xảy ra. Hai nước đã giải quyết bất đồng bằng thỏa hiệp.

B. Luật pháp và các nguyên tắc tổ chức trong Nhà nước dân chủ giảm bớt nguy cơ chiến tranh

Qua các ví dụ trên, các nhà phân tích đi tìm nguyên nhân vì sao các nền dân chủ lớn luôn tìm được giải pháp thương lượng hòa bình để giải quyết các tranh chấp, cho nên nguy cơ chiến tranh ít có khả năng xảy ra. Nếu xung đột tương tự giữa các nước thiếu dân chủ, nguy cơ chiến tranh giữa các bên sẽ diễn ra. Một số lí do được nêu ra :

Các nước dân chủ đều có hệ thống luật pháp hoàn chỉnh, Hiến pháp quy định các quyền cơ bản của con người, tôn trọng các quyền này là một trong những điều kiện không thể thiếu ở các thể chế dân chủ. Trong các cuộc chiến tranh, các quyền cơ bản nhất như quyền được sống, quyền được tôn trọng về nhân phẩm, quyền sở hữu…Tất cả sẽ bị vi phạm. Raymond Aron nhận xét : « Trong chiến tranh, nhà ngoại giao nói những điều nhân danh Nhà nước, người lính có quyền bắn giết nhân danh Nhà nước ». Chiến tranh giữa các nền dân chủ với nhau sẽ là điều vô lí, vì một nước tôn trọng và đề cao quyền con người không thể đi gây chiến với một nước khác cũng tôn trọng quyền con người. Nhà lãnh đạo ở một nước dân chủ sẽ khó giải thích với công dân của mình việc gửi quân đội đến một nước dân chủ khác nơi mà quyền con người được tôn trọng đầy đủ. Chiến tranh giữa hai nước dân chủ là điều vô lí và không chấp nhận được. Nhưng ngược lại, việc đem quân đến một nước độc tài, vi phạm nghiêm trọng quyền con người, sẽ thuyết phục được người dân hơn, vì chiến tranh trở nên cần thiết để thiết lập dân chủ bằng cách lật đổ độc tài. Nhà lãnh đạo dựa vào điều này để thuyết phục công dân của mình ủng hộ chiến tranh. Ví dụ Mỹ và đồng minh tiến hành cuộc chiến ở Afganistan nhằm lật đổ chế độ độc tài Taliban. Chế độ này áp dụng những đạo luật khắt khe trừng phạt con người, như luật Charia và các hủ tục dã man có từ lâu đời, ví dụ người thân trong gia đình và hàng xóm có quyền ném đá chết người phụ nữ ngoại tình, gây tổn hại đến danh dự người khác.

Hiến pháp các nước dân chủ khẳng định nguyên tắc tam quyền phân lập và quyền tuyên bố chiến tranh thuộc về Nghị viện, quyền thực hiện giao cho Tổng thống. Quyền lực được phân chia và bị kiểm soát chặt chẽ. Nhà lãnh đạo muốn tiến hành chiến tranh buộc phải thảo luận, hỏi ý kiến nhiều bên. Nhà lãnh đạo cũng phải nghe ngóng xem dư luận xã hội ủng hộ hay phản đối chiến tranh. Họ không thể quyết định chiến tranh trong một thời gian ngắn. Với các quy định như vậy các nước dân chủ không thể tiến hành chiến tranh sớm. Trong khoảng thời gian đó, các nỗ lực ngoại giao sẽ được tiến hành để tránh nguy cơ chiến tranh giữa các bên. Nghị viện cũng là cơ quan quyết định về ngân sách cho chiến tranh, cơ quan này sẽ quyết định nên tiếp tục duy trì hay từ bỏ chiến tranh. Nếu chiến tranh không đem lại lợi ích, Nghị viện sẽ không phê chuẩn luật về chiến tranh do đó Tổng thống phải từ bỏ kế hoạch của mình. Với cơ chế phân quyền hợp lí, và hệ thống luật pháp đầy đủ, các nước dân chủ đã hạn chế được chiến tranh với nhau.

Dư luận xã hội và sức ép của các tổ chức dân sự trong thể chế dân chủ có ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định về chiến tranh. Giả thiết nếu có chiến tranh giữa các nước dân chủ với nhau, hay giữa một nước dân chủ với một nước thiếu dân chủ, chiến tranh càng lâu, dư luận xã hội càng ghét chính quyền vì chi phí chiến tranh cũng là tiền thuế của công dân. Hơn nữa ở các nước dân chủ, quyền tự do ngôn luận và quyền biểu tình được đảm bảo.

Người dân chứng kiến những hình ảnh đau thương gây ra do chiến tranh qua các phương tiện thông tin đa chiều, họ sẽ phản đối nhà cầm quyền, nhờ báo chí tự do, nhận thức của người dân về chiến tranh được nâng cao. Các cuộc biểu tình sẽ nổ ra, nhiều ý kiến phản đối chiến tranh của các nghệ sĩ tên tuổi hay những người lính trở về từ chiến trường, họ chứng kiến trực tiếp những thiệt hại do chiến tranh gây ra, họ trở thành những người phản đối chiến tranh quyết liệt nhất. Đối mặt với sức ép của xã hội dân sự, chính quyền sẽ hạn chế các thông tin về chiến tranh, bắt giam một số nhà báo đưa nhiều tin bất lợi, giải tán biểu tình. Tuy nhiên, ở các nước dân chủ, các tổ chức dân sự là lực lượng đối kháng với chính quyền mỗi khi chính quyền có các hành động không minh bạch. Kết quả là, các biện pháp của chính quyền chỉ thêm dầu vào lửa và sức ép của xã hội ngày càng tăng. Nhà nước dân chủ phải hành động do dân vì dân, do đó Nhà nước quyết định từ bỏ chiến tranh và thuận theo nhân dân. Như vậy là trong nền dân chủ, nhân dân đã chiến thắng Nhà nước.

III. Các nước dân chủ dễ có chiến tranh với các nước độc tài

Chiến tranh ít khi xảy ra giữa các quốc gia dân chủ, đặc biệt là các nước có nền dân chủ lâu đời, có văn hóa chính trị và văn hóa dân chủ tương đồng như Mỹ, Anh, Pháp, Đức. Tuy nhiên các nước dân chủ thường xuyên có chiến tranh với các nước thiếu dân chủ. Vì Nhà nước dân chủ muốn bảo vệ các quyền tự do và các giá trị văn hóa đạt được nhờ có dân chủ, nếu như các nước độc tài chiến thắng, các thành quả có được sẽ bị đe dọa, do đó các nhà lãnh đạo sẵn sàng gây chiến với các chế độ chính trị khác với chế độ dân chủ. Ví dụ Mỹ đã tham gia Chiến tranh thế giới lần thứ nhất để cứu Pháp và Anh. Khi đó người Mỹ vẫn đang áp dụng chính sách Monroe, không can thiệp vào công việc nội bộ của Châu Âu. Tổng thống Wilson cho rằng cần phải cứu hai nền dân chủ lớn là Pháp và Anh để giữ ổn định.

 Nước Mỹ đã tham gia chiến tranh bên cạnh Anh và Pháp chống lại Đức và đế chế Áo- Hung. Nước Đức khi đó là một nước dân chủ, nhưng những chính sách đối ngoại lại phản ánh đặc điểm của chế độ quân phiệt. Do đó nước Đức chưa phải là nền dân chủ vững chắc, chưa có cơ chế kiểm soát quyền lực hợp lý, kết quả là một số sĩ quan, tướng lĩnh, và một số những người theo chủ nghĩa dân tộc cầm quyền và phát động chiến tranh.

Khi một nước dân chủ và một nước độc tài có xung đột về lợi ích, giải quyết các bất đồng thường rất khó khăn giữa các bên do hệ thống luật pháp, văn hóa chính trị và ngoại giao giữa hai bên khác nhau, do đó các cố gắng của 2 phía dễ lâm vào bế tắc. Trong thể chế không dân chủ, quyền lực tập trung trong tay một số người, hay trong tay một người duy nhất, cho nên việc tuyên bố chiến tranh sẽ dễ dàng. Chiến tranh giữa các nước thiếu dân chủ hay giữa các nước dân chủ với các nước thiếu dân chủ  rất dễ xảy ra, do không có cơ chế giám sát quyền lực. Ví dụ Saddam Hussein xâm chiếm Koweit vì tranh chấp giá dầu lửa. Mỹ và đồng minh đánh Irak theo nghị quyết của Liên Hiệp Quốc vì Irak từ chối rút khỏi lãnh thổ Koweit theo thời hạn được Liên Hiệp Quốc đưa ra. Nếu Irak là nước dân chủ, chiến tranh giữa Mỹ và Irak rất có thể tránh được thông qua các biện pháp ngoại giao hòa giải.

Lí thuyết về nền hòa bình gắn với dân chủ về cơ bản có cơ sở, tuy nhiên cũng có các trường hợp ngoại lệ. Hơn nữa, lí thuyết này bị sử dụng như một công cụ với mục đích kinh tế và tăng cường vị thế chiến lược của các cường quốc, đây cũng là mặt trái của lí thuyết này, nhằm tạo điều kiện cho các nước can thiệp quân sự, vi phạm chủ quyền lãnh thổ của nước khác. Clinton đã đánh giá : «Để nhiều nước trên thế giới trở thành các nước dân chủ, cần phải nghĩ đến chiến tranh nhân danh hòa bình, chiến tranh để lật đổ các nhà độc tài và thiết lập nền dân chủ mới». A. Lake gọi lí thuyết này là thuyết quân cờ domino về dân chủ, theo đó các chế độ độc tài sẽ lần lượt sụp đổ, các nền dân chủ mới sẽ ra đời. Nhưng khi có chiến tranh, dân thường và người lính phải chịu nhiều thiệt thòi nhất, còn các nhà lãnh đạo không bị mất mát gì, thậm chí, uy tín của họ còn được củng cố hơn, nếu họ chiến thắng.

 —

Ghi chú 

Bài viết này phản ánh lí thuyết về một nền hòa bình giữa các nước dân chủ phương Tây. Các nhà chính trị học phương Tây như Dario Battistella (Pháp) Michael Doyle, Bruce Russett… bảo vệ lý thuyết này, một số học giả khác phê bình lí thuyết này, tuy nhiên nhìn vào thực tế lí thuyết này có cơ sở vững chắc trong mối quan hệ giữa các nước có nền móng dân chủ vững chắc, đối với các nước dân chủ mới lí thuyết này chưa thuyết phục được. Đặc biệt lí thuyết này chỉ đúng trong giai đoạn lịch sử hiện đại.

Giáo sư Dario Battistella, nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế hàng đầu của Pháp xếp cuộc chiến tranh biên giới 1979 giữa Việt Nam và Trung Quốc, là cuộc chiến tranh giữa các nước thiếu dân chủ (theo lí thuyết này). Tuy nhiên đối với hoàn cảnh lịch sử Việt Nam, cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam là cuộc chiến chính nghĩa, mặc dù nguyên nhân ban đầu là bất đồng quan điểm giữa các nhà lãnh đạo cộng sản về đường lối đối ngoại… Nhưng khi quân đội Trung Quốc xâm lấn lãnh thổ, phá hoại tài sản và giết hại dân lành, khi đó cuộc chiến tranh của Việt Nam có ý nghĩa tự vệ để giữ vững chủ quyền như các cuộc chiến tranh thời phong kiến hay các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp. 

Một số từ cần làm rõ nghĩa :

1. Anarchie (vô chính phủ) đến từ danh từ anarkhia trong ngôn ngữ hy lạp, từ này miêu tả tình trạng những người lính trên chiến trường, không biết phải làm gì, vì người chỉ huy của họ bị giết. Quan hệ của các nước trên bình diện quốc tế cũng ở trong tình trạng anarkhia, nghĩa là không có một cơ quan nào cao hơn Nhà nước để quy định những việc Nhà nước cần làm và không được làm. Liên Hiệp Quốc là tổ chức hợp tác quốc tế, nhưng do các nước lập ra, do đó quyền lực của tổ chức này cũng có giới hạn.

2. Théorie (lí thuyết), từ này cũng có nguồn gốc từ tiếng hy lạp : Theoros,    có nghĩa là khán giả, người quan sát và tỏ ra say sưa về sự kiện hay một việc gì đó, sau đó miêu tả và tìm hiểu cụ thể đặc điểm của sự kiện.

P.T.Đ.

 

7 bình luận tới “1822. Dân chủ và chiến tranh”

  1. DVM said

    Trên thế giới đã xảy ra chiến tranh với nhiều lý do khác nhau ( Bà con cứ tìm hiểu mà xem). Nhưng để có một đất nước phát triển giàu mạnh và dân chủ thì phải có đấu tranh để đi tới sự hoàn thiện. Ta không nên suy diễn nồng ghép giữa dân chủ và chiến tranh, hai góc độ này độc lập nhau nhưng ở mức độ nào đó sẽ có liên quan tới nhau (nếu có đấu tranh ở mức độ quyết liệt phải dùng tới bạo lực)

  2. kyquac said

    Gan muc thi den, gan den thi sang. Neu VN van gan Phap, My thi con khuya Singapo, Han quoc, Thai lan… duoi kip VN. Chang may lanh dao VN qua sung bai khua tham doc luon bom cho long yeu thich chien tranh, keo tut VN DANG DUNG HANG DAU XUONG DAN HANG BET KHU VUC, ma van luon tu coi thuong tham chi thu dich voi dan VN nen chua co bao gio nhuc nha truoc the gioi nhu ngay nay lanh dao VN dang phai nhan lanh!!!

  3. NÔNG DÂN VIỆT NAM said

    Qua học địch để đánh địch?
    Hay là qua học địch để về đánh ta?
    ( Sỹ quan cốt cán VN sang TQ tập huấn- BBC )

    • HÀ HUY said

      Sang bên Tàu để học tập kinh nghiệm dùng xe tăng cán nát các sinh viên và các nhà dân chủ khi có biểu tình chăng . Dám lắm! vì trông anh Dũng và anh Vịnh mặt đằng đằng sát khí . Các anh này bây giờ coi người dân và cả đồng đội như cỏ rác vậy . Ở các nước theo thể chế CS , không có gì là họ không làm . Người dân Việt quá hiền lành và cam chịu nên bọn họ chớp lấy cơ hội này vơ vét cho thỏa lòng tham của những kẻ ” làm khổ người dân , làm nghèo đất nước “

  4. NÔNG DÂN VIỆT NAM said

    Ngày xưa cha ông ta học ai để đánh thắng giặc Tàu, bây giờ quân đội VN qua học Tàu để đánh ai đây ? ( Sỹ quan cốt cán VN sang TQ tập huấn- BBC )

  5. […] Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền. You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. You can leave a response, or trackback from your own […]

  6. Ẩn danh said

    Không nhất thiết dân chủ, không dân chủ tạo ra chiến tranh. Bản chất con người vốn mang bản chất chiến tranh. Hòa bình chỉ là tạm thời, ngắn hay dài phụ thuộc bản chất ấy ở hai thuộc tính: tham lam và tức giận.
    Chế độ dân chủ có khả năng kềm chế tham lam, tức giận hữu hiệu hơn chế độ độc tài. Những người lãnh đạo chế độ độc tài dễ phát điên, mất bình tĩnh và giàu tham vọng ta đây hơn các nhà lãnh đạo chế độ dân chủ.
    Ngày nay, quốc gia nào cũng muốn sở hữu nhiều vũ khí tối tân, hủy diệt cao để gọi là bảo vệ hòa bình bằng phương pháp răn đe, khác gì các loài động vật biểu dương sức mạnh trước khi lâm trận. Chạy đua vũ trang như hiện tại không phải là giải pháp ôn hòa, mà nhằm để trừng trị những kẻ nào không liệu sức mình mà lại muốn xưng bá. Chiến tranh là một phần không thể thiếu của cuộc sống.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d người thích bài này: