BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Trước hết Hiến pháp phải quy định cái gì?

Posted by adminbasam trên 15/03/2013

Gs. Ts. Nguyễn Đăng Dung, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Hiến pháp có rất nhiều chức năng: như tổ chức quyền lực nhà nước, giới hạn quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền…. Từ những chức năng này Hiến pháp có rất nhiều quy định khác nhau, xếp thành các chương điều khác nhau. Nhưng trong số những chức năng nói trên chức năng làm cơ sở pháp lý cho việc tạo nên sự chính danh của nhà nước là quan trọng bậc nhất. Trong nhiều trường hợp sự chính danh của quyền lực nhà nước  theo quy định của Hiến pháp là rất quan trọng, có tính bao trùm lên toàn bộ bản Hiến pháp và việc thực hiện quyền lực nhà nước. Với tư cách là đạo luật tối cao, Hiến pháp phải bao quát về cơ bản các chức danh mang trong mình quyền lực nhà nước phải được hình thành lên một cách chính danh. Trong thời đại dân chủ các  loại quyền lực này phải bắt nguồn từ nhân dân.

Vì vậy một bản hiến pháp tốt phải quy định cho được quy trình thủ tục mà nhân dân thực hiện quyền lực thuộc về mình đích thực bầu ra các chức danh mang quyền lực nhà nước. Chỉ có những chức danh, những tổ chức do nhân dân bầu ra một cách trực tiếp hoặc cùng lắm là gián tiếp mới có quyền nắm quyền lực nhà nước, mới có quyền quyết định trong việc phân bổ nguồn lực của quốc gia, quyết định nhân sự các chức sắc quan trọng của quốc gia, và những vấn đề quan trọng khác.

Với những chức năng nêu trên, Hiến pháp trước hết phải quy định về quyền con người, sau đấy là vấn đề phân quyền: lập pháp, hành pháp tư pháp. Việc quy định này là những vấn đề rất khó, trước hết phải quy định được hết các quyền con người, sau đấy là việc quy định nhiệm vụ quyền cho các cơ quan đảm nhiệm công việc nhà nước. Quy định phải được viết ra làm sao có thể thực hiện được trên thực tế. Hiện nay trên thực tế có hai trường phái quy định: 1. chỉ quy định những nét rất đại cương của Hiến pháp cổ điển của các nước phát triển; 2. phải quy định chi tiết của các hiến pháp hiện đại.

Ở Hiến pháp cổ điển việc quy định nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, hầu như không được quy định một cách cụ thể, vì càng cụ thể càng thể hiện rõ sự thiếu vắng, và sự mâu thuẫn chồng chéo lên nhau. Nhưng không quy định cụ thể thì lại càng không biết thế nào để thực hiện , và nhất là ít có cơ sở cho việc quy kết trách nhiệm sau này. Trường phái cổ điển lập luận rằng, việc chỉ rõ cơ quan nào thực hiện quyền lập pháp, cơ quan nào thực hiện quyền hành pháp và cơ quan nào thực hiện quyền tư pháp là vừa đủ cho nhiệm vụ quyền hạn của mỗi cơ quan. Rất khó cho việc viết các quy đinh này. Nhưng cho dù ở trường phái này hay trường phái kia, thì quy định bầu cử, thành lập ra các chức sắc đảm nhiệm các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là những phần dễ quy định nhất.

Vì vậy cái cần phải quy định trong Hiến pháp là cách thức thành lập ra các cơ quan nhà nước đó thông qua việc bầu cử hay đề cử rồi phê chuẩn các chức danh đảm nhiệm các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chính đây tạo ra sự chính danh của những người thay mặt nhân dân đảm trách các công việc của nhà nước  – công quyền. 

Đảng cầm quyền, chỉ có được quyền lãnh đạo thông qua lá phiếu của người dân bầu ra một cách trực tiếp hay gián tiếp các ứng cử viên của đảng đưa tranh cử các chức danh này. Người dân không ưng chức danh nào cũng là không  bỏ phiếu cho những ứng cử viên của đảng đó.   

Nhìn chung, hiến pháp các quốc gia quy định tương đối chi tiết về các vị trí được bầu ra (thành viên nghị viên, tổng thống…), điều kiện bầu cử, điều kiện ứng cử, việc phân định khu vực bầu cử, việc phân bổ số ghế cho các khu vực… Trong chế độ đại nghị, nhân dân trực tiếp bầu ra Hạ viện (Viện dân biểu), đảng chiếm đa số tại Hạ viện hay liên minh các đảng cầm quyền thành lập ra Chính phủ do một Thủ tướng đứng đầu. Do vậy, chính phủ phải chịu trách nhiệm trước nghị viện. Trong chế độ cộng hòa tổng thống, nhân dân trực tiếp hoặc có thể gián tiếp bầu ra nguyên thủ quốc gia (tổng thống) đồng thời là người trực tiếp lãnh đạo hành pháp. Chính phủ và người đứng đầu chính phủ không chịu trách nhiệm trước nghị viện, mà phải chịu trách nhiệm trước nhân dân. Đấy là cơ sở cho sự chính danh nhà nước  của họ.

Việc không nhìn thấy các quy định về bầu cử trong Hiến pháp hiện hành cũng như dự thảo sửa đổi của Hiến pháp Việt Nam cũng là một trong những điểm yếu của Hiến pháp cũng như dự thảo của sửa đổi Hiến pháp Việt Nam hiện nay.

N.Đ.D.

26 phản hồi tới “Trước hết Hiến pháp phải quy định cái gì?”

  1. NHẦM LẪN KHÁI NIỆM “HIẾN PHÁP” VÀ QUYỀN CON NGƯỜI VỚI QUYỀN CƠ BẢN (TS Nguyễn Sĩ Phương, CHLB Đức) | CHÂU XUÂN NGUYỄN said

    […] sống trường tồn lẫn vai trò tối thượng của hiến pháp. N.S.P. * Trên đây là một phản hồi của TS Nguyễn Sĩ Phương, trong bài “Trước hết Hiến pháp phải quy định cái gì?” của GSTS Nguyễn […]

  2. […] trường tồn lẫn vai trò tối thượng của hiến pháp.   N.S.P.   * Trên đây là một phản hồi của TS Nguyễn Sĩ Phương, trong bài “Trước hết Hiến pháp phải quy định cái gì?” của GSTS Nguyễn […]

  3. GP said

    một bản hiến pháp tốt phải quy định cho được quy trình thủ tục mà nhân dân thực hiện quyền lực thuộc về mình đích thực bầu ra các chức danh mang quyền lực nhà nước. Chỉ có những chức danh, những tổ chức do nhân dân bầu ra một cách trực tiếp hoặc cùng lắm là gián tiếp mới có quyền nắm quyền lực nhà nước, mới có quyền quyết định trong việc phân bổ nguồn lực của quốc gia, quyết định nhân sự các chức sắc quan trọng của quốc gia, và những vấn đề quan trọng khác

    Về danh nghĩa thì nhân dân ta cũng “có quyền” gián tiếp bầu ra các chức danh, tổ chức nhà nước đó chứ
    – Công dân đi bầu 499 vị đại biểu quốc hội, đến lượt mình các đại biểu quốc hội bầu ra chính phủ, thủ tướng, chủ tịch nước, Tòa án tối cao,… Vậy là Nhân dân ta cũng “có quyền” gián tiếp bầu các chức danh, tổ chức nhà nước
    – Tại các địa phương cũng vậy, công dân đi bầu các đại biểu Hội đồng nhân dân, đến lượt mình các đại biểu HĐND này bầu ra UBND, chủ tịch UBND tỉnh/huyện/xã, Chánh án Tòa án,…

    Nhưng điểm khác biệt ở xứ ta, tuy công dân có quyền đi bầu đại biểu quốc hội, đại biểu HĐND (để từ đó gián tiếp bầu cử các chức danh tổ chức hành pháp như CP, UBND và tư pháp (Tòa án) nhưng thực sự ai cũng biết, bầu người nào và bầu thế nào thì đã có đảng ta chỉ đạo cả rồi

    Đảng ta chỉ đạo bằng cách đó là thông qua cái gọi là Mặt trận tổ quốc, qua cái Mặt trận này danh sách các ứng viên gần như là do đảng ta (các cấp ủy từ TƯ đến địa phương) lên từ trước

    Như vậy, muốn hiến pháp có một quy định pháp lý về bầu cử, có lẽ việc cần làm là bãi bỏ vai trò của Mặt trận tổ quốc trong việc tổ chức bầu cử mà hãy thành lập một Ủy ban bầu cử quốc gia thay thế

  4. Nguyễn Minh Tâm said

    Theo tôi, ta có Điều lệ đảng rồi, Điều lệ này rất khoa học và văn minh. Toàn thể nhân dân Việt Nam đều tin vào Đảng nên có thể coi đều là đảng viên cả. Vậy không cần soạn HP làm chi cho mất thì giờ (mà có HP thì đảng ta củng có áp dụng đâu?). Do đó, cứ lây Điều lệ đảng làm HP là được (và có thể công bố cho thế giới biết điều đó mà cũng chẳng sợ xấu hổ đâu!).

  5. […] Trên đây là một phản hồi của TS Nguyễn Sĩ Phương, trong bài “Trước hết Hiến pháp phải quy định cái gì?” của GSTS […]

  6. […] Trên đây là một phản hồi của TS Nguyễn Sĩ Phương, trong bài “Trước hết Hiến pháp phải quy định cái gì?” của GSTS […]

  7. […] Trên đây là một phản hồi của TS Nguyễn Sĩ Phương, trong bài “Trước hết Hiến pháp phải quy định cái gì?” của GSTS […]

  8. Một góp ý nhỏ said

    Tại sao lại gọi bản Hiến pháp này là Hiếp pháp ? Bởi vì đây không phải là một bản Hiến pháp hiểu theo quan niệm phổ quát – một văn kiện pháp lý có gía trị tối cao, chi phối mọi họat động của một quốc gia và phải được các cơ quan công quyền (Hành Pháp, Quốc Hội, Tư Pháp), mọi công dân, mọi định chế xã hội (đảng phái, tôn giáo v.v.) tôn trọng. Khi một đất nước đã có Hiến pháp thì không thể có một đạo luật nào, một đảng nào, một cá nhân nào nếu còn sống, còn sinh họat trong quốc gia đó – có thể vi phạm Hiến pháp. Ở đây không những nó không được tôn trọng, chẳng hạn như những quy định về Quyền Và Nghĩa Vụ Cơ Bản Của Công Dân nơi Chương V, mà còn bị chà đạp.Nhà nước dưới sự chỉ đạo của ĐCSVN sẽ giải nghĩa mọi thứ Quyền con người và quyền công dân theo kiểu …Việt nam ( như nhiều bố lãnh đạo Đảng ta đã từng khẳng định với toàn dân và cả thế giới nữa) Một sự vi phạm hiển nhiên nữa là trong “cái gọi là Hiến Pháp” này không có điều khỏan nào quy định quyền cai trị đất nước của Tổng Bí Thư Đảng CSVN-chỉ quy định chung cái gọi là sự lãnh đạo của Đảng cộng sản . Quyền này đựơc trao phó cho Chủ Tịch Nước quy định nơi Chương VII, điều 101 “Chủ Tịch Nước là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nước CHXHCNVN để đối nội và đối ngọai”. Thế nhưng trong thực tế Chủ Tịch Nước không phải là người thay mặt nước CHXHCNVN để đối nội và đối ngọai. Công việc này được trao cho Tổng Bí Thư Đảng CSVN.

    Tại sao không gọi Hiến Pháp của Nước CHXHCN Việt Nam mà lại gọi là Hiến Pháp của Đảng CSVN? Bởi vì “cái gọi là Hiến pháp” này không được sọan thảo theo ý chí và khát vọng của tòan dân(không được soạn ra bới một Quốc hội lập hiến theo ý chí của toàn dân), không được thông qua trong một cuộc trưng cầu dân ý, không được một quốc hội do tòan dân lựa chọn biểu quyết, mà do một nhóm người mạo danh “Quốc Hội” do Đảng CSVN chỉ định và ra lệnh biểu quyết. “Cái gọi là Hiến Pháp” này không phục vụ quyền lợi của đất nước và dân tộc Việt Nam mà nó chỉ khẳng định quyền hành cai trị của Đảng CSVN và vì lợi ích tối hậu của Đảng CSVN mà thôi. Do đó không thể gọi nó là bản Hiến pháp của đất nước Việt Nam, của tòan dân Việt Nam được.
    Như vậy ,tất cả các văn bản sau này có được “cái gọi là Quốc hội” thông qua theo lối mòn cũ thì không khi nào nó là Hiến pháp của dân và không hy vọng nó sẽ được những cơ quan công quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng CS tôn trọng được- dù nó nghe có vẻ …hay hơn nhưng chỉ là cái con cá gỗ của dân xứ Nghệ thôi.

  9. […] Trước hết Hiến pháp phải quy định cái gì? […]

  10. […] Trước hết Hiến pháp phải quy định cái gì? […]

  11. ĐCM said

    Về cơ bản thì mọi Hiến pháp của các nước dân chủ đều được thiết kế như nội dung phân tích trong bài viết của GS Nguyễn Đăng Dung. Nhưng ở Việt Nam do hiến pháp được làm theo kiểu “tự chế” nên có lẽ kỹ thuật mà GS hướng dẫn tôi e rằng là thừa đối với những người cộng sản Việt Nam. Họ chỉ thích thiết kế hiến pháp theo ý mình nên có nói gì với họ cũng chỉ mất công thôi.

  12. HP said

    Tôi nghĩ rằng đảng và nhà nước ta không nên tốn công sức thời gian và tiền bạc cho việc góp ý HP. Chung quy HP thể hiện cương lĩnh của đảng chứ không phải cương lĩnh của đảng phải hợp HP, vì đảng lãnh đạo toàn diện, lãnh đạo kể cả Quốc Hội và Hiến Pháp…
    Vì Quốc Hội lẫn Hiến Pháp phải nằm dưới ý chí lãnh đạo của đảng. Do đó để gọn nhẹ cho HP có cùng với thế giới, tôi đề nghị HP chỉ cần có 3 điều đơn giản:
    ĐIỀU 1: ĐCSVN lãnh đạo tuyệt đối toàn diện nhà nước và xã hội.
    ĐIỀU 2: Nhà nước và toàn xã hội thực hiện pháp luật do ĐCSVN ban hành.
    ĐIỀU 3: Tất cả các công dân không thực hiện 2 điều trên sẽ bị tù chung thân đến tử hình.

  13. YÊU NƯỚC VIỆT CĂM THÙ TÀU said

    Bài viết của Gs. Ts. Nguyễn Đăng Dung thật là ý nghĩa! giám nói thẳng vào vấn đề nhức nhối của dân tộc! phải thay đổi thì nhân dân mới mạnh và văn minh được, mới bảo vệ được đất nước mình! đả đảo đảng csvn ngu đần tàn ác.

  14. […] Trước hết Hiến pháp phải quy định cái gì? […]

  15. […] Trước hết Hiến pháp phải quy định cái gì? […]

  16. VM said

    Hoan ho ban HP

  17. VŨ DŨNG said

    HOAN HÔ MỘT GSTS CÓ TÂM VÀ CÓ TẦM TRÍ THỨC.

  18. Nguyen Sy Phuong (CHLB Đức) said

    Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức
    Bài 1: Nhầm lẫn khái niệm “Hiến pháp”
    Trong bài “Bao nhiêu ý dân thì đủ?”*, tác giả Phạm Thị Hoài đã sử dụng nhầm lẫn hai khái niệm Verfassung (Hiến pháp) khác với Grundgesetz (Luật cơ bản) vốn có quan hệ nội hàm “cành, nhánh” hay “mẹ, con”.
    Để phủ định quyền dân phúc quyết hiến pháp, tác giả Phạm Thị Hoài viện dẫn thực tế quá trình lập hiến Đức (trích): Nhân dân CHLB Đức chưa bao giờ được trưng cầu ý kiến về văn bản tối thượng mang tên Grundgesetz (Luật Cơ bản) của mình. Nó được soạn thảo bởi 65 vị trong Parlamentarischer Rat (Hội đồng Nghị viện), dưới sự ủy nhiệm và kèm cặp của chính quyền quân quản Anh, Pháp và Mỹ sau Thế chiến II. Sau khi được thông qua với 53 phiếu thuận và 12 phiếu chống trong Hội đồng Nghị viện, nó được trình cho ba chính quyền Đồng minh nêu trên xét duyệt. Sau khi được các Thống đốc Quân sự Anh, Pháp, Mỹ chấp nhận, nó được gửi đến các nghị viện tiểu bang để phê chuẩn. Sau khi được phê chuẩn, ngày 23-5-1949 nó được Hội đồng Nghị viện chính thức tuyên bố là văn bản lập quốc. Nước Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức cũ) ra đời với bản Hiến pháp ấy. Bản hiến pháp được coi là hoàn hảo nhất trong lịch sử nước Đức ấy không do ý nguyện dân chủ từ dưới lên sinh ra, mà do ý chí chính trị từ trên xuống, thậm chí với áp đặt từ các thế lực ngoại bang.

    Năm 1990, trong quy trình thống nhất nước Đức, nghị viện của các tiểu bang thuộc Đông Đức cũ cũng phê chuẩn và gia nhập Hiến pháp này mà nhân dân Đức ở cả bên Đông lẫn bên Tây đều không được trực tiếp biểu quyết. Trong 64 năm từ khi ra đời, Hiến pháp Đức có 59 bổ sung, sửa đổi, lần cuối cùng vào giữa năm ngoái. Không một lần nào có trưng cầu ý dân. Song điều đó không cản trở nước Đức … thành một trong những nền dân chủ trưởng thành và ổn định nhất trên thế giới”, (Hết trích).

    Tác giả đã sử dụng nhầm lẫn hai khái niệm Verfassung (Hiến pháp) khác với Grundgesetz (Luật cơ bản) vốn có quan hệ nội hàm “cành, nhánh” hay “mẹ, con”. Từ năm 1949 tới nay, nước Đức chỉ có Luật Cơ bản năm 1949 và sửa toàn diện năm 1990, được coi như Hiến pháp chứ không phải Hiến pháp. Nó được xuất bản với tờ bìa mang tên “Grundgesetz” và gọi đúng tên đó trên các văn bản pháp lý trích nó. Luật, bất cứ là luật gì cơ bản hay không, do nghị viện ban hành đều không nhất thiết phải phúc quyết, bởi đó là quyền lập pháp của họ, giải thích tại sao Luật Cơ bản Cộng hoà Liên bang Đức chưa bao giờ phúc quyết. Còn đã gọi là “Hiến pháp” thì phải do người dân phúc quyết, vốn chỉ họ mới có quyền lập hiến, xuất phát từ nguyên lý: Hiến pháp của dân phải do dân quyết, giống như chính quyền của dân thì phải do dân bầu. Đó là dấu hiệu khác nhau giữa nội hàm khái niệm “Luật cơ bản” và nội hàm “Hiến pháp”. Điểm giống nhau là chúng cùng quy định: a- thiết chế nhà nước và b- khẳng định quyền con người và quyền công dân mà nhà nước có trách nhiệm phải thực hiện không được xâm phạm – tức quyền cơ bản. Nếu chỉ dừng lại ở đó, thông qua nghị viện, rồi ký lệnh ban hành, thì được gọi là “Luật Cơ bản”, còn thực hiện thêm công đoạn tiếp theo “Phúc quyết” thì được gọi là hiến pháp. Lý do tại sao Luật Cơ bản CHLB Đức năm 1949 lại không trưng cầu dân ý, tác giả Phạm Thị Hoài đã lý giải đúng sự kiện. Còn lý do tại sao tới lần sửa đổi toàn diện năm 1990 vẫn không phúc quyết, bởi chỉ đơn giản do CHDC Đức gia nhập CHLB Đức, nghĩa là phải chấp nhận Luật Cơ bản của họ, giống như Việt Nam sau 1975, chứ không phải hai bên thống nhất thành lập một quốc gia để ban hành một Hiến pháp mới cho mình.

    Điều đó cũng giải thích tại sao Hiến pháp mới thông thường gắn liền với các hệ quả đổ vỡ một thiết chế, cách mạng xã hội, tranh chấp bạo lực, chiến tranh (đã trình bày ở bài Hiến pháp sao phải sửa?). Ngoại lệ có thể tìm thấy trong trường hợp Nam Phi hay Miến Điện. Khi đó Hiến pháp không còn là mục đích trực tiếp của đổ vỡ, cách mạng, bạo lực, chiến tranh, mà trở thành phương tiện hoà bình để vượt qua nó.

    Với nội hàm khái niệm Hiến pháp nêu trên, các nước có thể mặc định, tức tự hiểu đã là Hiến pháp tất phải phúc quyết (lẽ tự nhiên như quyền ăn uống hít thở, không nhất thiết phải đưa vào hiến pháp) hoặc hiến định như Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946: Điều 21, “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp”.

    Tới Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lần này, người chấp bút đã không tuân thủ nguyên lý logic học, cũng sử dụng nhầm lẫn giữa 2 khái niệm Hiến pháp và Luật Cơ bản như trường hợp Phạm Thị Hoài, khi viết Điều 123: “Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

    Hệ lụy, một khi đã gọi là hiến pháp thì đương nhiên trước hết phải là luật cơ bản, vì vậy Điều 123 nhắc lại là thừa. Mặt khác, đưa ra 1 câu mang tính tiền đề như Điều 123, làm người đọc dễ ngộ nhận, nhầm tưởng khái niệm hiến pháp nằm trong khái niệm luật cơ bản, trong khi luật cơ bản chỉ là một phần nội hàm của khái niệm Hiến pháp

    Bài 2: Nhầm lẫn quyền con người với quyền cơ bản

    Hiến pháp chỉ hiến định một số trong vô vàn quyền con người, chứ không phải toàn bộ, bởi trước hết, do hiến pháp đóng vai trò luật cơ bản, mà đã là luật thì nó chỉ điều chỉnh những quyền con người liên quan tới pháp luật, tức nhà nước, chứ không phải mọi quyền con người như ăn ngủ hít thở, yêu ghét, chẳng hạn.
    Bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (DTHP), chương II “quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân” đưa ra 38 điều; so với Hiến pháp năm 1992, lời văn, cấu trúc được sửa lại và bổ sung thêm chín quyền trong chín điều.

    Mục đích sửa đổi trên được Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lý giải trong “Báo cáo Thuyết minh”: “Để khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp”. Từ mục đích đó, DTHP có nhiệm vụ “làm rõ nội dung quyền con người, quyền công dân…”.

    Đã là quyền con người thì do “tạo hoá” sinh ra nằm trong chính mỗi con người. Nếu xét theo hành vi, tổng hợp hết từ chừng 7 tỷ người khác nhau trên quả đất hiện nay, thì quyền con người sẽ vô cùng tận, từ sinh lý, ăn, uống, hít thở, khóc cười, nhìn, nghe, sờ mó… đến hành vi tình cảm, yêu, ghét, hiến, tặng…, tới tâm linh thờ phụng, tín ngưỡng, hay kinh tế, mua bán, cho mượn, đổi chác, hoặc chính trị tham gia đảng phái, bộ máy nhà nước, góp ý chính sách…, không một hiến pháp nào trên thế giới này dù muốn cũng không thể liệt kê nổi, chứ chưa nói khẳng định giá trị, làm rõ nội dung. Vì vậy, nếu lấy nội dung quyền con người làm đối tượng hiến định, thì DTHP nước ta đã không đạt mục đích đề ra. Và cứ theo quan điểm đó, thì hiến pháp nước nào đưa ra càng nhiều quyền con người càng dân chủ tiến bộ ưu việt.

    Nhưng thực tế không phải vậy. Nga, Hiến pháp năm 1993 có tới 48 điều về “quyền và tự do của con người và của công dân”, chỉ số dân chủ năm 2007 xếp thứ hạng 102; Trung Quốc, Hiến pháp năm 1982 có 33 điều xếp thứ hạng dân chủ 138; Đức chỉ có 19 điều ở thứ hạng 13; Đan Mạch có 15 điều, đứng thứ 5; Mỹ, chỉ liên quan tới 10 điều tu chính, xếp thứ 17.

    Lý do, Hiến pháp chỉ hiến định một số trong vô vàn quyền con người, chứ không phải toàn bộ, bởi trước hết, do hiến pháp đóng vai trò luật cơ bản, mà đã là luật thì nó chỉ điều chỉnh những quyền con người liên quan tới pháp luật, tức nhà nước, chứ không phải mọi quyền con người như ăn ngủ hít thở, yêu ghét, chẳng hạn. Chức năng của nó là chế tài, không có chức năng thay thế sách giáo khoa, hay tài liệu khoa học, để lý giải đưa ra kết luận về giá trị, vai trò quan trọng, nội dung của quyền con người, mà chỉ dựa trên cơ sở khoa học đó để hiến định quyền con người. Tiếp theo, quyền con người mặc dù do tạo hoá sinh ra, “lẽ phải không ai chối cãi được”, nhưng một khi quyền lực nhà nước vốn của dân đã được trao vào tay bộ máy nhà nước thực thi, thì quyền tạo hoá đó của họ trên thực tế rất có thể: 1- Bị quyền lực nhà nước xâm phạm, mà người dân thấp cổ bé họng không làm gì được. Có thể thấu hiểu rõ nhất điều đó ở những nước thuộc điạ, như khi thực dân Pháp “mang lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái” đến nước ta tuyên bố “khai hoá văn minh”, nhưng thực tế lại “cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta (Tuyên ngôn độc lập)” hay trường hợp các nước Ả Rập vừa qua, cách mạng xã hội bùng nổ do quyền làm người bị tước mất, được châm ngòi bởi Mohamed Bouazizi phải tự thiêu, thà chết còn hơn. 2- Không thể thực hiện, bởi bộ máy nhà nước ăn lương có bổn phận đảm bảo quyền tạo hóa của dân, nhưng đã không cung cấp cho họ điều kiện vật chất, hành lang pháp lý thực hiện quyền đó.

    Nguyên tắc hiến định quyền con người, vì vậy, chỉ nhắm vào những quyền pháp lý có nguy cơ bị nhà nước xâm phạm hoặc phải được nhà nước bảo đảm tiền đề vật chất cho nó thực hiện. Những quyền đó, khoa học hiến pháp gọi là quyền cơ bản, không hiểu theo nội hàm “hạt cơ bản” trong vật lý, mà theo nghĩa nhà nước bị chế tài trách nhiệm bảo đảm cho quyền đó được thực hiện. Nói cách khác, quyền cơ bản là quyền con người được ghi vào hiến pháp, khi nó thoả mãn đồng thời 3 yếu tố: 1- chắc chắn, 2- liên tục, 3- được viện tới toà án chống lại nhà nước, nếu họ bị thiếu những điều kiện bảo đảm quyền đó được thực hiện.

    Có thể hiểu qua ví dụ về “quyền được bảo đảm an sinh xã hội”, ghi trong Ðiều 35 DTHP, được Điều §75 Hiến pháp Đan Mạch quy định tại điểm (1): “Ai không thể tự nuôi sống mình, và không còn nguồn thu nhập nào khác, nhà nước có trách nhiệm trợ cấp đủ”. Ở Đức, xuất phát từ Điều 1, Luật Cơ bản, “nhân phẩm con người không thể xâm phạm. Chú ý và bảo vệ nó là trách nhiệm mọi cơ quan quyền lực nhà nước”, Bộ Luật Xã hội Đức quy định nhà nước phải cấp cho bất kỳ người dân nào không có thu nhập, kể cả người nước ngoài sinh sống ở Đức, 374 Euro/tháng/người (năm 2013) cộng tiền thuê nhà, điện, nước. Cách tháng trước, một hộ gia đình bị cấp thiếu 15 Cent do cơ quan cấp làm tròn số lẻ, khiếu nại không được liền kiện ra toà, được toà xử thắng và phạt cơ quan cấp phải trả án phí 600 Euro. Cũng viện dẫn Điều 1 trên, trong 1 vụ kiện, Toà án Hiến pháp Đức đã bác bỏ điều khoản Bộ luật Xã hội Đức ấn định mức trợ cấp cho người nước ngoài chờ xét tỵ nạn thấp hơn tiêu chuẩn trợ cấp cho người Đức, với lập luận, trợ cấp là mức tối thiểu để bảo đảm nhân phẩm con người vốn không thể phân biệt đã được hiến định.

    Xuất phát từ bản chất quyền cơ bản nêu trên, ở họ hiến định quyền cơ bản thực chất là hiến định trách nhiệm nhà nước phải bảo đảm quyền đó được thực hiện, bằng những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự có thể đong đo đếm được. Và chỉ khi đó, người dân mới có cơ sở hiến định để tự bảo vệ quyền của mình, bằng cách viện đến toà án được coi là cán cân công lý; các cơ quan quyền lực nhà nước mới bị ràng buộc bởi các cơ sở pháp lý, phải thực thi nếu không sẽ bị chế tài. Đó cũng chính là bản chất của nhà nước pháp quyền do pháp luật định đoạt, khác với nhà nước độc tài do kẻ cầm quyền quyết định.

    Còn DTHP ở ta, do hiểu mục đích hiến định nhằm “khẳng định giá trị, vai trò”, “nội dung quyền con người”, nên Điều 35 DTHP nêu trên chỉ ghi vắn tắt đúng 11 chữ “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”, không hề quy định các chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự để chế tài trách nhiệm nhà nước phải bảo đảm cho quyền đó thực thi, như trường hợp Đức, Đan Mạch chế tài nhà nước phải trợ cấp cho bất cứ ai không có thu nhập đủ bảo đảm cuộc sống bình thường.

    Chính do nhầm lẫn giữa quyền con người và quyền cơ bản, nên DTHP đã đưa ra nhiều quyền, thậm chí nhiều góp ý còn đòi bổ sung thêm bao quyền ước mong nữa. Trong số đó có những quyền, nhiều nước hiện đại chưa dám đề cập, như Điều 38 DTHP: “Công dân có quyền làm việc”, họ không thể hiến định bởi thất nghiệp là bản chất của kinh tế thị trường, chỉ có thể hạn chế chứ không thể chấm dứt. Điều 40 “trẻ em có quyền… được chăm sóc giáo dục”, họ chỉ có thể bảo đảm được một phần chứ không phải tất cả, và đó còn là trách nhiệm gia đình. Tương tự, Điều 41 “có quyền được bảo vệ sức khoẻ” (nghĩa là trách nhiệm nhà nước chữa bệnh cho dân miễn phí?); Điều 44 “quyền hưởng thụ các giá trị văn hoá” (nhà nước miễn phí tham quan du lịch, biểu diễn nghệ thuật, hội hè?); Điều 46 “quyền được sống trong môi trường trong lành” (trách nhiệm nhà nước bồi thường khi dân ngộ độc thực phẩm?), Điều 42, “công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” (nhà nước miễn học phí và cấp học bổng?). Chưa nói DTHP hiến định cả những quyền tình cảm không thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật, như Điều 39 “Nam nữ có quyền kết hôn và ly hôn” (chẳng nhẽ ai ế, nhà nước phải có trách nhiệm mai mối cho họ kết hôn?); hay điều chỉnh cả công dân nước khác, khi Điều 19 hiến định Việt kiều với quá nửa đã thôi quốc tịch Việt Nam “là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam” và chỉ thuộc phạm trù tình cảm cội nguồn không thể chế tài.

    Hệ luỵ nguy hại ở chỗ, do không chứa đựng đầy đủ ba thuộc tính cần có của khái niệm quyền cơ bản, nên quyền con người dù có ghi vào hiến pháp vẫn không hề thay đổi bản chất, tức thiếu tính pháp lý khả thi, làm mất thuộc tính tối thượng vốn có của hiến pháp, trở thành một bản tuyên ngôn, mất giá trị sử dụng khi ban hành! Có thể tham khảo trường hợp EU hiện cũng đang soạn thảo bổ sung Hiến pháp quyền cơ bản “có tài khoản ngân hàng”, dự kiến thông qua tháng 6.2013. Để bổ sung điều khoản đó, họ phải dựa trên kết quả điều tra thực tế, hiện có 30 triệu công dân EU không có tài khoản do thiếu tiền trả lệ phí, phải chịu thiệt thòi không tiếp cận được Internet, ký hợp đồng điện thoại, hay thuê nhà, tất cả đều đòi điều kiện phải có số tài khoản; từ đó dự toán sẵn quỹ tài chính để miễn lệ phí tài khoản, bảo đảm quyền có tài khoản một khi đã hiến định là được thực thi.

    Hiến định quyền cơ bản, vì vậy, khâu đầu tiên hoàn toàn không nằm ở câu chữ mà ở chỗ: 1- phải xác định được chính xác ý nguyện thực tế của người dân, 2- dự liệu được tiền đề để chế tài trách nhiệm thực thi của bộ máy nhà nước vốn đóng vai trò công bộc chứ không phải cai trị – hai yếu tố quyết định cả sức sống trường tồn lẫn vai trò tối thượng của hiến pháp

    • Máy Ủi said

      Chào bác;

      Ở Việt Nam, đa số nhân dân sống ở nông thôn không hiểu Hiến pháp là gì đâu. Nên trách nhiệm xây dựng Hiến pháp là tuỳ thuộc vào ý chí của các ông lãnh đạo đảng CSVN thôi. Nếu họ vì nước, vì dân thì họ sẽ xây dựng một Hiến pháp văn minh, dân chủ. Còn không thì chả có gì đâu. Hiện nay, họ vẫn giữ khư khư Điều 4. Họ không giải thích cho dân hiểu thế nào là Hiến pháp cả, thì dân sao hiểu gì mà làm. Các trí thức đề xuất dự thảo Hiến pháp 2013 – kèm theo Kiến nghị 72 – là Hiến pháp văn minh, dân chủ. Nhưng lãnh đạo đảng CSVN gặt phắt đi, quy chụp họ là chống phá. Họ cũng không cho phép những người thực hiện Kiến nghị 72 được thảo luận công khai, hay là tiếp xúc với nhân dân để giải thích về dự thảo Hiến pháp 2013 của họ.

      Do đó:

      1. Ý nghiện của người dân: Ý nguyện của một bộ phận người dân hiểu biết Hiến pháp thì bị gạt bỏ. Còn những người dân không hiểu biết thì họ chả biết ý nguyện của họ với Hiến pháp là gì cả.

      2. Việt Nam không có bộ máy Nhà nước, mà chỉ có các cơ quan quyền lực trực thuộc Đảng CSVN là Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận, Toà án, Viện kiểm sát … được đảng CSVN “phân công” quyền lực. Đảng CSVN nằm trên Hiến pháp, quyền lực vô biên, thì làm sao mà xác định được chế tài trách nhiệm với họ? Thực chất, họ đang cai trị Việt Nam, không phải là công bộc gì đâu.

    • Ẩn danh said

      Cám ơn bác Nguyen Sy Phuong có bài rất hay

    • Tùng said

      Cảm ơn lời bình của TS Phương. Anh Ba Sàm nên đăng lời bình của TS Phương như một bài viết chính thức để nhiều trang mạng khác có thể đăng lại, may ra các quan chức VN có thể đọc mà suy ngẫm.

  19. No China said

    Rất xúc động gặp lại ABS.
    Chuyện ai đánh phá ABS là chủ đề hay, để biết dòng “sức mạnh chủ lưu” hiện nay là ai, họ muốn gì?
    Cũng nên lưu ý, hai trang mà ông Thủ tướng ra lệnh cấm đọc vì độc hại, chống Đảng: Dân Làm báo, Vua làm báo thì thả cửa đọc vô tư! (tôichỉ đọc và sàng lọc mà thôi, không tin hết!)
    Chúc ABS hoàn thành “sứ mệnh lịch sử” của mình: Phá vòng nô lệ!</b?

  20. HP said

    Tôi nghĩ rằng đảng và nhà nước ta không nên tốn công sức thời gian và tiền bạc cho việc góp ý HP. Chung quy HP thể hiện cương lĩnh của đảng chứ không phải cương lĩnh của đảng phải hợp HP, vì đảng lãnh đạo toàn diện, lãnh đạo kể cả Quốc Hội và Hiến Pháp.
    Vì Quốc Hội lẫn Hiến Pháp phải nằm dưới ý chí lãnh đạo của đảng. Do đó để gọn nhẹ cho HP có cùng với thế giới, tôi đề nghị HP chỉ cần có 3 điều đơn giản:
    ĐIỀU 1: ĐCSVN lãnh đạo tuyệt đối toàn diện nhà nước và xã hội.
    ĐIỀU 2: Nhà nước và toàn xã hội thực hiện pháp luật do ĐCSVN ban hành.
    ĐIỀU 3: Tất cả các công dân không thực hiện 2 điều trên sẽ bị tù chung thân đến tử hình.

    • Dr Hào said

      Không được .
      Làm vậy giống đảng cướp quá .
      Cứ giả dân chủ để kiếm ăn .
      Dân còn ngu và hèn lắm .
      Làm sao chúng biết là đang bị lừa .

    • diet dang luu manh lua dao said

      nên giải tán quốc hội và bỏ , không cần có hiến pháp. vì cái gì cũng làm theo ý đảng rồi . nếu vậy khi cần làm gì thì đảng cứ ra lệnh là xong, tùy thích mà.
      ĐM đảng ăn cắp, lưu manh, lừa đảo phản động “csVN”

  21. chiuchi said

    Người dân Việt Nam tuy không phải ai ai cũng được nghiên cứu về thể chế chính trị của một quốc gia nhưng thông qua báo chí, qua internet,qua sách vở, qua bạn bè và người thân cũng như tham khảo hiến pháp của các nước tiến bộ tôi nghĩ người dân Việt Nam ít nhất có từ 50% người dân trở lên thấu hiểu được như thế nào là dân chủ, như thế nào là tự do, công bằng và tiến bộ trong việc thay đổi (sửa đổi) hiến pháp. Do đó, đừng định hướng, áp đặt người dân theo ý chủ quan của một tổ chức,một đảng phái nào mà để nhân dân tự quyết định tự lựa chọn một cách quang minh chính đại.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: